Núi thần — Chương 8
Chương 8 / 8 · Bài review Núi thần
Dạo bước trên bãi biển
Có thể nào kể về thời gian, chính bản thân nó, như thế, tự thân và vì tự thân, hay không? Quả thật là không; đó hẳn sẽ là một việc làm điên rồ. Một câu chuyện cứ diễn ra thế này: “Thời gian trôi đi, nó tuôn qua, thời gian chảy xiết”, rồi cứ thế mãi, thì người lành trí chắc chẳng ai gọi đó là chuyện kể được. Ấy sẽ chẳng khác nào, trong cơn cuồng loạn trí não, người ta muốn giữ nguyên một âm hay một hợp âm suốt một giờ đồng hồ, rồi lại đem _coi đó_ là âm nhạc. Bởi chuyện kể giống âm nhạc ở chỗ nó _lấp đầy_ thời gian, nó “lấp đầy cho đàng hoàng”, nó “chia đốt” thời gian và khiến cho “có cái gì đó ở trong ấy” và “có việc gì đó xảy ra với nó” - mượn, với niềm kính cẩn man mác mà người ta dành cho lời của kẻ đã khuất, mấy câu nói tùy tiện của Joachim quá cố: những lời đã ngân tắt từ lâu, - chúng ta không biết độc giả còn thực sự rõ trong đầu rằng chúng đã ngân tắt từ bao lâu nữa hay không. Thời gian là _yếu tố_ của chuyện kể, cũng như nó là yếu tố của sự sống, - gắn với nó một cách không thể tháo rời, như thân thể với không gian. Nó cũng là yếu tố của âm nhạc, thứ đo và chia nhịp thời gian, khiến thời gian cùng lúc trở nên thú vị và quý giá: ở điểm này, như đã nói, âm nhạc gần với chuyện kể, là thứ cũng vậy (và khác với tác phẩm tạo hình, thứ cùng một lúc bừng sáng trong hiện tại và chỉ bị buộc vào thời gian như một thân thể) chỉ có thể tự trình diện như một chuỗi tiếp nối, không thể khác hơn là như một cái gì đang trôi qua, và ngay cả nếu nó muốn, trong từng khoảnh khắc, hiện diện trọn vẹn, thì để xuất hiện, nó vẫn cần đến thời gian.
Điều ấy rành rành ra đó. Nhưng việc ở đây còn có một sự khác biệt chi phối, cũng hiển nhiên chẳng kém. Yếu tố thời gian của âm nhạc chỉ có một: một lát cắt của thời gian trần thế loài người, vào đó nó tuôn đổ để tôn vinh và nâng cao lát cắt ấy lên đến mức khôn xiết. Trái lại, chuyện kể có hai thứ thời gian: trước hết là thời gian riêng của nó, thứ thời gian hiện thực-mang tính âm nhạc, quy định sự diễn tiến và sự xuất hiện của nó; nhưng thứ hai là thời gian của nội dung nó, mang tính phối cảnh, mà lại khác nhau đến mức thời gian tưởng tượng của chuyện kể gần như, thậm chí hoàn toàn, có thể trùng khít với thời gian âm nhạc của chính nó, nhưng cũng có thể cách xa nó như sao với vực. Một bản nhạc mang tên “Valse năm phút” kéo dài năm phút, - quan hệ của nó với thời gian chỉ có thế và không gì khác. Nhưng một câu chuyện mà khoảng thời gian nội dung chỉ vỏn vẹn năm phút thì, nhờ một sự tận tâm phi thường trong việc lấp đầy năm phút ấy, bản thân nó có thể kéo dài gấp nghìn lần - mà vẫn hết sức thú vị, mặc dầu trong quan hệ với thời gian tưởng tượng của nó, nó sẽ rất đỗi buồn chán. Mặt khác, cũng có thể thời gian nội dung của chuyện kể, theo lối rút ngắn, vượt quá vô lượng thời lượng riêng của nó, - ta nói “theo lối rút ngắn” để gợi đến một yếu tố huyễn hoặc, hay nói cho thật rõ, một yếu tố bệnh hoạn, rõ ràng có liên quan ở đây: bởi trong trường hợp ấy, chuyện kể vận dụng một thứ phù phép kín nhiệm và một phối cảnh quá độ về thời gian, gợi nhớ đến một số trường hợp kinh nghiệm thực tế dị thường, hiển nhiên chỉ về phía siêu cảm. Người ta có trong tay những ghi chép của những kẻ hút thuốc phiện, làm chứng rằng trong quãng ngắn cơn xuất thần của mình, kẻ bị mê đã sống qua những giấc mộng mà tầm thời gian của chúng lên tới mười, ba mươi, thậm chí sáu mươi năm, hoặc còn vượt khỏi mọi giới hạn khả thể của kinh nghiệm thời gian nơi con người, - tức những giấc mộng mà khoảng thời gian tưởng tượng của chúng vượt thời lượng riêng của chúng một cách ghê gớm, và trong đó ngự trị một sự rút ngắn không thể tin nổi của kinh nghiệm về thời gian, các hình ảnh dồn ép nhau với tốc độ đến mức, như một kẻ ăn haschisch từng diễn tả, dường như trong bộ óc người say “đã bị lấy mất đi một cái gì như cái lò xo của một chiếc đồng hồ hỏng”.
Vậy thì, cũng giống như những giấc mộng trụy lạc ấy, chuyện kể có thể xử sự với thời gian, có thể đối đãi với nó theo cách tương tự. Nhưng vì nó có thể “đối đãi” với thời gian, nên rõ ràng thời gian, yếu tố của chuyện kể, cũng có thể trở thành _đối tượng của chính nó_; và nếu nói rằng người ta có thể “kể thời gian” là quá lời, thì ít ra việc muốn kể _về thời gian_ hiển nhiên cũng không phải là một khởi sự phi lý đến thế như thoạt đầu tưởng chừng, - để rồi vì vậy cái tên “tiểu thuyết thời gian” có thể mang một nghĩa kép đặc biệt mộng tưởng. Thật ra, chúng ta chỉ nêu ra câu hỏi có thể kể thời gian hay không là để thú nhận rằng với câu chuyện đang tiếp diễn này, quả thật chúng ta đang định làm đúng điều đó. Và nếu ta khẽ chạm đến câu hỏi tiếp theo, liệu những người quây quần quanh ta còn thật sự rõ trong đầu rằng hiện giờ đã bao lâu kể từ khi Joachim yêu danh dự, nay đã qua đời, chen vào câu chuyện nhận xét kia về âm nhạc và thời gian hay chưa (mà nhận xét ấy, nói cho cùng, làm chứng cho một sự thăng hóa có phần giả kim trong bản tính của chàng, bởi những nhận xét kiểu đó vốn thực ra không thuộc về bản tính tử tế chân phương của chàng), - thì hẳn chúng ta cũng chẳng giận gì mấy nếu nghe nói rằng vào lúc này quả người ta không còn thật rõ nữa: chẳng giận gì mấy, mà còn hài lòng nữa, chỉ bởi một lẽ đơn giản rằng sự cùng tham dự phổ quát vào kinh nghiệm sống của nhân vật chính của chúng ta dĩ nhiên là điều hợp ý ta, và bởi chính người này, Hans Castorp, ở điểm vừa nhắc đến ấy, quả thật cũng không lấy gì làm vững chắc, mà lại đã như vậy từ lâu rồi. Điều đó thuộc về cuốn tiểu thuyết của chàng, một cuốn tiểu thuyết thời gian, - hiểu theo nghĩa ấy, mà lại cũng theo một nghĩa khác nữa.
Thật ra Joachim đã sống trên này với chàng bao lâu, cho đến chuyến ra đi dữ dội của anh hoặc tính chung tất cả; về mặt lịch ngày tháng thì chuyến ra đi bướng bỉnh đầu tiên ấy đã diễn ra khi nào; anh vắng mặt bao lâu, khi nào trở lại, và chính Hans Castorp đã ở đây bao lâu rồi khi anh trở lại và rồi lại bước ra khỏi thời gian; còn nếu gác Joachim sang một bên, Frau Chauchat đã vắng mặt bao lâu, từ khoảng năm nào mà nàng _lại có mặt_ (bởi nàng đã trở lại), và Hans Castorp khi ấy đã tiêu hao bao nhiêu thời gian trần thế ở Berghof lúc nàng quay về: trước mọi câu hỏi ấy, giả sử có ai đem chúng đặt ra cho chàng, điều mà chẳng ai làm cả, kể cả chính chàng, vì có lẽ chàng tránh không dám tự đặt ra cho mình, thì Hans Castorp hẳn đã gõ những đầu ngón tay lên trán và nhất định chẳng biết trả lời ra sao, - một hiện tượng không kém phần đáng ngại so với cái sự bất lực nhất thời đã giáng xuống chàng vào ngay buổi tối đầu tiên ở đây, tức là khi phải nói với Herr Settembrini tuổi của chính mình; phải, còn là một sự trầm trọng thêm của tình trạng bất lực ấy nữa, bởi bây giờ chàng thật sự và thường trực không còn biết mình bao nhiêu tuổi nữa!
Điều ấy nghe có vẻ phiêu lưu, nhưng lại xa lạ gì với chuyện chưa từng có hoặc khó tin đến nỗi, trái lại, trong những điều kiện nhất định, nó bất cứ lúc nào cũng có thể xảy đến với bất kỳ ai trong chúng ta: giả như có những điều kiện ấy, sẽ chẳng gì cứu được chúng ta khỏi việc chìm xuống sự không biết sâu nhất về dòng chảy của thời gian, và do đó về tuổi tác của chính mình. Hiện tượng ấy khả hữu là vì trong nội tâm ta không có bất kỳ cơ quan nào chuyên về thời gian, tức là vì ta tuyệt đối bất lực trong việc tự mình, không có điểm tựa bên ngoài, xác định sự trôi qua của thời gian dù chỉ với độ tin cậy gần đúng. Những người thợ mỏ bị chôn vùi, bị cắt đứt khỏi mọi quan sát về sự luân phiên ngày đêm, khi được cứu sống may mắn, đã ước lượng quãng thời gian họ trải qua trong bóng tối, giữa hy vọng và tuyệt vọng, là ba ngày. Thực tế là mười ngày. Người ta hẳn tưởng rằng trong hoàn cảnh hết sức nghẹt thở ấy, thời gian đối với họ phải dài ra mới đúng. Nhưng nó đã co rúm lại còn chưa đến một phần ba độ dài khách quan của nó. Xem ra, dưới những điều kiện gây rối loạn, sự bất lực của con người có xu hướng trải nghiệm thời gian trong một sự rút ngắn mạnh mẽ hơn là phóng đại nó quá mức.
Dĩ nhiên chẳng ai phủ nhận rằng, nếu Hans Castorp muốn, chàng hẳn đã có thể, không mảy may khó khăn thực sự, dùng phép tính mà đưa mình từ chỗ mơ hồ sang chỗ sáng tỏ, - cũng như độc giả hoàn toàn có thể làm điều ấy một cách dễ dàng, nếu cái mờ nhòe và rối sợi kia gây phản kháng cho lương tri lành mạnh của mình. Về phần Hans Castorp, có lẽ chàng cũng chẳng lấy gì làm dễ chịu trong tình trạng đó, nhưng bất kỳ nỗ lực nào nhằm giằng mình ra khỏi cái mờ nhòe và rối sợi ấy để tự làm cho rõ rằng trên này chàng đã già đi đến đâu, chàng cũng không chịu bỏ công; và sự e ngại ngăn cản chàng chính là một sự e ngại của lương tâm, - mặc dầu hiển nhiên điều vô lương tâm tệ hại nhất lại chính là không biết kính nể thời gian.
Ta không biết có nên châm chước cho chàng hay không, khi hoàn cảnh đã tiếp tay quá đắc lực cho sự thiếu thiện chí của chàng - nếu người ta không muốn nói thẳng là ác ý. Khi Frau Chauchat trở lại (theo một cách khác hẳn điều Hans Castorp từng mơ tưởng - nhưng chuyện đó xin để đúng chỗ của nó), lại một lần nữa mùa Vọng ngự trị và ngày ngắn nhất, tức khởi đầu mùa đông xét theo thiên văn, đã ở trước mắt rất gần. Nhưng trên thực tế, gạt sự sắp đặt lý thuyết sang một bên, xét về tuyết và băng giá, thì trời mới biết người ta đã có mùa đông trở lại từ bao lâu rồi; vả chăng mùa đông ấy xưa nay chỉ bị gián đoạn hết sức thoáng qua bởi những ngày hè cháy bỏng với một màu xanh da trời sâu đến cường điệu, ngả hẳn sang gần như đen sẫm, - tức những ngày hè mà, nói cho đúng, vẫn rơi cả vào mùa đông nữa, nếu bỏ qua tuyết, thứ mà kỳ thực cũng rơi trong mọi tháng hè. Biết bao lần Hans Castorp đã tán chuyện với Joachim quá cố về cơn hỗn loạn lớn lao ấy, thứ trộn lẫn các mùa, quăng chúng vào nhau, tước mất sự phân chia của năm và bởi thế làm cho năm trở nên ngắn một cách buồn chán hoặc buồn chán một cách ngắn ngủi, đến nỗi, theo một lời phát biểu sớm sủa mà Joachim buột ra với vẻ ghê tởm, người ta hầu như không còn có thể nói đến thời gian nữa. Cái thực sự bị pha trộn và trộn lẫn trong cơn hỗn loạn lớn lao ấy là những khái niệm cảm giác, hay những trạng thái ý thức, của “vẫn còn” và “đã lại”, - một trong những trải nghiệm rối trí, trắc trở và bị bỏ bùa nhất có thể có, mà lại là một trải nghiệm Hans Castorp đã cảm thấy một khuynh hướng bất lương muốn nếm thử ngay từ ngày đầu tiên ở trên này: tức là trong năm bữa ăn quá đỗi hùng hậu ở phòng ăn được trang trí theo lối khuôn thức vui mắt, nơi cơn choáng váng đầu tiên thuộc loại ấy, còn khá vô tội nếu so sánh, đã thoảng qua xâm chiếm chàng.
Từ đó về sau, sự đánh lừa giác quan và tinh thần ấy đã khoác lấy một quy mô lớn hơn nhiều. Thời gian, cho dẫu kinh nghiệm chủ quan về nó có bị làm mờ nhạt hay bị thủ tiêu đi chăng nữa, vẫn có thực tại khách quan, chừng nào nó còn hoạt động, chừng nào nó còn “kết quả”. Việc hộp bảo quản kín nhiệm trên chiếc kệ tường có ở ngoài thời gian hay không là một câu hỏi dành cho các nhà tư tưởng chuyên nghiệp - và vì thế chỉ do thói ngạo mạn tuổi trẻ mà Hans Castorp đã từng can dự vào nó. Nhưng chúng ta biết rằng ngay cả với con sóc ngủ đông, thời gian vẫn làm việc của nó. Một y sĩ chứng thực trường hợp một bé gái mười hai tuổi nọ, một ngày kia rơi vào giấc ngủ và nằm nguyên trong đó mười ba năm, - nhưng nàng không vì thế mà vẫn là một bé gái mười hai tuổi, trái lại trong khoảng ấy đã nở thành một người đàn bà chín muồi. Có thể nào khác được. Kẻ chết thì đã chết và đã từ giã cõi trần; hắn có rất nhiều thời gian, nghĩa là: hắn chẳng có chút nào, - nếu xét về mặt cá nhân. Điều đó không ngăn việc móng và tóc hắn vẫn tiếp tục mọc, và rằng rốt cuộc mọi sự - nhưng ta không muốn lặp lại lối nói bỗ bã mà Joachim đã từng dùng trong mối liên hệ này, lối nói đã khiến Hans Castorp khi ấy, với sự chướng tai của miền đồng bằng, phải phản ứng. Chính tóc và móng chàng cũng mọc, mà xem ra mọc nhanh nữa; chàng ngồi biết bao lần, khoác tấm áo choàng trắng, trên chiếc ghế thao tác của người thợ cắt tóc ngoài phố chính của làng và để người ta cắt tóc cho mình, vì bên tai lại mọc tua ra rồi, - thực ra chàng hầu như lúc nào cũng ngồi ở đó; hay đúng hơn, khi chàng ngồi đó và chuyện trò với gã nhân viên khéo léo, đon đả đang làm việc trên đầu chàng, sau khi thời gian đã làm phần việc của nó; hoặc khi chàng đứng nơi cửa ban công và dùng chiếc kéo nhỏ với cái giũa, lấy ra từ chiếc túi đồ nhung đẹp đẽ của mình, mà cắt móng tay, - thì đột nhiên, với một dạng kinh hãi pha lẫn thích thú tò mò, cơn choáng ấy lại ập đến với chàng: một cơn choáng theo đúng nghĩa đôi chao đảo của từ ấy, vừa là ngây ngất vừa là lừa dối, cái không-còn-phân-biệt-nổi xoáy lốc giữa “vẫn còn” và “lại”, mà sự trộn lẫn và nhòe xóa của chúng sinh ra cái mãi-mãi và muôn-đời phi thời gian.
Chúng ta đã thường quả quyết rằng ta không muốn làm cho chàng tốt hơn, nhưng cũng không tệ hơn, so với chính con người chàng; vì vậy ta cũng không giấu rằng chàng thường vẫn cố chuộc lại cái thú đáng chê trách của mình đối với những cơn cám dỗ huyền bí như thế, những cơn mà có lẽ chàng còn cố ý và hữu tâm gợi ra nữa, bằng những nỗ lực ngược chiều. Chàng có thể ngồi đó, chiếc đồng hồ trên tay - chiếc đồng hồ quả quýt bằng vàng nhẵn, dẹt của chàng, cái nắp khắc chữ lồng chàng đã bấm bật ra, - và nhìn xuống mặt tròn bằng sứ, quanh đó có hai vòng số Ả Rập đen và đỏ, trên đó hai chiếc kim vàng thanh nhã mà lộng lẫy, uốn lượn cầu kỳ, chỉ về hai phía tách xa nhau, còn chiếc kim giây mảnh thì thực hiện nhịp đi bận rộn như mổ quanh quỹ đạo nhỏ riêng của nó. Hans Castorp dõi mắt theo nó để ghìm và kéo giãn vài phút, níu thời gian ở chót đuôi. Cái kim nhỏ cứ lóc cóc đi đường nó, chẳng buồn đếm xỉa đến những con số mà nó chạm tới, sờ qua, vượt khỏi, bỏ lại sau lưng, bỏ lại thật xa, rồi lại tiến đến và lại chạm tới. Nó vô cảm trước đích điểm, chặng đoạn, mốc dấu. Lẽ ra ở số 60 nó phải dừng lại một khoảnh khắc, hoặc ít ra cho một dấu hiệu tí hon rằng ở đây có điều gì đã hoàn tất. Nhưng chính ở cách nó nhanh chóng vượt qua con số ấy, không khác gì mọi vạch nhỏ vô danh khác, người ta nhận ra rằng toàn bộ sự đánh số và chia đốt của con đường nó đi chỉ là cái gì _được đặt lót xuống_ dưới nó, và rằng rốt cuộc nó chỉ đơn giản là đi, đi mãi... Thế là Hans Castorp lại cất sản phẩm của Glashütte vào túi gi-lê và để mặc thời gian cho chính nó.
Làm sao chúng ta có thể khiến cho đức đoan chính miền đồng bằng hiểu nổi những biến đổi đã diễn ra trong nội giới của chàng phiêu lưu trẻ tuổi ấy? Thước đo của những sự đồng nhất gây choáng đã lớn dần lên. Nếu chỉ cần hơi dễ dãi một chút là đã không khó phân biệt một cái bây giờ với một cái của hôm qua, hôm kia, hôm kìa, vốn giống nó như quả trứng này với quả trứng kia, thì một cái bây giờ cũng đã sẵn sàng và có khả năng nhầm lẫn sự hiện tại của mình với một cái hiện tại từng ngự trị một tháng, một năm trước đây, và cùng với nó nhòe thành cái mãi mãi. Tuy nhiên, chừng nào những trạng thái ý thức mang tính luân lý của “vẫn còn”, “lại” và “sắp tới” vẫn còn tách biệt, thì một cơn cám dỗ lẻn vào: mở rộng ý nghĩa của những tên gọi quan hệ, nhờ đó cái “hôm nay” giữ quá khứ và tương lai ở ngoài thân mình một cách xác định, tức cái “hôm qua”, cái “ngày mai”, và đem chúng áp dụng vào những tỉ lệ lớn hơn. Không khó hình dung ra những sinh thể, có lẽ trên những hành tinh nhỏ hơn, quản lĩnh một thứ thời gian tí hon, và đối với đời sống “ngắn ngủi” của chúng, cái lóc cóc lanh lẹ của kim giây chúng ta hẳn lại sẽ mang vẻ dè sẻn đường đi chậm chạp của kim giờ. Nhưng cũng có thể tưởng tượng ra những sinh thể mà cùng với không gian của chúng gắn liền một thứ thời gian có bước đi khổng lồ, để rồi những khái niệm khoảng cách như “vừa mới đây” và “chỉ một lát nữa thôi”, “hôm qua” và “ngày mai”, trong kinh nghiệm của chúng, sẽ mang một ý nghĩa được nới rộng vô cùng. Điều đó, ta cứ nói thế đi, không những là có thể, mà còn có thể, nếu xét trong tinh thần của một thuyết tương đối khoan dung và theo châm ngôn “đất nào nết ấy”, được coi là chính đáng, lành mạnh và đáng trọng. Nhưng phải nghĩ sao về một đứa con của trái đất, lại còn ở cái tuổi như thế nữa, đối với kẻ mà một ngày, một vòng tuần, một tháng, một học kỳ lẽ ra vẫn còn phải đóng vai trò quan trọng đến vậy, còn phải đem theo biết bao biến đổi và tiến bộ trong đời sống, - mà một ngày nọ lại mắc cái thói phạm thượng, hoặc ít ra đôi khi buông mình theo khoái cảm ấy, nói “hôm qua” thay cho “một năm trước”, và “ngày mai” thay cho “sang năm”? Ở đây, hiển nhiên phán quyết “lạc lối và rối loạn” là điều thích đáng, và do đó sự lo ngại cao nhất cũng là điều thích đáng.
Trên mặt đất này có một hoàn cảnh sống, có những điều kiện phong cảnh nhất định (nếu trong trường hợp chúng ta hình dung đây, người ta còn được phép nói đến “phong cảnh”), trong đó một sự lẫn lộn và nhòa xóa như thế của những khoảng cách thời gian và không gian, cho đến mức thành ra một thứ đồng nhất gây chóng mặt, phần nào đó diễn ra như bởi tự nhiên và theo lẽ phải, đến nỗi việc đắm mình vào sức ma thuật của nó, trong những giờ phút nghỉ hè, cùng lắm cũng có thể được coi là điều khả thủ. Chúng tôi muốn nói đến cuộc dạo bước trên bãi biển, một trạng thái hiện hữu mà Hans Castorp không bao giờ nhớ tới nếu không với niềm âu yếm sâu đậm nhất, cũng như ta đều biết rằng chàng vẫn vui lòng và biết ơn để cho đời sống giữa tuyết gợi nhắc chàng về những dải đụn cát quê nhà. Chúng tôi tin rằng kinh nghiệm và ký ức của bạn cũng sẽ không bỏ mặc chúng tôi khi chúng tôi viện tới nỗi lạc mất kỳ diệu ấy. Bạn đi, cứ đi mãi... bạn sẽ chẳng bao giờ trở về nhà đúng lúc từ cuộc đi ấy, bởi thời gian đã vuột mất khỏi bạn, mà bạn cũng vuột mất khỏi thời gian. Ôi biển cả, chúng tôi ngồi kể chuyện ở xa ngươi, chúng tôi hướng về ngươi tư tưởng và tình yêu của mình, và ngươi, được xướng gọi thành lời, rõ ràng và vang lên như một lời khẩn cầu, phải hiện diện trong câu chuyện của chúng tôi, như trong lặng thầm ngươi vẫn đã, đang và sẽ luôn hiện diện... Sự hoang vắng rì rào, căng phủ một màu xám nhạt sáng tái, đầy một thứ ẩm lạnh gắt gao, khiến trên môi chúng ta đọng lại vị mặn. Chúng ta đi, đi trên nền cát hơi nẩy chân, rải rong biển và những vỏ sò nhỏ, đôi tai được gió bọc kín, bởi ngọn gió lớn lao, bao la và hiền hòa ấy, ngọn gió lùa qua không gian một cách tự do, không ngăn trở, không ác ý, và gây ra trong đầu ta một cơn tê mê dịu nhẹ; chúng ta bước, bước, và nhìn những lưỡi bọt của biển, bị xô tới rồi lại dào ngược ra sau, liếm quanh chân mình. Sóng bạc đầu sôi sùng sục, lớp nọ tiếp lớp kia, vừa sáng vừa trầm, ầm ào đập xuống rồi lụa là trườn lên bãi cát thoai thoải, ở đó cũng như ở đây, cả nơi những doi cát ngoài xa, và cái tiếng động hỗn độn, phổ quát, êm ầm ấy khép tai chúng ta lại trước mọi tiếng nói của thế gian. Niềm thỏa mãn sâu xa, sự lãng quên có ý thức... Hãy nhắm mắt lại, được cõi vĩnh hằng chở che! Không, kìa xem, ngoài khoảng xa sủi bọt xám xanh kia, khoảng xa mất hút về chân trời trong những sự thu ngắn khủng khiếp, có một cánh buồm. Ở đó ư? “Ở đó” là đâu? Xa đến đâu? Gần đến đâu? Bạn không biết. Một cách gây chóng mặt, nó vượt khỏi sự phán đoán của bạn. Muốn nói con tàu kia cách bờ bao xa, bạn phải biết bản thân nó, với tư cách một vật thể, lớn đến mức nào. Nhỏ và gần, hay lớn và xa? Trong sự không biết, cái nhìn của bạn bị chặn đứng, vì từ chính bên trong bạn, không một cơ quan, không một giác quan nào cho bạn biết gì về không gian cả... Chúng ta đi, đi, đã bao lâu rồi? Bao xa rồi? Điều ấy bỏ ngỏ. Chẳng có gì đổi thay theo bước chân ta, ở đó cũng như ở đây, vừa nãy cũng như bây giờ rồi lát nữa; trong sự đơn điệu vô lượng của không gian, thời gian chìm nghỉm, sự chuyển động từ điểm này sang điểm khác không còn là chuyển động nữa khi sự đồng nhất ngự trị, mà nơi nào chuyển động không còn là chuyển động, nơi ấy không có thời gian.
Các bậc thầy thời Trung đại muốn biết rằng thời gian là một ảo ảnh, rằng dòng chảy của nó trong nhân quả và tiếp nối chỉ là kết quả của một cơ cấu nơi các giác quan của chúng ta, còn hữu thể đích thực của vạn vật là một hiện tại đứng yên. Vị học giả đầu tiên tiếp nhận ý nghĩ ấy, phải chăng đã từng đi dạo bên biển, với chút đắng nhè nhẹ của cõi vĩnh hằng trên môi? Dù sao chúng tôi cũng xin nhắc lại rằng điều chúng tôi đang nói đến ở đây chỉ là những thứ giấy phép nghỉ hè, những mộng tưởng của sự nhàn tản đời sống, những thứ mà tinh thần đạo đức sẽ chán rất nhanh, cũng như một người tráng kiện nhanh chán việc nằm nghỉ trên cát ấm. Phê phán những phương tiện và hình thức nhận thức của con người, đặt vấn đề về giá trị thuần túy của chúng, hẳn sẽ là điều phi lý, bất lương, phản nghịch, nếu trong đó từng gắn với một ý nghĩa nào khác ngoài ý nghĩa là chỉ ra cho lý tính những giới hạn mà nó không được vượt qua, nếu không muốn mang tội sao nhãng những nhiệm vụ đích thực của mình. Chúng ta chỉ có thể biết ơn một người như Herr Settembrini khi ông, với sự dứt khoát có tính sư phạm, đã gọi siêu hình học là “Điều Ác” trước chàng thanh niên mà số phận chàng làm chúng ta bận lòng, và người mà nhân tiện ông từng rất tinh tế gọi là một “đứa con đáng lo của đời sống”. Và chúng ta tôn vinh ký ức của một người quá cố thân yêu với mình một cách đúng đắn nhất khi nói ra rằng ý nghĩa, mục đích và đích điểm của nguyên tắc phê phán chỉ có thể và chỉ được phép là một điều duy nhất: tư tưởng bổn phận, mệnh lệnh của đời sống. Phải, trong khi sự minh triết lập pháp phác định một cách phê phán những biên giới của lý tính, thì ngay trên những biên giới ấy nó đã cắm ngọn cờ của đời sống, và tuyên cáo rằng nghĩa vụ có tính người lính của con người là phải phụng sự dưới lá cờ đó. Có nên ghi vào sổ biện hộ cho chàng Hans Castorp trẻ tuổi và giả định rằng điều đã củng cố chàng trong lối quản lý thời gian báng bổ của mình, trong trò đùa bỡn tai hại của chàng với cõi vĩnh hằng, chính là việc cái mà một kẻ ba hoa u uất từng gọi là “lòng sốt sắng bia bọt” của người anh em họ nhà binh của chàng, rốt cuộc đã đi đến kết cục chết người chăng?
Mynheer Peeperkorn
Mynheer Peeperkorn, một người Hà Lan lớn tuổi, đã có một thời là khách của nhà Berghof, nơi mang phụ ngữ “quốc tế” trên biển hiệu của mình quả với đầy đủ chính đáng. Màu sắc dân tộc hơi đậm nơi Peeperkorn, bởi ông là một người Hà Lan thuộc địa, một người của Java, một chủ đồn điền cà phê, hẳn cũng chưa đủ sức buộc chúng tôi phải đưa con người của ông, Pieter Peeperkorn là tên ông, ông tự gọi mình như thế; “giờ Pieter Peeperkorn tự bồi bổ bằng một chén rượu mạnh đây,” ông thường nói vậy, hẳn cũng chưa đủ khiến chúng tôi, giả như nói thế, phải dẫn nhân vật của ông vào câu chuyện của mình ở giờ phút đã muộn màng thứ mười một; bởi lạy Chúa, trong những sắc mực và bóng độ nào mà xã hội của cơ sở lừng danh kia không diễn ra, cơ sở mà Hofrat Doktor Behrens điều hành về mặt y khoa giữa bao ngôn ngữ rộn ràng! Chẳng những gần đây ở đây còn hiện diện cả một công chúa Ai Cập, chính là vị ngày trước từng tặng cho Hofrat bộ đồ cà phê đáng chú ý ấy cùng những điếu Sphinx, một nhân vật gây chấn động với những ngón tay vàng thuốc lá đeo đầy nhẫn và mái tóc cắt ngắn, người mà ngoài những bữa ăn chính, khi bà mặc y phục Paris, thì vẫn đi lại trong áo vét đàn ông và quần được là ly, vả lại chẳng muốn biết gì đến thế giới đàn ông, mà chỉ dành ân sủng của mình, vừa uể oải vừa cuồng nhiệt, cho riêng một phụ nữ Do Thái người Rumani, kẻ mang cái tên hết sức tầm thường là Frau Landauer, trong khi công tố viên Paravant vì Điện hạ mà xao lãng toán học và gần như phát điên vì si tình; không chỉ thế, mà trong toán tùy tùng nhỏ của bà còn có cả một người Moor bị hoạn, một con người bệnh tật, yếu ớt, nhưng bất chấp thể trạng căn bản mà Karoline Stöhr rất thích đem ra gặm nhấm bằng lời lẽ, dường như lại bám lấy sự sống hơn bất cứ ai khác, và tỏ ra không sao nguôi ngoai trước hình ảnh mà tấm bản đã cho thấy về phần bên trong ông ta, sau khi người ta đã rọi xuyên qua cái màu đen của ông ta...
So với những hiện tượng như thế, Mynheer Peeperkorn gần như có thể thành ra nhạt nhòa. Và nếu như phần này trong câu chuyện của chúng tôi, cũng như một phần trước kia, có thể mang đầu đề “Lại thêm một người nữa”, thì không vì thế mà ai phải lo rằng ở đây một lần nữa lại có một kẻ tổ chức ra sự hỗn loạn về tinh thần và sư phạm bước lên sân khấu. Không, Mynheer Peeperkorn hoàn toàn không phải là người mang sự rối loạn logic vào đời. Ông là một con người hoàn toàn khác, như rồi đây ta sẽ thấy. Nhưng rằng tuy vậy từ con người ông vẫn phát ra một sự xáo trộn nặng nề đối với nhân vật anh hùng của chúng ta, điều ấy có thể hiểu được từ những điều sau đây.
Mynheer Peeperkorn đến ga “Dorf” cùng chuyến tàu chiều với Madame Chauchat, và cùng bà đi trên một cỗ xe trượt về nhà Berghof, nơi ông lại cùng bà dùng bữa tối trong phòng ăn. Đó không chỉ là một sự đến nơi đồng thời hơn mức bình thường, mà là một sự đến nơi _chung_; và chính tính chất chung ấy, vốn tiếp tục được biểu hiện chẳng hạn ở sự sắp xếp rằng Mynheer được chỉ định chỗ ngồi cạnh người đàn bà vừa trở lại, tại bàn những người Nga tốt bụng, đối diện chỗ của vị bác sĩ, đúng nơi xưa kia thầy giáo Popów đã bày ra những trò ngông cuồng và mờ ám của mình, chính sự thuộc về nhau ấy đã làm rối bời anh chàng Hans Castorp hiền lành, vì chuyện như vậy đã vượt ngoài mọi dự liệu của chàng. Hofrat đã báo cho chàng biết ngày giờ Clawdia trở về theo lối riêng của ông. “Nào, Castorp, anh bạn già,” ông đã nói, “lòng kiên trinh chờ đợi sẽ được đền đáp. Tối ngày kia con mèo nhỏ lại lẻn vào đây, tôi nhận được điện tín rồi.” Nhưng việc Frau Chauchat không đến một mình thì ông chẳng hề hé ra, có lẽ bởi chính ông cũng không biết rằng bà và Peeperkorn đến cùng nhau và thuộc về nhau, ít nhất ông đã giả làm ngạc nhiên khi, vào ngày sau cuộc đến nơi chung ấy, Hans Castorp ít nhiều gặng hỏi ông về chuyện đó.
“Tôi cũng chẳng thể nói với cậu nó tóm được lão ấy ở đâu,” ông giải thích. “Rõ ràng là một mối quen trên đường, đâu từ vùng Pyrénées mà ra, tôi đoán thế. Chà, thôi thì cậu trước hết phải chấp nhận lão ấy vậy, cậu Céladon thất vọng kia ạ, chẳng giúp được gì đâu. Thân thiết lắm, hiểu chưa. Xem chừng họ còn có cả quỹ du lịch chung nữa. Theo tất cả những gì tôi nghe được thì ông này giàu sụ. Vua cà phê hồi hưu, đầy tớ người Mã Lai, hoàn cảnh cực kỳ sung túc. Vả lại nhất định không phải đến đây để vui chơi, vì ngoài một chứng nhầy nhớt do rượu chè khá nặng, dường như còn có cả sốt nhiệt đới ác tính, sốt rét đấy, hiểu chưa, kéo dài, dai dẳng. Cậu sẽ phải kiên nhẫn với lão ta đấy.”
“Xin vâng, xin vâng,” Hans Castorp nói, giọng bề trên. “Còn ông thì sao?” chàng nghĩ. “Hẳn ông cũng chẳng hoàn toàn vô can, từ thuở trước kia chứ, nếu những điều nọ điều kia không đánh lừa tôi, hỡi ông góa bụa má xanh với lối sơn dầu trực cảm của ông. Dường như ông cho vào lời mình khá nhiều vẻ hả hê trước nỗi bất hạnh của người khác, trong khi rốt cuộc chúng ta lại là bạn đồng cảnh ngộ, theo một nghĩa nào đó, đối với Peeperkorn.” “Một con người kỳ quặc, quả là một hiện tượng độc đáo,” chàng vừa nói vừa làm điệu bộ phác họa. “Mạnh mẽ mà thưa thớt, đó là ấn tượng người ta nhận được ở ông ta, hay ít nhất là ấn tượng mà sáng nay tôi đã nhận được nơi ông ta lúc điểm tâm. Mạnh mẽ và rồi lại thưa thớt, theo ý tôi phải dùng những tính từ ấy để mô tả ông ta, mặc dù người ta thường cho rằng chúng không thể đi đôi với nhau. Hẳn ông ta cao lớn, bề thế, và thích đứng dạng chân ra, hai tay vùi trong những túi quần đặt thẳng đứng, chúng ở ông ta được may thẳng đứng, như tôi đã phải nhận thấy, chứ không đặt bên sườn như ở ông, ở tôi và nói chung ở các tầng lớp thượng lưu; mà khi ông ta đứng như thế và nói bằng giọng họng theo lối Hà Lan, thì quả thật không thể chối cãi là ông ta có cái gì hết sức lực lưỡng. Nhưng chòm râu cằm của ông ta lại thưa, dài đấy, nhưng thưa đến nỗi người ta tưởng có thể đếm được từng sợi, và đôi mắt ông ta cũng chỉ nhỏ và nhợt, gần như vô sắc hẳn, tôi không thể khác được, và việc ông ta luôn cố mở trừng chúng ra, vì thế mà có những nếp nhăn trán rất rõ, chạy từ thái dương lên trên rồi ngang qua trán, cái trán cao đỏ của ông ta ấy, quanh đó tóc trắng mọc dài nhưng thưa, ông biết đấy, thì rốt cuộc đôi mắt ấy vẫn cứ nhỏ và nhợt, bất chấp mọi cố gắng trừng mở. Còn chiếc gilê cài kín cổ lại cho ông ta một vẻ gì như giáo sĩ, dẫu rằng áo đuôi tôm lại kẻ ô. Đó là ấn tượng của tôi sáng nay.”
“Tôi thấy cậu đã ngắm ông ta rất kỹ,” Behrens đáp, “và đã quan sát kỹ con người ấy trong cá tính của ông ta, điều mà tôi cho là hợp lý, vì cậu sẽ phải thu xếp để sống chung với sự hiện diện của ông ta.”
“Vâng, chắc là chúng ta sẽ phải thế thôi,” Hans Castorp nói. Quả nhiên chàng đã được phó mặc việc phác ra một hình ảnh gần đúng về hình dáng vị khách mới, bất ngờ ấy, và chàng đã làm công việc của mình không tồi; chúng tôi cũng không thể làm tốt hơn chàng là mấy. Dĩ nhiên vị trí quan sát của chàng là thuận lợi nhất: ta đều biết rằng trong thời gian Clawdia vắng mặt, chàng đã dịch chỗ ngồi lại gần bàn những người Nga tốt bụng như một người láng giềng, và vì bàn của chàng song song với bàn ấy, chỉ có điều cái bàn kia nhô thêm một chút về phía cửa ra hiên, còn cả Hans Castorp lẫn Peeperkorn đều ngồi ở hai đầu ngắn quay vào phía trong phòng, nên họ gần như ngồi cạnh nhau, Hans Castorp hơi ở phía sau người Hà Lan, điều này tạo thuận lợi cho một cuộc thám sát kín đáo, trong khi Frau Chauchat hiện ra trước mặt chàng theo thế nghiêng ba phần tư. Để bổ sung cho bức ký họa đầy năng khiếu của chàng, có lẽ cần nói thêm rằng môi trên của Peeperkorn cạo nhẵn, mũi ông lớn và bè thịt, còn miệng cũng lớn, với đôi môi tạo hình bất quy tắc, cứ như bị xé rách. Thêm nữa, hai bàn tay ông tuy khá rộng, nhưng lại có những móng dài, nhọn dần ở đầu, và ông dùng chúng khi nói, trong lối nói gần như không ngớt của ông, tuy về nội dung thì với Hans Castorp vẫn không thật nắm bắt được, để làm những cử chỉ tinh tuyển khiến người ta căng chú ý, những cử chỉ văn hóa tinh tế, được trau chuốt, chính xác và sạch sẽ của một nhạc trưởng, lúc thì cong ngón trỏ với ngón cái thành hình tròn, lúc thì xòe bàn tay bẹt, rộng nhưng đầu móng nhọn, như để che chở, làm dịu xuống, đòi hỏi sự lưu tâm, rồi sau đó lại làm cho sự lưu tâm mỉm cười mà ông đã khơi ra phải thất vọng vì tính không nắm bắt được của lời phát biểu đã được chuẩn bị kỹ đến thế của ông, hay đúng hơn không hẳn là thất vọng, mà biến thành một sự kinh ngạc thích thú; bởi sức mạnh, sự tinh tế và tính hệ trọng của phần chuẩn bị đã bù đắp ở mức độ rất cao, ngay cả về sau nữa, cho điều đã không xảy ra, và tự thân nó có tác dụng làm thỏa mãn, tiêu khiển, thậm chí làm giàu thêm. Đôi khi lời phát biểu hoàn toàn không diễn ra. Ông nhẹ nhàng đặt tay lên cẳng tay người hàng xóm bên trái mình, một học giả trẻ người Bulgaria, hoặc lên cẳng tay Madame Chauchat bên phải, rồi nâng bàn tay ấy lên chéo hướng lên trên, ra lệnh im lặng và căng thẳng cho điều ông sắp nói, và với đôi mày nhướng cao, khiến những nếp nhăn chạy vuông góc từ trán tới góc ngoài đôi mắt hằn sâu thêm như một cái mặt nạ, ông nhìn xuống khăn trải bàn bên cạnh người đang bị trói buộc như thế, trong khi đôi môi lớn, rách rộng, hé mở của ông dường như sắp sửa thả ra điều cực kỳ quan trọng. Nhưng sau một lát, ông lại thở ra, từ bỏ, khẽ ra hiệu như bảo “cứ cử động đi”, rồi chẳng làm nên chuyện gì mà quay lại với tách cà phê của mình, thứ cà phê mà ông đã cho dọn thật đậm, bằng một cái máy riêng.
Sau khi uống xong, ông làm như sau. Ông dùng tay chặn cuộc trò chuyện lại, tạo nên yên lặng, như một nhạc trưởng dẹp tiếng hỗn độn của các nhạc cụ đang lên dây vào im bặt và, với uy quyền văn hóa, tập hợp dàn nhạc của mình vào lúc bắt đầu buổi diễn, bởi cái đầu lớn của ông, được tóc trắng bao quanh như lửa viền, với đôi mắt nhợt, những nếp nhăn trán hùng mạnh, chòm râu cằm dài và cái miệng trần lộ ra vẻ đau yếu kia, quả thật có một vẻ hệ trọng không thể chối cãi, nên mọi sự đều thuận theo cử chỉ của ông. Tất cả đều im bặt, mỉm cười nhìn ông, chờ đợi, và đây đó có người còn mỉm cười gật đầu khích lệ ông. Ông nói, với một giọng khá nhỏ:
“Thưa quý vị. Tốt. Mọi sự tốt. Xong–rồi. Tuy nhiên, xin quý vị hãy lưu ý và đừng, lấy một khoảnh khắc nào, để ngoài sự chú ý rằng... Song về điểm này thì không thêm gì nữa. Điều bổn phận buộc tôi phải phát biểu, ít là điều ấy, hơn hết và duy nhất là thế này, rằng chúng ta có nghĩa vụ, rằng yêu sách không thể vi phạm, tôi nhắc lại và dồn tất cả trọng âm vào cách diễn đạt này, yêu sách _không thể vi phạm_ ấy đang được đặt ra đối với chúng ta... _Không!_ Không, thưa quý vị, không phải thế! Không phải đến nỗi tôi chẳng hạn lại... Nghĩ xa lắm mới có thể cho rằng tôi... Xong–_rồi_, thưa quý vị! Hoàn toàn xong rồi. Tôi biết chúng ta đồng thuận trong tất cả những điều ấy, và vì thế: vào việc!”
Ông đã chẳng nói gì cả; nhưng cái đầu của ông lại hiện ra với vẻ hệ trọng hiển nhiên đến thế, nét mặt và trò chơi cử chỉ của ông đã dứt khoát, thấm thía, biểu cảm đến mức tất cả mọi người, và cả Hans Castorp đang lắng nghe, đều tưởng mình đã tiếp nhận một điều cực kỳ quan trọng, hoặc nếu họ có ý thức được sự vắng mặt của một thông báo có nội dung và được nói ra đến nơi đến chốn, thì họ cũng chẳng vì thế mà thấy thiếu. Chúng tôi tự hỏi không biết một người điếc sẽ cảm thấy thế nào. Có lẽ người ấy sẽ phiền muộn, vì đã phạm sai lầm khi suy từ biểu hiện sang điều được biểu hiện, và tưởng tượng rằng vì tật nguyền của mình mà bị hụt hẫng về tinh thần. Những người như thế dễ nghi ngờ và cay đắng. Trái lại, một chàng trai Trung Hoa trẻ tuổi ở đầu kia bàn, người còn rất ít thạo tiếng Đức và đã không hiểu, nhưng vẫn nghe và thấy, lại bày tỏ sự thỏa mãn vui vẻ của mình bằng tiếng kêu: “_Very well!_” rồi thậm chí còn vỗ tay.
Và Mynheer Peeperkorn bèn “đi vào việc”. Ông ngồi thẳng dậy, ưỡn rộng lồng ngực, cài chiếc áo khoác kẻ ô ra ngoài chiếc gi-lê cài kín, và cái đầu bạc trắng của ông mang một vẻ đế vương. Ông vẫy một cô hầu bàn lại gần – chính là cô lùn ấy –, và tuy đang bận tối mắt, cô vẫn lập tức tuân theo dấu hiệu đầy ý nghĩa của ông, tay cầm bình sữa và bình cà phê, đến đứng bên ghế ông. Chính cô ta nữa cũng không sao cưỡng được việc mỉm cười gật đầu khích lệ ông bằng gương mặt to lớn, già dặn của mình, bị cầm giữ trong sự chú mục bởi ánh mắt tái nhợt dưới những nếp nhăn trán uy mãnh kia, bởi bàn tay giơ lên của ông, nơi ngón trỏ chụm với ngón cái thành một vòng tròn, trong khi ba ngón kia dựng thẳng lên, vượt lên trên là những đầu móng nhọn như mũi giáo.
“Con bé,” ông nói, “– tốt. Mọi sự đến đây đều rất tốt. Cô nhỏ bé, – điều đó can hệ gì với tôi? Trái lại! Tôi đánh giá điều ấy theo chiều tích cực, tôi cảm tạ Thượng đế vì cô là như cô là, và bằng cái nhỏ bé đầy cá tính của cô – Thôi được vậy! Cả điều tôi muốn ở cô cũng nhỏ thôi, nhỏ và đầy cá tính. Trước hết, cô tên là gì?”
Cô mỉm cười lắp bắp rồi đáp rằng cô tên là Emerentia.
“Tuyệt hảo!” Peeperkorn kêu lên, ngả người ra tựa lưng ghế và duỗi cánh tay về phía cô lùn. Ông kêu lên với một sự nhấn giọng như muốn bảo: Thế còn các vị muốn gì nữa? Mọi sự tuyệt diệu biết bao! – “Con bé,” ông tiếp tục, hết sức nghiêm trang và gần như nghiêm khắc, “– điều ấy vượt quá mọi chờ đợi của tôi. Emerentia – cô phát âm nó với vẻ khiêm nhường, nhưng cái tên ấy – và gắn với con người cô – nói ngắn lại, mở ra những khả năng đẹp đẽ nhất. Hẳn nó đáng để người ta luyến mãi nơi nó và đem hết mọi cảm xúc trong lồng ngực mình vào đó, để mà – dưới dạng âu yếm – cô hiểu tôi chứ, con bé: dưới _dạng_ âu yếm – cứ gọi nó là Rentia cũng được, nhưng Emchen cũng khiến lòng ấm lại, – vào lúc này đây tôi không do dự mà nghiêng hẳn về Emchen. Vậy nhé, Emchen, con bé, nghe đây: một ít bánh mì thôi, em yêu. Khoan! Đứng lại! Kẻo cho hiểu lầm lẻn vào mới được! Ta nhìn cái gương mặt tương đối lớn của con mà biết cái nguy cơ ấy – bánh mì, Renzchen, nhưng không phải bánh mì nướng đâu, – ở đây ta có thừa thứ ấy, đủ mọi hình dạng. Mà là bánh mì chưng cất, thiên thần của ta ạ. Bánh mì của Chúa, bánh mì trong, một lối gọi âu yếm nho nhỏ, mà là vì sự bồi dưỡng. Ta không chắc cô có hiểu nghĩa của từ ấy – ta có thể đề nghị thay bằng ‘sự cường tâm’, nếu như ở đây lại không kéo theo cái nguy cơ mới là hiểu nó theo cái nghĩa khinh suất thường tình – xong rồi, Rentia. Xong và loại trừ. Đúng hơn là theo nghĩa của bổn phận chúng ta và sự ràng buộc thiêng liêng của chúng ta – chẳng hạn như món nợ danh dự đặt lên ta là phải, với một trái tim thật mạnh mẽ, vui thú nơi cái nhỏ bé đầy cá tính của con – một ly Genever, người yêu dấu! – ấy là ta định nói thế. Schiedamer, Emerenzchen. Mau đi và mang cho ta một ly!”
“Một ly Genever, thứ thật,” cô lùn nhắc lại, xoay tròn một vòng tại chỗ vì muốn được rảnh hai chiếc bình trên tay, rồi đặt chúng xuống bàn Hans Castorp, bên cạnh bộ dao nĩa của chàng, rõ ràng vì cô không muốn quấy rầy ông Peeperkorn bằng chúng. Cô vội đi, và người ra lệnh cho cô tức thì nhận được thứ mình muốn. Cái ly nhỏ được rót đầy đến nỗi “bánh mì” chảy tràn xuống quanh mọi phía, làm ướt cả chiếc đĩa. Ông cầm nó bằng ngón cái và ngón giữa, giơ lên phía ánh sáng. “Vậy là,” ông tuyên bố, “Pieter Peeperkorn bồi dưỡng mình bằng một ngụm rượu.” Và ông nuốt thứ rượu cất từ ngũ cốc ấy, sau khi nhai nó qua loa một chút. “Bây giờ,” ông nói, “ta nhìn tất cả các vị bằng đôi mắt đã được bồi dưỡng.” Rồi ông nhấc bàn tay bà Chauchat khỏi khăn trải bàn, đưa lên môi, đặt xuống trở lại, sau đó còn để bàn tay mình nghỉ trên đó thêm một lúc.
Một con người kỳ dị, có sức nặng riêng về mặt cá nhân, dù không rõ rệt. Xã hội Berghof theo dõi ông với mối quan tâm sinh động. Người ta nói ông vừa mới rút khỏi công việc buôn bán thuộc địa và đã thu xếp phần mình vào nơi khô ráo an toàn. Người ta nhắc đến ngôi nhà tráng lệ của ông ở Den Haag và biệt thự của ông tại Scheveningen. Bà Stöhr gọi ông là một “nam châm tiền bạc” (đại tài phiệt chứ! con người khủng khiếp ấy!), và khi nói thế có thể chỉ vào chuỗi ngọc trai mà Madame Chauchat từ khi trở về vẫn đeo cùng váy dạ hội, thứ mà theo ý Karoline hẳn khó lòng hiểu như một bằng chứng của sự ga-lăng hôn phu từ xứ Transkaukasien, mà đúng hơn xuất phát từ “quỹ du hành chung”. Bà nháy mắt khi nói, nghiêng đầu chỉ xéo về phía Hans Castorp, rồi méo miệng xuống theo kiểu buồn thảm nhại giọng, bởi bệnh tật và đau khổ chẳng hề làm bà tinh tế hơn, nên bà đã lợi dụng cảnh ngộ khó xử của chàng để chế nhạo một cách không mảy may nể nang. Chàng vẫn giữ phong độ. Chàng thậm chí còn sửa cái lỗi hớ hênh về giáo dưỡng của bà không phải là không có dí dỏm. Bà nói nhịu rồi, chàng bảo. Đại tài phiệt tiền bạc. Nhưng nam châm cũng không tệ, vì rõ ràng Peeperkorn có lắm sức hút. Và với cô giáo Engelhart nữa, khi cô, ửng đỏ yếu ớt, cười nghiêng ngả và không nhìn vào chàng, hỏi chàng thấy vị khách mới ra sao, chàng cũng trả lời với sự điềm tĩnh được giữ gìn rất mực. Mynheer Peeperkorn là một “nhân cách nhòe mờ”, chàng nói, – một nhân cách, nhưng nhòe mờ. Sự chính xác của cách mô tả ấy chứng tỏ tính khách quan, mà cùng với nó là sự bình thản của tâm hồn; nó làm cô giáo bật khỏi thế thủ. Còn về Ferdinand Wehsal và lời ám chỉ méo mó của hắn đối với những hoàn cảnh bất ngờ trong đó bà Chauchat đã trở về, thì ở đây Hans Castorp chứng tỏ rằng có những ánh mắt, về sự đơn nghĩa chính xác, không hề kém một lời nói được phát ra rành rọt nhất dù chỉ một sợi tóc. “Đồ hèn mạt!” ánh mắt chàng đo hắn đã nói như vậy, nói như vậy trong khi loại trừ mọi cách hiểu lệch đi dù nhẹ nhất; và Wehsal quả đã thừa nhận ánh mắt ấy, đã nuốt nó vào, thậm chí còn gật đầu theo, phô ra hàm răng tàn phá của mình, nhưng từ đó về sau cũng thôi không còn mang chiếc áo paletot của Hans Castorp trong những cuộc đi dạo với Naphta, Settembrini và Ferge nữa.
Nhân danh Chúa, chàng tự mang lấy nó được chứ, quả chàng còn thích tự mang hơn, và chỉ vì tử tế chàng mới thỉnh thoảng nhường nó cho tên khốn khổ kia. Nhưng hẳn chẳng ai trong vòng chúng ta không nhận thấy rằng Hans Castorp bị đánh trúng đau đớn bởi những hoàn cảnh hoàn toàn không lường trước được kia, những hoàn cảnh đã làm hỏng tất cả mọi chuẩn bị mà chàng, trong lòng, từng thực hiện cho cuộc gặp lại với đối tượng của những phiêu lưu mùa hóa trang của mình. Nói đúng hơn: chúng khiến những chuẩn bị ấy trở thành thừa, và chính ở đó là điều nhục nhã.
Những dự định của chàng vốn tinh tế và thận trọng đến mức cao nhất, rất xa với mọi sự hấp tấp vụng về. Chẳng hề có chuyện chàng định ra nhà ga đón Clawdia, – và thật là may mắn duy nhất vì ý nghĩ ấy chưa từng nảy ra trong đầu chàng! Còn nói chung thì hoàn toàn chưa biết một người đàn bà mà bệnh tật đã ban cho nhiều tự do đến thế, liệu có muốn thừa nhận là có thật những biến cố huyễn tưởng của một đêm mộng xa xôi, hóa trang và nói bằng ngoại ngữ hay không, hoặc liệu nàng có muốn bị nhắc ngay tức khắc đến chúng hay không. Không, không đường đột, không đòi hỏi thô lỗ! Dù có thừa nhận chăng nữa rằng mối quan hệ của chàng với người bệnh mắt xếch ấy, về bản chất, đã bỏ lại sau lưng những ranh giới của lý tính và lễ giáo phương Tây, – thì về hình thức, phải giữ một sự văn minh hoàn hảo nhất và, trong lúc này đây, thậm chí cả cái dáng vẻ của sự quên lãng nữa. Một lời chào của bậc quân tử từ bàn này sang bàn khác – trước mắt không gì hơn! Một bước đến gần theo lối cung đình vào dịp sau đó, cùng đôi câu hỏi han nhẹ nhàng về tình hình của người lữ khách kể từ dạo nọ... Cuộc gặp lại thực sự hẳn có thể tự nó đến vào giờ khắc của nó, như phần thưởng của một lòng hiệp sĩ biết tự chế.
Tất cả sự tinh tế ấy, như đã nói, giờ đây trở nên vô hiệu bởi lẽ nó bị tước mất tính tự nguyện và, cùng với đó, mọi công trạng. Sự hiện diện của Mynheer Peeperkorn loại bỏ quá triệt để khả năng của một chiến thuật _không_ gồm sự dè dặt đến mức tối đa. Từ lô-gia của mình, vào buổi tối ngày đến nơi, Hans Castorp đã nhìn thấy chiếc xe trượt tuyết, trên chỗ ngồi ngoài trước, bên cạnh người đánh xe, là viên hầu cận Mã Lai, đang lên con dốc vòng của lối đi với tốc độ bước bộ; chàng đã thấy một hình người vàng khè, cổ áo lông trùm trên áo khoác ngoài và đội mũ cứng, còn ở phía sau, bên cạnh Clawdia, người lạ ngồi sụp mũ xuống tận trán. Đêm ấy Hans Castorp ngủ rất ít. Sáng hôm sau, việc dò ra tên người đồng hành gây rối trí kia không có gì khó khăn, lại còn được tặng kèm tin rằng cả hai đã nhận những phòng hạng ưu kế cận nhau ở tầng lầu thứ nhất. Rồi bữa điểm tâm đầu tiên đã đến; chàng, đã ngồi sớm đúng chỗ mình và đủ nhợt nhạt, chờ tiếng cánh cửa kính sập lại. Nhưng nó đã không xảy ra. Clawdia bước vào không một tiếng động, bởi phía sau nàng Mynheer Peeperkorn đã khép cánh cửa kính, – cao lớn, bề thế và vầng trán cao, cái đầu uy mãnh trắng rực như bốc lửa, ông đi theo dấu bạn đường của mình, người đang tiến về bàn với bước chân mèo quen thuộc, đầu chúi ra trước. Đúng, là nàng, không đổi khác. Trái với cả chương trình và quên cả mình, Hans Castorp ôm lấy nàng bằng cái nhìn thức trắng đêm. Đó là mái tóc hung vàng của nàng, không bày biện kiểu cách gì thêm mà chỉ tết đơn sơ vòng quanh đầu, đó là những “ánh đèn chó sói thảo nguyên” của nàng, đường cong gáy nàng, đôi môi nàng, trông đầy hơn bản thân chúng vốn thế, nhờ cái nhấn của gò má đã tạo nên một độ hõm duyên dáng nơi chính hai má ấy... Clawdia! chàng rùng mình nghĩ, – và chàng nhìn thẳng kẻ bất ngờ kia, không phải không hất đầu lên một cách chế giễu và thách thức trước vẻ tráng lệ như mặt nạ của ngoại hình ông ta, không phải không ra lệnh cho trái tim mình phải nhạo báng cái quyền sở hữu hiện tại mang vẻ quá đỗi uy quyền, thứ đã bị một vài quá khứ nào đó rọi vào một thứ ánh sáng khá xiên xẹo: quả vậy, _một vài_ quá khứ nào đó, chứ không phải những điều mờ tối bấp bênh, nằm trong lĩnh vực hội họa sơn dầu tài tử, như những điều từng có thể làm chính chàng bận lòng... Ngay cả cái cách trước khi ngồi xuống nàng quay ra phía khán phòng, mỉm cười mà đối diện, như thể tự giới thiệu mình với toàn thể mọi người, Frau Chauchat cũng vẫn giữ nguyên; và Peeperkorn cũng tùy tùng nàng ở điểm đó, khi đứng chéo phía sau nàng, để cho nghi thức nhỏ ấy diễn ra, rồi sau đó ngồi xuống ở đầu bàn mình, bên cạnh Clawdia.
Thế là chẳng có gì xảy ra với lời chào quân tử từ bàn này sang bàn khác cả. Khi “ra mắt”, đôi mắt Clawdia đã lướt qua con người Hans Castorp cũng như qua toàn bộ chỗ ngồi của chàng mà trôi đến những vùng xa hơn của phòng ăn; ở cuộc gặp tiếp theo trong nhà ăn cũng vẫn như vậy; và càng có nhiều bữa trôi qua mà những ánh mắt không gặp nhau theo cách nào khác ngoài một cái lướt qua mù lòa và thờ ơ từ phía Frau Chauchat, khi đang ăn nàng thỉnh thoảng quay mình lại, thì việc còn đem lời chào quân tử ấy ra lại càng trở nên không thích hợp. Trong những giờ quây quần buổi tối ngắn ngủi, đôi bạn đường kia ở trong phòng khách nhỏ: họ ngồi cạnh nhau trên ghế sô-pha, trong vòng những người cùng bàn, và Peeperkorn, khuôn mặt tráng lệ đỏ gay nổi bật trên nền trắng của mái tóc rực lửa và bộ râu cằm, uống cạn chai rượu vang đỏ mà ông đã gọi dùng với bữa tối. Mỗi bữa chính ông đều uống một chai, cả một chai rưỡi hoặc hai chai nữa, chưa kể đến thứ “bánh mì” mà ông bắt đầu dùng ngay từ bữa điểm tâm đầu tiên. Rõ ràng người đàn ông đế vương ấy có nhu cầu bồi dưỡng ở một mức độ bất thường. Ông cũng nạp nó vào mình dưới dạng cà phê thật đậm nhiều lần trong ngày: không chỉ buổi sáng sớm, mà cả buổi trưa ông cũng uống bằng chiếc tách lớn, – không phải sau bữa ăn, mà ngay trong bữa và bên cạnh rượu vang. Cả hai thứ, Hans Castorp đã nghe ông nói, đều tốt chống sốt, – chưa nói đến mọi tác dụng bồi dưỡng, rất tốt chống thứ sốt nhiệt đới gián cách của ông, thứ ngay sang ngày thứ hai đã giữ chân ông trong phòng và trên giường suốt nhiều giờ. Hofrat gọi đó là chứng sốt bốn ngày, vì cơn bệnh chụp lấy người Hà Lan này đại khái bốn ngày một lần: trước hết là run cầm cập, rồi là bốc nóng, rồi là vã mồ hôi. Người ta còn bảo ông bị cả lá lách sưng vì nó nữa.
_Vingt et un_
Cứ thế một quãng thời gian trôi qua, – đó là mấy tuần, hẳn chừng ba hay bốn, theo ước lượng của chúng ta, vì không thể nào dựa vào phán đoán và cảm quan đo đếm của Hans Castorp được. Chúng trôi đi, không đem lại biến đổi mới nào, chúng chỉ làm nảy ra ở phía vị anh hùng của chúng ta một sự bướng bỉnh đã thành thói quen đối với những hoàn cảnh không lường trước được, những hoàn cảnh buộc chàng vào một sự dè dặt không có công trạng; đối với hoàn cảnh nọ, cái hoàn cảnh tự gọi mình là Pieter Peeperkorn mỗi khi nó nốc một hớp rượu; đối với sự hiện diện gây trở ngại của người đàn ông đế vương, đầy sức nặng mà nhòe mờ ấy, – gây trở ngại quả thật theo một lối thô bạo hơn nhiều so với cái cách ngài Settembrini ngày trước từng “gây trở ở đây”. Những nếp nhăn bướng bỉnh và cau có đào những đường thẳng đứng xuống giữa hai hàng mày Hans Castorp, và từ dưới những nếp nhăn ấy chàng nhìn người đàn bà vừa trở về năm lần mỗi ngày, dẫu sao vẫn vui vì còn được nhìn nàng, đồng thời đầy khinh miệt đối với một hiện diện uy quyền lớn lối kia, thứ không hề hay biết quá khứ đã rọi lên nó một thứ ánh sáng xiêu vẹo đến thế nào.
Nhưng rồi vào một buổi tối, như điều đó hẳn có thể một lần nào đó xảy ra mà chẳng cần nguyên cớ đặc biệt, cuộc quây quần ở đại sảnh và trong các phòng trở nên rộn ràng hơn thường nhật. Có âm nhạc, những điệu Digan, do một sinh viên Hungary biểu diễn bằng đàn vĩ cầm một cách táo bạo, rồi Hofrat Behrens, người cũng đã cùng bác sĩ Krokowski ghé qua chừng mười lăm phút, ép một ai đó phải chơi giai điệu của bài “Pilgerchor” ở quãng trầm của cây dương cầm nhỏ, trong khi chính ông, đứng cạnh bên, dùng một chiếc bàn chải gõ nhảy nhót lên phần âm cao của nhạc cụ, nhại theo những hình tiết đệm của vĩ cầm. Thế là gây cười. Giữa những tràng vỗ tay lớn, vừa lắc đầu đầy thiện ý, như thể chính dành cho cơn nghịch ngợm quá trớn của mình, Hofrat rời khỏi các phòng trò chuyện sau đó. Nhưng cuộc vui vẫn tiếp tục kéo dài, âm nhạc vẫn còn vang lên, mà không hề đòi hỏi sự chú tâm tập trung nào; người ta ngồi chơi domino và bridge cùng đồ uống, nghịch những nhạc cụ mua vui, và tán chuyện đây đó. Cả nhóm của bàn người Nga tốt bụng cũng đã hòa vào các tốp ở đại sảnh và phòng đàn. Người ta thấy Mynheer Peeperkorn ở nhiều chỗ khác nhau, – mà người ta không thể không thấy ông; cái đầu uy nghi của ông vượt hẳn lên trên mọi chung quanh, chế ngự chúng bằng sức nặng và ý nghĩa vương giả của mình, và nếu như những người đứng quanh ông thoạt đầu có thể chỉ bị tiếng đồn về của cải ông lôi cuốn, thì rất chóng vánh họ đã chỉ còn bám lấy chính nhân cách của ông mà thôi: họ đứng đó mỉm cười và gật đầu khích lệ ông, quên cả mình; bị cầm giữ bởi con mắt nhợt nhạt ấy dưới những nếp nhăn trán uy mãnh, bị giữ trong trạng thái căng chờ bởi sức xâm nhập của những cử chỉ văn hóa móng dài của ông, mà không hề ý thức lấy một cảm giác thất vọng nhỏ nhất nào trước tính chất đứt đoạn khó hiểu, sự mơ hồ và sự vô dụng thực tế của những điều theo sau các cử chỉ ấy.
Nếu trong những điều kiện ấy mà ta đi tìm Hans Castorp, thì ta sẽ thấy chàng trong phòng viết và đọc, gian phòng giao tiếp mà xưa kia (cái xưa kia này thật mơ hồ; người kể chuyện, nhân vật anh hùng và độc giả đều không còn hoàn toàn rõ rệt về mức độ xa xưa của nó nữa) chàng từng được nghe những khai thị hệ trọng về sự tổ chức của tiến bộ nhân loại. Ở đây yên tĩnh hơn; chỉ có vài người chia sẻ không gian với chàng. Có người đang viết dưới một ngọn đèn điện treo xuống trên một trong những bàn đôi có bục. Một quý bà với hai tròng kính kẹp mũi ngồi bên tủ sách giở xem một cuốn sách minh họa. Hans Castorp ngồi gần lối thông mở sang phòng đàn, quay lưng về phía tấm màn cửa, trên chiếc ghế tình cờ đặt ở đó có lót một tờ báo, một chiếc ghế Phục Hưng bọc nhung, nếu ai muốn hình dung ra nó, với lưng cao thẳng và không có tay vịn. Chàng trai tuy cầm tờ báo theo đúng cách người ta cầm để đọc, nhưng không đọc, mà nghiêng đầu lắng nghe tiếng nhạc đứt đoạn chen lẫn chuyện trò từ phòng bên cạnh vọng sang, trong khi vẻ tối sầm của hai hàng mày cho thấy rằng ngay cả việc ấy chàng cũng chỉ nghe bằng nửa tai, và rằng tư tưởng chàng đang đi theo những nẻo không âm nhạc, những nẻo gai góc của nỗi thất vọng vì các hoàn cảnh đã, vào cuối một thời gian chờ đợi dài dằng dặc mà một chàng trai đã chịu lấy cho mình, nhục nhã biến chàng thành một trò hề, – những nẻo bướng bỉnh cay đắng mà trên đó hẳn đã chẳng còn bao xa nữa là đến quyết định và sự thi hành nó: đặt tờ báo xuống chiếc ghế ngẫu nhiên và khó chịu này, đi ra qua cánh cửa kia, cánh cửa thông ra đại sảnh, và đổi cuộc vui xã giao bị làm hỏng này lấy cảnh cô tịch bị sương giá cắn xé của lô-gia ban công, nơi chàng sánh đôi cùng Maria Mancini.
“Còn người anh em họ của ông, Monsieur?” một giọng nói cất lên phía sau chàng, trên đỉnh đầu chàng mà hỏi. Đó là một giọng nói mê hoặc đối với tai chàng, cái tai vốn sinh ra là để cảm thấy màn che ngọt gắt của nó như một khoái cảm tột bậc, nghĩa là đã đẩy chính khái niệm dễ chịu lên đến một đỉnh cực hạn; đó là giọng nói thuở trước đã nói: “Được thôi. Nhưng đừng bẻ gãy nó,” một giọng nói khuất phục người ta, một giọng nói của số mệnh, và nếu chàng nghe không lầm thì nó đang hỏi về Joachim.
Chàng chậm rãi hạ tờ báo xuống và nhấc mặt lên đôi chút, khiến đầu chàng ngả cao hơn, chỉ còn xoáy tóc tì vào lưng ghế dựng đứng. Chàng thậm chí còn khép mắt lại một chút, nhưng lại mở ra ngay, để chếch ngước nhìn lên, theo hướng mà tư thế đầu chàng chỉ định cho cái nhìn, phóng mắt đâu đó vào khoảng không. Chàng trai tội nghiệp ấy, người ta hẳn có thể nói, nét mặt chàng gần như có cái gì tiên tri và mộng du. Chàng ước nàng hỏi thêm một lần nữa, nhưng điều đó đã không xảy ra. Thế nên chàng thậm chí cũng chẳng chắc nàng còn đứng sau lưng mình hay không, khi một hồi lâu sau, với một sự chậm trễ kỳ lạ và bằng nửa giọng, chàng mới đáp lại:
“Cậu ấy chết rồi. Cậu ấy đã làm nghĩa vụ ở miền đồng bằng và đã chết.”
Chính chàng cũng nhận thấy rằng “chết” là từ nhấn giọng đầu tiên lại rơi xuống giữa hai người. Đồng thời chàng cũng nhận thấy rằng, vì không đủ quen thuộc với ngôn ngữ của chàng, nàng đã chọn những lối bày tỏ cảm thông quá nhẹ, khi từ phía sau và phía trên chàng nàng nói:
“Ôi chao. Thế thì tiếc quá. Chết hẳn rồi và chôn rồi ư? Từ bao giờ?”
“Cũng đã được một thời gian. Mẹ cậu ấy đưa cậu ấy xuống dưới. Cậu ấy đã mọc một bộ râu nhà binh. Người ta đã bắn ba loạt danh dự trên mộ cậu ấy.”
“Cậu ấy xứng đáng được như thế. Cậu ấy rất ngoan. Ngoan hơn nhiều những người khác, một vài người khác nào đó.”
“Ừ, cậu ấy ngoan. Radamanth lúc nào cũng nói đến cái nhiệt thành kiểu nhà binh của cậu ấy. Nhưng thân xác cậu ấy lại muốn khác. _Rebellio carnis_, các cha Dòng Tên gọi thế. Cậu ấy vốn luôn nghiêng về thân xác, theo một cách đáng trọng. Nhưng thân xác cậu ấy đã để cho điều bất xứng xâm nhập, và giở trò với chính cái nhiệt thành nhà binh ấy. Vả lại, về mặt đạo đức thì tự đánh mất mình và tự làm hỏng mình còn hơn là giữ mình nguyên vẹn.”
“Ta thấy ra là người ta vẫn cứ là một đồ vô tích sự triết lý như xưa. Radamanth ư? Là ai thế?”
“Behrens đấy. Settembrini gọi ông ta như vậy.”
“À, Settembrini, tôi biết. Chính là ông người Ý ấy... Tôi không ưa ông ta. Ông ta không có tình người.” (Giọng nói phát âm chữ ấy thành “mầnhschlich”, với một sự kéo dài nào đó vừa uể oải vừa mơ màng.) “Ông ta kiêu ngạo.” (Nhấn ở âm tiết thứ hai.) “Ông ta không còn ở đây nữa à? Tôi ngốc lắm. Tôi không biết Radamanth là gì.”
“Một cái gì đó nhân văn. Settembrini là tay hư nết. Trong quãng thời gian ấy, ông ta với Naphta với tôi đã triết luận dài dòng biết bao.”
“Naphta là ai?”
“Đối thủ của ông ta.”
“Nếu ông ta là đối thủ của ông ấy thì tôi muốn làm quen với ông ta. Nhưng chẳng phải tôi đã nói rằng anh em họ ông sẽ chết nếu cậu ấy thử làm lính ở miền đồng bằng đó sao?”
“Ừ, em đã biết mà.”
“Ông nói gì vậy!”
Sự im lặng kéo dài. Chàng không rút lời. Chàng chờ, xoáy tóc ép vào lưng ghế dựng đứng, mang cái nhìn tiên tri mà đợi giọng nói cất lên lần nữa, lại một lần nữa không chắc nàng còn ở sau lưng mình hay không, sợ rằng tiếng nhạc vụn vặt bên phòng cạnh đã nuốt mất tiếng chân xa dần. Nhưng cuối cùng nó cũng lại vọng đến:
“Và Monsieur thậm chí cũng không đi dự đám tang của người anh em họ ấy sao?”
Chàng đáp:
“Không, tôi đã nói adieu với cậu ấy ở đây, trước khi người ta đóng cậu ấy vào, khi cậu ấy bắt đầu mỉm cười. Em không tin nổi trán cậu ấy lạnh đến thế nào đâu.”
