Nông dân — Tập I: Mùa thu — Chương 11
Chương 11 / 12 · Bài review Nông dân — Tập I: Mùa thu
“Con ngủ đấy à, Yagna?”
“Ngủ sao được? Con dậy từ tang tảng sáng... cứ nghĩ hôm nay mình đi lấy chồng.”
“Con tiếc, phải không con?” bà thì thầm; trong lòng bà lẫn lộn hy vọng với sợ hãi.
“Tiếc gì cơ? Chẳng lẽ con phải tiếc vì rời nhà mẹ để về nhà mình?”
Dominikova nén xuống cơn nhói bất chợt dâng lên khi nghe câu ấy, không đáp ngay. Bà trở dậy, mặc quần áo qua loa, rồi ra chuồng ngựa đánh thức mấy đứa con trai. Chúng ngủ quên mất một lúc, vì tối qua trong nhà có lễ “Xổ tóc”[20]. Trời đã sáng bạch, buổi sớm khoác lớp sương giá, dội xuống thế gian một vẻ rực rỡ ánh bạc.
-----
Chú thích 20:
Vì tóc tết của các cô gái nông dân Ba Lan bị cắt sau đám cưới, tối hôm trước họ có một buổi họp mặt nhỏ trong nhà, chỉ mời con gái, và tóc được xổ ra, sẵn sàng cho việc cắt.—_Chú thích của người dịch._
Dominikova rửa mặt ngoài hành lang, rồi lặng lẽ đi lại trong nhà, chốc chốc lại ngó vào chỗ Yagna, khuôn mặt cô hầu như không nhìn rõ trong bóng tối buồng ngủ còn chưa sáng.
“Nằm đi con! Cứ nằm yên đấy! Nằm lần cuối trong nhà mẹ,” bà lẩm bẩm, tình thương và nỗi xót xa giằng co trong lòng bà bao nhiêu lần. Điều bà thèm muốn tha thiết bấy nay, giờ bà đã có: vậy mà bà thấy quặn thắt đến mức không khỏi nhăn mặt vì cái đau ấy, rồi ngồi phịch xuống giường.—Boryna... một người tử tế, sẽ đối đãi với con gái bà đúng mực nể trọng.... Và Yagna muốn làm gì với người đàn ông ấy cũng được, cái người chẳng nhìn thấy gì trên đời ngoài cô!
Không. Không phải ông ta là người bà sợ, mà là lũ con chồng.—Chà, sao ông lại đuổi vợ chồng Antek khỏi nhà? Bây giờ, hơn lúc nào hết, chúng sẽ giở trò và tìm cách trả thù. Nhưng giả như ông không làm thế?... Antek ở ngay bên Yagna!—Có khi đã sinh ra tội lỗi với Chúa.—Thôi, giờ chẳng còn cách nào. Đã rao hôn phối, đã mời khách; lợn đã mổ, văn tự chuyển nhượng đã cất kỹ.... Không, không, không! Chuyện gì đến sẽ đến; và chừng nào Dominikova còn sống, bà sẽ không để ai làm hại con gái bà.—Quyết dứt khoát như thế rồi, bà đi ra mắng mấy đứa con trai lười.
Khi trở vào, bà định đánh thức con gái luôn; nhưng Yagna đã ngủ lại, tiếng thở đều đều lặng lẽ của giấc ngủ vọng ra từ giường cô. Một lần nữa người mẹ thấy những mối lo và ngờ vực sà xuống, như đàn diều hâu quắp móng xé tim bà, réo lên nỗi ngờ vực, báo trước một tai hoạ mơ hồ khủng khiếp đang treo lơ lửng. Nhưng bà quỳ sụp xuống bên cửa sổ, đôi mắt đỏ hoe mờ đục hướng về ráng hồng bình minh, cầu nguyện rất lung suốt hồi lâu. Rồi bà đứng lên, đầy sức lực để đón bất cứ số phận nào có thể đến, mặc kệ là gì!
“Nào, Yagna, dậy đi con; muộn lắm rồi. Eva sắp sang nấu nướng, mà mình còn bao nhiêu việc!”
“Trời có đẹp không mẹ?” cô gái hỏi, ngẩng cái đầu nặng trịch lên.
“Đẹp đến mức cả vùng lấp lánh sương giá. Mặt trời sắp lên rồi.”
Được mẹ giúp, chẳng mấy chốc Yagna đã mặc xong quần áo. Rồi bà mẹ, sau khi cân nhắc kỹ, nói thế này:
“Điều mẹ dặn con trước đây, mẹ nhắc lại. Boryna là người tốt, tử tế; nhưng con phải hết sức giữ mình... đừng thân thiết với bất cứ kẻ nào tình cờ quen, đừng để miệng lưỡi người ta lại xì xào về con lần nữa. Người đời là lũ chó: chúng thích cắn.—Con nghe rõ chưa, con?”
“Con nghe rồi; nhưng mẹ nói cứ như con chẳng có chút khôn ngoan nào.”
“Lời khuyên tốt chẳng hại ai.—Nhớ kỹ điều này: không bao giờ được coi thường Boryna, phải luôn đối đãi nể nang, dịu dàng. Đàn ông già để bụng chuyện ấy hơn đàn ông trẻ nhiều.... Mà biết đâu ông ấy chẳng sang hết ruộng đất cho con? hay có khi cho con một món lớn—trao tận tay?”
“Con chẳng thiết cái đó,” cô sốt ruột ngắt lời.
“Vì con còn trẻ, chưa từng trải. Nhìn quanh mà xem: người ta cãi nhau vì cái gì, làm lụng vì cái gì, tìm mọi cách để có cái gì? Của cải, chỉ của cải mà thôi!—Chúa chẳng bao giờ, chẳng bao giờ sinh ra con để đầu tắt mặt tối và chịu khổ.—Cả đời mẹ làm lụng vì ai, nếu không vì con Yagna của mẹ?—Rồi đây mẹ sẽ một mình—một mình thui thủi!”
“Nhưng mấy anh có bỏ mẹ đâu; các anh ấy vẫn ở với mẹ mà.”
“Chúng nó thì mẹ vui được bằng cái ngày đã qua!” Bà khóc, rồi lau mắt nói thêm: “Con còn phải sống thuận hoà với con cái nhà chồng nữa.”
“Yuzka là con bé tử tế. Gregory thì còn lâu mới ở lính về. Với—với....”
“Coi chừng gã thợ rèn!”
“Ơ, anh ta với Matthias đang thân thiết nhất mà.”
“Nếu vậy thì hắn có mưu tính riêng: con cứ tin đi.—Vợ chồng Antek mới là tệ nhất; chúng sẽ không chịu làm lành.... Cha xứ hôm qua muốn giảng hoà, mà chúng chẳng nghe.”
“Ôi, nhưng ông Matthias thật độc ác mới đuổi họ khỏi nhà!” Yagna bật ra dữ dội.
“Cái gì thế—con nói gì thế, Yagna? Con có biết Antek đã định đòi lại đất của nhà mình không—rằng nó nguyền rủa con, nói về con những điều không tiện nhắc lại?”
“Antek nói xấu con? Antek ư? Ai bảo mẹ thế là nói dối.... Cho cái lưỡi bẩn của chúng rụng khỏi mồm đi!”
“Chà! Thế cái gì khiến con bênh nó dữ thế? Nói!” bà hỏi, mắt đầy đe doạ.
“Vì ai cũng chống lại anh ấy! Con không phải con chó ăn xin quỵ luỵ bất cứ ai ném cho mẩu bánh. Anh ấy bị đối xử tệ, con biết chứ!”
“Con muốn trả lại văn tự chuyển nhượng cho nó, phải không?”
Yagna không nói thêm được nữa; nước mắt tuôn thành dòng; cô lao vào buồng trong, cài chốt cửa, khóc ở đó rất lâu.
Dominikova không tìm cách can thiệp. Cảnh vừa rồi khơi lên trong đầu bà những mối lo mới, nhưng bà không có thì giờ nghiền ngẫm. Eva đã sang; mấy cậu con trai lê bước vào hành lang; giờ là lúc thu xếp và sửa soạn những việc cuối cùng.
Mặt trời đã lên, và buổi sớm cuộn chảy tới.
Sương giá đêm qua đủ cứng để những vũng nước ven đường và mép ao đóng một lớp băng, và những vũng lầy đủ sức chịu sức nặng của mấy đàn gia súc nhỏ.
Giờ trời đang ấm dần, dù trong bóng râm và dưới các bờ giậu, giá vẫn còn ngự trị. Mái tranh nhỏ những giọt trong như pha lê, và từ đầm lầy, những vòng hơi nước tựa khói cuộn lên.
Không một gợn mây nhỏ nào trôi trên nền trời xanh thẫm.
Vậy mà quạ lượn quanh các nhà tranh, gà trống gáy luôn miệng, báo trước thời tiết xấu sắp tới.
Hôm ấy là Chủ nhật; và dù chuông chưa đổ, cả làng đã như tổ ong vỡ. Nửa số dân làng đang sửa soạn diện đẹp đi dự đám cưới của Boryna với Yagna.
Nhà nào cũng nhốn nháo ầm ĩ; ai nấy sắp sửa, ướm thử, mặc mặc cẩn thận; và từ nhiều cửa sổ, cửa ra vào mở toang vọng ra tiếng nói cười vui vẻ.
Ở cơ ngơi nhà Dominikova thì tất nhiên mọi thứ sôi lên sùng sục, như thường lệ vào một ngày như thế.
Ngôi nhà tranh vừa quét vôi mới, nhìn từ xa đã thấy, được trang hoàng bằng cành lá xanh theo lối lễ Hiện Xuống. Ngay từ hôm trước, đám con trai đã đến gắn cành thông lên mái tranh và vào bất cứ khe hở nào trên vách. Từ hàng rào đến hiên nhà cũng cắm cành linh sam, nên hương thơm như hương rừng mùa xuân.
Bên trong, cách bài trí quả thực rất tươm.
Ở phía bên kia nhà, vốn dùng làm kho, người ta nhóm một đống lửa lớn, và Eva nhà cối xay đang nấu nướng ở đó, có mấy người hàng xóm với Yagustynka phụ giúp.