“Lại nữa rồi! Nói năng kiểu gì thế với một bà mà ông hầu như không quen!”
“Hay tôi nên nói theo lối nhân văn thay vì có tình người?” (Bất giác chính chàng cũng kéo dài chữ ấy ra theo một lối ngái ngủ, gần như một người đang vươn vai và ngáp.)
“_Quelle blague!_ Ông vẫn cứ ở đây suốt sao?”
“Vâng. Tôi đã đợi.”
“Đợi gì?”
“Đợi em.”
Một tràng cười bật ra trên đầu chàng, cùng lúc với tiếng “Đồ ngốc!” “Đợi tôi ư! Người ta hẳn đã chẳng thả anh đi đâu.”
“Có chứ, Behrens đã từng muốn cho tôi đi một lần, trong cơn nóng nảy. Nhưng như thế cũng chỉ là một cuộc bỏ đi bốc đồng. Vì ngoài những vết sẹo cũ từ ngày trước, từ thời đi học của tôi, em biết đấy, còn có cái vết mới mà Behrens đã tìm ra, và chính nó làm tôi lên cơn sốt.”
“Vẫn còn sốt à?”
“Ừ, lúc nào cũng ít nhiều. Gần như luôn luôn. Nó thay đổi. Nhưng không phải chứng sốt theo cơn.”
“_Des allusions?_”
Chàng im lặng. Đôi mày chàng sầm lại trên cái nhìn tiên tri ấy. Một lúc sau chàng hỏi:
“Còn _em_ đã ở đâu?”
Một bàn tay đập xuống thành ghế.
“_Mais c’est un sauvage!_ Tôi đã ở đâu à? Khắp nơi. Ở Moskva” (giọng nói phát âm thành “Muoskau”, cũng là cái kiểu kéo dài uể oải tương tự như ở chữ “mầnhschlich”), “ở Baku, ở các khu nghỉ nước Đức, ở Tây Ban Nha.”
“Ồ, ở Tây Ban Nha. Thế nào?”
“Cũng thường thôi. Đi lại dở tệ. Người ở đó nửa như dân Moor. Castile rất khô cằn và cứng đờ. Điện Kremlin đẹp hơn cái lâu đài hay tu viện ở kia dưới chân núi...”
“Escorial.”
“Vâng, lâu đài của Philip. Một lâu đài không có tình người. Tôi thích hơn nhiều điệu múa dân gian ở Catalonia, điệu Sardana, theo tiếng kèn túi. Chính tôi cũng đã nhảy. Mọi người nắm lấy nhau và múa vòng tròn. Cả quảng trường chật kín. _C’est charmant._ Nó có tình người. Tôi đã mua cho mình một chiếc mũ nho nhỏ màu lam, kiểu tất cả đàn ông và con trai dân chúng ở đó vẫn đội, gần như một cái fez rồi, chiếc boina. Tôi đội nó trong liệu pháp nằm nghỉ và cả những lúc khác. Monsieur sẽ phán xem nó có hợp với tôi không.”
“Monsieur nào?”
“Monsieur ngồi trong chiếc ghế này.”
“Tôi tưởng: Mynheer Peeperkorn.”
“Ông ấy đã phán rồi. Ông ấy nói nó hợp với tôi duyên lắm.”
“Ông ấy đã nói thế à? Nói trọn vẹn hẳn hoi chứ? Nói hết cả câu để người ta còn hiểu được chứ?”
“À, xem ra người ta đang bực bội. Người ta muốn độc địa, muốn cay chua. Người ta thử chế giễu những con người lớn lao hơn, tốt đẹp hơn và có tình người hơn rất nhiều so với chính mình cùng với cả... _avec son ami bavard de la Méditerranée, son maître grand parleur_... Nhưng tôi sẽ không cho phép người ta xúc phạm bạn hữu của tôi...”
“Em còn giữ tấm chân dung bên trong của anh chứ?” chàng ngắt lời giọng nói, bằng một âm điệu sầu muộn.
Nàng cười. “Có lẽ tôi phải tìm lại mới được.”
“Anh mang tấm của em ở đây. Ngoài ra anh còn có một cái giá vẽ nhỏ trên tủ ngăn kéo của anh, nơi nó vào ban đêm và...”
Chàng chưa nói hết câu. Peeperkorn đứng sừng sững trước mặt chàng. Ông ta đã nhìn quanh tìm người bạn đồng hành của mình; ông ta vén màn đi vào và đứng trước chiếc ghế của kẻ mà ông ta bắt gặp nàng đang trò chuyện phía sau lưng, đứng đó như một tòa tháp, lại còn đứng sát ngay trước chân Hans Castorp, đến nỗi chàng, tuy đang trong cơn mộng du mà vẫn không mất khả năng hiểu rằng lúc này phải đứng dậy và phải lịch sự, đã rất khó nhọc mới có thể từ chiếc ghế của mình đứng lên giữa hai người; chàng phải trượt nghiêng xuống một bên, thế là các nhân vật tham dự bèn đứng thành một hình tam giác, với chiếc ghế ở giữa.
Frau Chauchat đáp ứng một đòi hỏi của phương Tây văn minh bằng cách giới thiệu “hai quý ông” với nhau. Một người quen cũ, nàng nói về Hans Castorp như vậy, quen từ những ngày nàng ở đây lần trước. Sự hiện diện của ông Peeperkorn thì không cần giải thích gì thêm. Nàng xướng tên ông, và người Hà Lan, mắt nhợt nhạt dưới những đường arabesque như tượng thần tạo thành bởi các nếp gấp trán và thái dương đang chăm chú trầm sâu, chìa tay ra với chàng; mu bàn tay rộng của ông lấm tấm tàn nhang, một bàn tay thuyền trưởng, Hans Castorp nghĩ vậy, nếu bỏ qua những mũi lao là móng tay kia. Lần đầu tiên chàng đứng dưới ảnh hưởng trực tiếp của nhân cách nặng trĩu của Peeperkorn (“nhân cách” - người ta cứ luôn nghĩ đến chữ ấy khi đối diện với ông; đột nhiên người ta hiểu ra nhân cách là gì khi nhìn thấy ông, hơn thế nữa, người ta tin chắc rằng một nhân cách, nói cho cùng, không thể có diện mạo nào khác ông được), và những năm tháng thanh niên dao động của chàng thấy mình bị sức nặng của con người sáu mươi tuổi vai rộng, mặt đỏ, tóc bạc bừng quanh ấy đè ép; với cái miệng như bị xé rách đau đớn và chòm râu cằm dài, mảnh, rủ xuống chiếc gi-lê khép kín kiểu giáo sĩ. Vả lại, Peeperkorn thì lịch thiệp vô cùng.
“Thưa ông,” ông nói, “- hoàn toàn. Không, xin ông cho phép tôi, - hoàn toàn! Tối nay tôi được làm quen với ông, - làm quen với một chàng trai đáng gây lòng tin, - tôi làm việc ấy có ý thức, thưa ông, tôi dồn cả sức lực vào việc này. Tôi thích ông, thưa ông; tôi - xin mời! Xong rồi. Ông hợp ý tôi.”
Ở đây không thể có chuyện cãi lại. Những cử chỉ văn hóa của ông quá đỗi quyết liệt; Hans Castorp đã làm ông vừa ý. Và Peeperkorn rút ra từ đó những hệ luận mà ông chỉ để lộ bằng ám chỉ, còn người bạn đường của ông thì trợ giúp bằng cách bổ sung đúng ý qua lời mình.
“Con thân,” ông nói, “- mọi sự đều tốt. Nhưng mà sẽ ra sao nếu - tôi xin được hiểu cho đúng. Đời sống thì ngắn, mà năng lực của chúng ta để đáp ứng những đòi hỏi của nó thì vốn là - ấy, sự thực là như vậy đó, con thân. Luật lệ. Những điều không-thể-khoan-nhượng. Tóm lại, con thân, nói gọn mà nói thật. -” Ông dừng lại trong một cử chỉ đầy biểu cảm, phó mặc, như chối từ trách nhiệm trong trường hợp ở đây, bất chấp lời chỉ dẫn của ông, người ta vẫn phạm phải một lỗi lầm quyết định.
Rõ ràng Frau Chauchat đã quen với việc nhận ra hướng mong muốn của ông chỉ qua nửa câu. Nàng nói:
“Sao lại không. Ta có thể còn ngồi với nhau thêm một lúc, có khi làm một ván gì đó và uống một chai vang. Ông còn đứng đó làm gì?” nàng quay sang Hans Castorp. “Động đậy đi! Chúng ta sẽ không chỉ ở ba người, phải có thêm bạn hữu. Trong salon còn những ai? Hãy mời bất cứ ai ông tìm thấy! Gọi vài người bạn ngoài ban công vào đây. Chúng ta sẽ mời cả bác sĩ Ting-Fu ở bàn mình nữa.”
Peeperkorn xoa hai tay vào nhau.
“Tuyệt đối,” ông nói. “Hoàn hảo. Tuyệt hảo. Mau lên, bạn trẻ! Tuân lệnh đi! Chúng ta sẽ lập thành một vòng tròn. Chúng ta sẽ chơi và ăn và uống. Chúng ta sẽ cảm thấy rằng chúng ta - tuyệt đối, chàng trai trẻ!”
Hans Castorp đi thang máy lên tầng hai. Chàng gõ cửa A. K. Ferge; rồi người này lại đi gọi Ferdinand Wehsal và ông Albin ra khỏi ghế của họ ở phòng nằm nghỉ phía dưới. Người ta còn gặp công tố viên Paravant và vợ chồng Magnus ngoài đại sảnh, còn Frau Stöhr và cô Kleefeld ở trong salon. Tại đây, dưới chiếc đèn chùm chính giữa, người ta bày ra một bàn chơi rộng rãi, xung quanh kê ghế và những bàn phụ nhỏ. Mynheer chào từng vị khách gia nhập, bằng cái nhìn nhợt nhạt và lịch thiệp, dưới những đường arabesque nơi trán nhướng cao đầy chú ý. Mười hai người ngồi xuống; Hans Castorp ngồi giữa vị chủ nhân oai nghiêm và Clawdia Chauchat; bài và quân đánh dấu được đặt ra, vì người ta đã đồng ý chơi vài vòng _Vingt et un_, và Peeperkorn, theo lối trọng đại của mình, gọi người đàn bà lùn được sai đến, bảo mang rượu, một thứ Chablis trắng niên vụ 06, trước mắt ba chai, và thêm đồ ngọt, bất cứ thứ trái cây phương Nam sấy khô hay kẹo bánh nào có thể xoay xở kiếm ra. Cái cách ông xoa tay để đón những món ngon được bưng ra đầy ắp khoan khoái; và cả bằng những lời lẽ đứt đoạn theo một kiểu trọng đại, ông cũng tìm cách truyền đạt cảm xúc của mình, quả thật rất thành công, xét về mặt tác động chung của một nhân cách. Ông đặt cả hai tay lên cẳng tay hai người ngồi cạnh, giơ ngón trỏ nhọn như đầu lao lên, và với thành công bao trùm, đòi mọi người chú ý cao độ đến sắc vàng tuyệt mỹ của rượu trong những chiếc cốc lớn, đến lớp đường mà nho Malaga đang rịn ra, đến một loại bánh quy xoắn nhỏ rắc muối và hạt anh túc mà ông gọi là thần diệu, đồng thời dùng một cử chỉ văn hóa quyết liệt bóp chết từ trong trứng nước bất cứ sự phản bác nào có thể muốn nổi lên chống lại một từ ngữ mạnh đến thế. Chính ông là người đầu tiên nhận giữ ngân cái; nhưng chẳng bao lâu lại nhường cho ông Albin, vì, nếu hiểu đúng ý ông, thì chức phận ấy ngăn trở ông tận hưởng hoàn toàn tự do những hoàn cảnh xung quanh.
Rõ ràng trò đỏ đen đối với ông chỉ là chuyện phụ. Theo ý ông thì người ta chơi chẳng đáng gì cả, ông đã đề nghị mức cược tối thiểu là năm mươi rappen, nhưng đối với phần lớn những người tham dự thì đó đã là rất nhiều; cả công tố viên Paravant lẫn Frau Stöhr đều lần lượt đỏ rồi tái mặt, và riêng bà này thì quằn quại trong những cuộc vật lộn khủng khiếp mỗi khi đứng trước câu hỏi liệu đã mười tám rồi mà còn nên xin thêm bài hay không. Bà rú lên the thé khi ông Albin, với thói thạo việc lạnh lùng, ném cho bà một lá bài mà trị số của nó làm cho canh bạc của bà hỏng bét từ đầu đến cuối; và Peeperkorn thì cười sảng khoái về chuyện đó.
“Cứ thét lên đi, cứ thét lên đi, Madame!” ông nói. “Nghe the thé, đầy sinh khí, và phát ra từ nơi sâu thẳm nhất – Uống đi, hãy bồi bổ trái tim bà cho những...” Rồi ông rót thêm cho bà, rót cả cho hai người bên cạnh và cho chính mình, lại gọi thêm ba chai mới nữa, cụng ly với Wehsal và với bà Magnus cằn cỗi trong lòng, vì hai người ấy theo ông dường như cần được làm cho sinh động hơn cả. Chẳng mấy chốc, những khuôn mặt đỏ bừng lên, đỏ mãi vì thứ rượu quả thật tuyệt vời ấy, trừ khuôn mặt của bác sĩ Ting-Fu vẫn vàng khè không đổi, với những khe mắt chuột đen nhánh trên đó, và ông này vừa cười khúc khích kín đáo vừa đặt những món rất lớn, lại gặp may một cách trâng tráo. Những người khác cũng không chịu kém. Công tố viên Paravant, mắt đã lờ đờ, thách thức số mệnh bằng cách đặt mười franc vào một quân bài đầu chỉ có chút ít hy vọng, mua quá tay đến tái mặt, rồi lại thắng tiền, vì Herr Albin, tin tưởng một cách lầm lạc vào con át vừa nhận được, đã cho nhân đôi tất cả các món đặt, để rồi phải trả lại gấp đôi. Những chấn động như thế không chỉ dừng lại ở người tự chuốc lấy chúng. Cả vòng cùng chia sẻ. Và ngay cả Herr Albin, người bình tĩnh thận trọng đến mức có thể đua với các croupier ở sòng Monte Carlo, nơi ông tự xưng là khách quen, cũng chỉ làm chủ được sự kích động của mình một cách không trọn vẹn. Hans Castorp cũng chơi rất lớn; Kleefeld và Frau Chauchat cũng vậy. Người ta chuyển sang những “tour”, chơi “Eisenbahn”, “Meine Tante, deine Tante” và trò “Différence” nguy hiểm. Những tiếng reo mừng và những cơn tuyệt vọng bật thành lời, những cơn bùng nổ giận dữ và những tràng cười cuồng loạn, do sức cám dỗ mà vận may tinh quái gây ra cho thần kinh, đã xảy ra; và chúng là thật, là nghiêm túc, không khác gì âm thanh chúng hẳn phải có giữa những thăng trầm của chính cuộc đời.
Tuy nhiên, không chỉ, mà thậm chí cũng không chủ yếu là cuộc đỏ đen và rượu đã gây nên sự căng thẳng tột độ về tinh thần trong vòng người ấy, cái nóng bừng của nét mặt, cái nở rộng của những đôi mắt long lanh, hay điều người ta có thể gọi là sự gắng sức của nhóm nhỏ này, trạng thái như nín thở của họ, sự tập trung gần như đau đớn của họ vào khoảnh khắc. Đúng hơn, tất cả những điều ấy phải quy về ảnh hưởng của một bản tính thống ngự giữa những người hiện diện, của “nhân vật” ở giữa họ, tức Mynheer Peeperkorn, người nắm quyền dẫn dắt trong bàn tay giàu cử chỉ của mình và dùng cảnh tượng của bộ dạng lớn lao kia, ánh nhìn nhợt nhạt dưới công trình nếp nhăn đồ sộ trên trán, lời nói và sức ép của lối điệu bộ câm để bắt tất cả sa vào ma lực của giờ phút. Ông nói gì? Cực kỳ mơ hồ, và càng uống nhiều lại càng mơ hồ hơn nữa. Nhưng người ta vẫn bám lấy môi ông, mỉm cười nhìn trừng trừng vào vòng tròn ngón trỏ ông tạo nên với ngón cái, trong khi những ngón kia dựng lên nhọn như mũi giáo, vừa gật đầu với hàng lông mày nhướng cao, còn khuôn mặt vương giả của ông thì hoạt động như biết nói; và người ta để mình bị cưỡng bách, không kháng cự, vào một thứ phụng sự của cảm xúc vượt xa cái mức đam mê tận hiến mà những người này vốn quen đòi hỏi ở bản thân. Thứ phụng sự ấy vượt quá sức chịu đựng của vài người. Ít nhất thì Frau Magnus đã thấy mệt lả. Bà suýt lịm đi, nhưng vẫn bướng bỉnh không chịu về phòng, chỉ bằng lòng được đặt nằm trên ghế trường kỷ, nơi người ta đắp lên trán bà một chiếc khăn ướt, và từ đó, sau khi hồi lại đôi chút, bà trở về với vòng chơi.
Peeperkorn muốn quy sự suy sụp của bà cho việc tiếp nhận thức ăn không đầy đủ. Ông phát biểu theo hướng ấy bằng những lời lửng chừng đầy hệ trọng, ngón trỏ giơ lên. Phải ăn, ăn cho ra ăn, như thế mới có thể đáp ứng được những đòi hỏi, ông làm cho người ta hiểu vậy, rồi gọi món bồi dưỡng cho cả nhóm, một bữa ăn nhẹ, thịt, đồ nguội, lưỡi muối, ức ngỗng, thịt quay, xúc xích và giăm bông, những đĩa đầy các món béo ngậy ngon lành, bày thêm những viên bơ, củ cải đỏ và rau mùi tây, nom như những luống hoa rực rỡ. Nhưng mặc cho chúng, bất chấp bữa tối đã có trước đó, một bữa tối mà chẳng cần tốn lời về sự chắc dạ của nó làm gì, vẫn được đón nhận với niềm vui, Mynheer Peeperkorn chỉ ăn vài miếng đã tuyên bố đó là “đồ vớ vẩn”, lại còn với một cơn giận phơi bày cái tính bất khả lường đáng ngại của bản chất thống ngự nơi ông. Phải, ông nổi cơn thật, khi có ai dám bênh vực bữa điểm tâm ấy; cái đầu lực lưỡng của ông như phồng lên, và ông nện tay xuống bàn, bảo tất cả chỉ là thứ nhảm nhí chết tiệt, khiến người ta lặng đi mà câm bặt, vì rốt cuộc với tư cách người khoản đãi và chủ nhà, ông có quyền phán xét những thứ mình ban ra.
Vả lại, cơn giận ấy, dẫu có vẻ khó hiểu đến đâu, lại cực kỳ hợp với ông, như đặc biệt Hans Castorp buộc phải thú nhận. Nó hoàn toàn không làm ông méo mó, không làm ông nhỏ đi, mà trong chính sự khó hiểu của nó, điều mà không ai trong thâm tâm dám gắn với lượng rượu đã uống, lại tỏ ra lớn lao và vương giả đến nỗi mọi người đều co mình lại, và ai nấy đều tránh không ăn thêm dù chỉ một miếng thịt nguội. Chính Frau Chauchat đã xoa dịu người bạn đồng hành chuyến đi của mình. Nàng vuốt ve bàn tay người thuyền trưởng to bản của ông, lúc ấy còn đặt trên bàn sau cú đập, và dịu ngọt nói rằng có thể gọi món khác, món nóng chẳng hạn, nếu ông muốn, và nếu người ta còn thuyết phục được bếp trưởng. “Con yêu,” ông nói, “– được.” Và rất nhẹ nhàng, với tất cả phẩm giá, ông chuyển từ cơn thịnh nộ nặng nề sang một trạng thái ôn hòa hơn, trong khi hôn bàn tay Clawdia. Ông muốn gọi món trứng tráng cho mình và mọi người, cho mỗi người một phần trứng tráng rau thơm ra trò, để còn có thể đáp ứng được những đòi hỏi. Và ông gửi kèm theo lời gọi món một tờ một trăm franc vào bếp, để khiến đám nhân viên chịu gián đoạn giờ nghỉ.
Sự khoan khoái của ông cũng hoàn toàn trở lại khi món ăn bốc hơi nghi ngút được bưng ra trên nhiều đĩa, vàng óng như chim hoàng yến và lấm tấm xanh, tỏa khắp phòng một mùi ấm mềm của trứng và bơ. Người ta ăn lấy ăn để, cùng với Peeperkorn và dưới sự giám sát hưởng thụ của ông, người dùng những lời đứt quãng và những cử chỉ văn hóa đầy cưỡng bách để buộc mọi người phải thưởng thức món quà của Thượng đế ấy với sự chú ý căng thẳng, thậm chí với lòng sốt sắng. Ông còn cho rót rượu genever Hà Lan, một vòng đầy đủ, và buộc tất cả phải tiếp nhận chất nước trong trẻo ấy, thứ tỏa ra mùi hương lành mạnh của ngũ cốc pha một nét bách xù tinh vi, bằng một niềm thành kính chăm chú.
Hans Castorp hút thuốc. Frau Chauchat cũng ưu ái những điếu thuốc lá có đầu ngậm mà nàng, cho tiện tay, đã đặt sẵn trước mặt trên bàn trong một chiếc hộp sơn mài Nga vẽ cỗ xe tam mã đang lao vun vút, và Peeperkorn không chê trách việc hai người bên cạnh tự cho phép mình cái thú ấy, nhưng bản thân ông thì không hút, chưa bao giờ hút. Nếu hiểu đúng ông, thì theo phán đoán của ông, việc dùng thuốc lá đã phải xếp vào hàng những khoái lạc quá tinh xảo mà sự săn sóc của chúng là một sự cướp đoạt đối với vẻ uy nghi của những ân huệ đơn sơ của đời sống, những ân huệ và những đòi hỏi mà sức cảm thụ của chúng ta vốn dĩ đã khó lòng làm cho thỏa đáng. “Chàng trai,” ông nói với Hans Castorp, giữ chàng dưới ánh mắt nhợt nhạt và cử chỉ văn hóa của mình, “chàng trai, – cái giản dị! Cái thiêng liêng! Tốt, anh hiểu tôi. Một chai vang, một món trứng nóng hổi, một ngụm rượu ngũ cốc tinh sạch, trước hết hãy sống trọn với những thứ ấy và thưởng thức chúng, hãy vắt cạn chúng, hãy thật sự làm cho chúng được thỏa đáng, trước khi – Tuyệt đối, thưa ông. Xong. Tôi từng biết những kẻ, đàn ông đàn bà, những kẻ ăn cocaine, những kẻ hút haschisch, những con nghiện morphine – Được lắm, người bạn thân! Hoàn hảo! Mặc họ! Chúng ta không nên tranh biện và xét xử. Nhưng đối với cái lẽ ra phải đi trước, cái giản dị, cái lớn lao, cái nguyên sơ của Thượng đế, thì những người ấy hoàn toàn – Xong, bạn tôi. Bị kết án. Bị gạt bỏ. Họ còn mắc nợ tất cả đối với nó! Dù anh tên gì đi nữa, chàng trai, – được, tôi đã biết rồi, tôi lại quên mất rồi, – sự trụy lạc không nằm ở cocaine, không nằm ở thuốc phiện, không nằm ở tật xấu như chính nó. Cái tội không thể được tha thứ ấy nằm ở –”
Ông dừng lại. To lớn và bề thế, quay về phía người ngồi cạnh, ông đứng im trong một sự im lặng đầy biểu cảm mạnh mẽ, một sự im lặng buộc người khác phải hiểu, ngón trỏ giơ lên, cái miệng đứt đoạn không đều dưới môi trên trần và đỏ, hơi rát vì cạo, công trình những nếp nhăn thẳng tắp trên vầng trán hói viền trắng được kéo lên căng thẳng, đôi mắt nhỏ nhợt nhạt mở rộng, trong đó Hans Castorp thấy chập chờn một cái gì như kinh hoàng trước tội ác, trước sự sa ngã lớn lao, sự thất bại không thể tha thứ mà ông vừa ám chỉ, và cái điều mà bằng toàn bộ sức mạnh mê hoặc của một bản tính thống ngự mơ hồ, ông truyền lệnh người khác phải thấu suốt trong im lặng ấy... Kinh hoàng, Hans Castorp nghĩ, thuộc loại khách quan, nhưng cũng là một cái gì như nỗi kinh hoàng riêng tư, liên can đến chính ông, đến con người vương giả ấy, tức là _nỗi sợ_, nhưng không phải nỗi sợ nhỏ nhoi tầm thường, mà dường như là một thứ khiếp đảm hoảng loạn đã lóe lên nơi đó trong khoảnh khắc, và Hans Castorp vốn có một thiên tính quá sức kính cẩn, nên bất chấp mọi lý do vẫn khiến chàng có thể nuôi một thái độ thù nghịch đối với người bạn đồng hành vương giả của Frau Chauchat, quan sát ấy cũng không thể không làm chàng chấn động.
Chàng hạ mắt xuống và gật đầu, để đem lại cho người hàng xóm cao cả của mình niềm thỏa mãn được thấu hiểu.
“Điều ấy hẳn là đúng,” chàng nói. “Có thể là một tội lỗi, và là dấu hiệu của sự bất túc, khi người ta sa vào những tinh xảo mà chưa làm tròn lẽ công bằng với những ân huệ giản dị và tự nhiên của đời sống, những ân huệ lớn lao và thiêng liêng như thế. Đó là ý kiến của ngài, nếu tôi hiểu đúng ngài, Mynheer Peeperkorn, và mặc dù bản thân tôi trước nay chưa từng nghĩ đến điều ấy, tôi vẫn có thể đồng tình với ngài bằng chính niềm tin của mình, một khi ngài đã chỉ ra như vậy. Vả lại, hẳn cũng hiếm lắm mới xảy ra việc người ta thật sự làm cho những ân huệ lành mạnh và giản dị của đời sống ấy được công bằng trọn vẹn. Chắc chắn phần lớn mọi người quá nhão, quá thiếu chú tâm, quá vô tâm và quá rệu rã bên trong để có thể làm điều ấy cho chúng, hẳn là như vậy.”
Người lực lưỡng hết sức hài lòng. “Chàng trai,” ông nói, “– hoàn hảo. Cho phép tôi nhé – đừng thêm lời nào nữa. Tôi xin anh cùng uống với tôi, cạn đến đáy ly, tay khoác tay. Điều này chưa có nghĩa là tôi ngỏ với anh lối xưng hô thân mật giữa anh em, – đúng lúc này tôi vừa định làm thế, nhưng nghĩ lại rằng như vậy có hơi vội vã quá một chút. Rất có thể trong một thời gian rất gần tôi sẽ – cứ tin tôi đi! Nhưng nếu anh muốn và cứ khăng khăng rằng ngay lập tức chúng ta –”
Hans Castorp bằng một dấu hiệu tán thành sự trì hoãn do chính Peeperkorn gợi ra.
“Tốt, cậu trai. Tốt, bạn đồng hành. Sự bất túc – đúng. Đúng và rợn người. Vô tâm, – rất đúng. Ân huệ – không phải. Những đòi hỏi! Những đòi hỏi thiêng liêng, nữ tính, của đời sống đối với danh dự và khí lực đàn ông –”
Bỗng nhiên Hans Castorp phải nhận ra rằng Peeperkorn đã say khướt. Nhưng ngay cả cơn say của ông cũng không tạo tác động thấp kém và đáng xấu hổ, không như một tình trạng làm mất phẩm giá, mà kết hợp với vẻ uy nghi của bản tính ông thành một hiện tượng lớn lao, gây kính sợ. Chính Bacchus, Hans Castorp nghĩ, cũng trong cơn say mà tựa vào những người tùy tùng cuồng nhiệt của mình, song đâu vì thế mà mất tính thần thánh, và điều quan trọng ở mức cao nhất chính là _ai_ đang say, một nhân vật hay một gã thợ dệt. Trong lòng, chàng hết sức cẩn thận không để sự kính trọng đối với người bạn đồng hành đè nặng kia suy giảm lấy một chút, dù các cử chỉ văn hóa của ông đã trở nên rũ xuống và lưỡi ông bắt đầu líu.
“Anh em xưng hô thân mật –” Peeperkorn nói, ném tấm thân lực lưỡng ra sau trong cơn say phóng khoáng và kiêu hãnh, cánh tay duỗi trên mặt bàn và bàn tay nắm lỏng khẽ nện xuống, “– đã được tính đến, – đã ở rất gần rồi, dẫu trước mắt sự tỉnh táo vẫn còn – được. Xong. Đời sống – chàng trai – nó là một người đàn bà, một người đàn bà phơi mình ra, với hai bầu ngực trào lên sát gần nhau và một khoảng bụng lớn, mềm, giữa hai hông nở rộng, với cánh tay thon và cặp đùi căng đầy, và đôi mắt nửa khép, trong một sự thách thức huy hoàng mà giễu cợt, đòi hỏi nơi chúng ta sự khẩn cầu cao nhất, toàn bộ sức căng của dục lực đàn ông của chúng ta, thứ hoặc đứng vững trước nó, hoặc tan nát dưới tay nó, – tan nát, chàng trai, anh có hiểu điều ấy sẽ có nghĩa gì không? Sự bại trận của cảm xúc trước đời sống, đó là sự bất túc, cái thứ không có ân sủng, không có thương xót và không có phẩm giá, mà bị vứt bỏ một cách không khoan nhượng và cười nhạo, – xong–rồi, chàng trai, và bị khạc nhổ ra... Sỉ nhục và ô nhục còn là những lời nhẹ cho sự đổ nát và phá sản này, cho cái nhục nhã ghê rợn này. Đó là tận cùng, là tuyệt vọng địa ngục, là ngày tận thế...”
Trong khi nói, người Hà Lan càng lúc càng ngả tấm thân lực lưỡng ra phía sau, đồng thời cái đầu vương giả lại gục về phía ngực như muốn ngủ thiếp đi. Nhưng ở từ cuối cùng, ông vung bàn tay nắm lỏng lên rồi giáng xuống bàn một cú nặng nề, khiến Hans Castorp gầy mảnh, thần kinh đã bị trò chơi, rượu và tính chất kỳ quặc của mọi hoàn cảnh làm cho căng lên, giật bắn mình và nhìn người lực lưỡng ấy bằng một nỗi kinh hãi đầy kính cẩn. “Ngày tận thế” – từ ấy hợp với nét mặt ông biết bao! Hans Castorp không nhớ mình đã từng nghe ai thốt ra nó, ngoại trừ có lẽ trong giờ học giáo lý, và điều ấy không phải ngẫu nhiên, chàng nghĩ, bởi trong số tất cả những người chàng biết, ai mới xứng với một tiếng sấm như vậy, ai mới có _tầm vóc_ cho nó, nếu đặt câu hỏi cho đúng? Gã Naphta nhỏ bé hẳn cũng có thể đôi lần dùng đến nó; nhưng như thế sẽ là sự tiếm đoạt và lời lẽ chát chúa, trong khi ở miệng Peeperkorn, tiếng sấm ấy đạt được toàn bộ sức nặng ngân vang như kèn đồng và như tiếng loa, tóm lại, sự lớn lao mang tính Kinh Thánh của nó. “Lạy Chúa – một nhân vật!” chàng cảm thấy lần thứ một trăm. “Mình đã gặp phải một nhân vật, và ông ta là người bạn đồng hành của Clawdia!” Bản thân cũng khá mụ đi, chàng xoay chiếc ly rượu của mình trên bàn, tay kia đút túi quần, một mắt nheo lại vì khói của điếu thuốc lá ngậm nơi khóe miệng. Sau khi từ phía có thẩm quyền người ta đã nói ra những tiếng sấm như vậy, lẽ ra chàng có nên im lặng không? Giọng nói khô khan của chàng còn có thể là gì ở đây? Nhưng vì đã quen tranh luận do những nhà giáo dưỡng dân chủ của chàng, cả hai đều dân chủ theo bản tính, mặc dù một người chống cưỡng điều ấy, nên chàng vẫn để mình bị lôi kéo vào một trong những lời bình chân thành của mình. Chàng nói:
“Những nhận xét của ngài, Mynheer Peeperkorn” (đó là thứ cách nói gì: những nhận xét! Người ta có “nhận xét” về ngày tận thế hay sao?), “lại đưa ý nghĩ của tôi trở về với điều khi nãy đã được xác định về tật xấu, tức là nó nằm ở sự xúc phạm những ân huệ đơn sơ và, như ngài nói, thiêng liêng, hay, như tôi muốn nói, cổ điển của đời sống, những ân huệ của đời sống có _tầm vóc_, có thể nói thế, để thiên về những thứ muộn màng và chín lố, những sự tinh xảo mà người ta ‘sa vào’, như một trong hai chúng ta đã nói, trong khi người ta ‘hiến mình’ cho những cái lớn lao và ‘tôn thờ’ chúng. Nhưng chính ở đây, dường như với tôi, lại cũng nằm cả sự biện hộ – xin ngài tha lỗi, tôi vốn là một bản tính thiên về biện hộ, – mặc dù sự biện hộ hẳn là không có _tầm vóc_, như tôi cảm thấy rất rõ, – vậy sự biện hộ ấy cho tật xấu nằm ở đây, và đúng là ở chỗ nó dựa trên ‘sự bất túc’, như chúng ta đã gọi. Ngài đã nói về những kinh hoàng của sự bất túc bằng những lời có tầm vóc đến thế, khiến ngài thấy tôi thực lòng bị xúc động vì chúng. Nhưng tôi cho rằng kẻ trụy lạc hoàn toàn không vô cảm trước những kinh hoàng ấy, mà trái lại còn làm cho chúng được công bằng trọn vẹn, bởi chính sự thất bại của cảm xúc nơi hắn trước những ân huệ cổ điển của đời sống đã đẩy hắn vào tật xấu, trong đó vì vậy không hề có, hoặc không nhất thiết phải có, sự xúc phạm đời sống, bởi cũng có thể hiểu nó như một sự tôn thờ đời sống, xét ở chỗ những sự tinh xảo ấy quả là những phương tiện gây say và nâng bổng, _stimulantia_, như người ta nói, những chỗ dựa và những sự tăng cường cho năng lực cảm xúc, bởi thế cho nên rốt cuộc đời sống vẫn là mục đích và ý nghĩa của chúng, là tình yêu đối với cảm xúc, là khát vọng đi tìm cảm xúc của sự bất túc... Ý tôi là...”
Chàng đang nói gì thế? Chẳng phải cái lối xấc xược dân chủ khi nói “một trong hai chúng tôi” đã là quá đủ rồi sao, trong khi ở đây là nói đến một nhân vật tầm vóc và đến chính chàng? Phải chăng chàng rút cái gan cho sự láo xược ấy từ những chuyện cũ, những chuyện đặt một số quyền chiếm hữu hiện tại vào một thứ ánh sáng chênh vênh? Hay điều gì đã xui khiến chàng, để rồi lại còn sa vào một sự phân tích về “thói trụy lạc” cũng trơ tráo không kém? Giờ thì chàng cứ liệu xem làm sao mà gỡ ra khỏi chuyện ấy; vì rõ ràng là chàng đã triệu lên những điều kinh khủng.
Trong khi người khách của mình nói, Mynheer Peeperkorn vẫn giữ nguyên tư thế ngả người ra sau, đầu cúi xuống ngực, đến nỗi người ta hẳn có thể ngờ rằng lời Hans Castorp chẳng lọt vào ý thức ông ta. Nhưng bây giờ, dần dần, trong khi chàng thanh niên bắt đầu lúng túng, ông lại bắt đầu rời lưng ghế mà thẳng người dậy, cao dần, cao dần, tới hết tầm vóc, đồng thời cái đầu uy nghi của ông đỏ bừng lên, những đường arabesque trên trán nhô cao và căng ra, còn đôi mắt nhỏ thì mở rộng thành một mối đe dọa nhợt nhạt. Điều gì đang sửa soạn đây? Dường như một cơn thịnh nộ, so với nó thì cơn vừa rồi chỉ là một nỗi bực nhẹ, đang kéo tới. Môi dưới của Mynheer ghìm chặt vào môi trên trong một cơn giận dữ hùng hổ, khiến hai khóe miệng trễ xuống và cái cằm nhô ra, và cánh tay phải của ông chầm chậm nhấc khỏi mặt bàn, lên ngang đầu rồi cao hơn nữa, bàn tay siết lại, vung lên một cách tráng lệ để giáng đòn hủy diệt xuống tên ba hoa dân chủ kia; còn Hans Castorp, bị dồn vào kinh hãi mà đồng thời cũng thấy một niềm thích thú phiêu lưu trước cảnh tượng cơn phẫn nộ vương giả đầy biểu cảm đang mở ra trước mắt mình, phải hết sức mới giấu nổi nỗi sợ và ý muốn tháo chạy. Chàng vội vàng, đón trước, nói:
“Dĩ nhiên tôi đã diễn đạt thiếu sót. Toàn bộ chỉ là một vấn đề về tầm vóc, không gì khác. Không thể gọi là trụy lạc cái gì có tầm vóc. Trụy lạc không bao giờ có tầm vóc. Những tinh xảo kia cũng không có. Nhưng từ thuở xa xưa, cho khát vọng cảm giác của con người, người ta đã có trong tay một trợ lực, một phương tiện gây say và gây hứng khởi, mà bản thân nó lại thuộc vào những tặng vật cổ điển của đời sống và mang tính chất đơn sơ, thiêng liêng, chứ không phải tính chất trụy lạc; một trợ lực có tầm vóc, nếu tôi được phép nói như vậy, tức là rượu vang, món quà thần thánh ban cho loài người, như ngay các dân tộc nhân văn thời cổ đã từng khẳng định, sáng kiến từ tâm của một vị thần, xin cho phép tôi nhắc, mà ngay cả văn minh cũng còn gắn liền với nó. Bởi lẽ người ta vẫn nghe nói rằng nhờ nghệ thuật trồng nho và ép rượu mà con người thoát khỏi tình trạng thô dã và đạt tới nếp sống văn hóa, và cho đến hôm nay nữa, những dân tộc nơi có nho mọc vẫn được coi là văn minh hơn, hay tự coi mình là như thế, so với những dân tộc không có rượu vang, những người Kimerer; điều đó hẳn là đáng chú ý. Bởi nó muốn nói rằng văn minh rốt cuộc hoàn toàn không phải là chuyện của trí năng và sự tỉnh táo mạch lạc, mà trái lại liên quan nhiều hơn đến hứng khởi, đến men say và cảm giác được bồi dưỡng, có phải đó cũng là ý kiến của ông trong việc này không, nếu tôi được phép mạo muội trình câu hỏi ấy lên ông?”
Đúng là một thằng ranh, cái anh Hans Castorp này. Hoặc, như ông Settembrini đã từng diễn đạt với sự tinh tế của nhà văn, một “kẻ tinh quái”. Bất cẩn, thậm chí xấc xược trong giao tiếp với những nhân vật tầm vóc, nhưng rồi lại khéo xoay xở khi cần lôi mình ra khỏi vũng lầy. Trước hết, trong một tình thế gay go bậc nhất và hoàn toàn ứng khẩu, chàng đã biện hộ cho men rượu với phong thái rất mực đứng đắn; lại còn, như tiện tay, lái câu chuyện sang “văn hóa”, thứ mà quả thật không mấy thấy được trong phong thái nguyên sơ-khủng khiếp của Mynheer Peeperkorn; và sau hết, chàng đã làm cho chính phong thái ấy lỏng đi, trở nên không còn thích hợp nữa, bằng cách đặt ra cho con người đang bị phong thái ấy cuốn giữ một câu hỏi mà với nắm tay giơ cao thì tuyệt đối không thể trả lời. Bởi vậy người Hà Lan cũng dịu xuống trong điệu bộ giận dữ tiền-hồng-thủy của mình; cánh tay ông chầm chậm hạ xuống mặt bàn, cái đầu bớt phồng đỏ, trên nét mặt chỉ còn đe dọa một cách có điều kiện và muộn màng của ông đọc được câu: “mày gặp may đấy!”; cơn giông tan dần, và hơn nữa bà Chauchat lúc ấy cũng xen vào, nhắc người bạn đường của mình về sự sa sút đang lan rộng của không khí giao tế.
“Bạn thân mến, ông xao lãng khách khứa của mình quá,” nàng nói bằng tiếng Pháp. “Ông dành mình gần như riêng rẽ cho ông đây, người mà hiển nhiên ông có những việc quan trọng cần dàn xếp. Nhưng trong khi đó ván chơi hầu như đã ngừng, và tôi e người ta đang chán. Ta kết thúc buổi tối chứ?”
Peeperkorn lập tức quay về phía bàn tiệc. Quả đúng thế: sự rệu rã, uể oải, trì độn đã lan ra; khách khứa nghịch ngợm lăng xăng như một lớp học không có người trông nom. Mấy người đã bắt đầu ngủ gật. Peeperkorn lập tức nắm lấy dây cương đang tuột. “Thưa quý vị!” ông kêu lên, ngón trỏ giơ cao, mà ngón tay nhọn như mũi giáo ấy nom như một thanh kiếm ra hiệu hoặc một lá cờ; còn tiếng gọi của ông thì chẳng khác nào tiếng “Ai không phải đồ hèn thì theo ta!” của một người thủ lĩnh chặn đứng một cuộc tan rã đang chớm nở. Quả nhiên, chỉ riêng việc ông đem cá tính của mình vào cuộc đã tức khắc có tác dụng đánh thức và quy tụ. Người ta gượng dậy, làm căng những nét mặt đã nhão đi, và mỉm cười gật đầu vào đôi mắt nhợt nhạt của người chủ nhà hùng vĩ dưới đường nét thần tượng trên trán ông. Ông trấn áp tất cả và lại giữ họ vào cuộc, khi hạ đầu ngón trỏ chạm vào đầu ngón cái còn những ngón kia, móng dài, dựng lên bên cạnh. Ông xòe bàn tay của vị thuyền trưởng ra, vừa che chở vừa ghìm lại, và từ đôi môi tả tơi đau đớn của ông bật ra những lời, mà sự mơ hồ ngắt quãng của chúng, nhờ được cá tính của ông nâng đỡ, đã thực thi quyền lực cưỡng bức mạnh mẽ nhất lên tâm hồn mọi người.
“Thưa quý vị, được lắm. Xác thịt, thưa quý vị, thì vốn dĩ là... xong đời. Không... xin cho phép tôi... ‘yếu đuối’, Kinh Thánh viết như thế. ‘Yếu đuối’, nghĩa là dễ nghiêng theo những đòi hỏi... Nhưng tôi kêu gọi ở quý vị... Nói vắn tắt, thưa quý vị, tôi _kêu–gọi_. Quý vị sẽ bảo tôi: giấc ngủ. Được, thưa quý vị, hoàn hảo, tuyệt vời. Tôi yêu và kính trọng giấc ngủ. Tôi tôn thờ khoái lạc sâu xa, ngọt ngào, phục sức của nó. Giấc ngủ thuộc vào... ngài vừa nói thế nào nhỉ, chàng trai trẻ? ... vào những tặng vật cổ điển của đời sống, hàng đầu, hàng đầu tiên... xin mời... hàng tối thượng, thưa quý vị. Tuy nhiên, xin quý vị để ý và nhớ cho: Gethsemane! ‘Và Người đem theo mình Phêrô cùng hai con trai của Zebedee. Và phán cùng họ: Hãy ở đây và thức với ta.’ Quý vị còn nhớ chứ? ‘Và Người đến cùng họ, thấy họ ngủ, bèn phán cùng Phêrô: Thế các ngươi không thể thức với ta nổi một giờ sao?’ Mạnh mẽ, thưa quý vị. Thấu suốt. Cảm động lòng người. ‘Và Người lại đến, thấy họ vẫn ngủ, vì mắt họ nặng trĩu vì buồn ngủ. Và Người phán cùng họ: À, các ngươi còn muốn ngủ và nghỉ ngơi sao? Này, giờ đã đến đây rồi...’ Thưa quý vị: xuyên thấu, làm tim tan nát.”
Quả thực, ai nấy đều bị lay động và hổ thẹn đến tận đáy lòng. Ông chắp tay trước ngực, phía trên chòm râu cằm mảnh, và nghiêng đầu sang một bên. Ánh mắt nhợt nhạt của ông như vỡ ra bởi những gì từ đôi môi rách nát kia đã cất lên về nỗi đau cô độc của cái chết. Bà Stöhr thút thít. Bà Magnus buông một tiếng thở dài cao vút. Công tố viên Paravant thấy cần phải, như thay mặt, gần như với tư cách đại biểu của toàn thể cử tọa, nói mấy lời bằng giọng trầm với người chủ nhà đáng kính, để bảo đảm với ông về lòng tòng phục chung của mọi người. Ở đây hẳn là có một sự hiểu lầm. Ai nấy đều tỉnh táo và minh mẫn, lanh lẹ, vui vẻ, nhập cuộc cả bằng tim lẫn trí. Đây là một buổi tối đẹp đẽ đến thế, lễ hội đến thế, hoàn toàn phi thường đến thế; mọi người đều hiểu và cảm như vậy, và trước mắt chưa ai nghĩ tới việc sử dụng đến phúc lành của đời sống là giấc ngủ. Mynheer Peeperkorn có thể tin ở khách khứa của mình, tin ở từng người một.
“Hoàn hảo! Tuyệt hảo!” Peeperkorn kêu lên và đứng thẳng dậy. Hai bàn tay ông tách ra, nâng lên, xòe rộng, dựng đứng, lòng bàn tay quay ra ngoài, như trong một lời cầu nguyện ngoại giáo. Dung mạo tráng lệ của ông, vừa mới đây còn thấm đẫm một nỗi đau kiểu Gothic, bỗng nở bừng, phồn thịnh và tươi sáng; thậm chí trên má còn hiện ra tức thì một lúm đồng tiền kiểu sybarite. “Giờ đã đến đây rồi...” Rồi ông đòi thực đơn, đeo lên một cặp kính gọng kẹp, hai càng kính chĩa cao lên trán, và gọi Champagne, ba chai Mumm & Co., _Cordon rouge, très sec_; cùng _petits fours_, những món nhỏ khoái khẩu hình nón, tuyệt ngon, phủ một lớp đường màu, cốt bánh bích quy mềm mịn, bên trong thấm kem sô-cô-la và hạt dẻ cười, bày trên những miếng giấy lót với viền ren phong phú. Bà Stöhr liếm sạch cả mười đầu ngón tay vì thích thú. Ông Albin với vẻ thành thục lơ đãng tháo nút chai đầu tiên khỏi vòng dây thép, để cái nút hình nấm bật khỏi cổ chai trang trí với tiếng nổ như súng lục trẻ con rồi bay vọt lên trần, sau đó theo đúng lối tao nhã, ông quấn một chiếc khăn ăn quanh chai để rót. Lớp bọt quý phái làm ướt tấm vải lanh trên những bàn dọn đồ nhỏ. Người ta chạm những chiếc ly dẹt và cạn ngay ly đầu trong một hơi, làm dạ dày mình rúng điện bởi thứ sủi tăm thơm mát lạnh. Mắt ai nấy long lanh. Trò chơi đã chấm dứt mà không ai thấy cần phải dọn bài và tiền khỏi mặt bàn. Cả bọn phó mặc mình cho một sự nhàn rỗi hạnh phúc, vừa trao đổi một thứ chuyện trò rời rạc, mà ở mỗi người, các yếu tố của nó bắt nguồn từ cảm xúc đã dâng cao và trong một trạng thái nguyên sơ nào đó từng hứa hẹn điều đẹp đẽ nhất, nhưng trên đường đi tới phát ngôn thì lại thành ra một mớ hỗn độn bập bõm, môi lưỡi rời rạc, phần thì vô duyên, phần thì khó hiểu, đủ sức khơi dậy nỗi xấu hổ tức tối ở bất cứ kẻ tỉnh táo nào mới bước vào, song lại được chính những người dự phần chịu đựng không chút bận tâm, vì tất cả đều đang ru mình trong cùng một trạng thái vô trách nhiệm như nhau. Chính bà Magnus cũng đỏ bừng hai tai và thú nhận bà cảm thấy sự sống đang chảy xuyên qua mình, điều mà dường như ông Magnus không lấy gì làm vui. Hermine Kleefeld tựa lưng vào vai ông Albin, chìa chiếc ly ra cho ông rót. Peeperkorn, điều khiển cuộc Bacchanal bằng những cử chỉ văn hóa nhọn như mũi giáo, lo liệu việc tiếp tế và tiếp viện. Sau Champagne, ông cho mang cà phê ra, _Mocca double_, lại kèm theo “bánh mì”, cùng những vị ngọt cay: Apricots Brandy, Chartreuse, Creme de Vanille và Maraschino cho các bà. Về sau còn có phi-lê cá chua và bia, cuối cùng là trà, cả trà Trung Hoa lẫn trà cúc cho những ai không thích tiếp tục với vang sủi hoặc rượu mùi, hay quay về với một thứ rượu vang nghiêm chỉnh, như chính Mynheer, người sau nửa đêm đã tự thanh lọc, cùng với bà Chauchat và Hans Castorp, để đến với một thứ rượu đỏ Thụy Sĩ ngây thơ mà sủi tăm, và ông uống cạn hết cốc này đến cốc khác với một cơn khát thực sự.
Đến một giờ, cuộc hội ẩm vẫn còn kéo dài, một phần bị níu giữ bởi sự tê liệt chì của cơn say, một phần bởi cái thú đặc biệt của việc thức thâu đêm, một phần bởi tác động cá tính của Peeperkorn và tấm gương răn đe của Phêrô cùng những người kia, vào cái nhược tính của xác thịt mà chẳng ai muốn chung phần. Nói chung, phía nữ dường như ít bị đe dọa hơn về phương diện này. Bởi trong khi đàn ông, kẻ đỏ gay, người tái nhợt, duỗi chân ra và phồng má, chỉ còn máy móc thỉnh thoảng mới nhấp chén, không còn được linh hứng bởi một thiện chí phục vụ thực sự nào nữa, thì đàn bà lại giữ được vẻ hoạt động hơn. Hermine Kleefeld chống hai khuỷu tay trần lên mặt bàn, hai má tựa trong lòng bàn tay, cười mà phô cho Ting-Fu đang khúc khích thấy men ngà nơi hai hàng răng cửa; còn bà Stöhr, thu cằm lại trên bờ vai ưỡn cong ra trước một cách õng ẹo, tìm cách cột công tố viên vào với cuộc sống. Với bà Magnus thì sự việc đã đi đến chỗ bà ngồi hẳn lên đùi ông Albin và kéo cả hai dái tai ông ta, nhưng dường như ông Magnus cảm thấy điều ấy như một sự nhẹ nhõm hơn là gì khác. Anton Karlowitsch Ferge được mời kể câu chuyện về cú sốc màng phổi của ông, nhưng vì lưỡi líu lại nên chẳng kể ra hồn được, và thành thật tuyên bố mình phá sản, điều ngay lập tức được đồng thanh tôn làm cớ để uống. Wehsal trong chốc lát khóc nức nở cay đắng, từ một vực sâu khốn khổ nào đó mà cái lưỡi của anh cũng không còn đủ sức mở cho đồng loại nhìn vào; nhưng rồi được cà phê và cognac vực dậy tinh thần, và nhân tiện lại gây nên mối quan tâm sâu đậm nhất nơi Peeperkorn bởi tiếng nức lên trong lồng ngực, bởi cái cằm nhăn nheo run rẩy đẫm nước mắt của anh; Peeperkorn giơ ngón trỏ lên và dựng cao những đường arabesque trên trán để đòi hỏi sự chú ý của mọi người vào tình trạng của Wehsal.
“Đó là...,” ông nói. “Đó rốt cuộc là... Không, xin cho phép tôi: thiêng liêng! Lau cằm cho anh ta đi, con ạ, lấy khăn ăn của ta đây! Hay đúng hơn, không, thôi đi! Chính anh ta từ chối điều đó. Thưa quý vị... thiêng liêng! Thiêng liêng theo mọi nghĩa, theo nghĩa Kitô giáo cũng như theo nghĩa ngoại giáo! Một hiện tượng nguyên sơ! Một hiện tượng hàng đầu... hàng tối thượng... Không, không, cái đó là...”
Nói chung, chính theo cái âm điệu “Đó là”, “Đó rốt cuộc là” ấy mà những lời phát biểu dẫn dắt, cắt nghĩa được cất lên, trong lúc ông dùng những cử chỉ văn hóa chuẩn xác, tuy đến lúc này đã trở nên phần nào khôi hài, để đồng hành với cuộc vui của mình. Ông có một lối giơ cái vòng do ngón trỏ cong lại với ngón cái tạo thành lên ngang tai và nghiêng đầu tránh nó đi một cách nửa đùa, nửa dí dỏm, gợi nên những cảm giác chẳng khác gì một vị tư tế già nua của một giáo phái xa lạ, người với tà áo vén lên và một vẻ duyên kỳ quặc đang nhảy múa trước bàn thờ hiến tế. Rồi khi khác, nằm dài trong vẻ tráng lệ của mình, cánh tay vòng qua lưng ghế bên cạnh, ông buộc mọi người, giữa cơn kinh ngạc của họ, phải cùng ông chìm vào hình dung sống động và xuyên thấu về buổi sáng, một buổi sáng mùa đông tối sẫm, giá buốt, khi ánh vàng của chiếc đèn đầu giường chúng ta hắt xuyên qua ô cửa kính, phản chiếu ra ngoài giữa những cành trơ trụi đang cứng lại trong sương sớm lạnh buốt, khắc nghiệt như tiếng quạ kêu... Bằng lối gợi nhắc, ông biết làm cho hình ảnh tỉnh táo của đời thường ấy trở nên mạnh đến mức ai nấy đều rùng mình, nhất là khi ông còn nhắc tới làn nước băng giá mà vào một buổi sớm như vậy người ta có thể dùng một miếng bọt biển lớn ép lên gáy mình, và ông gọi điều ấy là thiêng liêng. Đó chỉ là một chệch đề, một bài học minh họa về những điều cần chú tâm trong đời sống, một ngẫu hứng kỳ ảo mà ông buông ra rồi lập tức lại xoay sự khẩn thiết công vụ và sự hiện diện cảm xúc của mình trở về phía giờ khắc đêm hội đang tự do cởi mở. Ông tỏ ra si mê mọi nữ tính nào còn trong tầm với, bừa bãi, không lựa người. Ông đưa ra với cô lùn những lời ve vãn kiểu ấy khiến cái sinh vật tật nguyền kia nhăn cái gương mặt quá khổ và có tuổi của mình lại thành những nếp cười nhăn nhở; ông nói với bà Stöhr những lời tán tỉnh đến mức khiến người đàn bà thô phàm ấy lại càng ưỡn vai ra trước và làm bộ làm tịch đến hóa cuồng; ông xin Kleefeld một nụ hôn lên cái miệng lớn, rách nát của mình, và thậm chí còn ve vãn cả bà Magnus tội nghiệp; tất cả những điều ấy vẫn không hề phương hại đến sự tận tụy dịu dàng của ông đối với người bạn đồng hành du lịch, bàn tay nàng ông thường nâng lên môi với một niềm tôn kính ga-lăng. “Rượu vang...” ông nói, “Đàn bà... Đó là... Đó rốt cuộc là... Xin cho phép tôi... tận thế... Gethsemane...”
Gần hai giờ, tin đồn vụt bay tới rằng “ông già” tức Hofrat Behrens đang tiến những bước thần tốc về phía các phòng trò chuyện. Ngay trong khoảnh khắc ấy, cơn hoảng loạn bùng lên giữa đám khách đã suy nhược thần kinh. Ghế và xô đá đổ nhào. Người ta chạy trốn qua phòng thư viện. Peeperkorn, bị một cơn lồng lộn vương giả chộp lấy trước sự tan rã đột ngột của lễ hội đời sống do mình bày ra, hẳn đã đập tay xuống bàn và ném theo đám người đang tháo chạy mấy lời kiểu “lũ nô lệ nhát gan”, nhưng rồi sau đó, nhờ Hans Castorp và bà Chauchat, cũng được hòa giải phần nào với ý nghĩ rằng bữa tiệc này, đã kéo dài sáu tiếng đồng hồ, rốt cuộc thế nào cũng phải đi đến hồi kết; ông cũng chịu lắng tai nghe lời nhắc về sự yên ủi thần thánh của giấc ngủ và bằng lòng để người ta đưa mình về giường.
“Đỡ tôi, con yêu! Đỡ tôi phía bên kia, chàng trai trẻ!” ông nói với Frau Chauchat và Hans Castorp. Thế là họ giúp cái thân hình nặng nề của ông đứng dậy khỏi ghế, đưa tay cho ông vịn, và móc vào cả hai cánh tay ấy, ông dạng chân bước lên đường đi nghỉ, cái đầu đồ sộ nghiêng xuống một bên vai đang nhô cao của mình, và vì bước chân chao đảo mà lúc thì xô người dẫn bên này, lúc thì ép người dẫn bên kia dạt sang một bên. Xét cho cùng, hẳn đây là một thứ xa xỉ vương giả mà ông tự cho phép mình, khi để mặc người ta dìu dắt và đỡ nâng theo lối ấy. Có lẽ, nếu thật cần, ông cũng vẫn có thể tự đi một mình, nhưng ông khinh không buồn làm cái cố gắng kia, cái cố gắng vốn chỉ có thể nhằm một ý nghĩa nhỏ nhặt và phụ thuộc là kín đáo che giấu cơn say của mình, trong khi rõ ràng ông không những hoàn toàn chẳng hề xấu hổ về nó, mà trái lại còn lấy làm lớn lao, còn khoái trá sung mãn trong nó, và lấy làm một trò đùa vương giả khi chòng chành húc các người dẫn đường phục dịch mình sang phải rồi sang trái. Dọc đường chính ông còn nói:
“Các con à, – vớ vẩn, – dĩ nhiên người ta đâu có – Giá mà lúc này – Các con phải thấy – Buồn cười –”
“Buồn cười thật!” Hans Castorp xác nhận. “Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa! Người ta trả cho tặng vật cổ điển của sự sống cái phần thuộc về nó, khi thản nhiên để mình chao đảo mà tôn vinh nó. Còn nói nghiêm chỉnh... Tôi đây cũng đã có phần mình, nhưng bất chấp mọi thứ gọi là say sưa, tôi vẫn ý thức hết sức rõ ràng rằng mình đang có vinh dự đặc biệt được đưa một nhân cách rõ rệt lên giường nghỉ, cơn say thậm chí còn ít làm gì được tôi đến thế đấy, tuy xét về phương diện tầm vóc thì tôi hoàn toàn chưa thể đem ra so sánh –”
“Nào, chú chàng lắm lời kia,” Peeperkorn nói, rồi vừa lảo đảo xô chàng vào lan can cầu thang, vừa kéo Frau Chauchat theo mình.
Hiển nhiên tin đồn Hofrat đang đến gần chỉ là một phát súng dọa suông. Có lẽ con mụ lùn mệt lử đã bắn phát ấy để phá tan cuộc vui. Trong những hoàn cảnh đó, Peeperkorn đứng khựng lại và muốn quay về uống tiếp; nhưng từ hai phía người ta đã khuyên nhủ ông theo lẽ phải hơn, và thế là ông lại để cho mình được đưa đi tiếp.
Người hầu phòng Mã Lai, cái anh chàng bé nhỏ thắt cà vạt trắng và đi giày lụa đen ấy, đang đợi chủ mình ngoài hành lang, trước cửa căn phòng, và đón ông bằng một cái cúi mình, đồng thời đặt một tay lên ngực.
“Hôn nhau đi!” Peeperkorn ra lệnh. “Hãy hôn lên trán người đàn bà duyên dáng này lúc chia tay, chàng trai trẻ!” ông nói với Hans Castorp. “Bà ấy sẽ chẳng phản đối đâu, và sẽ đáp lại. Hãy làm điều đó vì sức khỏe của tôi và với sự cho phép của tôi!” ông nói; nhưng Hans Castorp từ chối.
“Không, thưa Bệ hạ!” chàng nói. “Xin ngài thứ lỗi, việc ấy không được.”
Peeperkorn, tựa vào người hầu phòng, lại bày những điệu bộ arabesque của mình ra và đòi biết vì sao việc ấy lại không được.
“Bởi vì tôi không thể trao đổi những cái hôn lên trán với bạn đồng hành của ngài được,” Hans Castorp nói. “Xin chúc ngài nghỉ thật ngon! Không, việc ấy, xét từ mọi phía, quả là điều hết sức nhảm nhí.”
Và vì Frau Chauchat cũng đã bước về phía cửa phòng mình, nên Peeperkorn để cho kẻ bướng bỉnh kia đi, dẫu dĩ nhiên vẫn còn một lúc ngoái theo chàng qua vai mình và vai người Mã Lai, mặt mày rúm lại, ngạc nhiên trước một sự bất phục tùng mà bản tính đế vương của ông hẳn không quen gặp phải.
Mynheer Peeperkorn (tiếp theo)
Mynheer Peeperkorn ở lại nhà Berghof suốt cả mùa đông ấy – phần còn sót lại của nó – và sang tận mùa xuân, đến nỗi sau cùng còn có cả một chuyến đi chung thật đáng nhớ (Settembrini và Naphta cũng có mặt) tới thung lũng Flüela và ngọn thác ở đó... Sau cùng nữa ư? Thế tức là sau đó ông không ở lại lâu hơn nữa sao? – Không, không lâu hơn nữa. – Ông ra đi ư? – Vâng và không. – Vâng và không ư? Xin đừng làm bộ bí hiểm! Người ta sẽ biết tự giữ lấy mình. Cả trung úy Ziemßen cũng đã chết, chưa kể bao nhiêu vũ công ít vẻ vang hơn khác của tử thần. Vậy là Peeperkorn mơ hồ kia đã bị cơn sốt nhiệt đới ác tính cuốn đi chăng? – Không, ông không bị như thế, nhưng sao phải sốt ruột? Việc không phải mọi thứ đều hiện ra cùng một lúc vẫn phải được tôn trọng như một điều kiện của đời sống và của sự kể chuyện, và hẳn người ta cũng chẳng muốn nổi loạn chống lại những hình thức nhận thức của con người do Thượng đế định sẵn! Hãy dành cho thời gian ít nhất bấy nhiêu vinh dự như bản tính câu chuyện của chúng ta còn cho phép! Dầu sao thứ ấy nay cũng chẳng còn lại bao nhiêu nữa; mọi sự bắt đầu lao đi lộp độp xô bồ! hay, nếu nói thế nghe quá ồn, thì nó lao vút, lao vút! Một chiếc kim bé xíu đang đo thời gian của chúng ta, lăng xăng như thể nó đo từng giây, trong khi mỗi lần nó lạnh lùng, không ngừng nghỉ, đi qua điểm cao nhất của mình, thì trời biết có điều gì ghê gớm được hàm ngụ trong đó. Đã nhiều năm rồi, điều ấy thì chắc chắn, chúng ta ở trên này, chúng ta hoa mắt, đây là một cơn mê truỵ lạc không cần thuốc phiện với hashish, nhà luân lý học sẽ lên án chúng ta, – thế mà chúng ta vẫn cố ý đem thật nhiều sáng suốt của trí năng và sắc bén của lô-gích chống lại cơn mù sương tai hại ấy! Không phải ngẫu nhiên, xin hãy công nhận điều đó, mà chúng ta đã chọn những đầu óc như hai ngài Naphta và Settembrini làm bạn giao du, thay vì, giả như thế, chỉ bao quanh mình bằng toàn những Peeperkorn mơ hồ, – và điều đó tất nhiên dẫn tới một phép so sánh mà ở nhiều phương diện, nhất là ở điểm _tầm vóc_, phải ngả về phía hiện tượng xuất hiện muộn này, đúng như nó cũng đã ngả trong ý nghĩ của Hans Castorp, khi chàng nằm trong lô-gia của mình và tự thú rằng hai nhà giáo huấn quá mực rành rọt, những kẻ đã kẹp lấy linh hồn nghèo nàn của chàng ở giữa, bên cạnh Pieter Peeperkorn thì quả thực lùn tịt đi, đến nỗi chàng có khuynh hướng gọi họ bằng chính cái tên mà ông kia, trong cơn bông đùa vương giả của men say, đã gọi chàng, tức là “chú chàng lắm lời”, và cho là rất tốt, rất may, khi nền sư phạm khép kín kia còn đưa chàng tiếp xúc với một nhân cách hẳn hoi như thế.
Việc nhân cách ấy xuất hiện với tư cách bạn đồng hành của Clawdia Chauchat, và do đó như một sự quấy nhiễu ghê gớm chen vào sân khấu, lại là một điểm khác, một điểm mà Hans Castorp không để cho làm mình lúng túng trong những đánh giá của chàng. Xin nhắc lại, chàng không để cho mình lúng túng trong sự tham dự chân thành đầy kính trọng, dù đôi khi hơi bạo dạn, đối với một con người có tầm vóc, – chỉ vì con người đó cùng chung một túi tiền đi đường với người đàn bà mà Hans Castorp đã mượn một cây bút chì trong đêm hóa trang. Điều ấy không nằm trong bản tính của chàng, – dẫu chúng tôi hoàn toàn tính đến khả năng rằng người này hay người kia trong vòng tròn của chúng tôi sẽ lấy làm khó chịu trước thứ “thiếu khí tính” như thế, và thích thấy chàng căm ghét, lánh xa Peeperkorn hơn, chỉ thầm nhủ về ông như về một lão lừa già và một gã say lảm nhảm, thay vì đến thăm ông khi ông bị cơn sốt rét hành hạ, ngồi bên giường ông, chuyện trò với ông – một từ mà dĩ nhiên chỉ thích hợp với những đóng góp của _chàng_ vào cuộc đàm thoại, chứ không phải của Peeperkorn vĩ đại – và với tính hiếu kỳ của một kẻ du hành cầu học, để cho bản chất của nhân cách kia tác động lên mình. Nhưng chàng đã làm như thế, và chúng tôi kể lại điều đó, bất chấp nguy cơ rằng có ai đó vì vậy mà nhớ tới Ferdinand Wehsal, kẻ đã mặc chiếc paletot của Hans Castorp. Sự liên tưởng ấy chẳng nói lên điều gì cả. Nhân vật của chúng ta không phải Wehsal. Những vực sâu khốn quẫn không phải chỗ của chàng. Chỉ có điều chàng không phải là một “anh hùng”, nghĩa là: chàng không để cho quan hệ của mình với phái nam bị quyết định bởi người đàn bà. Trung thành với nguyên tắc của mình là không làm chàng tốt hơn cũng không xấu hơn bản thân chàng, chúng tôi ghi nhận rằng chàng đơn giản từ chối – không phải có ý thức và minh nhiên, mà hết sức ngây thơ từ chối – để cho những ảnh hưởng kiểu tiểu thuyết tước mất khỏi chàng sự công bằng đối với giới tính của chính mình – và cả cảm thức đối với những trải nghiệm giáo dưỡng có ích trong phạm vi ấy. Điều đó có thể làm đàn bà không hài lòng – chúng tôi tin rằng Frau Chauchat đã vô tình lấy làm bực bội vì thế; một đôi nhận xét nhọn hoắt buột ra khỏi miệng bà, mà chúng tôi còn sẽ chèn vào đây, cho phép kết luận như vậy –, nhưng có lẽ chính đặc tính ấy đã khiến chàng trở thành một đối tượng tranh chấp thích hợp đến thế của nền sư phạm.
Pieter Peeperkorn đau ốm luôn luôn, – việc ông ngã bệnh ngay hôm sau buổi tối đầu tiên chơi bài và uống sâm banh ấy thì chẳng có gì lạ. Hầu như mọi người dự vào cuộc giao tế kéo dài và căng thẳng ấy đều khổ sở, Hans Castorp cũng không ngoại lệ, chàng nhức đầu dữ dội, nhưng không vì gánh nặng ấy mà để mình bị ngăn cản đến thăm ốm người chủ tiệc hôm qua: gặp người Mã Lai ngoài hành lang tầng một, chàng nhờ anh ta chuyển lời xin được vào thăm Peeperkorn, và được hoan nghênh.
Chàng đi qua một phòng khách – ngăn phòng ngủ của người Hà Lan với phòng của Frau Chauchat – để vào gian phòng ngủ hai giường ấy, và thấy nó vượt hẳn kiểu phòng trung bình của khách Berghof về độ rộng rãi cũng như vẻ thanh nhã trong cách bày biện. Ở đó có những ghế bành bọc lụa và những chiếc bàn chân cong; một tấm thảm mềm phủ kín sàn, và cả những chiếc giường cũng không thuộc loại những chiếc giường chết hợp vệ sinh thông thường, trái lại còn sang trọng nữa kia: bằng gỗ anh đào đánh bóng, có nẹp đồng, và phía trên là một vòm che nhỏ dùng chung – không buông màn xuống –, đúng hơn chỉ là một chiếc tán nhỏ vừa che chở vừa hợp nhất.
Peeperkorn nằm trong một trong hai chiếc giường ấy, sách vở, thư từ và báo chí bày trên tấm chăn bông lụa đỏ, và đọc tờ _Telegraaf_ qua chiếc kính kẹp gọng sừng vươn cao của mình. Bộ đồ cà phê đặt trên một chiếc ghế bên cạnh ông, còn một chai vang đỏ uống dở – chính là thứ vang sủi đơn sơ của tối hôm qua – đứng cạnh mấy chiếc ly thuốc trên bàn con đầu giường. Người Hà Lan, khiến Hans Castorp hơi lấy làm ngạc nhiên một cách dè dặt, không mặc áo sơ-mi trắng, mà mặc một chiếc áo len dài tay, cài nút ở cổ tay và không có cổ áo, trái lại khoét tròn, ôm khít lấy hai vai rộng và lồng ngực đồ sộ của ông già: vẻ vĩ đại rất người của cái đầu ông trên gối nhờ bộ áo ấy mà còn được nâng lên, được kéo ra khỏi cái tầm thường tư sản, bởi y phục ấy ban cho dáng vẻ của ông một sắc thái vừa dân dã theo kiểu người thợ, vừa như pho tượng bán thân đã hóa bất tử.
“Hoàn toàn được chứ, chàng trai trẻ,” ông nói, vừa nắm lấy chiếc kính kẹp ở gọng cao mà nhấc ra. “Xin mời, – chẳng có gì là không cả. Trái lại là đằng khác.” Và Hans Castorp ngồi xuống cạnh ông, che giấu sự ngạc nhiên đầy cảm thông của mình – nếu quả không phải là lòng ngưỡng mộ thực sự, thứ tình cảm mà sự công bằng buộc chàng phải dành – sau lối chuyện trò thân mật, hoạt bát, được Peeperkorn phụ họa bằng những lời đứt đoạn đầy vẻ lớn lao và thứ ngôn ngữ cử chỉ hết sức khẩn thiết. Trông ông không khỏe, vàng vọt, khá khổ sở và tiều tụy. Về gần sáng ông đã lên một cơn sốt dữ dội, mà những hậu quả mệt lả của nó giờ đây đang hòa vào dư ba của cơn say.
“Hôm qua chúng ta đã quá –” ông nói. “Không, xin cho phép, – tệ, tệ lắm! Anh thì còn – được, thế thì chẳng sao nữa – Nhưng ở tuổi tôi và với cái thể trạng đang bị đe dọa của tôi – Con yêu,” ông quay sang Frau Chauchat, người vừa từ phòng khách bước vào, với một vẻ nghiêm khắc dịu dàng nhưng dứt khoát, “– mọi sự đều tốt cả, nhưng tôi nhắc lại với cô rằng lẽ ra đã phải để ý hơn, lẽ ra người ta phải ngăn tôi lại –.” Trong nét mặt và giọng nói của ông lúc ấy có gần như một cơn cáu kỉnh đế vương đang kéo tới. Nhưng chỉ cần hình dung xem hẳn sẽ bùng nổ một trận phong ba như thế nào nếu người ta thực sự định quấy rầy ông trong lúc uống, là đủ đo được tất cả sự bất công và vô lý trong lời trách móc của ông. Những điều như thế có lẽ thuộc về sự vĩ đại. Vì vậy bạn đồng hành của ông cũng cho qua, vừa chào Hans Castorp, người đã đứng dậy, – nhưng không chìa tay cho chàng, chỉ mỉm cười và vẫy tay, bảo chàng “cứ việc” ngồi nguyên đó, “nhất định đừng” để cho cuộc _tête à tête_ của mình với Mynheer Peeperkorn bị quấy rầy... Bà bận rộn làm thứ này thứ nọ trong phòng, bảo người hầu dọn bộ đồ cà phê đi, biến mất một lát rồi lại rón rén quay vào, khi thì đứng mà góp vào câu chuyện đôi chút, hoặc – nếu phải diễn lại ấn tượng mơ hồ của Hans Castorp – để hơi trông chừng nó một chút. Tất nhiên rồi! Bà có thể trở về nhà Berghof trong sự gắn bó với một nhân cách có tầm vóc lớn; nhưng nếu người đã đợi bà ở đây suốt từng ấy lâu nay lại bày tỏ với nhân cách ấy sự kính trọng phải đạo, từ người đàn ông với người đàn ông, thì bà lại lộ ra vẻ bất an, thậm chí chanh chua, với những câu “cứ việc” và “nhất định đừng” của mình. Hans Castorp mỉm cười trước điều đó, cúi người xuống trên hai đầu gối để giấu nụ cười đi, và đồng thời trong lòng rực lên vì vui sướng.
Peeperkorn rót cho chàng một ly rượu, từ chai đặt trên bàn đầu giường. Trong những hoàn cảnh như hôm nay, người Hà Lan cho rằng tốt nhất là nối lại đúng chỗ mình đã dừng vào đêm trước, và thứ vang sủi này cũng phục vụ y như nước soda. Ông cụng ly với Hans Castorp, và chàng vừa uống vừa nhìn bàn tay thuyền trưởng lấm tấm tàn nhang, đầu ngón nhọn hoắt ở phía bên kia, nơi cổ tay bị vòng cổ tay cài nút của chiếc áo len ôm lấy, nâng ly lên thế nào; nhìn đôi môi rộng, rách tướp kia ghì lấy miệng ly ra sao, và rượu tuôn qua cái cổ người thợ, hay cái cổ pho tượng bán thân, đang lên xuống thế nào. Sau đó họ còn nói về thứ thuốc trên bàn đầu giường, thứ nước nâu ấy, mà Peeperkorn, theo lời nhắc của Frau Chauchat và từ tay bà, đã uống một thìa đầy, – đó là một thứ thuốc hạ sốt, chủ yếu là quinine; Peeperkorn cho vị khách của mình nếm thử một ít, để chàng biết mùi vị đắng cay đầy cá tính của chế phẩm ấy, rồi nói khá nhiều lời ca ngợi quinine, thứ không chỉ đáng quý nhờ tác dụng diệt mầm bệnh và ảnh hưởng lành mạnh lên trung tâm điều nhiệt, mà còn phải được thừa nhận như một thuốc bổ: nó làm giảm chuyển hóa chất đạm, cải thiện trạng thái dinh dưỡng, tóm lại là một thứ nước giải lao đích thực, một phương tiện tăng lực, đánh thức và làm sinh động tuyệt vời, – mà nói cho cùng cũng là một chất gây say nữa; người ta rất dễ uống nó mà thấy lâng lâng đôi chút, ông nói, vừa đùa cợt một cách vĩ đại bằng ngón tay và cái đầu như hôm qua, và lại giống ông thầy tế ngoại giáo đang nhảy múa kia.
Phải, vỏ sốt, một thứ chất tuyệt vời! Nhưng kỳ thực còn chưa đầy ba trăm năm kể từ khi dược lý học của châu lục chúng ta biết đến nó, và cũng chưa đầy một thế kỷ kể từ khi hóa học phát hiện ra ancaloit mà công hiệu của nó thực sự đặt nền trên đó, tức quinin, phát hiện ra và phần nào phân tích được nó; bởi vì hóa học chưa thể nói rằng, từ cấu tạo của nó, cho đến nay mình đã thật sự hiểu được cho ra lẽ, hay có khả năng điều chế nó một cách nhân tạo. Ngành dược học của chúng ta ở đâu cũng nên tránh sự tự phụ phạm thượng đối với tri thức của mình, vì với quinin nó cũng lúng túng như với biết bao thứ khác: nó biết đôi điều về động lực, về tác dụng của các chất, nhưng câu hỏi những tác dụng ấy, nói cho đúng, rốt cuộc phải quy vào đâu, thì lắm phen khiến nó bối rối. Chàng trai kia cứ thử nhìn vào độc chất học mà xem, sẽ chẳng ai có thể cho chàng biết gì về những tính chất nguyên sơ làm thành điều kiện cho tác dụng của những chất gọi là độc. Thí dụ như nọc rắn, người ta chẳng biết gì hơn ngoài việc những chất động vật ấy đơn giản thuộc vào hàng các hợp chất protein, gồm nên từ nhiều thể protein khác nhau, nhưng chỉ trong thành phần nhất định ấy, tức là một thành phần hoàn toàn bất định, chúng mới phát huy được những tác dụng bộc phát của mình; khi được đưa vào tuần hoàn máu, chúng sinh ra những hiệu quả khiến người ta chỉ còn biết kinh ngạc, bởi vốn không quen ghép protein với chất độc. Nhưng với thế giới của các chất, Peeperkorn nói, vừa giơ cao bên cạnh cái đầu nhợt nhạt dựng khỏi gối, cùng những nét trán uốn khúc, cái vòng chính xác và những ngọn giáo của các ngón tay, với các chất thì sự thể là thế này: tất cả đều cùng một lúc cưu mang sự sống lẫn cái chết; tất cả vừa là thuốc thang vừa là chất độc, dược trị học và độc chất học là một và cùng một thứ, người ta lành bệnh nhờ độc chất, và điều vốn đúng với những chất mang sự sống thì trong những hoàn cảnh nhất định lại giết người bằng một cú co giật duy nhất chỉ trong vài giây.
Ông nói về thuốc thang và chất độc hết sức dồn dập và mạch lạc một cách khác thường, và Hans Castorp nghiêng đầu gật gật nghe ông, lòng bận không phải nhiều vì nội dung những lời ấy, dường như rất hệ trọng đối với ông, cho bằng vì đang âm thầm thăm dò hiệu lực của nhân cách ông, cái hiệu lực rốt cuộc cũng bí ẩn không kém gì tác dụng của nọc rắn. Động lực, Peeperkorn nói, là tất cả trong thế giới các chất, phần còn lại hoàn toàn do đó mà thành. Chính quinin cũng là một thứ độc dược chữa lành, trước hết là đầy mãnh lực. Bốn gam của nó làm người ta điếc, chóng mặt, khó thở, gây ra những rối loạn thị giác như atropin, làm say như rượu, và những công nhân trong các nhà máy quinin thì mắt viêm, môi sưng, da nổi ban. Rồi ông bắt đầu kể về cinchona, cây canh-ki-na, loài cây có quê hương trong những khu rừng nguyên sinh của dãy Cordillera ở độ cao ba nghìn mét, từ đó vỏ của nó với tên gọi “Jesuitenpulver” mãi khá muộn mới tới Tây Ban Nha, tuy từ lâu sức lực của dân bản địa Nam Mỹ đã biết đến nó; ông tả những đồn điền cinchona khổng lồ của chính quyền Hà Lan trên đảo Java, từ đó mỗi năm nhiều triệu pao những ống vỏ đỏ như quế được chở đến Amsterdam và London... Nói chung là các loại vỏ, mô vỏ của cây gỗ, từ lớp biểu bì đến tầng cambium, chúng đều có cái ấy trong mình, Peeperkorn nói, gần như bao giờ cũng sở hữu những công hiệu động lực phi thường, theo chiều lành cũng như chiều dữ; về khoản này, dược liệu học của các dân tộc da màu vượt xa chúng ta. Trên một số đảo ở phía đông New Guinea, bọn trai trẻ tự chế cho mình một thứ bùa yêu bằng cách nghiền vỏ một thứ cây nào đó, hẳn là cây độc, như _Antiaris toxicaria_ ở Java, loài cây mà, cũng như cây Manzanilla, người ta nói là bằng hơi tỏa ra nó có thể đầu độc bầu không khí chung quanh và làm mê chết cả người lẫn thú; nghĩa là họ nghiền vỏ cây ấy thành bột, trộn bột với những mẩu cùi dừa, cuốn hỗn hợp vào trong một chiếc lá rồi đem nướng. Sau đó họ phun nước cốt của hỗn hợp ấy lên mặt người đẹp cứng lòng mà họ nhắm tới, khi nàng đang ngủ, và nàng sẽ bùng cháy vì kẻ đã phun. Có khi cái chứa sức lực ấy lại là vỏ rễ, như vỏ rễ của một loài dây leo ở quần đảo Mã Lai tên là Strychnos Tieuté, từ đó dân bản địa, pha thêm nọc rắn, chế ra Upas-Radscha, một thứ chất mà, khi được đưa vào huyết mạch, chẳng hạn bằng một mũi tên bắn, thì gây ra cái chết nhanh nhất, mà sẽ chẳng ai có thể nói cho chàng Hans Castorp trẻ tuổi biết điều ấy thật ra xảy ra như thế nào. Chỉ có chừng ấy là rõ: xét về phương diện động lực, Upas gần với strychnin... Và Peeperkorn, giờ đây đã gần như ngồi hẳn dậy trên giường, thỉnh thoảng đưa bàn tay thuyền trưởng hơi run run nâng ly rượu lên cặp môi rách để uống những ngụm lớn, khát cháy, kể về cây mắt quạ ở bờ biển Coromandel, từ những quả mọng vàng cam của nó, những “mắt quạ”, người ta chiết ra thứ ancaloit có sức động lực mạnh nhất, gọi là strychnin; ông kể bằng giọng hạ thấp đến thành thì thào và với những nếp trán kéo cao, về cành lá xám tro, tán lá bóng loáng kỳ dị và những bông hoa vàng lục của cây ấy, đến nỗi trước mắt chàng Hans Castorp hiện lên một hình ảnh về một cái cây vừa ảm đạm vừa sặc sỡ như cuồng loạn, và nói chung chàng thấy trong lòng có điều gì đó rờn rợn.
Lúc này Frau Chauchat cũng xen vào, nói rằng nói chuyện như thế không tốt, nó làm Peeperkorn mệt, ông có thể lại lên cơn sốt, và dù nàng không muốn ngắt cuộc đàm đạo này chút nào, nàng vẫn phải xin Hans Castorp hôm nay hãy để như thế là đủ. Dĩ nhiên chàng làm theo; nhưng rồi còn nhiều phen nữa, sau một cơn sốt tư nhật, trong những tháng kế tiếp, chàng ngồi bên giường người đàn ông vương giả ấy, trong khi Frau Chauchat, vừa lững thững đi đi lại lại vừa nhẹ nhàng canh chừng câu chuyện hoặc cũng góp vào đôi lời; và ngay cả trong những ngày Peeperkorn không sốt, chàng cũng trải qua nhiều giờ với ông và người bạn đồng hành đeo ngọc trai của ông. Bởi khi viên người Hà Lan không phải nằm liệt giường, ông hiếm khi bỏ qua việc, sau bữa tối, tụ tập quanh mình một nhóm nhỏ thay đổi luôn của khách trọ Berghof để chơi bời, uống rượu và hưởng đủ thứ khoan khoái bồi bổ khác, khi thì trong phòng chuyện trò như lần đầu, khi thì trong nhà hàng; và như một thói quen, Hans Castorp ngồi vào chỗ giữa người đàn bà uể oải và người đàn ông lẫm liệt; ngay cả ngoài trời người ta cũng cùng đi với nhau, cùng dạo bước, có khi các ông Ferge và Wehsal tham dự, rồi chẳng bao lâu cả Settembrini lẫn Naphta nữa, hai kẻ đối địch về tinh thần mà không thể nào lại không gặp, và Hans Castorp còn lấy làm đặc biệt sung sướng khi được làm quen họ với Peeperkorn, cũng như rốt cuộc với cả Clawdia Chauchat, hoàn toàn chẳng bận tâm xem mối quen biết và kết giao ấy có được các tay tranh biện hoan nghênh hay không, và âm thầm tin rằng họ cần đến một đối tượng sư phạm, nên thà chấp nhận một kẻ đeo bám không mong muốn còn hơn từ bỏ việc phô bày những đối lập của mình trước mặt chàng.
Và chàng cũng không lầm khi cho rằng các thành viên trong vòng thân hữu loang lổ của mình ít ra cũng sẽ quen với chuyện họ không hề quen nhau: giữa họ dĩ nhiên có thừa những căng thẳng, xa lạ, thậm chí cả những thù nghịch lặng lẽ, và chính chúng tôi cũng lấy làm lạ không hiểu vì sao người hùng tầm thường của chúng ta lại có thể giữ họ tụ lại quanh mình; chúng tôi tự giải thích điều ấy bằng một thứ yêu đời ranh mãnh nào đó trong bản tính chàng, khiến chàng thấy mọi sự đều “đáng nghe”, và người ta có thể gọi đó là tính hòa nhã theo đúng nghĩa rằng nó không chỉ nối kết với chàng những con người và nhân cách khác biệt nhất, mà đến một chừng mực nào đó, còn nối kết cả chính họ với nhau.
Những mối quan hệ qua lại kỳ quặc làm sao! Chúng tôi thấy thích thú muốn làm cho những sợi dây chằng chịt của chúng trong chốc lát hiện ra trước mắt mọi người, theo đúng cách Hans Castorp tự mình nhìn chúng trong những cuộc dạo bước ấy, bằng con mắt yêu đời và ranh mãnh. Kia là Wehsal khốn khổ, thầm cháy bỏng khao khát Frau Chauchat và tôn sùng Peeperkorn cùng Hans Castorp một cách thấp hèn, người nọ vì hiện tại thống trị, người kia vì quá khứ. Kia nữa là chính Clawdia Chauchat, người bệnh và kẻ lữ hành bước đi mềm mại duyên dáng, kẻ thần phục của Peeperkorn, mà quả là do lòng xác tín, song dầu vậy vẫn luôn có chút bất an và cay nhọn trong thâm tâm khi thấy hiệp sĩ của một đêm hội hóa trang xa xôi lại ăn ở thân thiết đến thế với chúa tể của mình. Sự bứt rứt ấy chẳng phải phần nào gợi nhớ đến cái bứt rứt chi phối quan hệ của nàng với Herr Settembrini đó sao? Với tay hùng biện đẹp lời và nhà nhân văn mà nàng không ưa nổi và gọi là kiêu mạn, vô nhân ấy? Với người bạn giáo hóa của chàng Hans Castorp trẻ tuổi, kẻ mà nàng rất muốn tra hỏi cho ra những lời ông đã buông theo chàng thanh niên Đức đứng đắn kia, trong cái thổ ngữ Địa Trung Hải của ông, thứ tiếng mà nàng hiểu chẳng nổi một âm tiết nào cũng như ông chẳng hiểu tiếng của nàng, chỉ khác là với một vẻ khinh thị kém phần chắc chắn hơn, cái cậu tiểu tư sản xinh xắn, gia thế tử tế và có một vết ẩm ấy, khi thuở nọ chàng toan tiến lại gần nàng? Hans Castorp, đang yêu, như người ta thường nói, “ngập đầu ngập cổ”, nhưng không phải theo cái nghĩa vui vẻ của lối nói ấy, mà theo cách người ta yêu khi sự việc là cấm đoán và vô lý, và trên đó không thể hát lên những khúc ca nho nhỏ thanh bình của miền đồng bằng; say đắm dữ dội, bởi vậy mà lệ thuộc, thần phục, đau khổ và phục dịch như thế, chàng vẫn còn là con người đủ ranh mãnh để giữ lấy trong cảnh nô lệ của mình một sự tinh quái vừa đủ hầu biết khá rõ lòng tận tụy của chàng đối với người bệnh lặng lẽ có đôi mắt xếch Tatar quyến rũ kia có thể có và giữ được giá trị thế nào: một giá trị mà, như chàng tự nhủ trong toàn thể sự phục tùng đau khổ của mình, nàng có thể được nhắc cho chú ý tới qua thái độ của Herr Settembrini đối với nàng, một thái độ chỉ quá rõ ràng xác nhận mối nghi ngờ của nàng, nghĩa là khước từ nàng đến mức tối đa mà phép lịch sự nhân văn còn cho phép. Điều tai hại, hay đúng hơn, trong mắt Hans Castorp, có lợi, là ở trong quan hệ với Leo Naphta, nơi nàng hẳn đã đặt hy vọng, nàng cũng không tìm thấy sự đền bù thích đáng. Quả thật, ở đây nàng không vấp phải sự phủ định có tính nguyên tắc mà Herr Lodovico đối lập với bản tính của nàng, và các điều kiện đàm thoại thì thuận lợi hơn: đôi khi Clawdia và gã nhỏ sắc sảo ấy trò chuyện riêng với nhau về sách vở, về những vấn đề của triết học chính trị mà trong cách xử lý triệt để họ đồng điệu với nhau; và Hans Castorp ngây thật cùng tham gia vào đó. Nhưng hẳn nàng vẫn phải nhận ra ở sự niềm nở mà kẻ mới phất, thận trọng như mọi kẻ mới phất, dành cho nàng, một sự dè giữ quý tộc nào đó; chủ nghĩa khủng bố Tây Ban Nha của hắn, về căn bản, rất ít hòa hợp với thứ “Mähnschlichkeit” lang bạt và hay đóng sầm cửa của nàng; và sau hết, tinh vi hơn cả, còn có một ác cảm nhẹ mà khó nắm bắt, thứ mà với trực giác đàn bà nàng hẳn phải cảm thấy đang thổi về phía mình từ phía _cả hai_ đối thủ, Settembrini lẫn Naphta, cũng rõ như chính hiệp sĩ hội hóa trang của nàng cảm thấy nó thổi đến với mình, và nguồn gốc của nó nằm ở quan hệ của cả hai đối với chàng, Hans Castorp: sự bực bội của nhà giáo hóa đối với người đàn bà như một yếu tố gây quấy nhiễu và làm xao lãng, cái đối địch thầm lặng và nguyên thủy ấy đã gắn kết họ lại, vì trong đó sự bất hòa được cô đặc theo lối sư phạm của họ đã tự tiêu giải.
Chẳng phải một phần nào của sự thù nghịch ấy cũng chen vào thái độ của hai nhà biện chứng đối với Pieter Peeperkorn đó sao? Hans Castorp tin là mình nhận ra, có lẽ vì ác ý mà chàng đã chờ đợi điều ấy và nói chung không phải không háo hức muốn đưa ông vua nói lắp lại với hai “tham nghị chính phủ” của mình, như thỉnh thoảng chàng đùa gọi họ, lại gần nhau để quan sát hiệu quả. Mynheer ở ngoài trời không hoàn toàn có vẻ lẫm liệt như trong không gian khép kín. Chiếc mũ phớt mềm mà ông đội sụp xuống trán, che mái tóc trắng bốc lửa và những đường nét hùng vĩ nơi vầng trán, làm các nét mặt ông nhỏ đi, như co rúm lại, và hạ thấp cả vẻ uy nghi của chiếc mũi đỏ hồng. Cả dáng đi của ông cũng không đẹp bằng dáng đứng: ông có thói quen, trong mỗi bước ngắn của mình, thả nghiêng cả thân hình nặng nề, thậm chí cả cái đầu, hơi đổ sang bên phía bàn chân vừa bước tới, điều này gợi cảm giác hiền lành già cỗi hơn là vương giả; hơn nữa, phần nhiều ông cũng không đi với tư thế vươn lên hết tầm vóc như khi đứng, mà có phần hơi chùng xuống. Nhưng ngay như vậy ông vẫn cao vượt Herr Lodovico lẫn, lại càng vượt, chú Naphta nhỏ bé, đến cả một cái đầu; và đó không phải là lý do duy nhất khiến sự hiện diện của ông đè nặng đến thế, đè nặng hoàn toàn đúng như Hans Castorp đã tưởng tượng trước, lên sự tồn tại của hai nhà chính trị ấy.
Đó là một sức ép, một sự hạ thấp và tổn giảm do so sánh, điều mà người quan sát từng trải cảm thấy rõ, và hẳn nhiên chính những người trong cuộc cũng cảm thấy rõ, cả kẻ gầy guộc quá đỗi khua môi múa mép lẫn kẻ nói lắp lẫm liệt. Peeperkorn đối đãi Naphta và Settembrini hết sức lịch thiệp và chú ý, với một vẻ kính trọng mà Hans Castorp hẳn đã gọi là mỉa mai, nếu sự thấu hiểu trọn vẹn của chàng về tính bất khả dung hòa giữa khái niệm ấy với khái niệm vóc lớn không ngăn chàng lại. Những ông vua không biết đến mỉa mai, ngay cả theo nghĩa một phương tiện tu từ thẳng băng và cổ điển, chưa nói đến một nghĩa phức tạp hơn. Và vì thế, điều đặc trưng cho cung cách của viên người Hà Lan đối với hai người bạn của Hans, dù ẩn dưới vẻ nghiêm trang hơi cường điệu hay lộ hẳn ra ngoài, đúng hơn phải gọi là một trò giễu cợt vừa tinh tế vừa lớn lối. “Vâng - vâng - vâng -!” ông hẳn có thể nói như thế, vừa giơ ngón tay dọa về phía họ, vừa quay đầu đi với cặp môi rách mỉm cười đùa cợt. “Đó là - Đó là -. Thưa các ngài, tôi xin hướng sự chú ý của các ngài - - Cerebrum, cerebral, hiểu chứ! Không - không, hoàn hảo, phi thường, ấy là, ở đây thì quả thật lộ ra - -.” Họ trả đũa bằng cách trao đổi với nhau những cái nhìn mà sau cuộc chạm mặt tuyệt vọng ngước cả lên trời, đồng thời cũng tìm cách kéo Hans Castorp vào đó, nhưng chàng từ chối.
Đôi khi Herr Settembrini trực tiếp gạn hỏi người học trò, và bằng thế bộc lộ sự bất an sư phạm của mình.
“Nhưng, nhân danh Chúa, kỹ sư ơi, đó là một ông già ngu xuẩn kia mà! Ông thấy gì ở y? Y có thể giúp ông tiến bộ được chăng? Tôi thật hết hiểu nổi! Mọi sự sẽ rõ cả, tuy hẳn chẳng đáng khen gì, nếu ông chỉ chấp nhận y như một món kèm theo, nếu trong sự giao du với y ông chỉ tìm sự giao du với người tình hiện thời của y. Nhưng không thể không thấy rằng ông gần như còn bận lòng về y hơn là về nàng. Tôi van ông, hãy giúp cho sự hiểu của tôi...”
Hans Castorp cười. “Hoàn toàn thế!” chàng nói. “Hoàn hảo! Sự thể là thế này - cho phép tôi - tốt!” Và chàng cũng cố bắt chước những điệu bộ kiểu cách của Peeperkorn. “Vâng, vâng,” chàng lại cười tiếp, “ông thấy điều ấy là ngu xuẩn, Herr Settembrini, và dẫu sao thì nó cũng mơ hồ, mà trong mắt ông điều ấy có lẽ còn tệ hơn cả ngu xuẩn. Ôi, ngu xuẩn. Có biết bao nhiêu loại ngu xuẩn khác nhau, và khôn ngoan chưa phải là loại tốt nhất trong số ấy... A! Hình như tôi vừa nặn ra được một câu, một lời, một _mot_. Ông thấy thế nào?”
“Rất khá. Tôi mong chờ với vẻ đầy kỳ vọng tập cách ngôn đầu tiên của ông. Có lẽ vẫn còn kịp để xin ông trong đó lưu ý tới vài nhận xét mà đôi khi chúng ta đã nêu ra về bản tính thù nghịch với con người của nghịch lý.”
“Xin vâng, thưa Herr Settembrini. Nhất định sẽ thế, tuyệt đối sẽ thế. Không, ông đừng tưởng tôi đang săn lùng nghịch lý bằng cái _mot_ của tôi. Tôi chỉ muốn chỉ ra những khó khăn to lớn mà việc xác định ‘ngu độn’ và ‘khôn ngoan’... gây ra thôi. Nghĩa là: gây ra, phải không nào? Hai thứ ấy khó tách bạch biết bao, chúng chồng lấn lên nhau biết bao... Tôi biết ông ghét cái _guazzabuglio_ thần bí ấy và đứng về phía giá trị, phán đoán, phán đoán giá trị, và ở điểm đó tôi hoàn toàn tán thành ông. Nhưng cái chuyện ‘ngu độn’ với ‘khôn ngoan’ này, đôi khi quả là một huyền nhiệm trọn vẹn, mà người ta hẳn cũng phải được phép bận tâm đến những huyền nhiệm, miễn là có một nỗ lực thành thật muốn, trong mức có thể, dò cho tới đáy của chúng. Tôi xin hỏi ông điều này. Tôi hỏi ông: ông có thể phủ nhận rằng ông ta bỏ tất cả chúng ta vào túi không? Tôi nói một cách thô thiển đấy, nhưng dẫu vậy, theo chỗ tôi thấy, ông không thể phủ nhận. Ông ta bỏ chúng ta vào túi, và từ đâu đó ông ta có cái quyền chế nhạo chúng ta. Từ đâu? Vì sao? Ở điểm nào? Dĩ nhiên không phải nhờ sự khôn ngoan của ông ta. Tôi thừa nhận rằng hầu như không thể nói đến khôn ngoan ở đây. Đúng hơn, ông ta là một con người của sự mơ hồ và của cảm tính, cảm tính quả đúng là cái búi tua của ông ta, xin ông thứ lỗi cho cách nói khẩu ngữ ấy! Vậy tôi nói: không phải nhờ khôn ngoan mà ông ta bỏ chúng ta vào túi, nghĩa là không vì những lý do tinh thần, ông hẳn sẽ phản đối điều ấy, và quả thật, khả năng đó phải gạt ra. Nhưng cũng chẳng phải vì thể chất! Chẳng lẽ vì đôi vai tay thuyền trưởng của ông ta, xét theo bạo lực cánh tay thô sơ và vì ông ta có thể đấm ngã bất kỳ ai trong bọn ta — chính ông ta cũng đâu nghĩ đến chuyện mình có thể làm thế, và giả như đôi khi ông ta có nghĩ đến, thì vài lời văn minh cũng đủ làm ông ta dịu lại... Vậy cũng không phải vì thể chất. Thế mà, không còn nghi ngờ gì nữa, cái thể chất vẫn có phần trong đó, không phải theo nghĩa bắp tay, mà theo một nghĩa khác, nghĩa thần bí — hễ cái thể chất đóng vai trò thì sự việc lập tức thành ra thần bí —; và cái thể chất chuyển sang cái tinh thần, và ngược lại, không thể phân biệt chúng với nhau, cũng như không thể phân biệt ngu độn với khôn ngoan, nhưng tác dụng thì vẫn có đó, cái sức năng động ấy, và chúng ta bị bỏ vào túi. Để gọi nó, người ta chỉ có trong tay một từ, và từ ấy là ‘nhân cách’. Hẳn người ta cũng cần dùng từ ấy theo nghĩa hợp lý thôi, theo kiểu tất cả chúng ta đều là những nhân cách — nhân cách đạo đức, nhân cách pháp lý, và đủ mọi thứ nhân cách khác. Nhưng ở đây không phải hiểu như thế. Mà là như một huyền nhiệm nằm vượt ra ngoài ngu độn và khôn ngoan, một huyền nhiệm mà người ta dẫu sao vẫn phải được phép bận tâm đến — phần thì để, trong mức có thể, dò cho tới đáy của nó, phần thì, chừng nào điều ấy không thể, lấy đó mà bồi bổ mình. Và nếu ông đứng về phía các giá trị, thì rốt cuộc nhân cách hẳn cũng là một giá trị tích cực, tôi tưởng vậy — tích cực hơn ngu độn và khôn ngoan, tích cực ở mức cao nhất, _absolut_ tích cực, như chính sự sống, nói ngắn lại: một giá trị của sự sống, và hoàn toàn đáng để người ta chuyên chú bận tâm đến. Đó là điều tôi tưởng mình phải đáp lại ông về lời ông nói liên quan đến sự ngu độn.”
Dạo gần đây Hans Castorp không còn rối tung và líu lưỡi trong những tràng tuôn lời như thế nữa, cũng không mắc kẹt giữa chừng. Chàng nói hết phần của mình, hạ giọng xuống, chấm dứt câu, rồi bước đi tiếp như một người đàn ông, mặc dầu mặt vẫn đỏ lên và kỳ thực vẫn có phần sợ cái im lặng phê phán sẽ theo sau lúc mình ngưng lời, để chàng có thì giờ mà xấu hổ. Herr Settembrini để mặc cho cái im lặng ấy ngự trị, rồi nói:
“Ông phủ nhận rằng mình đang săn lùng nghịch lý. Trong khi đó, ông biết rõ rằng tôi cũng không hề thích thấy ông săn lùng những huyền nhiệm. Biến nhân cách thành một bí mật, ông có nguy cơ sa vào thói thờ ngẫu tượng. Ông đang tôn sùng một cái mặt nạ. Ông nhìn thấy thần bí ở chỗ thực ra chỉ có sự bịp bợm, một trong những khuôn rỗng lừa dối mà con quỷ của cái thể xác - diện mạo đôi khi thích dùng để trêu chọc chúng ta. Ông chưa bao giờ giao du trong giới sân khấu sao? Ông không biết những cái đầu diễn viên kia, nơi những đường nét của Julius Caesar, Goethe và Beethoven như tụ lại làm một, còn chủ nhân may mắn của chúng, hễ vừa mở miệng, thì lại hiện nguyên hình là những gã ngốc khốn khổ nhất dưới mặt trời ư?”
“Được, một trò của tự nhiên,” Hans Castorp nói. “Nhưng dẫu vậy không chỉ là một trò của tự nhiên, không chỉ là sự trêu ngươi. Vì nếu những người ấy là diễn viên, thì hẳn họ phải có tài; mà tài năng thì tự nó cũng vượt lên trên ngu độn và khôn ngoan, tự nó cũng là một giá trị của sự sống. Mynheer Peeperkorn cũng có tài, ông muốn nói gì thì nói, và chính nhờ thế mà ông ta bỏ chúng ta vào túi. Hãy đặt Herr Naphta vào một góc phòng và để ông ấy diễn thuyết về Gregor Cả và quốc gia của Chúa, cực kỳ đáng nghe, còn ở góc bên kia Peeperkorn đứng với cái miệng kỳ lạ và những nếp trán nhướng cao của mình, chẳng nói gì ngoài ‘Hoàn toàn! Xin cho phép tôi - Xong rồi!’ — ông sẽ thấy, người ta sẽ vây quanh Peeperkorn, tất cả đều quanh ông ta, còn Naphta sẽ ngồi đó một mình với sự khôn ngoan và quốc gia của Chúa của mình, mặc dầu ông ấy diễn đạt minh bạch đến độ người nghe thấy thấu tận xương tủy lẫn hầu bao, như Behrens vẫn nói...”
“Hãy hổ thẹn vì sự sùng bái thành công của ông!” Herr Settembrini cảnh cáo chàng. “_Mundus vult decipi._ Tôi không đòi hỏi người ta phải tụ quanh Herr Naphta. Ông ta là một kẻ chuyên gây ngang trái đáng ngại. Nhưng trước cái cảnh tượng tưởng tượng mà ông tô vẽ bằng một sự tán thưởng đáng trách như vậy, tôi sẵn sàng đứng về phía ông ta. Cứ khinh miệt đi cái lời nói mạch lạc, chính xác và lôgic, cái lời nói nhân văn có đầu có đuôi! Cứ khinh miệt nó để tôn vinh một thứ phù phép của ám chỉ và lang băm cảm tính nào đó, thì quỷ sứ ắt đã nắm chắc ông rồi...”
“Nhưng tôi xin cam đoan với ông, nhiều khi ông ấy nói rất có đầu có đuôi, một khi đã nóng lên,” Hans Castorp nói. “Đôi khi ông ấy kể tôi nghe về những thứ thuốc kích lực và những cây độc châu Á, thú vị đến gần như rờn rợn - mà cái gì thú vị thì bao giờ cũng có đôi chút rờn rợn - và cái thú vị lại không hẳn nằm nơi bản thân những điều ấy cho bằng chính ở mối liên hệ với tác dụng nhân cách của ông ấy: chính tác dụng ấy làm cho mọi sự vừa rờn rợn vừa thú vị...”
“Dĩ nhiên, nhược điểm của ông đối với mọi cái Á châu thì ai cũng biết. Quả thật, những phép lạ như thế tôi không thể mang ra được,” Herr Settembrini đáp, với một vẻ cay đắng đến nỗi Hans Castorp vội vàng giải thích rằng ưu điểm trong lời chuyện trò và giáo huấn của ông, tất nhiên, nằm ở một phương diện hoàn toàn khác, và chẳng ai nảy ra ý đem so sánh để rồi làm thiệt cho cả đôi bên. Nhưng người Ý bỏ ngoài tai và khước từ phép lịch sự ấy. Ông nói tiếp:
“Dù sao, người ta vẫn phải cho phép mình khâm phục tính khách quan và sự điềm tĩnh của ông, thưa kỹ sư. Nó có phớt qua cái lố bịch một chút đấy, điều ấy hẳn ông sẽ thừa nhận. Xét cho cùng, tình thế là thế nào... Gã ngẫu tượng dầu mỡ ấy đã cướp mất Beatrice của ông, tôi gọi sự vật đúng tên của chúng. Thế còn ông? Thật không có tiền lệ.”
“Khác biệt khí chất thôi, thưa Herr Settembrini. Khác biệt về độ nóng và tinh thần hiệp sĩ của huyết quản. Dĩ nhiên, ông, một người phương Nam, hẳn sẽ viện đến thuốc độc và dao găm, hay ít ra cũng sẽ làm cho sự việc mang màu sắc xã hội - đam mê, nói ngắn gọn, kiểu gà trống. Hẳn đó sẽ rất nam tính, nam tính theo kiểu xã hội và hào hoa. Còn tôi thì khác. Tôi hoàn toàn không nam tính theo cái lối trong người đàn ông chỉ nhìn thấy một kẻ cùng phái đang tranh tình với mình, có lẽ nói chung tôi chẳng nam tính theo lối nào cả, nhưng nhất định không phải theo cái lối mà tôi vô thức gọi là ‘xã hội’, tôi cũng không biết vì sao. Trong lồng ngực sướt mướt của mình, tôi tự hỏi liệu tôi có gì để trách ông ta chăng. Ông ta có cố ý làm gì tôi không? Nhưng xúc phạm thì phải có chủ ý, nếu không thì không phải xúc phạm. Còn như cái chuyện ‘làm hại’, thì hẳn tôi phải vin vào _cô ấy_, mà đến đó thì tôi lại càng không có quyền, hoàn toàn không, mà riêng trong trường hợp Peeperkorn thì lại càng đặc biệt không hơn nữa. Vì thứ nhất, ông ta là một nhân cách, chỉ riêng điều ấy thôi cũng đã là cái gì đó đối với phụ nữ rồi, và thứ hai, ông ta không phải một người dân sự như tôi, mà là một loại quân nhân, như người anh em họ tội nghiệp của tôi, nghĩa là: ông ta có một _point d’honneur_, một cái búi tua danh dự, và đó là cảm tính, là sự sống... Tôi nói nhăng nói cuội đấy, nhưng tôi thà hơi ba hoa một chút mà diễn được lưng chừng một điều khó, còn hơn cứ mãi chỉ thốt ra những điều khuôn phép không chê vào đâu được, biết đâu đó cũng là một cái gì như nét quân nhân trong chân dung tính cách của tôi, nếu tôi được phép nói thế...”
“Cứ nói thế đi,” Herr Settembrini gật đầu. “Nếu vậy, quả nhiên đó sẽ là một nét đáng được khen ngợi. Dũng khí của nhận thức và của biểu đạt, ấy là văn chương, ấy là nhân tính...”
Thế là trong những dịp như vậy họ vẫn có thể chia tay nhau tương đối êm thấm; Herr Settembrini đem đến cho cuộc chuyện trò một kết thúc hòa giải, mà ông cũng có những lý do xác đáng để làm thế. Vị thế của ông trong câu chuyện ấy tuyệt nhiên không bất khả tổn thương đến mức ông nên đẩy sự nghiêm khắc đi quá xa; một cuộc đối thoại bàn về ghen tuông là thứ nền đất khá trơn đối với ông; đến một điểm nào đó, lẽ ra ông hẳn phải trả lời rằng, xét theo thiên hướng sư phạm của mình, mối quan hệ của ông với nam giới cũng không hoàn toàn thuộc loại xã hội - gà trống, bởi vậy gã Peeperkorn quyền lực ấy quấy nhiễu quỹ đạo của ông chẳng kém gì Naphta và bà Chauchat; và rốt cuộc ông không thể hy vọng thuyết phục học trò mình từ bỏ niềm tin vào tác dụng nhân cách và ưu thế tự nhiên, một điều mà chính ông cũng không tránh khỏi bị khuất phục chẳng kém người đối tác của mình trong các công việc thuộc trí não.
Đẹp nhất là khi những luồng gió trí tuệ nổi lên, khi họ tranh biện - khi có thể níu sự chú ý của những người dạo bộ vào một trong những cuộc tranh luận vừa tao nhã vừa nồng nhiệt, vừa hàn lâm mà lại được tiến hành bằng một giọng điệu như thể đang bàn đến những vấn đề thời sự và sinh tồn nóng bỏng nhất, những cuộc tranh luận mà hầu như chỉ riêng hai người phải đài thọ, và trong suốt thời gian ấy cái “tầm vóc” có mặt ở đó phần nào bị vô hiệu hóa, vì nó chỉ có thể đi bên cạnh họ bằng một vẻ ngạc nhiên nhíu mày và những mẩu phát ngôn đứt đoạn, mơ hồ chế giễu. Tuy nhiên, ngay trong những hoàn cảnh ấy, nó vẫn gây sức ép, phủ bóng lên cuộc trò chuyện, khiến cuộc trò chuyện dường như mất đi phần ánh rực, bằng một cách nào đó bị tước mất thực chất, đem đối chọi với nó một cái gì, ai nấy đều cảm được, tuy hẳn phần nó thì không ý thức, hoặc Chúa mới biết ý thức đến mức nào, một cái gì chẳng có lợi gì cho cả hai lập trường, và bởi thế cuộc tranh chấp nhạt đi về tầm quan trọng quyết định của nó, phải, đến nỗi - chúng tôi ngần ngại mà nói ra - dấu ấn của sự nhàn tản đã bị đóng lên trên đó. Hoặc, thử nói cách khác: mối hiềm chiến dí dỏm một mất một còn kia, một cách kín đáo, ngầm ngầm và mơ hồ, không ngừng quy chiếu về cái tầm vóc đang bước bên cạnh nó ấy và tự làm nhũn mình trong sức từ hút đó. Không còn cách nào khác để đặc tả tiến trình bí ẩn và rất bực mình đối với hai nhà tranh biện này. Chỉ có thể nói rằng, nếu không có Pieter Peeperkorn, thì người ta đã buộc phải nghiêng hẳn về một phía nghiêm ngặt hơn nhiều, chẳng hạn trong lúc Leo Naphta bênh vực bản chất cách mạng triệt để đến tận nền của Giáo hội chống lại học thuyết của Herr Settembrini, người chỉ muốn nhìn trong quyền lực lịch sử ấy độc nhất nữ chúa bảo hộ của sự cố chấp và duy tồn tăm tối, và muốn ràng buộc mọi thiện chí đứng về phía đời sống và tương lai, mọi thiện chí đã sẵn sàng cho đảo lộn và đổi mới, vào những nguyên tắc đối lập - những nguyên tắc khai minh, khoa học và tiến bộ - phát xuất từ một thời đại huy hoàng của sự tái sinh nền giáo dưỡng cổ đại, và ông khăng khăng giữ lấy lời tuyên xưng ấy bằng những phóng vung đẹp nhất của ngôn từ và cử chỉ. Bấy giờ Naphta, lạnh lùng và sắc nhọn, nhận sẽ chứng minh - và quả cũng chứng minh được gần đến mức không thể bác bỏ một cách lóa mắt - rằng Giáo hội, với tư cách hiện thân của ý niệm khổ hạnh tôn giáo, trong thâm tâm cách rất xa chuyện là đảng viên hay chỗ dựa cho bất cứ cái gì muốn được duy trì, tức cho nền văn hóa thế tục và các trật tự pháp quyền của nhà nước; trái lại, từ bao đời nay, Giáo hội vẫn là phía cấp tiến nhất, kẻ đã viết lên lá cờ của mình cuộc lật đổ tận gốc tận rễ; rằng tuyệt đối mọi thứ tưởng như đáng gìn giữ và được những kẻ hiền lành, những kẻ hèn nhát, những người bảo thủ, những người tư sản cố gìn giữ - nhà nước và gia đình, nghệ thuật và khoa học thế tục - bao giờ cũng chỉ tồn tại trong sự đối chọi có ý thức hay vô thức với ý niệm tôn giáo, với Giáo hội, mà khuynh hướng bẩm sinh và mục tiêu bất di bất dịch chính là giải thể mọi trật tự thế tục hiện hữu và tái kiến thiết xã hội theo hình mẫu của quốc gia lý tưởng, quốc gia cộng sản của Chúa.
Lời đáp sau đó thuộc về Herr Settembrini, và lạy trời! ông biết phải làm gì với nó. Một sự lẫn lộn như thế giữa tư tưởng cách mạng kiểu Lucifer với cuộc tổng nổi loạn của mọi bản năng xấu xa, ông nói, quả thật đáng buồn. Suốt bao thế kỷ, lòng ham thích đổi mới của Giáo hội đã thể hiện ở việc tra hỏi, bóp nghẹt, làm ngạt trong khói giàn hỏa cái tư tưởng sinh thành sự sống; mà ngày nay, qua những sứ giả của mình, nó lại tự xưng là hoan hỷ trước sự đảo lộn, với lý do mục tiêu của nó là thay thế tự do, giáo dưỡng và dân chủ bằng nền độc tài của đám ô hợp và sự dã man. Eh, quả thật, một kiểu nhất quán đầy ghê rợn của mâu thuẫn, một sự mâu thuẫn nhất quán...”
Về phương diện mâu thuẫn và nhất quán như thế, Naphta đáp, đối thủ của ông cũng chẳng hề thiếu. Tự lượng giá mình là nhà dân chủ, vậy mà ông lại phát biểu chẳng mấy thân thiện với nhân dân và bình đẳng, trái lại còn để lộ một vẻ hống hách quý tộc đáng trách khi gọi giai cấp vô sản thế giới, lực lượng được kêu gọi đảm nhận nền chuyên chính thay mặt, là đám ô hợp. Nhưng với tư cách một nhà dân chủ, trên thực tế, hiển nhiên ông ta đối xử với Giáo hội - mà quả thực, phải thừa nhận một cách kiêu hãnh, là quyền lực cao quý nhất trong lịch sử nhân loại - như thế đó; cao quý theo nghĩa sau cùng và cao nhất, tức nghĩa của tinh thần. Bởi lẽ tinh thần khổ hạnh - nếu cho phép được nói bằng lối thừa ngữ - tinh thần phủ nhận thế gian và hủy diệt thế gian, chính là sự cao quý tự thân, là nguyên lý quý tộc ở dạng thuần khiết; nó không bao giờ có thể bình dân, và trong mọi thời đại, Giáo hội về cơ bản vẫn là không được lòng dân. Chỉ cần bỏ một chút công phu văn chương vào văn hóa Trung cổ, Herr Settembrini sẽ nhận ra sự thật ấy - cái ác cảm thô nhám mà dân chúng, mà quả thật là dân chúng theo nghĩa rộng nhất, đã dành cho bản chất giáo hội; chẳng hạn đối với một số hình tượng tu sĩ, những sáng chế của trí tưởng tượng thi ca bình dân, vốn đã đem rượu, đàn bà và ca hát đối lập với ý niệm khổ hạnh theo một lối khá là Lutheran rồi đó. Mọi bản năng của tinh thần anh hùng thế tục, toàn bộ khí chất chiến binh, cộng thêm thi ca cung đình, đều đứng trong thế đối lập ít nhiều công khai với ý niệm tôn giáo và do đó với phẩm trật giáo hội. Bởi vì tất cả những cái ấy đều là “thế gian” và là thứ ô hợp so với sự cao quý của tinh thần được Giáo hội thể hiện.
Herr Settembrini cảm ơn về sự nhắc nhớ ấy. Hình tượng tu sĩ Ilsan trong “Rosengarten” vẫn còn nhiều điều khoan khoái hơn cái thứ quý tộc nghĩa địa đang được ca tụng ở đây, và nếu ông, người đang phát biểu, không phải là bạn của nhà cải cách Đức vừa được ám chỉ tới, thì người ta vẫn sẽ thấy ông sẵn lòng nồng nhiệt bảo vệ tất cả những gì thuộc về chủ nghĩa cá nhân dân chủ nằm ở nền tảng học thuyết của vị ấy, chống lại bất kỳ dục vọng thống trị mang tính giáo quyền - phong kiến nào đè lên nhân cách.
“Êi!” Naphta bỗng kêu lên. Họ định gán cho Giáo hội cả cái thiếu sót về tính dân chủ, về ý thức đối với giá trị của nhân cách con người kia sao? Thế còn sự vô tư không thành kiến đầy nhân đạo của giáo luật, thứ luật mà, trong khi luật La Mã làm năng lực pháp lý lệ thuộc vào việc có quyền công dân, luật Germanic lại gắn nó với sự thuộc về một dân tộc và với tự do cá nhân, thì chỉ đòi hỏi sự hiệp thông với Giáo hội và chính thống tín, gạt bỏ mọi cân nhắc nhà nước và xã hội, và khẳng định năng lực lập di chúc cũng như thừa kế của nô lệ, tù binh chiến tranh, kẻ không tự do, thì sao?!”
Khẳng định ấy, Settembrini chua chát nhận xét, hẳn không được duy trì mà không có liếc mắt sang “phần theo giáo luật”, khoản vẫn phải trích ra trong mọi di chúc. Ngoài ra ông nói đến “thứ mị dân của bọn thầy tu”, gọi đó là cái vẻ niềm nở của một dục vọng quyền lực vô điều kiện muốn khuấy động hạ giới, khi các thần minh, điều này cũng dễ hiểu thôi, chẳng muốn biết gì đến mình, và cho rằng đối với Giáo hội, số lượng linh hồn hiển nhiên quan trọng hơn phẩm chất của chúng, điều khiến người ta phải kết luận về một sự thiếu cao quý sâu xa của tinh thần.
Thiếu cao quý trong tâm ý, Giáo hội ư? Người ta khiến Herr Settembrini chú ý tới tính quý tộc không khoan nhượng vốn làm nền cho ý niệm về tính di truyền của ô nhục: việc chuyển giao tội lỗi nặng nề cho những hậu duệ, những kẻ, nói theo lối dân chủ, dẫu sao cũng vô tội; chẳng hạn như vết nhơ suốt đời và tình trạng vô quyền của con ngoài giá thú. Nhưng ông xin đừng bàn tới chuyện ấy nữa, thứ nhất vì cảm thức nhân đạo của ông nổi loạn chống lại nó, và thứ hai vì ông đã chán ngấy những lắt léo, nhận ra trong các thủ pháp của lối biện giáo từ phía đối phương chính là sự sùng bái cái Hư vô, hoàn toàn đê tiện và quỷ quái, thứ muốn được gọi là tinh thần, và khiến người ta cảm nhận tính không được ưa chuộng đã bị thú nhận của nguyên tắc khổ hạnh như một điều hợp lẽ, thiêng liêng đến thế.
Đến đây Naphta rốt cuộc xin phép được bật cười thành tiếng. Người ta nói tới chủ nghĩa hư vô của Giáo hội ư! Tới chủ nghĩa hư vô của hệ thống thống trị duy thực nhất trong lịch sử thế giới ư! Vậy là Herr Settembrini chưa từng được chạm tới dù chỉ một làn hơi của thứ mỉa mai nhân hậu mà với nó Giáo hội vẫn không ngớt nhượng bộ thế gian, nhục thể, che khuất những hệ luận sau cùng của nguyên tắc trong một sự nhân nhượng khôn ngoan, và để tinh thần hành xử như ảnh hưởng điều hòa, mà không đối xử quá nghiêm khắc với tự nhiên? Vậy hẳn ông cũng chưa từng nghe tới khái niệm Indulgenz tinh tế kiểu giáo sĩ, dưới đó ngay cả một bí tích, tức bí tích hôn phối, cũng được xếp vào, bí tích ấy nào phải là một thiện hảo tích cực như các bí tích khác, mà chỉ là một sự phòng hộ chống tội lỗi, chỉ được ban để hạn chế dục vọng xác thịt và sự vô độ, sao cho nguyên tắc khổ hạnh, lý tưởng trinh khiết, vẫn được khẳng định trong đó, mà nhục thể lại không bị chống đối với một sự sắc lạnh phi chính trị?
Làm sao Herr Settembrini có thể không lên tiếng phản đối một quan niệm “chính trị” ghê tởm đến thế, phản đối cái điệu bộ dung thứ và khôn ngoan đầy ngạo mạn mà tinh thần, tức cái ở đây tự xưng là tinh thần, dám tự phong cho mình đối với cái đối cực mà nó cho là có tội lỗi và cần được đối đãi một cách “chính trị”, trong khi trên thực tế đối cực ấy hoàn toàn chẳng cần đến thứ Indulgenz độc hại của nó; phản đối cái lối lưỡng phân bị nguyền rủa của một cách giải thích thế giới vốn ma quỷ hóa vũ trụ, tức là vừa ma quỷ hóa sự sống, lại đồng thời cả cái đối cực do mình tưởng tượng ra của sự sống là tinh thần: bởi nếu cái trước là xấu, thì cái sau, như một sự phủ định thuần túy, ắt cũng phải xấu! Và ông bẻ gãy một ngọn thương để bênh vực cho sự vô tội của khoái lạc xác thịt, khiến Hans Castorp phải nghĩ đến căn gác nhân văn chủ nghĩa của mình trên mái với chiếc bàn đứng, những ghế rơm và bình nước, trong khi Naphta, quả quyết rằng khoái lạc không bao giờ có thể không kèm tội lỗi, và tự nhiên trước cái tinh thần thì đương nhiên phải có lương tâm cắn rứt, lại định nghĩa chính trị của Giáo hội cùng Indulgenz của tinh thần là “tình yêu”, để bác bỏ chủ nghĩa hư vô của nguyên tắc khổ hạnh, và Hans Castorp thấy rằng chữ “tình yêu” thật là rất lạ lùng trên gương mặt Naphta nhỏ thó, gầy sắc ấy...
Cứ thế mà tiếp diễn, trò ấy ta đã biết, Hans Castorp cũng đã biết. Chúng ta đã cùng chàng lắng tai theo dõi trong chốc lát, để quan sát xem, chẳng hạn, một cuộc tỉ thí dạo bước như thế trông ra sao dưới bóng của nhân cách đang đi song hành bên cạnh, và sự hiện diện ấy bí mật làm nó mất thần kinh bằng cách nào: ấy là theo kiểu một sự cưỡng bách ngấm ngầm buộc phải quy chiếu về người đó làm chết tắt những tia lửa nhảy qua nhảy lại, và ép lên tâm trí ký ức về cảm giác tê lịm vô sinh lực vẫn trùm đến chúng ta khi một đường dây điện hóa ra chẳng có tiếp xúc nào. Đúng thế! sự việc là vậy. Không còn tiếng lách tách giữa những đối lập, không còn cú nhảy của tia chớp, không còn dòng điện, sự hiện diện, bị tinh thần làm cho trung hòa như tinh thần kia tưởng thế, trái lại lại trung hòa chính tinh thần; Hans Castorp nhận ra điều ấy với kinh ngạc và tò mò.
Cách mạng và bảo tồn, người ta nhìn sang Peeperkorn, thấy ông bước lững thững tới, đi bộ không đặc biệt uy nghi, với dáng bước gật ngang và chiếc mũ kéo sụp xuống trán; thấy đôi môi rộng, rách xé bất quy tắc của ông, và nghe ông nói, vừa đùa cợt chỉ đầu về phía những kẻ tranh biện: “Ja - ja - ja! Cerebrum, cerebral, hiểu chứ! Đấy là - Ở đó quả là lộ ra -”: và kìa, ổ cắm đã chết ngắc như chuột! Họ thử lại lần nữa, viện đến những câu triệu gọi mạnh hơn, quay sang “vấn đề quý tộc”, sang tính phổ biến và sự cao quý. Chẳng tia lửa nào cả. Một cách từ tính, cuộc chuyện trò ngoặt sang chỗ quy chiếu cá nhân; Hans Castorp thấy người bạn đồng hành của Clawdia nằm trên giường dưới tấm chăn chần đỏ bằng lụa, trong chiếc áo dệt kim không cổ, nửa công nhân già, nửa pho tượng bán thân của một vị vua, và sợi thần kinh của cuộc tranh luận tắt lịm trong một cái co giật mệt mỏi. Điện thế cao hơn nữa! Bên này là phủ định và sự sùng bái cái Hư vô, bên kia là tiếng vâng muôn thuở và khuynh hướng yêu thương của tinh thần đối với sự sống! Nhưng còn đâu thần kinh, tia chớp và dòng điện, khi người ta nhìn Mynheer, điều vẫn xảy ra tất yếu do một sức hút bí mật? Tóm lại, chúng đều _tắt ngóm_, và, theo lời Hansen, đó không ít mà cũng không hơn gì một điều bí nhiệm. Để ghi vào sưu tập châm ngôn của mình, chàng có thể lưu ý rằng một điều bí nhiệm được thốt ra bằng những lời đơn giản nhất, hoặc không nói ra chút nào. Muốn, nếu cần, nói ra điều ấy, người ta chỉ được phép nói, nhưng phải nói thẳng, rằng Pieter Peeperkorn, với chiếc mặt nạ vương giả đầy nếp gấp và cái miệng cay đắng rách toạc của ông, mỗi lần đều là cả hai, rằng cả hai đều dường như hợp với ông và đều tự tiêu giải ở trong ông, khi người ta nhìn ông: cái này và cái kia, điều nọ và điều kia. Phải, lão già ngốc nghếch ấy, con số không đầy đế vương ấy! Ông không làm tê liệt sợi thần kinh của những đối lập bằng sự rối rắm và lối cản ngang, như Naphta; ông không lưỡng nghĩa như gã nọ, ông lưỡng nghĩa theo một cách hoàn toàn ngược lại, theo một cách tích cực, điều bí nhiệm lảo đảo này, hiển nhiên vượt quá không chỉ sự ngu dốt và sự khôn ngoan đơn thuần, mà còn vượt qua biết bao nhiêu đối cực khác nữa, những đối cực mà Settembrini và Naphta triệu gọi để tạo ra một điện thế cao vì mục đích giáo hóa. Nhân cách, xem ra, không có tính giáo hóa, nhưng vậy mà nó lại là một cơ may biết bao cho một kẻ du hành giáo dưỡng! Thật kỳ lạ, khi chiêm ngắm sự lưỡng nghĩa ấy của một vị vua vào lúc những người giao chiến bàn tới hôn nhân và tội lỗi, tới bí tích của sự dung thứ, tới sự có tội và vô tội của khoái lạc xác thịt! Ông nghiêng đầu về vai và ngực, cặp môi đau nhức hé tách ra, miệng há ra mềm oặt như than van, lỗ mũi căng phồng và nở rộng như trong cơn đau, những nếp nhăn trên trán dâng lên và mở rộng đôi mắt thành một cái nhìn nhợt nhạt của khổ sở, một hình ảnh cay đắng. Và kìa, ngay trong khoảnh khắc ấy, nét mặt cực hình lại nở bừng thành sự phồn thịnh! Độ nghiêng xiên của cái đầu bỗng đổi nghĩa thành vẻ tinh quái, đôi môi vẫn còn mở mà cười dâm đãng, cái lúm đồng tiền sybarit, quen thuộc từ những dịp trước, hiện ra trên một bên má, vị tư tế ngoại giáo nhảy múa kia đã có mặt, và trong khi ông đùa cợt chỉ đầu về hướng đầy tính não bộ ấy, người ta nghe ông nói: “Ei, ja, ja ja - hoàn hảo. Đó là - Đó là những - Đến đây bèn hiện rõ - Bí tích của khoái lạc xác thịt, hiểu chứ - -”
Dẫu vậy, như chúng ta đã nói, suy cho cùng thì hai người bạn và cũng là hai vị sư phụ đã bị hạ thấp của Hans Castorp vẫn ở vào thế thuận lợi hơn cả khi họ còn có thể cãi cọ. Khi ấy họ ở trong nguyên tố của mình, còn tầm vóc thì không; và dầu sao người ta vẫn có thể phán đoán khác nhau về vai trò mà ông kia đóng trong chuyện ấy. Trái lại, điều hoàn toàn không đáng nghi là tình thế trở nên bất lợi cho họ khi không còn là chuyện của trí xảo, ngôn từ và tinh thần nữa, mà là chuyện sự vật, chuyện thực hành trần thế, nói ngắn, chuyện những câu hỏi và việc vặt mà chính trong đó những bản tính thống trị mới thật sự tỏ ra: khi ấy coi như họ xong đời, lùi vào bóng râm, trở nên mờ nhạt, còn Peeperkorn nắm vương trượng, định đoạt, quyết định, điều người, gọi món và ra lệnh... Có gì lạ khi ông cố đạt tới trạng thái ấy và gắng vượt từ logomachie sang phía bên kia của nó? Ông khổ sở chừng nào lối khẩu chiến còn ngự trị, hay ít nhất là khi nó ngự trị quá lâu; nhưng ông khổ sở vì nó không phải do hư vinh, Hans Castorp tin chắc điều đó. Hư vinh không có tầm vóc, và lớn lao thì không hư vinh. Không, nỗi khao khát đối với tính sự vật của Peeperkorn phát sinh từ những nguyên do khác: từ “sợ hãi”, nói một cách thô thiển và vụng về, từ cái tinh thần tận tụy vì nghĩa vụ và cơn xuất thần danh dự kia, điều mà Hans Castorp đã thử nhắc tới trước Herr Settembrini và muốn gọi là một nét gì đó có thể nói là quân nhân.
“Thưa các ông -”, người Hà Lan nói, đồng thời nâng bàn tay thuyền trưởng với những ngọn lao móng lên theo lối vừa khẩn khoản vừa mệnh lệnh. “- Tốt, thưa các ông, hoàn hảo, tuyệt diệu! Khổ hạnh - Indulgenz - lạc thú giác quan - Tôi muốn điều ấy - Nhất định! Cực kỳ quan trọng! Cực kỳ đáng tranh cãi! Nhưng xin cho phép tôi - Tôi e rằng chúng ta đang phạm một sự - Thưa quý ông, chúng ta đang trốn tránh, trốn tránh một cách vô trách nhiệm những điều thiêng liêng nhất -” Ông hít một hơi sâu. “Bầu không khí này, thưa quý ông, luồng gió föhn đầy cá tính của ngày hôm nay, với cái dư vị dịu dàng làm nhụt thần kinh, chan chứa linh cảm và hồi ức của hương xuân, lẽ ra chúng ta không nên hít vào chỉ để rồi dưới hình thức - Tôi khẩn thiết xin: ta không nên làm thế. Đó là một sự xúc phạm. Chỉ riêng đối với chính nó chúng ta mới nên dành trọn vẹn và toàn bộ - ô, cái sự hiện diện tinh thần cao nhất và trọn vẹn nhất của chúng ta - Xong rồi, thưa quý vị! Và chỉ như một lời ngợi ca thuần túy những phẩm tính của nó, chúng ta mới nên lại thở nó ra khỏi lồng ngực - - Tôi ngắt lời mình, thưa quý vị! Tôi ngắt lời mình để tỏ lòng tôn kính đối với cái -” Ông đã đứng lại, ngả người ra sau, lấy chiếc mũ che bóng cho mắt, và tất cả đều noi theo. “Tôi hướng,” ông nói, “sự chú ý của quý vị lên cao, rất cao, vào cái điểm đen đang lượn vòng kia ở trên kia, dưới cái màu xanh khác thường, ánh sang sắc đen - Đó là một chim săn mồi, một chim săn mồi lớn. Đó là, nếu mọi thứ không đánh lừa tôi - Thưa các ông, và cả cô nữa, con yêu, đó là một con đại bàng. Tôi hết sức dứt khoát hướng - Trông kìa! Đó không phải diều hâu cũng không phải kền kền, giả như quý vị có cái nhìn bao quát như tôi, với ngày một - Vâng, con yêu, quả vậy, với ngày một tăng thêm. Tóc tôi bạc nhợt, dĩ nhiên. Thì quý vị hẳn sẽ thấy rõ như tôi, ở chỗ tròn tù của đôi cánh - Một con đại bàng, thưa quý vị. Một con đại bàng vàng. Nó đang lượn ngay trên đầu chúng ta trong nền xanh, lơ lửng không một nhịp cánh ở một độ cao hùng vĩ trên đầu chúng ta và hẳn đang rình tìm bằng đôi mắt uy mãnh, nhìn xa của nó dưới những bờ xương mày nhô ra - Con đại bàng, thưa quý vị, chim của Jupiter, vị vua của giống loài mình, con sư tử của không trung! Nó có quần lông và một cái mỏ bằng sắt, chỉ ở đầu mới đột ngột cong lại bằng sắt, và những móng vuốt có sức mạnh ghê gớm, những vuốt câu quặp vào trong, những cái trước được cái sau dài bằng sắt kẹp giữ. Trông đây, thế này!” Và ông cố dùng bàn tay thuyền trưởng với những móng dài của mình để mô tả vuốt đại bàng. “Ông bạn, mi đang lượn và đang rình gì thế!” ông lại hướng lên trên mà nói. “Lao xuống đi! Phang vào đầu nó, vào mắt nó bằng cái mỏ sắt, xé toang bụng cái sinh vật mà Chúa đã - - Hoàn hảo! Xong rồi! Móng vuốt mi hẳn phải quấn chặt trong ruột gan nó và mỏ mi phải ròng ròng máu -”
Ông hứng chí; thế là sự tham dự của đoàn tản bộ vào những phản đề của Naphta và Settembrini coi như chấm dứt. Hơn nữa, hiện tượng con đại bàng còn lặng lẽ ngân vang trong những quyết định và cuộc hành động tiếp sau đó dưới sự chỉ huy của Mynheer: người ta ghé quán, người ta ăn uống, hoàn toàn trái giờ giấc, nhưng với một cơn thèm ăn được nhen lên bởi ký ức im lặng về con đại bàng; một cuộc chè chén ăn nhậu như Mynheer vẫn thường bày ra cả ở ngoài Berghof, hễ gặp chỗ nào thích hợp, tại “Platz” và “Dorf”, trong một quán trọ ở Glaris hay Klosters mà người ta đi tàu con tới trong những cuộc dạo chơi: dưới quyền cai quản vương giả của ông, người ta thưởng thức những tặng vật cổ điển: cà phê kem với đồ nướng nhà quê hoặc pho mát mọng trên thứ bơ Alpes thơm nức, thứ cũng hợp tuyệt với những hạt dẻ rang nóng, thêm rượu đỏ Veltlin bao nhiêu tùy thích; và Peeperkorn phụ họa bữa ăn ứng khẩu bằng những câu rời đoạn lớn lao, hoặc gọi Anton Karlowitsch Ferge nói chuyện, người chịu đựng hiền lành ấy, kẻ hoàn toàn xa lạ với mọi điều cao hơn, nhưng lại biết kể hết sức cụ thể về kỹ nghệ chế tạo giày cao su Nga: người ta trộn khối cao su với lưu huỳnh và những chất khác, còn đôi giày thành phẩm, đã sơn bóng, thì được “lưu hóa” trong sức nóng hơn một trăm độ. Ông ta cũng nói về Vòng Cực, bởi ngay cả tới đó những chuyến công cán của ông cũng đã nhiều lần đưa ông đi: về mặt trời lúc nửa đêm và mùa đông vĩnh cửu ở mũi Bắc. Ở đó, ông nói bằng cái cổ họng gân guốc và từ dưới bộ ria mép rủ của mình, con tàu hơi nước trông thật nhỏ nhoi trước khối đá ghê gớm và mặt biển màu xám thép. Và những vệt sáng vàng trải ra trên bầu trời, đó là ánh cực quang. Và tất cả đều hiện ra với chính Anton Karlowitsch như ma quái, cả toàn cảnh lẫn bản thân ông nữa.
Tới đây là hết phần Herr Ferge, người duy nhất trong nhóm nhỏ không vướng vào bất cứ mối quan hệ chạy tới chạy lui nào. Còn về những mối ấy, thì cần ghi lại hai cuộc nói chuyện ngắn, hai cuộc đối thoại kỳ quái riêng tư, được người anh hùng không anh hùng của chúng ta tiến hành vào thời kỳ đó với Clawdia Chauchat và người bạn đồng hành của nàng: với từng người một, một cuộc trong đại sảnh vào một giờ chiều tối, khi “sự quấy nhiễu” nằm sốt trên kia, và cuộc kia vào một buổi chiều bên giường nằm của Mynheer...
Đại sảnh chiều hôm ấy ngự trị trong nửa tối. Cuộc quần tụ theo lệ thường đã lờ đờ và chóng vánh, và sớm, khách khứa đã rút về những lôgia ngoài ban-công để làm phận sự nằm nghỉ buổi khuya, trừ những ai bước đi theo những con đường trái phép của chế độ điều dưỡng, xuống dưới miền đời kia, đến chỗ khiêu vũ và cờ bạc. Chỉ có một ngọn đèn đâu đó trên trần còn cháy trong căn phòng vắng ngắt, và cả những phòng sinh hoạt liền kề cũng chỉ lờ mờ sáng. Nhưng Hans Castorp biết rằng Frau Chauchat, người đã dùng bữa tối mà không có vị chúa tể của mình, vẫn chưa trở lại tầng một, mà còn nán một mình trong phòng viết đọc, và chính vì vậy chàng cũng chần chừ chưa đi lên. Chàng ngồi ở phần sau của đại sảnh, phần được nâng cao lên bằng một bậc thấp và tách khỏi gian chính bởi vài vòm trắng với những cây cột bọc gỗ, ngồi bên lò sưởi ốp gạch, trên một chiếc ghế bập bênh kiểu như chiếc mà thuở nọ Marusja đã đung đưa, khi Joachim có với nàng cuộc trò chuyện duy nhất, tuyệt đối duy nhất của mình, và hút một điếu thuốc lá, như vào giờ này ở đây có lẽ còn có thể cho phép.
Nàng đến, chàng nghe tiếng bước chân nàng, tiếng váy áo sau lưng, nàng đã đứng cạnh chàng, phe phẩy một bức thư cầm ở một góc trong không khí, và nói bằng giọng Pribislav của nàng:
“Người gác cổng đi rồi. Ông đưa tôi một _timbre poste_ đi!”
Tối ấy nàng mặc lụa sẫm mỏng, một chiếc váy khoét cổ tròn và tay áo rộng, phía dưới khép lại ôm sát cổ tay thành những măng-sét cài nút. Chàng thích ngắm điều ấy. Nàng đeo chuỗi ngọc trai, lấp lánh nhợt nhạt trong chạng vạng. Chàng ngước nhìn lên khuôn mặt Kirghiz của nàng. Chàng lặp lại:
“_Timbre?_ Tôi không có.”
“Sao lại, không có? _Tant pis pour vous._ Không sẵn sàng làm vui lòng một quý bà sao?” Nàng bĩu môi và nhún vai. “Điều đó làm tôi thất vọng. Các ông lẽ ra phải chính xác và đáng tin cậy chứ. Tôi đã tưởng tượng rằng trong một ngăn ví giấy của ông có những tờ nhỏ gấp sẵn đủ mọi loại, xếp theo từng bậc mệnh giá.”
“Không, để làm gì?” chàng nói. “Tôi chẳng bao giờ viết thư. Viết cho ai kia chứ? Cùng lắm rất hiếm mới gửi một tấm bưu thiếp, mà lại đã dán tem sẵn. Tôi biết viết thư cho ai đây? Tôi không có ai cả. Tôi chẳng còn chút dây liên hệ nào với miền đồng bằng nữa, nó đã vuột mất khỏi tôi rồi. Chúng tôi có một bài trong sách dân ca, trong đó có câu: ‘Tôi đã mất khỏi cõi đời’. Tôi đúng là như thế đấy.”
“Thế thì ít ra cũng đưa tôi một điếu Papyros đi chứ, con người lạc loài!” nàng nói, vừa ngồi xuống chiếc ghế dài trải đệm vải gai bên lò sưởi, đối diện chàng, bắt chéo chân và chìa tay ra. “Có vẻ như khoản ấy thì anh vẫn có sẵn.” Và nàng thản nhiên, không một lời cảm ơn, lấy từ chiếc hộp bạc của chàng điếu thuốc chàng đẩy tới, rồi dùng chiếc bật lửa bỏ túi mà chàng đưa ngọn lửa lên trước gương mặt nàng đang cúi nghiêng. Trong cái giọng uể oải “Cứ đưa đây nào!” ấy, trong cách nhận lấy mà không cảm ơn ấy, có sự sung mãn của một người đàn bà được nuông chiều, nhưng hơn thế nữa còn có ý vị của sự gần gũi giữa người với người, hay đúng hơn: của một tình bằng vai phải lứa rất “con-người”, của cái lẽ tự nhiên vừa hoang dại vừa mềm mại trong cho và nhận. Chàng tự phê phán điều ấy trong lòng, theo kiểu của một kẻ đang yêu. Rồi chàng nói:
“Vâng, khoản ấy thì lúc nào cũng có. Về khoản ấy thì quả thật tôi luôn có sẵn. Thứ ấy phải có chứ. Không có nó thì xoay xở sao nổi? Phải không, người ta gọi là một thứ đam mê, khi một kẻ nói như thế. Thành thật mà nói, tôi vốn chẳng phải một con người đam mê, nhưng tôi có những đam mê, những đam mê điềm đạm.”
“Tôi hết sức yên tâm”, nàng nói, vừa nhả làn khói vừa cất tiếng, “khi nghe rằng anh không phải là một con người đam mê. Vả lại, làm sao anh có thể thế được? Anh hẳn phải là kẻ lệch nòi. Đam mê tức là sống vì sự sống. Nhưng ai cũng biết rằng hạng các anh sống vì kinh nghiệm. Đam mê tức là quên mình. Nhưng các anh lại chỉ chăm bồi bổ cho mình. _C’est ça._ Anh không hề biết rằng đó là một thứ ích kỷ ghê tởm, và rằng rồi sẽ có ngày các anh đứng đó như những kẻ thù của nhân loại hay sao?”
“Khoan đã, khoan đã! Đã thành kẻ thù của nhân loại cơ à? Em nói gì thế, Clawdia, nghe chung chung quá? Em có điều gì xác định và riêng tư nào trong đầu mà bảo rằng điều chúng ta nhắm tới không phải là sự sống mà là sự bồi bổ? Giới đàn bà các em đâu có đạo đức hóa một cách vu vơ đến thế. À, còn đạo đức nữa chứ, em biết đấy. Cái đó là một vụ tranh chấp của Naphta với Settembrini. Nó thuộc địa hạt của cơn hỗn mang lớn. Một người sống vì bản thân mình hay vì sự sống, ngay chính người ấy cũng chẳng biết, và không ai có thể biết một cách thật chuẩn xác, thật chắc chắn. Theo tôi, ranh giới ấy trôi chảy lắm. Có sự hiến mình ích kỷ và cũng có ích kỷ biết hiến mình... Tôi tin rằng rút lại thì cũng như trong tình yêu mà thôi. Dĩ nhiên là có lẽ thật vô luân khi tôi không mấy để tâm đến những điều em nói với tôi về đạo đức, mà trước hết chỉ mừng rằng chúng ta đang ngồi bên nhau, như mới chỉ có một lần duy nhất trước đây, và từ khi em trở lại thì chưa lần nào nữa. Và rằng tôi có thể nói với em em hợp với những chiếc cổ tay áo bó sít nơi cổ tay ấy biết bao, và với lớp lụa mỏng rộng thùng thình quanh cánh tay em biết bao, quanh những cánh tay của em, những cánh tay mà tôi biết...”
“Tôi đi đây.”
“Xin em đừng đi! Tôi sẽ lưu ý đến hoàn cảnh và đến những cá nhân liên quan.”
“Ấy là điều mà người ta chí ít cũng có quyền trông đợi nơi một kẻ không có đam mê chứ.”
“Phải, em thấy chưa! Em chế giễu và mắng tôi khi tôi... Mà em lại muốn đi khi tôi...”
“Người ta được yêu cầu nói bớt khuyết thiếu đi, nếu muốn được hiểu.”
“Thế tức là tôi hoàn toàn không được, dù chỉ một chút thôi, chia phần trong tài đoán những điều thiếu hụt của em sao? Thật bất công, tôi đã sẽ nói thế, nếu tôi không thấy rằng ở đây không phải chuyện công bằng...”
“À không. Công bằng là một đam mê điềm đạm. Khác với ghen tuông, thứ mà những người điềm đạm hẳn sẽ làm cho mình trở nên lố bịch.”
“Em thấy chưa? Lố bịch. Vậy thì hãy để tôi giữ lấy cái điềm đạm của mình! Tôi nhắc lại: không có nó thì tôi xoay xở sao nổi? Chẳng hạn, không có nó thì làm sao tôi chịu đựng nổi việc chờ đợi?”
“Xin hỏi?”
“Chờ em.”
“_Voyons, mon ami._ Tôi sẽ không nấn ná thêm về cái lối anh cứ khăng khăng ngớ ngẩn mà nói với tôi nữa. Rồi anh cũng sẽ chán thôi, mà rốt cuộc tôi cũng đâu phải thứ người kiểu cách, một bà vợ thị dân phẫn nộ...”
“Không, bởi vì em bệnh. Bệnh tật cho em tự do. Nó làm em thành... khoan, bây giờ tôi chợt nghĩ ra một từ mà chưa bao giờ tôi dùng! Nó làm em thành thiên tài!”
“Chuyện thiên tài để hôm khác hãy bàn. Tôi không định nói điều đó. Tôi đòi anh một điều. Anh sẽ không giả vờ rằng chuyện anh chờ đợi tôi, nếu quả anh đã chờ, có dính dáng gì tới tôi, rằng tôi đã khuyến khích anh làm thế, hoặc dù chỉ cho phép anh làm thế. Anh sẽ lập tức xác nhận rõ ràng với tôi rằng sự thật hoàn toàn ngược lại...”
“Sẵn lòng, Clawdia, dĩ nhiên rồi. Em không hề bảo tôi phải chờ, tôi tự ý chờ đợi. Tôi hoàn toàn hiểu rằng em coi trọng điều ấy...”