Bên gian kia, đồ đạc đã dọn hết ra ngoài, phòng được quét vôi lại, bệ lò sưởi phủ một tấm vải xanh lớn. Chỉ còn lại mấy bức ảnh thánh trên tường; nhưng đám con trai đã khiêng vào những băng ghế chắc và mấy chiếc bàn dài, kê dọc theo tường. Trần nhà với những cây rui xỉn màu vì năm tháng được trang trí bằng những hình giấy do chính tay Yagna cắt. Matthias đã mua giấy màu ở tỉnh về cho cô, và cô cắt ra bao nhiêu vòng tròn tua rua đủ màu, những bông hoa giả, và đủ thứ lạ mắt—chẳng hạn một con chó đuổi theo đàn cừu, chủ nó cầm gậy theo sau; hay một đám rước nhà thờ, có cha xứ, cờ phướn bay phấp phới, tượng ảnh nâng cao—và bao nhiêu thứ kỳ diệu khác nữa, không tài nào nhớ hết! Cái nào cũng đẹp dáng, trông có nghề, và tối hôm trước, lúc xổ tóc cho Yagna, ai cũng trầm trồ. Cô còn biết làm khối thứ khác—bất cứ cái gì lọt vào mắt hay hợp ý cô; và khắp làng Lipka không nhà tranh nào không có một hình cắt do tay cô làm.
Mặc xong một phần quần áo ở gian bên, cô ra dán nốt mấy hình cắt còn lại lên tường, dưới các ảnh thánh, vì không còn chỗ nào khác.
“Yagna! Con làm xong mấy trò hoa hoè ấy chưa? Người ta đang kéo đến, ban nhạc đang đi qua làng: thế mà con bé cứ mải nghịch ba cái trò vớ vẩn!”
“Khối thì giờ, khối thì giờ,” cô đáp gọn lỏn; nhưng cô không dán thêm hình nữa, mà quay ra rắc lá thông xuống nền nhà, trải khăn vải mịn lên bàn, trao đổi vài câu với mấy người anh, hoặc đi loanh quanh trong nhà rồi nhìn ra ngoài trời. Nhưng cô chẳng thấy vui thú gì với tất cả những cái ấy: không một chút nào. Cô sắp được nhảy và nghe nhạc, mà cô thì thích cả nhạc lẫn nhảy: chỉ có thế thôi. Tâm hồn cô, như cái ngày thu quang đãng hôm nay, không gợn mây và sáng láng, nhưng không có sự sống. Nếu không phải mọi thứ đều nhắc cô rằng hôm nay là ngày cưới của mình, có lẽ cô đã quên bẵng. Hôm qua, ở lễ “Xổ tóc”, Boryna đã đặt vào tay cô tám chuỗi hạt san hô—tất cả những gì các bà vợ ông để lại khi chết. Và giờ chúng nằm dưới đáy hòm: cô còn chưa buồn đeo thử. Hôm nay cô chẳng thiết gì. Cô sẵn lòng bay đi đâu đó—nhưng đi đâu, cô không biết! Cái gì cũng chọc tức cô; và những lời mẹ nói về Antek cứ trở đi trở lại trong đầu. Sao! Anh ấy mà nói xấu cô? Cô không thể, không muốn tin: chỉ nghĩ đến thôi nước mắt đã ứa ra.—Nhưng, biết đâu lại thật!... Hôm qua cô giặt đồ; anh đi ngang, chẳng thèm nhìn về phía cô! Buổi sáng, cô đi xưng tội cùng Boryna. Antek đang đi tới hướng họ, đã quay ngoắt lại như tránh một con chó dữ.... Thôi được, muốn gầm gừ với cô thì cứ gầm gừ!
Cô bắt đầu thấy trong mình nổi lên nỗi phẫn uất chống lại anh. Nhưng một tia hồi ức chợt loé lên, đưa cô về cái buổi tối hai người cùng đi bẻ bắp cải ở nhà cha anh về. Ký ức ấy xông lên đầu cô, tâm trí cô bị lửa bọc lấy, nhấn chìm; nó sống dậy dữ dội đến mức không chịu nổi. Thế là, để đánh trống lảng, cô nói toạc ra với mẹ:
“Con nói để mẹ biết, cưới xong con không cho cắt tóc con đâu!”
“Đấy, khôn ngoan chưa! Đời thuở nào có đứa con gái cưới xong mà không cắt tóc?”
“Ở các dinh điền, và ở tỉnh.”
“Đúng thế. Ừ, chúng—_chúng nó_ phải giữ tóc để lừa thiên hạ, để ra vẻ cái mình không phải.—Con là ai mà bày ra lệ mới? Cứ để mấy đứa con gái dinh điền làm trò cười cho thiên hạ; cứ để chúng đi lại, tóc tai xồm xoàm như đàn bà Do Thái. Chúng ngu, chúng muốn làm gì thì làm. Nhưng con—không phải thứ rác rưởi tỉnh thành, con nhà nông từ đời ông đời cụ—con phải làm đúng như xưa nay dân cày mình vẫn làm!—Chao, mẹ biết thừa mấy cái thói ngông tỉnh thành ấy!”
Nhưng Yagna vẫn khăng khăng. Eva, người đàn bà từng trải, đã biết bao nhiêu làng, năm nào cũng đi bộ tới Chenstohova với các đoàn hành hương, hết lời khuyên nhủ cô gái; Yagustynka cũng vậy, dù theo lối của mụ là nêm vào lời khuyên những câu đùa và những lời giễu cay đắng. Sau cùng mụ nói:
“Cứ giữ tóc đi, giữ đi; nó sẽ có ích cho Boryna, lúc lão đánh cô. Lão quấn tóc quanh tay là quật gậy vào cô cho gọn.... Rồi tự cô sẽ cắt phăng đi.... Tôi biết một mụ....” Nhưng đến đây mụ ngừng bặt. Vitek đến gọi mụ. Mụ ở nhà Boryna từ khi vợ chồng Antek bị đuổi đi, vì Yuzka còn quá nhỏ để quán xuyến nhà cửa. Giờ đang giúp Eva nấu nướng, thỉnh thoảng mụ lại chạy về bên ấy trông nom, bởi hôm nay đầu óc ông lão đảo lộn cả. Từ sáng, Yuzka đã sang nhà thợ rèn để làm dáng; còn Kuba thì cứ nằm bệnh liệt giường.
Thằng bé chạy đến hớt hải. “Bác Kuba cần bà lắm: bà sang ngay đi.”
“Đi ngay đây!—Các bà ạ, tôi chạy xem có chuyện gì, rồi về đây liền.”
“Nhanh lên, Yagna; phù dâu sắp tới rồi,” Dominikova nhắc chừng.
Nhưng cô chẳng vội chút nào, dường như đang trong cơn ngái ngủ.... Việc rơi khỏi tay cô, và có lúc cô cứ đứng ngây nhìn ra ngoài cửa sổ. Tâm hồn cô như hoá thành nước ở trong người—thứ nước chảy tràn chỗ này chỗ kia, chốc chốc lại vỗ vào và vỡ ra trên một tảng đá ký ức nào đó.
Trong nhà, tiếng ồn ào mỗi lúc một dâng, vì các bà cứ lần lượt kéo đến — khi thì một người họ hàng, khi thì một bà nội trợ: theo tục lệ xưa, họ mang đến cho Dominikova nào gà, nào ổ bánh mì lúa mì, bánh ngọt, muối, bột, miếng thịt hun, hay một đồng rúp bạc gói trong giấy — tất cả là quà tạ ơn vì được mời, và để bù vào những khoản tốn kém nặng nề.
Mỗi người nhấp một ngụm nhỏ rượu pha đường, chuyện trò dăm phút với bà lão, xuýt xoa khen mọi thứ, rồi vội vã ra về.
Chính Dominikova trông coi việc bếp núc, dọn dẹp đồ đạc, xem xét mọi việc có đâu vào đấy chưa; không quên mắng mấy đứa con trai lười biếng; mà quả thật chúng cứ lần khân, hễ có dịp là đứa nào cũng lẻn ra làng, sang nhà trưởng làng, nơi đám nhạc công và các phù rể đã tụ tập từ trước.
Ít người đi lễ trọng, khiến cha xứ phật ý, vì thiên hạ bỏ bê việc thờ phượng chỉ vì một đám cưới. Điều đó rất đúng; nhưng người ta cũng tự nhủ rằng một đám cưới như thế đâu phải Chủ nhật nào cũng được xem.
Tất cả những người được mời từ các làng lân cận cùng đánh xe kéo tới ngay sau bữa trưa.
Mặt trời, rắc một thứ ánh sáng mờ đục lên đồng thu, đã bắt đầu lăn về phía tây; mặt đất trông bóng nhẫy như đẫm sương, mặt ao lấp lánh run rẩy, những rãnh nước ven đường ánh lên như thuỷ tinh; cả vùng đất chìm trong thứ ánh sáng đang lụi và hơi nóng đang nguội của những ngày thu cuối cùng.
Cháy dần như một ngọn nến, ngày chầm chậm đi tới lúc lụi tắt.
Vậy mà làng Lipka lại rộn rực như đang phiên chợ.
Chuông chiều vừa đổ hồi đầu tiên thì tất cả nhạc công ở nhà trưởng làng đã kéo ra đường.
Đi đầu là mấy tay vĩ cầm, mỗi người sánh vai một tay sáo; rồi đến những người kéo đại hồ cầm và những tay trống, nhạc cụ có gắn thêm mấy quả chuông nhỏ: tất cả đều đeo dải lụa bay phấp phới, bước chân nhún nhảy.
Sau đám nhạc công là một tốp tám người: hai ông mối đã đứng ra dàn xếp cuộc hôn nhân, và sáu phù rể. Toàn những chàng trai khôi ngô, thẳng như cây thông, thắt đáy lưng ong, vai rộng, nhảy hăng, ăn nói bạo, ham đánh nhau và rất giữ phần mình: cả sáu đều thế, đều con nhà tử tế, dòng dõi nông dân thuần.
Họ sóng vai nhau đi giữa đường, đất dội lên dưới tiếng ủng giậm; mặt mày vui vẻ liều lĩnh, ăn vận rực rỡ đến nỗi lấn át cả quang cảnh — nào quần sọc loang loáng dưới nắng, nào áo chẽn đỏ chói, nào mũ cài từng chùm dải lụa phất phơ, nào áo choàng trắng mở phanh đập trong gió như đôi cánh.