“Ngay đến những sự nhượng bộ của anh cũng có cái gì đó xấc xược. Nói chung anh là một con người xấc xược, Chúa biết tại sao. Không chỉ trong giao tiếp với tôi, mà cả ở những chỗ khác nữa. Ngay cả sự ngưỡng mộ của anh, sự tự đặt mình dưới người khác của anh cũng có cái gì đó xấc xược. Đừng tưởng tôi không nhìn ra! Đúng ra tôi chẳng nên nói chuyện với anh, vì lẽ đó, và cũng vì lẽ anh dám nói đến chờ đợi. Thật vô trách nhiệm khi anh vẫn còn ở đây. Từ lâu anh lẽ ra đã phải trở lại với công việc của mình rồi, _sur le chantier_, hay ở đâu đó...”
“Bây giờ em nói chẳng thiên tài chút nào, mà hoàn toàn quy ước, Clawdia ạ. Đó chỉ là một lối nói thôi. Như Settembrini, em không thể nói thế theo đúng nghĩa đen được, mà ngoài ra thì còn có thể hiểu sao nữa. Nói buột miệng vậy thôi, tôi không thể coi là nghiêm chỉnh được. Tôi sẽ không cuống cuồng bỏ đi như người anh em họ đáng thương của tôi, người mà, như em đã tiên đoán, đã chết khi cố gắng trở lại miền đồng bằng làm nhiệm vụ, và hẳn chính cậu ấy cũng biết mình sẽ chết, nhưng vẫn thà chết còn hơn tiếp tục ở đây làm nhiệm vụ dưỡng bệnh. Được, vì cậu ấy là lính. Nhưng tôi thì không, tôi là dân sự; đối với tôi, làm như cậu ấy, nhất quyết, bất chấp lệnh cấm của Radamanth, mà muốn ở miền đồng bằng trực tiếp phụng sự cho ích lợi và tiến bộ, như thế tức là đào ngũ. Đó sẽ là sự vong ân và bất trung lớn nhất đối với bệnh tật và thiên tài, và đối với tình yêu của tôi dành cho em, thứ tình yêu để lại trên tôi những vết sẹo cũ và những thương tích mới, và đối với những cánh tay của em, những cánh tay tôi biết, dẫu tôi cũng thừa nhận rằng chỉ là trong mơ, trong một giấc mơ thiên tài, mà tôi làm quen với chúng, đến nỗi dĩ nhiên từ đó không thể nảy sinh cho em bất cứ hậu quả, nghĩa vụ hay hạn chế nào đối với tự do của em...”
Nàng cười, điếu thuốc lá trên môi, khiến đôi mắt Tatar của nàng nheo lại, và, tựa người ra sau vào tấm ốp gỗ, hai tay chống bên mình lên ghế dài, chân nọ gác lên chân kia, nàng đung đưa bàn chân trong chiếc giày da láng đen.
“_Quelle générosité! Oh là, là, vraiment_, tôi vẫn luôn hình dung một _homme de génie_ đúng là như thế đấy, chàng bé nhỏ đáng thương của tôi ạ!”
“Thôi, Clawdia. Dĩ nhiên tự bản tính tôi không phải một _homme de génie_, cũng như tôi không phải là một người có tầm vóc, lạy Chúa, không đâu. Nhưng rồi một cách tình cờ, cứ gọi là tình cờ đi, tôi đã bị xô đẩy lên cao đến những miền thiên tài này... Tóm lại, chắc em không biết rằng có một thứ giáo dục kiểu giả kim-hermetisch, một sự chuyển thể, mà lại là chuyển lên bậc cao hơn, nghĩa là một sự nâng bậc, nếu em muốn hiểu tôi cho đúng. Nhưng dĩ nhiên, một chất liệu muốn thích hợp để bị những tác động bên ngoài đẩy lên, ép lên cái cao hơn, thì hẳn từ trước đã phải có sẵn một chút gì của cái ấy trong bản thân nó. Và cái tôi đã có sẵn trong mình, tôi biết rõ lắm, là từ rất lâu tôi đã sống thân quen với bệnh tật và cái chết, và ngay từ thuở bé đã vô lý mượn của em một cây bút chì, như ở đây trong đêm hóa trang. Nhưng tình yêu vô lý thì mang tính thiên tài, bởi vì cái chết, em biết đấy, là nguyên lý thiên tài, là _res bina_, là _lapis philosophorum_, và nó cũng là nguyên lý sư phạm, bởi tình yêu đối với nó dẫn tới tình yêu đối với sự sống và con người. Đúng là như thế, trong lôgia ban công của tôi điều ấy đã bừng ra, và tôi ngây ngất vì được nói với em điều đó. Có hai con đường dẫn tới sự sống: một là con đường thông thường, trực tiếp và lương thiện. Con đường kia thì tệ hại, nó đi qua cái chết, và đó là con đường thiên tài!”
“Anh là một triết gia ngớ ngẩn,” nàng nói. “Tôi không dám quả quyết rằng tôi hiểu hết những ý nghĩ Đức rối rắm của anh, nhưng những điều anh nói nghe cũng rất ‘con-người’, và anh quả không nghi ngờ gì nữa là một cậu tốt. Vả lại, quả thật anh đã cư xử _en philosophe_, điều ấy phải công nhận ở anh...”
“Quá _en philosophe_ đối với khẩu vị của em đấy chứ, Clawdia, phải không?”
“Thôi những điều xấc xược ấy đi! Nghe phát chán rồi. Việc anh chờ là dại dột và không được phép. Nhưng anh không giận tôi vì đã chờ uổng chứ?”
“À, chuyện ấy có phần gay gắt, Clawdia ạ, ngay cả đối với một con người có những đam mê điềm đạm, gay gắt đối với tôi và cũng gay gắt từ phía em, việc em đi cùng ông ấy tới, bởi lẽ dĩ nhiên nhờ Behrens em biết tôi ở đây và chờ em. Nhưng tôi đã nói với em rằng đêm của chúng ta tôi chỉ coi như một đêm mộng, và rằng tôi dành cho em tự do của em. Rút lại thì tôi đâu có chờ uổng, vì em đã trở lại, chúng ta ngồi bên nhau như lần ấy, tôi nghe cái sắc nhọn kỳ diệu trong giọng em, từ lâu thân thuộc với tai tôi, và dưới lớp lụa rộng kia là những cánh tay của em, những cánh tay tôi biết, mặc dầu trên kia người bạn đồng hành của em đang nằm sốt, ông Peeperkorn vĩ đại, người đã tặng em chuỗi ngọc trai ấy...”
“Và người mà anh kết thân tốt đẹp như thế vì sự bồi bổ của anh.”
“Đừng trách tôi, Clawdia! Cả Settembrini cũng đã mắng tôi về điều đó, nhưng rút lại ấy chỉ là một thành kiến xã hội. Con người ấy là một món lợi, nhân danh Chúa, vì ông ấy quả là một nhân vật! Còn chuyện ông ấy đã có tuổi, thì vâng. Dù vậy tôi vẫn hoàn toàn hiểu được nếu em, với tư cách một người đàn bà, yêu ông ấy ghê gớm. Vậy là em yêu ông ấy lắm phải không?”
“Triết lý của anh xin cứ để nguyên giá trị của nó, cậu Hans Đức ạ,” nàng nói, vừa vuốt tóc chàng, “nhưng tôi sẽ không cho là ‘con-người’ nếu nói với anh về tình yêu của tôi dành cho ông ấy đâu!”
“Ôi, Clawdia, sao lại không. Tôi tin rằng tính con người bắt đầu đúng ở chỗ những người không có thiên tư tưởng rằng nó chấm dứt. Cứ bình thản nói về ông ấy đi! Em yêu ông ấy một cách đam mê chứ?”
Nàng cúi người ra trước để hất nghiêng điếu thuốc đã hút hết vào lò sưởi, rồi ngồi lại với hai cánh tay khoanh trước ngực.
“Ông ấy yêu tôi,” nàng nói, “và tình yêu của ông ấy làm tôi hãnh diện, biết ơn và tận tụy với ông ấy. Anh sẽ hiểu điều đó, nếu không thì anh không xứng với tình bằng hữu mà ông ấy dành cho anh... Tình cảm của ông ấy buộc tôi phải đi theo và phụng sự ông ấy. Không thế thì còn sao nữa? Anh cứ tự phán xét đi! Người ta lại có thể phớt lờ tình cảm của ông ấy được hay sao?”
“Không thể!” Hans Castorp xác nhận. “Không, điều ấy dĩ nhiên hoàn toàn không thể nghĩ tới. Làm sao một người đàn bà lại có thể làm nổi chuyện phớt lờ tình cảm của ông ấy, nỗi lo sợ của ông ấy cho tình cảm ấy, bỏ mặc ông ấy, nói như thế, trong Gethsemane...”
“Anh không ngu,” nàng nói, và đôi mắt xếch nhìn trừng trừng, đăm đăm suy tưởng. “Anh có đầu óc đấy. Lo sợ cho tình cảm...”
“Chẳng cần nhiều đầu óc lắm cũng thấy rằng em buộc phải đi theo ông ấy, mặc dầu, hay đúng hơn bởi vì, tình yêu của ông ấy hẳn phải có nhiều điều đáng sợ.”
“_C’est exact_... Đáng sợ. Vì ông ấy mà người ta phải lo lắng lắm, anh biết đấy, rất nhiều khó khăn...” Nàng đã cầm lấy tay chàng và vô thức nghịch các đốt ngón tay của chàng, nhưng bỗng ngước lên, mày nhíu lại, hỏi:
“Khoan! Chẳng phải thật hèn khi chúng ta nói về ông ấy như thế này sao?”
“Tuyệt nhiên không, Clawdia. Không, còn xa mới thế. Đó quả thật chẳng hơn gì là rất con người thôi! Em yêu cái từ ấy, em kéo dài nó ra một cách say mê, tôi vẫn luôn nghe nó từ miệng em với sự thích thú. Anh em họ Joachim của tôi không thích nó, vì những lý do nhà binh. Cậu ấy cho rằng nó có nghĩa là một sự nhão nhoẹt và buông tuồng chung chung, và hiểu như thế, như một _guazzabuglio_ vô bờ của lòng dung thứ, thì tôi cũng có những e dè của mình đối với nó, điều ấy tôi nhận. Nhưng nếu nó mang nghĩa của tự do, thiên tài và lòng tốt, thì quả là nó đáng kể lắm, và chúng ta hoàn toàn có thể viện nó ra để biện hộ cho cuộc trò chuyện của mình về Peeperkorn cùng những nỗi lo âu và khó khăn mà ông ấy gây cho em. Những điều ấy dĩ nhiên phát sinh từ cái mào danh dự của ông ấy, từ nỗi lo sợ rằng tình cảm sẽ bất lực, thứ khiến ông ấy yêu đến thế những phương tiện trợ lực và bồi dưỡng cổ điển, chúng ta có thể nói về điều ấy với tất cả lòng tôn kính, bởi ở nơi ông ấy mọi thứ đều có tầm vóc, tầm vóc vương giả lớn lao, và chúng ta không hạ thấp ông ấy cũng như chính mình, khi đem nó ra nói tới một cách con người.”
“Không phải chuyện chúng ta,” nàng nói và lại khoanh tay trước ngực. “Người ta hẳn chẳng còn là đàn bà nữa, nếu vì một người đàn ông, một người đàn ông có tầm vóc như anh nói, người mà đối với ông ta mình là đối tượng của tình cảm và của nỗi lo cho tình cảm, lại không sẵn lòng chấp nhận cả những hạ mình.”
“Nhất định rồi, Clawdia. Nói rất phải. Khi ấy, ngay cả sự hạ mình cũng có tầm vóc, và từ trên cao của nỗi hạ mình ấy, người đàn bà có thể nói với những kẻ không có tầm vóc vương giả một cách khinh thị như em vừa nói với tôi khi nhắc tới _timbres poste_, bằng cái giọng em đã bảo: ‘Ít ra thì các anh cũng phải chuẩn xác và đáng tin cậy chứ!’”
“Anh dễ tự ái à? Bỏ đi. Chúng ta tống cái tính tự ái xuống địa ngục đi, anh đồng ý chứ? Chính tôi cũng đã đôi khi tự ái, tôi xin nhận điều ấy, vì tối nay chúng ta đang ngồi bên nhau thế này. Tôi đã bực trước cái điềm đạm của anh, và trước việc anh tự đặt mình vào quan hệ thân thiện với ông ấy vì kinh nghiệm ích kỷ của anh. Tuy vậy điều đó vẫn làm tôi vui, và tôi biết ơn anh vì anh đã tỏ lòng kính trọng đối với ông ấy... Trong cách cư xử của anh có nhiều trung thành, và nếu có đôi chút xấc xược chen vào, thì rốt cuộc tôi cũng phải tính nó vào phần có lợi cho anh.”
“Em thật là tử tế.”
Nàng nhìn chàng. “Xem ra anh không thể sửa được nữa. Tôi sẽ nói cho anh biết: anh là một cậu láu lỉnh. Tôi không rõ anh có tinh thần hay không; nhưng nhất định anh có sự láu lỉnh. Mà cũng tốt thôi, người ta sống được với thứ ấy. Người ta có thể giữ tình bạn với thứ ấy. Chúng ta có muốn giữ tình bạn với nhau, lập một liên minh vì ông ấy, như người ta vẫn lập liên minh chống lại một ai đó không! Anh có bắt tay tôi về chuyện ấy không? Tôi thường lo lắm... Đôi khi tôi sợ phải một mình với ông ấy, cái một mình ở bên trong ấy, _tu sais_... Ông ấy đáng sợ... Đôi khi tôi sợ rồi sẽ không kết cục tốt với ông ấy... Đôi khi tôi rờn rợn... Tôi muốn có một người tốt ở bên cạnh mình... _Enfin_, nếu anh muốn nghe, thì có lẽ chính vì thế mà tôi đã cùng ông ấy lên đây...”
Họ ngồi đầu gối kề đầu gối, chàng trên chiếc ghế đong đưa nghiêng về phía trước, nàng trên băng ghế. Khi thốt ra những lời cuối cùng ấy ngay trước mặt chàng, nàng đã bóp tay chàng. Chàng nói:
“Với tôi ư? Ôi, thế thì đẹp quá. Ôi, Clawdia, thế thì thật là phi thường. Nàng đã cùng ông ấy đến với tôi ư? Thế mà nàng lại muốn bảo rằng sự chờ đợi của tôi là ngu xuẩn, không được phép, và hoàn toàn uổng công sao? Nếu tôi lại không biết quý trọng lời nàng ngỏ về tình bạn, tình bạn với nàng vì ông ấy, thì quả là vụng về hết sức...”
Bấy giờ nàng hôn chàng lên môi. Đó là một nụ hôn Nga, thuộc loại những nụ hôn được trao đổi trong xứ sở bao la, chan chứa linh hồn ấy vào những đại lễ Ki-tô giáo, như một sự ấn chứng tình yêu. Nhưng vì người trao đổi nó lại là một chàng trai nổi tiếng “xảo hoạt” và một người đàn bà cũng còn trẻ, lướt đi quyến rũ, nên trong lúc kể lại, từ xa chúng ta bất giác nhớ tới lối khéo léo, tuy không phải không thể chê, của bác sĩ Krokowski khi nói về tình yêu theo một nghĩa khẽ đong đưa, đến nỗi chẳng ai thật chắc rốt cuộc đó là điều đạo hạnh hay điều say đắm xác thịt. Có phải chúng ta đang làm như ông ta chăng, hay Hans Castorp và Clawdia Chauchat đã làm như thế với nụ hôn Nga của họ? Nhưng người ta sẽ nói sao nếu chúng ta dứt khoát từ chối đi tới tận cùng câu hỏi ấy? Theo ý chúng tôi, làm như vậy tuy có tính phân tích, nhưng, để nhắc lại lối nói của Hans Castorp, lại “vụng về hết sức”, và còn là một điều thật phản sinh mệnh, nếu trong những chuyện tình yêu người ta cố phân biệt cho “sạch sẽ” giữa cái đạo hạnh và cái say mê. Sạch sẽ là gì ở đây! Nghĩa đong đưa, sự nước đôi là gì ở đây! Chúng ta công khai cười nhạo điều đó. Há chẳng lớn lao và tốt đẹp sao khi ngôn ngữ chỉ có _một_ từ cho tất cả, từ điều mộ đạo nhất đến điều khát khao xác thịt nhất, mà người ta có thể hiểu dưới từ ấy? Đó là sự đơn nghĩa hoàn toàn trong chính cái nước đôi, bởi tình yêu không thể là phi thân xác trong chỗ đạo hạnh cùng cực, và cũng không thể là vô đạo trong chỗ xác thịt cùng cực; nó bao giờ cũng là chính nó, vừa như một sự thân thiện với sự sống đầy xảo hoạt, vừa như nỗi đam mê tối thượng, nó là sự đồng cảm với cái hữu cơ, là cái ôm ghì vừa cảm động vừa nhục cảm đối với điều đã định cho mục rữa, và ngay trong cơn đam mê đầy thán phục nhất hay cuồng nộ nhất, hẳn vẫn còn có Charitas. Nghĩa đong đưa ư? Nhưng nhân danh Chúa, cứ để cho nghĩa của tình yêu đong đưa đi! Chính sự đong đưa ấy là sự sống và tính người, và lo lắng về sự đong đưa ấy hẳn sẽ chỉ chứng tỏ một sự thiếu xảo hoạt thật hết sức thê lương.
Trong khi môi Hans Castorp và môi Frau Chauchat gặp nhau trong nụ hôn Nga ấy, ta hãy làm tối sân khấu nhỏ của mình để chuyển cảnh. Bởi giờ đây đến lượt cuộc chuyện trò thứ hai trong hai cuộc mà chúng ta đã hứa thuật lại; và khi ánh sáng được phục hồi, cái thứ ánh sáng lờ mờ của một ngày xuân đang tàn, vào mùa tuyết tan, chúng ta trông thấy người hùng của mình trong cảnh sống nay đã thành quen, bên giường đại nhân Peeperkorn, đang chuyện trò với ông bằng một giọng vừa kính cẩn vừa thân tình. Sau buổi trà bốn giờ trong phòng ăn, nơi Frau Chauchat, cũng như ở ba bữa trước đó, đã một mình xuất hiện, rồi ngay sau đó đi một chuyến _shopping_ xuống “Platz”, Hans Castorp đã cho vào báo để thực hiện một trong những lần thăm bệnh thường lệ nơi người Hà Lan, phần để tỏ sự quan tâm và tiêu khiển cho ông đôi chút, phần để chính mình được bồi bổ bởi sức tác động của nhân cách ấy, nói gọn lại, vì những động cơ đong đưa đầy sinh khí. Peeperkorn đặt tờ _Telegraaf_ sang bên, quăng chiếc kính kẹp sừng lên trên đó sau khi nhấc nó khỏi mũi bằng càng kính, rồi chìa ra cho vị khách bàn tay thuyền trưởng, trong khi đôi môi rộng, nứt nẻ của ông cử động mơ hồ với một vẻ đau rát. Rượu đỏ và cà phê vẫn ở trong tầm tay ông như thường lệ: bộ đồ cà phê đặt trên chiếc ghế cạnh giường, ố nâu vì dùng mãi; Mynheer đã uống món nước buổi chiều của mình, đặc và nóng, với đường và kem, như thường lệ, và vì thế ông đổ mồ hôi. Gương mặt vương giả viền lửa trắng của ông ửng đỏ, những giọt nhỏ đọng trên trán và môi trên.
“Tôi hơi đổ mồ hôi,” ông nói. “Hoan nghênh, chàng trai trẻ. Trái lại. Mời ngồi! Sau khi dùng một thức uống nóng mà lập tức như thế thì đó là dấu hiệu của sự suy nhược... Ông làm ơn... Phải rồi. Cái khăn tay. Xin đa tạ.” Vả lại, sắc đỏ ấy chẳng bao lâu đã tan đi, nhường chỗ cho thứ tái nhợt ngả vàng vẫn thường phủ lên mặt con người vĩ đại ấy sau một cơn phát tác ác tính. Cơn sốt rét cách tư sáng hôm đó đã dữ dội, đủ cả ba thời kỳ: rét, bừng và vã mồ hôi; và đôi mắt nhỏ, nhợt của Peeperkorn nhìn mệt mỏi dưới đường nét vầng trán như tượng thần. Ông nói:
“Đó là... quả thật đấy, chàng trai trẻ. Tôi quả thật muốn dùng chữ ‘đáng ghi nhận’... tuyệt đối. Thật là rất tử tế khi ông đến với một ông già đau ốm...”
“Đến thăm chăng?” Hans Castorp hỏi... “Ôi thôi, Mynheer Peeperkorn. Chính tôi mới là kẻ phải hết sức biết ơn vì được phép ngồi đây một lát; tôi hưởng ở đây nhiều hơn ngài không sao so sánh nổi, tôi đến hoàn toàn vì những lý do ích kỷ. Mà đó là một cách gọi đánh lạc hướng biết bao đối với con người ngài, ‘một ông già đau ốm’. Chẳng ai có thể nghĩ rằng chính _ngài_ lại là người ấy cả. Nó gợi ra một hình ảnh hoàn toàn sai lạc.”
“Được, được,” Mynheer đáp, nhắm mắt lại trong vài giây, cái đầu uy nghi tựa ra sau vào gối, cằm hơi hất lên, những ngón tay móng dài chắp lại trên bộ ngực vương giả rộng, nổi rõ dưới chiếc áo dệt kim. “Được lắm, chàng trai trẻ, hay đúng hơn, ông có thiện ý, tôi tin chắc như vậy. Chiều hôm qua thật dễ chịu, vâng, mới chiều hôm qua thôi, ở cái nơi hiếu khách ấy, tôi quên mất tên rồi, nơi chúng ta đã dùng món salami tuyệt hảo với trứng bác và thứ rượu quê lành mạnh ấy...”
“Tuyệt diệu vô cùng!” Hans Castorp xác nhận. “Tất cả chúng tôi đã ăn ngon lành một cách hết sức trái phép, đầu bếp trưởng ở Berghof hẳn phải có lý mà phật ý nếu trông thấy; tóm lại, không trừ ai, ai nấy đều hết sức nhập cuộc! Đó là salami thứ thiệt đàng hoàng, Herr Settembrini cảm động gần như muốn ứa nước mắt khi ăn. Ông ấy vốn là một nhà ái quốc, như ngài hẳn biết, một nhà ái quốc dân chủ. Ông đã hiến ngọn giáo công dân của mình trên bàn thờ nhân loại để từ nay salami phải nộp thuế nơi biên giới Brenner.”
“Điều đó không hệ trọng,” Peeperkorn tuyên bố. “Ông ấy là một người hiệp sĩ và đàm đạo vui tươi, một tay cavalier, tuy hiển nhiên số phận không cho phép ông ấy thay y phục thường xuyên.”
“Hoàn toàn không!” Hans Castorp nói. “Hoàn toàn không được cho phép! Tôi đã quen ông ấy từ lâu, và rất thân với ông ấy, nghĩa là ông ấy đã săn sóc tôi một cách đáng cảm tạ nhất, vì ông ấy cho rằng tôi là một ‘đứa con khiến đời phải lo lắng’, đó là một lối nói giữa chúng tôi, bản thân cách diễn đạt ấy không thể hiểu ngay được, và ông ấy cố công tác động theo hướng cải chính lên tôi. Nhưng chưa bao giờ tôi thấy ông ấy trong bộ nào khác, dù mùa hè hay mùa đông, ngoài chiếc quần caro và cái áo vét hai hàng khuy xơ sợi ấy; vả chăng ông ấy mặc những đồ cũ ấy với một phong thái đặc biệt đàng hoàng, rất cavalier, về điểm đó tôi hoàn toàn đồng ý với ngài. Cái cách ông ấy mặc chúng là một chiến thắng trước sự túng bấn; và tôi còn ưa cái túng bấn ấy hơn vẻ lịch lãm của gã Naphta nhỏ con, thứ lịch lãm khiến người ta chẳng bao giờ thật yên tâm, cứ như của quỷ vậy, mà phương tiện để có nó thì hắn xoay xở bằng những đường vòng, tôi cũng có đôi chút hiểu biết về hoàn cảnh.”
“Một người hiệp sĩ và vui tươi,” Peeperkorn nhắc lại, không đả động gì đến nhận xét về Naphta, “tuy, xin ông cho tôi thêm hạn chế này, tuy không phải là không có thành kiến. Madame, người bạn đồng hành của tôi trong chuyến đi, không mấy coi trọng ông ấy, như ông có lẽ đã nhận thấy; bà nói về ông ấy không có thiện cảm, hẳn vì từ cách cư xử của ông ấy đối với bà mà bà rút ra những thành kiến như thế... Đừng một lời nào, chàng trai trẻ. Tôi còn lâu mới muốn đối với Herr Settembrini và tình cảm thân hữu của ông dành cho ông ấy... Thôi xong! Tôi không hề nghĩ tới chuyện khẳng định rằng ông ấy đã từng, ở điểm lịch thiệp mà một cavalier nợ một quý bà... Hoàn hảo, người bạn thân mến, hoàn toàn không chê vào đâu được! Chỉ có điều vẫn có ở đó một giới hạn, một sự dè giữ, một sự khước-từ nào đó, khiến tâm trạng của Madame đối với ông ấy, xét theo lẽ người, ở mức độ rất cao...”
“Trở nên dễ hiểu. Trở nên có thể hiểu được. Và ở mức độ rất cao là chính đáng. Xin thứ lỗi, Mynheer Peeperkorn, vì tôi đã tự tiện kết thúc câu của ngài. Tôi dám liều như vậy trong ý thức hoàn toàn đồng tình với ngài. Nhất là khi người ta tính đến việc phụ nữ, ngài có thể mỉm cười vì ở tuổi non nớt của tôi mà tôi lại nói chung chung về phụ nữ đến thế, nhưng quả thực là họ lệ thuộc đến nhường nào, trong cách xử sự của họ đối với đàn ông, vào cách xử sự của đàn ông đối với họ, thì ở đây chẳng có gì phải lấy làm lạ cả. Theo cách tôi muốn nói, phụ nữ là những sinh vật phản ứng, không có sáng kiến tự thân, buông lơi theo nghĩa thụ động... Xin hãy cho phép tôi, dù có vất vả, thử khai triển điều ấy thêm một chút. Theo những gì tôi có thể nhận thấy, trong các chuyện tình ái người đàn bà trước hết hoàn toàn xem mình là đối tượng; nàng để cho nó đến gần mình, nàng không tự do lựa chọn, nàng chỉ trở thành chủ thể chọn lựa của tình yêu trên cơ sở sự lựa chọn của người đàn ông; mà ngay cả khi ấy nữa, xin cho phép tôi thêm điều này, thì sự tự do lựa chọn của nàng, giả như chỉ cần không phải gặp một tâm hồn đàn ông quá đỗi thảm hại, tuy ngay cả điều ấy cũng không thể được coi là điều kiện nghiêm ngặt, thì sự tự do ấy vẫn bị tổn hại nặng nề và bị mua chuộc bởi chính sự kiện _rằng_ nàng đã được lựa chọn. Lạy Chúa, hẳn toàn là những điều ngớ ngẩn tôi đang thốt ra, nhưng khi người ta còn trẻ thì dĩ nhiên cái gì cũng mới, mới và đáng ngạc nhiên. Ngài hỏi một người đàn bà: ‘Thế nàng có yêu hắn không?’ Nàng sẽ trả lời ngài, vừa ngước mắt, hoặc cũng có thể cúi mắt: ‘Chàng yêu em biết bao!’ Giờ xin ngài thử hình dung một câu trả lời như thế nơi miệng hạng người như chúng ta, xin thứ lỗi cho lối rút gọn! Có lẽ cũng có những người đàn ông buộc phải trả lời như thế, nhưng họ thật là lố bịch một cách rõ rệt, những anh hùng dép lê của tình yêu, nếu tôi được phép diễn đạt một cách châm ngôn. Tôi muốn biết thực ra câu trả lời đàn bà ấy chứng tỏ kiểu tự định giá bản thân nào. Người đàn bà có cho rằng mình mắc nợ người đàn ông sự tận tụy vô bờ, vì ông ta đã lấy sự lựa chọn yêu đương của mình mà ban ân cho một hữu thể thấp kém như nàng, hay nàng nhìn thấy trong tình yêu người đàn ông dành cho bản thân mình một dấu hiệu không thể lầm của sự ưu việt nơi ông ta? Đó là điều đôi khi trong những giờ lặng lẽ, chỗ này chỗ nọ, tôi cũng đã từng tự hỏi.”
“Những điều nguyên thủy, những sự thật cổ điển, chàng trai trẻ ạ, bằng lời nói lanh lợi nho nhỏ của mình ông đã chạm tới những dữ kiện thiêng liêng,” Peeperkorn đáp. “Người đàn ông bị dục vọng của mình làm cho say, người đàn bà đòi hỏi và chờ đợi được dục vọng ấy làm cho say. Bởi thế mới có bổn phận của chúng ta đối với tình cảm. Bởi thế mới có nỗi ô nhục khủng khiếp của sự vô cảm, của sự bất lực trong việc đánh thức dục vọng nơi người đàn bà. Uống với tôi một ly rượu đỏ chứ? Tôi uống đây. Tôi khát. Hôm nay lượng ẩm thoát ra quả là đáng kể.”
“Xin đa tạ, Mynheer Peeperkorn. Tuy chưa phải giờ của tôi, nhưng để nhấp một ngụm mừng sức khỏe ngài thì tôi luôn sẵn lòng.”
“Vậy ông cầm lấy ly rượu đi. Ở đây chỉ có một chiếc. Tôi tạm dùng cốc nước. Tôi nghĩ người ta không làm mếch lòng quá mức thứ men nho nhỏ này nếu uống nó bằng một chiếc cốc giản dị...” Ông rót rượu, có vị khách giúp tay, bằng bàn tay thuyền trưởng hơi run, rồi khát khô khan dốc rượu đỏ từ chiếc ly không chân qua cái cuống họng pho tượng của mình, đúng như thể đó là nước lã trong veo.
“Thật giải khát,” ông nói. “Ông không uống nữa sao? Thế thì xin cho phép tôi lại rót thêm một lần nữa...” Ông làm đổ một ít rượu khi rót thêm. Tấm khăn trải trên chăn ông nhuộm những vết đỏ sẫm. “Tôi xin nhắc lại,” ông nói, ngón tay mũi lao giơ lên, trong khi chiếc ly rượu run rẩy ở bàn tay kia, “tôi xin nhắc lại: bởi thế mới có bổn phận của chúng ta, bổn phận _tôn giáo_ của chúng ta đối với tình cảm. Tình cảm của chúng ta, ông hiểu chứ, là sức nam tính đánh thức sự sống. Sự sống đang ngủ mê. Nó muốn được đánh thức để bước vào cuộc hôn phối say sưa với tình cảm thần thánh. Bởi tình cảm, chàng trai trẻ ạ, là thần thánh. Con người là thần thánh chừng nào con người còn cảm. Con người là cảm giác của Thượng đế. Thượng đế tạo ra con người để qua con người mà cảm. Con người không là gì khác hơn cơ quan qua đó Thượng đế hoàn tất cuộc hôn phối của mình với sự sống đã được đánh thức và làm cho say. Nếu con người thất bại trong tình cảm, thì sự ô nhục của Thượng đế ập xuống, đó là thất bại của sức nam tính nơi Thượng đế, một tai biến vũ trụ, một nỗi kinh hoàng không thể nghĩ nổi...” Ông uống.
“Xin cho phép tôi cầm giúp cái ly ấy, Mynheer Peeperkorn,” Hans Castorp nói. “Tôi theo dõi mạch tư tưởng của ngài với sự khai ngộ lớn lao nhất cho mình. Ngài đang khai triển ở đó một lý thuyết thần học, theo đó ngài gán cho con người một chức năng tôn giáo rất đỗi vinh dự, tuy có lẽ hơi thiên về một phía. Nếu cho phép tôi nhận xét, thì trong quan niệm của ngài có một mức độ nghiêm ngặt nào đó khiến nó mang vẻ ngột ngạt, xin thứ lỗi! Mọi sự nghiêm khắc tôn giáo dĩ nhiên đều gây ngột ngạt cho những người có tầm vóc khiêm tốn hơn. Tôi hoàn toàn không nghĩ tới chuyện sửa ngài, mà chỉ muốn quay lại, theo hướng điều chỉnh, nhận xét của ngài về những ‘thành kiến’ nào đó mà theo sự quan sát của ngài, Herr Settembrini dành cho Madame, người bạn đồng hành của ngài trong chuyến đi. Tôi quen Herr Settembrini từ lâu, rất lâu, từ năm này qua ngày khác, từ bao năm bao ngày. Và tôi có thể bảo đảm với ngài rằng những thành kiến của ông ấy, nếu quả có tồn tại, thì tuyệt nhiên không mang tính chất nhỏ nhen và trưởng giả hẹp hòi, nghĩ thế thật nực cười. Ở đây nếu có, thì chỉ có thể là những thành kiến thuộc một phong thái lớn hơn, bởi thế cũng thuộc loại phi cá nhân hơn, những nguyên tắc sư phạm phổ quát mà khi đem áp dụng Herr Settembrini, nói thật, đối với tôi, với tư cách một ‘đứa con khiến đời phải lo lắng’... Nhưng như thế thì đi quá xa. Đó là một câu chuyện vô cùng rườm rà mà tôi không thể nào chỉ trong đôi lời...”
“Và ông yêu Madame chứ?” Mynheer bỗng hỏi, quay về phía vị khách gương mặt đế vương của mình với cái miệng nứt nẻ đau đớn và đôi mắt nhỏ nhợt dưới hàng arabesque của vầng trán... Hans Castorp giật mình. Chàng lắp bắp:
“Tôi có... Nghĩa là... Dĩ nhiên tôi kính mến Frau Chauchat, chỉ riêng với tư cách bà là...”
“Xin!” Peeperkorn nói, vừa đưa tay ra bằng một cử chỉ văn nhã như ghìm lại. “Hãy để tôi,” ông nói tiếp, sau khi bằng cách ấy đã dọn chỗ cho điều mình muốn nói, “hãy để tôi nhắc lại rằng tôi còn lâu mới trách cứ rằng vị quý ông người Ý kia đã từng thực sự phạm vào những điều răn của tinh thần hiệp sĩ... Tôi không trách cứ ai điều ấy, không ai cả. Chỉ có điều tôi để ý thấy... Chẳng hạn như trong giây phút hiện tại, tôi đang hưởng... Được lắm, chàng trai trẻ. Hoàn toàn tốt và đẹp. Tôi đang được hưởng, điều đó không còn nghi ngờ gì; điều ấy quả thực làm tôi dễ chịu. Tuy vậy tôi tự nhủ... Tóm lại tôi tự nhủ thế này: sự quen biết của ông với Madame có từ trước chúng tôi. Ông đã từng cùng bà chia sẻ cả lần lưu lại trước đây của bà ở nơi này. Hơn nữa bà là một người đàn bà có những phẩm chất quyến rũ nhất, còn tôi chỉ là một ông già đau ốm. Vậy tại sao... Hôm nay buổi chiều, vì tôi khó ở, bà đã một mình, không người tháp tùng, đi xuống khu dưỡng cư để mua sắm... Không phải chuyện bất hạnh gì! Hoàn toàn không! Chỉ có điều hẳn rằng... Hay tôi nên quy điều ấy cho ảnh hưởng của, ông nói thế nào nhỉ, những nguyên tắc sư phạm của Signor Settembrini, rằng ông đã đối với cái thúc đẩy hiệp sĩ... Xin ông hiểu đúng từng lời của tôi...”
“Từng lời một, Mynheer Peeperkorn. Ôi không. Hoàn toàn không phải thế. Tôi hành động tuyệt đối độc lập. Trái lại, có lần chính Herr Settembrini còn... Tôi lấy làm tiếc thấy có những vết rượu trên tấm khăn trải của ngài, Mynheer Peeperkorn. Chẳng phải nên... Xưa nay chúng tôi vẫn thường rắc muối lên khi chúng còn mới...”
“Điều đó không quan trọng,” Peeperkorn nói, mắt vẫn dõi theo vị khách của mình.
Hans Castorp biến sắc.
“Sự việc,” chàng nói với một nụ cười gượng, “ở đây quả có phần khác thường lệ. Tinh thần của chốn này, nếu tôi được phép nói như vậy, không phải là tinh thần quy ước. Người có đặc quyền là kẻ ốm, bất kể nam hay nữ. Những quy tắc của tinh thần hiệp sĩ phải lùi lại trước điều ấy. Ngài chỉ tạm thời khó ở, Mynheer Peeperkorn, một cơn khó ở cấp tính, một cơn khó ở mang tính thời điểm. Người bạn đồng hành trong chuyến đi của ngài, so ra, vẫn khỏe mạnh. Bởi vậy tôi tin rằng mình hoàn toàn hành động đúng theo tinh thần của Madame khi, trong lúc bà ấy vắng mặt, tôi thay bà ấy ở bên ngài đôi chút, trong chừng mực ở đây còn có thể nói đến sự thay thế, ha, ha, chứ không phải ngược lại, thay ngài ở bên bà ấy và đề nghị tháp tùng bà xuống khu nghỉ. Vả lại, làm sao tôi lại có thể tự cho mình quyền ép người bạn đồng hành của ngài phải nhận những nghĩa vụ hiệp sĩ của tôi được? Về chuyện đó, tôi hoàn toàn không có một danh nghĩa pháp lý nào, cũng không có một ủy nhiệm nào. Tôi có thể nói rằng tôi rất có ý thức về những quan hệ pháp lý thực định. Tóm lại, theo tôi, vị thế của tôi là đúng đắn; nó phù hợp với tình hình chung của sự việc, và đặc biệt phù hợp với những cảm tình chân thành tôi dành cho ngài, Mynheer Peeperkorn; bởi vậy tôi tin rằng, đối với câu hỏi của ngài, vì hẳn ngài đã nêu một câu hỏi với tôi, tôi đã đưa ra một câu trả lời thỏa đáng.”
“Một câu trả lời rất dễ nghe,” Peeperkorn đáp. “Tôi lắng nghe cái lời lẽ lanh lẹ nho nhỏ của anh với một khoái cảm không cưỡng lại được, anh bạn trẻ ạ. Nó nhảy qua mọi ghềnh mọi đá, và vo tròn mọi sự thành ra dễ chịu. Chỉ có điều thỏa đáng ư, không. Câu trả lời của anh không hoàn toàn thỏa đáng đối với tôi, xin anh thứ lỗi nếu tôi làm anh thất vọng vì điều đó. ‘Nghiêm ngặt’, anh bạn thân mến, trước đây anh đã dùng chữ ấy đối với vài quan niệm nào đó tôi từng bày tỏ. Nhưng trong những lời anh nói cũng có một thứ nghiêm ngặt nào đó, một sự cứng rắn và gượng ép dường như không hợp với bản tính của anh, mặc dầu ở một phương diện nào đó tôi đã biết nó qua cách cư xử của anh. Tôi nhận ra nó. Chính là cái vẻ gượng ép y như vậy mà trong những cuộc đi chung của chúng ta, những cuộc dạo bộ của chúng ta, anh biểu lộ đối với Madame, chứ không đối với ai khác, và về chuyện ấy anh còn thiếu tôi một lời giải thích; đó là một món nợ, một bổn phận, anh bạn trẻ ạ. Tôi không lầm đâu. Sự quan sát ấy đã quá nhiều lần được xác nhận trước mắt tôi, và khó mà tin rằng nó lại không từng áp đặt lên người khác nữa; chỉ khác ở chỗ những người khác ấy có thể, vâng, rất có thể, đã nắm sẵn lời giải thích cho hiện tượng đó rồi.”
Chiều hôm ấy Mynheer nói với một văn phong chính xác và mạch lạc khác thường, bất chấp sự kiệt sức do cơn phát tác ác tính gây nên. Hầu như không còn chút đứt đoạn nào. Nửa ngồi trên giường, xoay đôi vai lực lưỡng và cái đầu uy vĩ về phía khách, ông duỗi một cánh tay trên tấm chăn, và bàn tay thuyền trưởng lấm tấm tàn nhang của ông, dựng đứng ở cuối ống tay len, tạo nên cái vòng chuẩn xác vươn cao bởi những ngón tay như mũi giáo; còn miệng ông thì nắn những lời ấy ra sắc gọn, chuẩn xác, phải nói là có hình khối, đúng như điều ông Settembrini hẳn chỉ có thể ao ước, với âm r cuống họng rung lên trong những từ như “wahrscheinlich” và “aufgedrängt”.
“Anh mỉm cười,” ông nói tiếp, “anh lắc đầu qua lại mà nheo mắt, anh có vẻ đang chăm chỉ suy nghĩ một cách vô ích. Dầu vậy, không còn nghi ngờ gì nữa rằng anh biết tôi muốn nói gì và vấn đề ở đây là gì. Tôi không quả quyết rằng đôi khi anh không nói với Madame một lời nào đó, hoặc không nợ bà ấy một câu trả lời khi câu chuyện đòi hỏi điều ngược lại. Nhưng tôi nhắc lại: điều ấy diễn ra với một sự gượng ép nhất định, nói chính xác hơn, với một sự né tránh, một sự lảng đi, và nếu nhìn kỹ hơn, thì là sự né tránh _một_ hình thức. Trong chừng mực có liên quan đến anh, người ta có cảm tưởng như đây là một cuộc cá cược, như thể anh đã ăn một cái Vielliebchen với Madame và theo giao ước thì không được dùng hình thức xưng hô với bà ấy nữa. Bởi vậy anh né tránh, nhất quán và không ngoại lệ, việc trực tiếp xưng hô với bà ấy. Anh không nói ‘Sie’ với bà ấy.”
“Nhưng Mynheer Peeperkorn... Vielliebchen gì kia chứ...”
“Tôi xin lưu ý anh đến một sự kiện mà chính anh hẳn cũng không phải không biết, rằng ngay lúc này anh đã tái đi tới tận môi rồi đấy.”
Hans Castorp không ngẩng lên. Cúi mình, chàng chăm chú bận bịu với những vết đỏ trên ga giường. “Thế nào cũng phải đi đến chỗ này thôi!” chàng nghĩ. “Rốt cuộc là thế đấy. Có lẽ chính ta cũng đã góp phần không nhỏ để nó đi tới chỗ ấy. Chừng nào đó, ta đã cố ý làm cho nó phải thành ra như vậy, điều mà giờ đây ta mới ý thức được. Quả thật ta đã tái đi đến thế sao? Cũng có thể lắm, vì giờ thì đã đến nước được ăn cả ngã về không. Chẳng ai biết chuyện gì sẽ xảy ra. Ta còn có thể nói dối chăng? Hẳn là vẫn được, nhưng ta lại hoàn toàn không muốn. Trước mắt, cứ bám vào mấy vết máu, vết rượu vang đỏ trên ga này đã.”
Bên trên chàng, người kia cũng lặng im. Sự im lặng kéo dài đến hai hay ba phút, đủ để cho thấy, trong những hoàn cảnh như thế này, những đơn vị tí hon ấy có thể nở lớn đến mức nào.
Chính Pieter Peeperkorn là người mở lại câu chuyện.
“Ấy là vào buổi tối đã đem lại cho tôi cái vinh hạnh được quen biết anh,” ông cất tiếng bằng một giọng ngân nga, rồi hạ giọng xuống ở cuối câu, như thể đó mới chỉ là câu đầu của một câu chuyện dài hơn. “Chúng ta vừa ăn uống, vừa mở một cuộc vui nhỏ, và trong một tâm trạng được nâng lên, trong một trạng thái cởi mở và táo bạo của tình người, đến khuya, chúng ta khoác tay nhau đi tìm chỗ ngủ. Rồi, ngay đây, trước cửa phòng tôi, lúc chia tay, tôi chợt nảy ra ý muốn đề nghị với anh rằng anh hãy đặt môi lên trán người phụ nữ mà anh đã giới thiệu với tôi như một người bạn tốt từ kỳ lưu lại trước, và để tùy nơi bà ấy có muốn đáp lại, trước mắt tôi, cử chỉ trang trọng mà vui tươi đó như một dấu hiệu của giờ phút được nâng lên hay không. Anh đã thẳng thừng bác bỏ gợi ý của tôi, bác bỏ với lý do rằng anh cảm thấy việc trao đổi những cái hôn lên trán với người bạn đồng hành của tôi là vô nghĩa. Anh sẽ không phủ nhận rằng đó là một lời giải thích mà tự nó vẫn còn cần một lời giải thích khác, một lời giải thích mà cho đến giờ này anh vẫn còn thiếu tôi. Anh có sẵn lòng trả món nợ ấy ngay bây giờ không?”
“Vậy là chuyện ấy ông ta cũng nhận ra,” Hans Castorp nghĩ, và lại cúi sát hơn vào những vết rượu, dùng đầu cong của ngón tay giữa cạo lên một vết. “Kỳ thực hồi đó có lẽ chính ta muốn ông ta nhận ra và nhớ lấy, nếu không thì ta đã chẳng nói thế. Nhưng bây giờ thì sao? Tim ta đập không hề ít. Liệu có sắp nổ ra một cơn thịnh nộ vương giả hạng nhất không? Có lẽ ta nên làm điều khôn ngoan là liếc xem nắm đấm của ông ta chăng, biết đâu nó đã lơ lửng ngay trên đầu ta rồi? Một tình thế cao độ kỳ quặc và vô cùng bỏng rát mà ta đang mắc vào đây!”
Bỗng chàng cảm thấy cổ tay mình, cổ tay phải, bị bàn tay Peeperkorn nắm lấy.
“Giờ thì ông ta nắm cổ tay ta!” chàng nghĩ. “Thật buồn cười, sao ta lại ngồi đó như một con chó ướt lướt thướt thế này! Ta có phạm điều gì đáng trách với ông ta chăng? Tuyệt nhiên không. Trước hết, kẻ có quyền than phiền là người đàn ông ở Daghestan. Rồi đến người này người nọ. Rồi mới đến ta. Còn _ông ta_, theo chỗ ta biết, thì hoàn toàn chưa có gì để than phiền cả. Vậy cớ sao tim ta lại đập như thế? Đã đến lúc phải ngồi thẳng dậy và nhìn thẳng, tuy vẫn cung kính, vào khuôn mặt uy quyền ấy của ông ta!”
Chàng làm như thế. Khuôn mặt uy quyền ấy vàng bệch, đôi mắt nhợt nhạt nhìn ra dưới những nếp nhăn siết lại trên trán, vẻ của đôi môi nứt nẻ thì cay đắng. Họ đọc trong mắt nhau, người già lớn lao và chàng trai tầm thường, trong khi người nọ vẫn tiếp tục nắm cổ tay người kia. Cuối cùng Peeperkorn khẽ nói:
“Anh đã là tình nhân của Clawdia trong kỳ nàng ở đây lần trước.”
Hans Castorp lại cúi đầu xuống một lần nữa, nhưng lập tức ngẩng lên và sau một hơi thở sâu, nói:
“Mynheer Peeperkorn! Việc nói dối ngài khiến tôi kháng cự đến mức cao nhất, và tôi đang tìm một khả năng để tránh điều đó. Không dễ chút nào. Nếu xác nhận nhận định của ngài thì tôi khoe khoang, mà nếu phủ nhận nó thì tôi nói dối. Xin hiểu như vậy. Trong một thời gian dài, rất dài, tôi đã sống cùng Clawdia, xin thứ lỗi, cùng người bạn đồng hành hiện nay của ngài, trong ngôi nhà này mà không hề quen biết nàng về mặt giao tế xã hội. Cái phần xã hội ấy đã bị loại trừ khỏi những quan hệ của chúng tôi, hay đúng hơn, khỏi những quan hệ của riêng tôi với nàng; mà về những quan hệ ấy tôi chỉ muốn nói rằng nguồn gốc của chúng nằm trong chỗ tối tăm. Trong ý nghĩ của mình, tôi chưa bao giờ gọi Clawdia bằng cách nào khác ngoài ‘Du’, và trên thực tế cũng chưa bao giờ khác. Bởi buổi tối mà tôi cởi bỏ những xiềng xích sư phạm nào đó, điều đã được nhắc thoáng qua trước đây, và đến gần nàng, dưới một cái cớ vốn từ lâu đã gần gũi với tôi, ấy là một buổi tối hóa trang, một buổi tối hội giả trang, một buổi tối vô trách nhiệm, một buổi tối của ‘Du’, trong diễn tiến của nó, tiếng ‘Du’ đã đạt được đầy đủ ý nghĩa của mình theo một cách mơ hồ như mộng và vô trách nhiệm. Nhưng đồng thời đó cũng là đêm trước ngày Clawdia ra đi.”
“Đầy đủ ý nghĩa,” Peeperkorn nhắc lại. “Anh nói thật khéo...” Ông buông Hans Castorp ra và bắt đầu dùng các lòng bàn tay dài móng của mình xoa bóp cả hai nửa khuôn mặt, từ hốc mắt, gò má đến cằm. Rồi ông chắp hai tay lại trên tấm ga vấy rượu vang và nghiêng đầu sang một bên, sang bên trái, về phía vị khách, thành thử trông như thể ông quay mặt đi.
“Tôi đã trả lời ngài một cách chân thực nhất có thể, Mynheer Peeperkorn,” Hans Castorp nói, “và đã tận tâm cố gắng để không nói quá nhiều cũng không nói quá ít. Trước hết, điều hệ trọng đối với tôi là làm cho ngài nhận thấy rằng, theo một nghĩa nào đó, người ta có thể tính buổi tối của tiếng ‘Du’ trọn vẹn và của cuộc chia tay ấy vào hay không vào cũng được, rằng đó là một buổi tối nằm ngoài mọi trật tự và hầu như rơi cả ra ngoài lịch, một _hors d’œuvre_, có thể nói thế, một buổi tối nhuận, ngày hai mươi chín tháng Hai, và bởi vậy, nếu tôi phủ nhận nhận định của ngài, thì đó cũng chỉ là một lời dối trá một nửa mà thôi.”
Peeperkorn không trả lời.
“Tôi đã chọn,” sau một quãng ngừng Hans Castorp lại bắt đầu, “nói thật với ngài, dù có nguy cơ vì thế mà mất đi thiện cảm của ngài, mà nói thật thẳng ra, đối với tôi đó sẽ là một mất mát đau đớn, tôi có thể nói: một đòn, một đòn thực sự, có lẽ còn có thể đem so với cái đòn tôi phải chịu khi Frau Chauchat trở lại đây không phải một mình mà là với tư cách người bạn đồng hành của ngài. Tôi đã chấp nhận nguy cơ ấy, bởi từ lâu mong muốn của tôi vẫn là giữa chúng ta, giữa ngài, người mà tôi dành cho những tình cảm tôn kính hết sức sâu xa, và tôi, phải có sự sáng tỏ ngự trị; điều đó dường như đối với tôi đẹp hơn, nhân bản hơn, ngài biết Clawdia phát âm từ ấy như thế nào bằng giọng khàn huyền hoặc, kéo dài thật quyến rũ, hơn là sự kín miệng và giả cách; và theo nghĩa ấy, khi vừa rồi ngài nêu ra nhận định của mình, tôi đã cảm thấy như trút được một tảng đá khỏi tim.”
Không có câu trả lời nào.
“Còn một điều nữa, Mynheer Peeperkorn,” Hans Castorp tiếp tục. “Còn một điều nữa khiến tôi ao ước được nói thật trắng ra với ngài, ấy là kinh nghiệm bản thân về việc sự bất định, sự phải dựa vào những giả đoán nửa vời trong phương diện này có thể gây kích thích khó chịu đến thế nào. _Ngài_ nay đã biết người ấy là ai, người đã cùng Clawdia, trước khi quan hệ pháp lý thực định hiện nay được thiết lập, một quan hệ dĩ nhiên mà không tôn trọng thì hẳn là điên rồ hết mức, trải qua, sống qua, thực hiện, hay nói cho đúng là phạm vào, một ngày hai mươi chín tháng Hai như thế. Về phần tôi, tôi chưa bao giờ đạt được sự sáng tỏ đó, mặc dầu tôi hiểu rõ rằng bất cứ ai rơi vào hoàn cảnh phải nghĩ đến chuyện này thì đều phải tính đến những sự việc như thế, hay đúng hơn là những người đi trước như thế, và mặc dầu tôi còn biết rằng Cố vấn Cung đình Behrens, người, như có lẽ ngài biết, vẫn tài tử với sơn dầu, trong suốt nhiều buổi ngồi mẫu đã vẽ nên một bức chân dung xuất sắc của nàng, với một mức độ sinh động trong sự tái hiện làn da đến nỗi, nói riêng giữa chúng ta, đủ khiến người ta phải sững sờ dữ dội. Điều ấy đã gây cho tôi biết bao khổ sở và vò đầu bứt trán, và đến hôm nay vẫn còn vậy.”
“Anh vẫn còn yêu nàng ư?” Peeperkorn hỏi, không thay đổi tư thế, nghĩa là vẫn quay mặt đi... Căn phòng lớn chìm dần, chìm dần vào chạng vạng.
“Xin thứ lỗi, Mynheer Peeperkorn,” Hans Castorp đáp, “nhưng những tình cảm tôi dành cho ngài, những tình cảm của sự kính trọng và ngưỡng mộ cao nhất, khiến tôi thấy sẽ không phải phép nếu nói với ngài về những tình cảm của tôi đối với người bạn đồng hành của ngài.”
“Và nàng,” Peeperkorn hỏi bằng giọng nhỏ, “ngày nay còn chia sẻ những tình cảm ấy nữa chăng?”
“Tôi không nói,” Hans Castorp đáp, “tôi không nói rằng nàng đã bao giờ chia sẻ chúng. Điều đó khó tin lắm. Vừa rồi chúng ta đã chạm đến đối tượng này về mặt lý thuyết, khi nói đến bản tính phản ứng của phụ nữ. Ở nơi tôi, dĩ nhiên chẳng có bao nhiêu đáng để yêu cả. Bản thân tôi thì có tầm vóc gì đâu, xin ngài cứ tự phán xét! Nếu ở đó lại có thể đi đến một ngày hai mươi chín tháng Hai như vậy, thì điều ấy chỉ có thể quy về sự dễ xiêu lòng của phụ nữ trước sự lựa chọn sơ khởi của người đàn ông mà thôi; tiện đây tôi xin thú thật rằng tôi thấy mình thật khoác lác và kém nhã khi tự gọi mình là một ‘người đàn ông’, nhưng Clawdia thì dù sao vẫn là một người đàn bà.”
“Nàng đã đi theo cảm xúc,” Peeperkorn lẩm bẩm bằng đôi môi nứt nẻ.
“Điều mà trong trường hợp của ngài nàng đã làm còn ngoan ngoãn hơn biết bao,” Hans Castorp nói, “và điều mà, theo mọi lẽ có thể, nàng hẳn đã làm không biết bao lần rồi, điều ấy bất cứ ai rơi vào hoàn cảnh ấy cũng phải tự hiểu lấy...”
“Đủ rồi!” Peeperkorn nói, vẫn quay mặt đi, nhưng đưa bàn tay xòe phẳng về phía người đối thoại. “Chẳng phải chúng ta đang nói về nàng theo một cách hèn hạ đó sao?”
“Không đâu, Mynheer Peeperkorn. Không, ở điểm ấy tôi tin là có thể hoàn toàn làm ngài yên lòng. Bởi ở đây chúng ta chỉ nói về những điều thuộc về con người, chữ ‘con người’ theo nghĩa của tự do và thiên tài, xin thứ lỗi cho lối diễn đạt có lẽ hơi làm dáng ấy, nhưng một nhu cầu gần đây đã khiến tôi phải tiếp nhận nó.”
“Tốt, cứ nói tiếp đi!” Peeperkorn khẽ truyền lệnh.
Hans Castorp cũng nói khẽ, ngồi nơi mép ghế cạnh giường, nghiêng người về phía ông già vương giả, hai bàn tay kẹp giữa hai đầu gối.
“Vì nàng quả là một hiện hữu thiên tài,” chàng nói, “và người đàn ông bên kia Kavkaz, ngài hẳn biết nàng có một người đàn ông bên kia Kavkaz chứ, cho nàng hưởng sự tự do và tính thiên tài của nàng, dù là vì đần độn hay vì thông minh, tôi không biết gã ấy. Dù sao, gã làm thế là phải, bởi chính bệnh tật đã ban cho nàng điều đó, cái nguyên lý thiên tài của bệnh tật mà nàng lệ thuộc; và bất cứ ai rơi vào hoàn cảnh ấy cũng sẽ làm khôn ngoan nếu noi theo gương gã và đừng than phiền gì cả, chẳng về trước cũng chẳng về sau...”
“Ngài không than phiền ư?” Peeperkorn hỏi và quay mặt về phía chàng... Gương mặt ấy trông nhợt nhạt trong chạng vạng; đôi mắt tái và mệt mỏi nhìn ra dưới những nét trán như tượng thần, cái miệng lớn, rộng toác hé mở nửa chừng như trên một chiếc mặt nạ bi kịch.
“Tôi không nghĩ,” Hans Castorp khiêm nhường đáp, “rằng câu chuyện lại nhằm vào tôi. Điều những lời tôi nói nhắm tới là để _ngài_ đừng than phiền, Mynheer Peeperkorn, và đừng vì những chuyện đã xảy ra trước kia mà rút lòng ưu ái của ngài khỏi tôi. Điều ấy mới là điều tôi quan tâm trong giờ phút này.”
“Dẫu vậy,” Peeperkorn nói, “hẳn phải là một nỗi đau lớn mà tôi đã vô tình gây ra cho anh.”
“Nếu đó là một câu hỏi,” Hans Castorp đáp, “và nếu tôi trả lời là phải, thì trước hết điều ấy tuyệt nhiên không có nghĩa rằng tôi không biết quý trọng cái vinh hạnh lớn lao là được quen biết ngài, bởi lẽ vinh hạnh ấy vốn gắn liền, không thể tách rời, với sự thất vọng mà ngài vừa nói đến.”
“Xin cảm ơn, chàng trai, xin cảm ơn. Tôi cảm cái nhã ý trong câu nói nhỏ của anh. Nhưng gác chuyện quen biết giữa chúng ta sang một bên...”
“Khó mà gác nó sang một bên lắm,” Hans Castorp nói, “mà đối với tôi, để có thể với tất cả sự không đòi hỏi mà trả lời khẳng định câu hỏi của ngài, thì gác nó sang một bên cũng chẳng có lợi gì. Bởi việc Clawdia trở về trong sự đồng hành của một nhân cách tầm vóc như ngài dĩ nhiên chỉ càng làm tăng thêm và làm rắc rối hơn nỗi khổ tâm đối với tôi nằm ở chỗ nàng nói chung lại trở về cùng một người đàn ông khác. Điều ấy đã khiến tôi điêu đứng rất nhiều và đến nay vẫn còn như thế, tôi không chối; và tôi đã cố ý hết sức bám lấy mặt tích cực của sự việc, nghĩa là bám lấy lòng kính mộ chân thành của tôi đối với ngài, Mynheer Peeperkorn, trong đó kỳ thực, nói ngoài lề, cũng có lẫn một chút ác ý nho nhỏ đối với người bạn đồng hành của ngài; bởi phụ nữ hoàn toàn không thích gì mấy khi những người tình của họ lại liên kết với nhau.”
“Quả thế...” Peeperkorn nói, và giấu một nụ cười, vừa lấy lòng bàn tay khum vuốt qua miệng và cằm, như thể e rằng Frau Chauchat có thể trông thấy ông mỉm cười. Hans Castorp cũng mỉm cười kín đáo, rồi cả hai cùng gật gù trước mặt mình trong niềm đồng tình ngầm hiểu.
“Sự trả đũa nho nhỏ ấy,” Hans Castorp nói tiếp, “rốt cuộc cũng nên được cho phép đối với tôi, bởi nếu xét đến phần tôi, thì thật sự tôi cũng có đôi chút căn cứ để than phiền, không phải than phiền về Clawdia, cũng không phải về ngài, Mynheer Peeperkorn, mà là than phiền nói chung, về đời tôi và số phận tôi; và vì tôi được hưởng vinh dự là nhận được lòng tin của ngài, lại vì đây là một giờ chạng vạng kỳ dị từ đầu chí cuối như thế, nên ít ra tôi cũng muốn thử bày tỏ đôi điều bằng cách gợi ý mà thôi.”
“Tôi xin nghe,” Peeperkorn lịch sự nói, và Hans Castorp nói tiếp:
“Tôi đã ở trên này từ lâu lắm rồi, Mynheer Peeperkorn, từ bao năm bao ngày, chính xác là bao lâu thì tôi không biết nữa, nhưng đó là những năm đời người, vì thế tôi mới nói đến ‘đời sống’, và tới đúng lúc tôi cũng sẽ còn quay lại với ‘số phận’. Người anh em họ của tôi, người mà tôi tưởng chỉ lên thăm ít lâu thôi, một quân nhân, một người một lòng muốn sống cho ngay thẳng và tử tế, nhưng điều ấy chẳng giúp gì được cho anh ấy, đã chết mất ở đây trước mắt tôi, còn tôi thì vẫn còn đây. Tôi không phải quân nhân, tôi có một nghề dân sự, như ngài có lẽ đã nghe, một nghề thiết thực và hợp lý, người ta còn bảo là có tác dụng nối kết các dân tộc, nhưng tôi chưa bao giờ đặc biệt gắn bó với nó, điều đó tôi xin nhận, và vì những lý do mà tôi chỉ xin nói một câu rằng chúng nằm trong bóng tối: chúng nằm đấy, cùng với cội nguồn những cảm tình của tôi đối với người bạn đồng hành của ngài, tôi cố ý gọi nàng như vậy để tỏ rõ rằng tôi không hề nảy ý muốn lay động cái danh phận hiện có, những cảm tình của tôi đối với Clawdia Chauchat, và mối xưng hô thân mật giữa tôi với nàng, điều mà tôi chưa bao giờ chối bỏ, kể từ khi mắt nàng lần đầu gặp mắt tôi và gây cho tôi ra nông nỗi ấy, gây theo một nghĩa phi lý, ngài hiểu chứ. Vì nàng, và để trái ý ngài Settembrini, tôi đã quy phục nguyên lý của cái phi lý, nguyên lý thiên tài của bệnh tật, cái nguyên lý mà quả thật có lẽ từ lâu lắm rồi, từ xưa nay rồi, tôi vốn đã lệ thuộc, và tôi cứ ở lại trên này, bao lâu rồi tôi cũng không còn nhớ rõ nữa, tôi đã quên mọi sự và đoạn tuyệt với mọi sự, với họ hàng tôi, với nghề nghiệp miền đồng bằng của tôi và mọi triển vọng của tôi. Và khi Clawdia ra đi, tôi đã chờ nàng, cứ chờ trên này mãi, đến nỗi bây giờ tôi đã hoàn toàn thất lạc khỏi miền đồng bằng và trong mắt những người dưới kia thì hầu như đã chết. Đó là điều tôi ngụ ý khi nói đến ‘số phận’ và cho phép mình ám chỉ rằng biết đâu tôi cũng có quyền than phiền về danh phận hiện thời. Có lần tôi đã đọc một câu chuyện, không, tôi đã xem nó trên sân khấu, về một chàng trai tốt bụng, mà nhân tiện cũng là một quân nhân như anh em họ tôi, dính vào chuyện với một cô Di-gan quyến rũ, nàng thật quyến rũ, cài một bông hoa sau tai, một ả đàn bà hoang dã và tai hại, và nàng đã làm cho hắn mê muội đến mức hoàn toàn trật khỏi đường ray, hy sinh tất cả cho nàng, đào ngũ, theo nàng vào bọn buôn lậu, và tự làm ô nhục mình về mọi phương diện. Đến khi hắn đã ra nông nỗi ấy, nàng chán hắn rồi và xuất hiện cùng một gã đấu bò, một nhân vật đầy sức áp đảo với giọng bariton lộng lẫy. Kết cục là anh lính nhỏ ấy, mặt trắng bệch như phấn và áo sơ-mi phanh mở, đã đâm chết nàng trước rạp xiếc bằng con dao của mình, mà kỳ thực thì chính nàng đã gần như cố ý đẩy sự việc tới đó. Đó là một câu chuyện khá ít liên can mà tôi lại lôi ra đây. Nhưng rốt cuộc, vì sao nó lại chợt hiện ra với tôi?”
Khi nghe nhắc tới “con dao”, Mynheer Peeperkorn đã hơi đổi tư thế ngồi trên giường, thoáng xê sang một bên, đồng thời nhanh chóng quay mặt hẳn về phía vị khách và nhìn thẳng vào mắt chàng bằng ánh mắt dò hỏi. Bây giờ ông ngồi nhổm lên vững hơn, chống khuỷu tay và nói:
“Chàng trai, tôi đã nghe, và giờ tôi đã rõ tình hình. Căn cứ vào những điều anh vừa cho tôi hay, xin anh cho phép tôi có một lời giải bày thành thực! Giá như tóc tôi chưa bạc nhợt và tôi không bị cơn sốt ác tính quật ngã, thì anh sẽ thấy tôi sẵn sàng, như một người đàn ông đối với một người đàn ông, với vũ khí trong tay, đem lại cho anh sự đền bù thỏa đáng vì nỗi bất công mà tôi đã vô tình gây ra cho anh, và đồng thời vì nỗi bất công mà người bạn đồng hành của tôi đã gây ra cho anh, nỗi bất công mà về phần ấy tôi cũng phải đứng ra gánh nhận. Tuyệt hảo, thưa ông, anh sẽ thấy tôi sẵn sàng như thế. Nhưng sự thể nay đã như vậy, nên xin cho phép tôi thay vào đó bằng một đề nghị khác. Đề nghị ấy như sau. Tôi nhớ một khoảnh khắc được nâng lên, ngay buổi đầu chúng ta quen biết, tôi nhớ điều ấy, mặc dù khi ấy tôi đã quá chén rượu vang, tức là một khoảnh khắc trong đó, do được bản tính của anh làm cho dễ chịu, tôi đã định ngỏ với anh tiếng xưng hô thân mật của tình anh em, nhưng rồi lại không tự khước từ cái nhận thức rằng như vậy có phần hơi hấp tấp. Tốt, hôm nay tôi vin vào khoảnh khắc ấy, tôi quay trở lại với nó, tôi tuyên bố sự trì hoãn khi ấy đã mãn hạn. Chàng trai, chúng ta là anh em, tôi tuyên bố như vậy. Anh vừa nói đến một tiếng xưng hô thân mật đầy đủ ý nghĩa, thì tiếng xưng hô của chúng ta cũng sẽ có đầy đủ ý nghĩa, cái ý nghĩa của tình huynh đệ trong cảm xúc. Sự đền bù mà tuổi tác và cơn trái chứng ngăn không cho tôi đem lại cho anh bằng vũ khí, tôi xin hiến cho anh dưới hình thức này, tôi hiến nó cho anh dưới hình thức một minh ước huynh đệ, thứ người ta thường vẫn kết với nhau để chống lại kẻ thứ ba, chống lại thế giới, chống lại một ai đó, còn chúng ta thì muốn kết nó trong tình cảm vì một ai đó. Hãy cầm lấy ly rượu của anh, chàng trai, còn tôi lại cầm ly nước của tôi, để cuộc chè chén nho nhỏ này khỏi bị thiệt thòi thêm nữa...”
Và bằng bàn tay vị thuyền trưởng hơi run run, ông rót đầy hai chiếc ly, Hans Castorp với một nỗi sững sờ kính cẩn đã đỡ giúp ông.
“Cầm lấy đi!” Peeperkorn nhắc lại. “Khoác chéo tay với tôi! Và uống theo cách ấy! Uống cạn đi! Tuyệt hảo, chàng trai. Xong rồi. Đây, tay tôi đây. Cậu đã hài lòng chưa?”
“Như thế dĩ nhiên vẫn còn chưa nói hết được gì đâu, Mynheer Peeperkorn,” Hans Castorp nói; chàng đã hơi vất vả mới uống cạn được ly đầy trong một hơi, và lấy khăn tay lau đầu gối, vì rượu đã chảy xuống đó. “Thà tôi nói rằng tôi sung sướng vô cùng thì hơn, mà đến giờ tôi vẫn chưa thể hiểu nổi làm sao điều ấy lại bất ngờ đến với tôi như vậy, nói thật, tôi có cảm giác như trong mộng. Đó là một vinh dự lớn lao đối với tôi, tôi không biết mình đã làm gì để đáng được hưởng, nhiều lắm cũng chỉ theo lối thụ động mà thôi, chứ về những phương diện khác thì chắc chắn không; và người ta cũng không nên ngạc nhiên nếu lúc đầu tôi thấy có phần phiêu lưu khi phải đưa lối xưng hô mới ấy qua môi, nếu tôi vấp váp vì nó, nhất là trước mặt Clawdia, người mà, theo lối phụ nữ, có lẽ sẽ không hoàn toàn tán thành sự sắp đặt này...”
“Cứ để việc đó cho tôi,” Peeperkorn đáp, “còn chuyện kia thì để cho sự tập luyện và thói quen lo liệu! Và bây giờ thì đi đi, chàng trai! Hãy để tôi lại, con trai ta! Trời đã tối, buổi chiều đã sụp xuống hẳn rồi, người yêu dấu của chúng ta có thể quay về bất cứ lúc nào, và một cuộc chạm mặt giữa hai người lúc này có lẽ không phải là điều phải phép nhất.”
“Tạm biệt, Mynheer Peeperkorn!” Hans Castorp nói và đứng dậy. “Ngài thấy đó, tôi vượt qua nỗi ngại ngần chính đáng của mình và đã bắt đầu tập dượt cái lối xưng hô táo bạo ấy rồi. Phải rồi, trời tối hẳn rồi! Tôi có thể hình dung ngài Settembrini bỗng nhiên bước vào và vặn sáng đèn lên, để lý trí và tính xã giao chiếm lấy chỗ, ông ấy vốn có cái nhược điểm ấy mà. Hẹn mai! Tôi rời khỏi đây vui sướng và kiêu hãnh đến mức chính tôi cũng chưa từng có thể mơ tới, dù chỉ từ xa. Chúc anh chóng bình phục! Bây giờ sẽ đến ít nhất ba ngày không sốt cho anh, những ngày mà ngài sẽ đủ sức đáp ứng mọi đòi hỏi. Điều ấy làm tôi mừng như thể chính tôi là anh vậy. Chúc ngủ ngon!”
Mynheer Peeperkorn (Kết)
Thác nước bao giờ cũng là một đích ngoạn du lôi cuốn, và chúng ta hầu như không biết phải biện minh ra sao cho việc Hans Castorp, người vốn còn dành một thiện cảm đặc biệt trong lòng cho nước đổ, lại chưa bao giờ đến thăm ngọn thác nên thơ trong khu rừng của thung lũng Flüela. Trong quãng thời gian chung sống với Joachim, chàng còn có thể được miễn trách bởi tinh thần công vụ nghiêm ngặt của người anh em họ mình, kẻ không lên đây để tiêu khiển, và lối suy nghĩ khách quan, thực dụng của anh ấy đã thu hẹp tầm mắt của họ vào vùng lân cận gần nhất của nhà “Berghof”. Còn sau khi Joachim không còn nữa, thì vâng, ngay cả sau đó, quan hệ của Hans Castorp với phong cảnh nơi đây, nếu ta không kể đến những chuyến đi trượt tuyết của chàng, vẫn giữ cái tính đơn điệu bảo thủ mà sự tương phản của nó với tầm rộng của những trải nghiệm nội tâm và những bổn phận “cai quản” của chàng thậm chí lại không phải là không có, đối với chàng trai trẻ, một sức quyến rũ có ý thức nào đó. Dù sao đi nữa, chàng đã tán thành rất hồ hởi khi trong vòng thân cận hẹp của mình, cái nhóm bạn nhỏ gồm bảy người ấy (kể cả chính chàng), người ta bàn tới kế hoạch đánh xe đi tới nơi thắng cảnh được tiến cử kia.
Tháng Năm đã tới, tháng diễm phúc, nếu tin vào những bài ca nho nhỏ ngây ngô của miền đồng bằng, tuy ở trên này không khí vẫn còn khá lạnh và chẳng mấy ve vuốt, nhưng tuyết tan có thể coi là đã hoàn tất. Dẫu trong mấy ngày gần đây tuyết vẫn nhiều lần rơi thành bông lớn, thì nó cũng không còn đọng lại nữa, chỉ để lại đôi chút ẩm ướt; những khối tồn đọng của mùa đông đã ngấm xuống, tan như khói, chỉ còn lác đác vài tàn dư rồi cũng biến mất; thế giới xanh lên và có thể cất bước được ấy là một lời mời đối với mọi ham muốn lên đường.
Vả lại, sự giao du thân mật của cả nhóm trong mấy tuần gần đây cũng đã phải chịu thiệt thòi vì tình trạng khó ở của người đứng đầu họ, Pieter Peeperkorn vĩ đại, kẻ mang theo mình món của hồi môn nhiệt đới ác tính không chịu lùi bước trước tác động của khí hậu khác thường nơi đây, cũng chẳng trước những phương dược của một y sư xuất sắc như Hofrat Behrens. Ông đã phải nằm liệt giường nhiều, không chỉ vào những ngày cơn sốt cách ba ngày đòi lại những quyền hung dữ của nó. Lá lách và gan hành hạ ông, như Hofrat kín đáo cho những người gần gũi bệnh nhân biết; dạ dày của ông hẳn cũng chẳng ở trong một tình trạng mẫu mực, và Behrens không quên gợi cho thấy rằng, ngay cả đối với một bản tính hùng cường như thế, thì trong hoàn cảnh này, nguy cơ suy nhược mạn tính cũng không phải là hoàn toàn có thể gạt đi.