Họ hò lên lanh lảnh, nghêu ngao những khúc hát vui, rầm rập bước đều mà lao đi — cả một rừng thông non đang chuyển động, ào ào theo cơn gió!
Đám nhạc công tấu những khúc polonaise, đi từ nhà này sang nhà khác gọi khách dự cưới; chỗ này người ta mời họ rượu, chỗ kia người ta mời vào nhà; chỗ khác nữa lại có tiếng hát đáp lại tiếng đàn; còn khắp nơi dân làng bước ra, quần áo đẹp nhất trên người, nhập vào đoàn cho mỗi lúc một đông. Và dưới cửa sổ nhà các cô phù dâu, tất cả đồng thanh hát bài này:
Này các cô bước nhẹ, Đến đám cưới cùng ta — Nghe khúc vui đang trỗi! Nghe tiếng ta hoà ca Cùng tiếng sáo ngân nga — Nào ô-boa, nào kèn trầm! Cho cốc rượu chạm đi: Ai ngại ly chẳng cạn — Là quân hèn ghẻ lở! Ơi ta đa-na đa-na, Ơi ta đa-na đa-na, Ơi ta đa-na đa!
Rồi họ hò lên to đến mức cả làng đều nghe thấy, vọng ra tận đồng và tận rừng.
Dân làng đã ra trước cửa nhà, ra cả vườn cây. Nhiều người không được mời cũng nhập bọn, chỉ để xem và nghe; thành thử chưa tới nơi thì gần như cả làng đã vây quanh, chen lấn xô đẩy tứ phía, lũ trẻ chạy lên trước: một đám đông dày đặc, đi nhanh và ầm ĩ.
Đưa khách tới nhà cô dâu, tấu cho họ vào bằng một khúc rộn rã xong, họ quay lại đón chú rể.
Vitek, oai vệ trong chiếc áo chẽn ngắn cài dải lụa, vẫn đi theo đám phù rể, giờ chạy vọt lên trước.
“Ông chủ!” nó gọi qua cửa sổ. “Họ đến rồi!” Rồi nó chạy tới chỗ Kuba nằm.
Họ tấu nhạc hồi lâu trước thềm. Boryna ra ngay, mở toang cửa, định mời tất cả vào; nhưng trưởng làng và ông Soltys mỗi người xốc một cánh tay, dẫn thẳng ông sang nhà Yagna; vì đã đến giờ ra nhà thờ.
Dáng đi ông đầy hăm hở, trông trẻ ra đến lạ. Râu cạo nhẵn, tóc mới hớt, bộ đồ cưới trên người, ông là một tấm hình hiếm có; thêm nữa, người bệ vệ vai rộng, cái vẻ đường bệ toát ra từ nét mặt lẫn cả con người khiến ông nổi bật từ xa. Ông mỉm cười, chuyện trò vui vẻ với đám trai trẻ đến đón; nhất là với bác thợ rèn, kẻ lúc nào cũng xoay xở đứng sát bên.
Họ trịnh trọng đưa ông tới nhà Dominikova, đám đông rẽ ra nhường lối; rồi giữa tiếng hò reo ầm ĩ, tiếng nhạc cụ và tiếng hát, ông bước vào nhà.
Yagna vẫn chưa ra mặt: các bà đang sửa soạn áo xống cho cô trong buồng trong, canh chừng cẩn mật, cửa cài then chặt. Bởi đám trai trẻ cứ gõ cửa, đập cửa; chúng khoét những khe hẹp trên vách, buông lời trêu chọc suồng sã với các cô phù dâu: thế là tiếng la, tiếng cười vang lên, mà tiếng các bà già mắng mỏ cũng chẳng kém.
Bà lão cùng mấy con trai tiếp khách, mời rượu, dẫn các bậc bề trên tới chỗ dành riêng, tóm lại là để mắt tới khắp mọi việc.
Khách khứa toàn hạng vai vế: không có dân thường, chỉ có người có của, con nhà tử tế; mà trong số đó chỉ những nhà giàu nhất. Tất cả đều dây mơ rễ má họ hàng bè bạn với nhà Boryna và nhà Pache, hoặc chí ít cũng là chỗ quen biết, đánh xe từ những làng xa tới.
Chẳng có nhà Klemba nào, chẳng có nhà Vinciorek nào, chẳng có hạng chết đói một mẫu đất nào ở đấy: cũng không có lũ tép riu sống lay lắt bằng cách đi làm thuê cho người khác, những kẻ bám sát lão Klemba nhất!
“Của ngon không dành cho chó, mật ngọt chẳng phần cho heo,” tục ngữ nói thế!
Lát sau cửa mở; vợ người chơi đàn nhà thờ và vợ ông chủ cối xay dẫn Yagna ra gian lớn. Các cô phù dâu quây thành vòng quanh cô — một vòng hoa kết bằng người, cô nào cũng ăn mặc đẹp đẽ, trông đến mát mắt. Còn cô — cô đứng giữa họ như một đoá hồng, gan dạ hơn cả bọn; mũ đội kết lông chim, dải lụa cùng đăng-ten vàng bạc, trông cô như một trong những pho tượng người ta rước trong đám kiệu nhà thờ; và tất cả đều đứng lặng trước cô.
Chà! Từ buổi điệu Mazur ra đời tới nay, chưa ai lộng lẫy hơn thế!
Bấy giờ đám phù rể mới cất tiếng, gằn từ tận đáy cổ họng:
Vang lên đi, cây vĩ cầm, vang lên! (Yagna ơi, xin lỗi mẹ đi thôi!) Vang lên đi, cây sáo nhỏ, vang lên! (Yagna ơi, xin lỗi từng anh em!)
Boryna bước tới cầm tay cô. Cả hai quỳ xuống, Dominikova cầm ảnh thánh làm dấu thánh giá trên đầu họ, rồi rảy nước thánh cho cả hai. Yagna oà khóc, phục xuống ôm lấy gối mẹ, rồi ôm gối các bà khác nữa, xin lỗi và từ biệt tất cả. Các bà ôm chầm lấy cô, chuyền cô từ tay người này sang người kia, ai nấy khóc nhiều: Yuzka khóc hơn cả, vì nghĩ đến mẹ đã khuất.
Tất cả xếp hàng trước nhà rồi cuốc bộ ra đi, vì nhà thờ chỉ cách một thửa ruộng.
Rồi đám phù rể giành lấy Yagna. Cô bước đi hớn hở, mỉm cười qua những giọt nước mắt còn run trên hàng mi. Giờ trông cô tươi như bụi cây trổ hoa mùa xuân, hút lấy mọi con mắt. Tóc tết vắt ngang trán, bên trên chất đầy kim tuyến vàng, những mắt lông công và mấy nhành hương thảo. Từ đó, những dải lụa đủ màu buông dài xuống gáy và xuống vai; váy trắng thu lại ở lưng thành vô số nếp gấp; áo nịt nhung xanh da trời viền dây bạc; tay áo lót phồng to. Quanh cổ là một vòng diềm xếp dày, thêu hoa văn chỉ xanh thẫm, còn những chuỗi san hô và hổ phách, hàng nọ chồng hàng kia, phủ kín nửa ngực.
Matthias thì được các cô phù dâu dẫn đi.
Như cây sồi vạm vỡ hiện lên sau dáng thông thanh mảnh trong rừng, ông cũng hiện ra như thế sau bóng Yagna. Trong dáng đi của ông có cái đung đưa vênh vang, và ông liếc mắt sang hai bên đường: ông ngỡ đã thấy Antek trong đám đông.
Theo sau ông là Dominikova cùng hai ông mối, bác thợ rèn và gia đình, Yuzka, người nhà ông chủ cối xay và người nhà người chơi đàn nhà thờ, cùng mọi bậc có vai vế.
Và theo sau những người ấy là cả làng.
Mặt trời giờ treo trên rừng, đỏ ối, to tướng, dội xuống khắp mặt đường, mặt ao và những mái nhà tranh một thứ ánh đỏ như máu.
Giữa đám cháy đỏ rực ấy họ chậm rãi bước đi. Nhìn họ mà chói cả mắt — nào dải lụa, lông công và hoa; rực rỡ trong những chiếc quần đỏ, những chiếc váy màu cam, những khăn vuông bảy sắc, những tấm áo choàng trắng như tuyết: cứ như cả một cánh đồng hoa nở đã đứng dậy mà đi tới, đung đưa trong gió!
Phải, mà lại còn hát nữa! Bởi giọng cao của các cô phù dâu cứ chốc chốc lại cất lên khúc hát:
Xe kêu lọc cọc đường xa, Mà lòng ta nặng xót xa, Ôi chao! Quanh nàng khúc hát vui reo, Yagna ơi, nàng buồn theo, Ôi chao!
Suốt dọc đường Dominikova cứ khóc, mắt chỉ dán vào một mình Yagna.
Ambrose đã đang thắp nến trong nhà thờ khi họ tới.
Họ xếp thành hàng — hai người một — tiến về bàn thờ chính, vừa lúc cha xứ từ phòng thánh bước ra.
Lễ cưới chóng xong: cha xứ phải vội đi thăm một người ốm. Khi họ ra khỏi nhà thờ, người chơi đàn tiễn họ bằng những khúc Mazur, Obertas và Kuyavy, đến nỗi chân họ tự nhiên gõ nhịp; đã có hơn một người chực hát to lên, may mà kịp nhớ ra mình đang ở đâu.
Họ kéo về lộn xộn và rất ồn ào, vì phù rể với phù dâu cùng hát.
Dominikova về nhà trước, nên khi đoàn tới nơi, bà đã đứng ngay ngưỡng cửa đón đôi vợ chồng mới, dâng bánh và muối đã làm phép; rồi bà lại phải tiếp cả đoàn một lần nữa, ôm hôn từng người, và mời tất cả vào lần nữa!
Ngoài hành lang, nhạc đã nổi lên. Thế là vừa qua ngưỡng cửa, ai nấy đều bắt cặp với người đàn bà gặp đầu tiên để nhảy khúc polonaise trang trọng đang tấu. Lập tức, như một con rắn nhiều màu, một dây những đôi nối nhau đi vòng quanh phòng, lượn và cuốn, xoay rồi trở lại đường hoàng, giậm sàn ra dáng, nghiêng qua nghiêng lại uyển chuyển, đặt chân, trôi đi, lượn vòng, người nọ tiếp người kia thành hàng khít, Boryna cùng Yagna dẫn đầu!
Những ngọn đèn đặt trên mái che lò sưởi chập chờn, và chính những bức tường cũng như sắp rời ra vì sức nặng đầy uy nghi của điệu nhảy trang nghiêm ấy, được nhảy với một vẻ đường bệ duyên dáng đến thế.
Đó mới là màn mở đầu, chỉ kéo dài vài phút. Rồi tới điệu nhảy thứ nhất, để mừng cô dâu, đúng theo lề thói tục lệ xưa. Mọi người dồn cả vào các góc, hoặc nép sát tường; đám trai trẻ quây thành một vòng rộng, cô nhảy ở giữa. Vừa bước ra, cô đã thấy máu rần rật trong huyết quản; đôi mắt xanh thẫm sáng lên; hàm răng trắng loé; mặt cô ửng đỏ; cô nhảy bền bỉ, nhảy rất lâu, vì cô buộc phải nhảy với từng người ít nhất một vòng quanh phòng, và phải nhảy với tất cả.
Đám nhạc công làm hết sức — làm tới mức rã rời: vậy mà Yagna như vừa mới bắt đầu. Mặt cô càng đỏ, cô xoay và quay càng dữ dội hơn; những dải lụa bay phần phật xào xạc khi cô lướt qua, quất vào má những người đứng gần; còn chiếc váy căng gió xoè ra, phồng lên quanh người cô.
Đám trai trẻ khoái chí, gõ nhịp lên mặt bàn, hò reo hào hứng.
Mãi sau tất cả những người kia, cô mới chọn đến chú rể. Boryna, kẻ đã chờ lâu đến thế, giờ nhảy chồm tới, vồ lấy cô như con linh miêu trong rừng, ôm ngang lưng cô, quay tít như một cơn lốc, rồi hô với đám nhạc công:
“Nào, các chú, điệu Mazur — chơi cho ra hồn!”
Mọi nhạc cụ đồng loạt trỗi hết cỡ; cả gian nhà lên cơn sốt.
Ghì chặt Yagna, Boryna vắt hai vạt áo choàng lên hai cánh tay, sửa lại mũ trên đầu, cụng hai gót giày, rồi lao đi, nhanh như gió!
Chà, ông nhảy mới ghê chứ! Khi thì quay tròn hết vòng này đến vòng khác, khi thì bước giật lùi, khi thì giậm chân như muốn nện vỡ tan cả sàn nhà — rồi lại nghiêng người kéo Yagna đi, cuốn cô theo, hất cô lúc bên này lúc bên kia, quay cô đến mức hai người chỉ còn là một khối nhập nhoà, y hệt một con suốt đầy sợi đang quay tít giữa phòng; và từ mỗi người tuôn ra một luồng sinh lực mạnh mẽ.
Cánh nhạc công cứ thế chơi bản Mazur, dữ dội, không dứt!
Đám đông đứng ở các góc nhà và ngoài cửa nhìn theo, lặng người thán phục: ông Boryna nhảy không biết mỏi, mỗi lúc một hăng hơn, đến nỗi khiến khối kẻ nổi hứng ầm ĩ, có người còn giậm chân theo nhịp; mấy cái đầu nóng nhất chẳng còn giữ ý tứ gì nữa, tóm lấy một cô gái mà xoay tít cùng.
Jagna tuy vạm vỡ, người săn chắc, cũng chóng đuối; ông thấy cô mềm đi trong tay mình, liền thôi nhảy ngay và dắt cô vào buồng trong.
“Ông đúng là tay cừ khôi!” ông chủ cối xay reo lên. “Từ nay ông là anh em của tôi!—Đứa con đầu lòng, ông phải cho tôi làm cha đỡ đầu, tôi xin đấy!” Rồi ông ta quàng tay ôm cổ Boryna. Chẳng mấy chốc hai người đã thân mật lắm, vì nhạc đã ngưng và người ta bắt đầu dọn đồ ăn thức uống.
Bà Dominikova cùng các con trai, với bác thợ rèn và bà Jagustynka, giờ đi thoăn thoắt khắp nhà, bưng chai và từng chùm ly, chạm cốc với hết thảy mọi người. Yuzka và các bạn của bà lão bưng bánh mì với bánh ngọt trên sàng, mời khách.
Và tiếng ồn cứ mỗi lúc một dâng lên.
Trên chiếc ghế dài cạnh cửa sổ có ông chủ cối xay ngồi với Boryna, trưởng làng, người chơi đàn nhà thờ—và cả những người có vai vế khác trong làng; ở đó một chai rượu rum—thứ không đến nỗi tệ—đang được chuyền tay.
Nhiều người khác cũng đứng thành từng tốp khắp gian nhà, gặp ai nói nấy, oang oang tuỳ hứng; và mấy cái ly vodka thì chẳng lúc nào được nghỉ.
Buồng trong thắp bằng cây đèn lớn của người chơi đàn nhà thờ, mượn về cho dịp này. Các bà chủ nhà, đứng đầu là vợ người chơi đàn và vợ ông chủ cối xay, đã tụ cả ở đó, ngồi trên hòm và ghế dài trải những tấm len dệt. Họ ngẩng cao đầu ra vẻ đường bệ lắm, nhấp mật ong từng giọt nhỏ, bẻ vụn bánh ngọt bằng những ngón tay õng ẹo, hoạ hoằn mới góp một hai câu, còn thì chăm chú nghe vợ ông chủ cối xay kể lể chuyện con cái nhà bà.
Ngay cả lối đi cũng chật ních. Vài người tìm cách lấn sang bên kia; nhưng Eva đuổi họ ra. Họ tham món ăn quá, cái mùi thơm nức đã tràn khắp nhà, làm bao nhiêu cái miệng phải chảy nước dãi.
Đám trẻ bèn tản ra khắp nơi, ngoài sân và trong vườn cây. Đêm lạnh, nhưng quang đãng và đầy sao. Chúng dạo quanh đó, đùa vui đủ kiểu; cả khu vang lên tiếng cười, tiếng hò, tiếng chạy đuổi nhau giữa các gốc cây. Thế là mấy người lớn tuổi ghé cửa sổ gọi ra nhắc:
“Đêm hôm mà đi tìm hoa đấy à, các cô?—Coi chừng mất cái còn quý hơn mọi thứ hoa!”
Nhưng ai thèm để tai?
Jagna và Nastusia bấy giờ đang đi qua đi lại trong gian nhà lớn, tay quàng ngang lưng nhau, thì thầm to nhỏ, chốc chốc lại phá lên cười. Simon, con trai cả bà Dominikova, để mắt nhìn theo, cặp mắt dán vào Nastusia, cứ luôn lại gần mời vodka rồi tìm cách bắt chuyện.
Bác thợ rèn diện chỉnh tề nhất hạng, khoác áo capote đen, quần thì lồng trong ủng. Bác lách đi khắp chốn, nhanh nhẹn vô cùng, chỗ nào cũng có mặt, uống với tất cả mọi người, đi tới đi lui, nói năng liến thoắng; cái đầu đỏ hoe với khuôn mặt lấm tấm tàn nhang không đứng yên một chỗ được lâu.
Đám trẻ nhảy thêm mấy bận nữa, nhưng không lâu, cũng không hào hứng mấy. Bụng dạ họ đang ngóng bữa tối.
Cánh đàn ông đứng tuổi thì mải tranh luận, trưởng làng mỗi lúc một to giọng, đấm tay xuống bàn, phán như đặt luật:
“Tôi, trưởng làng, đã nói thế: cứ tin lời tôi. Tôi là người có chức phận, tôi vừa nhận được giấy trên bảo triệu tập dân họp, để mỗi chủ ruộng bỏ phiếu góp nửa kopek mỗi mẫu cho việc học hành.”
“Ông Peter, ông thích thì góp năm kopek một mẫu cũng được: chúng tôi thì không!”
“Không, nhất định là không!” một người gầm lên.
“Nhưng tôi đang tuyên bố với các người trên tư cách người nhà nước!”
“Cái thứ trường ấy thì chúng tôi cần gì,” Boryna nhận xét; và những người khác đồng thanh phụ hoạ.[21]
-----
Chú thích 21:
Bạn đọc nên nhớ rằng cuốn sách này ra đời trước Thế chiến, khi chính quyền chỉ cho phép mở những trường dạy bằng tiếng Nga, còn tiếng Ba Lan thì chỉ được học lén.—_Chú thích của người dịch._
“Ở Vola,” một người nói, “có một cái trường, con tôi học ở đó ba mùa đông liền. Kết quả thế nào? Chúng nó đọc quyển kinh còn chẳng nổi.—Quỷ tha cái lối dạy ấy đi!”
“Kinh kệ thì để các bà mẹ dạy ở nhà; kinh kệ chẳng dính dáng gì đến chuyện học hành. Tôi, trưởng làng, nói cho các người biết thế!”
“Thế thì trường mở ra để làm gì?” người ở Vola càu nhàu, đứng dậy.
“Để tôi nói cho mà nghe, tôi, trưởng làng: nhưng nghe cho kỹ đây....”
Đến đây Simon cắt lời, lớn tiếng báo với cả bọn rằng những cây trong khoảnh rừng bán cho mấy người Do Thái đã bị họ đóng dấu cả rồi, và hễ xe trượt tuyết chạy được là họ sẽ cho đốn.
“Đóng dấu thì cứ đóng: hạ được cây mới là chuyện khó!” Boryna chen vào.
“Ta sẽ kiện lên quan uỷ.”
“Quan ấy với ông chủ điền là một giuộc, kiện gì?—Không: cả làng kéo đi mà đuổi cổ bọn thợ rừng.”
“Chúng đừng hòng chặt của ta lấy một cây non!”