Trong những tuần ấy, Mynheer chỉ chủ trì có một bữa ăn uống buổi tối, và cả những cuộc tản bộ chung cũng đều thôi cả, chỉ trừ một cuộc không đi quá xa. Nói riêng với nhau, Hans Castorp về một phương diện nào đó đã cảm thấy sự nới lỏng trong tình bầu bạn của cả nhóm này như một điều nhẹ nhõm, bởi chén kết nghĩa đã uống với người bạn đồng hành của Frau Chauchat gây cho chàng lắm phiền toái; nó mang vào cuộc chuyện trò công khai của chàng với Peeperkorn cũng chính cái “gượng ép”, cũng chính sự “lảng tránh” và một thứ “né tránh” như thể nảy sinh từ một cuộc cá cược Vielliebchen nào đó, cái điều mà ông kia đã nhận ra trong mối giao tiếp của chàng với Clawdia: bằng những phương kế kỳ quặc, chàng lượn quanh lối xưng hô ấy, chừng nào không thể nuốt biến nó đi được, vì cùng một thế lưỡng nan ấy, hoặc thế lưỡng nan đảo ngược của nó, đã chi phối cuộc nói chuyện của chàng với Clawdia trước mặt người khác, kể cả khi chỉ có mặt riêng ông chủ của nàng, và nhờ sự đền bù thỏa đáng nhận được từ chính ông này mà nó đã hoàn tất thành một thế kẹt kép về hình thức.
Thế là kế hoạch một chuyến đi thác nước đã được đưa hẳn vào chương trình trong ngày, chính Peeperkorn đã định ra đích đến, và ông cảm thấy đủ khỏe để dự cuộc ấy. Đó là ngày thứ ba sau một cơn sốt cách ba ngày; Mynheer cho biết ông muốn tận dụng ngày này. Tuy ông không xuống phòng ăn trong những bữa đầu ngày, mà vẫn dùng chúng, như rất thường xảy ra gần đây, cùng Madame Chauchat trong phòng khách của mình, nhưng ngay từ bữa điểm tâm thứ nhất, Hans Castorp đã nhận được lệnh qua viên gác cổng cà nhắc là chuẩn bị sẵn sàng cho một chuyến dạo xe vào một giờ sau bữa trưa, rồi truyền mệnh lệnh ấy cho các ông Ferge và Wehsal, đồng thời báo cho Settembrini và Naphta biết rằng xe sẽ ghé đón họ, và sau hết là lo đặt hai cỗ Landauer vào lúc ba giờ.
Đúng giờ ấy, người ta tụ tập trước cổng nhà “Berghof”: Hans Castorp, Ferge và Wehsal đứng chờ ở đó các vị từ khu phòng vương hầu xuống, trong khi giải trí bằng cách vuốt ve những con ngựa đang dùng cặp môi đen, ướt và nặng nề của chúng nhận những viên đường nơi bàn tay xòe phẳng của họ. Những bạn đồng hành trong chuyến đi chỉ xuất hiện hơi trễ đôi chút trên bậc thềm chính. Peeperkorn, cái đầu đế vương của ông dường như đã gầy đi, đứng ở trên ấy trong chiếc áo ulster dài hơi sờn bên cạnh Clawdia, nhấc chiếc mũ mềm tròn lên, và đôi môi ông không thành tiếng mà kết thành một lời chào chung. Sau đó, ông bắt tay từng người trong ba người đàn ông đã tiến lại đón cặp đôi tới tận chân thềm.
“Chàng trai,” ông nói với Hans Castorp khi đặt bàn tay trái lên vai chàng, “... cậu thế nào, con trai ta?”
“Xin cảm ơn hết sức! Còn bên kia?” người được hỏi đáp lại...
Mặt trời chiếu sáng, là một ngày đẹp, trong và quang đãng, nhưng mặc áo khoác giao mùa quả là khôn ngoan: ngồi xe ắt hẳn sẽ thấy lạnh. Cả Madame Chauchat cũng mặc một chiếc áo choàng thắt đai ấm áp bằng thứ vải xơ lớn kẻ ô, và còn khoác ít lông quanh vai. Vành chiếc mũ dạ của nàng được một tấm mạng màu ô-liu buộc dưới cằm kéo ép xuống một bên, khiến nàng đẹp duyên dáng đến nỗi phần lớn những người có mặt hầu như thấy nhói đau, trừ Ferge, người duy nhất không yêu nàng; và chính sự thản nhiên ấy của ông dẫn tới việc, trong sự phân chia chỗ ngồi tạm thời, trước khi các vị ở ngoài nhập bọn, ông được ngồi băng sau đối diện với Mynheer và Madame trên chiếc Landauer thứ nhất, còn Hans Castorp, không phải là không bắt gặp một nụ cười châm biếm của Clawdia, thì cùng Ferdinand Wehsal trèo lên cỗ xe thứ hai. Con người mảnh khảnh của viên hầu phòng người Mã Lai cũng dự cuộc du ngoạn. Mang theo một chiếc giỏ rộng, dưới nắp ló ra cổ của hai chai rượu vang, và được ông cất dưới băng sau của chiếc Landauer đi trước, y đã xuất hiện theo sau chủ mình; và đúng vào khoảnh khắc y khoanh tay ngồi bên cạnh người đánh xe, lũ ngựa nhận hiệu lệnh, rồi hai cỗ xe, phanh còn ghìm, bắt đầu lăn bánh xuống khúc ngoặt của con đường.
Wehsal cũng đã nhận thấy nụ cười của Frau Chauchat, và, phô hàm răng hư nát, liền buông lời với bạn đồng hành về điều ấy.
“Ông có thấy không,” hắn hỏi, “nàng giễu ông ra sao vì ông phải ngồi xe một mình với tôi? Phải, phải, kẻ đã gặp tai ương thì chẳng cần lo thiếu lời chế nhạo. Ngồi cạnh tôi như thế, ông có bực lắm, có tởm lắm không?”
“Ông hãy giữ lấy mình đi, Wehsal, và đừng nói hèn hạ như thế!” Hans Castorp quở hắn. “Đàn bà hễ có dịp là mỉm cười, chỉ cốt để mỉm cười; lần nào cũng bận tâm vì chuyện ấy là vô ích. Sao ông cứ co rúm mãi thế? Ông cũng có chỗ hay chỗ dở như tất cả chúng ta thôi. Thí dụ, ông chơi _Giấc mộng đêm hè_ rất khá, đâu phải ai cũng làm được. Chẳng bao lâu nữa ông nên lại chơi đi.”
“Vâng, giờ ông nói với tôi từ trên cao dội xuống như thế,” cái con người khốn khổ ấy đáp, “mà chẳng hề biết trong lời an ủi của ông có biết bao ngạo mạn, và rằng như thế ông chỉ càng hạ nhục tôi thêm. Ông dễ bề nói năng, dễ bề an ủi từ trên lưng ngựa cao, bởi vì dẫu hiện thời ông có đứng ở một tư thế khá buồn cười đi nữa, thì ông cũng đã từng được nếm trải, đã từng ở trên tầng trời thứ bảy, lạy Chúa toàn năng, đã từng cảm thấy cánh tay nàng quàng quanh cổ ông và tất cả những điều ấy, lạy Chúa toàn năng, nghĩ tới là cổ họng tôi và hõm tim tôi như bốc lửa, còn ông, với ý thức trọn vẹn về những gì đã được dành cho mình, thì cúi xuống nhìn những cực hình ăn xin của tôi...”
“Cách ông diễn đạt chẳng đẹp chút nào, Wehsal. Thậm chí còn ghê tởm quá mức, điều ấy tôi đâu cần giấu ông, nhất là khi ông trách tôi ngạo mạn; mà hẳn ông cũng muốn nó ghê tởm như thế, ông gần như cố ý làm cho mình trở nên đáng chán ghét và cứ co quắp không ngừng. Thế ông thật sự yêu nàng đến thế sao?”
“Khủng khiếp!” Wehsal lắc đầu đáp. “Những gì tôi phải chịu đựng vì cơn khát và lòng ham muốn đối với nàng, thật không sao nói xiết; giá tôi có thể bảo rằng nó sẽ là cái chết của tôi, nhưng với nó người ta không sống được mà cũng chẳng chết được. Trong thời gian nàng đi vắng, mọi sự bắt đầu khá hơn đôi chút, nàng dần dần phai khỏi tâm trí tôi. Nhưng từ khi nàng trở lại và ngày nào tôi cũng thấy nàng trước mắt, nhiều lúc đến mức tôi cắn vào cánh tay mình, chụp vào khoảng không, mà chẳng biết làm sao cứu nổi mình. Thứ ấy lẽ ra không nên có trên đời, nhưng không thể cầu cho nó biến mất, kẻ nào mắc phải nó thì không thể cầu cho nó biến mất được; người ta hẳn phải cầu cho chính đời mình biến mất, cái đời đã hòa lẫn với nó, mà điều ấy thì không làm nổi, chết để làm gì kia chứ? Sau đó ư, thì thích lắm. Trong tay nàng ư, thì càng sẵn lòng biết bao. Nhưng trước đó thì vô lý, bởi đời sống ấy chính là khát vọng, và khát vọng chính là đời sống, nó không thể chống lại chính nó, đó là cái thế kẹt chết tiệt. Và khi tôi nói ‘chết tiệt’, thì tôi cũng chỉ nói như một cách nói mà thôi, như thể tôi là một kẻ khác vậy, chứ chính tôi thì không thể thật lòng nghĩ thế. Có biết bao cực hình, Castorp ạ, và ai đang ở trên một cực hình thì muốn thoát khỏi nó, chỉ đơn giản và tuyệt đối muốn thoát khỏi nó, đó là mục tiêu của họ. Nhưng khỏi cái cực hình của dục vọng xác thịt, người ta chỉ có thể muốn thoát theo con đường và với điều kiện là nó được thỏa mãn, ngoài ra thì không, bất cứ giá cũng không! Đó là sự sắp đặt ấy, và ai không mắc thì chẳng bận tâm thêm làm gì, nhưng ai mắc phải thì sẽ biết Chúa Giê-su của chúng ta, mắt người ấy sẽ trào ra. Lạy Chúa trên trời, thật là một sự sắp đặt, một chuyện thể nào, rằng xác thịt lại thèm khát xác thịt chỉ vì đó không phải là xác thịt của chính mình, mà thuộc về một linh hồn xa lạ, lạ lùng làm sao, mà xét cho kỹ lại còn giản dị làm sao trong vẻ tử tế e lệ của nó! Người ta có thể nói: nếu nó chỉ muốn có thế thôi, thì nhân danh Chúa, cứ cho nó đi! Tôi muốn gì đây, Castorp? Tôi muốn giết nàng chăng? Tôi muốn làm đổ máu nàng chăng? Không, tôi chỉ muốn ve vuốt nàng thôi! Castorp, Castorp thân mến, xin ông thứ cho tôi đã rên rỉ, nhưng nàng nhân danh Chúa có thể thuận lòng tôi mà! Trong đó cũng có một cái gì cao hơn chứ, Castorp, tôi đâu phải súc vật, theo cách của tôi, tôi cũng vẫn là một con người chứ! Dục vọng xác thịt đi đó đi đây, nó không bị ràng buộc, không cố định vào đâu, và vì thế ta gọi nó là thú tính. Nhưng một khi nó cố định vào một con người có một gương mặt, khi ấy miệng ta mới nói đến tình yêu. Cái tôi khao khát đâu chỉ là thân xác nàng và con búp bê bằng thịt của thân thể nàng; trái lại, nếu trên gương mặt nàng chỉ có một nét gì đó được tạo hình khác đi thôi, thì có lẽ tôi cũng sẽ chẳng còn khao khát toàn bộ thân thể nàng nữa, và bởi thế mới tỏ ra rằng tôi yêu linh hồn nàng, và tôi yêu nàng bằng linh hồn. Vì tình yêu đối với gương mặt là tình yêu của linh hồn...”
“Ông làm sao thế, Wehsal? Ông gần như mất trí rồi, lại còn cất lên những giọng điệu trời biết là gì ở đây...”
“Nhưng chính đó mới là điều ấy, chính đó lại cũng là nỗi bất hạnh ấy,” kẻ khốn khổ tiếp tục, “rằng nàng có một linh hồn, rằng nàng là một con người bằng cả xác lẫn hồn! Vì linh hồn nàng chẳng muốn biết gì tới linh hồn tôi, nên thân xác nàng cũng chẳng muốn biết gì tới thân xác tôi, ôi khốn khổ và đại nạn, và vì thế mà lòng ham muốn của tôi bị kết án phải nhục nhã, còn thân xác tôi thì phải quằn quại đời đời! Vì sao nàng chẳng muốn biết gì tới tôi, cả xác lẫn hồn, hở Castorp, và vì sao lòng ham muốn của tôi lại là một điều ghê tởm đối với nàng?! Chẳng lẽ tôi không phải là đàn ông sao? Một người đàn ông đáng ghê tởm thì không phải là đàn ông sao? Tôi còn là đàn ông ở mức cao nhất nữa kia, tôi xin thề với ông, tôi sẽ vượt xa tất cả những gì từng có nếu nàng mở cho tôi vương quốc hoan lạc nơi cánh tay nàng, đẹp đến thế bởi chúng thuộc về gương mặt linh hồn của nàng! Tôi sẽ làm cho nàng nếm đủ mọi khoái lạc của thế gian, Castorp ạ, nếu chỉ là chuyện của các thân thể chứ không còn cả chuyện của các gương mặt, nếu không có linh hồn chết tiệt của nàng, cái linh hồn chẳng muốn biết gì tới tôi, mà không có nó thì tôi cũng lại chẳng còn khao khát thân thể nàng nữa, đó là cái thế kẹt khốn kiếp của quỷ sứ, trong đó tôi quằn quại đời đời!”
“Wehsal, suỵt! Khẽ thôi chứ! Người đánh xe nghe thấy ông đấy! Quả hắn cố tình không quay đầu, nhưng nhìn cái lưng hắn là tôi biết hắn đang nghe.”
“Hắn hiểu và hắn nghe, ông thấy chưa, Castorp! Ông lại thấy ngay cái sự sắp đặt và câu chuyện ấy trong tính cách riêng của nó rồi đấy! Nếu tôi nói về Palingenesie hay về... thủy tĩnh học, thì hắn chẳng hiểu gì, chẳng có lấy một ý niệm, chẳng buồn nghe, cũng chẳng quan tâm đâu. Vì những thứ ấy không thông tục. Nhưng chuyện cao nhất và cuối cùng và bí mật ghê rợn nhất, chuyện về xác thịt và linh hồn, thì ấy đó, đồng thời lại là chuyện thông tục nhất, và ai ai cũng hiểu, ai ai cũng có thể chế nhạo kẻ mắc phải nó, kẻ mà nó biến ban ngày thành cực hình của lạc thú và ban đêm thành địa ngục ô nhục! Castorp, Castorp thân mến, hãy để tôi rên rỉ đôi chút, vì tôi có những đêm như thế nào! Đêm nào tôi cũng mơ thấy nàng, ôi, tôi chẳng mơ đủ mọi điều về nàng đó sao, nghĩ tới là cổ họng và vùng dạ dày tôi như bốc lửa! Và bao giờ kết cục cũng là nàng tát tôi, đánh vào mặt tôi, thỉnh thoảng còn nhổ vào tôi nữa, với gương mặt linh hồn méo đi vì ghê tởm, nàng nhổ vào tôi, rồi tôi tỉnh dậy, phủ đầy mồ hôi, ô nhục và khoái cảm...”
“Nào, Wehsal, giờ thì ta hãy im đi và quyết định ngậm miệng lại cho tới lúc đến nhà ông chủ tiệm tạp hóa và có ai đó ngồi vào với chúng ta. Đó là đề nghị và cũng là mệnh lệnh của tôi. Tôi không muốn làm ông tổn thương và thừa nhận rằng ông đang ở trong cơn bí bách lớn, nhưng ở nhà chúng tôi có một câu chuyện về một người bị trừng phạt bằng cách mỗi khi mở miệng nói thì rắn và cóc từ mồm chui ra, mỗi lời là một con rắn hoặc một con cóc. Trong sách không chép người ấy xử sự ra sao trước tình cảnh đó, nhưng tôi vẫn luôn nghĩ rằng hẳn rồi người ấy cũng phải quay sang chuyên tâm giữ mồm giữ miệng thôi.”
“Nhưng nói ra và làm nhẹ lòng mình là một nhu cầu của con người,” Wehsal khổ sở nói, “một nhu cầu của con người, Castorp thân mến ạ, khi người ta đang ngồi trong những cơn bí bách như tôi.”
“Thậm chí còn là một quyền của con người nữa, Wehsal, nếu ông muốn thế. Nhưng theo ý tôi, có những quyền mà trong vài hoàn cảnh người ta khôn ngoan hơn nếu đừng sử dụng.”
Thế là theo lệnh Hans Castorp, họ im lặng; vả lại, hai cỗ xe cũng đã mau chóng tới căn nhà nhỏ phủ đầy lá nho của ông chủ tiệm tạp hóa, nơi họ không phải chờ lấy một khắc: Naphta và Settembrini đã đứng sẵn ngoài đường, người sau mặc chiếc áo khoác lông đã sờn hỏng của mình, còn người trước thì khoác một chiếc áo choàng xuân màu vàng trắng, chần chỉ khắp nơi, trông thật kiểu cách. Người ta vẫy tay, trao đổi lời chào trong khi xe quay đầu, rồi các ông lên xe: Naphta ngồi thành người thứ tư trên chiếc Landauer đi trước, bên cạnh Ferge, còn Settembrini, hứng chí rạng rỡ, tuôn ra những câu đùa sáng láng, thì nhập bọn với Hans Castorp và Wehsal; Wehsal nhường cho ông chỗ ngồi ở đuôi xe, một chỗ mà Herr Settembrini biết cách chiếm lấy với dáng vẻ của kẻ đi dạo xe trên đại lộ, trong một sự lơi lả chọn lọc.
Ông ca ngợi thú vui đi xe, cái việc thân thể được mang đi trong trạng thái nghỉ ngơi khoan khoái giữa cảnh trí luôn đổi thay; tỏ ra niềm nở đầy vẻ phụ huynh với Hans Castorp và thậm chí còn vỗ nhẹ lên má tội nghiệp của Wehsal, vừa bảo hắn hãy quên đi cái bản ngã kém khả ái của mình trong sự chiêm ngưỡng thế giới tươi sáng, vừa vung cánh tay phải đeo găng da cũ rách mà chỉ về phía ấy.
Họ có một chuyến đi tuyệt hảo. Cả bốn con ngựa đều là những con có chấm trắng trên trán, lanh lợi, thấp đậm, mượt mà và béo tốt, gõ nhịp chắc nịch trên con đường tốt còn chưa bụi. Những mảnh đá núi, trong các kẽ nứt cỏ hoa đâm chồi, đôi khi áp sát mép đường; các cột điện tín lùi vụt ra sau; rừng núi dâng lên; những khúc cong duyên dáng, người ta hướng tới rồi bỏ lại sau lưng, nuôi sự hiếu kỳ của kẻ đi đường; và luôn luôn, trong tầm nhìn xa ngập nắng, dãy núi còn lốm đốm tuyết vẫn thấp thoáng. Miền thung lũng quen thuộc đã bị bỏ lại, sự xê dịch của khung cảnh thường nhật làm tinh thần tươi tỉnh. Chẳng bao lâu họ dừng lại bên rìa rừng: từ đây người ta muốn tiếp tục cuộc du ngoạn bằng chân và tiến tới đích, một cái đích mà từ khá lâu rồi, tuy ban đầu chưa hề nhận ra, họ đã ở trong một thứ tiếp xúc cảm quan yếu ớt nhưng mỗi lúc một tăng cường. Một âm thanh xa xăm trở nên rõ với tất cả ngay khi xe ngừng lại, một tiếng rít, rung lắc và ù ù khe khẽ, đôi khi còn lại vụt thoát khỏi khả năng tri giác, người này giục người kia lắng nghe để phân biệt nó, và họ đứng chân như bị ghim chặt mà lắng tai.
“Bây giờ,” Settembrini nói, người đã tới đây nhiều lần, “nó còn e dè. Nhưng tới ngay tại chỗ thì vào mùa này nó dữ dằn lắm, hãy chuẩn bị đi, chúng ta sẽ không nghe nổi chính lời mình nói đâu.”
Thế là họ đi sâu vào rừng, trên một con đường phủ lá thông ẩm, dẫn đầu là Pieter Peeperkorn, tựa vào cánh tay người bạn đồng hành của mình, chiếc mũ mềm màu đen sụp xuống trán, bước đi nghiêng nghiêng sang một bên; ở giữa, ngay sau họ, là Hans Castorp, đầu trần như tất cả các ông khác, hai tay đút túi, đầu hơi chếch, miệng khẽ huýt sáo mà nhìn quanh; rồi đến Naphta và Settembrini, sau đó là Ferge với Wehsal, và cuối cùng người Mã Lai đi một mình, xách giỏ thức điểm tâm trên tay. Họ nói về khu rừng.
Khu rừng ấy không giống những khu rừng khác; nó phô ra một cảnh tượng kỳ dị về mặt hội họa, thậm chí có phần ngoại lai, nhưng cũng rờn rợn. Nó đầy tràn một thứ địa y rêu mốc; bị thứ ấy bám treo, chất nặng, quấn bọc từ đầu đến cuối; trong những chòm râu dài màu sắc xấu xí, cái mạng sợi rối bù của loài cây ký sinh ấy đong đưa từ những cành cây bị giăng phủ, bị đệm dày: hầu như không thấy lá kim đâu cả, chỉ thấy toàn những màn rêu buông thõng, một sự biến dạng nặng nề, quái đản, một cảnh tượng bị phù phép và bệnh hoạn. Khu rừng ấy không được khỏe, nó lâm bệnh vì thứ địa y phì nộn kia, thứ ấy đe dọa bóp nghẹt nó, đó là ý kiến chung, trong khi đoàn nhỏ cứ tiến lên trên lối lá kim, bên tai là âm thanh của đích đến mà họ đang tới gần, cái tiếng ầm ì và rít lên ấy, dần dần biến thành náo động và hứa hẹn làm cho lời tiên đoán của Settembrini thành sự thật.
Một khúc ngoặt của đường mở ra trước mắt khe núi rừng và đá có cầu bắc qua, nơi thác nước đổ xuống; và khi cảnh tượng ấy hiện ra, tác động lên thính giác cũng lên tới tột đỉnh, đó là một màn náo động địa ngục. Khối nước đổ thẳng đứng chỉ trong một dòng thác duy nhất, nhưng cao hẳn bảy tám mét, mà bề ngang cũng đáng kể, rồi trắng xóa lao tiếp qua các mỏm đá. Nó đổ xuống với một thứ ồn ào điên cuồng, trong đó dường như mọi loại âm thanh và mọi cao độ đều hòa lẫn vào nhau, tiếng sấm và tiếng rít, tiếng gầm, tiếng tru hú, tiếng kèn trỗi, tiếng đổ vỡ, tiếng rào rào, tiếng chấn động và cả tiếng chuông ngân; thật tình người ta tưởng chừng giác quan mình phải tiêu tan mất. Khách tham quan đã tiến sát lại trên nền đá trơn trượt và ngắm nhìn, bị hơi ẩm phả vào, bị bụi nước tạt vào, bọc trong màn sương nước, tai đầy ứ và bịt kín bởi tiếng ồn, đồng thời trao đổi những cái nhìn và vừa lắc đầu với nụ cười e ngại trước cảnh tượng kia, cái tai họa thường trực bằng bọt trắng và tiếng đập phá nọ, mà sự gầm thét cuồng loạn quá mức của nó làm họ choáng váng, gieo cho họ nỗi sợ hãi và gây ra những ảo giác thính giác. Người ta tưởng như nghe phía sau lưng, phía trên đầu, từ mọi phía những tiếng kêu đe dọa và cảnh báo, những tiếng kèn đồng và những giọng đàn ông thô nhám.
Tụm lại phía sau Mynheer Peeperkorn, Frau Chauchat ở giữa năm vị nam khách kia, họ cùng ông nhìn vào dòng thác. Họ không thấy mặt ông, nhưng thấy ông để lộ cái đầu trắng như ngọn lửa và ưỡn lồng ngực trong làn khí tươi mát. Họ trao đổi với nhau bằng ánh mắt và dấu hiệu, vì có lẽ lời nói, dù có gào thẳng vào tai, cũng sẽ bị tiếng sấm của dòng thác át mất. Môi họ tạo thành những lời kinh ngạc và thán phục, nhưng vẫn câm lặng. Hans Castorp, Settembrini và Ferge ra hiệu với nhau bằng những cái gật đầu rằng sẽ trèo lên cao trên khe núi, nơi đáy khe họ đang đứng, để tới chiếc cầu trên và từ đó ngắm dòng nước. Việc ấy không khó nhọc: một hàng dốc những bậc thang hẹp đục vào đá dẫn lên như thể tới một tầng cao hơn của khu rừng; họ nối nhau trèo lên, bước lên cây cầu, rồi từ giữa cầu, lơ lửng trên độ cong của dòng thác, tựa vào lan can mà vẫy tay với những người bạn phía dưới. Sau đó họ đi hẳn sang bên kia, vất vả tụt xuống ở phía đối diện, và từ bờ bên kia dòng nước dữ, nơi ngay dưới này cũng có một cây cầu bắc qua, lại hiện ra trước mắt những người đã ở lại.
Những dấu hiệu trao đổi lúc này đều nhằm vào việc dùng bữa xế. Từ nhiều phía, người ta ra hiệu rằng nên lánh khỏi vùng ồn ào này một quãng để, với thính giác đã được giải thoát phần nào, chứ không điếc đặc và câm lặng, mà thưởng thức bữa điểm tâm được khoản đãi. Nhưng rồi phải nhận ra rằng ý chí của Peeperkorn lại chống đối điều ấy. Ông lắc đầu, liên tiếp chọc ngón trỏ xuống nền đất, và đôi môi rách nẻ của ông, cố sức tách ra, nắn thành một tiếng: “Ngay đây!” Biết làm sao bây giờ? Trong những vấn đề điều khiển như thế, ông là chủ nhân và người ra lệnh. Sức nặng của cá tính ông hẳn cũng đủ quyết định, ngay cả nếu, như vẫn thường, chính ông không phải là người tổ chức và bậc thầy của cuộc đi này. Tầm vóc ấy xưa nay vốn chuyên chế và độc đoán, rồi sẽ còn như vậy mãi. Mynheer muốn ăn bữa xế trước thác nước, giữa tiếng sấm gầm, ấy là tính bướng bỉnh đầy quyền lực của ông, và ai không muốn ra về tay không thì phải ở lại đây. Phần đông không hài lòng. Herr Settembrini, thấy khả năng trao đổi giữa người với người, một cuộc chuyện trò hay tranh luận vừa dân chủ vừa thanh nhã, đã bị cắt đứt, bèn làm cái cử chỉ tuyệt vọng và cam chịu mà quăng tay qua đầu. Người Mã Lai vội vàng thi hành mệnh lệnh của chủ. Có sẵn hai chiếc ghế xếp, hắn mở ra cho Mynheer và Madame tựa vào vách đá. Rồi dưới chân họ, trên một tấm khăn, hắn bày hết trong giỏ ra: bộ đồ cà phê và ly cốc, những bình giữ nhiệt, bánh ngọt và rượu vang. Mọi người chen tới để chia phần. Rồi người ta ngồi trên những hòn đá dăm, trên lan can chiếc cầu, tay cầm tách cà phê nóng, đĩa bánh đặt trên gối, mà lặng lẽ dùng bữa xế trong tiếng ầm vang.
Peeperkorn, cổ áo choàng bẻ cao, mũ để bên mình trên mặt đất, uống rượu porto bằng một chiếc cốc bạc có khắc chữ lồng, ông rót cạn nó mấy lần. Và bỗng nhiên ông bắt đầu nói. Người đàn ông kỳ quái làm sao! Không thể nào ông nghe được chính giọng mình, huống hồ người khác có thể hiểu nổi một âm tiết trong những gì ông cho phát ra mà rốt cuộc chẳng phát ra thành tiếng. Thế nhưng ông vẫn giơ ngón trỏ lên, tay phải cầm cốc, tay trái duỗi ra, lòng bàn tay nâng xếch, và người ta thấy gương mặt đế vương của ông cử động trong khi nói, cái miệng nắn thành những lời câm lặng, như thể chúng được thốt ra trong một khoảng không không có khí. Không ai nghĩ gì khác ngoài việc ông hẳn sẽ lập tức thôi ngay cái việc làm vô ích ấy, điều mà người ta nhìn với nụ cười ngượng ngập; vậy mà ông vẫn tiếp tục, bằng những cử chỉ văn hóa mê hoặc của bàn tay trái, những cử chỉ cưỡng bức sự chú ý, mà bày tỏ trong chính cái tiếng ầm vang nuốt chửng mọi sự kia, đồng thời lần lượt hướng đôi mắt nhỏ, mệt mỏi và tái nhợt, bị cưỡng bách banh to dưới những nếp nhăn căng thẳng nơi trán, vào người này rồi người khác trong đám khán giả của mình, khiến kẻ vừa bị ông ngỏ lời buộc phải nhướng mày gật đầu với ông và há miệng lấy bàn tay khum đặt vào vành tai, như thể như thế có thể cứu vãn đôi chút cái sự vô vọng của tình thế. Bây giờ ông thậm chí còn đứng lên nữa! Cốc vẫn cầm trong tay, trong chiếc áo khoác du lịch bị ép dúm gần chấm chân, cổ áo dựng đứng, đầu trần, vầng trán cao xếp nếp như tượng thần bốc sáng bởi mái tóc trắng, ông đứng bên vách đá, khuôn mặt cử động, trước mặt đưa lên theo lối diễn giảng cái vòng các ngón tay với ngón trỏ vươn ra như mũi giáo, ban cho sự mơ hồ của lời chúc câm điếc ấy cái dấu hiệu mê hoặc của sự chính xác. Từ cử chỉ của ông và từ môi ông, người ta nhận ra vài từ riêng lẻ mà vốn quen nghe nơi ông: “Hoàn hảo” và “Xong rồi”, ngoài ra không gì nữa. Người ta thấy đầu ông nghiêng xếch, nơi môi là vẻ chua đắng rách nát, hình ảnh con người của đau khổ. Rồi lại thấy lúm đồng tiền phồn mãn nở ra, vẻ tinh quái khoái lạc, một động tác vén áo như nhảy múa, cái dâm tục thiêng liêng của vị tư tế ngoại giáo. Ông nâng cốc lên, đưa nó thành nửa vòng cung trước mắt các vị khách, rồi chỉ trong hai ba ngụm uống cạn đến giọt cuối cùng, đến nỗi đáy cốc dựng ngược hẳn lên trời. Sau đó ông duỗi tay trao nó cho người Mã Lai; hắn đặt tay lên ngực nhận lấy chiếc cốc, còn ông ra hiệu lên đường.
Mọi người đều cúi mình về phía ông để tỏ lòng cảm tạ, trong khi sửa soạn làm theo lệnh. Ai đang ngồi xổm trên đất thì bật dậy, ai ngồi trên lan can cầu thì tụt xuống. Gã Java gầy mảnh với chiếc mũ cứng và cổ áo lông gom nhặt tàn dư bữa ăn cùng đồ dùng lại. Theo chính trật tự hàng một chật hẹp như lúc đến, người ta quay trở lại con đường lá kim ẩm ướt, qua khu rừng bị những chùm địa y che phủ đến mức không còn nhận ra hình dạng, để về con đường lớn nơi các cỗ xe đang đợi.
Lần này Hans Castorp trèo lên ngồi với vị chủ soái và người bạn đồng hành của ông. Bên cạnh anh là Ferge tốt bụng, kẻ mà mọi điều cao siêu đều hoàn toàn xa lạ; anh ngồi đối diện cặp ấy. Suốt chuyến trở về hầu như chẳng ai nói gì. Mynheer ngồi, hai bàn tay bẹt đặt trên tấm chăn kẻ ô phủ đầu gối ông cùng đầu gối Clawdia, và để hàm dưới trễ xuống. Settembrini và Naphta xuống xe, từ biệt trước khi các cỗ xe vượt qua đường ray và dòng nước. Wehsal một mình ngồi cỗ xe thứ hai đi lên khúc ngoặt của đường rồi tới trước cổng Berghof, nơi người ta chia tay nhau. –
Phải chăng trong đêm ấy, giấc ngủ của Hans Castorp, do một sự sẵn sàng nội tâm nào đó mà tâm hồn chàng không hề biết tới, đã bị giữ cho nhẹ và lướt, đến nỗi chỉ cần một sai biệt nhỏ nhất so với nền yên tĩnh quen thuộc ban đêm của tòa nhà Berghof, một xao động dầu đã bị dằn xuống đến đâu, một rung chuyển hầu như không nhận thấy do tiếng chạy từ xa, cũng đủ làm chàng tỉnh hẳn, ngồi bật dậy giữa đống gối? Quả đúng thế, chàng thức dậy khá lâu trước khi có tiếng gõ cửa phòng, việc ấy xảy ra vào quãng sau hai giờ. Chàng đáp lời ngay tức khắc, không còn ngái ngủ, hoàn toàn tỉnh trí và đầy nghị lực. Đó là giọng cao và chưa vững của một nữ y tá làm việc trong nhà, nhân danh Frau Chauchat xin chàng lập tức xuống tầng một. Với một nghị lực còn mạnh hơn, chàng tuyên bố vâng lời, bật khỏi giường, chui vội vào quần áo, dùng ngón tay hất tóc khỏi trán, rồi đi xuống không nhanh mà cũng không chậm, mơ hồ về cái cách thức của giờ phút ấy hơn là về chính sự việc.
Chàng thấy cửa phòng khách của Peeperkorn để mở, và cửa phòng ngủ của người Hà Lan cũng vậy, nơi mọi ngọn đèn đều sáng trưng. Hai bác sĩ, bà giám viện von Mylendonk, Madame Chauchat và người hầu phòng Java đều có mặt ở đó. Người này, không ăn mặc như thường lệ mà khoác một thứ quốc phục, một chiếc áo như sơ-mi sọc to với tay áo rất dài và rất rộng, một tấm váy sặc sỡ thay cho quần, trên đầu đội chiếc mũ hình nón bằng vải vàng, lại còn mang trước ngực đồ trang sức kết bằng bùa hộ mệnh, đứng bất động, hai tay khoanh trước ngực, ở bên trái phía đầu giường, nơi Pieter Peeperkorn nằm ngửa, hai tay duỗi thẳng. Người mới bước vào, mặt tái đi, đảo mắt nhìn toàn cảnh. Frau Chauchat quay lưng về phía chàng. Nàng ngồi trên một chiếc ghế bành thấp ở cuối giường, tì khuỷu tay lên tấm chăn bông, cằm đặt vào tay, các ngón tay vùi vào môi dưới, và chăm chăm nhìn gương mặt người bạn đường của mình.
“Chào buổi tối, cậu bạn,” Behrens nói; ông vừa đứng chuyện trò khe khẽ với bác sĩ Krokowski và bà giám viện, vừa buồn bã gật đầu, cái ria trắng hơi chúm lại. Ông mặc áo choàng lâm sàng, từ túi ngực ló ra chiếc ống nghe, đi đôi dép thêu buổi sớm và không mang cổ cồn. “Không làm gì được nữa,” ông thì thầm nói thêm. “Làm tới nơi tới chốn rồi. Cứ lại gần đi. Hãy nhìn ông ấy bằng con mắt của người sành nghề. Anh sẽ phải thừa nhận rằng ở đây người ta đã phòng trước cả nghệ thuật y khoa một cách hết sức chu đáo.”
Hans Castorp kiễng chân tiến lại gần giường. Đôi mắt người Mã Lai theo dõi chàng trong chuyển động ấy, dõi theo chàng mà không quay đầu, đến nỗi lộ cả lòng trắng. Chàng liếc ngang nhận thấy Frau Chauchat chẳng để ý gì đến mình, rồi đứng vào cái dáng điệu quen thuộc bên giường, dồn trọng lượng lên một chân, hai tay chắp trước bụng dưới, đầu nghiêng xếch, trong một tư thế chiêm niệm đầy kính cẩn. Peeperkorn nằm dưới tấm chăn lụa đỏ, mặc chiếc áo dệt kim như Hans Castorp đã thấy nơi ông biết bao lần. Hai bàn tay ông bầm lên thành màu xanh đen, vài phần trên mặt cũng thế. Điều ấy tạo nên một sự biến dạng đáng kể, tuy ngoài ra những nét đế vương của ông vẫn không đổi. Hệ thống những nếp gấp như tượng thần trên vầng trán cao bốc viền trắng ấy, chạy ngang thành bốn năm hàng rồi lại vuông góc đổ xuống hai bên thái dương, được khắc đậm bởi sự căng thẳng thành thói của cả một đời người, nay, dù mí mắt đã khép xuống, trong trạng thái nghỉ ngơi, vẫn hiện ra rõ rệt. Đôi môi chua đắng rách nẻ hơi hé mở. Màu xanh bầm ấy cho thấy một sự đình trệ đột ngột, một sự chặn đứng dữ dội như nhát đánh vào những chức năng sinh mệnh.
Hans Castorp đứng yên một lúc trong niềm trang nghiêm tự mình tìm hiểu tình trạng sự việc; chàng chần chừ chưa muốn bỏ tư thế ấy, chờ một lời ngỏ từ “quả phụ”. Vì lời ấy không đến, chàng tạm thời không muốn làm phiền và ngoái nhìn nhóm những người còn lại ở phía sau lưng mình. Viên Hofrat khẽ ngoắc đầu theo hướng phòng khách. Hans Castorp theo ông đi sang đó.
“_Suicidium?_” chàng hỏi, giọng hạ thấp và có tính nghề nghiệp...
“Phải!” Behrens đáp, làm một cử chỉ hất đi, rồi nói thêm: “Hoàn toàn. Ở mức tuyệt đối. Anh đã từng thấy thứ gì như thế này trong hàng đồ mỹ nghệ chưa?” ông hỏi, vừa lôi từ túi áo choàng ra một cái hộp hình dạng không đều, vừa lấy từ đó một vật nhỏ chìa cho chàng xem... “Tôi thì chưa. Nhưng đáng xem đấy. Học mãi chẳng bao giờ hết. Cầu kỳ và giàu sáng kiến. Tôi đã lấy nó khỏi tay ông ta. Coi chừng. Nếu có gì nhỏ lên da anh, anh sẽ nổi bóng phỏng.”
Hans Castorp xoay vật bí hiểm ấy giữa các ngón tay. Nó làm bằng thép, ngà, vàng và cao su, trông hết sức kỳ quái. Nó có hai càng chĩa cong bằng thép sáng loáng với những mũi nhọn cực sắc, một phần giữa bằng ngà hơi uốn cong và khảm vàng, trong đó hai càng có thể cử động theo một mức độ nào đó và theo một lối đàn hồi nhất định, tức là chụm vào phía trong, rồi kết thúc bằng một chỗ phình như quả bóng làm bằng thứ cao su đen nửa cứng. Kích thước của nó chỉ chừng vài inch.
“Cái gì thế này?” Hans Castorp hỏi.
“Cái này,” Behrens đáp, “là một ống tiêm chích được cấu tạo thành cả một cơ cấu. Hoặc, nhìn theo cách ngược lại, là một bản sao cơ khí của bộ máy cắn nơi con rắn hổ mang kính. Anh hiểu chứ? Có vẻ anh chưa hiểu,” ông nói, thấy Hans Castorp vẫn tiếp tục ngây người cúi nhìn cái dụng cụ quái dị ấy. “Đây là răng. Chúng không hoàn toàn đặc, mà bị xuyên qua bởi một ống mao dẫn, một kênh thật mảnh, mà lỗ thoát ở phía trước này, hơi cao hơn đầu nhọn, anh có thể thấy rất rõ. Dĩ nhiên, các ống ấy ở gốc răng bên này cũng hở ra, và ở đó chúng thông với ống dẫn từ tuyến cao su, chạy trong phần giữa bằng ngà. Khi cắn xuống, hai răng hơi bật vào trong, điều đó thấy rõ, và tạo một áp lực lên bầu chứa, đẩy chất bên trong vào các ống, để cho đúng vào khoảnh khắc các đầu nhọn ngoạm vào thịt, liều thuốc cũng đã phóng vào mạch máu rồi. Mọi sự rất đơn giản, khi có nó ngay trước mắt thế này. Chỉ cần nghĩ ra thôi. Có lẽ nó đã được làm theo chỉ dẫn riêng của ông ta.”
“Chắc chắn!” Hans Castorp nói.
“Lượng thuốc nạp hẳn không thể lớn lắm,” viên Hofrat nói tiếp. “Điều nó thiếu về số lượng hẳn đã được bù lại bằng...”
“Động lực,” Hans Castorp tiếp lời.
“Đấy, thế mới phải. Nó là gì thì rồi chúng ta sẽ còn xác minh ra thôi. Người ta có thể chờ kết quả ấy với đôi chút hiếu kỳ, hẳn sẽ học được điều gì đó. Cá là gã ngoại lai đang thức canh đằng kia, kẻ tối nay ăn vận bảnh bao đến thế, có thể nói với chúng ta đầu đuôi chính xác. Tôi đoán đây là một hỗn hợp giữa chất động vật và chất thực vật, dù sao thì cũng là tinh túy của cái tốt, vì tác dụng hẳn phải dữ dội lắm. Mọi dấu hiệu đều cho thấy nó đã lập tức chặn mất hơi thở của ông ta, làm tê liệt trung khu hô hấp, anh biết đấy, một cái chết ngạt rất nhanh, có lẽ không co giật và không đau đớn.”
“Cầu Chúa cho được thế!” Hans Castorp thành kính nói, thở dài trao lại cho viên Hofrat cái dụng cụ nhỏ rùng rợn ấy, rồi trở vào phòng ngủ.
Lúc này trong đó chỉ còn người Mã Lai và Madame Chauchat. Lần này Clawdia ngẩng đầu nhìn chàng trai khi anh lại gần giường một lần nữa.
“Ông có quyền được tôi cho gọi tới,” nàng nói.
“Bà thật có lòng,” chàng nói, “và bà nói phải. Chúng tôi là chỗ bạn bè xưng hô thân mật với nhau. Tôi xấu hổ tận đáy lòng vì đã xấu hổ về điều ấy trước mặt mọi người và dùng những lối vòng vo. Bà đã ở bên ông ấy trong những giây phút cuối cùng chứ?”
“Người hầu báo cho tôi biết khi mọi sự đã xong,” nàng đáp.
“Ông là một con người có tầm vóc như thế,” Hans Castorp lại bắt đầu, “đến nỗi ông cảm thấy sự bất lực của tình cảm trước đời sống như một thảm họa vũ trụ và như một điều sỉ nhục đối với Thượng đế. Bởi ông xem mình là khí quan hôn lễ của Thượng đế, bà phải biết thế. Đó là một cơn điên rồ vương giả... Khi người ta bị xúc động, người ta có can đảm dùng những cách nói nghe ra thô bạo và bất kính, nhưng lại trang nghiêm hơn những lời thành kính chính thức đã được chuẩn thuận.”
“_C’est une abdication_,” nàng nói. “Ông ấy biết chuyện điên rồ của chúng ta sao?”
“Tôi không thể nào chối với ông ấy rằng điều đó không có, Clawdia. Ông ấy đã đoán ra từ việc tôi từ chối hôn lên trán bà trước mặt ông ấy. Trong giây phút này sự hiện diện của ông ấy mang tính biểu tượng nhiều hơn là hiện thực, nhưng bà có muốn cho phép tôi làm điều đó bây giờ không?”
Nàng khẽ đưa đầu về phía chàng, mắt nhắm lại, như bằng một cái gật thật nhỏ. Chàng đặt môi lên trán nàng. Đôi mắt nâu thú vật của người Mã Lai giám sát cảnh ấy từ khóe nhìn xếch sang, đến nỗi lộ cả lòng trắng.
Cơn trì độn lớn
Một lần nữa ta lại nghe giọng của Hofrat Behrens, vậy hãy lắng tai cho kỹ! Có lẽ đây là lần cuối cùng ta nghe thấy nó! Đến cả câu chuyện này rồi cũng có lúc kết thúc; nó đã kéo dài trong một thời gian lâu nhất, hay nói đúng hơn: thời gian nội dung của nó đã lăn đi đến mức không gì còn ghìm lại nổi nữa, đến nỗi cả thời gian âm nhạc của nó cũng đang đi tới chỗ cạn kiệt, và có lẽ sẽ chẳng còn dịp nào nảy ra để ta còn nghe lén được cái ngữ điệu vui vẻ trong lời nói của vị Rhadamanthys đầy thành ngữ kia nữa. Ông nói với Hans Castorp:
“Castorp, lão Thụy Điển già, cậu đang chán. Cậu xệ cả mặt xuống, ngày nào tôi cũng thấy, nỗi bực bõ hiện cả lên trán cậu. Cậu là một cậu ấm chán chường, Castorp ạ, cậu được nuông chiều bằng những cảm giác mạnh, và nếu không phải ngày nào cũng có món hạng nhất dâng đến cho cậu, thì cậu lại sinh sự và hầm hừ vì cái thời vắng chuyện. Tôi nói đúng hay sai?”
Hans Castorp im lặng, mà vì chàng đã im lặng như thế, hẳn trong lòng chàng quả thật đang có bóng tối ngự trị.
“Tôi đúng, như mọi khi,” Behrens tự trả lời mình. “Và trước khi ông gieo rắc ở đây nọc độc chán ngán quốc gia, hỡi công dân bất mãn, thì ông nên thấy rằng ông tuyệt nhiên không bị trời đất và người đời bỏ rơi đâu, trái lại, nhà chức trách vẫn để mắt tới ông, một con mắt không rời, bạn thân mến, và không ngơi nghĩ đến việc mua vui cho ông. Lão Behrens này vẫn còn đây nữa kia mà. Nào, giờ thì thôi đùa nhé, cậu bạn! Tôi đã nghĩ ra một điều cho trường hợp của ông, lạy Chúa, tôi đã trằn trọc vì ông trong những đêm mất ngủ. Có thể gọi đó là một sự soi sáng cũng được - quả thật tôi kỳ vọng rất nhiều ở ý tưởng của mình, nghĩa là không hơn không kém: tẩy độc cho ông và đưa ông khải hoàn về nhà trong một thời gian gần đến mức ông chưa từng ngờ.”
“Giờ thì ông trợn mắt rồi đấy,” ông ta nói tiếp sau một quãng ngừng kiểu cách, mặc dầu Hans Castorp chẳng hề trợn mắt, mà chỉ nhìn ông khá buồn ngủ và lơ đãng, “và không hề biết lão Behrens định nói ra sao. Nhưng tôi nói thế này. Ở ông có cái gì đó không ổn, Castorp, điều ấy hẳn không thoát khỏi sự lĩnh hội đáng kính của ông đâu. Không ổn ở chỗ những biểu hiện trúng độc của ông từ lâu đã không còn thật ăn khớp với tình trạng tại chỗ rõ ràng đã khá lên rất nhiều nữa - đâu phải từ hôm qua tôi mới ngẫm nghĩ về chuyện ấy. Đây là tấm ảnh mới nhất của ông... ta thử giơ phép màu này lên ánh sáng xem nào. Ông thấy đấy, đến cả kẻ càm ràm và bi quan dữ nhất, như bệ hạ của chúng ta vẫn thường nói, giờ đây cũng chẳng còn mấy điều để chê trách nữa. Vài ổ đã tiêu hẳn, cái tổ kia thì nhỏ lại và ranh giới rõ hơn, mà như ông uyên bác vẫn biết, đó là dấu hiệu lành bệnh. Từ kết quả này mà giải thích sự bất ổn trong việc điều hòa thân nhiệt của ông thì không được, anh bạn; thế là bác sĩ buộc phải truy tìm những nguyên nhân mới.”
Cái động tác đầu của Hans Castorp biểu lộ một vẻ tò mò khá mực xã giao.
“Giờ ông sẽ nghĩ, Castorp, lão Behrens già này phải thú nhận là đã chữa trật. Nhưng nếu thế thì ông trật to rồi, không công bằng với tình hình mà cũng không công bằng với lão Behrens. Việc điều trị của ông không sai, chỉ có thể là nó đã định hướng hơi một chiều. Tôi bỗng thấy ra khả năng rằng ngay từ đầu những triệu chứng của ông vốn không hoàn toàn quy về _tuberculosis_; và tôi suy ra khả năng ấy từ xác suất rằng hiện nay chúng hoàn toàn không còn do bệnh đó nữa. Phải có một nguồn rối loạn khác. Theo ý tôi, ông có cầu khuẩn.”
“Theo niềm tin thâm sâu nhất của tôi,” vị Hofrat nhấn mạnh lại, sau khi đã nhận cái gật đầu mà theo lẽ Hans Castorp phải dành cho ông sau lời vừa rồi, “ông có liên cầu khuẩn - nhưng điều đó, nói trước, chẳng có gì để ông phải hốt hoảng ngay đâu.”
(Chẳng thể nói đến chuyện kinh hãi được. Nét mặt Hans Castorp trái lại biểu lộ một thứ thừa nhận mỉa mai, hoặc đối với sự sắc sảo vừa giáng xuống mình, hoặc đối với phẩm cấp mới mà vị Hofrat đã giả thiết nâng chàng lên.)
“Chẳng có cớ gì phải hoảng!” ông này biến tấu lời trấn an của mình. “Ai mà chẳng có cầu khuẩn. Con lừa nào mà chẳng có strepto. Ông chẳng việc gì phải tự phụ vì chuyện đó. Mãi gần đây chúng ta mới biết rằng một người có thể có liên cầu khuẩn trong máu mà không hề tạo ra những biểu hiện nhiễm trùng đáng kể nào. Chúng ta đang đứng trước kết quả - điều mà lắm đồng nghiệp còn chưa hề biết - rằng ngay cả trực khuẩn lao cũng có thể hiện diện trong máu mà chẳng kéo theo hậu quả gì. Chúng ta chỉ còn cách quan niệm cho rằng bệnh lao thực chất là một bệnh về máu chưa đầy ba bước nữa thôi.”
Hans Castorp thấy điều ấy thật đáng chú ý.
“Nếu vậy, khi tôi nói: strepto,” Behrens lại cất lời, “dĩ nhiên ông không được nghĩ ngay tới bức tranh bệnh nặng quen thuộc. Lũ nhỏ của tôi ấy có thực đã định cư trong người ông hay không, điều đó phải do xét nghiệm máu vi khuẩn học cho biết. Nhưng tình trạng sốt của ông có do chúng gây ra hay không, giả sử chúng có mặt, thì chỉ hiệu quả của liệu trình vắc-xin liên cầu mà trong trường hợp này ta phải khởi sự mới dạy cho ta biết. Đó là con đường, bạn thân mến, và như tôi đã nói, tôi chờ đợi ở nó những điều bất ngờ nhất. Lao thì dai dẳng là thế, nhưng những chứng bệnh loại này ngày nay có thể chữa rất nhanh, và nếu ông có phản ứng với các mũi tiêm, thì sáu tuần nữa ông sẽ khỏe như vâm. Giờ ông nói sao? Lão Behrens già này có còn đứng đúng vị trí của mình không, hử?”
“Hiện giờ thì mới chỉ là một giả thuyết thôi,” Hans Castorp uể oải nói.
“Một giả thuyết có thể chứng minh! Một giả thuyết cực kỳ màu mỡ!” vị Hofrat đáp lại. “Ông sẽ thấy nó màu mỡ đến mức nào khi trên các môi trường cấy của chúng ta bọn cầu khuẩn mọc lên. Chiều mai chúng ta sẽ chích lấy máu ông, Castorp; đúng theo mọi phép tắc của nghề trích huyết nhà quê, ta sẽ cho ông ra máu. Bản thân chuyện ấy đã là một trò vui riêng và chỉ riêng nó thôi cũng có thể đem lại những hiệu quả phúc lành nhất cho thân xác lẫn tâm hồn...”
Hans Castorp tuyên bố sẵn lòng chấp nhận sự tiêu khiển ấy và cảm ơn rất nhã nhặn về mối lưu tâm dành cho mình. Nghiêng đầu tựa vai, chàng đưa mắt nhìn theo vị Hofrat đang chèo đi khuất dần. Lời nói của ông trưởng khoa trúng đúng một thời điểm phê phán; Radamanth đã đoán khá trúng nét mặt và tâm trạng của vị khách núi này, và công cuộc mới của ông hẳn là được định ra - đúng như đã nói thẳng không che giấu - để vượt qua cái điểm chết mà vị khách ấy gần đây thấy mình đã tới, điều ấy quả có thể suy ra từ vẻ mặt chàng, rõ ràng gợi nhớ đến nét mặt của Joachim quá cố vào thời trong chàng đang âm thầm chuẩn bị một vài quyết định hoang dại và bướng bỉnh.
Còn phải nói hơn thế nữa. Không chỉ riêng bản thân chàng, Hans Castorp, dường như đã đi đến một điểm chết như vậy; mà chàng còn có cảm tưởng như đối với thế giới, đối với mọi sự, đối với “toàn thể”, sự tình cũng đúng như thế; hay đúng hơn: chàng thấy ở đây khó mà phân biệt cái riêng với cái chung. Từ sau cái kết cục kỳ quặc của mối liên hệ giữa chàng với một nhân vật; từ sau bao nhiêu xao động mà cái kết cục ấy đã đem tới cho cả ngôi nhà; và từ sau lần Clawdia Chauchat lại rời khỏi cộng đồng những người trên này, lời từ biệt đã được trao đổi giữa nàng và người bạn xưng hô thân mật còn sống sót của vị chủ nhân nàng, trong tinh thần dè dặt kính trọng và dưới bóng bi kịch của một thất bại lớn lao, từ sau bước ngoặt ấy, người thanh niên có cảm tưởng rằng thế giới và đời sống không còn thật đáng tin cậy nữa; rằng chúng đang ở vào một tình trạng lệch lạc và đáng sợ theo một cách riêng, ngày một tăng; như thể một con quỷ đã nắm lấy quyền lực, một con quỷ tuy dữ dằn và điên rồ, từ lâu vốn đã có ảnh hưởng đáng kể, nhưng giờ đây đã tuyên bố sự thống trị của nó một cách phóng túng công khai đến mức đủ sức gieo một nỗi kinh hãi huyền bí và gợi nên ý nghĩ trốn chạy, đó là con quỷ mang tên Trì độn.
Người ta sẽ phán rằng người kể chuyện đã tô vẽ quá tay, quá lãng mạn khi gắn cái tên Trì độn với cái tên của quỷ tính và quy cho nó khả năng gây nên một nỗi khiếp sợ thần bí. Thế mà chúng tôi không hề bịa đặt, trái lại bám sát hoàn toàn kinh nghiệm riêng của người anh hùng mộc mạc của mình, kinh nghiệm mà sự hiểu biết về nó được ban cho chúng tôi theo một cách quả thật không thể đem ra khảo xét, và chính kinh nghiệm ấy tuyệt đối cung cấp bằng chứng rằng trì độn, trong những hoàn cảnh nào đó, có thể mang lấy tính chất ấy và truyền vào lòng người những cảm giác như thế. Hans Castorp đưa mắt nhìn quanh... Chàng quả thật trông thấy những gì rờn rợn và hiểm ác, và chàng biết mình thấy gì: đời sống không có thời gian, đời sống không lo âu mà cũng không hy vọng, đời sống như một thứ luộm thuộm tất bật mà đình trệ, đời sống chết.
Trong đó luôn ngự trị một sự bận rộn, đủ loại hoạt động song song diễn ra; thế nhưng thỉnh thoảng một trong số ấy lại biến thành một cơn cuồng mốt dữ dội mà mọi người đều cuồng tín đầu hàng. Từ trước tới nay, nhiếp ảnh tài tử vốn đã đóng một vai trò đáng kể trong thế giới Berghof; nhưng đã hai lần rồi - vì ai ở trên này đủ lâu đều có thể chứng kiến sự tái diễn theo chu kỳ của những thứ dịch bệnh như thế - lòng say mê ấy trong suốt nhiều tuần nhiều tháng đã hóa thành một cơn điên chung, đến nỗi không còn ai là không cau có lo lắng cúi đầu trên chiếc máy ảnh tì vào vùng thượng vị, cho cửa trập chớp nháy, và việc chuyền tay nhau những tấm ảnh rửa ở bàn ăn thì không bao giờ dứt. Bỗng nhiên, tự tay tráng ảnh trở thành một danh dự. Phòng tối có sẵn xa mới đáp ứng nổi nhu cầu. Người ta treo rèm đen trước cửa sổ và cửa ra ban công trong phòng; dưới ánh đèn đỏ, người ta loay hoay với các bồn hóa chất lâu đến nỗi lửa bốc ra và anh sinh viên Bulgaria ở bàn người Nga tử tế suýt nữa đã cháy thành tro, rồi sau đó một lệnh cấm mới được ban xuống từ nhà chức trách của viện. Chẳng bao lâu, ảnh chụp ánh sáng thông thường bị coi là nhạt nhẽo; ảnh chụp đèn chớp và ảnh màu theo kiểu Lumière thịnh hành lên. Người ta khoái trá trước những bức hình trên đó các nhân vật, bị chớp magiê đánh úp một cách bất thần, trừng đôi mắt đờ đẫn từ những khuôn mặt tái nhợt co quắp, như xác những người bị giết được dựng ngồi thẳng, mắt còn mở. Và Hans Castorp vẫn giữ một tấm kính lồng khung bìa, khi giơ lên ánh sáng thì hiện ra chàng đứng giữa bà Stöhr và Levi da ngà, người thứ nhất mặc một chiếc áo len xanh da trời, người kia một chiếc đỏ máu, với gương mặt màu đồng và dưới những bông mao lương vàng thiếc, một bông trong số đó đang sáng nơi khuy áo chàng, trên một bãi cỏ rừng xanh độc.
Lại còn có thú sưu tập tem, vốn vẫn luôn được vài cá nhân theo đuổi, nhưng từng thời kỳ lại lan ra thành một cơn ám ảnh chung. Ai nấy đều dán, mặc cả, trao đổi. Người ta đặt mua tạp chí tem học, duy trì thư từ với các cửa hiệu chuyên môn trong và ngoài nước, với các hội chuyên ngành và những nhà sưu tập tư nhân, và bỏ ra những khoản tiền đáng kinh ngạc để kiếm cho được những mẫu tem hiếm, ngay cả ở những người mà hoàn cảnh gia đình chỉ vừa đủ cho phép họ lưu lại hàng tháng hay hàng năm trong viện điều dưỡng sang trọng này.
Tình trạng ấy kéo dài cho tới khi một thói điệu khác lên ngôi, chẳng hạn việc chất đống rồi ăn không ngừng đủ mọi thứ sô-cô-la tưởng tượng được bỗng trở thành mực thước tao nhã. Cả thiên hạ đều miệng nâu xì, và những món ngon nhất do bếp Berghof dọn ra cũng gặp phải những thực khách uể oải, soi mói, vì dạ dày họ đã bị nhét đầy Milka-Nut, _Chocolat à la crème d’amandes_, Marquis-Napolitains và những chiếc lưỡi mèo rắc lốm đốm vàng, nên sinh khó chịu.
Trò vẽ heo con bằng mắt nhắm, do bậc quyền cao nhất khởi xướng trong một đêm hội hóa trang đã qua và từ đó được chăm chỉ thực hành, về sau đã sinh ra những bài luyện kiên nhẫn hình học mà trong từng giai đoạn toàn bộ sức lực tinh thần của khách Berghof, thậm chí cả những ý nghĩ cuối cùng và những cố gắng năng lượng sau rốt của người hấp hối, đều thuộc về. Suốt nhiều tuần, ngôi nhà nằm dưới dấu hiệu của một hình thể rắc rối gồm không dưới tám vòng tròn lớn nhỏ và nhiều tam giác lồng vào nhau. Nhiệm vụ là phải dùng tay không, trong một nét liền, vạch ra cho được cái đa hình phẳng ấy; còn mục tiêu tối cao là cuối cùng còn thực hiện được điều đó ngay cả khi mắt bị bịt kín hẳn - điều mà rốt cuộc, nếu rộng lượng bỏ qua vài khuyết điểm nhỏ về mặt thẩm mỹ, thì cũng chỉ có mỗi công tố viên Paravant, người mang ngọn cờ chính của cơn cố chấp mũi dùi vào sự sắc sảo này, làm nổi.
Ta biết rằng ông ta đã chuyên tâm vào toán học, biết điều ấy từ chính vị Hofrat, và cũng biết cái động lực đức hạnh của sự tận hiến ấy, hiệu lực làm mát và làm cùn mũi nhọn xác thịt của nó ta đã từng nghe ca tụng, và nếu được noi theo rộng rãi hơn thì hẳn có lẽ đã khiến một số biện pháp mà gần đây người ta buộc phải thi hành trở nên không cần thiết. Các biện pháp ấy chủ yếu gồm việc chặn tất cả các lối thông ban công, ngang qua những vách kính mờ không lên tới hẳn lan can, bằng những cánh cửa nhỏ mà ban đêm người coi phòng tắm khóa lại với một nụ cười chúm chím khoái trá. Từ đó, những căn phòng ở tầng một phía trên hiên kính trở nên đặc biệt đắt hàng, vì ở đó, sau khi trèo qua lan can và men theo mái kính nhô ra, người ta có thể, khỏi cần đi qua những cửa con kia, chuyển từ buồng này sang buồng khác. Nhưng xét riêng công tố viên ấy, thì cải cách kỷ luật nọ hoàn toàn chẳng cần phải đem ra thi hành. Cơn cám dỗ nặng nề mà sự xuất hiện của cô Fatme người Ai Cập kia từng gây ra cho Paravant từ lâu đã bị vượt qua, và đó là lần sau chót phần bản năng tự nhiên của ông phải lao đao. Từ đó, với lòng sốt sắng gấp đôi, ông đã lao mình vào vòng tay của nữ thần mắt sáng, về sức mạnh làm dịu của nữ thần này vị Hofrat từng biết nói bao điều đạo lý, và vấn đề mà ngày đêm toàn bộ tâm trí ông phụng sự, mà ông dồn vào đó tất cả sức bền bỉ, cả sự dẻo dai thể thao xưa kia, vào thời trước kỳ nghỉ phép cứ kéo dài mãi của ông, vốn có nguy cơ chuyển hẳn thành sự đình chỉ hoàn toàn, khi ông còn theo đuổi việc buộc tội những tội nhân khốn khổ - không gì khác hơn là bài toán bình phương hình tròn.
Viên chức trật quỹ đạo ấy, trong quá trình nghiên cứu của mình, đã thấm nhuần niềm xác tín rằng những chứng minh bằng đó khoa học muốn củng cố sự bất khả của phép dựng kia đều không đứng vững, và rằng Đấng Quan Phòng toan liệu đã vì lẽ ấy mà đưa ông ta, Paravant, ra khỏi thế giới ở dưới của những kẻ đang sống và chuyển ông lên đây, bởi đã định sẵn cho ông nhiệm vụ giật mục tiêu siêu việt ấy vào trong phạm vi của một sự hoàn thành chính xác trên mặt đất. Tình trạng ông là như thế. Ông vạch compa và tính toán ở bất cứ đâu, đi đâu đứng đâu cũng vậy, phủ kín những chồng giấy vô kể bằng hình vẽ, chữ cái, con số, ký hiệu đại số, và gương mặt rám nắng của ông, gương mặt của một người thoạt trông tưởng như cực kỳ khỏe mạnh, lại mang vẻ thị kiến và ngoan cố cắn răng của cơn cuồng tưởng. Câu chuyện của ông chỉ xoay quanh, và với một sự đơn điệu khủng khiếp, tỷ số _pi_, cái phân số tuyệt vọng ấy, mà thiên tài hạ tầng của một tay tính nhẩm tên Zacharias Dase đã có ngày tính ra tới hai trăm chữ số thập phân, mà hoàn toàn chỉ vì xa xỉ, bởi dẫu có hai nghìn chữ số thì những khả thể tiệm cận đến cái chính xác không sao với tới kia cũng vẫn chưa bị vét cạn đến nỗi có thể tuyên bố là suy suyển chút nào. Ai nấy đều lánh xa nhà tư tưởng bị giày vò ấy; vì hễ ông túm được ai lại trước ngực, thì người đó sẽ phải chịu đựng những dòng thao thao hừng hực, cốt đánh thức trong họ một cảm thức nhân đạo về nỗi ô nhục do tính vô tỉ tai hại của tỷ lệ huyền bí này đã gây nên cho tinh thần con người. Sự vô hiệu của việc nhân đường kính với _pi_ mãi mãi để tìm chu vi, của việc nhân bình phương bán kính để tìm diện tích hình tròn, khiến viên công tố những lên cơn nghi hoặc rằng phải chăng từ thời Archimedes đến nay loài người đã làm cho lời giải của vấn đề này trở nên quá đỗi khó khăn, và phải chăng lời giải ấy, kỳ thực, lại là điều giản dị đến trẻ con. Sao nào, lại bảo rằng không thể nắn thẳng đường tròn, và bởi thế cũng không thể uốn bất cứ đường thẳng nào thành hình tròn hay sao? Có lúc Paravant tin mình đã gần một mặc khải. Người ta thường thấy ông còn ngồi ở bàn mình trong phòng ăn vắng ngắt, ánh sáng tồi tàn, khuya khoắt, trên mặt bàn trơ trọi cẩn thận đặt một đoạn dây thành hình tròn, rồi đột ngột, với một cử chỉ chộp lấy người khác, kéo nó duỗi thẳng ra, sau đó lại chống nặng người xuống mà chìm vào nỗi trầm tư cay đắng. Vị cố vấn đôi khi còn ra tay giúp ông trong những trò bày vẽ sầu muộn ấy, nói chung còn khích lệ cả chứng ngông của ông. Và cả với Hans Castorp nữa, người đau khổ kia cũng từng đem nỗi sầu yêu dấu của mình tìm đến, không phải một lần mà nhiều lần, bởi ông gặp ở chàng nhiều sự thông cảm tử tế, một tấm lòng biết chia sẻ trước bí ẩn của vòng tròn. Ông làm cho chàng thanh niên hình dung được nỗi tuyệt vọng của _pi_ bằng cách chìa cho chàng xem một bản vẽ tinh xác đến sợi tóc, trong đó, với nỗ lực tột bậc, một đường tròn đã bị bắt giữ giữa hai đa giác có vô số cạnh li ti, một nội tiếp và một ngoại tiếp, tới mức gần nhất mà con người còn có thể đạt. Nhưng phần còn lại, cái độ cong, thứ bằng một lối thanh linh thuộc tinh thần nào đó cứ thoát khỏi sự duy lý hóa bằng vòng ôm có thể tính toán kia, ấy, viên công tố nói, với chiếc cằm dưới run lên, ấy chính là _pi_! Hans Castorp, dẫu rất dễ lĩnh thụ, vẫn tỏ ra kém bị _pi_ chọc giận hơn người đối thoại với chàng. Chàng bảo đó là một trò tinh quái, khuyên Herr Paravant trong cuộc rượt đuổi ấy chớ nên quá nóng nảy nghiêm trọng, rồi nói về những điểm ngoặt không có độ dài, từ cái khởi đầu không hiện hữu cho đến cái kết thúc không hiện hữu, hợp thành vòng tròn, cũng như về nỗi u sầu ngỗ ngược nằm trong cõi vĩnh cửu tự chạy vào chính nó, không có một độ bền phương hướng nào, với một vẻ sùng tín điềm nhiên đến nỗi trong chốc lát đã có tác dụng xoa dịu viên công tố.
Vả lại, bản tính của Hans Castorp hiền lành đã khiến chàng trở thành người tâm phúc của không chỉ một bạn đồng cư nào đó trong nhà, kẻ bị một ý nghĩ cố chấp nào đó chiếm lấy và khổ sở vì không tìm được tai nghe nơi số đông sống hời hợt. Một cựu điêu khắc gia từ tỉnh lẻ nước Áo, một người đàn ông đã có tuổi, để ria trắng, mũi khoằm và mắt xanh, đã nghĩ ra một kế hoạch thuộc loại tài chính-chính trị, rồi chép nó bằng chữ đẹp, những chỗ quyết định còn được đánh dấu bằng những nét cọ màu nâu sepia, kế hoạch nhằm buộc mỗi người đặt báo phải giữ lại và nộp, vào ngày mồng một hằng tháng, một phần giấy báo cũ tương đương 40 gam mỗi ngày; như vậy trong một năm sẽ là chừng 14.000 gam, mà trong hai mươi năm thì không dưới 288 ký, và tính mỗi ký 20 pfennig sẽ thành một giá trị 57,60 mark Đức. Năm triệu người đặt báo, bản ghi nhớ ấy tiếp tục, như vậy trong hai mươi năm sẽ giao nộp, về giá trị báo cũ, số tiền khổng lồ 288 triệu mark, trong đó hai phần ba có thể được trừ vào tiền đặt báo mới, khiến báo rẻ đi, còn phần dư, một phần ba, vào khoảng 100 triệu mark, sẽ được giải phóng cho các mục đích nhân đạo, để tài trợ những dưỡng đường phổi bình dân, giúp đỡ những tài năng đang quẫn bách, vân vân. Kế hoạch ấy được triển khai cho đến tận hình vẽ của cây thước giá theo xăngtimét, từ đó cơ quan đến lấy giấy cũ hằng tháng sẽ đọc ra giá trị của lượng giấy thu gom, và cả những mẫu phiếu có đục lỗ để ký nhận tiền hoàn trả. Nó được biện minh và chứng thực theo mọi phía. Sự phung phí và hủy hoại giấy báo một cách vô ý thức, thứ giấy mà những kẻ chưa được khai sáng đem dìm vào nước rửa hoặc ném vào lửa, có nghĩa là tội phản nghịch đối với rừng của chúng ta, đối với nền kinh tế quốc dân của chúng ta. Giữ gìn giấy, tiết kiệm giấy tức là giữ gìn và tiết kiệm bột giấy, trữ lượng rừng, nhân liệu bị tiêu hao trong việc sản xuất bột giấy và giấy, cũng không kém gì nhân liệu và tư bản. Lại nữa, vì giấy báo cũ có thể dễ dàng được nâng giá trị lên gấp bốn lần qua ngả sản xuất giấy gói và bìa carton, cho nên nó sẽ trở thành một nhân tố kinh tế đáng kể và là nền tảng cho những khoản thuế quốc gia và đô thị sinh lợi, qua đó làm nhẹ gánh cho độc giả báo với tư cách người chịu thuế. Tóm lại, kế hoạch ấy là tốt, kỳ thực là không sao bác nổi, và nếu nơi nó vẫn bám một cái gì nhàn rỗi đến rờn rợn, thậm chí đen tối đến ngớ ngẩn, thì chính chỉ là vì lòng cuồng tín lệch lạc mà người nghệ sĩ xưa kia kia theo đuổi và bênh vực một ý tưởng kinh tế, mà lại chỉ đúng ý tưởng này, với một sự không thành thực sâu kín đến mức ông không hề thực hiện lấy một cố gắng nhỏ nhất nào để biến nó thành việc làm... Hans Castorp nghiêng đầu, gật gù lắng nghe người ấy khi ông tuyên truyền trước mặt chàng, bằng những lời sốt nóng bay bổng, cái ý tưởng cứu đời của mình, đồng thời khảo sát bản chất của sự khinh miệt và nỗi phản cảm đã làm phương hại đến việc chàng đứng về phía nhà phát minh chống lại thế giới vô tâm.