“Matthias, cạn với tôi nào! Giờ không phải lúc bàn bạc hội họp. Người say thì đến Chúa cũng dám cãi!” Ông chủ cối xay kêu lên như thế, rót đầy ly cho Boryna. Câu chuyện chẳng vừa bụng ông ta chút nào, mà mấy lời hăm doạ lại càng không; vì ông ta đã lập giao kèo với mấy người Do Thái, gỗ sẽ về xưởng cưa của ông ta cả.
Họ uống rồi rời chỗ; bàn giờ phải dọn cho bữa tối, và mọi thứ cần dùng đang được bưng vào.
Tuy vậy, mấy người chủ ruộng vẫn chưa buông chuyện cánh rừng, một nỗi oan ức lớn với họ. Họ túm lại thành nhóm, hạ giọng nói với nhau (để ông chủ cối xay khỏi nghe lỏm) và quyết định sẽ bàn cho ra nhẽ ở nhà Boryna.
Đúng lúc ấy Ambrose bước vào, đi thẳng lại chỗ họ. Ông đến muộn, vì phải theo cha xứ đi xức dầu cho một người ốm ở tận Krosnova, cách đây ba làng. Thế nên giờ ông uống hăng lắm, uống bù cho quãng đã lỡ. Uổng công: vì ngay lúc ấy cả bọn các bà đứng tuổi đồng thanh cất giọng hát:
Phù rể ơi, quay ra quay vào! Việc là của các anh cả thôi Mời khách quanh bàn đã dọn rồi!
Cánh phù rể đáp lại, sau khi đã gõ vào ghế dài làm hiệu:
Kìa, chúng tôi gọi rồi: khách sẵn đây Nếm cỗ nhà bà, miễn cỗ ngon thay.
Khách khứa lục tục kéo vào bàn, ngồi xuống các ghế dài.
Đôi vợ chồng mới cưới ngồi chỗ nhất, còn hết thảy những người khác ngồi quanh theo thứ bậc, ai cao vai vế hơn, nhiều ruộng đất hơn, hay nhiều tuổi hơn thì ngồi trên—từ các bậc lão làng xuống đến đám con gái và trẻ nhỏ. Bàn kê dọc ba mặt tường, vậy mà vẫn chật chỗ. Cánh phù rể và nhạc công đứng cả, phù rể thì để hầu khách.
Cả nhà lặng đi. Người chơi đàn nhà thờ đứng lên đọc to lời kinh; xong, một ly rượu chuyền quanh, kèm câu chúc: Chúc sức khoẻ và vui vẻ!
Rồi các bà bếp và cánh phù rể bưng vào một cái liễn to sâu lòng, đồ ăn bốc khói nghi ngút, vừa đi vừa hát:
Bà con ơi, món ngon xin dâng: Gà hầm trong xúp gạo, thơm lừng!
Và, khi bưng món thứ hai vào:
Lòng bò rắc tiêu, cay nóng gia thêm: Ai mà chê chán, ấy đồ ngốc mềm!
Cánh nhạc công đứng gần bếp lò, chơi rất khẽ hết bài nọ đến bài kia, cho món ăn thêm đậm đà.
Cả bọn ăn uống ra chiều ý tứ, thong thả; ít ai nói năng gì, và có một lúc trong nhà chỉ vang tiếng nhai và tiếng thìa lách cách. Khi cái đói đã vợi đi phần nào, bác thợ rèn cho một chai nữa chuyền vòng; thế là họ bắt đầu trò chuyện với nhau qua mặt bàn (dẫu vẫn còn hạ giọng).
Jagna hầu như chẳng ăn gì. Boryna giục giã, dỗ dành mãi cũng vô ích, năn nỉ cô như người ta năn nỉ đứa trẻ ăn cơm. Miếng thịt trước mặt cô cũng nuốt không trôi; cô nóng quá, mệt quá!
“Mình có bằng lòng không, mình? Jagna đẹp nhất đời ơi, ở với tôi mình sẽ sướng như hồi còn ở với mẹ mình vậy.... Jagna này, mình sẽ thành bà chủ—bà chủ hẳn hoi! Tôi sẽ thuê một đứa ở, để mình khỏi phải làm lụng cực nhọc.”—Ông nói khẽ, mắt nhìn vào mắt cô đầy yêu thương, chẳng thiết người ta nói gì; và người ta bắt đầu giễu ông ra mặt.
“Trông như mèo thấy mỡ ấy!”
“Cái lão già khoe của trời cho kìa! Con gà trống bên cạnh lão còn chẳng đáng gì.”
“Ôi chao, ông lão Boryna đang khoái chí lắm đấy!”
“Khoái như chó ra ngoài trời giá,” lão Simon lẩm bẩm, giọng cay độc.
Cả bọn ôm bụng mà cười, còn ông chủ cối xay thì gục mặt xuống bàn, đấm thùm thụp vì sướng quá!
Các bà bếp lại vào một lần nữa, xướng lên:
Đây món ngô hạt bưng lên, Mỡ đổ thật nhiều, cho kẻ gầy ăn cho đẫy!
“Jagna, ghé sang đây tí, tôi bảo cái này,” trưởng làng nói, tay giật giật vạt áo cô sau lưng chú rể, vì ông ta ngồi ngay cạnh.
“Đứa con của cô, tôi xin làm cha đỡ đầu nhé,” ông ta cười lớn, mắt nhìn cô hau háu, thèm thuồng.
Nghe vậy, cô đỏ nhừ mặt; các bà thấy thế lại càng được thể cười cợt, đùa bỡn tục hơn, có người còn ra công giảng giải cho cô cách ăn ở với chồng.
“Tối nào cũng phải hơ cái đệm lông cho ông ấy bên bếp lửa đấy, không thì ông ấy lạnh như tảng băng.”
“Nhất là nhớ cho ông ấy ăn nhiều mỡ vào: có thế mới giữ được sức.”
“Rồi nựng nịu cho khéo, quàng tay ôm lấy cổ ông ấy.”
“Và dắt ông ấy bằng tay thật êm, để ông ấy chẳng hay là mình đang bị dắt!”
Họ cứ ba hoa như thế, câu sau bạo miệng hơn câu trước, như vẫn thường xảy ra khi đàn bà uống quá chén và để cái lưỡi tự tung tự tác.
Cả nhà rung lên vì vui, và rốt cuộc quá đà đến mức vợ ông chủ cối xay phải lên giọng dạy dỗ họ về bổn phận đối với đám con gái và trẻ nhỏ có mặt ở đó; còn người chơi đàn nhà thờ thì chỉ ra rằng làm gương xấu khiến kẻ khác phạm tội là tội nặng lắm.
“Sao? Cái lão thổi bễ đàn này cấm người ta hưởng mọi thú vui ở đời đấy à?”
“Gần cha xứ nên lão tưởng mình cũng là thánh!”
“Không ưa thì bịt tai lại.” Rồi những tiếng khó nghe hơn bắt đầu nổi lên, vì trong làng người ta chẳng ưa gì ông ta.
“Hôm nay nhà có đám cưới, cho nên, thưa bà con, tôi, trưởng làng của bà con đây, xin cam đoan rằng vui chơi, cười chuyện đáng cười, hể hả với nhau thì chẳng có tội tình gì.”
“Chính Chúa chúng ta xưa cũng đi ăn cưới và uống rượu đấy thôi,” Ambrose nghiêm trang thêm vào; nhưng chẳng ai nghe ra ông nói gì, vì ông đã say, lại ngồi tận ngoài cửa. Rồi cả bọn quay sang chuyện trò, đùa cợt, chạm ly, ăn mỗi lúc một chậm hơn để nhồi cho thật chặt bụng; có người còn nới cả thắt lưng ra, ngồi thẳng đơ người, cốt lấy chỗ chứa được nhiều nhất.
Các bà bếp lại vào, với hai câu này:
Nó ủn ỉn, nó eng éc, nó ủi tung cả vườn: Nhưng giờ, bao nhiêu tội phá, nó trả hết cho nhà nông!
“Chà, nhà này làm ăn ra trò thật!” người ta tấm tắc.
“Thật đấy, đám cưới này phải tốn đến nghìn _zloty_ là ít!”
“Ôi, bà ấy thừa sức lo: chẳng phải có sáu mẫu ruộng ngay đấy sao?”
“Nhìn Jagna kìa! Mặt mũi rầu rĩ như đêm ba mươi ấy nhỉ?”
“Bù lại, mắt lão Boryna sáng quắc như mắt mèo rừng.”
“Nói như bùi nhùi thì đúng hơn, ông bạn ạ—bùi nhùi mục!”
“Ừ, rồi có ngày lão phải khóc cái ngày hôm nay cho mà xem.”
“Không đâu. Lão không thuộc hạng khóc lóc. Hạng vác gậy thì có.”
“Tôi cũng nói y như thế với vợ ông trưởng làng, hồi bà ấy bảo tôi đám cưới đã ngã ngũ rồi.”
“Chà, sao tối nay chẳng thấy bà ấy nhỉ.”
“Đi sao được. Bà ấy sắp ở cữ, ngày nào cũng có thể sinh.”
“Nhưng tôi dám đánh cược cái đầu này, chẳng bao lâu nữa đâu — cứ nói là trước lễ hội Carnival — Jagna lại chạy theo đám trai làng cho mà xem.”
“Matthew chỉ chờ có thế.”
“Tôi biết. Vợ Vavrek nghe lỏm được hắn nói vậy ở quán rượu.”
“Tại người ta không mời hắn dự cưới.”
“Phải. Ông già thì cũng muốn mời, nhưng bà Dominikova không chịu. Cả làng biết vì sao, chứ còn gì nữa?”
“Ừ thì ai cũng nói vậy; nhưng đã ai mắt thấy tai nghe chưa?”
“Bartek Koziol trông thấy hai đứa nó trong rừng mùa xuân năm ngoái.”
“Cái thằng vừa dối vừa cắp ấy à: bà Dominikova từng tố nó ăn trộm lợn, nó nói thế biết đâu chỉ là để trả thù.”
“Nhưng còn người khác nữa — còn khối người có mắt.”
“Rồi chuyện này sẽ chẳng ra gì đâu... rồi xem. Chẳng phải việc của tôi, nhưng theo ý tôi, Antek và người nhà anh ta bị đối xử bất công.”