Một vài cư dân Berghof theo Esperanto và lấy đó làm điều đắc ý, ngồi vào bàn mà chuyện trò với nhau bằng thứ ngôn ngữ lắp ghép nhân tạo ấy. Hans Castorp nhìn họ bằng ánh mắt tối sầm, tuy vậy trong bụng lại cho rằng họ chưa phải là hạng tệ nhất. Gần đây trên này có một nhóm người Anh đem vào một trò tiêu khiển, chẳng gồm gì hơn ngoài việc một người quay sang người ngồi bên cạnh trong vòng tròn mà hỏi: “_Did you ever see the devil with a night-cap on?_”, còn người bị hỏi thì đáp: “_No! I never saw the devil with a night-cap on_”, rồi lại chuyển câu hỏi sang phía bên kia, và cứ thế lần lượt quanh vòng. Thật kinh khủng. Nhưng với Hans Castorp tội nghiệp, còn có một điều làm chàng khó chịu hơn nữa khi trông thấy những kẻ xếp bài một mình, những kẻ có thể bắt gặp ở khắp nơi trong nhà vào bất cứ giờ giấc nào. Bởi lòng mê thú giải khuây ấy dạo gần đây đã lan tràn đến độ theo đúng nghĩa đen biến cả ngôi nhà thành một hang ổ thói hư, và Hans Castorp càng có lý do để thấy mình bị nó chạm tới một cách kinh hãi, vì chính chàng trong từng lúc cũng là một nạn nhân, mà có lẽ là nạn nhân cam chịu nhất, của trận ôn dịch ấy. Chàng bị mê kiểu xếp bài mười một: cái kiểu người ta bày bộ bài whist thành từng nhóm ba lá trong ba hàng, rồi những cặp lá cộng lại thành mười một, cùng ba lá bồi, đầm, già, khi ngửa ra, thì lại được phủ bằng lá mới, cho đến khi, nếu vận may chiều chuộng, ván bài mở lối trọn vẹn. Người ta hẳn không ngờ rằng từ một thủ tục đơn giản đến thế lại có thể tỏa ra những cám dỗ của tâm hồn đủ sức dẫn đến sự mê hoặc. Thế nhưng Hans Castorp, như bao kẻ khác, đã thử nghiệm khả thể ấy, và thử với cặp mày tối sầm, bởi truỵ lạc không bao giờ vui tươi. Phó mặc cho những hứng thất thường của con quỷ bài, bị mê hoặc bởi sự ưu ái thay đổi kỳ quái ấy, khi thì, trong một làn may mắn lâng lâng nhẹ, ngay từ đầu đã để cho những cặp mười một, những lá bồi-đầm-già dồn lại, đến nỗi ván bài coi như đã ngã ngũ trước cả khi dãy thứ ba bày xong, một chiến thắng thoáng qua, tức thì kích động thần kinh lao vào những lần thử mới; rồi khi khác lại từ chối mọi khả thể đặt chồng mới cho đến lá thứ chín và cuối cùng, hoặc làm cho thành công tưởng đã nắm chắc bỗng phơ phất bay đi vì một sự khựng lại đột ngột ngay phút chót, chàng xếp bài ở khắp nơi và mọi lúc trong ngày, ban đêm dưới các vì sao, buổi sáng chỉ độc chiếc pyjama, ở bàn ăn và ngay cả trong giấc mơ. Chàng rởn gáy, nhưng chàng vẫn làm. Và thế là trong một lần ghé thăm, Herr Settembrini bắt gặp chàng, làm gián đoạn chàng, như tự bao đời đó vẫn là sứ mạng của ông.
“_Accidenti!_” ông nói. “Ông đang xếp bài đấy ư, kỹ sư?”
“Không hẳn theo nghĩa ấy,” Hans Castorp đáp. “Tôi chỉ bày ra thôi, tôi vật lộn với cái ngẫu nhiên trừu tượng. Những trò đổi chiều như chong chóng của nó làm tôi tò mò, cái thói nịnh nọt của nó, rồi lại đến cái bướng bỉnh không sao tin nổi của nó. Ngay sáng nay, vừa mới ngủ dậy, ván xếp bài đã ra trọn ba lần liền, trong đó có một lần chỉ trong hai hàng, một kỷ lục. Ông có tin được không, bây giờ tôi đang bày lần thứ ba mươi hai mà không một lần nào đi nổi đến nửa ván?”
Herr Settembrini nhìn chàng bằng đôi mắt đen buồn bã, như đã biết bao lần trong suốt mấy năm qua.
“Dù sao,” ông nói, “tôi thấy ông đang bị một mối bận tâm chiếm lĩnh. Trông không có vẻ gì là ở đây tôi sẽ tìm được cho những nỗi lo của mình một niềm an ủi, và cho sự phân đôi nội tâm đang dày vò tôi một thứ dầu xoa dịu.”
“Phân đôi ư?” Hans Castorp nhắc lại và đặt xuống một lá...
“Tình hình thế giới làm tôi rối trí,” người Tam điểm thở dài. “Liên minh Balkan sẽ thành hình, kỹ sư ạ, mọi tin tức tôi có đều nói vậy. Nga đang sốt sắng làm việc cho việc ấy, và mũi nhọn của tổ hợp này chĩa vào nền quân chủ Áo-Hung, mà nếu không đập tan nó thì không một điểm nào trong chương trình của Nga có thể thực hiện được. Ông có hiểu những điều lấn cấn lương tâm của tôi không? Tôi ghét Wien bằng tất cả sức lực của mình, ông biết điều đó. Nhưng vì thế mà tôi lại phải dành sự ủng hộ của linh hồn mình cho nền chuyên chế Sarmatia đang toan châm ngọn đuốc phóng hỏa vào châu lục cao quý của chúng ta hay sao? Đằng khác, dù chỉ là một sự cộng tác ngoại giao nhất thời giữa đất nước tôi với nước Áo thôi, tôi cũng sẽ thấy đó như một nỗi ô nhục. Ấy là những vấn đề lương tâm, mà...”
“Bảy với bốn,” Hans Castorp nói. “Tám với ba. Bồi, đầm, già. Được rồi đấy. Ông đem may mắn đến cho tôi, Herr Settembrini.”
Người Ý im bặt. Hans Castorp cảm thấy đôi mắt đen của ông, ánh nhìn của lý trí và đạo hạnh, đang đượm nỗi buồn sâu thẳm mà dừng trên mình chàng; tuy thế chàng vẫn còn bày thêm một lúc nữa, trước khi chống má vào tay, ngước nhìn người thầy dẫn đường đứng trước mặt bằng vẻ ngây thơ giả dối và lì lợm của một đứa trẻ hư.
“Đôi mắt ông,” người kia nói, “uổng công tìm cách giấu đi rằng ông biết rất rõ mình đang ở trong tình trạng nào.”
“_Placet experiri_,” Hans Castorp đã cả gan đáp như thế, và Herr Settembrini bỏ chàng mà đi, rồi dĩ nhiên, kẻ bị bỏ lại một mình còn ngồi lâu nơi chiếc bàn của mình giữa căn phòng trắng, đầu chống tay, không bày tiếp nữa, chỉ ngẫm nghĩ, và trong thẳm sâu kinh hãi vì cái tình trạng quái gở và lệch lạc mà chàng thấy thế giới đang mắc kẹt trong đó, vì nụ cười nhăn nhở của con quỷ và vị thần khỉ, dưới quyền thống trị không kềm cương và không biết lối của nó chàng thấy thế giới đã sa vào, và tên của nó là “Cơn trì độn lớn”.
Một cái tên dữ dằn, tận thế, hoàn toàn thích hợp để gieo một nỗi hãi hùng bí mật. Hans Castorp ngồi đó, lấy hai bàn tay xoa trán và vùng tim. Chàng sợ hãi. Chàng cảm thấy như “tất cả những cái đó” không thể nào kết thúc tốt đẹp, như cái kết hẳn sẽ là một tai biến, một cuộc nổi dậy của tự nhiên nhẫn nại, một trận giông sấm và cơn cuồng phong quét dọn sẽ phá vỡ bùa mê của thế giới, cuốn sự sống vượt qua “điểm chết”, và chuẩn bị cho “mùa dưa chuột” một Ngày Phán Xét khủng khiếp. Chàng muốn chạy trốn, chúng ta đã nói điều ấy rồi, và may thay chỉ bởi nhà chức trách đã đặt lên chàng cái “con mắt không chớp” nhắc đến trước đây, hiểu cách đọc những nét mặt của chàng và bận lòng làm cho chàng khuây khỏa bằng những giả thuyết mới, hữu hiệu!
Với giọng của một sinh viên đoàn hội, nhà chức trách tuyên bố rằng mình đang lần ra dấu vết những nguyên nhân thực sự của tình trạng bất ổn trong chế độ nhiệt của Hans Castorp, những nguyên nhân mà theo lời phán khoa học của họ thì sẽ không khó bề xử trí đến mức sự chữa khỏi, sự cho về miền đồng bằng một cách chính đáng, bỗng chốc dường như đã ở trong tầm gần. Tim chàng thanh niên đập mạnh, bị nhiều cảm xúc xô dồn, khi chàng đưa cánh tay ra để lấy máu. Chớp mắt và hơi tái đi một chút, chàng thán phục sắc đỏ hồng ngọc tuyệt đẹp của nhựa sống mình đang dâng lên mà làm đầy chiếc bình trong suốt. Chính vị cố vấn, với sự phụ giúp của bác sĩ Krokowski và một nữ tu bác ái, đã thực hiện cuộc can thiệp nhỏ bé nhưng mang hậu quả sâu xa ấy. Sau đó trôi qua mấy ngày, đối với Hans Castorp bị ngự trị bởi câu hỏi xem phần đã hiến ra ấy, ở ngoài bản thân chàng, dưới mắt khoa học, sẽ chứng tỏ ra sao.
Dĩ nhiên vẫn chưa thể nảy nở gì được cả, vị cố vấn nói lúc ban đầu. Tiếc rằng vẫn chưa muốn nảy nở gì cả, ông nói về sau. Nhưng rồi cũng đến buổi sáng ông bước tới chỗ Hans Castorp trong bữa điểm tâm, khi bấy giờ chàng ngồi chỗ mình ở bàn những người Nga tốt, tại đầu trên, nơi xưa kia người huynh đệ xưng hô thân mật lớn lao của chàng từng ngồi, và với những lời chúc mừng theo lối quen miệng, báo cho chàng biết rằng cuối cùng liên cầu khuẩn cũng đã được xác định không còn hồ nghi gì nữa trong một trong các môi cấy đã được gây. Vậy thì bây giờ đó là một bài toán xác suất xem những triệu chứng nhiễm độc phải quy về cái bệnh lao nhỏ dẫu sao vẫn có đó, hay về bọn liên cầu, mà số lượng của chúng cũng chỉ hiện diện ở mức khiêm tốn. Ông, Behrens, còn phải xem xét sự việc kỹ hơn và lâu hơn. Môi cấy vẫn chưa mọc đủ. Ông cho chàng xem nó trong “phòng thí nghiệm”: một thứ thạch máu đỏ, trong đó người ta trông thấy những chấm xám. Đó là các cầu khuẩn. (Tuy nhiên, cầu khuẩn thì con lừa nào cũng có, cũng như những ổ lao, và nếu không có các triệu chứng thì người ta hẳn cũng chẳng đặt thêm trọng lượng nào vào cái phát hiện ấy.)
Ở ngoài bản thân chàng, dưới mắt khoa học, huyết tâm đã đông của Hans Castorp tiếp tục chứng tỏ giá trị của nó. Rồi đến buổi sáng vị cố vấn, bằng những lời xúc động theo lối quen miệng, báo rằng: không chỉ trên một môi cấy ấy, mà sau này trên tất cả các môi còn lại cũng đều đã mọc cầu khuẩn, lại còn với số lượng lớn. Chưa rõ có phải tất cả đều là liên cầu hay không; nhưng giờ đây thì quá nửa chắc chắn rằng các triệu chứng nhiễm độc là do đó mà ra, mặc dầu dĩ nhiên cũng không thể biết được bao nhiêu phần trong đó phải tính vào món nợ của bệnh lao, thứ hẳn nhiên đã có mặt và chưa hoàn toàn bị vượt qua. Kết luận cần rút ra ư? Một liệu trình vắc-xin liên cầu! Tiên lượng ư? Cực kỳ thuận lợi, nhất là vì phép thử ấy không hề có chút rủi ro nào, tuyệt đối không thể gây hại. Bởi vì huyết thanh vốn được chế từ chính máu của Hans Castorp, nên cùng với mũi tiêm sẽ không có một chất bệnh nào được đưa vào cơ thể mà trước đó chưa hề có sẵn trong ấy. Trường hợp xấu nhất, nó sẽ vô ích, hiệu quả bằng không, nhưng đằng nào bệnh nhân cũng phải ở lại, thì liệu người ta có thể gọi như thế là một trường hợp xấu hay chăng!”
Không, Hans Castorp không muốn đi xa đến thế. Chàng khuất phục liệu trình ấy, tuy thấy nó vừa lố bịch vừa làm mất phẩm giá. Những mũi tiêm bằng chính bản thân mình ấy hiện ra với chàng như một trò tiêu khiển ghê tởm đến vô vị, một nỗi kinh khiếp loạn luân từ cái tôi đến cái tôi, tự trong bản chất đã vô sinh và vô vọng. Đó là phán đoán của sự u mê bệnh tưởng ngoan cố nơi chàng, mà chỉ riêng ở điểm vô sinh kia, và ở điểm ấy thì quả là hoàn toàn, đã đoán trúng. Cuộc tiêu khiển ấy kéo dài hàng tuần. Có lúc nó tưởng như gây hại, điều dĩ nhiên hẳn chỉ do lầm tưởng; có lúc lại tưởng như có ích, nhưng rồi điều ấy cũng hóa ra chỉ là lầm tưởng nốt. Kết quả là số không, dù chẳng hề được gọi đúng tên và công nhiên tuyên bố. Toàn bộ sự việc chìm nghỉm vào cát, và Hans Castorp tiếp tục xếp bài Patience, mắt đối mắt với con quỷ mà đối với cảm thức của chàng, triều đại vô cương của nó dường như đang tiến tới một kết cục kinh hoàng.
Sự viên mãn của âm thanh
Thành tựu và sự du nhập mới nào của nhà Berghof đã giải thoát người bạn lâu năm của chúng ta khỏi chiếc bàn bài, và dẫn chàng vào vòng tay của một đam mê khác, cao quý hơn, tuy về căn bản cũng chẳng kém phần kỳ dị? Chúng ta sắp kể ra đây, lòng đầy những sức quyến rũ bí mật của đề tài ấy và chân thành mong mỏi được truyền chúng lại.
Đó là việc tăng thêm các phương tiện giải trí cho phòng sinh hoạt chính, do sự chăm nom không biết mệt của ban quản trị dưỡng đường nghĩ ra và quyết định, rồi được ban điều hành tối cao của cơ sở tuyệt đối đáng khuyến nghị này sắm về với một khoản phí tổn mà chúng ta không muốn tính, nhưng hẳn có thể gọi là hào phóng. Vậy là một món đồ chơi khéo léo theo kiểu hộp nhìn lập thể, kính vạn hoa hình ống viễn vọng hay trống chiếu bóng ư? Quả là thế, mà cũng hoàn toàn không phải thế. Bởi lẽ, trước hết, cái người ta thấy được dựng lên một buổi tối trong phòng salon có đàn piano, khiến kẻ thì chắp tay trên đầu, người thì cúi mình chắp tay trước lòng vì kinh ngạc, không phải là một trò bày biện thị giác mà là một trò bày biện thính giác; lại nữa, những thứ hấp dẫn nhẹ cân nọ về đẳng cấp, thứ bậc và giá trị hoàn toàn không thể so với nó. Đây không phải là một trò ảo thuật trẻ con và đơn điệu khiến người ta chán ngấy, để rồi chẳng buồn đụng tới nữa một khi đã ở đây chừng ba tuần. Nó là một chiếc sừng sung túc tuôn trào những hưởng thụ nghệ thuật vừa vui tươi vừa nặng trĩu tâm hồn. Nó là một khí cụ âm nhạc. Nó là một chiếc máy hát.
Điều khiến chúng ta nghiêm túc lo ngại là từ ngữ ấy có thể bị hiểu lầm theo một nghĩa không xứng đáng và đã lỗi thời, khiến người ta gắn cho nó những hình dung chỉ thích hợp với một tiền thân đã hết hạn của điều chân thực mà chúng ta đang hướng đến, chứ không thích hợp với chính cái chân thực ấy, vốn qua những thử nghiệm không mệt mỏi của một kỹ thuật hướng về âm nhạc đã được phát triển tới độ hoàn thiện cao quý nhất. Ôi những người tốt bụng kia! Đây đâu phải cái hộp quay tay thảm hại trước kia, trên mặt đặt bàn xoay và kim nhọn, dính liền với một cái loa kèn đồng thau dị dạng, từng từ một mặt bàn quán trọ mà rót tiếng gào mũi nghèn nghẹt vào những lỗ tai ít đòi hỏi. Cái tủ sơn nhuộm đen mờ đứng đây, hơi thấp hơn bề ngang, nối với ổ điện trên tường bằng một sợi dây lụa, đặt trên một chiếc bàn nhỏ có ngăn với vẻ giản dị mà thanh nhã, đã chẳng còn chút giống nào với thứ máy móc thô lậu tiền hồng thủy kia nữa. Người ta mở chiếc nắp thuôn nhỏ dần một cách duyên dáng, mà thanh chống bằng đồng thau vươn lên từ đáy sẽ tự động giữ nó ở tư thế nghiêng như che chắn, và người ta thấy trong một chỗ lõm nông là bàn xoay lót nỉ xanh, viền niken, cùng cái chốt giữa cũng mạ niken, nơi phải lồng lỗ của đĩa cao su cứng vào. Người ta còn nhận thấy, bên phải phía trước, một bộ phận đánh số như đồng hồ để điều chỉnh tốc độ; bên trái là cần gạt dùng để cho bộ quay chạy hoặc ngừng; còn phía sau bên trái là cánh tay rỗng bằng niken, uốn cong như cây chùy, cử động được nhờ những khớp mềm, với hộp âm thanh dẹt tròn ở đầu, bộ vít của nó được dùng để mang cây kim kéo rãnh. Người ta cũng mở hai cánh cửa đôi phía trước, và đằng sau hiện ra một kết cấu như cửa chớp bằng những thanh gỗ sơn đen đặt chéo nghiêng, không gì hơn.
"Đây là kiểu mới nhất," vị Hofrat nói, cũng vừa bước vào. "Thành tựu mới nhất, các con ạ, hạng Ia, ff, trong cái Janger này thì chẳng có gì hơn được nữa đâu." Ông phát âm từ ấy một cách cổ quái không thể tưởng, hệt như một anh bán hàng kém học đang ra sức mời chào món hàng. "Đây không phải là đồ máy, cũng không phải là máy móc," ông nói tiếp, vừa lấy một cây kim trong một hộp thiếc nhỏ sặc sỡ đặt trên bàn mà lắp vào, "đây là một nhạc cụ, một cây Stradivarius, một cây Guarneri, ở đây ngự trị những quan hệ cộng hưởng và rung động tinh luyện đến mức raffinemang nhất! Nhãn hiệu của nó là ‘Polyhymnia’, như hàng chữ đây ở mặt trong nắp dạy cho quý vị biết đấy. Hàng Đức, xin nhớ. Chúng ta làm thứ này là giỏi nhất, vượt xa tất cả. Tâm hồn Đức trung hậu giàu nhạc tính dưới hình hài cơ khí hiện đại. Tâm hồn Đức _up to date_. Kia là văn khố tiết mục của quý vị!" ông nói, và chỉ vào một cái tủ treo tường, trong đó xếp hàng những tập album sống lưng dày. "Tôi giao cả phép màu này cho quý vị dùng tùy ý, nhưng xin phó mặc nó cho sự bảo hộ của công chúng. Ta thử cho một bản gầm lên nhé?"
Các bệnh nhân van nài khẩn khoản, và Behrens rút ra một trong những cuốn sách phù phép im lặng mà đầy ý vị ấy, lật những tờ dày, rồi từ một trong những túi bìa cứng mà các khoét tròn để lộ nhan đề màu sắc, lấy ra một chiếc đĩa và đặt vào máy. Với một động tác tay, ông truyền điện cho bàn xoay, chờ hai giây cho tới khi nó đạt đủ vận tốc, rồi cẩn thận đặt đầu nhọn mảnh của cây kim thép lên mép đĩa. Một tiếng sột soạt khẽ như mài hiện lên. Ông hạ nắp xuống, và đúng khoảnh khắc ấy, qua cánh cửa mở, giữa các khe chớp, không, từ toàn thân chiếc tủ, bỗng vỡ òa một náo động nhạc khí, một giai điệu tưng bừng ồn ã và hối hả, những ô nhịp đầu tiên quăng chân quật tay của một khúc ouverture của Offenbach.
Người ta mỉm cười, miệng há ra mà lắng nghe. Người ta không tin vào tai mình nữa, các nét hoa mỹ của bộ kèn gỗ vang lên trong trẻo và tự nhiên đến nhường nào. Một cây vĩ cầm, chỉ riêng nó thôi, phiêu diêu dạo khúc mở đầu. Người ta nghe được đường vĩ, cái tremolo của ngón bấm, cái lướt ngọt từ thế tay này sang thế tay khác. Rồi nó tìm được giai điệu của mình, điệu valse, khúc “Ôi, tôi đã đánh mất nàng”. Hòa âm dàn nhạc nhẹ nhàng nâng đỡ khúc điệu ve vuốt ấy, và thật mê ly làm sao khi nó, được cả dàn tiếp nhận một cách xứng đáng, lại lặp lại thành một tutti rào rạt. Dĩ nhiên không hẳn như khi có một ban nhạc thực sự đang hòa tấu ngay trong phòng này. Khối âm thanh, tuy ngoài ra không hề méo dạng, vẫn chịu một sự thu nhỏ về phối cảnh; nếu được phép đem một hình ảnh từ lĩnh vực thị giác áp vào trường hợp thính giác, thì chẳng khác nào nhìn một bức họa qua mặt ngược của ống nhòm sân khấu, khiến nó trở nên xa vắng và thu nhỏ lại, mà vẫn không mất gì ở độ sắc nét của đường nét hay sức sáng của màu sắc. Tác phẩm âm nhạc, căng chặt tài hoa và rộn ràng, tuôn đi với trọn vẹn sự dí dỏm của phát minh khinh khoái ấy. Phần kết là chính bản thân niềm phóng túng, một điệu gallop mở đầu bằng vẻ ngập ngừng khôi hài, một điệu cancan trơ trẽn gây nên ảo ảnh những chiếc mũ chóp bị tung lên không, những đầu gối hất văng, những tà váy tung tóe, và trong cái kết thúc vừa khôi hài vừa đắc thắng, dường như không sao chịu kết thúc. Rồi bộ quay tự động ngắt phựt. Hết rồi. Người ta vỗ tay hết sức chân thành.
Người ta gọi đòi thêm nữa, và người ta được toại nguyện: giọng người từ chiếc tủ tuôn ra, nam tính, mềm mại mà đồng thời hùng hậu, có dàn nhạc đệm theo, một giọng baritone Ý lừng danh, và giờ đây tuyệt nhiên không thể nói đến bất cứ sự che mờ hay xa cách nào nữa: cơ quan tuyệt diệu ấy vang lên với trọn vẹn tầm vóc tự nhiên và nội lực của nó, nhất là khi người ta bước vào một trong những phòng bên cạnh đang để ngỏ và không nhìn thấy chiếc máy, thì chẳng khác gì chính nghệ sĩ ấy đang đứng trong salon bằng xương bằng thịt, cầm bản nhạc trong tay mà hát. Ông hát một aria phô diễn tài nghệ trong ngôn ngữ của mình, _eh, il barbiere. Di qualità, di qualità! Figaro qua, Figaro là, Figaro, Figaro, Figaro!_ Người nghe muốn chết đi vì cười trước lối _parlando_ pha giọng falsetto của ông, trước sự tương phản giữa giọng gấu ấy và cái tài nói líu lưỡi kia. Những người từng trải có thể theo dõi và thán phục nghệ thuật phân câu, kỹ thuật hơi thở của ông. Bậc thầy của sức không sao cưỡng lại, nghệ sĩ tài hoa của cái gu _Da capo_ kiểu welsch, ông ngân nốt áp chót, trước chủ âm kết, như thể đang tiến ra tận chân đèn, và hiển nhiên là tay giơ lên trong không trung, theo một cách khiến người ta bật reo bravo khi ông còn chưa hát xong. Thật xuất sắc.
Và còn nhiều nữa. Một chiếc tù và cor hòa tấu những biến tấu thận trọng tuyệt đẹp trên một dân ca. Một nữ soprano cất lên, ngắt tiếng và rung giọng một aria trong “_La Traviata_” với sự mát lành và chính xác dịu dàng nhất. Linh hồn của một nghệ sĩ vĩ cầm lừng danh thế giới, như sau những tấm màn, chơi một khúc romance của Rubinstein với phần đệm piano nghe khô như đàn spinett. Từ chiếc rương kỳ diệu đang sôi khe khẽ ấy, những tiếng chuông, những glissando của hạc cầm, những tiếng kèn đồng rền vang và những hồi trống dồn dập tuôn ra. Cuối cùng người ta đặt vào những đĩa nhạc khiêu vũ. Cả thứ du nhập mới kia nữa, cũng đã có một đôi mẫu theo cái khẩu vị quán rượu bến cảng ngoại lai, điệu tango, thứ có sứ mệnh biến điệu valse Vienne thành một điệu nhảy của ông nội. Hai cặp, thạo bước nhảy thời thượng, trình diễn trên thảm. Behrens đã lui ra sau khi căn dặn rằng mỗi cây kim chỉ được dùng một lần và phải đối xử với đĩa “y hệt như với trứng sống”. Hans Castorp điều khiển chiếc máy.
Tại sao lại chính là chàng? Sự việc tự nhiên thành ra như vậy. Với vẻ cộc lốc thấp giọng, chàng đã chặn những ai, sau khi vị Hofrat đi khỏi, muốn nắm lấy việc thay kim và thay đĩa, bật tắt dòng điện vận hành. “Để tôi làm cho!” chàng nói, vừa gạt họ sang bên, và họ dửng dưng nhường chỗ, trước hết vì chàng có vẻ như từ lâu đã thạo chuyện này, nhưng rồi cũng vì họ rất ít bận tâm tới chuyện phải hoạt động nơi đầu nguồn của khoái lạc thay vì cứ ung dung vô can để mặc nó phục vụ cho mình, miễn là họ chưa chán.
Hans Castorp thì không như thế. Trong lúc vị Hofrat trình diễn món mới mua, chàng lặng lẽ giữ mình ở hàng sau, không cười, không reo tán thưởng, nhưng chăm chú theo dõi các phần trình bày, đồng thời theo thói quen bất chợt đưa hai ngón tay xoay nơi một bên lông mày. Với một nỗi bồn chồn nào đó, nhiều lần chàng đổi chỗ đứng ở phía sau lưng đám đông, bước vào phòng thư viện để từ đó lắng nghe, rồi sau này, hai tay chắp sau lưng và gương mặt khép kín, đứng bên cạnh Behrens, mắt dõi vào chiếc tủ, dò xét công việc đơn giản phải làm với nó. Trong lòng chàng vang lên: “Dừng lại! Chú ý! Một thời đại! Nó đã đến với ta.” Một linh cảm hết sức xác quyết về một đam mê mới, một sự mê hoặc, một gánh nặng tình yêu tràn ngập chàng. Chàng thanh niên dưới miền đồng bằng, kẻ ngay từ cái nhìn đầu tiên vào một cô gái đã bị mũi tên ngạnh của Amor cắm bất ngờ đúng giữa tim, cũng chẳng cảm thấy khác mấy như vậy đâu. Lòng ghen tức tức khắc chi phối từng bước chân của Hans Castorp. Của chung ư? Sự tò mò nhão nhoẹt chẳng có quyền cũng chẳng có sức để sở hữu. “Để tôi làm cho!” chàng nghiến răng nói, và họ hoàn toàn hài lòng với điều đó. Họ còn nhảy thêm chút nữa theo những bản nhạc hơi tốc váy mà chàng cho chạy, rồi lại đòi thêm một mục hát, một song ca opera, khúc barcarole trong “Những truyện kể của Hoffmann”, đủ êm ái để lọt tai, và khi chàng đóng nắp máy lại, họ kéo nhau đi, hơi phấn chấn, chuyện trò líu ríu, trở về liệu pháp nằm nghỉ, trở về với tĩnh dưỡng. Chàng đã chờ đúng lúc ấy. Họ bỏ lại sau lưng mọi thứ ngổn ngang nguyên đó, những hộp kim còn mở, những tập album, những chiếc đĩa vứt rải rác. Thật đúng kiểu của họ. Chàng làm như mình cũng nhập bọn theo họ, nhưng lén rời khỏi đoàn người trên cầu thang, quay lại salon, đóng hết các cửa, và ở lì tại đó suốt nửa đêm, bận rộn sâu xa.
Chàng làm quen với món mới mua, không bị quấy rầy mà xem xét kho tàng tiết mục kèm theo, nội dung những tập album nặng trĩu. Có tất cả mười hai tập, thuộc hai cỡ khác nhau, mỗi tập gồm mười hai đĩa; mà vì nhiều trong những phiến đen khắc rãnh vòng tròn sít nhau ấy có hai mặt, không chỉ bởi có những bản nhạc kéo sang cả mặt kia, mà còn bởi cả một loạt phiến còn ghi hai phần trình bày khác nhau, nên đó là một miền chinh phục của những khả thể mỹ lệ, thoạt đầu khó mà bao quát, thậm chí gây choáng ngợp. Chàng đã cho chạy chừng một phần tư trăm chiếc, dùng, để khỏi quấy rầy và khỏi bị nghe thấy trong đêm, những cây kim kéo rãnh thật nhẹ làm giảm âm thanh, nhưng đó hầu như chưa đến một phần tám của tất cả những gì đang từ mọi phía mời gọi đem ra thử. Đêm nay thế cũng phải đủ rồi: lướt qua các nhan đề và chỉ thỉnh thoảng, như lấy mẫu, đưa một hình đồ tròn câm lặng vào chiếc tủ để làm cho nó cất tiếng. Đối với mắt nhìn, chúng chỉ khác nhau ở cái nhãn màu nơi trung tâm, những đĩa cao su cứng, ngoài ra thì chẳng khác gì hết. Chiếc nào cũng giống chiếc nào, phủ dày những vòng tròn đồng tâm gần tới giữa hoặc chưa hẳn tới giữa; vậy mà trong dấu vết tinh vi của những đường nét ấy lại cất giữ thứ âm nhạc có thể nghĩ tới được dưới mọi hình thức, những linh cảm hạnh phúc nhất từ mọi miền của nghệ thuật, trong những sự thể hiện được tuyển chọn.
Ở đó có rất nhiều ouverture và những chương đoạn riêng lẻ từ thế giới của nền giao hưởng cao cả, do những dàn nhạc danh tiếng trình tấu, với tên tuổi các nhạc trưởng được ghi rõ. Rồi đến một dãy dài các bài Lied, do các thành viên của những nhà hát opera lớn trình bày với đàn piano đệm, mà trong đó có cả những bài hát là sản phẩm cao nhã và tự giác của nghệ thuật cá nhân, lẫn những dân ca mộc mạc, và rốt cuộc cả những bài ở vào quãng giữa hai thể loại ấy, trong chừng mực chúng tuy vẫn là sản phẩm của nghệ thuật tinh thần, nhưng trong ý và trong thần lại chân thực sâu xa, thành kính như do tâm hồn nhân dân cảm và nghĩ ra; những dân ca nhân tạo, nếu có thể nói như thế, mà không vì chữ “nhân tạo” ấy làm tổn thương sự thân thiết của chúng: đặc biệt có một bài mà Hans Castorp đã biết từ thuở ấu thơ, nhưng giờ đây chàng lại đem lòng yêu một cách bí ẩn và đầy liên hệ, và rồi sẽ còn được nói tới. Còn gì nữa, hay đúng hơn, còn cái gì là không có? Opera có ở đó với tất cả sự dồi dào sung túc của nó. Một dàn hợp xướng quốc tế gồm những ca sĩ nam nữ lừng danh, được dàn nhạc đệm lùi ra sau một cách kín đáo, đem thiên phú thần thánh đã được rèn luyện ở mức cao nhất của giọng hát mình ra thể hiện các aria, các song ca, trọn những cảnh hợp tấu từ nhiều miền và nhiều thời đại của sân khấu âm nhạc: từ cõi mỹ lệ phương Nam của một cơn mê đắm vừa cao cả vừa nhẹ lòng, từ một thế giới Đức đậm chất dân gian của sự tinh quái và ma tính, từ nền Đại nhạc kịch và Nhạc kịch trào lộng Pháp. Thế đã là hết chưa? Ồ không. Bởi tiếp theo là loạt nhạc thính phòng, các tứ tấu và tam tấu, các tiết mục độc tấu nhạc cụ cho violin, cello, flute, các tiết mục ca nhạc hòa nhạc với violin hoặc flute obbligato, các tiết mục thuần túy cho piano, chưa kể đến những món tiêu khiển đơn thuần, những couplet, những đĩa dùng theo công dụng, nơi những dàn nhạc nhỏ tấu chơi đã in dấu các khúc điệu của mình vào đó, và những thứ đòi hỏi một cây kim thô.
Hans Castorp xem xét, sắp đặt, rồi, lủi thủi một mình thao tác, giao một phần nhỏ trong đó cho nhạc cụ, thứ đánh thức nó dậy vào đời sống ngân vang. Chàng lên giường ngủ với cái đầu nóng hầm hập vào một giờ cũng đã khuya như sau buổi chè chén đầu tiên với Pieter Peeperkorn, kỷ niệm vừa uy nghi vừa huynh-đệ thân tình, và từ hai giờ đến bảy giờ sáng nằm mơ thấy chiếc hộp thần. Trong mộng chàng thấy cái đĩa quay xoay quanh trục của nó, nhanh đến mức vô hình và lại im tiếng, trong một chuyển động không chỉ đơn thuần là vòng tròn cuồn cuộn xoáy tròn, mà còn có cả một sự dợn sóng nghiêng ngang kỳ dị, đến nỗi cánh tay khớp mang cây kim, dưới đó nó lướt qua, được truyền cho một nhịp rung co giãn như đang thở, rất hữu ích, người ta có thể nghĩ thế, cho _vibrato_ và _portamento_ của đàn dây và của giọng người; nhưng điều vẫn không sao hiểu nổi, trong mộng cũng như lúc thức, là làm sao việc lần theo một đường chỉ mảnh như sợi tóc trên một khoang rỗng âm học, và chỉ nhờ vào cái màng rung của hộp cộng hưởng, lại có thể tái tạo được những khối âm thanh cấu tạo phong phú đến thế, những khối âm thanh đang lấp đầy thính giác tinh thần của kẻ ngủ mê.
Sáng hôm sau chàng đã lại có mặt sớm trong salon, ngay trước bữa điểm tâm, ngồi trong ghế bành, hai tay chắp lại, để một giọng nam trung tuyệt diệu từ trong chiếc tủ hát lên cùng cây đàn hạc: “Khi tôi đưa mắt nhìn quanh trong vòng cao quý này -”. Cây đàn hạc nghe hoàn toàn tự nhiên, đó là tiếng đàn hạc nguyên vẹn và không suy suyển mà chiếc tủ, bên cạnh giọng người đang dâng lên, đang thở ra, đang phát âm, thả ra từ lòng nó, quả thật khiến người ta kinh ngạc. Và trên đời không có gì dịu dàng hơn khúc song ca từ một vở opera Ý hiện đại mà Hans Castorp cho tiếp theo sau đó, hơn sự xích lại gần nhau về tình cảm một cách khiêm nhường và thân thiết ấy giữa giọng tenor lừng danh thế giới, hiện diện rất nhiều trong các album, với một giọng soprano nhỏ, ngọt và trong như thủy tinh, hơn câu “_Da mi il braccio, mia piccina_” của chàng và cái cụm nhạc ngắn đơn sơ, ngọt ngào, dồn nén giai điệu mà nàng đáp lại chàng ...
Hans Castorp giật mình khi cánh cửa mở ra phía sau lưng. Là Hofrat, ông ghé đầu nhìn vào chỗ chàng; trong chiếc áo choàng khám bệnh, ống nghe cắm ở túi ngực, ông đứng đó một lát, tay còn nắm quả đấm cửa, và gật đầu với người thực tập phòng thí nghiệm. Chàng đáp lại cái gật ấy qua vai, rồi khuôn mặt má xanh của vị thủ trưởng, với chòm ria mép tỉa xếch một bên, biến mất sau cánh cửa đã khép lại, và Hans Castorp lại quay về với đôi tình nhân vô hình mà êm đẹp của mình.
Về sau, trong suốt ngày hôm ấy, sau bữa trưa, sau bữa tối, chàng có thính giả cho trò say mê của mình, một thứ công chúng thay đổi luôn, nếu người ta không muốn kể chính chàng là một phần của công chúng ấy mà đúng hơn là người ban phát khoái cảm. Riêng chàng nghiêng về cách hiểu đó, và tập thể cư dân trong nhà cũng thừa nhận cho chàng theo nghĩa là họ lặng lẽ tán thành ngay từ đầu việc chàng dứt khoát tự đặt mình vào vai quản lý và người trông giữ thiết bị công cộng này. Điều đó chẳng tốn gì nơi những con người ấy; vì bất chấp niềm say mê bề ngoài của họ mỗi khi thần tượng tenor kia thỏa thuê phô diễn chất giọng óng ả và rực sáng, khi tiếng hát làm hạnh phúc cho thế gian ấy tuôn tràn thành những cantilena và những kỹ thuật cao cường của đam mê, bất chấp niềm say mê được họ công khai bộc lộ ấy, họ vẫn không có tình yêu, và vì thế hoàn toàn bằng lòng để mặc sự chăm nom cho bất cứ ai muốn nhận lấy. Chính Hans Castorp là người giữ cho kho đĩa có trật tự, ghi nội dung các album vào mặt trong nắp bìa, để bất cứ bản nào cũng có thể được lấy ra ngay tức khắc mỗi khi cần và gọi đến, và cũng chính chàng là người vận hành nhạc cụ: người ta thấy chàng làm việc đó bằng những động tác chẳng bao lâu đã trở nên thành thạo, gọn ghẽ và nhẹ nhàng. Chứ những người khác thì đã biết làm gì? Họ hẳn sẽ làm nhơ nhuốc các đĩa hát bằng cách dùng những cây kim đã mòn mà chạy chúng, sẽ bỏ mở đĩa trên ghế ngổn ngang, sẽ đem cái máy ra đùa nhảm một cách ngu độn bằng cách cho một bản nhạc cao quý chạy ở tốc độ và cao độ một trăm mười, hoặc chỉnh kim chỉ về số không, khiến nó phát ra những tiếng líu ríu cuồng loạn hay những tiếng rền rĩ chìm lún ... Tất cả những trò ấy họ đã làm rồi. Họ tuy có bệnh, nhưng thô lỗ. Và bởi thế, chỉ ít lâu sau, Hans Castorp đơn giản bỏ chiếc chìa khóa của cái tủ nhỏ đựng album và kim vào túi mình, thành thử mỗi khi muốn bật nhạc, người ta phải gọi đến chàng.
Muộn, sau cuộc quây quần buổi tối, sau khi đám đông rút đi, mới là thời khắc đẹp nhất của chàng. Khi ấy chàng ở lại trong salon hoặc lén quay trở lại đó và một mình làm nhạc đến tận khuya. Việc làm xao động sự yên tĩnh của căn nhà, chàng không cần e ngại nhiều như lúc đầu từng tưởng phải e ngại, vì sức lan của thứ nhạc ma quái ấy đã tỏ ra với chàng là có tầm rất ngắn: những rung động ấy, gần nguồn phát thì tạo nên biết bao điều kỳ diệu, nhưng càng xa thì càng sớm mệt lả, yếu ớt và chỉ có vẻ quyền năng như mọi cái thuộc về hồn ma. Hans Castorp ở một mình với những phép lạ của chiếc hộp trong bốn bức tường của mình, với những thành tựu nở hoa của cỗ áo quan nhỏ bằng gỗ vĩ cầm đã bị gọt bớt này, của ngôi đền con màu đen mờ ấy, trước cánh cửa hai lá đang mở của nó chàng ngồi trong ghế bành, hai tay chắp lại, đầu nghiêng trên vai, miệng hơi hé, để cho âm thanh mỹ lệ dâng tràn lên mình.
Những ca sĩ nam nữ mà chàng nghe, chàng không nhìn thấy họ; phần nhân tính của họ đang ở tận Mỹ châu, ở Milan, ở Wien, ở Sankt Petersburg, mà cứ mặc cho nó ở đó, bởi điều chàng có nơi họ là phần đẹp nhất của họ, là tiếng hát của họ, và chàng trân trọng sự thanh lọc hay trừu tượng hóa ấy, thứ vẫn còn đủ tính cảm giác để, trong khi loại trừ mọi bất lợi của sự gần gũi quá đỗi về cá nhân, nhất là trong trường hợp đồng hương, người Đức, vẫn cho phép chàng có được một sự kiểm soát nhân tính khá tốt. Có thể nhận ra cách phát âm, phương ngữ, quê quán hẹp hơn của nghệ sĩ; tính chất giọng nói lên điều gì đó về vóc dáng tâm hồn của từng người, và qua việc họ tận dụng hay bỏ lỡ những khả năng tác động tinh thần, người ta thấy rõ trình độ trí tuệ của họ. Hans Castorp bực bội khi họ để nó thiếu hụt. Chàng cũng khổ sở và cắn môi vì xấu hổ mỗi khi xen vào những khiếm khuyết của kỹ thuật tái hiện, ngồi như trên đống lửa khi trong một bản đĩa đã được dùng đi dùng lại nhiều lần, một âm hát nào đó bật ra chói gắt hay the thé, điều vốn rất dễ xảy đến, nhất là với những giọng nữ mong manh. Nhưng chàng chấp nhận cái giá ấy, vì tình yêu thì phải chịu đựng. Đôi khi chàng cúi xuống trên bộ máy đang quay tròn như đang thở, như cúi trên một bó tử đinh hương, đầu ngập trong một đám mây âm thanh; hoặc đứng trước chiếc tủ mở toang, nếm cái hạnh phúc cầm quyền của người chỉ huy dàn nhạc, đưa bàn tay lên để cho một chiếc kèn trumpet vào đúng nhịp. Trong kho của mình chàng có những món ưa thích, vài tiết mục thanh nhạc và khí nhạc mà chàng nghe mãi không chán. Ta không nên bỏ qua việc nêu chúng ra.
Một nhóm đĩa nhỏ trình bày những cảnh kết thúc của vở opera lộng lẫy, tràn trề thiên tài giai điệu, mà một đồng hương vĩ đại của ngài Settembrini, bậc đại sư già của nhạc kịch phương Nam, đã sáng tác trong nửa sau thế kỷ trước nhân một dịp trang nghiêm, theo lệnh một bậc vương công phương Đông, vào khi trao cho nhân loại một công trình của kỹ thuật nối kết các dân tộc. Hans Castorp, theo lối giáo dưỡng thông thường, biết đại khái về tác phẩm đó, chàng nắm được đại cương số phận của Radames, của Amneris và của Aida, những người hát với chàng bằng tiếng Ý từ trong chiếc hộp, và vì vậy chàng hiểu được đại thể họ hát gì với chàng, giọng tenor vô song kia, giọng contralto vương giả với chỗ gãy giọng tuyệt đẹp giữa tầm âm của mình, và giọng soprano bạc óng kia; chàng không hiểu từng chữ, nhưng cũng hiểu được chữ này chữ nọ, nhờ chàng biết các tình huống và có thiện cảm với các tình huống ấy, một sự tham dự thân tình cứ lớn lên mỗi lần chàng cho bốn hay năm mặt đĩa ấy chạy, và đã sớm trở thành một mối si mê thực sự.
Trước hết Radames và Amneris đối mặt để phân bua: công chúa cho dẫn người bị xiềng đến trước mặt mình, chính kẻ nàng yêu và tha thiết muốn cứu về cho mình, mặc dù vì con nữ nô lệ man rợ kia mà chàng đã hiến dâng cả tổ quốc lẫn danh dự, tuy dĩ nhiên, như chàng nói, “trong tận đáy tim danh dự vẫn không hề sứt mẻ”. Nhưng sự toàn vẹn ấy của phần sâu kín nhất nơi chàng, bất chấp bao tội lỗi chất chồng, cũng chẳng giúp được bao nhiêu, vì do tội ác phơi bày rành rành của mình, chàng đã bị giao cho tòa án giáo quyền, thứ tòa án xa lạ với hết thảy cái gì là con người, và nhất định sẽ chẳng nương tay nếu vào phút chót chàng không chịu tỉnh ngộ mà chối bỏ người nữ nô lệ kia để lao vào vòng tay của giọng contralto vương giả có chỗ gãy giọng kia, thứ giọng, xét thuần về phương diện âm thanh, hoàn toàn xứng đáng với điều đó. Amneris đã gắng sức tha thiết nhất với giọng tenor âm vang tuyệt đẹp nhưng bi thảm vì mù quáng và ngoảnh mặt khỏi đời sống, kẻ chỉ luôn hát “Tôi không thể!” và “Vô ích thôi!” mỗi khi nàng quấn quýt van nài chàng từ bỏ người nữ nô lệ, vì đây là chuyện sống chết của chàng. “Tôi không thể!” - “Hãy nghe em một lần nữa, hãy từ bỏ nàng ta!” - “Vô ích thôi!” Sự mù quáng muốn chết và nỗi khổ tình nồng nhiệt hợp lại thành một khúc song ca đẹp phi thường, nhưng chẳng để lại chút hy vọng nào. Rồi Amneris lấy những tiếng kêu đau đớn của mình mà đệm theo các lời đáp tối tăm, công thức, ghê rợn của tòa án giáo quyền, những lời vẳng lên đục nặng từ dưới sâu, và trong đó kẻ khốn khổ Radames hoàn toàn không tham dự.
“Radames, Radames,” vị thượng tế cất tiếng khẩn bách, trình ra trước mắt chàng, dưới hình thức nhọn sắc hơn, tội phản bội của chàng.
“Hãy biện hộ đi!” tất cả các tư tế cùng đồng thanh đòi hỏi.
Và vì vị đứng đầu có thể chỉ ra rằng Radames im lặng, nên tất cả cùng nhất loạt bằng giọng rỗng vang tuyên nhận tội phản bội.
“Radames, Radames!” vị chủ tọa lại cất lời. “Ngươi đã rời bỏ doanh trại trước trận chiến.”
“Hãy biện hộ đi!” lại vang lên. “Các người thấy đấy, hắn im lặng,” viên điều khiển phiên xử vốn đầy thành kiến được phép xác nhận lần thứ hai, và như thế lần này nữa mọi tiếng nói của các quan tòa lại hợp cùng tiếng của ông ta trong lời phán quyết: “Phản bội!”
“Radames, Radames!” người ta nghe thấy kẻ buộc tội không khoan nhượng kia lần thứ ba. “Đối với tổ quốc, danh dự và nhà vua, ngươi đã bội lời thề.” - “Hãy biện hộ đi!” lại vang lên. Và: “Phản bội!” giới tư tế rùng mình mà tuyên quyết chung cuộc, sau khi đã được nhắc cho biết rằng Radames tuyệt đối im bặt. Thế là điều không thể tránh khỏi rốt cuộc đã không tránh khỏi: dàn đồng ca, vẫn giữ nguyên chất giọng đều đều của họ, tuyên bố công lý đối với kẻ phạm tội rằng số phận hắn đã định, hắn phải chết cái chết của phường bị nguyền rủa, dưới ngôi đền của vị thần đang nổi giận, hắn phải sống mà bước vào mồ.
Sự phẫn nộ của Amneris trước cái sự hà khắc kiểu thầy tu ấy, người nghe phải tự sức mình hình dung ra lấy, vì ở đây phần tái hiện bị ngắt quãng, Hans Castorp phải thay đĩa, điều chàng làm bằng những động tác lặng lẽ và gọn ghẽ, gần như với đôi mắt cúi xuống, và khi chàng lại ngồi xuống để lắng nghe, thì điều chàng nghe đã là cảnh cuối cùng của vở melodrama: khúc song ca kết thúc của Radames và Aida, hát dưới đáy ngôi mộ hầm của họ, trong khi trên đầu họ, trong ngôi đền, bọn tư tế sùng đạo mù quáng và độc ác đang cử hành nghi lễ, xòe hai tay, chìm trong tiếng lầm rầm trầm đục ... “_Tu – in questa tomba?!_” giọng hát của Radames, không sao tả xiết trong sức quyến rũ vừa ngọt ngào vừa anh hùng, cất lên đầy kinh hoàng và ngây ngất ... Phải, người yêu đã tìm đến với chàng, người mà vì nàng chàng đã đánh mất danh dự và tính mạng; nàng đã chờ chàng ở đây, đã để người ta khóa mình lại cùng chàng để chết với chàng, và những bài ca họ trao đổi với nhau trong chuyện này, đôi khi bị ngắt quãng bởi tiếng vang trầm đục của nghi thức cử hành trên tầng phía trên, hoặc những bài ca họ hòa giọng cùng nhau, chính những điều ấy mới thật là thứ đã đánh trúng tận đáy linh hồn người nghe cô độc trong đêm, cả về hoàn cảnh lẫn về biểu hiện âm nhạc của nó. Trong những bài ca ấy có nói đến thiên đường, nhưng chính chúng cũng là thiên đường, và chúng được cất lên một cách thiên đường. Đường giai điệu mà tiếng hát của Radames và Aida, khi riêng rẽ rồi khi hòa làm một, cứ khôn nguôi lần theo, cái đường cong đơn sơ và hạnh phúc chơi đùa quanh chủ âm và át âm ấy, đi lên từ nốt gốc tới một nốt trì hoãn được nhấn dài, cách quãng tám nửa cung, rồi sau khi thoáng chạm vào quãng tám ấy lại quay sang quãng năm, hiện ra trước người nghe như điều siêu thăng nhất, đáng thán phục nhất mà chàng từng gặp. Nhưng chàng hẳn đã không mê cái phần âm thanh đến thế, nếu không có tình huống nằm bên dưới, thứ khiến tâm hồn chàng càng thêm dễ tiếp nhận sự ngọt ngào nảy sinh từ đó. Đẹp biết bao việc Aida đã tìm đến Radames lạc loài để cùng chàng chia sẻ số phận trong mồ đến muôn đời! Kẻ bị kết án dĩ nhiên đã phản đối sự hy sinh của một đời sống dịu ngọt đến thế, nhưng trong tiếng kêu thiết tha tuyệt vọng của chàng: “_No, no! troppo sei bella_”, người ta vẫn nhận ra niềm ngây ngất của cuộc tái hợp vĩnh viễn với người mà chàng từng ngỡ sẽ không bao giờ được gặp lại nữa; và để cảm thấy thật rõ niềm ngây ngất ấy, niềm biết ơn ấy, Hans Castorp chẳng cần phải huy động bao nhiêu sức tưởng tượng. Nhưng điều sau cùng chàng cảm thấy, hiểu và thưởng thức, trong khi chàng chắp tay nhìn vào tấm cửa chớp nhỏ màu đen, giữa những nan cửa của nó mọi thứ ấy nở bừng ra, chính là tính lý tưởng chiến thắng của âm nhạc, của nghệ thuật, của tâm hồn con người, là sự mỹ lệ hóa cao cả và không gì bác bỏ nổi mà chúng ban xuống cho cái ghê rợn tầm thường của những sự vật có thực. Chỉ cần hình dung cho rõ ở đây, nếu xét một cách tỉnh táo, thì chuyện gì đang xảy ra! Hai kẻ bị chôn sống ấy, với buồng phổi đầy khí mỏ, sẽ chết gục ở đây vì những cơn co thắt của đói, hoặc cùng nhau, hoặc còn tệ hơn, kẻ trước người sau, rồi trên thân thể họ sự phân hủy sẽ làm công việc khôn tả của nó, cho đến khi dưới mái vòm chỉ còn nằm lại hai bộ xương, mà đối với mỗi bộ thì chuyện nó nằm một mình hay nằm hai bộ với nhau hoàn toàn là điều dửng dưng và không cảm biết gì cả. Đó là mặt thực tế và khách quan của sự việc, một mặt và một sự việc tự nó, hoàn toàn không được trái tim duy tâm kể đến, bị tinh thần của cái đẹp và của âm nhạc đẩy lùi vào bóng tối một cách khải hoàn nhất. Đối với những tâm hồn opera của Radames và Aida, cái điều khách quan sắp xảy đến ấy không hề tồn tại. Tiếng hát của họ cùng vút lên đồng âm tới nốt trì hoãn quãng tám hạnh phúc, khẳng định rằng giờ đây thiên đường đang mở ra và ánh sáng của vĩnh cửu đang rạng ngời trước nỗi khát mong của họ. Sức mạnh an ủi của sự mỹ lệ hóa ấy làm cho người nghe dễ chịu phi thường, và không ít góp phần khiến tiết mục này trong chương trình ruột của chàng được chàng yêu quý đến thế.
Chàng thường nghỉ ngơi khỏi những nỗi kinh hoàng và những sự siêu thăng của họ bằng một pièce thứ hai, ngắn thôi nhưng có một thứ mê lực cô đặc, về nội dung thì thanh bình hơn nhiều so với bản đầu, một bức đồng quê, nhưng là một bức đồng quê tinh xảo, được vẽ và tạo nên bằng những phương tiện vừa tiết kiệm vừa rắc rối của nghệ thuật mới nhất. Đó là một bản hoàn toàn cho dàn nhạc, không có tiếng hát, một khúc prélude giao hưởng gốc Pháp, được thực hiện với một bộ máy nhỏ nếu xét theo quy mô đương thời, nhưng lại am hiểu tường tận mọi ngón nghề của kỹ thuật âm thanh hiện đại và được cấu tạo khôn khéo đúng để se tâm hồn vào giấc mộng.
Giấc mơ mà Hans Castorp mơ khi ấy là thế này: chàng nằm ngửa trên một bãi cỏ lấp lánh nắng, rắc đầy những hoa sao sặc sỡ, đầu gối lên một ụ đất nhỏ, một chân hơi co lên, chân kia vắt qua trên đó, - tuy vậy những gì chàng bắt chéo lại là đôi chân dê. Đôi tay chàng, chỉ để mua vui cho chính mình, vì trên bãi cỏ sự cô tịch là tuyệt đối, mân mê một ống gỗ nhỏ chàng ngậm trong miệng, một cây clarinet hay kèn sậy, từ đó chàng rút ra những âm mũi bình hòa: từng nốt một, cứ để chúng đến theo ý chúng, mà vẫn kết thành một vòng múa may mắn, và thế là tiếng nghêu ngao vô ưu ấy bay lên nền trời xanh thẫm, dưới đó tán lá mảnh mai, khẽ lay vì gió, của những cây bạch dương và tần bì đứng lẻ loi rung ánh trong nắng. Nhưng lối thổi kèn trầm tư và nửa giai điệu nửa vô can của chàng chẳng bao lâu còn là tiếng nói duy nhất của sự cô tịch nữa. Tiếng vo ve của côn trùng trong không khí nóng mùa hạ trên cỏ, chính ánh nắng, ngọn gió nhẹ, sự chao đảo của ngọn cây, ánh lấp lánh của lá, - toàn thể nền bình yên mùa hè dịu động chung quanh biến thành âm thanh hỗn hợp, đem lại cho tiếng kèn mộc mạc của chàng một sự diễn giải hòa âm luôn thay đổi và luôn được chọn khiến người ta kinh ngạc. Phần đệm giao hưởng đôi khi lùi xa và im bặt; nhưng Hans với đôi chân dê vẫn thổi mãi, và bằng cái đơn điệu ngây thơ trong lối chơi của mình, chàng lại dụ dỗ phép màu âm thanh được phối sắc tinh tuyển của thiên nhiên hiện ra, - để rồi cuối cùng, sau một lần ngắt nữa, trong một sự tự vượt mình ngọt ngào, nhờ sự nhập vào của ngày càng nhiều giọng nhạc khí mới và cao hơn, nối nhau mau lẹ mà cất lên, nó đạt tới tất cả sự phong phú sẵn có vẫn được dành dụm cho đến bấy giờ, trong một khoảnh khắc thoáng qua, nhưng niềm thỏa mãn khoái lạc-trọn vẹn của khoảnh khắc ấy lại mang trong mình tính vĩnh cửu. Chàng mục thần trẻ hết sức hạnh phúc trên đồng cỏ mùa hè của mình. Ở đây không có tiếng "Hãy biện minh đi!", không có trách nhiệm, không có một tòa án quân sự tăng lữ xét xử kẻ đã quên danh dự và lạc mất khỏi nó. Ở đây ngự trị chính sự quên lãng, sự ngưng đọng phúc lạc, sự ngây thơ của tính phi thời gian: ấy là cái buông tuồng với lương tâm tốt đẹp nhất, là sự thần thánh hóa như hình ảnh của ước muốn đối với mọi và hết thảy mọi phủ định mệnh lệnh hoạt động của phương Tây, và nỗi yên dịu phát ra từ đó khiến người nhạc sĩ đêm khuya quý đĩa hát này hơn biết bao đĩa khác. -
Rồi còn một đĩa thứ ba nữa... Thực ra lại là nhiều đĩa, dính liền nhau, lồng vào nhau, ba hay bốn, vì riêng khúc aria tenor chen vào đó đã chiếm trọn một mặt gần tới giữa đĩa. Lại là một thứ gì Pháp, trích từ một vở opera mà Hans Castorp rất quen, chàng đã nhiều lần nghe và xem ở nhà hát, và một lần kia trong lúc chuyện trò chàng thậm chí còn ám chỉ đến cốt truyện của nó - lại còn trong một cuộc trò chuyện hết sức quyết định... Ấy là hồi hai, trong quán trọ Tây Ban Nha, một ổ rượu rộng rãi, lát sàn ván, treo vải vóc, với kiến trúc Mô-rơ đã hư hỏng. Giọng Carmen ấm, hơi khàn, nhưng quyến rũ nhờ vẻ nồng nảy của giống nòi, tuyên bố rằng nàng muốn nhảy trước mặt viên trung sĩ, và người ta đã nghe castanet của nàng lách cách rồi. Nhưng đúng vào khoảnh khắc ấy, từ đằng xa vang lên những tiếng kèn đồng, những chiếc Clairon, một tín hiệu quân sự lặp đi lặp lại, khiến cậu chàng bé nhỏ không ít rúng động đến tận chân tay. "Khoan đã! Một lát!" chàng kêu lên và vểnh tai như ngựa. Và khi Carmen hỏi "Sao?" và "có chuyện gì vậy?": "Em không nghe thấy à?" chàng kêu lên, hết sức kinh ngạc vì sao nàng lại không hiểu ra, như chàng hiểu. Đó chính là tiếng kèn từ doanh trại, đang phát hiệu lệnh. "Giờ trở về sắp điểm," chàng nói theo lối opera. Nhưng cô nàng Di-gan không sao hiểu nổi điều ấy, mà trước hết nàng cũng tuyệt nhiên chẳng muốn hiểu. Thế thì càng hay, nàng bảo, nửa ngu ngơ nửa xấc xược, vậy họ khỏi cần castanet nữa, chính trời xanh gửi nhạc đến cho điệu nhảy của họ, và vậy thì: Lalalala! - Chàng cuống lên. Nỗi đau thất vọng của bản thân lùi hẳn lại phía sau trước nỗ lực làm cho nàng hiểu chuyện gì đang xảy ra, và rằng trên đời chẳng có mối si tình nào chống nổi tín hiệu này. Làm sao có thể có chuyện nàng không hiểu một điều nền tảng và vô điều kiện đến thế! "Giờ tôi phải đi, về nhà, về đơn vị, điểm danh!" chàng kêu lên, tuyệt vọng trước một sự ngây ngô khiến lòng chàng nặng gấp đôi so với vốn đã nặng. Nhưng khi ấy phải nghe Carmen kia chứ! Nàng giận dữ, nàng phẫn nộ tận đáy hồn, giọng nàng hoàn toàn là tình yêu bị lừa dối và bị xúc phạm - hoặc nàng làm ra như thế. "Về đơn vị? Điểm danh ư?" Thế còn trái tim của nàng? Và trái tim hiền lành, dịu dàng của nàng, trong cơn yếu mềm của nó - vâng, nàng thú nhận đấy: trong cơn yếu mềm của nó! - đã sẵn sàng dùng ca hát và khiêu vũ để giúp chàng giết thì giờ thì sao? "Traterata!" và nàng giơ bàn tay cuộn tròn lên miệng với vẻ chế nhạo điên cuồng để bắt chước chiếc Clairon. "Traterata!" Thế là đủ. Gã ngốc kia nhảy bật dậy và muốn đi. Được thôi, vậy thì cút đi! Đây mũ sắt của chàng, đây kiếm và đai đeo của chàng! Đi, đi, đi đi cho kịp doanh trại! - Chàng van xin lòng thương xót. Nhưng nàng vẫn tiếp tục ngọn lửa nhạo báng của mình, làm bộ như nàng chính là chàng, kẻ vừa nghe tiếng kèn đã mất nốt chút ít đầu óc. Traterata, điểm danh! Lạy trời nhân từ, chàng sắp đến muộn mất rồi! Đi đi, đi cho nhanh, vì người ta đang gọi điểm danh mà, và dĩ nhiên chàng dựng đứng cả người lên như một thằng điên, đúng vào khoảnh khắc nàng, Carmen, định múa cho chàng xem. Thế đấy, thế đấy, thế đấy là tình yêu chàng dành cho nàng!
Tình thế khổ não! Nàng không hiểu. Người đàn bà ấy, cô ả Di-gan ấy không thể và cũng không muốn hiểu. Nàng không muốn hiểu, - bởi lẽ không còn nghi ngờ gì nữa: trong cơn giận, trong lời nhạo báng của nàng có một cái gì vượt ra ngoài khoảnh khắc và cái riêng tư, một mối căm thù, một sự thù nghịch nguyên thủy đối với cái nguyên tắc đã gọi chàng lính nhỏ đang yêu kia bằng những tiếng Clairon Pháp - hay những chiếc sừng Tây Ban Nha - và chiến thắng được nguyên tắc ấy mới là tham vọng tối cao, bẩm sinh, phi cá nhân của nàng. Nàng có một phương tiện rất đơn giản để làm điều đó: nàng khẳng định rằng nếu chàng đi, tức là chàng không yêu nàng; và đó chính là điều José ở trong chiếc hộp kia không sao chịu nghe nổi. Chàng khẩn khoản xin nàng cho mình nói. Nàng không chịu. Bấy giờ chàng buộc nàng phải chịu - một khoảnh khắc nghiêm trọng quỷ quái. Từ dàn nhạc bung ra những âm thanh tai họa, một mô-típ u tối đe dọa mà, như Hans Castorp biết, chạy xuyên suốt cả vở opera cho tới kết cục tai biến, và cũng là phần dẫn nhập cho aria của chàng lính nhỏ, của chiếc đĩa mới bây giờ phải được đặt vào.
"Được nép nơi trái tim này, trung thành che chở" - José hát tuyệt đẹp; Hans Castorp cũng thường cho quay riêng chiếc đĩa ấy, tách khỏi mạch quen thuộc của nó, và bao giờ cũng lắng nghe với một sự cảm thông chăm chú nhất. Xét về nội dung, aria này chẳng có bao nhiêu, nhưng sức biểu cảm van nài của tình cảm trong đó thì cảm động đến tột bậc. Người lính hát về bông hoa Carmen đã ném cho chàng lúc mới quen, và bông hoa ấy, trong thời gian ngồi giam nặng nề mà vì nàng chàng đã sa vào, đã là tất cả của chàng. Chàng thú nhận, hết sức rung động, rằng có những lúc chàng đã nguyền rủa số mệnh vì đã để cho chàng trông thấy Carmen bằng đôi mắt mình. Nhưng ngay sau đó chàng đã cay đắng hối hận về lời báng bổ ấy và quỳ xuống cầu Chúa cho được gặp lại nàng. _Rồi đây_ - mà chữ _Rồi đây_ này chính là cái nốt cao chàng đã dùng ngay trước đó để mở đầu câu "Ôi cô gái yêu dấu" của mình, - _rồi đây_ - và giờ thì trong phần đệm, người ta huy động hết mọi phép màu của nhạc khí nào có thể dùng để vẽ nên nỗi đau, niềm khát khao, sự dịu dàng đã mất, nỗi tuyệt vọng ngọt ngào của chàng lính nhỏ, - _rồi đây_ nàng đã đứng trước mắt chàng trong toàn bộ sức mê hoặc tuyệt đối là định mệnh của mình, đến nỗi chàng đã cảm thấy thật rành rành chỉ có một điều, rằng chàng "xong đời" mất rồi (chữ "xong" với một nốt láy toàn cung nức nở trên âm tiết đầu), tức là vĩnh viễn xong đời. "Nàng là niềm hoan lạc, là nỗi mê say của ta!" chàng hát lên trong tuyệt vọng theo một chuỗi âm tái diễn, mà dàn nhạc sau đó cũng còn tự mình than vãn lại một lần nữa, đi lên hai bậc từ âm chủ rồi từ đó tha thiết quay về quãng năm thấp hơn. "Tim ta là của nàng," chàng còn khẳng định thêm một cách sến sẩm mà dịu dàng hết mực, cũng bằng chính hình tiết ấy, rồi đi hết thang âm tới bậc sáu để thêm vào: "Và muôn đời ta thuộc về nàng!", sau đó để giọng rơi xuống mười âm và xúc động thú nhận lời "Carmen, ta yêu nàng!", mà âm ngân của nó bị trì hoãn đau đớn bởi một nốt treo được hòa âm thay đổi, trước khi chữ "nàng" cùng với âm tiết đứng trước chịu khuất phục vào hợp âm nền.
"Ừ, ừ!" Hans Castorp nói, nặng lòng mà biết ơn, rồi còn đặt cả đoạn kết vào nữa, đoạn mà mọi người chúc mừng chàng José trẻ vì cuộc đụng độ với viên sĩ quan đã cắt đứt đường lui của chàng, khiến nay chàng buộc phải đào ngũ, đúng như Carmen, làm chàng kinh hãi, đã đòi hỏi ở chàng từ trước.
"Ô hãy theo bọn ta vào những khe núi đá, gió ở đó thổi hoang dại mà tinh sạch -"
họ hát với chàng theo bè, - người ta nghe cũng khá rõ từng lời.
"Thế gian rộng mở - chẳng lo âu nào đè nặng; tổ quốc của ngươi là vô biên; và trước hết: niềm hoan lạc diễm phúc nhất, tự do đang cười! Tự do đang cười!"
"Ừ, ừ!" chàng lại nói một lần nữa và chuyển sang một món thứ tư, một món rất đỗi hiền lành và tốt đẹp.
Việc ấy lại là một cái gì Pháp thì cũng chẳng phải lỗi của chúng tôi hơn việc ở đây tinh thần quân ngũ lại một lần nữa chi phối câu chuyện là điều có thể tính vào sổ chúng tôi. Đó là một trích đoạn, một tiết mục độc xướng, một "Lời cầu nguyện" trong vở Faust của Gounod. Có ai đó xuất hiện, một người đáng mến xiết bao, tên là Valentin, nhưng trong thâm tâm Hans Castorp lại gọi người ấy bằng một cái tên khác, thân mật hơn, nhuốm u sầu hơn, mà người mang tên ấy chàng đồng nhất ở mức độ rất cao với con người đang cất tiếng từ trong chiếc hộp kia, mặc dù người này có một giọng hát đẹp hơn nhiều. Đó là một giọng baritone mạnh và ấm, và khúc hát của anh ta có ba phần; nó gồm hai khổ đầu-cuối gần gũi nhau, mang tính sùng tín, thậm chí gần như viết theo phong cách thánh ca Tin Lành, và một khổ giữa can trường kiểu hiệp sĩ, có tính chiến chinh, liều lĩnh, song đồng thời cũng vẫn sùng tín; và đó mới thật là chỗ Pháp-quân sự của nó. Người vô hình cất tiếng:
"Vì nay ta phải rời bỏ quê hương yêu dấu của mình" -
và trong những hoàn cảnh ấy chàng hướng lời cầu xin của mình tới Chúa tể trên trời, mong Người trong lúc đó che chở cho người em gái máu mủ yêu dấu của chàng! Đến đoạn ra trận, tiết tấu đổi nhịp, trở nên hăng hái, buồn phiền với lo âu mặc xác quỷ sứ, chàng, người vô hình kia, muốn ở nơi trận đánh dữ dội nhất, hiểm nguy lớn nhất mà táo bạo, mộ đạo và rất Pháp lao vào đối mặt quân thù. Nhưng nếu Chúa gọi chàng lên những tầng trời cao, chàng hát, thì từ nơi ấy chàng sẽ dõi xuống chở che cho "em". Chữ "em" ấy là chỉ người em gái ruột; nhưng dù vậy nó vẫn làm Hans Castorp xúc động tới tận đáy hồn, và sự cảm động ấy của chàng không hề nguôi cho đến đoạn kết, khi người dũng cảm trong chiếc hộp kia hát lên trên những hợp âm thánh ca hùng mạnh:
"Ôi Chúa tể trên trời, xin nghe lời con khẩn nguyện, xin cho Margarete đứng trong sự chở che của Ngài!"
Chiếc đĩa này ngoài ra chẳng còn gì hơn thế. Chúng tôi tưởng cũng nên nói qua về nó, bởi Hans Castorp yêu nó một cách khác thường đến vậy, nhưng rồi còn vì, về sau, trong một dịp kỳ lạ, nó sẽ còn đóng một vai trò nhất định nào đó. Còn bây giờ chúng ta trở lại với món thứ năm và cuối cùng trong nhóm những tiết mục được ưu ái nhất, - mà dĩ nhiên lần này thì chẳng còn chút gì Pháp nữa, trái lại là một cái gì đặc biệt và tiêu biểu Đức, cũng chẳng có gì thuộc opera, mà là một bài ca, một trong những bài ca ấy, - đồng thời là của cải dân gian và là kiệt tác, và chính nhờ sự đồng thời ấy mà nhận được dấu ấn tinh thần và quan niệm thế giới riêng biệt của nó... Quanh co làm gì? Đó là "Lindenbaum" của Schubert, không gì khác hơn chính cái câu quá đỗi quen thuộc: "Bên giếng nước trước cổng thành".
Một giọng tenor trình bày bài ấy với piano, một chàng trai có chừng mực và thị hiếu, biết xử lý đối tượng của mình, vừa đơn sơ vừa ở tột đỉnh ấy, với rất nhiều sự khôn ngoan, tinh tế âm nhạc và cẩn trọng ngâm xướng. Tất cả chúng ta đều biết rằng bài ca tuyệt diệu ấy, trong miệng dân gian và trẻ nhỏ, có một hình thức khác với tư cách ca khúc nghệ thuật. Ở đó người ta thường hát suốt từng khổ, đã được đơn giản hóa, theo giai điệu chính; còn ở nguyên bản, tuyến giai điệu phổ biến ấy đã được biến thể sang giọng thứ ngay từ khổ thứ hai trong những khổ tám câu, để rồi ở câu thứ năm, đẹp đẽ khôn tả, lại ngoặt về giọng trưởng, nhưng đến những "ngọn gió lạnh" tiếp sau và chiếc mũ bay khỏi đầu thì tan rã một cách kịch tính, và chỉ ở bốn câu cuối của khổ thứ ba mới tìm lại được, những câu ấy lại còn được lặp để làn điệu có thể hát cho trọn mình. Chỗ chuyển mình thực sự có sức chinh phục của giai điệu xuất hiện ba lần, mà là ở nửa sau có tính chuyển điệu của nó, cho nên lần thứ ba rơi đúng vào chỗ tái hiện của nửa khổ cuối: "Nay ta đã nhiều giờ". Chỗ chuyển mình nhiệm mầu ấy, mà ta không muốn đến quá gần bằng lời lẽ, nằm trên các mảnh câu "Bao lời yêu dấu", "Như gọi tôi", "Xa chốn ấy", và giọng hát sáng và ấm, biết điều tiết hơi thở, hơi nghiêng về một tiếng nấc chừng mực của chàng tenor đã hát mỗi lần như vậy với một cảm giác thông tuệ đến thế về vẻ đẹp của chúng, đến nỗi chúng chạm vào tim người nghe theo một cách không ngờ, nhất là vì nghệ sĩ ấy còn biết nâng cao tác dụng của mình bằng những âm giọng đầu cực kỳ tha thiết ở các câu "Về _đó_ tôi luôn luôn tìm tới", "Ở đây _anh_ sẽ tìm thấy yên nghỉ". Nhưng ở câu cuối được lặp lại, câu "Anh hẳn sẽ tìm thấy yên nghỉ nơi đó!" ấy, chàng hát chữ "sẽ tìm thấy" lần thứ nhất bằng giọng ngực đầy khát khao, rồi đến lần thứ hai mới lại như một thứ flageolet mảnh mai nhất.
Ấy là từng ấy điều về bài ca và lối trình bày nó. Chúng tôi hẳn cũng có thể tự vuốt ve rằng trong những trường hợp trước kia mình đã phần nào thành công trong việc truyền sang những người nghe của chúng tôi một sự hiểu biết đại khái về mối dự phần thân mật mà Hans Castorp dành cho những tiết mục ưu tuyển trong các buổi hòa nhạc đêm của chàng. Nhưng làm cho người ta hiểu được bài cuối cùng này, bài ca này, cây "Lindenbaum" xưa cũ, có nghĩa gì đối với chàng, thì quả là một công việc thuộc loại tế nhị đến nhức nhối, và cần đến sự hết sức dè dặt trong giọng điệu nếu không muốn làm hỏng nhiều hơn là giúp ích.
Chúng ta hãy đặt vấn đề như sau: một đối tượng tinh thần, nghĩa là một đối tượng có ý nghĩa, chính vì thế mới là "có ý nghĩa", vì nó chỉ vượt ra ngoài chính nó, vì nó là biểu hiện và là tiêu biểu của một cái tinh thần-phổ quát hơn, của cả một thế giới tình cảm và tâm thế đã tìm thấy ở nó biểu tượng nhiều hay ít trọn vẹn của mình, - và mức độ ý nghĩa của nó được đo theo đó. Hơn nữa, tình yêu đối với một đối tượng như vậy cũng là, và tự nó là, một cái gì "có ý nghĩa". Nó nói lên một điều gì đó về kẻ nuôi dưỡng nó, nó đặc trưng cho quan hệ của người ấy với cái phổ quát kia, với thế giới kia mà đối tượng đại diện, và cái thế giới ấy, trong đối tượng ấy, được yêu cùng, dù có ý thức hay không.
Người ta có muốn tin rằng người anh hùng mộc mạc của chúng ta, sau ngần ấy năm trời được nâng bậc trong thứ sư phạm huyền kín, đã bước đủ sâu vào đời sống tinh thần để _ý thức_ được "ý nghĩa" của tình yêu của mình và của đối tượng nó hướng tới hay không? Chúng tôi khẳng định và kể lại rằng chàng đã ý thức được. Bài ca ấy có nghĩa rất lớn đối với chàng, nó có nghĩa là cả một thế giới, mà lại là một thế giới chàng hẳn phải yêu, bằng không chàng đã chẳng si mê đến thế nơi hình ảnh thay mặt của nó. Chúng tôi biết mình nói gì khi thêm vào - có lẽ hơi tối nghĩa - rằng số phận của chàng hẳn đã thành hình khác đi nếu tâm hồn chàng không đặc biệt dễ tiếp nhận đến mức cao nhất những quyến rũ của phạm vi tình cảm, của tư thế tinh thần phổ quát mà bài ca kia đã kết tụ theo một lối hết sức thân mật và huyền nhiệm. Nhưng chính số phận ấy lại đã đem theo những cấp độ, những cuộc phiêu lưu, những cái nhìn thấu, đã nêu ra trong chàng những vấn đề trị lý trong nội tâm, khiến chàng chín muồi cho một sự phê phán đầy linh cảm đối với thế giới ấy, đối với hình ảnh biểu trưng tuyệt đối đáng ngưỡng mộ của nó, đối với tình yêu của chàng dành cho nó, và từ đó có khả năng đặt cả ba dưới những nghi vấn của lương tâm.
Kẻ nào tưởng rằng những ngờ vực như thế làm tổn giảm tình yêu thì hẳn nhiên chẳng hiểu gì hết về chuyện yêu đương. Trái lại, chúng chính là gia vị của tình yêu. Chính chúng mới trao cho tình yêu cái nhức nhối của đam mê, đến nỗi có thể định nghĩa đam mê một cách giản phác là tình yêu biết hoài nghi. Nhưng những ngờ vực của lương tri và của ý thức tự chủ trong Hans Castorp về tính chính đáng ở bình diện cao hơn của tình yêu chàng dành cho khúc ca mê hoặc ấy và thế giới của nó rốt cuộc là gì? Thế giới đứng phía sau nó là thế giới nào, cái thế giới mà theo linh cảm lương tri của chàng hẳn phải là một thế giới của tình yêu bị cấm đoán?
Đó là cái chết.
Nhưng đó quả là một cơn điên công khai! Một khúc ca kỳ diệu tuyệt vời đến thế! Thuần túy là kiệt tác, sinh ra từ những vực sâu cuối cùng và thiêng liêng nhất của tâm hồn dân tộc; một gia sản tối cao, nguyên mẫu của điều thân thiết, chính bản thân sự đáng yêu! Một sự phỉ báng xấu xí biết bao!
Phải, phải, phải, hẳn ai chính trực cũng phải nói như vậy. Và thế nhưng đằng sau sản phẩm khả ái ấy vẫn là cái chết. Nó có những mối liên hệ với cái chết, người ta có thể yêu những mối liên hệ ấy, nhưng không phải là không, trong một sự tự kiểm điểm đầy linh cảm, nhận ra một tính trái phép nhất định của thứ tình yêu như vậy. Theo bản tính nguyên thủy của chính nó, nó có thể không phải là sự đồng cảm với cái chết, mà là một cái gì rất đỗi dân dã và tràn đầy sinh lực; nhưng sự đồng cảm tinh thần với nó lại là đồng cảm với cái chết, là lòng sùng tín tinh ròng, là chính cái ý vị sáng suốt ở điểm khởi đầu của nó, điều ấy không nên bị phủ nhận dù chỉ khẽ nhất; nhưng trong hệ quả của nó đã có sẵn những kết quả của bóng tối.
Chàng đang tự rót vào đầu mình những gì thế! Nhưng dẫu vậy, các bạn cũng không thể cãi chàng bỏ đi được. Kết quả của bóng tối. Những kết quả đen tối. Cái đầu óc đao phủ và lòng thù ghét con người trong bộ đen kiểu Tây Ban Nha với chiếc cổ xếp tròn, và dục lạc thay cho tình yêu, như kết quả của lòng sùng tín với ánh mắt trung hậu.
Quả thật, nhà văn nhân Settembrini nào phải hạng người được chàng tin tưởng vô điều kiện; song chàng nhớ lại đôi điều giáo huấn mà vị minh sư sáng sủa kia xưa kia, thuở đầu con đường khai tâm kín nhiệm của chàng, đã từng ban cho chàng về sự “hướng hồi”, cái “hướng hồi” tinh thần về phía những thế giới nhất định, và chàng thấy nên dè dặt áp dụng lời dạy ấy vào đối tượng của mình. Ông Settembrini đã gọi hiện tượng của sự hướng hồi ấy là “bệnh tật”, còn chính cái thế giới quan, cái thời đại tinh thần mà sự hướng hồi kia hướng tới, hẳn cũng hiện ra dưới mắt sư phạm của ông như một cái gì “bệnh hoạn”. Nhưng sao lại thế được! Khúc ca nhớ nhà khả ái của Hans Castorp, cái phạm vi tình cảm mà nó thuộc về, và khuynh hướng yêu đương đối với phạm vi ấy lại là “bệnh” ư? Không đời nào! Chúng là cái lành mạnh hiền hòa nhất trên đời. Duy có điều, đó là một thứ quả tuy lúc này, hay vừa mới đây thôi, còn tươi rói và rực rỡ khỏe lành, nhưng lại hết sức nghiêng về phía phân hủy và thối rữa; và, là nguồn bồi dưỡng tinh khiết nhất cho tâm hồn nếu được thưởng thức đúng khoảnh khắc, thì kể từ khoảnh khắc sai lạc kế đó, nó đã phát tán sự mục rữa và hư hoại vào giữa loài người đang hưởng nó. Đó là một thứ quả của sự sống, do cái chết gieo giống và mang mầm chết. Đó là một kỳ tích của tâm hồn, có lẽ cao nhất dưới ánh nhìn của vẻ đẹp vô lương tâm và được vẻ đẹp ấy chúc phúc, nhưng đồng thời bị con mắt của tình thân hữu có trách nhiệm với sự sống, của tình yêu đối với cái hữu cơ, nhìn bằng sự nghi ngại vì những lý do xác đáng; và theo phán quyết tối hậu của lương tri, nó là đối tượng của sự tự thắng mình.
Phải, tự thắng mình, ấy hẳn là bản chất của việc vượt thắng mối tình này, mối ma thuật của tâm hồn với những hậu quả tối tăm ấy! Những ý nghĩ, hay những bán ý nghĩ đầy linh cảm của Hans Castorp vút lên cao, trong khi chàng ngồi giữa đêm khuya và cô tịch trước chiếc quan tài âm nhạc bị cắt cụt của mình; chúng bay cao hơn tầm với của trí năng chàng, đó là những ý nghĩ được thuật giả kim nung lên. Ôi, ma thuật của tâm hồn thật là quyền lực! Tất cả chúng ta đều là những đứa con của nó, và khi phụng sự nó, ta có thể làm nên những điều ghê gớm trên mặt đất. Người ta không cần thiên tài lớn hơn, chỉ cần tài cán lớn hơn nhiều so với tác giả khúc ca _Lindenbaum_, để với tư cách một nghệ sĩ pháp thuật của tâm hồn, phóng khúc ca ấy lên tầm vóc khổng lồ và khuất phục thế giới bằng nó. Có lẽ người ta thậm chí còn có thể dựng nên cả những đế quốc trên cơ sở ấy, những đế quốc trần tục, quá đỗi trần tục, rất thô ráp và hớn hở với tiến bộ, mà thật ra chẳng hề mắc chứng nhớ nhà, trong đó khúc ca bị suy đồi thành nhạc máy hát đĩa chạy điện. Nhưng đứa con ưu tú nhất của nó hẳn vẫn là kẻ đã tiêu mòn đời mình và chết đi trong chính sự vượt thắng nó, trên môi mang lời mới của tình yêu mà người ấy còn chưa biết nói. Khúc ca ma thuật ấy quả thật đáng để chết vì nó biết bao! Nhưng ai chết vì nó thì kỳ thực đã không còn chết vì nó nữa, và chỉ là một anh hùng bởi về căn bản người ấy đã chết cho cái Mới, cho lời mới của tình yêu và của tương lai trong trái tim mình – –
Đó là những chiếc đĩa hát ưa thích của Hans Castorp.
Điều đáng ngờ nhất
Qua bao năm tháng, những buổi diễn thuyết của Edhin Krokowski đã chuyển sang một bước ngoặt bất ngờ. Các công trình khảo cứu của ông, vốn hướng vào sự mổ xẻ tâm hồn và đời sống mộng mị của con người, từ trước tới nay luôn mang một tính chất ngầm tối và hang toại; nhưng gần đây, qua một sự chuyển tiếp êm nhẹ hầu như công chúng không nhận thấy, chúng đã rẽ sang phía ma thuật, phía hoàn toàn huyền bí, và những bài thuyết giảng hai tuần một lần của ông trong phòng ăn, sức hút chính của ngôi nhà, niềm kiêu hãnh của tờ quảng cáo, những bài thuyết giảng ấy, được đọc trong áo lễ phục và dép xăng-đan, sau chiếc bàn con đã bày sẵn, với giọng nhấn lê thê đầy vẻ ngoại lai trước công chúng Berghof đang lắng nghe bất động, không còn nói về những hoạt động ái tình trá hình và việc tái chuyển hóa bệnh tật thành xúc cảm được đưa ra ánh sáng ý thức nữa, mà nói về những kỳ dị sâu thẳm của thuật thôi miên và chứng mộng du, về các hiện tượng thần giao cách cảm, mộng báo thật và linh thị, về những phép lạ của chứng hystêri; khi khảo luận các điều ấy, chân trời triết học đã mở rộng đến mức trước mắt thính giả bỗng lấp ló những bí ẩn như mối quan hệ giữa vật chất với cái tâm lý, thậm chí là chính sự sống, điều mà xem chừng người ta có nhiều hy vọng lần ra bằng con đường rùng rợn nhất, bệnh hoạn nhất, hơn là bằng con đường của sức khỏe...
Chúng tôi nói điều này vì cho rằng mình có bổn phận phải làm những đầu óc khinh suất kia hổ thẹn, những kẻ muốn cho rằng bác sĩ Krokowski chỉ vì lo giữ cho các bài diễn thuyết của mình khỏi rơi vào sự đơn điệu vô phương cứu chữa, nghĩa là chỉ vì những mục đích thuần cảm xúc, mà quay sang cái huyền ẩn. Ở đâu mà chẳng có những chiếc lưỡi gièm pha nói kiểu ấy. Quả thật, trong các buổi hội thảo thứ Hai, các ông lắc tai mình gấp gáp hơn bao giờ hết để làm cho chúng thính hơn, và cô Levi, nếu có thể nói vậy, còn giống pho tượng sáp có bộ máy lắp trong ngực hơn cả ngày trước. Nhưng những tác động ấy cũng chính đáng chẳng kém gì sự phát triển mà tinh thần của nhà bác học đã trải qua, một sự phát triển mà ông có quyền nhận cho mình không chỉ tính nhất quán hệ quả mà hầu như cả tính tất yếu. Từ lâu những miền tăm tối và mênh mang kia của tâm hồn con người, vốn được gọi là vô thức, đã là đối tượng nghiên cứu của ông, mặc dầu có lẽ nói là siêu ý thức còn đúng hơn, bởi từ những tầng ấy đôi khi hiện lên như ma một tri thức vượt xa tri thức ý thức của cá nhân, và gợi cho người ta nghĩ rằng giữa những miền thấp nhất, không ánh sáng nhất của linh hồn cá thể và một đại hồn biết mọi sự hẳn có những mối liên lạc, những tương quan. Lãnh vực của vô thức, “kín ẩn” theo chính nghĩa từ nguyên của chữ ấy, chẳng bao lâu cũng tỏ ra là huyền bí theo nghĩa hẹp hơn của từ ấy, và tạo thành một trong những nguồn từ đó tuôn ra những hiện tượng mà người ta tạm gọi bằng chính tên ấy. Nhưng chưa hết. Ai nhìn trong triệu chứng bệnh lý hữu cơ một công trình do những xúc cảm bị trục xuất khỏi đời sống tinh thần có ý thức và bị hystêri hóa tạo nên, người ấy thừa nhận quyền năng sáng tạo của cái tâm lý trong cái vật chất, một quyền năng mà người ta buộc phải xem là nguồn thứ hai của các hiện tượng ma thuật. Là nhà duy tâm của cái bệnh lý, hay nói thẳng ra, một kẻ duy tâm bệnh lý, ông sẽ thấy mình đứng ở điểm xuất phát của những dòng tư tưởng dẫn thẳng, chỉ qua một quãng rất ngắn, tới vấn đề của tồn tại nói chung, nghĩa là tới vấn đề quan hệ giữa tinh thần và vật chất. Nhà duy vật, đứa con của một thứ triết học của sự cường tráng thuần túy, sẽ không bao giờ chịu bỏ việc giải thích cái tinh thần như một sản phẩm lân quang của vật chất. Ngược lại, nhà duy tâm, xuất phát từ nguyên lý của chứng hystêri sáng tạo, sẽ có khuynh hướng, và rất chóng đi tới quyết tâm, trả lời câu hỏi về tính ưu tiên theo một nghĩa hoàn toàn đảo ngược. Tóm lại, ở đây không phải gì nhỏ nhặt hơn là câu tranh luận xưa kia xem cái gì có trước: con gà hay quả trứng, câu tranh luận chính vì cái thực tế kép này mà rơi vào một sự rối rắm khác thường: không thể hình dung một quả trứng nào lại không do một con gà đẻ ra, cũng không thể hình dung một con gà nào lại không phải đã chui ra từ một quả trứng được giả định có trước.
Vậy là gần đây bác sĩ Krokowski bàn luận những vấn đề ấy trong các bài diễn thuyết của mình. Ông đã đi tới đó bằng một con đường hữu cơ, chính đáng, lôgic, chúng tôi không sao nhấn mạnh cho đủ; và chỉ xin thêm cho trọn rằng ông đã bước vào những khảo luận ấy từ lâu trước khi sự xuất hiện của Ellen Brand trên sân khấu đẩy mọi chuyện sang một giai đoạn kinh nghiệm-thực nghiệm.
Ellen Brand là ai? Suýt nữa chúng tôi quên rằng thính giả của mình chưa biết điều ấy, trong khi đối với chúng tôi dĩ nhiên cái tên ấy đã quen thuộc. Cô là ai ư? Thoạt nhìn thì hầu như chẳng là ai cả. Một cô bé đáng mến mười chín tuổi, gọi là Elly, tóc vàng màu lanh, người Đan Mạch, mà lại chẳng phải ở Copenhagen, chỉ ở Odense trên đảo Fünen, nơi cha cô có một cửa hiệu bơ. Bản thân cô đã bước vào đời thực tế, đã mấy năm ngồi trên một chiếc ghế xoay, tay phải xỏ ống tay che viết, cúi trên những cuốn sổ dày cộp, với tư cách nữ nhân viên của chi nhánh tỉnh lẻ một ngân hàng ở thủ đô, và trong khi ấy thì bị sốt. Ca này không đáng kể, kỳ thực hẳn chỉ mang tính chất đáng ngờ thôi, dẫu Elly đúng là mảnh mai, mảnh mai và rõ ràng xanh xao thiếu máu; song hết sức dễ mến, khiến người ta rất muốn đặt tay lên chỏm đầu tóc lanh ấy của cô, và Hofrat quả cũng vẫn làm thế đều đặn mỗi khi nói chuyện với cô trong phòng ăn. Bao quanh cô là một vẻ mát lạnh phương Bắc, một bầu không khí trong như thủy tinh, trinh khiết, trẻ thơ và đồng trinh, hoàn toàn đáng yêu, cũng như ánh nhìn trẻ nhỏ đầy và trong của đôi mắt xanh, cũng như giọng nói cô, thanh, cao và mảnh, một thứ tiếng Đức hơi vấp, với vài lỗi âm đặc trưng nho nhỏ, như nói “Fleich” thay vì “Fleisch”. Nét mặt cô không có gì đáng chú ý. Cằm hơi ngắn. Cô ngồi ở bàn của bà Kleefeld, người chăm nom cô như mẹ.
Vậy là chính cô Brand đồng trinh ấy, cô Elly ấy, cô gái đạp xe nhỏ nhắn và dễ mến người Đan Mạch ấy, cô bé ngồi ghế phòng giấy ấy, lại dính tới những chuyện mà không ai, ngay cả sau cái nhìn thứ nhất hay thứ hai vào con người trong sáng của cô, có thể mơ tưởng nổi; thế mà chỉ sau vài tuần lưu lại trên này, chúng đã bắt đầu lộ diện, và việc phơi chúng ra trong toàn bộ vẻ kỳ quái của chúng đã trở thành phần việc của bác sĩ Krokowski.
Những cuộc chuyện trò chung trong các buổi quây quần tối đã cho nhà bác học cớ đầu tiên để lấy làm lạ. Người ta chơi đủ trò đoán; rồi chơi tìm những vật bị giấu nhờ một khúc đàn piano sẽ dâng to lên khi người tìm tiến gần chỗ giấu, trái lại sẽ nhỏ đi khi lạc đường; và sau đó người ta chuyển sang bắt người, trong khi mọi sự được sắp đặt, phải đứng ngoài cửa, thực hiện chính xác những hành động phức hợp nhất định: thí dụ đổi nhẫn của hai người nào đó cho nhau; cúi mình ba lần để mời một người khiêu vũ; lấy một cuốn sách đã chỉ định trong thư viện rồi trao cho người này người kia, và những trò tương tự. Cần lưu ý rằng những trò như thế xưa nay không thuộc thói quen của xã hội Berghof. Rốt cuộc ai là người đã khơi ra sáng kiến ấy, về sau không xác định được. Chắc chắn không phải Elly. Tuy vậy, chỉ tới khi có mặt cô, người ta mới nảy ra những trò đó.
Những người tham gia, hầu như toàn là những gương mặt cũ quen thuộc với chúng ta, và Hans Castorp cũng có trong số đó, khi thử nghiệm thì tỏ ra ít nhiều tháo vát, hoặc cũng hoàn toàn thất bại. Nhưng năng lực của Elly Brand lại lộ ra là phi thường, là nổi bật, là quá đáng. Sự tinh nhạy chắc chắn của cô trong việc tìm chỗ giấu đồ còn có thể để yên dưới những tràng vỗ tay và tiếng cười thán phục; nhưng tới những hành động phối hợp thì người ta bắt đầu im bặt. Cô làm đúng bất cứ điều gì người ta đã bí mật quy định cho mình; vừa bước trở vào là làm ngay, với nụ cười dịu, không hề do dự, lại cũng không cần bản nhạc dẫn đường. Cô lấy từ phòng ăn một nhúm muối, rắc lên đầu công tố viên Paravant, rồi nắm tay ông dẫn tới bên cây đàn piano, nơi cô dùng ngón trỏ của ông gảy lên những nốt mở đầu của bài hát nhỏ “Có một con chim bay tới”. Sau đó cô đưa ông về chỗ ngồi, nhún gối trước mặt ông, kéo một chiếc ghế kê chân lại gần và cuối cùng ngồi xuống đó dưới chân ông, đúng y như người ta đã nghĩ nát óc để bày ra cho cô.
Vậy là cô đã rình nghe!
Cô đỏ bừng mặt; và với một sự nhẹ nhõm thật lòng khi thấy cô biết xấu hổ, người ta bắt đầu đồng thanh trách mắng cô, trong lúc cô cam đoan: Không, không, không phải thế, xin đừng tin như vậy! Cô không rình nghe ở ngoài, không rình nghe ở cửa, quả thật, thật lòng là không!
Không ở ngoài, không ở cửa ư?
“Ồ không, xin thứ... lỗi!” Cô nghe ngay trong phòng này, mỗi khi bước vào, không sao không nghe được.
Không sao không nghe được? Ngay trong phòng này ư?
Có tiếng gì thì thầm với cô, cô nói vậy. Người ta thì thầm cho cô biết điều cô phải làm, khẽ thôi, nhưng rất sắc và rất rõ.
Hiển nhiên, đó là một lời thú nhận. Theo một nghĩa nào đó Elly cảm thấy mình có lỗi, đã gian lận. Cô lẽ ra phải nói rằng cô không hợp với thứ trò chơi như vậy, vì mọi sự đều đã được thì thầm cho cô biết. Một cuộc đua mất hết mọi ý nghĩa nhân loại khi một trong những người tranh tài sở hữu những lợi thế siêu nhiên. Theo nghĩa thể thao, Ellen bỗng bị tước tư cách; chỉ có điều theo một lối khiến sống lưng khối người lạnh buốt trước lời xưng thú của cô. Mấy tiếng nói cùng một lúc gọi bác sĩ Krokowski. Người ta chạy đi mời ông, và ông tới: tầm thước chắc nịch, nụ cười rắn rỏi, nắm ngay tình hình, toàn thân toát ra một lời mời gọi đến sự tin cậy vui tươi. Người ta đã báo cho ông, thở dốc, rằng ở đây có một điều bất thường hết sức ghê gớm, một người biết tất đã xuất hiện, một trinh nữ có tiếng nói. Ấy chà, ấy chà, rồi sao nữa? Bình tĩnh nào, thưa các bạn! Ta sẽ xem. Đó là đất của ông, một thứ nền đất chao đảo, lầy lún và nhũn nhặn đối với tất cả mọi người, nhưng trên đó chính ông lại di chuyển với một sự đồng cảm vững chãi. Ông hỏi, ông để người ta kể cho mình nghe. Ấy chà, ấy chà, hãy nhìn mà xem! “Thì ra cô là thế đấy, con ạ?” Và ông đặt tay lên đầu cô bé, như ai cũng thích làm. Rất có lý do để chú ý, nhưng chẳng có mảy may lý do nào để kinh hãi. Ông ghim đôi mắt nâu ngoại lai của mình vào đôi mắt xanh nhạt của Ellen Brand, đồng thời dịu dàng vuốt tay từ đỉnh đầu cô xuống qua vai tới cánh tay. Cô đáp lại cái nhìn ấy bằng vẻ ngoan đạo, rồi càng lúc càng ngoan đạo hơn nữa, nghĩa là mỗi lúc một từ phía dưới hơn, khi đầu cô chậm rãi nghiêng xuống ngực và vai. Khi mắt cô bắt đầu lạc thần, nhà bác học đưa một cử động tay lơ đãng hất lên trước khuôn mặt nhỏ ấy; rồi ông tuyên bố mọi sự đều ổn thỏa và sai cả xã hội đang kích động kia đi dự nghi thức buổi tối, trừ Elly Brand, người mà ông còn định “trò chuyện” thêm đôi chút.
Trò chuyện cơ đấy! Ai mà chẳng hình dung ra được. Hẳn chẳng ai thấy dễ chịu gì trước cái từ ấy, một từ thật đúng là của người bạn vui tính Krokowski. Ai nấy đều cảm thấy tận đáy lòng mình bị nó chạm lạnh, Hans Castorp cũng vậy, khi chàng muộn màng ngả xuống chiếc ghế nằm tuyệt hảo của mình và nhớ lại lúc Elly biểu diễn những tài cán quá đỗi không phải phép cùng lời giải thích e thẹn nàng đưa ra về chúng, chàng đã thấy mặt đất dưới chân mình chao đảo ra sao, đến nỗi một nỗi buồn nôn nào đó và sự kinh hãi thể xác, một cơn say sóng nhẹ, đã ập đến với chàng. Chàng chưa từng trải qua động đất, nhưng tự nhủ hẳn những cơn như thế cũng phải gắn với những cảm giác kinh hoàng không thể lầm lẫn tương tự, chưa kể đến nỗi tò mò mà những năng lực tai hại của Ellen Brand còn khơi vào lòng chàng: một nỗi tò mò tự nó đã mang sẵn cảm thức về sự vô vọng ở bậc cao hơn của mình, nghĩa là: ý thức rằng lĩnh vực nó đang lần mò tới là một lĩnh vực tinh thần bất khả nhập, và do đó nảy sinh hoài nghi không biết nó chỉ là nhàn rỗi hay còn là tội lỗi nữa, điều ấy tuy vậy vẫn không ngăn nó cứ là cái nó vốn là, tức là lòng tò mò. Hans Castorp, như bất cứ ai, trong năm tháng đời mình đã từng nghe đây đó về những sự việc thuộc bản tính bí mật hoặc siêu nhiên, người cô tổ có năng lực tiên tri kia hẳn đã từng được nhắc đến, từ đó một truyền thuyết u uất đã truyền lại cho chàng. Nhưng chưa bao giờ thế giới ấy, cái thế giới mà chàng không từ chối dành cho một sự thừa nhận có tính lý thuyết và không dính líu, lại áp sát vào chính thân mình; chưa bao giờ chàng có những kinh nghiệm thực tế với nó, và sự kháng cự của chàng đối với những kinh nghiệm như thế, một sự kháng cự về thị hiếu, một sự kháng cự thẩm mỹ, một sự kháng cự của niềm kiêu hãnh nhân tính, nếu chúng ta được phép dùng những cách nói quá đỗi đòi hỏi như vậy đối với người anh hùng hoàn toàn không đòi hỏi của chúng ta, hầu như ngang với chính nỗi tò mò mà chúng khơi dậy nơi chàng. Chàng cảm thấy trước, cảm thấy rõ ràng và rành rọt, rằng những kinh nghiệm ấy, dẫu có tiếp diễn theo cách nào đi nữa, sẽ không bao giờ có thể khởi sự theo cách nào khác ngoài lố bịch, khó hiểu và làm mất phẩm giá con người. Vậy mà chàng vẫn cháy lòng muốn có chúng. Chàng hiểu rằng “nhàn rỗi hay tội lỗi”, như một lựa chọn vốn đã đủ tệ, thực ra chẳng phải là lựa chọn nào cả, mà là hai điều trùng khít nhau, và rằng sự vô vọng tinh thần chỉ là hình thức diễn đạt ngoài đạo lý của cái bị cấm đoán. Nhưng _Placet experiri_, điều đã được cấy vào chàng bởi một kẻ dĩ nhiên phải phản đối gay gắt nhất _những_ thử nghiệm như vậy, vẫn bám chặt trong đầu óc Hans Castorp; đạo đức của chàng dần dà trùng làm một với tính tò mò của chàng, mà có lẽ vốn vẫn thế từ trước: với nỗi tò mò vô điều kiện của người lữ khách đi tìm sự khai mở, thứ tò mò có lẽ ngay từ khi nếm trải bí nhiệm của nhân cách đã không còn cách xa bao nhiêu cái lãnh địa nay hiện ra đây nữa, và biểu lộ một thứ tính cách quân ngũ ở chỗ không né tránh điều bị cấm nếu nó tự bày ra. Vì thế Hans Castorp quyết ý phải có mặt tại vị trí, không đứng ngoài, nếu với Ellen Brand còn xảy đến những cuộc phiêu lưu nào khác.
Dr. Krokowski đã ban ra một lệnh cấm ngặt không cho người ta còn tiến hành những thí nghiệm nghiệp dư với các thiên bẩm bí mật của Fräulein Brand nữa. Ông đã đặt đứa trẻ ấy dưới quyền trưng dụng của khoa học, mở các buổi ngồi với nó trong cái ngục thất phân tích của mình, người ta nghe nói ông thôi miên nó, cố gắng phát triển và rèn nắn những khả năng còn ngủ vùi trong nó, đồng thời khảo cứu tiền sử tâm hồn nó. Nhân tiện nói, Hermine Kleefeld, người bạn mang dáng mẹ hiền và là vị bảo trợ của nó, cũng làm điều ấy, và dưới dấu ấn kín miệng đã biết được chuyện này chuyện nọ, rồi cũng dưới chính dấu ấn ấy mà loan truyền khắp nhà, cho đến tận phòng người gác cổng. Chẳng hạn cô biết rằng kẻ, hay cái, đã ghé tai mách cho con bé những lời giải khi chơi tên là Holger, đó là chàng trai Holger, một _spirit_ đã quá quen thuộc với nó, một hữu thể thoát tục bằng chất liệu ê-te và na ná một vị thần hộ mệnh của cô bé Ellen. Chính cậu ta đã mách nó chuyện nhúm muối với ngón trỏ của Paravant chăng? Phải, với đôi môi bóng tối ve vuốt bên tai khiến nhột nhạt mà muốn mỉm cười, cậu ta đã thì thầm vào tai nó như thế. Hẳn thú vị lắm, nếu hồi trước Holger đã nhắc bài cho nó ở trường, mỗi khi nó không chuẩn bị. Đến đây Ellen im lặng. Sau đó cô nói chắc Holger không được phép làm vậy. Can dự vào những việc nghiêm trọng đến thế là điều bị cấm đối với cậu ta, mà hơn nữa chính cậu ta hẳn cũng không biết tường tận các câu trả lời ở trường.
Ngoài ra còn lộ rõ rằng Ellen từ nhỏ, tuy những quãng cách thời gian khá xa nhau, đã từng có những hiện hình, hữu hình lẫn vô hình. Thế “những hiện hình vô hình” là sao? Chẳng hạn thế này. Năm mười sáu tuổi, nàng đã từng ngồi một mình trong phòng khách nhà cha mẹ, bên chiếc bàn tròn với việc khâu vá trong tay, giữa buổi chiều sáng rõ, và cạnh nàng trên thảm là con chó ngao của cha, con chó cái Freia, đang nằm. Chiếc bàn phủ một tấm khăn sặc sỡ, một loại khăn choàng Thổ Nhĩ Kỳ như các bà già vẫn quàng thành hình tam giác: nó được trải chéo trên mặt bàn, các góc rủ ngắn buông xuống. Và bỗng Ellen trông thấy cái góc khăn đối diện mình từ từ cuộn lại: lặng lẽ, chăm chú và đều đặn, nó bị cuộn lại từng vòng, lùi sâu vào phía giữa mặt bàn một quãng kha khá, đến nỗi rốt cuộc cuộn khăn đã dài ra đáng kể; và trong khi việc ấy diễn ra, Freia bật dựng lên hung hãn, chống hai chân trước, dựng ngược lông, ngồi phịch xuống trên hai chân sau, tru lên rồi lao vào phòng bên, chui tọt xuống dưới đi-văng, và suốt trọn một năm sau không sao ép nó đặt một chân nào vào phòng khách nữa.
Liệu có phải Holger không, Fräulein Kleefeld hỏi, kẻ đã cuộn tấm khăn choàng ấy? Cô bé Brand không biết. Thế nàng đã nghĩ gì về chuyện xảy ra đó? Nhưng vì tuyệt đối không thể nghĩ ra nổi điều gì dù là nhỏ nhặt nhất về nó, nên Elly cũng chẳng nghĩ gì thêm cả. Nàng có thuật lại với cha mẹ không? Không. Thật lạ lùng. Mặc dầu hoàn toàn không thể nghĩ gì ra được về chuyện ấy, Elly trong trường hợp này và những trường hợp tương tự vẫn có cảm giác rằng mình phải giữ kín nó cho riêng mình, biến nó thành một bí mật nghiêm ngặt và e lệ. Thế nàng có mang nặng điều ấy không? Không, không đặc biệt nặng. Rốt cuộc thì việc một tấm khăn tự cuộn lại có gì mà phải mang nặng lắm. Nhưng có những chuyện khác nàng mang nặng hơn. Thí dụ chuyện này:
Một năm trước, cũng tại nhà cha mẹ ở Odense, một buổi sớm tinh mơ, trong trạng thái tươi tỉnh nhất, nàng rời căn phòng ở tầng trệt và định băng qua sảnh, lên cầu thang tới phòng ăn để, như thói quen của nàng, đun cà phê trước khi cha mẹ xuất hiện. Nàng đã lên gần tới chiếu nghỉ, nơi cầu thang ngoặt quặt, thì thấy chính trên cái chiếu nghỉ ấy, ở mép chiếu nghỉ, sát các bậc thang, người chị Sophie lớn hơn nàng, đã lấy chồng bên Mỹ, đang đứng đó bằng xương bằng thịt, thật thật sự sự. Chị mặc một chiếc áo trắng và kỳ lạ thay lại đội trên đầu một vòng hoa súng, thứ hoa sậy nước, hai tay gấp trước vai, và gật đầu với nàng. “Nhưng, Sophie, chị ở đây ư?” Ellen đứng sững như mọc rễ, hỏi, nửa vui mừng nửa hoảng sợ. Sophie lại gật đầu một lần nữa rồi tan đi. Chị trở nên trong suốt; chẳng bao lâu chỉ còn thấy được ở mức như một luồng không khí nóng đang chảy, rồi thì hoàn toàn biến mất, để lối đi lại mở ra cho Ellen. Nhưng rồi người ta phát hiện rằng chính vào buổi sớm ấy chị Sophie đã chết ở New Jersey vì viêm tim.
Thế thì, Hans Castorp nghĩ, khi Kleefeld kể cho chàng nghe, chuyện đó quả có chút ý nghĩa, nghe cũng lọt tai đấy chứ. Bên này là hiện hình, bên kia là cái chết, dù sao ở đó cũng thấy được một mối liên hệ nào đó đáng tôn trọng. Và chàng bằng lòng tham gia vào một trò tiêu khiển cầu hồn trong phòng khách, một cuộc gọi hồn bằng chiếc ly, mà vì thiếu kiên nhẫn người ta đã quyết định tổ chức với Ellen Brand, lén lút qua mặt lệnh cấm ghen gắt của Dr. Krokowski.
Chỉ một số người nhất định mới được kín đáo mời dự buổi lên đồng này, diễn ra trong phòng Hermine Kleefeld: ngoài bà chủ phòng, Hans Castorp và cô bé Brand, chỉ còn các bà Stöhr và Levi, cùng Herr Albin, người Tiệp Wenzel và Dr. Ting-Fu. Mãi tới tối, đúng mười giờ điểm, mọi người mới rón rén tụ lại và thì thầm ngắm các sự chuẩn bị của Hermine: ở giữa phòng, trên một chiếc bàn tròn cỡ vừa không phủ khăn, có một cái ly rượu úp ngược, chân hướng lên trên; còn chung quanh, dọc mép mặt bàn, cách đều nhau, là những miếng xương nhỏ, những quân thẻ theo công dụng thường ngày của chúng, trên đó người ta đã dùng mực và bút vẽ hai mươi lăm chữ cái của bảng mẫu tự. Trước hết Kleefeld rót trà, điều được đón nhận đầy biết ơn, vì các bà Stöhr và Levi, bất chấp tính vô hại trẻ con của cuộc bày trò, than phiền tay chân lạnh ngắt và tim đập dồn. Sau khi đã được sưởi ấm bằng chén trà, người ta ngồi quanh chiếc bàn nhỏ, và trong thứ ánh sáng hồng nhạt leo lét, vì bà chủ nhà để hợp tâm trạng đã tắt đèn trần, chỉ để lại chiếc đèn ngủ có chụp che, mỗi người nhẹ đặt một ngón tay phải lên chân ly. Phương pháp là như vậy. Mọi người chờ khoảnh khắc chiếc ly bắt đầu chạy.
Điều ấy hẳn rất dễ xảy ra, vì mặt bàn nhẵn, miệng ly được mài kỹ, và sức ép do những ngón tay run rẩy, dẫu chỉ đặt thật nhẹ, gây nên, vốn dĩ không thể đều nhau, chỗ này có thể theo phương thẳng đứng hơn, chỗ kia lại hơi lệch ngang, lâu dần hoàn toàn đủ để buộc chiếc ly rời bỏ vị trí trung tâm của nó. Ở chu vi của trường vận động, nó sẽ đụng vào các chữ cái; và nếu những chữ cái nó chạm tới khi ghép lại thành từ ngữ và thành một ý nghĩa nào đó, thì ấy sẽ là một hiện tượng rối rắm từ bên trong đến mức gần như ô uế, một hỗn phẩm của những yếu tố tỉnh thức, bán tỉnh và vô thức, của sự tiếp tay do ước muốn thúc đẩy từ một vài cá nhân, dù chính họ có tự thú nhận hành vi ấy hay không, và của sự đồng lõa kín đáo giữa những tầng sâu không ánh sáng của tâm hồn tập thể, một sự hợp tác ngầm dưới đất để tạo ra những kết quả xem chừng xa lạ, trong đó những miền tăm tối của từng người sẽ dự phần ít nhiều, mà có lẽ dự phần mạnh nhất là những miền tăm tối của cô bé Elly khả ái. Tự đáy lòng, ai nấy đều biết trước điều ấy, và Hans Castorp, theo lối của mình, thậm chí còn nói toạc ra, trong khi mọi người ngồi chờ với những ngón tay run rẩy. Cả cái lạnh nơi đầu chi và nhịp tim dồn dập của các bà, lẫn vẻ vui cười gượng gạo của các ông, rốt cuộc cũng chỉ vì họ biết điều ấy, nghĩa là vì họ đã tụ họp trong đêm khuya yên lặng để chơi một trò ô uế với chính bản tính mình, một sự dò thử đầy sợ hãi mà tò mò những phần chưa biết của chính họ, và chờ đợi những cái thực thể giả, hay nửa thực thể, mà người ta gọi là ma thuật. Người ta giả định rằng qua chiếc ly các linh hồn của những người đã khuất sẽ nói với hội, nhưng điều đó hầu như chỉ là để cho câu chuyện có lấy một hình thức, nghĩa là theo lệ mà làm vậy thôi. Herr Albin xung phong làm người phát ngôn và thương lượng với những trí thể có thể hiện ra, vì trước kia ông đã đôi ba lần dự các buổi cầu hồn.
Hơn hai mươi phút trôi qua. Chất liệu để thì thầm cạn dần, sự căng thẳng ban đầu dịu xuống. Người ta dùng tay trái đỡ khuỷu tay phải. Người Tiệp Wenzel sắp sửa ngủ gật. Ellen Brand, đầu ngón tay đặt hờ, giữ cái nhìn trẻ thơ lớn lao và trong sạch vượt qua những vật ở gần, hướng vào quầng sáng của chiếc đèn ngủ.
Thình lình chiếc ly nghiêng bật lên, gõ một tiếng rồi chạy tuột khỏi tay những người ngồi quanh. Họ phải rất vất vả mới theo kịp bằng đầu ngón tay. Nó trượt tới mép bàn, chạy dọc mép một quãng rồi lại theo đường thẳng trở về gần giữa bàn. Tại đây nó lại gõ thêm một tiếng nữa, rồi đứng yên.
Nỗi kinh hãi của mọi người vừa mang tính vui mừng vừa mang tính lo sợ. Frau Stöhr ướt át tuyên bố muốn thôi đi thì hơn, nhưng người ta cho bà biết rằng lẽ ra bà phải tự xem xét mình sớm hơn, còn giờ thì nên ngồi yên lặng. Sự việc dường như bắt đầu vào guồng. Người ta thỏa thuận rằng để trả lời có và không, chiếc ly không cần phải chạy đến các chữ cái trước đã, mà có thể chỉ cần gõ một lần hoặc hai lần.
“Có một trí thể nào hiện diện chăng?” Herr Albin, mặt mày nghiêm khắc, cất tiếng hỏi vào khoảng không phía trên đầu mọi người... Có một quãng chần chừ. Rồi chiếc ly nghiêng xuống và xác nhận.
“Mi tên gì?” Herr Albin hỏi, giọng gần như cộc lốc, đồng thời lắc đầu để tăng thêm sức mạnh cho lời hô gọi của mình.
Chiếc ly dịch chuyển. Nó chạy quả quyết và ngoằn ngoèo từ quân thẻ này sang quân thẻ khác, giữa chừng luôn luôn lùi lại một quãng về phía giữa bàn; nó chạy đến _h_, đến _o_, đến _l_, rồi dường như mệt đi sau đó, trở nên lúng túng, không biết tiếp nữa, nhưng lại tìm được đường, tìm luôn cả _g_, _e_ và _r_. Quả người ta đã nghĩ đúng! Chính Holger đích thân, _spirit_ Holger, kẻ biết chuyện nhúm muối vân vân, nhưng quả nhiên không can thiệp vào chuyện bài vở ở trường. Cậu ta đang ở đây, đang tuôn tràn trong không khí, đang bay lượn quanh vòng tròn nhỏ. Bây giờ người ta làm gì với cậu ta đây? Một nỗi ngớ ngẩn nào đó ngự trị trong nhóm. Mọi người khẽ bàn bạc, gần như sau bàn tay che miệng, xem nên muốn biết điều gì nơi cậu ta. Herr Albin quyết định hỏi thân phận và nghề nghiệp của Holger khi còn sống là gì. Ông hỏi y như trên, bằng giọng thẩm vấn, nghiêm khắc và cau mày.
Chiếc ly im lặng một chốc. Rồi nó nghiêng ngả và vấp váp tiến tới chữ _d_, rời khỏi đó rồi chỉ vào chữ _i_. Nó định thành cái gì đây? Sự căng thẳng lớn lắm. Dr. Ting-Fu cười khúc khích lo rằng Holger từng là một tên trộm. Frau Stöhr phá lên cười kiểu cuồng loạn, song cũng không vì thế mà ngăn được công việc của chiếc ly, vốn tuy khập khiễng và lạch cạch vẫn trượt tới _c_, tới _h_, chạm _t_ rồi, hiển nhiên do sai sót bỏ mất một chữ, kết thúc bằng _r_. Nó đã đánh vần “Dichtr”.
Thế quái nào, Holger từng là một thi sĩ ư? Để thừa và dường như chỉ vì tự phụ, chiếc ly nghiêng xuống gõ một tiếng xác nhận. Một thi sĩ trữ tình ư? Kleefeld hỏi, phát âm chữ _y_ như _i_, như Hans Castorp bực bội nhận thấy... Dường như Holger chẳng mấy thích những sự quy định chi li ấy. Cậu ta không cho một câu trả lời mới. Cậu ta đánh vần lại câu trước một lần nữa, nhanh, chắc và rõ, thêm chữ _e_ mà lúc nãy cậu quên mất.
Tốt, tốt, vậy là một thi sĩ. Nỗi lúng túng càng tăng, một nỗi lúng túng kỳ lạ hướng về những biểu lộ phát ra từ những vùng bên trong không kiểm soát nổi của chính mình, nhưng đồng thời, do cái cách thức giả trá nửa-thực-thể của chính những biểu lộ ấy, lại nhận lấy một chiều hướng hướng ra cái thực tại bên ngoài. Người ta muốn biết liệu Holger có thấy khỏe khoắn và hạnh phúc trong tình trạng của mình chăng. Chiếc ly mơ màng đẩy ra từ “Thanh thản”. À ra thế, “thanh thản” cơ đấy. Ừ thì, tự mình người ta hẳn chẳng nghĩ ra nổi, nhưng vì chiếc ly đã đánh vần như thế, nên thấy điều ấy vừa có lý vừa được nói hay. Và Holger đã ở trong tình trạng thanh thản ấy bao lâu rồi? Lại hiện ra một điều nữa mà chẳng ai tự nghĩ đến nổi, một điều như tự mơ màng hiến mình. Nó là: “Nhàn hạ vội vàng”. Rất hay! Nó cũng có thể là “Vội vàng nhàn hạ”, đó là một lời thi sĩ nói bụng từ bên ngoài, riêng Hans Castorp lại càng thấy tuyệt. Một sự nhàn hạ vội vàng là yếu tố thời gian của Holger, dĩ nhiên; cậu ta hẳn phải ứng phó với những kẻ hỏi bằng châm ngôn, chứ thao tác với những lời lẽ trần thế và những độ đo chính xác thì hẳn là cậu đã quên mất rồi. Vậy người ta còn muốn biết gì nữa nơi cậu ta? Bà Levi thú nhận mình tò mò muốn biết Holger trông ra sao, hay đúng hơn xưa kia đã từng trông ra sao. Liệu cậu ta có phải là một chàng trai đẹp không? Bà nên tự hỏi cậu ta lấy, Herr Albin ra lệnh, vì ông thấy cái ham muốn hiểu biết ấy không xứng với phẩm giá của mình. Thế là bà hỏi bằng lối xưng hô thân mật xem _spirit_ Holger có những lọn tóc quăn vàng hay không.
“Những lọn tóc nâu đẹp, nâu đẹp,” chiếc cốc đánh vần, chữ “nâu” được nó chậm rãi đánh ra đến hai lần. Niềm vui tươi khoan khoái ngự trị trong vòng người. Các quý bà công khai bộc lộ vẻ si tình. Họ tung những cái hôn gió chéo lên phía trần nhà. Dr. Ting-Fu cười khúc khích nhận xét rằng xem ra Mister Holger khá là phù phiếm.
Thế là chiếc cốc nổi giận và phát cuồng! Nó chạy loạn trên mặt bàn như điên, vô nghĩa, nghiêng ngả giận dữ, lật nhào và lăn vào lòng bà Stöhr, khiến bà tái mét vì kinh hãi, dang hai tay nhìn trân trân xuống nó. Người ta cẩn thận đưa nó trở lại chỗ cũ, miệng không ngớt xin lỗi. Người Trung Hoa bị mắng cho một trận. Sao ông ta lại dám buông lời như thế! Đấy, hãy xem tính tò mò hỗn xược như vậy dẫn đến đâu! Và nếu giờ đây Holger nổi giận bỏ đi mất, không hé ra thêm một lời nào nữa, thì sao? Người ta hết lời dỗ dành chiếc cốc của chàng. Hay là chàng thử làm một bài thơ chăng? Dẫu sao chàng cũng từng là một thi sĩ khi còn chưa dệt và lơ lửng trong khoảnh khắc vội vã ấy. Ôi, tất cả họ đều khát khao một cái gì đã được làm thành thơ biết bao! Họ hẳn sẽ thưởng thức nó với tất cả tấm lòng.
Và kìa, chiếc cốc tốt bụng gõ tiếng thuận. Quả thật, trong cái cách nó làm thế có một điều gì hiền lành, hòa giải. Rồi _spirit_ Holger bắt đầu làm thơ, và làm thơ một cách rề rà, tỉ mỉ, không cần suy nghĩ, chẳng biết bao lâu, dường như rốt cuộc người ta sẽ không sao khiến chàng im tiếng trở lại được nữa! Đó là một bài thơ hoàn toàn bất ngờ, được chàng cất lên theo lối nói bụng, trong khi những người ngồi quanh vừa thán phục vừa đọc theo từng chữ, một vật thể phù phép, mênh mang vô bờ như chính biển cả, là điều mà nó chủ yếu nói tới, - rong biển mục thành những đống dài dọc theo bãi cát hẹp của vịnh cong rộng nơi xứ đảo với bờ cồn dốc dựng đứng. Ôi hãy xem, cõi mênh mông khổng lồ kia xanh lục như đang tàn úa, trôi khuất vào cõi vĩnh hằng, nơi dưới những dải màn sương rộng, trong sắc đỏ thẫm đục và ánh sáng mềm như sữa, mặt trời mùa hạ trì hoãn cuộc lặn của mình! Không miệng lưỡi nào có thể nói từ lúc nào và bằng cách nào ánh phản chiếu linh hoạt màu bạc của làn nước đã biến thành toàn một thứ ánh xà cừ, thành một cuộc hòa sắc không thể gọi tên của thứ ánh đá mặt trăng lấp lánh nhợt, tạp sắc, phớt opal, phủ lên hết thảy... Ôi, bí mật như khi nó sinh ra, phép mầu lặng lẽ ấy cũng lịm tắt. Biển thiếp ngủ. Nhưng những dấu vết dịu dàng của cuộc từ biệt mặt trời vẫn còn ở bên kia, ngoài kia. Mãi đến đêm sâu trời cũng chưa tối hẳn. Một thứ ánh ma nửa vời ngự trị trong rừng thông trên đỉnh cồn, khiến nền cát nhợt nhạt bên dưới nom như tuyết. Rừng đông đánh lừa trong im lặng, răng rắc dưới chuyến bay nặng nề của một con cú! Hãy là nơi ta nán lại vào giờ khắc ấy! Bước chân sao mềm, đêm sao cao và hiền dịu! Và chậm rãi, ở dưới kia, biển thở sâu, thì thào kéo dài trong mộng. Ngươi có khao khát được nhìn thấy nó lần nữa chăng? Vậy thì hãy bước ra trước sườn dốc cồn cát nhợt nhạt như băng hà ấy, và cứ thế trèo lên trong chất mềm mại đang mát lạnh rịn vào giày ngươi. Miền đất cứng cáp, lổm ngổm bụi cây, đổ dốc gắt xuống bãi đá, và ở rìa cõi mênh mông đang tàn lụi kia, tàn dư của ban ngày vẫn còn chập chờn như bóng ma... Hãy ngồi xuống trên này, trong cát! Nó lạnh ngắt như tử khí biết bao, mềm mịn như bột, như tơ biết bao! Nó chảy khỏi bàn tay khép lại của ngươi thành một làn mảnh không màu và vun thành dưới đó một gò nhỏ xinh xắn. Ngươi có nhận ra dòng rịn tinh vi này chăng? Đó là dòng chảy hẹp, âm thầm, xuyên qua chỗ thắt của chiếc đồng hồ cát, dụng cụ nghiêm cẩn, mong manh, trang sức cho căn am của nhà ẩn tu. Một cuốn sách mở, một chiếc sọ người, và trong giá đỡ, trong khung lắp nhẹ nhàng kia là bầu thủy tinh rỗng kép mảnh mai, trong ấy có một ít cát, lấy từ cõi vĩnh hằng, khi thời gian thi hành bản tính âm thầm và thiêng liêng đến đáng sợ của nó...
Như vậy, trong cuộc ứng tác “trữ tình” của mình, _spirit_ Holger đã theo một đường bay kỳ lạ của tư tưởng mà từ biển quê nhà đi đến một nhà ẩn tu và công cụ chiêm niệm của ông ta, rồi chàng còn đi đến bao điều khác nữa, đến cái nhân loại và cái thần linh bằng những lời lẽ mơ màng táo bạo khiến cả nhóm nhỏ kinh ngạc vô biên khi ngồi đánh vần chúng; và người ta hầu như không kịp chen vào những tiếng tán thưởng mê mẩn, vì nó cứ tiếp tục rất mau theo lối chữ chi, từ chuyện này sang chuyện khác, từ trăm đến nghìn, chẳng hề muốn dừng lại, - đến sau một giờ đồng hồ, vẫn chưa thấy bài thơ này có chút gì là sắp kết thúc, bài thơ nói không bao giờ cạn về nỗi khốn khó của người mẹ và nụ hôn đầu của đôi tình nhân, về vương miện của đau khổ và lòng từ phụ nghiêm trang của Thượng đế, chìm sâu vào tấm dệt của tạo vật, lạc mất trong thời đại và xứ sở cùng không gian sao trời, có lúc còn nhắc cả người Chaldäer lẫn hoàng đạo, và hẳn đã kéo dài suốt đêm nếu rốt cuộc những kẻ triệu gọi không nhấc ngón tay khỏi chiếc cốc, đồng thời hết sức cảm tạ Holger và thưa rằng đến đây thì lần này hẳn phải đủ rồi, rằng mọi sự đều huy hoàng ngoài sức tưởng tượng, và thật đáng tiếc vô cùng vì không ai ghi chép lại, thành thử những điều đã được làm thành thơ giờ đây ắt hẳn sẽ chìm vào quên lãng, vâng, tiếc thay phần lớn thậm chí đã chìm vào quên lãng rồi, do một thứ tính không thể giữ nắm nào đó vốn là đặc tính của giấc mơ. Lần sau, người ta sẽ kịp thời cắt đặt một thư ký để xem thử, khi được giữ lại thành mực đen trên giấy trắng và được trình ra liền mạch, thì tác phẩm ấy hẳn sẽ hiện ra như thế nào; còn lúc này, và trước khi Holger trở về với sự điềm nhiên của khoảnh khắc vội vã của mình, có lẽ sẽ tốt hơn và trong mọi trường hợp cũng cực kỳ đáng yêu nếu chàng có thể trả lời thêm cho cả nhóm một đôi câu hỏi có tính sự việc, - dù chưa rõ là những câu gì, nhưng giả như có thì về nguyên tắc, và do một lòng vui vẻ đặc biệt, chàng có sẵn lòng hay không?
“Có,” câu trả lời vang lên. Nhưng giờ đây người ta lại lộ vẻ bối rối, không biết nên hỏi gì. Chuyện này giống như trong cổ tích, khi bà tiên hay chú người lùn cho phép một câu hỏi, và người ta có nguy cơ phung phí mất cơ hội quý báu ấy vào điều hoàn toàn vô ích. Trong thế giới và trong tương lai, biết bao điều xem ra đáng để biết, và việc chọn lựa vì thế là một trách nhiệm. Không ai muốn đi đến quyết định, nên Hans Castorp, một ngón tay đặt trên chiếc cốc, má trái tựa vào nắm tay, lên tiếng rằng chàng muốn biết, thay vì ba tuần như dự định ban đầu, rốt cuộc thời gian lưu lại của chàng trên này sẽ lên đến bao lâu.
Được thôi, vì chẳng ai biết điều gì hay hơn, thần linh có thể cứ thế mà phán ra điều đầu tiên ấy từ sự sung mãn của tri thức mình. Sau một lát chần chừ, chiếc cốc bắt đầu dịch chuyển. Nó dịch chuyển đến một điều hết sức kỳ dị và, có vẻ như thế, chẳng ăn nhập gì, đến nỗi không ai có thể xoay thành câu thơ được. Nó đánh vần âm “Hãy” rồi đến từ “Ngang”, khiến người ta lại càng không biết phải hiểu ra sao, sau đó nó còn đánh vần thêm điều gì đó về căn phòng của Hans Castorp, thành thử mệnh lệnh ngắn ngủi toàn vẹn là kẻ hỏi phải “đi ngang qua phòng mình”. - Đi ngang qua phòng mình ư? Đi ngang qua số 34 ư? Thế nghĩa là gì bây giờ? Trong khi mọi người còn ngồi bàn bạc, lắc đầu ngơ ngác, thì bỗng có một cú đấm nặng nề giáng vào cánh cửa.
Mọi người cứng đờ. Có phải một cuộc đột kích chăng? Dr. Krokowski đang đứng ngoài kia để giải tán buổi họp bị cấm này chăng? Người ta bối rối nhìn nhau, chờ đợi kẻ bị qua mặt bước vào. Thì liền đó, ngay giữa mặt bàn vang lên một tiếng nện dữ dội, lại cũng như từ một nắm tay đầy lực, và dường như để làm rõ rằng cả cú đập thứ nhất kia nữa cũng không phải từ bên ngoài, mà từ bên trong mà ra.
Ắt đó là một trò đùa hạ cấp của Herr Albin! - Ông thề danh dự mà chối, và vả lại, ngay cả không cần lời thề ấy thì mọi người cũng hầu như tin chắc rằng chẳng ai trong đám họ đã giáng cú nện kia. Vậy là Holger làm ư? Họ quay nhìn Elly, người mà thái độ im lặng của cô bỗng đồng thời gây chú ý cho tất cả. Cô ngồi đó, các đầu ngón tay đặt trên mép bàn, cổ tay buông rủ, tựa vào lưng ghế, đầu nghiêng về phía vai, lông mày nhướng lên, còn cái miệng nhỏ thì co lại, hơi trễ xuống, với một nụ cười tí xíu vừa có gì giấu giếm vừa có gì vô tội, và cô đưa đôi mắt xanh trẻ con, chẳng nhìn thấy gì cả, chếch vào khoảng không. Người ta gọi cô, nhưng cô không hề cho thấy một dấu hiệu hiện diện nào. Đúng vào lúc ấy, ngọn đèn nhỏ trên bàn đầu giường tắt phụt.
Tắt phụt ư? Bà Stöhr, không còn kềm nổi nữa, hét lên Hi và Hu, vì bà đã nghe tiếng nút bấm. Ánh đèn không tự tắt; nó đã bị vặn tắt, bởi một bàn tay mà người ta đã tỏ ra hết sức khoan dung khi gọi là một bàn tay _xa lạ_. Có phải tay Holger chăng? Cho đến lúc ấy chàng vẫn dịu dàng, kỷ luật và thi vị biết bao; nhưng giờ đây bản tính ấy đã bắt đầu sa đà thành nghịch ngợm và tinh quái. Ai dám bảo đảm rằng một bàn tay biết nện nắm đấm vào cửa và đồ đạc, biết láu lỉnh vặn tắt ngọn đèn, sẽ không chộp lấy cổ họng một ai đó? Trong bóng tối, người ta kêu tìm diêm, tìm đèn pin cầm tay. Levi thét rú lên rằng có ai đã giật tóc trên trán cô. Vì sợ hãi, bà Stöhr chẳng còn xấu hổ gì khi lớn tiếng cầu Chúa. “Ôi lạy Chúa, chỉ lần này nữa thôi!” bà kêu lên rồi rên rỉ, xin cho lòng thương xót được đặt lên trên công lý, mặc dầu người ta đã thử thách địa ngục. Chính Dr. Ting-Fu là người nảy ra ý nghĩ lành mạnh là bật đèn trần, thành thử chẳng bao lâu căn phòng đã tràn ngập ánh sáng. Trong khi mọi người xác nhận rằng ngọn đèn đầu giường quả thật không phải tình cờ mà tắt, trái lại đã bị vặn đi, và rằng chỉ cần con người lặp lại động tác kín đáo đã diễn ra ấy là nó lại cháy lên, thì riêng Hans Castorp, trong lặng lẽ, đã trải qua một điều bất ngờ mà chàng có thể xem như một sự đặc biệt quan tâm của những tối tăm trẻ con vừa biểu lộ ra đây. Trên đầu gối chàng nằm một vật nhẹ, món “quà lưu niệm” từng dọa ông cậu chàng giật mình khi ông cầm nó lên từ mặt tủ của đứa cháu: tấm dương bản kính cho thấy chân dung nội thể của Clawdia Chauchat, và nhất định không phải chính chàng, Hans Castorp, đã đem nó vào căn phòng này.
Chàng bỏ nó vào người, không làm ầm lên về hiện tượng ấy. Người ta đang bận với Ellen Brand, cô vẫn ngồi nguyên tại chỗ trong tư thế vừa tả, ánh mắt mù lòa và vẻ mặt kỳ dị kiểu cách. Herr Albin thổi vào cô và bắt chước trước khuôn mặt nhỏ của cô cử động bàn tay phe phẩy hướng lên trên của Dr. Krokowski, thế là cô tỉnh lại và - không rõ vì sao - khóc một chút. Người ta vuốt ve, an ủi cô, hôn lên trán cô rồi cho cô đi ngủ. Levi nhận ở lại qua đêm với bà Stöhr, vì người đàn bà yếu bóng vía ấy, do kinh hoàng, không biết làm sao mà lên giường nổi. Hans Castorp, với chiến lợi phẩm trong túi ngực, không phản đối việc kết thúc buổi tối đã đi quá trớn ấy cùng các quý ông khác trong phòng Albin bằng một ly cognac, vì chàng thấy rằng những sự kiện như thế này tuy không tác động đến trái tim cũng không tác động đến tinh thần, nhưng lại tác động đến các dây thần kinh dạ dày, - và là một tác động dai dẳng, giống như người say sóng, ngay cả khi đã lên bờ, vẫn còn tưởng như cảm thấy suốt hàng giờ những chòng chành gây buồn nôn.
Trước mắt, trí tò mò của chàng đã được thỏa mãn. Bài thơ của Holger lúc ấy quả cũng không tệ, nhưng cái vẻ vô vọng bên trong và sự lố lăng của toàn bộ câu chuyện, điều mà chàng đã linh cảm từ trước, rốt cuộc vẫn hiện lên với chàng quá đỗi không thể lầm được, đến nỗi chàng nghĩ rằng, với vài bông tàn lửa địa ngục đã tạt vào mình ấy, thì chừng đó là đủ. Herr Settembrini, như có thể đoán được, đã dùng hết sức để củng cố quyết tâm ấy khi Hans Castorp kể cho ông nghe những gì mình trải qua. “Cái đó,” ông kêu lên, “là tất cả những gì còn thiếu nữa! Ôi khốn khổ, khốn khổ!” Và không quanh co, ông tuyên bố cô Elly bé nhỏ chỉ là một kẻ lừa đảo ranh mãnh.
Người học trò của ông không nói có mà cũng không nói không trước điều ấy. Chàng nhún vai cho rằng cái gì là thực tại dường như chưa được làm sáng tỏ đến mức dứt khoát, và do đó cái gì là lừa đảo cũng vậy. Có lẽ ranh giới là lưu động. Có lẽ giữa hai điều ấy có những chỗ chuyển tiếp, những cấp độ của tính hiện thực nằm trong bản tính không lời và không định giá của tự nhiên, vốn từ chối một quyết định mà, theo chàng nghĩ, dính một màu sắc đạo đức khá mạnh. Chẳng hay Herr Settembrini nghĩ gì về từ “trò huyễn thuật”, về khái niệm trong đó những yếu tố của giấc mơ và những yếu tố của thực tại hòa lẫn vào nhau thành một hỗn hợp mà có lẽ ít xa lạ với tự nhiên hơn là với lối tư duy ban ngày thô phác của chúng ta. Bí mật của sự sống, hiểu theo mặt chữ, là không đáy, và có gì đáng lạ nếu từ đó đôi khi nổi lên những trò huyễn thuật như thế - và cứ thế tiếp tục theo lối nhượng bộ thân thiện và khá mực lỏng lẻo của người anh hùng chúng ta.
Herr Settembrini rầy chàng một trận nên thân, và quả cũng đạt được một sự cứng cỏi lương tâm tức thời cùng cái gì đó gần như một lời hứa rằng từ nay chàng sẽ không bao giờ còn muốn dính líu đến thứ ghê tởm như thế nữa. “Hãy kính trọng,” ông đòi hỏi, “con người ở trong ông, kỹ sư ạ! Hãy tin cậy tư tưởng sáng rõ và nhân bản, và hãy ghê tởm sự vặn vẹo của bộ óc, cái vũng lầy tinh thần! Trò huyễn thuật ư? Bí mật của sự sống ư? _Caro mio!_ Ở nơi lòng can đảm đạo đức đối với những phán quyết và những phân biệt, như sự phân biệt giữa lừa đảo và thực tại, bắt đầu tan rã, thì ở nơi ấy mọi sự cũng chấm hết đối với chính sự sống, đối với phán đoán, đối với giá trị, đối với hành động cải hóa, và tiến trình phân rữa của hoài nghi đạo đức bắt đầu công việc ghê rợn của nó.” Con người là thước đo của vạn vật, ông còn nói thêm. Quyền của con người được nhận biết để phán định về thiện và ác, chân lý và vẻ dối trá của sự giả chân, là bất khả nhượng, và khốn cho kẻ nào dám tìm cách làm người ta chao đảo trong niềm tin vào quyền sáng tạo ấy! Với kẻ đó, tốt hơn là bị buộc cối đá vào cổ mà dìm xuống tận đáy giếng sâu.
Hans Castorp gật đầu trước những lời ấy, và quả thực thoạt đầu chàng tránh xa những cuộc doanh nghiệp đó. Chàng nghe nói Dr. Krokowski tổ chức những buổi họp với Ellen Brand trong tầng hầm phân tích của ông, nơi một số thành viên được chọn trong giới khách trú được mời tham dự. Nhưng chàng dửng dưng từ chối tham gia, - dĩ nhiên không phải là không nghe ngóng ít nhiều từ miệng những người cùng dự và từ chính Dr. Krokowski về những thành công của các cuộc thử nghiệm. Những biểu hiện lực kiểu như đã xảy ra trong phòng Kleefeld theo lối hoang dại và không tự chủ, tức là những cú nện vào bàn và tường, việc vặn tắt ngọn đèn và những chuyện khác còn đi xa hơn, tại các buổi họp ấy, sau khi người đồng chí Krokowski thôi miên cô Elly bé nhỏ đúng phép và đưa cô vào trạng thái mộng thức, đã được tạo ra và luyện tập một cách có hệ thống, với sự bảo đảm tối đa có thể về tính chân thực của chúng. Người ta phát hiện rằng có nhạc đệm thì những bài tập ấy dễ dàng hơn, vì thế vào những buổi tối ấy chiếc máy hát đổi chỗ đứng, bị vòng tròn ma thuật trưng dụng. Nhưng vì người Böhmen Wenzel, kẻ điều khiển nó trong những dịp ấy, là một người có nhạc tính, hẳn sẽ không ngược đãi hay làm hư hại nhạc cụ, nên Hans Castorp cũng có thể giao nó ra với một sự yên tâm tương đối. Từ kho đĩa hát của mình, chàng dành riêng cho công việc đặc biệt ấy một album, trong đó chàng sắp xếp đủ thứ bản nhẹ nhàng, những điệu vũ, những khúc ouverture nhỏ và những món nhạc nhẽo linh tinh khác; vì Elly hoàn toàn chẳng đòi hỏi những âm điệu cao siêu hơn, nên chừng ấy cũng hoàn toàn đáp ứng được mục đích.
Trong những âm thanh ấy, theo điều Hans Castorp được nghe kể, một chiếc khăn tay đã tự mình, hay đúng hơn là do một “vuốt” giấu trong những nếp gấp của nó điều khiển, bay lên từ mặt sàn; giỏ giấy của bác sĩ đã lơ lửng nhấc lên tận trần; con lắc của một chiếc đồng hồ treo tường đã “không bởi ai cả” mà luân phiên bị chặn lại rồi lại cho chạy tiếp; một cái chuông bàn đã bị “cầm lấy” rồi rung lên; cùng những chuyện hư vô ảm đạm tương tự khác nữa. Vị chỉ đạo thử nghiệm uyên bác ấy ở vào địa vị may mắn là có thể đặt cho các thành tích nọ một cái tên Hy Lạp đầy vẻ đứng đắn khoa học. Đó là, như ông giải thích trong các bài giảng và trong các cuộc chuyện trò riêng, những hiện tượng “telekinetisch”, những trường hợp viễn động; và bác sĩ quy chúng vào một lĩnh vực hiện tượng mà khoa học đã đặt tên là sự vật chất hóa, cũng chính là lĩnh vực mà tư duy và nỗ lực của ông trong các cuộc thử nghiệm với Ellen Brand thực ra nhắm tới.
Theo ngôn ngữ của ông ta, ở đây vấn đề là những sự phóng chiếu sinh-tâm lý của các phức cảm vô thức vào cõi khách quan, là những quá trình mà nguồn gốc phải được tìm ở cấu tạo đồng cốt, ở trạng thái mộng du, và vì trong đó có thể thấy tự nhiên chứng tỏ một năng lực tạo hình bằng ý niệm, một khả năng, trong những điều kiện nhất định, thuộc về tư tưởng, là hút vật chất về phía mình và in dấu mình vào đó thành một thực tại phù du, nên người ta có thể gọi chúng là những hình tượng mộng đã được khách thể hóa. Vật chất ấy tuôn ra từ thân thể đồng cốt để, ở ngoài thân nó, tạm thời kết thành những cơ quan tận cùng sống động về mặt sinh học, những chi thể chụp nắm, những bàn tay, chính là những thứ đã thực hiện những điều tầm phào kỳ dị mà người ta chứng kiến trong phòng thí nghiệm của Dr. Krokowski. Trong vài trường hợp, những chi thể ấy trông thấy được và sờ được, lưu giữ hình dạng của mình trong parafin và thạch cao. Nhưng trong những điều kiện khác nữa, sự phát triển của chúng không nhất thiết phải dừng ở đó. Những cái đầu, những gương mặt người riêng biệt, những bóng ma đủ toàn hình hiện thực hóa trước mắt những người đang thí nghiệm, để bước vào với họ một thứ giao tiếp nào đó, tuy có giới hạn nhưng vẫn là giao tiếp, và chính từ đây học thuyết của Dr. Krokowski bắt đầu trở nên lệch mắt, bắt đầu lác đi và mang lấy một tính chất cũng dao động và hai nghĩa chẳng khác nào những lời khạc nhả của ông về “tình yêu”. Bởi từ đây, câu chuyện không còn, với bộ mặt khoa học sáng sủa và được bảo chứng, chỉ là những tính chủ quan của đồng cốt và những kẻ phụ trợ thụ động phản chiếu vào thực tại nữa; nay thì, ít nhất một nửa, ít nhất cũng có thể là như vậy, những ngã tính từ bên ngoài và từ bên kia bắt đầu xen vào cuộc chơi; vấn đề là, có lẽ thế, dẫu không hẳn được thú nhận trọn vẹn, về cái không thuộc sự sống, về những hữu thể lợi dụng ân huệ bí mật và rắc rối của khoảnh khắc để trở về với vật chất và tự tỏ mình cho những kẻ kêu gọi, nói ngắn lại là về việc triệu hồn người chết theo lối duy linh.
Vậy đó chính là những sản phẩm mà đồng chí Krokowski, trong công việc với những người của mình, rốt cuộc nhắm tới. Vừa mỉm cười vững chãi, chắc nịch, vừa mời gọi một niềm tin hồ hởi, ông ta nhắm tới chúng; con người lùn đậm ấy thật như ở ngay quê nhà mình giữa miền lầy lội, khả nghi và hạ tầng nhân tính kia, và là một tay dẫn đường đích đáng, bởi thế ngay cả cho những kẻ nhát gan và hồ nghi trong các địa hạt ấy nữa. Mà xem ra, nhờ những thiên bẩm phi thường của Ellen Brand, những thiên bẩm mà ông chuyên chú phát triển, vun trồng, thành công cũng đã mỉm cười với ông, theo tất cả những gì Hans Castorp được nghe. Đã xảy ra việc một vài người tham dự bị những bàn tay vật chất hóa chạm vào. Công tố viên Paravant đã lãnh từ cõi siêu việt một cái tát tai thô bạo và đón nhận nó bằng vẻ vui nhộn khoa học, thậm chí vì ham muốn còn chìa cả má bên kia ra nữa, bất chấp những phẩm chất của một quý ông, một nhà luật học và một cựu thành viên kỳ cựu của một hội sinh viên đấu kiếm, mà tất cả hẳn đã buộc ông xử sự hoàn toàn khác nếu cú đánh kia có nguồn gốc từ người sống. A. K. Ferge, kẻ cam chịu chất phác ấy, vốn xa lạ với mọi điều cao hơn, có một tối đã cầm trong chính bàn tay mình một chi thể ma quỷ như thế và, bằng xúc giác, xác nhận sự đúng đắn và đầy đủ của cấu tạo của nó, rồi sau đó nó đã thoát khỏi tay ông, vốn nắm rất mạnh nhưng vẫn trong giới hạn kính cẩn, theo một cách không sao tả thật chính xác. Phải mất một khoảng thời gian khá lâu, hẳn chừng hai tháng rưỡi, với mỗi tuần hai buổi, thì một bàn tay có nguồn gốc hậu thế như thế, được một ngọn đèn bàn bọc giấy đỏ chiếu ánh hồng lên, bàn tay của một người đàn ông trẻ, tưởng chừng là vậy, mới hiện ra cho mọi ánh mắt thấy, các ngón động đậy trên mặt bàn, và để lại dấu vết của mình trong một cái bát đất đựng bột mì. Nhưng chỉ tám ngày sau thì xảy ra chuyện một nhóm cộng sự của Dr. Krokowski, ông Albin, cô Stöhr, đôi vợ chồng Magnus, còn quá nửa đêm đã xuất hiện ở lôgia ban công của Hans Castorp với tất cả những dấu hiệu của một cơn hăng say méo mó và một nỗi ngây ngất sốt sắng, rồi giữa một mớ lời bay tứ tung kể với chàng, khi chàng còn đang lơ mơ trong cái rét cắt da, rằng Holger của Elly đã xuất hiện, cái đầu của anh ta đã hiện ra trên vai cô gái mộng du, anh ta quả thật có “những lọn tóc quăn nâu đẹp, nâu đẹp” và đã mỉm cười dịu dàng, u sầu đến khó quên như thế trước khi biến mất!
Nỗi u sầu cao quý ấy, Hans Castorp nghĩ, ăn khớp ra sao với những cách xử sự khác của Holger, với những trò trẻ con thiếu hẳn tưởng tượng và những trò nghịch đơn sơ của một thằng bé, thí dụ như cái vả hoàn toàn chẳng có gì là u sầu mà công tố viên đã lĩnh của anh ta? Hiển nhiên ở đây không thể đòi hỏi một sự nhất quán chặt chẽ của tính cách. Có lẽ ở đây có một tâm trạng nào đó tương tự với tâm trạng của chú lùn gù trong bài hát, cái sự ác ý sầu muộn và cần được cầu hộ của nó. Những kẻ ngưỡng mộ Holger dường như chẳng bận tâm nghĩ đến điều ấy. Điều họ để tâm là làm sao khiến Hans Castorp từ bỏ sự kiêng dự của mình. Dù thế nào chăng nữa, chàng cũng phải có mặt ở buổi họp tới, nay khi mọi sự đều đang tiến triển tuyệt diệu như thế. Vì Elly trong giấc ngủ đã hứa rằng lần sau sẽ cho xuất hiện bất cứ người quá cố nào mà một ai đó trong vòng tròn này yêu cầu.