“Cả Antek nữa, người ta cũng bàn tán — bảo là bắt gặp hai đứa với nhau chỗ nọ chỗ kia.” — Giọng nói hạ thấp dần khi câu chuyện độc địa ấy kéo dài, chẳng chừa lại chút tiếng tăm nào cho bất cứ ai trong nhà đó, mà càng thương hai đứa con trai bà chủ tiệc bao nhiêu thì lại càng tàn nhẫn với bà bấy nhiêu.
“Chẳng phải tội hay sao? Simon, một người đàn ông đã để ria — ba mươi tuổi rồi chứ ít gì — vậy mà bà ấy chẳng cho lấy vợ, cũng chẳng cho ra ở riêng: lỗi nhỏ tí thôi cũng làm ầm cả lên!”
“Nhục thật đấy: hai thằng cao lớn vạm vỡ thế mà phải làm hết việc đàn bà!”
“Để cô Jagna khỏi phải bẩn tay chứ sao!”
“Mỗi đứa có năm mẫu riêng, muốn cưới vợ lúc nào chẳng được!”
“Quanh mình thiếu gì con gái chưa chồng!”
“Phải, phải; như con Martianna tội nghiệp của bà đấy, chờ mãi chờ hoài, mà đất thì ngay sát bên đất nhà Paches!”
“Bà để yên cho nó! Hãy lo cho con Franka nhà bà thì hơn, kẻo nó lại mang vạ với thằng Adam!”
“Mấy thằng đần to xác ấy! Không dám rời khỏi vạt áo mẹ!”
“Chúng bắt đầu rồi đấy: cả tối nay Simon cứ dán mắt vào con Nastka.”
“Bố chúng cũng cùng một giuộc: tôi còn nhớ rõ. Ừ, mà hồi trẻ bà già ấy cũng chẳng hơn gì Jagna đâu.”
“Rễ thế nào thì cành thế ấy; mẹ nào con nấy.”
Nhạc ngừng, và bữa ăn đã xong, đám nhạc công kéo xuống bếp nghỉ ngơi lấy sức. Nhưng một lúc sau, tiếng ồn còn lớn hơn cả trước đó, cả gian nhà sôi lên ầm ĩ: ai nấy đều nói, đều lớn tiếng, đều gào qua bàn với người bên kia, mà chẳng ai nghe ra được người khác nói gì.
Cuối bữa, những khách khứa được nể trọng nhất được mời thứ rượu pha mật ong với hương liệu, còn những người khác thì có rượu mạnh và bia thả cửa.
Đến lúc ấy, ít ai còn biết rõ mình đang uống gì, vì đã say mèm và đang lâng lâng sung sướng. Họ ngồi cho thật thoải mái, cởi khuy áo khoác cho mát; đấm tay xuống bàn đến nỗi bát đĩa kêu leng keng, ôm choàng lấy nhau, khi thì quàng cổ, khi thì túm lấy cổ áo; và họ nói năng thả cửa, mở lòng ra kể hết nỗi khổ của mình như thể anh em ruột thịt.
“Sống trên cõi đời này khổ thật! Việc đời với người ta chẳng còn ra sao nữa, chỉ toàn là sầu não!”
“Ừ, người cũng như chó, cắn nhau vì một khúc xương.”
“Chẳng có gì an ủi, trừ khi hàng xóm gặp hàng xóm bên chén rượu, rồi bàn bạc, rồi than thở; ai có làm gì phật lòng nhau, hay bị ai làm phật lòng, thì cũng tha thứ và được thứ tha!”
“Như ngay lúc này, trong tiệc cưới này: nhưng, chao ôi! chỉ được có một ngày!”
“Chao ôi! Ngày mai rồi sẽ tới, dù ta chẳng gọi nó! Chẳng tránh được đâu, trừ khi nằm trong đất thánh của Chúa... Phải, nó sẽ tới tóm lấy anh, đặt ách lên vai anh, quất lên lưng anh bằng roi nghèo đói; và anh, hỡi người ơi! cứ phải kéo... kéo đến khi cái ách nhuốm máu.”
“Cái gì làm khổ ta thêm, xui người này chống người kia, như chó cắn nhau vì khúc xương chẳng còn miếng thịt nào?”
“Chẳng riêng cái nghèo, mà còn có Thế Lực Dữ; rồi người ta bị nó làm cho mù, chẳng phân biệt được lành với dữ nữa.”
“Đúng thế thật; nó thổi vào hồn ta như người ta thổi vào đám than sắp tàn; nó làm cho lòng tham, lòng ác và mọi điều xấu xa bùng lên thành lửa!”
“Phải; vì kẻ điếc trước lời răn thì lại thính tai với thứ nhạc dạo dưới hoả ngục.”
“Ngày xưa đâu có thế. Ngày xưa có sự vâng lời, có kính người già, có hoà thuận.”
“Và ai cũng có đất, cày được bao nhiêu thì có bấy nhiêu; lại có bãi chăn, có đồng cỏ, có rừng.”
“Thuở ấy ai nghe nói tới thuế bao giờ?”
“Hay có ai phải mua gỗ đâu? Chỉ việc đánh xe vào rừng, cần bao nhiêu lấy bấy nhiêu, dù là thông tốt nhất hay sồi tốt nhất. Của ông chủ điền cũng là của nông dân.”
“Còn bây giờ thì chẳng của bên nào cả, mà là của bọn Do Thái, hay của những kẻ còn tệ hơn.”
“Lũ thối tha! (Tôi đã cạn chén với bác: bác cạn chén với tôi đi!...) Giờ chúng bám rễ ở đây như thể đất của chúng! (Chúc sức khoẻ bác, anh em!)... Uống rượu chẳng phải tội, miễn là đúng lúc và uống với anh em: thế là lành, làm sạch máu và đuổi bệnh tật đi.”
“Đã uống thì uống cho trọn một vò — cũng như đã vui thì vui trọn ngày Chủ nhật. Nhưng có việc phải làm ư? Này người ơi, hãy làm hết sức mình, đừng tiếc sức, dốc hết gân cốt ra mà làm. Còn nếu chuyện dữ xảy đến — vợ bị Chúa gọi đi, gia súc lăn ra chết, nhà cửa cháy rụi — thì ấy là ý Chúa. Đừng chống lại: kêu than được ích gì cho anh, cái thân hèn mọn của anh? Vậy hãy nhẫn nại; hãy trông cậy vào lòng thương xót của Chúa. Ừ, mà nếu điều tệ nhất xảy tới, nếu Thần Chết gớm ghiếc nhìn thẳng vào mặt anh và bóp lấy cổ họng anh, thì chớ hòng chạy trốn, sức anh làm sao trốn nổi; mọi sự đều ở trong tay Chúa!”
“Thật vậy, ai biết được ngày nào Chúa sẽ phán: ‘Hỡi người, đến đây là phần của ngươi: từ đó trở đi là của Ta’?”
“Đúng là như vậy. Ý Chúa như chớp loé, chẳng ai — dù là cha xứ, dù là bậc thông thái — biết được cho tới khi nó rơi xuống, như hạt lúa chín rụng khỏi bông.”
“Này người ơi, anh chỉ cần biết một điều thôi — làm tròn bổn phận, sống theo lời Chúa dạy, và đừng nhìn quá xa. Chắc chắn Chúa đã dọn sẵn tiền công cho tôi tớ của Người, và trả cho mỗi người thật đúng phần của họ.”
“Người Ba Lan ngày xưa đứng vững nhờ những luật ấy, và những luật ấy còn đời đời kiếp kiếp, Amen.”
“Ừ, và nhờ nhẫn nại mà ta sẽ thắng được cửa hoả ngục.”
Họ chuyện trò với nhau như thế, thỉnh thoảng lại nâng chén, ai nấy trút ra hết những gì chất trong lòng, những gì đã nghẹn nơi cổ họng bấy lâu làm họ ngột thở. Ambrose nói nhiều nhất và to nhất.
Mãi đến cuối, Eva và Yagustynka trịnh trọng bước vào, đưa ra phía trước một cái muôi lớn được trang hoàng và thắt nơ. Một nhạc công đi theo sau kéo vĩ cầm đệm cho họ, còn họ thì hát:
Trước lúc quý ông ra về, chúng tôi đến đây; Đứng trước hai vị là hai bà đầu bếp: Xin các ông chớ quên chúng tôi: Mỗi món ăn xin ba xu: Món nêm nếm xin mười xu!
Cả đám đã ăn no nê và uống còn nhiều hơn thế; lòng dạ ấm lên vì rượu thịt, nhiều người thả cả tiền bạc vào cái muôi khi nó chìa qua.
Rồi họ chậm rãi rời bàn mà đi ra, người thì ra hít khí trời, người thì tiếp tục câu chuyện ngoài hành lang hay trong gian nhà lớn; có kẻ bày tỏ tình bằng hữu một cách nồng nhiệt; và không ít người loạng choạng, đâm đầu vào tường hay vào người khác, húc nhau như dê đực.
Chỉ còn ông trưởng làng ngồi lại bên bàn với ông chủ cối xay, hai người cãi nhau dữ dội, sắp sửa nhảy bổ vào nhau như hai con diều hâu, thì Ambrose tới giảng hoà, mời thêm rượu.
“Cút về hiên nhà thờ mà ăn xin, lão già ăn mày,” ông trưởng làng gầm gừ với lão, “và biết thân biết phận, đừng chen vào chuyện của người trên.”
Thế là Ambrose hậm hực bỏ đi, ôm chai rượu vào ngực, bước lệt xệt ầm ĩ, tìm xem có ai để cùng uống và chuyện trò như bạn bè.
Đám trẻ tản ra khắp vườn cây, hoặc khoác tay nhau đi dọc đường làng, đùa nghịch huỳnh huỵch, đuổi bắt nhau và la hét. Đêm quang đãng; trăng treo trên mặt ao, ao sáng lấp lánh đến nỗi từng vòng sóng yếu ớt run rẩy trên mặt nước cũng nhìn rõ mồn một, chuyển động lặng lẽ như thân rắn cuộn, tựa hồ đáp lại thứ ánh sáng dội xuống từ trên cao. Sương giá khá nặng, những vệt bánh xe trên đường giòn dưới chân, mái nhà đóng một lớp muối trắng phau. Bấy giờ đã quá nửa đêm, vì tiếng gà gáy đầu tiên đã cất lên.
Trong khi đó, người ta dọn gian nhà lớn để lại nhảy múa.
Đã nghỉ ngơi và lấy lại sức, đám nhạc công lại cất lên những khúc nhạc nhỏ nhẹ, gọi khách khứa tụ về.
Jagna đã được các bà đưa vào buồng riêng, Boryna ngồi với bà Dominikova gần cửa, những người lớn tuổi ngồi trên ghế dài và ở các góc, bàn hết chuyện nọ chuyện kia, còn trong phòng chỉ có mấy cô gái đứng túm tụm khúc khích với nhau: trò ấy chóng chán, nên họ quyết định bày ra mấy trò chơi, “để khuấy động đám con trai một chút.”
Đầu tiên là trò “Cáo đi tuần một vòng; chân tay đều bị trói.”
Yasyek, biệt danh Lộn Tùng Phèo, được hoá trang thành Cáo, mặc áo da cừu lộn trái. Anh ta là kẻ ngốc nghếch, khờ khạo, và là trò cười cho cả làng. Tuy đã là người lớn hẳn hoi, anh ta vẫn chơi với lũ trẻ con, phải lòng hết thảy các cô gái và dại dột không bút nào tả xiết: nhưng vì là con một, lại có mười mẫu ruộng riêng, nên đâu đâu người ta cũng mời. Yuzka Boryna là con mồi của anh ta, con Thỏ. Và họ cười; Lạy Chúa, họ cười mới dữ làm sao!
Cứ mỗi bước, Yasyek lại vấp và ngã sóng soài, đổ đánh huỵch như một khúc gỗ. Những người khác còn chìa chân ra cho anh ta vấp; còn Yuzka thì né tránh nhẹ như không: cô ngồi dựng lên đúng kiểu con thỏ, và nhại tài tình cách nó mấp máy môi.
Rồi tới trò “Chim Cút.”
Nastka làm cái, nhanh nhẹn đến mức chẳng ai bắt được cô, cho tới khi chính cô chịu cho bắt (để còn nhảy một bản với ai đó).
Cuối cùng, Tomek Vahnik được hoá thành con Cò, trùm một tấm khăn trải giường lên đầu và cầm một cây gậy dài giơ dưới khăn làm mỏ; anh ta kêu lách cách lách cách y hệt cò thật, giống đến nỗi Yuzka, Vitek và cả lũ trẻ chạy theo sau, gọi (như vẫn gọi con cò thật):
Cắc, cắc, cắc! Mẹ mày dưới hoả ngục! Dưới ấy mẹ làm gì? Nấu cơm cho lũ trẻ! Mẹ mày phạm tội chi? Tội để con đói meo bụng lép!
Và ầm ĩ tưng bừng; vì anh ta chạy đuổi theo chúng, mổ bằng cái mỏ, và đập cánh phành phạch.
Những trò ấy chỉ kéo dài chừng một giờ, rồi phải nhường chỗ cho các nghi thức khác.
Bấy giờ các bà có chồng dẫn Jagna từ buồng riêng ra, trùm kín người bằng một tấm khăn trắng, rồi đặt cô ngồi giữa phòng, trên một cái thùng nhào bột có lót nệm lông. Các cô phù dâu liền xông tới như để giật cô đi, nhưng đám đàn ông cản lại: cuối cùng các cô đứng thành một tốp đối diện, cất lên một khúc hát buồn thảm ai oán:
Vòng hoa của em đâu rồi, Vòng hoa cô dâu xinh tươi thế? Từ nay cúi mình theo ý chồng, Một chiếc mũ che mái tóc, Em phải đội lên đầu!
Rồi các bà mở khăn cho cô.
Người ta thấy cô đội chiếc mũ của đàn bà có chồng lên trên những bím tóc dày; vậy mà trong lối trang phục ấy, cô lại càng mê hoặc hơn trước.
Theo khúc nhạc chậm rãi của ban nhạc, cả đám đông, già lẫn trẻ, cất tiếng hát “Bài Ca Hoa Bia” trong một niềm hân hoan đồng thanh lớn. Hát xong, cô được giao hẳn cho các bà có chồng, để nhảy cùng họ... Yagustynka, lúc này đã ngà ngà lắm, chống nạnh hai tay, ứng khẩu ném vào cô mấy câu:
Ôi! phải chi ta biết có ngày Jagna của ta lấy gã goá vợ, Thì ta đã kết cho mi một vòng hoa Chỉ toàn bằng cây bách xù đầy gai!
Sau đó là những câu khác, còn cay độc hơn câu đầu.
Nhưng chẳng mấy ai để ý tới họ; bởi phường nhạc đã dạo lên khúc mở màn cho cuộc vui lớn nhất; và các cặp nhảy tràn ra, tiếng chân giậm rầm rập nổi lên. Họ chen chúc dày đặc, cặp này sát cặp kia, má kề má, càng lúc càng xoay nhanh hơn theo điệu nhảy. Vạt áo khoác bung ra phần phật, gót giày nện xuống, mũ vung lên — chốc chốc lại bật ra một câu hát — đám con gái ngân theo câu đệm "đa đa-na", rồi cuốn đi còn nhanh hơn nữa, đung đưa nhịp nhàng trong cơn lốc cuồn cuộn lao tới! Trong đám đông ấy chẳng ai còn nhận ra nổi người bên cạnh mình; và khi mấy cây vĩ cầm bật lên từng tràng nốt sắc gọn, tách bạch, thì một trăm bàn chân cùng dội xuống sàn một lượt, một trăm cái miệng cùng cất tiếng, một trăm người nhảy như bị bão cuốn, xoay tròn không dứt; tiếng áo khoác, váy, khăn vuông sột soạt bay khắp gian nhà như cả một đàn chim đủ màu vỗ cánh. Họ cứ đi, cứ đi mãi — nhảy không nghỉ lấy một hơi, sàn nhà lộp bộp như mặt trống, tường rung lên, gian phòng sôi như một cái vạc. Và cơn ngây ngất của điệu nhảy mỗi lúc một dâng, một dâng cao hơn nữa.
Rồi đến lúc làm những nghi thức vẫn phải làm khi cô dâu cởi bỏ vòng hương thảo trên đầu.
Trước hết, Jagna phải nộp lệ phí để được nhận vào hàng các bà!
Ngay sau đó là một nghi thức khác. Cánh đàn ông có một sợi dây dài bện bằng rơm lúa mì chưa đập, họ vặn thành một cái vòng lớn do các cô phù dâu giữ chặt và canh chừng, Jagna đứng giữa. Ai muốn nhảy với cô thì phải chui qua vòng, cướp cô ra bằng sức mình, rồi dìu đi một bận, dù suốt lúc ấy bị người ta quất dây vào bất cứ chỗ nào quất được. Cuối cùng, bà vợ ông chủ cối xay cùng bà Vachnik đi quyên tiền "Mũ". Trưởng làng đi đầu; ông ném một đồng vàng vào đĩa; sau đó tiền rúp bạc rơi lanh canh như mưa đá; sau chót là tiền giấy, nhiều như lá mùa thu.
Hơn ba trăm rúp đã quyên được như thế!
Bà Dominika xúc động hẳn khi thấy người ta bỏ ra ngần ấy tiền vì Jagna, liền bảo mấy đứa con trai mang thêm rượu ra, tự tay bà chuốc mời khách khứa, hôn bạn bè mà khóc vì lòng tốt của họ.
"Uống đi, bà con láng giềng tốt bụng, uống đi, các bạn thân mến, anh em ruột thịt của tôi... Tôi thấy trong lòng như xuân về lại...! Mừng sức khỏe Jagna... uống nữa đi... nữa đi..." Và khi bà thôi, thì bác thợ rèn uống với những người khác, rồi mấy đứa con trai bà cũng vậy, từng đứa một; bởi khách đông nghịt. Jagna cũng hết lòng cảm tạ họ, ôm lấy đầu gối các bậc cao niên có mặt.
Gian nhà ù ù tiếng người, ly chén chuyền tay nhau thoải mái; ai nấy đều tỏa ra một nỗi hăm hở và vui sướng. Mặt đỏ gay, mắt sáng rực; lòng người mở ra với lòng người. Họ đứng thành từng tốp khắp phòng, uống và chuyện trò hỉ hả, ai cũng nói phần mình thật to, chẳng ai nghe ai, mà cũng chẳng ai bận tâm! — Tất cả thấy mình là một; một niềm vui gắn kết và thấm suốt cả bọn! "Ai có nỗi lo thì để đến mai; đêm nay cứ buông mình mà chơi: vui với bạn bè, cho hồn được khuây khỏa! Đất thánh thiêng của ta, đã hết bùa phép sinh hoa kết trái của mùa hè, được Chúa cho nghỉ: người ta cũng vậy, nghỉ vào mùa thu là phải, khi việc đồng áng đã xong. Này người có đống lúa chất cao, có vựa đầy hạt đáng giá từng đống vàng — hãy nghỉ đi, sau nhọc nhằn lao khổ suốt mùa hè đã qua!"
Có người nói vậy, lại có người quay về lần giở trong đầu những nỗi lo và nỗi buồn của mình.
Ông Boryna chẳng thuộc hạng nào trong hai hạng ấy. Mắt ông chỉ thấy mỗi Jagna, lòng ông căng lên đập rộn vì kiêu hãnh với nhan sắc của cô. Ông cứ ném hết đồng _zloty_ này đến đồng khác cho phường nhạc, để họ đừng tiếc dây đàn: bởi tiếng nhạc đang yếu dần, khi lòng hăng của họ đã chùng xuống.
Thế rồi bất chợt họ nổi lên một điệu Obertas làm người ta run tận sống lưng. Ông Boryna nhảy đến bên Jagna, ôm ghì cô trong vòng tay lực lưỡng, và lập tức mở một điệu nhảy làm rung cả ván sàn dưới chân. Ông cuốn cô đi hết gian phòng — rồi trở lại — nện gót móng ngựa loảng xoảng trên sàn — thình lình quỳ xuống trước cô, rồi bật dậy nhanh như chớp — đưa cô đi từ vách này sang vách kia — gào lên một câu hát lẻ mà đàn sáo bắt lấy và đệm theo, rồi vẫn dẫn đầu điệu nhảy, trong khi các cặp khác bắt chước ông, nhảy, hát, giậm chân, tất cả mỗi lúc một nhanh hơn: như bấy nhiêu con suốt cuốn đầy len nhiều màu cùng quay trên sàn, xoay, vặn, tít mù, nhanh đến nỗi mắt không kịp nhận ra sắc màu; nên trong dòng chảy xiết ấy chẳng ai phân biệt nổi trai với gái — chỉ có những mảng cầu vồng bay lượn, bị xua đi như hướng về một cái đích, sắc màu đổi thay liên hồi, xoay tròn mỗi lúc một mạnh, một dữ! Có lúc luồng gió cuốn theo thổi tắt cả nến: nhạc vẫn tiếp trong bóng tối, và điệu nhảy cũng vậy, chỉ có ánh trăng trắng nhợt hắt qua cửa sổ soi vào. Bấy giờ, xuyên qua cái mờ mịt sôi sục ấy, thấy những bóng đen thoăn thoắt bay đi, đuổi bắt nhau trong bóng tối lẫn màn sương ánh bạc; những đợt sóng sủi bọt của ánh mờ nhợt nhạt và tiếng ồn du dương dâng lên từ đêm đen, trong hòa âm tối sẫm của màu và của tiếng — như trong một ảo cảnh hay một giấc mơ — rồi lại chìm vào cõi mịt mù không sao thấu, để rồi hiện rõ lên lần nữa trên bức vách tái nhợt, nơi những bức ảnh thánh lồng kính hắt lại ánh trăng bằng những vệt lăn tăn chớp giật: rồi họ lại lao đi và biến mất vào bóng tối, chỉ còn tiếng thở nặng nhọc, tiếng bước chân gấp và tiếng kêu mơ hồ cho biết họ vẫn ở đó, trong cái rối bời của gian phòng không đèn!
Điệu nhảy này nối điệu nhảy kia dồn dập, chẳng có quãng nghỉ nào ở giữa. Mỗi khi một điệu mới trỗi lên, lại có những người nhảy mới lập tức bước ra, đứng thẳng như một cánh rừng, xông tới nhanh như một trận gió; và tiếng chân giậm dội vang đi thật xa, tiếng hò reo vui vẻ vang khắp nhà, trong khi cuộc xáp trận vẫn tiếp diễn, hoang dại, điên cuồng, bão tố, và nghiêm trang như một cuộc vật lộn sinh tử!
Chao ôi, họ nhảy mới ghê làm sao!
Nào là những điệu Cracovienne, với nhịp nhún nhảy tinh nghịch, với tiếng luyến nhanh của những khúc nhạc gọn ghẽ, lanh canh như kim khí; nào là những câu hát cụt lủn, đầy vui nhộn và phóng túng, chi chít điểm vào khúc nhạc, sáng lấp lánh như những chiếc thắt lưng đính hạt của chính lũ nông dân đã nghĩ ra chúng — những khúc nhạc trào lên vui tươi mạnh mẽ, nồng nàn mùi vị khỏe khoắn, dồi dào, ngang tàng của tuổi trẻ đang mải mê đuổi theo những rung động ngọt ngào báo hiệu thời máu chảy rần rật!
Rồi những điệu Mazur, kéo dài như những con đường vạch ngang đồng bằng bất tận, gió lộng và mênh mông như chính cái đồng bằng bất tận chúng vạch ngang: thấp bé mà chạm tới trời; sầu muộn mà bạo dạn, tráng lệ mà u ám, đường bệ mà dữ dằn: đôn hậu, hiếu chiến, đầy những chỗ nghịch tai, y như cái tính nết nông dân kia, dàn ra như thế trận, gắn bó như một cánh rừng, và xông vào cuộc nhảy với những tiếng hò vui vẻ cùng sức mạnh lạ lùng đến mức có thể đánh và thắng được kẻ đông gấp mười, phải, có thể chinh phục, quét sạch, giẫm nát cả một thế giới thù địch, mà chẳng đoái hoài dù chính mình đã bị định đoạt phải ngã xuống, vẫn cứ nhảy tiếp sau khi chết, vẫn giậm chân như trong điệu Mazur — vẫn gào lên: "Ôi đa-na đa-na!"
Còn những điệu Obertas kia nữa! — nhịp ngắn, chóng mặt, hoang dại và cuồng loạn, vừa hiếu chiến vừa đắm đuối, đầy kích động trộn với nỗi uể oải mộng mơ và những nốt buồn; máu nóng đập rộn trong đó, ăm ắp nồng hậu và hiền hòa, giữa một cơn mưa đá thình lình: những giọng nói âu yếm, những ánh mắt xanh thẫm, những làn gió xuân, những luồng hương từ vườn cây trổ hoa thoảng tới, như bài ca của đồng ruộng thuở đầu năm; khiến người ta cùng lúc bật khóc và bật cười, khiến trái tim cất lên khúc hát mừng của nó, và khiến linh hồn khao khát muốn vượt ra khỏi cánh đồng mênh mông quanh mình, vượt qua những cánh rừng xa, mà mơ màng bay vào cõi Vạn Vật, mà ngất ngây hát câu đệm: "Ôi đa-na đa-na!"
Và tất cả những điệu nhảy ấy, lời nào tả cho xiết, cứ thế nối nhau, để dân quê ta được vui cho đúng buổi!
Và họ đã vui thú như thế trong đám cưới của ông Boryna với Jagna.
Giờ khắc trôi đi trong tiếng ồn, tiếng huyên náo, tiếng la hét; trong cuộc vui inh ỏi và những điệu nhảy nhanh dữ dội: họ chẳng hay rằng bình minh đang lan ra ở phương Đông, rằng những dòng sáng của rạng ngày đang chầm chậm rót cái tái nhợt của nó vào bóng đen của đêm. Sao mờ dần, trăng lặn xuống; một ngọn gió nổi lên phía sau rừng thổi qua, xua cái bóng tối mỗi lúc một mỏng: những lùm cây xù xì nhìn vào cửa sổ, cúi thấp hơn nữa cái đầu ngái ngủ đội sương giá, nhưng người trong nhà thì vẫn hát vẫn nhảy!
Cửa lớn đã mở toang; cửa sổ cũng vậy; ngôi nhà, ăm ắp và trào cả ra ngoài những ánh đèn cùng tiếng náo động, run lên, kêu ken két, rên rỉ, trong khi điệu nhảy vẫn tiếp, giờ đây trong một nỗi ngây ngất hoàn toàn không sao ghìm lại nổi. Với những người bên trong — họ đang ở trong tình trạng như thế! — dường như cây cối và con người, đất và sao, những hàng rào và cả cái nhà tranh lâu đời kia, thảy đều đang vật lộn và quằn quại cùng nhau, dính vào một khối xoay tít không sao gỡ ra, mù lòa, say sưa, mê sảng, quên sạch mọi sự; lảo đảo lăn từ phòng này sang phòng kia, từ vách này sang vách kia, từ lối đi này sang lối đi khác, ra tận ngoài đường và ra cả cái thế giới bao la, cuốn trong một vòng quay lấp đầy vũ trụ — rồi nhạt dần vào chuỗi ánh đỏ thắm dài liền một dải giờ đang bừng lên ở phương Đông!
Và tiếng nhạc dẫn họ đi — những khúc đàn và những bài ca.
Mấy cây đại vĩ cầm giọng khàn giữ nhịp mới tài làm sao, bật ra tiếng ngân đứt quãng như những con ong nghệ to tướng! Rồi những cây sáo dẫn cả phường, huýt và ríu rít vui vẻ, như để giễu tiếng trống thình thịch hoan hỉ, càng dày thêm bởi tiếng chuông con lắc lư cười rung, bay phất phơ nhẹ như chòm râu ông Do Thái trong gió! Rồi mấy cây vĩ cầm giành lấy phần dẫn dắt, bước lên phía trước, như những cô gái dẫn đầu điệu múa, hát vống lên chói lói lúc đầu như thử giọng — rồi kéo những nhát vĩ rộng, sầu thảm, xé lòng — lời than của những đứa trẻ mồ côi bị đuổi khỏi nhà — rồi lại đột ngột đổi giọng, rơi vào một khúc nhún nhảy — ngắn, láy rền, sắc, như trăm gót chân người nhảy chạy lon ton, khiến trăm chàng trai cổ họng đầy hơi hò đến hụt hơi, run bắn cả người, rồi lại vào cuộc mà xoay, mà hát, mà nhảy điệu đàng, cười và hớn hở, hơi nóng lại bốc lên đầu và khát khao dâng lên tim, như rượu mạnh... để rồi lại rơi vào những nốt dài chậm của sầu muộn và than khóc — như sương xuống trên đồng! — cất lên những nốt của khúc nhạc ta hằng yêu, gần gũi với lòng ta nhất, thấm đẫm một nỗi trìu mến khắc khoải mãnh liệt, khiến tất thảy nhảy như mê man theo điệu Mazovia của chúng ta!
* * * * *
Nến đã lụi dần, ngày gần lắm rồi; một thứ ánh tranh tối tranh sáng xám xịt tràn khắp gian phòng họ đang nhảy. Nhưng họ vẫn vui thú hết lòng như cũ. Ai thấy rượu rót ra đã thưa thì cho người ra quán mua thêm, tìm bạn nhậu, rồi uống với nhau cho đã.
Vài người đã rút lui; vài người mệt, ngồi nghỉ một lát; vài người bị rượu quật, đang ngủ cho giã men ngoài lối đi hay bên cạnh cửa: những kẻ khác, say hơn nữa, nằm sóng soài dưới hàng rào. Còn tất cả những người kia vẫn nhảy, vẫn nhảy mãi.
Cuối cùng, mấy người còn tỉnh táo hơn tụ lại thành một nhóm bên hiên, vừa giậm chân giữ nhịp vừa hát thế này:
Này khách cưới, về đi thôi! Chim chiền chiện đã hót rồi; Rừng thì sâu, rừng lại tối, Đường về các bác còn xa: Về thôi!
Này khách cưới, về đi thôi! Chần chừ là gặp hiểm nguy: Chắn ngang lối mỏi ta đi Nước lũ réo ầm, bọt tung: Về thôi!
Nhưng chẳng ai buồn nghe họ và bài hát của họ!