Bất cứ ai ư? Dẫu vậy Hans Castorp vẫn giữ thái độ khước từ. Nhưng cái ý rằng đó có thể là bất kỳ người đã khuất nào vẫn khiến chàng bận tâm đến một mức mà trong ba ngày kế tiếp chàng đã đi tới những quyết định trái ngược nhau. Nói cho đúng, không phải cả ba ngày ấy, mà chỉ vài phút trong số đó đã đưa chàng đến chỗ ấy. Sự đổi ý của chàng diễn ra vào một giờ tối cô độc trong phòng nhạc, khi chàng lại cho quay chiếc đĩa kia, chiếc đĩa đã ghi khắc vào nó nhân cách đáng mến đến tuyệt vời của Valentin, trong khi ngồi trên ghế lắng nghe lời cầu nguyện của người lính, của chàng trai lương thiện sắp từ biệt, bị thúc đẩy ra cánh đồng danh dự, và cất tiếng hát:
“Và nếu Chúa gọi tôi lên chốn trời cao, tôi sẽ nhìn xuống che chở cho em, hỡi Margarete!”
Thế là, như vẫn luôn xảy ra mỗi khi nghe bài hát ấy, nhưng lần này được những khả thể nào đó tăng thêm sức mạnh và nén lại thành một ước muốn, một niềm xúc động lớn dâng lên trong ngực Hans Castorp, và chàng nghĩ: “Nhàn rỗi với tội lỗi hay không thì mặc, dẫu sao đó cũng sẽ là một chuyện lạ lùng hết sức và một cuộc phiêu lưu rất đỗi đáng yêu. Nếu anh ấy có dính dáng đến chuyện này, hẳn anh ấy sẽ không lấy làm phật ý, theo chỗ ta biết anh ấy.” Và chàng nhớ lại lời đáp điềm đạm, phóng khoáng: “Xin cứ, xin cứ!” mà một lần kia trong phòng chiếu quang chàng đã nhận từ trong bóng tối, khi chàng tưởng mình cần phải xin phép trước cho một vài sự khiếm nhã bằng mắt.
Sáng hôm sau, chàng báo sẽ tham gia buổi họp diễn ra vào tối ấy và, nửa giờ sau bữa tối, nhập bọn với những người vừa đi xuống tầng hầm vừa vô tư tán gẫu như những tay habitués của điều quái dị. Toàn là những người đã bén rễ ở đây từ lâu hoặc ít ra cũng thuộc về nơi này đã lâu, như Dr. Ting-Fu và người Bohemia Wenzel, những người chàng gặp trên cầu thang rồi trong phòng của Dr. Krokowski: vậy là các ông Ferge và Wehsal, ngài công tố viên, các bà Levi và Kleefeld, chưa kể những người đã báo cho chàng biết sự xuất hiện của cái đầu Holger và người môi giới, Elly Brand.
Đứa trẻ Bắc Âu đã ở dưới sự trông nom của bác sĩ từ trước khi Hans Castorp bước qua cánh cửa gắn danh thiếp. Đứng bên cạnh Krokowski, người mặc chiếc áo choàng làm việc màu đen và khoác cánh tay lên vai cô theo lối phụ thân, nàng đợi khách cùng ông ở chân những bậc thang còn dẫn từ mặt tầng hầm xuống căn hộ của vị phụ tá và cùng ông chào đón mọi người. Từ mọi phía, lời chào hỏi ấy đều mang một vẻ thân mật vui tươi, vô tư. Dường như người ta chủ ý giữ cho bầu không khí khỏi mọi sự gò bó long trọng. Người ta nói chen vào nhau ầm ĩ, đùa cợt, trao nhau những cú thúc sườn khích lệ và bằng mọi cách phô bày vẻ tự nhiên của mình. Trong bộ râu của Dr. Krokowski, hàm răng vàng của ông không ngớt lộ ra với cái vẻ chắc nịch và mời gọi tin cậy ấy, trong khi ông lặp đi lặp lại lời chào của mình, và đặc biệt càng thế hơn khi ông hoan nghênh Hans Castorp, người im lặng và nét mặt còn do dự. “Can đảm lên, bạn tôi!” cử động lắc đầu ra trước rồi ngửa về sau của chủ nhà như muốn nói với chàng, trong khi ông gần như bóp tay chàng trai một cách hơi thô bạo. “Ai lại cụp tai xuống thế? Ở đây không có vẻ rụt cổ ngoan đạo hay thói đạo đức làm bộ, mà chỉ có sự hồ hởi nam tính của một công cuộc khảo cứu vô thành kiến!” Kẻ được nhắm nói bằng điệu bộ ấy cũng chẳng thấy khá hơn chút nào. Ta đã để chàng nhớ lại những ý định của chàng trong phòng chiếu quang, nhưng mối liên tưởng đó tuyệt nhiên không đủ để mô tả tình trạng tâm hồn chàng. Trái lại, nó khiến chính chàng nhớ đến rất sống động cái trạng thái kỳ dị và không thể quên, hỗn hợp giữa bốc đồng và thần kinh, tò mò, khinh bạc và sùng kính, mà nhiều năm trước chàng đã ở vào khi, hơi ngà ngà, cùng mấy bạn đồng học lần đầu sửa soạn đi thăm một nhà điếm ở Sankt Pauli.
Nhân thể, vì mọi người đã có mặt đông đủ, Dr. Krokowski bèn cùng hai nữ phụ tá, lần này được chỉ định là bà Magnus và bà Levi da ngà, rút vào phòng bên để kiểm tra thân thể đồng cốt, còn Hans Castorp cùng chín người tham dự còn lại chờ trong phòng làm việc kiêm khám bệnh của bác sĩ cho đến khi tiết mục nghiêm ngặt khoa học ấy, được lặp đi lặp lại đều đặn mà lần nào cũng vô hiệu quả, chấm dứt. Căn phòng này chàng đã quen từ những buổi chuyện trò nào đó mà một thời chàng, sau lưng Joachim, từng tiến hành tại đây với nhà phân tâm. Với chiếc bàn viết cùng ghế bành và ghế bọc dành cho khách ở góc trái phía sau, nơi cửa sổ, với tủ sách nhỏ hai bên cửa thông phòng bên, với chiếc chaise longue bọc vải dầu đặt xéo trong hậu cảnh bên phải, ngăn cách với nhóm bàn viết bằng một bức bình phong nhiều cánh, với tủ kính dụng cụ ở góc bên ấy, bức tượng bán thân Hippocrates ở một góc khác và bản khắc theo bức Giải phẫu của Rembrandt treo phía trên lò sưởi gas ở vách phải, đó vốn là một phòng tiếp bệnh nhân thường tình như bao phòng khác; tuy nhiên người ta thấy có vài thay đổi trong cách bài trí của nó, được thực hiện vì mục đích đặc biệt này. Chiếc bàn tròn bằng gỗ gụ vốn thường đứng giữa phòng, chung quanh là các ghế bành, trên tấm thảm đỏ phủ gần kín mặt sàn, dưới chùm đèn điện, đã bị xê về góc trái phía trước, tới chỗ bức tượng thạch cao từng đứng, và lệch hẳn ra khỏi trung tâm, gần hơn về phía lò sưởi đang cháy tỏa một thứ nóng khô, là một chiếc bàn nhỏ phủ khăn mỏng, trên đó có một ngọn đèn nhỏ bọc đỏ, còn phía trên nó, từ trần thả xuống, lại có thêm một bóng nữa, cũng bọc vải voan đỏ và, hơn thế, cả voan đen. Trên và cạnh chiếc bàn nhỏ ấy có đặt mấy vật khét tiếng: chiếc chuông bàn, hay đúng hơn là hai chiếc khác kiểu nhau, một chuông cầm tay và một chuông bấm để gõ lên, rồi cái đĩa đựng bột mì, cái sọt giấy. Chừng một tá ghế và ghế bành đủ loại bao quanh chiếc bàn nhỏ thành một nửa vòng tròn, một đầu ở gần chân chiếc chaise longue, đầu kia nằm gần như chính giữa căn phòng, dưới chùm đèn trần. Ở đây, gần chỗ ngồi cuối cùng, lưng chừng về phía cửa bên, chiếc tủ nhạc cũng đã được đặt vào chỗ của nó. Cuốn album những bản nhẹ đặt trên một chiếc ghế cạnh đó. Bày biện là như vậy. Hai chiếc đèn đỏ hãy còn chưa được thắp. Đèn trần tỏa thứ ánh sáng trắng như ban ngày. Cửa sổ, mà chiếc bàn viết dựng trước nó quay cạnh hẹp về phía ấy, bị che bởi một tấm rèm tối, phía trước lại còn buông xuống một tấm màn màu kem, đục thủng như ren, một thứ màn voan.
Mười phút sau, bác sĩ cùng ba người đàn bà trở ra từ gian buồng nhỏ. Dáng vẻ bên ngoài của Elly bé nhỏ đã thay đổi. Cô không còn mặc quần áo thường nữa, mà mặc một loại y phục dùng trong buổi họp, một chiếc áo choàng ngủ bằng crêpe trắng, quanh eo được giữ lại bằng một sợi dây thắt, một sợi dây bện, để hở hai cánh tay mảnh. Vì khuôn ngực trinh nữ của cô hiện rõ bên dưới đó mềm mại và không bị bó buộc, nên dường như dưới chiếc áo ấy cô mặc rất ít.
Cô được chào đón rộn rã. “Chào, Elly! Hôm nay cô ấy lại trông duyên dáng làm sao! Đúng là một nàng tiên! Làm cho tốt nhé, thiên thần của tôi!” Cô mỉm cười trước những tiếng gọi, trước bộ trang phục của mình, mà hẳn cô biết rõ là rất tôn cô. “Kiểm tra trước: âm tính,” Dr. Krokowski tuyên bố. “Thế thì tươi tỉnh bắt tay vào việc nào, các đồng chí!” ông nói thêm, với cái âm đầu lưỡi _r_ lạ tai chỉ bật lên một lần; và Hans Castorp, khó chịu vì lối xưng hô ấy, đang định, như những người khác, giữa những tiếng chào ồn ào, chuyện trò và những cú vỗ vai, tìm lấy một chỗ nào đó trong nửa vòng ghế, thì bác sĩ bèn trực tiếp quay sang chàng.
“Ngài, bạn tôi (bạn toi),” ông nói, “ngài là người, nói cho cùng, đang lưu lại giữa chúng tôi như một vị khách hay một người mới, nên tối nay tôi muốn dành cho ngài những đặc quyền danh dự đặc biệt. Tôi giao cho ngài việc kiểm soát đồng cốt của chúng ta. Chúng ta làm như sau.” Rồi ông mời chàng trai đến một đầu của vòng cung mở, đầu ở gần chiếc chaise longue và bức bình phong, nơi Elly, mặt quay về phía cửa ra vào có các bậc thang nhiều hơn là quay vào giữa phòng, đang ngồi trên một chiếc ghế mây thường, ông ngồi xuống một chiếc y hệt ngay sát đối diện cô và nắm lấy hai tay cô, đồng thời kẹp hai đầu gối cô giữa hai đầu gối mình. “Hãy làm theo như thế!” ông ra lệnh và nhường chỗ cho Hans Castorp thay mình. “Ngài sẽ phải thừa nhận rằng sự khống giữ là hoàn toàn. Để chắc ăn hơn nữa, ngài còn có trợ giúp. Fräulein Kleefeld, tôi xin nhờ chứ?” Và người được điều động bằng lối lịch sự pha kỳ dị ấy bèn bước lại gần nhóm, dùng cả hai tay nắm lấy hai cổ tay mong manh của Elly.
Hans Castorp khó lòng tránh khỏi việc nhìn vào gương mặt của cô gái đồng trinh thần kỳ, bị chàng ghì giữ chặt đến thế, đang ở gần mặt mình. Ánh mắt họ chạm nhau, nhưng mắt Elly trượt đi và hạ xuống, như dấu hiệu của một sự e lệ mà trong hoàn cảnh này quả thật rất dễ hiểu, và cô lại còn mỉm cười hơi làm dáng, đầu nghiêng, môi chúm nhẹ, như hôm nọ trong buổi cầu cơ bằng ly. Ngoài ra, một ký ức khác, xa xôi hơn, cũng vụt lướt qua người giám sát của cô trước vẻ làm duyên im lặng ấy. Đại khái như thế, chàng sực nhớ, Karen Karstedt đã mỉm cười khi chàng, Joachim và nàng đứng bên chiếc giường còn chưa dọn ở nghĩa trang “Dorf”...
Nửa vòng tròn đã yên vị. Có tất cả mười ba người, chưa kể người Bohemia Wenzel, kẻ vốn quen giữ mình rảnh rang để phụng sự Polyhymnia và, sau khi đặt cái máy sẵn sàng, bèn ngồi trên một chiếc đẩu phía sau lưng những người đang ngồi hướng vào giữa phòng. Gã cũng mang theo cây ghi-ta của mình. Dr. Krokowski ngồi xuống dưới chùm đèn giữa, chỗ dãy cong kia chấm dứt, sau khi bằng một cử động tay thắp sáng hai ngọn đèn đỏ và bằng cử động thứ hai tắt ánh sáng trắng của đèn trần. Một bóng tối âm ỉ, dịu đỏ, giờ phủ lên căn phòng, mà những vùng xa hơn và các góc của nó hoàn toàn trở nên bất khả với mắt nhìn. Thật ra chỉ có mặt chiếc bàn nhỏ và vùng quanh nó được chiếu một ánh đỏ lờ mờ. Trong những phút kế tiếp, người ta hầu như chẳng nhìn rõ nổi người ngồi bên cạnh. Chỉ chậm chạp đôi mắt mới chịu thuận theo bóng tối và học cách tận dụng thứ ánh sáng được nhượng bộ, vốn còn được tăng lên phần nào nhờ điệu múa của những ngọn lửa nhỏ trong lò sưởi.
Bác sĩ nói đôi lời về ánh sáng ấy, xin lượng thứ cho những thiếu sót khoa học của nó. Người ta chớ nên hiểu nó như một thủ pháp gây không khí hay huyền hoặc. Tiếc thay, với tất cả thiện chí, hiện thời cũng chưa thể có nhiều ánh sáng hơn được. Bản tính của những lực lượng đang được xét đến và nghiên cứu ở đây đã kéo theo như vậy: dưới ánh sáng trắng, chúng không thể phát triển, không thể trở nên hữu hiệu. Đó là một sự thực có tính điều kiện mà trước mắt người ta phải chấp nhận. Hans Castorp lấy làm vừa ý với điều đó. Bóng tối dễ chịu; nó làm dịu bớt những nét dị thường của toàn cảnh. Hơn nữa, để biện minh cho bóng tối, chàng còn nhớ lại cái bóng tối trong phòng chiếu quang, nơi người ta đã thành kính tụ lại và dùng nó rửa đi đôi mắt ban ngày trước khi “thấy”.
Người đồng cốt, Dr. Krokowski tiếp lời mở đầu của mình, mà hiển nhiên ông đặc biệt hướng về Hans Castorp, nay không còn cần ông, với tư cách thầy thuốc, ru ngủ nữa. Như người giám sát hẳn đã nhận thấy, cô ta tự rơi vào trạng thái xuất thần, và một khi điều ấy đã xảy ra thì thần hộ mệnh của cô, Holger quen thuộc, sẽ nói ra từ chính cô; vì thế, người ta cũng phải hướng những nguyện vọng của mình tới ông ta, chứ không phải tới cô. Vả lại, tin rằng phải cưỡng bức dồn ý chí và tư tưởng vào hiện tượng đang chờ đợi là một sự lầm lẫn và có thể gây hỏng việc. Trái lại, điều thích đáng là một sự chú ý nửa phân tán, vẫn chuyện trò. Trên hết, Hans Castorp cần lưu tâm giữ các đầu chi của người đồng cốt trong vòng trông nom không chê vào đâu được.
“Xin kết thành chuỗi!” Dr. Krokowski kết thúc như thế, và mọi người làm theo, cười khẽ khi trong bóng tối không tìm ngay ra tay người bên cạnh. Dr. Ting-Fu, ngồi sát Hermine Kleefeld, đặt tay phải lên vai cô ta và đưa tay trái cho ông Wehsal, ngồi tiếp sau ông. Bên cạnh bác sĩ là ông Magnus và bà Magnus, rồi đến A. K. Ferge, người mà, nếu Hans Castorp không lầm, đang nắm bàn tay của cô Levi màu ngà ở bên phải mình, và cứ thế tiếp tục. “Âm nhạc!” Dr. Krokowski ra lệnh; và người Tiệp ngồi phía sau lưng bác sĩ cùng những người gần ông cho máy chạy và đặt kim xuống. “Trò chuyện!” Krokowski lại truyền lệnh, trong khi những nhịp đầu của một khúc mở màn của Millöcker cất lên; và ngoan ngoãn, người ta nhích lại để khởi động một cuộc đàm thoại nói về đủ thứ chuyện vu vơ, chỗ này là tình hình tuyết năm nay, chỗ kia là thực đơn bữa gần nhất, chỗ khác nữa là một cuộc đến nơi, một chuyến ra đi lén lút hay chính đáng; bị âm nhạc che lấp một nửa, đứt quãng rồi lại bắt đầu, nó được duy trì sống sót một cách nhân tạo. Vài phút trôi qua như vậy.
Đĩa hát դեռ chưa quay hết thì Elly bỗng giật nảy người dữ dội. Một cơn run chạy dọc người cô, cô thở dài, phần thân trên đổ về phía trước đến nỗi trán cô chạm vào trán Hans Castorp, đồng thời hai cánh tay cô cùng với tay hai người giám sát bắt đầu thực hiện những động tác kỳ lạ như bơm, thúc tới rồi lùi lại.
“Xuất thần!” cô Kleefeld thông báo bằng giọng sành sỏi. Âm nhạc im bặt. Câu chuyện đứt ngang. Trong sự lặng yên đột ngột ấy, người ta nghe giọng nam trung mềm và lê thê của bác sĩ cất câu hỏi:
“Holger đã có mặt chưa?”
Elly lại rùng mình một lần nữa. Cô chao đảo trên ghế. Rồi Hans Castorp cảm thấy cô dùng cả hai tay siết nhanh và chặt lấy tay chàng.
“Cô ấy bóp tay tôi,” chàng báo.
“Ông ấy,” bác sĩ sửa lời chàng. “Ông ấy đã bóp tay anh. Vậy là ông ấy đang hiện diện. Chúng tôi chào ngươi, Holger,” ông tiếp bằng một giọng thành kính. “Hết lòng hoan nghênh ngươi, bạn hữu! Và xin ngươi nhớ lại! Lần cuối cùng ở giữa chúng ta, ngươi đã hứa sẽ gọi đến bất cứ người quá cố nào, dù là một huynh đệ hay một tỷ muội, mà người ta nêu tên ra từ trong vòng chúng ta, và làm cho mắt phàm của chúng ta trông thấy được. Hôm nay ngươi có sẵn lòng và có thấy mình đủ sức thực hiện lời hứa ấy không?”
Elly lại run lên. Cô thở dài và chần chừ chưa đáp. Chầm chậm cô đưa hai tay mình cùng với tay hai người ngồi kèm lên trán, và để nguyên ở đó một lúc. Rồi cô ghé sát tai Hans Castorp mà thì thầm một tiếng “Vâng!” nóng hổi.
Hơi lời nói phả thẳng vào tai khiến người bạn của chúng ta nổi lên cái rờn rợn ngoài da mà dân gian gọi là “nổi da gà”, và bản chất của nó Hội đồng Cố vấn từng có lần giảng giải cho chàng. Ta nói đến một kích thích rờn rợn, để phân biệt cái thuần thân xác với cái thuộc linh hồn; bởi khó mà gọi đó là kinh khiếp. Điều chàng nghĩ đại khái là: “Chà, cô bé này cũng cả gan thật!” Nhưng đồng thời chàng cũng bỗng thấy xúc động, thậm chí bàng hoàng nữa, một sự xúc động và bàng hoàng bối rối, một cảm giác sinh ra từ chính sự bối rối, tức từ hoàn cảnh đánh lừa kia: rằng một dòng máu trẻ, mà hai bàn tay chàng đang nắm giữ, đã ghé bên tai chàng thở ra một tiếng “Vâng”.
“Ông ấy đã nói vâng,” chàng báo cáo, và lấy làm xấu hổ.
“Tốt lắm, Holger!” Dr. Krokowski nói. “Chúng tôi ghi nhận lời ngươi. Tất cả chúng tôi đều tin rằng ngươi sẽ thành thật làm phần việc của mình. Tên của người thân yêu mà chúng tôi mong được thấy hiển hiện sẽ lập tức được nói cho ngươi biết. Các vị bằng hữu,” ông quay sang cả nhóm, “xin lên tiếng đi! Ai là người đang sẵn một điều ước? Bạn Holger sẽ cho chúng ta thấy ai đây?”
Một sự im lặng nối tiếp. Ai nấy đều đợi người khác lên tiếng trước. Hẳn trong những ngày qua, từng người đã tự dò xét xem tư tưởng mình hướng về đâu, về ai; nhưng sự quay trở về của người chết, nghĩa là: tính đáng mong của sự trở về ấy, vẫn luôn là một điều rắc rối và tế nhị. Xét đến cùng và nói thẳng ra, cái tính đáng mong ấy không hề có; nó là một lầm tưởng; dưới ánh sáng mà xét, nó bất khả cũng đúng như bản thân sự việc kia, điều hẳn sẽ bộc lộ nếu thiên nhiên chỉ một lần thôi bãi bỏ cái điều bất khả ấy; và điều ta gọi là đau tang có lẽ không hẳn là nỗi đau trước sự bất khả được thấy người chết của ta quay lại với đời, mà là nỗi đau trước việc ta hoàn toàn không thể mong muốn điều đó.
Mọi người đều mơ hồ cảm thấy như thế; và tuy ở đây không phải là một sự trở về với sự sống theo nghĩa nghiêm túc và thực tiễn, mà chỉ là một dàn cảnh thuần tình cảm và sân khấu, trong đó người ta rốt cuộc chỉ cần nhìn thấy kẻ đã lìa đi, cho nên trường hợp này vô hại đối với sự sống, thì họ vẫn sợ hãi trước dung mạo của kẻ mình đang nghĩ tới, và mỗi người đều muốn đẩy cái quyền được thốt ra một điều ước ấy sang cho người bên cạnh. Cả Hans Castorp cũng vậy; mặc dù từ trong đêm chàng nghe thấy lời “Xin mời... xin mời!” rộng lượng hiền lành ấy, chàng vẫn giữ mình, và đến phút chót cũng khá sẵn sàng nhường bước cho người khác. Nhưng vì việc ấy kéo dài quá, nên rốt cuộc chàng quay đầu về phía người chủ tọa, nói bằng một giọng khàn đục:
“Tôi muốn được thấy người anh em họ quá cố của tôi, Joachim Ziemßen.”
Điều ấy là sự giải thoát cho tất cả. Trong số những người hiện diện, chỉ có Dr. Ting-Fu, người Tiệp Wenzel và chính người đồng cốt là chưa biết người được gọi tên. Những người còn lại, Ferge, Wehsal, ông Albin, viên công tố, ông Magnus và bà Magnus, cô Stöhr, cô Levi, cô Kleefeld, đều cất tiếng bày tỏ sự tán thành vui vẻ của mình, và ngay cả Dr. Krokowski cũng gật đầu hài lòng, mặc dầu quan hệ của ông với Joachim xưa nay vẫn lạnh nhạt, bởi trên phương diện phân tích, Joachim tỏ ra ít chiều theo ông.
“Rất tốt,” bác sĩ nói. “Ngươi đã nghe rồi đó chứ, Holger? Khi còn sống, người vừa được nêu tên ấy là kẻ xa lạ với ngươi. Ở bên kia sự vật, ngươi có nhận ra anh ta không, và có sẵn lòng đưa anh ta đến với chúng ta không?”
Sự chờ đợi lên tới cực điểm. Người đang ngủ chao đảo, thở dài và rùng mình. Cô dường như đang tìm kiếm và vật lộn, trong khi nghiêng ngả qua lại, lúc thì rì rầm vào tai Hans Castorp, lúc vào tai cô Kleefeld những lời không thể hiểu nổi. Cuối cùng Hans Castorp nhận được nơi hai bàn tay cô cái siết mang nghĩa “vâng”. Chàng trình báo, và -
“Tốt lắm!” Dr. Krokowski kêu lên. “Vào việc đi, Holger! Âm nhạc!” ông gọi. “Trò chuyện!” Và ông lặp lại lời nhấn mạnh rằng không phải sự co rút của ý nghĩ hay hình dung cưỡng bức về điều đang chờ đợi, mà chỉ duy một sự chú ý lơ lửng, tự nhiên, mới có thể giúp ích cho công việc.
Giờ đây tiếp theo là những giờ kỳ lạ nhất mà cuộc đời còn trẻ của người anh hùng chúng ta cho tới bấy giờ từng có; và mặc dù số phận về sau của chàng không hoàn toàn sáng tỏ đối với chúng ta, mặc dù đến một điểm nhất định trong câu chuyện này chúng ta sẽ để lạc mất chàng khỏi tầm mắt, chúng ta vẫn muốn giả định rằng đó nói chung cứ là những giờ kỳ lạ nhất mà chàng từng trải qua.
Đó là những giờ đồng hồ, hơn hai giờ, xin nói ngay như vậy, kể cả một quãng gián đoạn ngắn của “công việc” mà Holger, hay đúng hơn là cô Elly, bắt đầu đảm đương từ lúc ấy; cái công việc kéo dài khủng khiếp đến nỗi cuối cùng ai nấy đều gần như sắp tuyệt vọng về một kết quả, và hơn nữa, chỉ vì thương hại thuần túy, người ta không biết bao phen cảm thấy bị cám dỗ muốn từ bỏ mà cắt ngắn nó đi, bởi quả thật nó trông nặng nề đến thảm thương và dường như vượt quá những sức lực mong manh đã bị buộc gánh lấy nó. Chúng tôi, đàn ông, nếu không lẩn tránh cái phần người, thì đều biết từ một hoàn cảnh nhất định của đời sống cái niềm thương hại không sao chịu nổi ấy, cái niềm thương hại mà buồn cười thay chẳng ai tiếp nhận cả và có lẽ vốn cũng chẳng đúng chỗ, cái tiếng “Đủ rồi!” phẫn nộ muốn bật ra khỏi lồng ngực ta, mặc dù “nó” lại không muốn và không được phép đủ, và dù thế nào cũng phải đi đến cùng. Người ta hẳn hiểu chúng tôi đang nói đến thân phận chồng và cha của mình, đến hành vi sinh nở, cái hành vi mà sự vật lộn của Elly thực sự giống một cách rành rành và không thể lẫn được đến nỗi ngay cả kẻ chưa từng biết nó cũng phải nhận ra, như chàng trai trẻ Hans Castorp, người, bởi chính chàng cũng không lẩn tránh đời sống, đã học biết hành vi đầy vẻ huyền nhiệm hữu cơ ấy dưới một hình dạng như thế, dưới một hình dạng biết bao! Và nhằm một mục đích nào! Và trong những hoàn cảnh nào! Không thể nào gọi những dấu hiệu và chi tiết của cái phòng nằm cữ hoạt náo dưới ánh đèn đỏ này bằng một cái tên nào khác ngoài tiếng bê bối, cả về phía con người đồng trinh của sản phụ trong chiếc áo ngủ chảy rũ và hai cánh tay trần của cô, lẫn về phía những hoàn cảnh chung quanh, tiếng nhạc máy hát không ngừng vui vẻ dễ dãi, cuộc chuyện trò gượng ép mà nửa vòng cung cố duy trì theo lệnh, những tiếng gọi kiểu vui vẻ khích lệ cứ luôn luôn từ đó hướng về người đang chiến đấu: “Nào, Holger! Can đảm lên! Rồi sẽ được thôi! Đừng nhụt chí, Holger, cứ tống nó ra đi, thế là anh sẽ làm được!” Và tuyệt nhiên ở đây chúng tôi cũng không loại trừ con người và vị thế của “người chồng” ấy, nếu được phép xem Hans Castorp, người đã nêu lời thỉnh cầu, như người chồng tương ứng; tức người chồng ngồi kẹp hai đầu gối của “người mẹ” giữa hai đầu gối mình và nắm lấy hai bàn tay nàng: những bàn tay nhỏ nhắn ướt đẫm kia, ướt hệt như bàn tay bé Leila thuở trước, đến nỗi chàng luôn luôn phải siết lại để chúng khỏi tuột khỏi tay mình.
Bởi lò sưởi ga ở phía sau lưng những người ngồi đây tỏa ra hơi nóng.
Huyền nhiệm và thiêng liêng ư? Ôi không, dưới thứ tối đỏ ấy, mọi việc diễn ra ồn ào và lố lăng, thứ tối đỏ mà mắt người ta dần dà đã quen đến mức gần như làm chủ được cả căn phòng. Âm nhạc, những tiếng hô gợi nhớ đến các lối khuấy động tinh thần của Đạo quân Cứu thế, và gợi nhớ như vậy ngay cả đối với kẻ, như Hans Castorp, chưa từng bao giờ dự một lễ thờ của những tín đồ nhiệt thành vui tươi ấy. Cảnh tượng tác động lên người cảm nhận, thúc đẩy họ thành kính, không phải theo một nghĩa ma quái hay bóng vía nào, mà chỉ theo một nghĩa tự nhiên, hữu cơ mà thôi; còn do cái họ hàng gần gũi và kín đáo nào, điều ấy chúng ta đã nói rồi. Những nỗ lực của Elly đến theo từng cơn như cơn đau đẻ, chen giữa những lúc nghỉ, trong đó cô mềm oặt nghiêng người khỏi ghế, ở trong một tình trạng bất khả tiếp cận mà Dr. Krokowski gọi là “xuất thần sâu”. Rồi cô lại chồm dậy, rên rỉ, quăng mình qua lại, dấn sức, giằng co với hai người giám sát, thì thầm những lời nóng hổi và vô nghĩa bên tai họ, dường như muốn với những cử động hất chếch sang bên mà tống một cái gì đó từ trong mình ra ngoài, nghiến răng và có lần còn cắn cả vào ống tay Hans Castorp.
Việc ấy kéo dài một giờ và hơn thế nữa. Rồi người chủ tọa thấy nên cho nghỉ một lát vì lợi ích của tất cả mọi người. Người Tiệp Wenzel, để thay đổi cho nhẹ nhõm, về sau đã để yên cái máy nhạc và rất khéo léo gảy cho cây đàn ghi-ta rung lên réo rắt, bèn đặt nhạc cụ sang bên. Mọi người thở phào, buông tay nhau ra. Dr. Krokowski bước đến phía tường để bật đèn trần. Ánh sáng trắng bừng lên chói lòa, khiến ai nấy nheo tịt cặp mắt đã quen đêm. Elly ngủ gục, người gập hẳn về phía trước, mặt gần như vùi vào lòng. Người ta thấy cô bận rộn một cách kỳ lạ, đang làm một việc hình như thân thuộc với những người khác, nhưng Hans Castorp thì nhìn với vẻ ngạc nhiên chăm chú: trong vài phút cô cứ dùng lòng bàn tay khum khum mà đưa qua đưa lại quanh vùng hông mình, đưa tay ra xa người rồi lại với một động tác như vốc hay cào mà kéo về phía mình, như thể đang lôi và gom một cái gì vào vậy. Rồi sau mấy lần giật mình, cô tỉnh lại, cũng chớp mắt nhìn vào ánh sáng bằng đôi mắt ngủ ngơ ngác, và mỉm cười.
Cô mỉm cười, duyên dáng và hơi khép kín. Sự thương hại đối với nỗi nhọc nhằn của cô xem ra quả là phung phí. Không có vẻ gì là cô đặc biệt kiệt sức vì chuyện đó. Có lẽ cô thậm chí chẳng nhớ gì đến nó. Cô ngồi trên chiếc ghế bành dành cho khách của bác sĩ ở cạnh dài phía sau bàn viết, bên cửa sổ, giữa ông và tấm bình phong che quanh chiếc ghế dài; cô xoay ghế đi để có thể tựa tay lên mặt bàn và nhìn ra căn phòng. Cô ngồi như vậy, được những ánh nhìn cảm động khẽ lướt qua, đây đó lại nhận một cái gật đầu khích lệ, im lặng suốt cả quãng nghỉ kéo dài mười lăm phút.
Đó là một quãng nghỉ thực sự, thư giãn và chan chứa một sự mãn nguyện êm dịu khi nhìn lại phần việc đã làm được. Hộp thuốc lá của các quý ông bật nắp. Người ta hút thuốc khoan khoái và chụm lại với nhau đây đó mà bàn về tính chất của buổi cầu cơ. Còn lâu mới đến mức phải tuyệt vọng về tính chất ấy, phải tính đến một sự vô kết quả dứt khoát. Có những dấu hiệu đủ sức gạt hẳn sự nản lòng nhỏ nhen như thế sang một bên. Những người ngồi ở đầu đối diện của nửa vòng cung, chỗ bác sĩ, đều nhất trí rằng nhiều lần và rất rõ ràng họ đã cảm thấy cái luồng hơi lạnh kia, cái luồng vẫn đều đặn tỏa ra từ thân thể người đồng cốt theo một hướng nhất định mỗi khi các hiện tượng chuẩn bị xuất hiện. Những người khác lại khẳng định mình đã nhận thấy các hiện tượng ánh sáng, những vệt trắng, những khối lực ngưng tụ di động, đã nhiều lần hiện ra trước tấm bình phong. Nói tóm lại, không được chùng xuống! Không được bạc nhược! Holger đã hứa lời mình, và người ta không có quyền nghi ngờ rằng ông sẽ thực hiện lời ấy.
Dr. Krokowski ra dấu bắt đầu lại buổi cầu cơ. Chính ông dẫn Elly, trong khi mọi người khác cũng lần lượt trở về chỗ, tới chiếc ghế hành xác của cô, vừa đi vừa vuốt tóc cô. Mọi việc diễn ra như hồi nãy; Hans Castorp tuy có xin được thay khỏi vị trí giám sát viên thứ nhất, nhưng bị người chủ tọa bác đi. Ông nói ông coi trọng việc trao cho người đã nêu điều ước một sự bảo chứng trực tiếp bằng cảm giác rằng mọi thao tác đánh lạc hướng của người đồng cốt trên thực tế đều bị loại trừ. Thế là Hans Castorp lại nhận lấy vị trí kỳ lạ của mình với Elly. Ánh sáng tắt xuống thứ tối đỏ. Âm nhạc lại nổi lên. Sau vài phút lại đến cơn giật nảy đột ngột, những cử động bơm đẩy của Elly, và lần này chính Hans Castorp là người báo: “Xuất thần.” Cuộc sinh nở bê bối ấy tiếp tục diễn tiến.
Nó diễn ra khủng khiếp nặng nề biết bao! Dường như nó không muốn diễn ra, mà liệu nó có thể diễn ra được chăng? Thật là một cơn điên loạn! Ở đây lấy đâu ra tình mẫu tính? Sinh nở, làm sao, và sinh ra cái gì? “Cứu tôi! Cứu tôi!” đứa trẻ rên xiết, trong khi những cơn co thắt của nó đe dọa chuyển sang cái trạng thái co giật liên hồi nguy hiểm và vô hiệu mà các nhà hộ sinh uyên bác gọi là sản giật. Thi thoảng cô gọi bác sĩ, xin ông đặt tay lên mình. Ông làm như vậy, vừa nói những lời cổ vũ đanh chắc. Sự từ hóa, nếu quả thật có một thứ như thế, đã tăng sức cho cô tiếp tục vật lộn.
Thế là giờ thứ hai trôi qua, trong khi lúc thì cây đàn ghi-ta khua ngân, lúc thì chiếc máy hát ném vào gian phòng những điệu nhạc của bộ album nhẹ, với thứ ánh sáng mà những đôi mắt đã quen lìa ánh ngày nay lại phần nào thích ứng được. Bấy giờ xảy ra một sự xen ngang, và chính Hans Castorp là người gây ra. Chàng nêu một gợi ý, thốt thành lời một ý muốn và một ý nghĩ mà chàng đã ấp ủ từ lâu, thực ra là ngay từ buổi đầu tiên, và có lẽ chàng đã nên đem ra sớm hơn. Đúng lúc Elly đang nằm, mặt úp trên đôi tay được giữ của mình, trong cơn “hôn trầm sâu”, còn ông Wenzel thì sắp thay đĩa hoặc lật mặt đĩa, người bạn chúng ta bèn cất tiếng, với một quyết tâm rõ rệt, rằng chàng có một đề nghị muốn trình bày, vả lại chẳng có gì quan trọng, nhưng biết đâu việc chấp nhận nó lại có thể hữu ích. Chẳng là... nghĩa là: trong kho đĩa của nhà có một bản: trích _Margarete_ của Gounod, Lời cầu nguyện của Valentin, giọng nam trung với dàn nhạc, rất dễ nghe. Diễn giả đây cho rằng nên thử một lần với bản đĩa ấy.
“Mà tại sao thế?” bác sĩ hỏi qua làn tối đỏ...
“Chuyện không khí, chuyện tình cảm thôi,” chàng trai đáp. Tinh thần của bản nhạc được nói tới có cái gì riêng biệt và chuyên biệt. Phải thử với nó mới được. Theo ý anh, hoàn toàn không phải là không thể, rằng chính tinh thần và tính cách ấy sẽ có khả năng rút ngắn tiến trình mà ở đây người ta đang nhắm tới.
“Đĩa có sẵn đây chứ?” bác sĩ hỏi.
Không, không có sẵn ở đó. Nhưng Hans Castorp có thể đi lấy ngay không khó khăn gì.
“Ông nghĩ thế nào vậy!” Krokowski gạt phắt đi, dứt khoát không chấp nhận. Sao cơ? Hans Castorp định đi ra rồi quay lại, lấy một thứ gì đó, rồi lại tiếp tục công việc đang dang dở ư? Sự non nớt đang nói ra từ miệng chàng đó. Không, tuyệt đối không thể. Mọi sự sẽ bị phá hỏng, người ta sẽ phải bắt đầu lại từ đầu. Ngay cả sự chính xác khoa học cũng cấm không cho người ta chỉ nghĩ tới một việc ra vào tùy tiện như thế. Cửa đã khóa. Chính ông, bác sĩ, giữ chìa khóa trong túi. Và tóm lại, nếu bản đĩa ấy không nằm trong tầm tay tức khắc, thì người ta sẽ phải... Ông còn đang nói thì người Tiệp đứng bên máy hát xen vào:
“Đĩa ở đây.”
“Ở đây à?” Hans Castorp hỏi...
Phải, ở đây. _Margarete_, Lời cầu nguyện của Valentin. Xin đây. Ngoại lệ làm sao mà nó lại nằm trong bộ album nhẹ chứ không ở album xanh các khúc aria số II, nơi nó thuộc về theo cách sắp xếp. Tình cờ, hết sức ngoại lệ, cẩu thả, mà vui thay, nó đã lọt vào đám đồ tạp nham và chỉ việc đặt lên là xong.
Hans Castorp nói gì về điều ấy? Chàng chẳng nói gì cả. Chính bác sĩ là người nói: “Càng tốt,” và mấy người khác lặp lại. Cây kim rít lên, nắp máy hạ xuống. Và bằng một vẻ nam tính, trên những âm điệu gần như thánh ca, tiếng hát cất lên: “Vì nay con phải lìa bỏ -”
Không ai nói năng. Mọi người lắng nghe. Ngay khi tiếng hát bắt đầu, Elly đã lại tiếp tục công việc của mình. Cô bật người dậy, run bần bật, rên rỉ, hổn hển co giật, rồi lại đưa những bàn tay ướt nhẫy trơn tuột lên trán. Đĩa vẫn quay. Tới đoạn giữa, với nhịp điệu chuyển bật, cái đoạn nói về chiến đấu và hiểm nguy, táo bạo, ngoan đạo và kiểu Pháp. Nó trôi qua, tiếp đến là phần kết, sự trở lại của chủ đề đầu được dàn nhạc khuếch đại, âm vang hùng mạnh: “Ôi, Chúa trên trời, xin nghe lời con khẩn nguyện -”
Hans Castorp đang phải vật lộn với Elly. Cô ưỡn người lên, kéo không khí qua cuống họng thắt hẹp mà hít vào, rồi thở dài một hơi lê thê và đổ sụp xuống chính mình, nằm yên. Lo lắng, chàng cúi xuống trên cô, thì nghe Stöhr nói bằng giọng the thé, rền rĩ:
“Ziem - ßen -!”
Chàng không đứng thẳng dậy. Một vị đắng tràn vào miệng chàng. Chàng nghe một giọng khác, trầm và lạnh, đáp lại:
“Tôi thấy cậu ấy từ lâu rồi.”
Bản đĩa đã quay hết, hợp âm cuối cùng của kèn đồng đã tắt. Nhưng không ai dừng máy. Cây kim cứ cào rỗng trong lặng im, tiếp tục chạy giữa mặt đĩa. Bấy giờ Hans Castorp mới ngẩng đầu lên, và mắt chàng đi đúng đường, không cần phải tìm kiếm.
Trong phòng có thêm một người so với trước đó. Ở đằng kia, tách khỏi đám đông, trong nền sâu, nơi những tàn dư của ánh đỏ gần như tan vào đêm tối khiến mắt người khó mà xuyên tới, giữa cạnh rộng của bàn viết và bức bình phong Tây Ban Nha, trên chiếc ghế khách quay mặt vào phòng của bác sĩ, nơi Elly đã ngồi trong giờ nghỉ, Joachim đang ngồi. Chính là Joachim, với hai hõm má rợp bóng và bộ râu chiến trận của những ngày cuối cùng, giữa đó đôi môi cong đầy đặn và kiêu hãnh. Chàng ngồi tựa, chân nọ gác lên chân kia. Trên khuôn mặt gầy rộc ấy, tuy bị một thứ mũ nón che bóng, người ta vẫn nhận ra dấu ấn của đau đớn và cả vẻ nghiêm nghị, khắc khổ đã tô điểm cho nó một vẻ nam tính đến thế. Giữa hai mắt, nằm sâu trong những hốc xương, hằn lên hai nếp nhăn trên trán; nhưng điều đó không làm tổn hại đến vẻ dịu hiền của ánh nhìn từ đôi mắt đẹp, to và sẫm ấy, ánh nhìn lặng lẽ, thân thiện, dò xét, hướng vào Hans Castorp, và chỉ riêng vào chàng mà thôi. Nỗi phiền muộn nho nhỏ ngày trước của chàng, đôi tai vểnh, vẫn có thể nhận ra được cả dưới vật che đầu, cái vật che đầu kỳ quặc mà người ta không hiểu nổi. Anh họ Joachim không mặc thường phục; thanh kiếm của chàng dường như tựa trên đùi gác chéo, hai bàn tay đặt trên chuôi kiếm, và ở thắt lưng, người ta tưởng còn phân biệt được cả một vật giống như bao súng lục. Nhưng thứ chàng mặc đó cũng chẳng phải là quân phục đúng nghĩa. Không thấy ở đó điều gì lấp lánh hay sặc sỡ; nó có cổ áo kiểu Litewka và túi hai bên, còn ở đâu đó khá thấp thì có một cây thập tự. Bàn chân Joachim nom lớn, còn đôi chân thì rất gầy; dường như chúng được quấn chặt, theo lối thể thao nhiều hơn là quân sự. Còn cái vật che đầu kia thì sao? Trông như Joachim đã úp lên đầu một món đồ dã chiến, một cái nồi nấu, rồi buộc chặt bằng quai dưới cằm. Nhưng kỳ thay, nó lại tạo nên một vẻ cổ xưa, lính đánh thuê, và hợp cách chiến binh.
Hans Castorp cảm thấy hơi thở của Ellen Brand trên hai bàn tay mình. Bên cạnh, chàng nghe hơi thở của Kleefeld, đang gấp gáp. Ngoài ra không còn gì khác, trừ tiếng rít mài không dứt của bản đĩa đã quay hết mà vẫn tiếp tục xoay dưới cây kim, chẳng ai buồn dừng lại. Chàng không ngoái nhìn một ai trong đám bạn đồng hội ấy, không muốn thấy gì ở họ, không muốn biết gì về họ. Xuyên chéo qua hai bàn tay, đầu cúi xuống đầu gối, chàng dán mắt, người chúi hẳn về phía trước, nhìn xuyên làn tối đỏ về phía vị khách trong chiếc ghế. Trong một khoảnh khắc, dạ dày chàng tưởng như muốn lộn nhào. Cuống họng thắt lại, và một cơn nấc bốn năm nhịp đẩy bật khỏi chàng, thân thiết mà co giật. “Tha thứ!” chàng thì thầm vào tận bên trong mình; rồi mắt chàng nhòa lệ, đến nỗi chàng chẳng còn trông thấy gì nữa.
Chàng nghe tiếng thì thào: “Hãy nói với cậu ấy đi!” Chàng nghe giọng nam trung của bác sĩ Krokowski, long trọng và tươi tỉnh, gọi tên mình và lặp lại lời thúc giục. Nhưng thay vì làm theo, chàng rút đôi tay ra khỏi dưới mặt Elly và đứng lên.
Bác sĩ Krokowski lại gọi tên chàng, lần này bằng một giọng nghiêm khắc cảnh cáo. Nhưng chỉ với mấy bước, Hans Castorp đã tới bậc cửa ra vào và bằng một động tác tay ngắn gọn bật ánh đèn trắng lên.
Brand giật bắn người trong một cơn choáng nặng. Cô co rúm trong vòng tay Kleefeld. Chiếc ghế kia trống không.
Hans Castorp tiến lại gần Krokowski, khi ông này vẫn đứng mà phản đối. Chàng đứng sát trước mặt ông. Chàng muốn nói, nhưng từ môi chàng không bật ra được lời nào. Với một cử động đầu đột ngột, hách đòi, chàng chìa tay ra. Nhận được chìa khóa, chàng gật đầu mấy cái, như đe dọa ngay trước mặt bác sĩ, rồi quay ngoắt và đi ra khỏi phòng.
Cơn bực bội lớn
Cứ như thế, theo năm tháng đổi thay, trong nhà Berghof bắt đầu lan đi một cái gì đó, một thứ tinh thần mà Hans Castorp linh cảm có dòng dõi trực tiếp từ con quỷ mang cái tên độc địa mà chúng ta đã nhắc tới. Với tính tò mò vô trách nhiệm của người du hành cầu học, chàng đã quan sát con quỷ ấy, thậm chí còn thấy nơi bản thân mình những khả năng đáng ngại để tham dự rộng rãi vào thứ việc phục dịch quái đản mà thế giới xung quanh dành cho nó. Theo bản tính tâm hồn, chàng chẳng mấy thích hợp để phụng sự cái bản thể đang lan tràn bốn phía kia, tuy rằng, cũng hệt như cái cũ, nó vốn từ lâu đã có mặt, chỉ là dưới dạng mầm mống, đây đó lộ ra mà thôi. Dẫu vậy, với nỗi kinh hãi, chàng nhận ra rằng chính mình nữa, hễ chỉ cần hơi buông lỏng bản thân một chút, cũng bị lây nhiễm trong nét mặt, lời nói và cung cách, một thứ lây nhiễm mà không một ai trong cả vòng người ấy tránh khỏi.
Rốt cuộc là cái gì? Cái gì lơ lửng trong không khí? Sự hiếu chiến. Một cơn bẳn gắt rần rật. Một nỗi sốt ruột vô danh. Một thiên hướng chung nghiêng về lời qua tiếng lại cay độc, về những cơn bùng giận, thậm chí về xô xát tay chân. Những cuộc cãi cọ cay cú, những màn gào thét buông tuồng qua lại giữa cá nhân với cá nhân, giữa cả nhóm với nhau, nảy sinh mỗi ngày; và điều đặc biệt là những kẻ không trực tiếp can dự, thay vì ghê tởm trước tình trạng của những người vừa bị nó chộp lấy hoặc xen vào can ngăn, lại càng tham dự bằng một sự đồng cảm nào đó và cũng tự buông mình theo cơn mê sảng ở bên trong. Người ta tái mặt và run lên. Ánh mắt lóe ra hung hăng, miệng méo đi vì đam mê. Người ta ghen với những kẻ đang hoạt động vì cái quyền được la hét, vì cái cớ để la hét. Một nỗi ham muốn giằng xé, muốn làm như họ, hành hạ cả hồn lẫn xác, và ai không đủ sức chạy trốn vào cô tịch thì không cách gì cứu vãn, sẽ bị cuốn vào vòng xoáy. Những xung đột vô bổ, những lời buộc tội lẫn nhau ngay trước mặt nhà chức trách đang cố gắng dàn hòa nhưng bản thân cũng cực dễ sa vào thứ thô bạo gầm gào, cứ chồng chất trong nhà Berghof; và ai rời khỏi đó với một tâm hồn còn tạm lành mạnh thì không thể biết mình sẽ quay về trong trạng thái nào. Một thành viên của bàn Nga tốt, một bà tỉnh lẻ khá thanh nhã đến từ Minsk, còn trẻ và chỉ bệnh nhẹ, người ta chỉ mới phán cho bà ba tháng, không hơn, một hôm xuống làng tới cửa hiệu áo cánh kiểu Pháp để mua sắm. Tại đó bà cãi nhau với cô bán hàng dữ dội đến mức trở về nhà trong cơn kích động tột độ, rồi ho ra máu và từ đó trở thành vô phương cứu chữa. Khi người chồng được gọi tới, ông được báo rằng từ nay việc bà ở lại trên này sẽ phải là mãi mãi và vĩnh viễn.
Đó là một ví dụ về cái đang lan đi. Chúng tôi miễn cưỡng nêu thêm vài ví dụ khác. Người này người kia hẳn còn nhớ tới cậu học sinh, hay cựu học sinh, đeo kính tròn ở bàn bà Salomon, cái chàng trai còm cõi có thói quen thái thức ăn trong đĩa thành một mớ hỗn độn nho nhỏ rồi chống tay mà ngấu nghiến nuốt vào, thỉnh thoảng lại lấy khăn ăn chùi lên phía sau cặp kính dày. Chàng ta, vẫn cứ là học sinh hay cựu học sinh như thế, đã ngồi ở đây suốt bấy lâu, ngấu nghiến và lau mắt, chẳng hề có lý do gì khiến người ta phải chú ý đến mình hơn một cái liếc qua hờ hững. Thế mà giờ đây, vào một buổi sáng, trong bữa điểm tâm thứ nhất, hoàn toàn bất ngờ và gần như từ trời xanh rơi xuống, chàng gặp một cơn lên đồng, một cơn phát tác khiến cả nhà xôn xao, làm toàn bộ phòng ăn phải nhốn nháo đứng dậy. Ở chỗ chàng ngồi bỗng nổi ầm lên; chàng ngồi đó, tái mét, mà hét, và đối tượng là cô lùn đang đứng cạnh. “Cô nói dối!” chàng thét, giọng lạc đi. “Trà nguội! Trà cô mang cho tôi nguội ngắt, tôi không muốn nó, chính cô hãy nếm thử đi trước khi nói dối, xem nó có phải là thứ nước rửa ấm ấm mà người đàng hoàng hoàn toàn không thể uống hay không! Làm sao cô dám mang cho tôi trà nguội ngắt, làm sao cô có thể nảy ra cái ý nghĩ và tự ru ngủ rằng cô có thể dọn cho tôi thứ nước ấm ấm ấy, lại còn hy vọng một chút nào rằng tôi sẽ uống nó chứ?! Tôi không uống! Tôi không muốn!” chàng rít lên và bắt đầu dùng cả hai nắm tay đập thình thịch xuống bàn, khiến toàn bộ đồ sứ trên mặt bàn kêu leng keng và nhảy múa. “Tôi muốn trà nóng! Tôi muốn trà sôi bỏng, đó là quyền của tôi trước Chúa và trước loài người! Tôi không muốn thế này, tôi muốn nóng rẫy, tôi muốn chết ngay tại chỗ nếu chỉ một ngụm - - Đồ tàn phế khốn kiếp!!” chàng bỗng rú lên lanh lảnh, như thể bằng một cú giật đã quẳng phăng sợi cương cuối cùng và hân hoan xông thẳng tới cái tự do tột cùng của cơn điên. Chàng giơ nắm tay lên về phía Emerenzia và theo nghĩa đen đã phô ra cho cô những chiếc răng sùi bọt của mình. Rồi chàng tiếp tục nện bàn, giậm chân và tru lên nào “Tôi muốn”, nào “Tôi không muốn”, trong khi đó khắp phòng vẫn diễn ra như mọi khi. Một sự đồng cảm khủng khiếp và căng thẳng đè nặng lên cậu học sinh đang nổi cơn ấy. Vài người đã bật dậy, nhìn chàng với nắm tay cũng siết chặt, răng nghiến ken két và mắt rực lửa. Những người khác ngồi tái mặt, mắt cúi xuống, run lẩy bẩy. Họ còn run như thế cả khi cậu học sinh từ lâu đã ngồi lì trước tách trà được thay mới, kiệt sức, mà không uống.
Đó là cái gì?
Một người đàn ông gia nhập cộng đồng Berghof, một cựu thương nhân, ba mươi tuổi, sốt triền miên đã lâu, từ nhiều năm nay phiêu dạt hết cơ sở điều dưỡng này sang cơ sở khác. Người ấy ghét Do Thái, là một kẻ bài Do Thái, điều đó đối với y là một nguyên tắc và cũng là một môn thể thao, với niềm say mê khoái trá; sự phủ định nhặt nhạnh lấy ấy là niềm kiêu hãnh và là nội dung đời y. Y đã từng là một thương nhân, giờ không còn thế nữa, y chẳng còn là gì trên đời, nhưng y vẫn còn là một kẻ thù ghét người Do Thái. Y ốm rất nặng, ho sù sụ đầy ứ trong ngực, và thi thoảng lại làm như thể y hắt hơi bằng phổi, một tiếng bật cao, ngắn, đơn độc, ghê rợn. Tuy nhiên, y không phải là người Do Thái, và đó là mặt tích cực ở y. Tên y là Wiedemann, một cái tên Ki-tô giáo, không ô uế. Y đặt mua một tạp chí tên là _Die arische Leuchte_, và nói những lời kiểu như thế này:
“Tôi đến dưỡng đường X. ở A.. Tôi định thu xếp chỗ mình trong nhà nghỉ nằm, thì ai nằm bên trái tôi trên ghế? Ông Hirsch! Ai nằm bên phải? Ông Wolf! Đương nhiên tôi lập tức lên đường ngay” v.v.
“Đồ trơ tráo!” Hans Castorp nghĩ, với lòng ghê tởm.
Wiedemann có một cái nhìn ngắn và rình rập. Quả thật trông y, theo nghĩa đen chứ không bóng bẩy chút nào, cứ như trước chóp mũi y lủng lẳng một cái tua bông, để y liếc xéo nó một cách hiểm độc, còn đằng sau nó thì chẳng trông thấy gì nữa. Ý tưởng điên ám lấy y đã biến thành một nỗi ngờ vực ngứa ngáy, một cơn cuồng truy bức không thôi, thúc ép y phải lôi ra ánh sáng và bêu nhục sự ô uế nào đó có thể đang ẩn náu hay ngụy trang gần bên mình. Y châm chọc, nghi kỵ và sùi bọt mép ở bất cứ đâu y đi qua hay đứng lại. Tóm lại, việc săn đuổi để bêu xấu mọi sự sống không có được cái đặc ân mà ở nơi y là đặc ân duy nhất, đã lấp đầy những ngày của y.
Những hoàn cảnh nội tại mà chúng ta vừa mới bắt đầu gợi ra đó nay làm cho chứng bệnh của người đàn ông này trầm trọng lên một cách phi thường; và bởi lẽ không thể tránh khỏi việc ngay ở đây y cũng gặp phải những mạng sống mang cái bất lợi mà chính Wiedemann tự cho mình là không mắc phải, nên dưới ảnh hưởng của những hoàn cảnh ấy đã xảy ra một cảnh khốn nạn mà Hans Castorp phải chứng kiến, và cảnh ấy buộc phải được chúng tôi dùng làm một ví dụ nữa cho điều đang được mô tả.
Vì ở đó còn có một người đàn ông khác, mà về ông ta thì chẳng có gì cần phải lột mặt nạ cả, trường hợp đã quá rõ ràng. Người ấy tên là Sonnenschein, mà đã mang cái tên ấy thì không thể bẩn thỉu hơn được nữa, cho nên ngay từ ngày đầu tiên, con người Sonnenschein đã trở thành cái tua bông lủng lẳng trước mũi Wiedemann, để y liếc xéo bằng cái nhìn ngắn và độc địa, rồi lấy tay vụt tới, dường như không hẳn để xua nó đi, bằng để làm cho nó đưa qua đưa lại, ngõ hầu nó càng chọc tức y hơn nữa.
Sonnenschein, cũng như người kia, vốn là một nhà buôn, lại cũng đau nặng thật sự và nhạy cảm một cách bệnh hoạn. Một người tử tế, không ngu dốt, lại tự nhiên vốn có khiếu khôi hài, ông chẳng bao lâu đã căm Wiedemann, vì những lời châm chích và những cú quật vào “búi lông” ấy, đến mức chính mình cũng khổ sở; và vào một buổi xế chiều, mọi người đều đổ dồn ra đại sảnh, vì Wiedemann và Sonnenschein ở đó đã lao vào nhau một cách cuồng loạn và thú vật.
Đó là một cảnh tượng đầy kinh hoàng và thảm hại. Họ cấu xé nhau như hai thằng bé con, nhưng với sự tuyệt vọng của những người đàn ông trưởng thành đã rơi xuống đến mức ấy. Họ chĩa vuốt vào mặt nhau, túm mũi và cổ họng nhau mà đấm đá túi bụi, ôm ghì lấy nhau, lăn lộn dưới đất với một vẻ nghiêm trọng khủng khiếp và triệt để, phun nước bọt vào nhau, đạp, xô, giằng, quật và sùi bọt mép. Mấy nhân viên văn phòng chạy đến phải vất vả lắm mới tách được hai kẻ đang cắn rít và bấu chặt ấy ra. Wiedemann, vừa dãi dớt vừa chảy máu, mặt mũi đờ đẫn đi vì cơn cuồng nộ, phô ra cái hiện tượng tóc dựng đứng. Hans Castorp chưa từng thấy điều ấy và cũng không tin rằng nó thực sự xảy ra. Tóc ông Wiedemann dựng cả lên, cứng đờ, thẳng đứng; và ông ta phóng đi như thế, trong khi ông Sonnenschein, một mắt đã chìm trong mảng bầm xanh tím và trên vành tóc quăn đen bao quanh sọ có một khoảng trống rớm máu, được đưa vào văn phòng, nơi ông ngồi xuống và nức nở khóc vào hai bàn tay mình.
Đó là câu chuyện của Wiedemann và Sonnenschein. Tất cả những ai trông thấy còn run lên hàng mấy giờ sau. So với thứ khốn khổ ấy, kể về một vụ danh dự đích thực, cũng thuộc vào cùng thời kỳ này, quả tương đối như một điều nhẹ nhõm; và quả thật, chỉ vì cái vẻ trang nghiêm hình thức mà người ta xử lý nó, vụ ấy xứng với cái tên của mình đến mức gần như nực cười. Hans Castorp không chứng kiến từng chặng của nó, mà chỉ tự tìm hiểu diễn biến rắc rối và kịch tính qua các văn kiện, lời tuyên bố và biên bản, những thứ liên quan đến vụ này được sao gửi khắp Berghof và cả ngoài nó nữa, nghĩa là không chỉ trong thị trấn, trong canton, trong nước, mà cả ở nước ngoài và bên Mỹ, lại còn được gửi để nghiên cứu cho cả những người mà ta có thể chắc chắn ngay rằng họ chẳng thể và cũng chẳng muốn dành cho câu chuyện ấy lấy một mảy may quan tâm.
Đó là một vụ Ba Lan, một cơn náo động danh dự phát sinh trong lòng nhóm người Ba Lan mới tụ về Berghof gần đây, cả một tiểu thuộc địa đang chiếm giữ chiếc bàn của những người Nga tốt - (Hans Castorp, xin chen ở đây, không còn ngồi đó nữa, mà theo thời gian đã chuyển sang bàn của bà Kleefeld, rồi của bà Salomon, rồi của cô Levi). Cái xã hội ấy thanh nhã và đánh xi theo lối hiệp sĩ đến mức người ta chỉ còn biết nhướng mày và thầm chuẩn bị tinh thần cho bất cứ điều gì - một cặp vợ chồng, thêm một cô tiểu thư nữa, có quan hệ thân tình với một trong các ông, còn ngoài ra toàn là các trang phong nhã. Họ mang những cái tên như von Zutawski, Cieszynski, von Rosinski, Michael Lodygowski, Leo von Asarapetian, và nhiều tên khác nữa. Thế rồi trong nhà hàng của Berghof, bên rượu sâm banh, một người tên Japoll, trước mặt hai trang phong nhã khác, đã buông ra về phu nhân của ông von Zutawski, cũng như về cô Kryloff, người thân cận với ông Lodygowski, những điều không sao nhắc lại được. Từ đó nảy sinh những bước đi, hành động và thủ tục làm nên nội dung của các văn bản được đem phân phát và gửi đi. Hans Castorp đọc:
“Tuyên cáo, dịch từ nguyên bản Ba Lan. - Ngày 27 tháng Ba năm 19.., ông Stanislaw von Zutawski đã tìm đến các ông Dr. Antoni Cieszynski và Stefan von Rosinski, yêu cầu các vị thay mặt mình đến gặp ông Kasimir Japoll, để theo con đường mà luật danh dự chỉ định đòi ở người này sự bồi danh dự cho ‘sự lăng nhục và vu khống nặng nề mà ông Kasimir Japoll đã gây ra đối với phu nhân Jadwiga von Zutawska của ông ấy trong cuộc trò chuyện với các ông Janusz Teofil Lenart và Leo von Asarapetian’.”
“Khi vài ngày trước đây ông von Zutawski gián tiếp được biết về cuộc trò chuyện nói trên, diễn ra vào cuối tháng Mười một, ông lập tức tiến hành các bước để có được sự bảo đảm hoàn toàn về sự kiện và bản chất của lời xúc phạm đã xảy ra. Hôm qua, ngày 27 tháng Ba năm 19.., qua lời ông Leo von Asarapetian, nhân chứng trực tiếp của cuộc trò chuyện trong đó những lời lăng nhục và ám chỉ kia đã được thốt ra, sự vu khống và xúc phạm ấy đã được xác nhận; do vậy ông Stanislaw von Zutawski đã bị thúc đẩy phải lập tức tìm đến những người ký tên dưới đây để trao cho họ ủy nhiệm mở thủ tục danh dự chống lại ông Kasimir Japoll.”
“Những người ký tên dưới đây tuyên bố như sau:
‘1. Căn cứ vào biên bản do một bên lập ngày 9 tháng Tư năm 19.., do các ông Zdzistaw Zygulski và Tadeusz Kadyj lập tại Lemberg trong vụ ông Ladislaw Goduleczny chống ông Kasimir Japoll, đồng thời căn cứ vào tuyên bố của tòa danh dự ngày 18 tháng Sáu năm 19.., được soạn tại Lemberg cũng trong chính vụ ấy, mà cả hai văn kiện, trong sự nhất trí hoàn toàn với nhau, đều xác nhận rằng ông Kasimir Japoll, “do cách xử sự tái diễn của mình, vốn không thể dung hòa với khái niệm danh dự, không thể được coi là một gentleman”,’
‘2. những người ký tên dưới đây rút ra từ những điều trên các hệ quả với trọn vẹn tầm mức của chúng và xác nhận sự bất khả tuyệt đối rằng ông Kasimir Japoll dưới bất cứ hình thức nào còn có thể bồi danh dự.
‘3. chính những người ấy xét rằng, về phần mình, không được phép tiến hành hoặc đứng ra dàn xếp một vụ danh dự chống lại một người đứng ra ngoài khái niệm danh dự.’
“Xét tình thế ấy, những người ký tên dưới đây lưu ý ông Stanislaw von Zutawski rằng việc theo đuổi quyền của mình bằng con đường một thủ tục danh dự chống lại ông Kasimir Japoll là vô ích, và khuyên ông nên chọn con đường hình sự tư pháp, để ngăn chặn những tổn hại khác nữa do một nhân cách bất lực trong việc bồi danh dự đến mức như trường hợp ông Kasimir Japoll gây nên. - (Đề ngày và ký tên:) Dr. Antoni Cieszynski, Stefan von Rosinski.”
Tiếp đó Hans Castorp đọc:
“Biên bản
“của các nhân chứng về sự việc xảy ra giữa ông Stanislaw von Zutawski, ông Michael Lodygowski
“và các ông Kasimir Japoll và Janusz Teofil Lenart tại quầy bar của Kurhaus ở D., ngày 2 tháng Tư năm 19.., trong khoảng từ 7 giờ rưỡi đến 7 giờ 45 tối.
“Vì ông Stanislaw von Zutawski, căn cứ vào tuyên bố của các vị đại diện cho mình là các ông Dr. Antoni Cieszynski và Stefan Rosinski, trong vụ ông Kasimir Japoll, vào ngày 28 tháng Ba năm 19.., sau khi suy xét chín chắn, đã đi tới chỗ tin chắc rằng việc truy tố hình sự ông Kasimir Japoll theo khuyến nghị kia về ‘sự lăng nhục và vu khống nặng nề’ đối với phu nhân Jadwiga của ông sẽ không thể đem lại cho ông sự bồi danh dự, vì:
1. có mối nghi ngờ chính đáng rằng ông Kasimir Japoll vào lúc cần thiết sẽ không ra hầu tòa, và việc tiếp tục truy cứu ông, xét tới chuyện ông là công dân Áo, không những sẽ bị gây khó dễ mà còn hầu như bất khả,
2. ngoài ra, một bản án của tòa đối với ông Kasimir Japoll cũng sẽ không thể chuộc bù lời xúc phạm mà qua đó ông Kasimir Japoll đã toan bôi nhọ tên tuổi và gia thất của ông Stanislaw von Zutawski cùng phu nhân Jadwiga của ông một cách vu khống,
“ông Stanislaus von Zutawski đã chọn con đường ngắn nhất, theo xác tín của ông là triệt để nhất và, xét các hoàn cảnh hiện có, thích đáng nhất, sau khi gián tiếp được biết rằng ông Kasimir Japoll dự định rời nơi đây vào ngày hôm sau,
“và ngày 2 tháng Tư năm 19.., trong khoảng từ 7 giờ rưỡi đến 7 giờ 45 tối, trước mặt phu nhân Jadwiga của mình và các ông Michael Lodygowski cùng Ignaz von Mellin, ông đã nhiều lần tát ông Kasimir Japoll, lúc bấy giờ đang ngồi uống rượu trong American Bar của Kurhaus sở tại, cùng với ông Janusz Teofil Lenart và hai cô gái không rõ danh tính.
“Ngay sau đó, ông Michael Lodygowski đã tát ông Kasimir Japoll, đồng thời nói thêm rằng đó là để đáp lại những sự lăng nhục nặng nề đã gây ra cho cô Krylow và cho chính ông.”
“Lập tức tiếp theo, ông Michael Lodygowski tát ông Janusz Teofil Lenart vì điều sai quấy không sao định danh đã gây ra đối với ông và bà von Zutawski, rồi sau đó nữa,
“không để mất một khoảnh khắc, chính ông Stanislaus von Zutawski cũng tát ông Janusz Teofil Lenart lặp đi lặp lại nhiều phen vì sự bôi bẩn vu khống nhằm vào cả phu nhân của ông lẫn cô Krylow.
“Các ông Kasimir Japoll và Janusz Teofil Lenart trong suốt toàn bộ sự việc ấy đều hoàn toàn thụ động. (Đề ngày và ký tên:) Michael Lodygowski, Ign. v. Mellin.”
Những hoàn cảnh bên trong không cho phép Hans Castorp bật cười trước loạt súng liên thanh những cái tát chính thức này, như hẳn chàng vẫn sẽ cười trong trường hợp khác. Chàng rùng mình khi đọc đến đó, và cái quy thức không chê vào đâu được của phía bên này, cái sự vô danh dự vừa trẻ con vừa nhũn nhão của phía bên kia, khi cả hai từ những văn kiện ấy nhảy bổ vào mắt người đọc, đã khuấy động chàng sâu sắc nhất trong sự đối chọi có phần thiếu sinh khí nhưng đầy ấn tượng ấy. Ai nấy cũng đều như vậy. Khắp nơi, vụ danh dự Ba Lan được nghiên cứu say sưa và đem ra bàn tán qua hàm răng nghiến chặt. Hơi làm người ta tỉnh ra đôi chút là một tờ truyền đơn đáp lại của ông Kasimir Japoll, theo đó thì von Zutawski biết rất rõ rằng trước kia ở Lemberg ông ta, Japoll, đã bị vài tên ngốc tự cao nào đó tuyên bố là không còn tư cách bồi danh dự, và toàn bộ những bước đi tức khắc, gấp gáp kia của đối phương chỉ là trò khỉ thuần túy, vì ngay từ đầu y đã biết mình sẽ không phải giao đấu. Hơn nữa, von Zutawski đã từ bỏ việc khởi kiện ông ta, Japoll, chỉ vì một lẽ duy nhất là, như mọi người và chính y cũng thừa biết, phu nhân Jadwiga của y đã ban cho y cả một bộ sưu tập gạc nai, điều mà ông ta, Japoll, có thể nhàn nhã đưa ra bằng chứng chân thật; cũng như cung cách chung của cô Krylow trước tòa hẳn cũng chẳng thể gặt hái được bao nhiêu danh dự. Vả lại, điều đã được xác lập chỉ là sự không còn tư cách bồi danh dự của riêng ông ta, Japoll, chứ chưa phải của người đối thoại với ông ta là Lenart; còn von Zutawski đã nấp sau điều thứ nhất ấy để khỏi phải liều mình. Về vai trò mà ông Asarapetian đã đóng trong toàn bộ câu chuyện, ông ta không muốn nói tới. Còn về màn xảy ra trong quầy bar của Kurhaus, thì ông ta, Japoll, dẫu miệng lưỡi sắc lẹm và có thiên hướng bông đùa, rốt cuộc vẫn là một con người cực kỳ ốm yếu; von Zutawski, với các bạn hữu và cả bà Zutawska khỏe mạnh khác thường, đã nắm ưu thế thể lực, nhất là bởi hai cô nàng đang đi cùng ông ta, Japoll, và Lenart, tuy là những sinh vật vui nhộn, song lại nhát như gà; vì thế, để tránh một trận ẩu đả thô bạo và một vụ tai tiếng công khai, ông ta đã khiến Lenart, kẻ muốn chống trả, phải giữ yên và, nhân danh Chúa, chịu đựng những va chạm xã giao thoáng qua của các ông von Zutawski và Lodygowski, những va chạm không hề đau đớn và đã được những người ngồi quanh hiểu là một trò trêu chọc thân mật.
Đó là lời Japoll, dĩ nhiên chẳng còn cứu vãn được bao nhiêu cho ông ta. Những lời cải chính ấy chỉ có thể gây xáo trộn hời hợt lên cái tương phản đẹp đẽ giữa danh dự và khốn quẫn như nó hiện ra từ các xác nhận của phía bên kia; nhất là vì ông ta không nắm trong tay kỹ thuật nhân bản của phe Zutawski, mà chỉ biết phát tán giữa thiên hạ đôi ba bản đánh máy giấy than của lời đáp mình. Trái lại, những biên bản kia, như đã nói, ai ai cũng nhận được, cả những người hoàn toàn không dính dáng cũng nhận được. Chẳng hạn Naphta và Settembrini cũng được gửi cho; Hans Castorp nhìn thấy chúng trong tay hai người, và ngạc nhiên nhận ra rằng cả họ nữa cũng cúi nhìn xuống đó với những vẻ mặt nghiến chặt và kỳ lạ như bị cuốn hút. Sự châm biếm vui tươi mà chính chàng, vì những hoàn cảnh bên trong đang ngự trị, không thể khơi dậy nơi mình, thì ít nhất chàng vẫn đã chờ đợi ở ông Settembrini. Nhưng ngay cả lên tinh thần minh triết của người Tam Điểm, sự lây nhiễm đang lan tràn mà Hans Castorp quan sát thấy rõ ràng cũng tác động bằng một quyền lực làm tắt tiếng cười của ông, khiến ông thực sự trở nên dễ cảm đối với những kích thích quất roi của vụ tát tai ấy; mà thêm vào đó, ông, con người của sự sống, còn bị u ám đi bởi tình trạng sức khỏe của chính mình, chậm chạp, với những bước lùi trêu ngươi về phía tốt lên nhưng không sao cưỡng nổi vẫn cứ xấu đi, một tình trạng mà ông nguyền rủa và vừa giận dữ vừa khinh bỉ bản thân mà lấy làm hổ thẹn, song vào thời gian này đã bắt ông cứ vài hôm một lần lại phải nằm liệt giường.
Naphta, người cùng nhà và là địch thủ của ông, cũng chẳng khá hơn. Trong nội tạng hữu cơ của ông ta, căn bệnh cũng tiến triển, căn bệnh mà nguyên nhân thể chất của nó - hay phải nói: cái cớ - chính là lý do khiến con đường dòng tu của ông đã chấm dứt non nớt đến thế, và những điều kiện cao và loãng nơi người ta sinh sống không sao ngăn nổi sự lan rộng của nó. Ông ta cũng thường phải nằm liệt giường; cái tiếng mẻ đĩa trong giọng nói của ông lách cách mạnh hơn mỗi khi ông cất lời, và trong cơn sốt tăng lên ông còn nói nhiều hơn trước, sắc hơn trước, cay độc hơn trước. Những sức kháng cự thuộc bình diện tinh thần đối với bệnh tật và cái chết, mà thất bại của chúng trước thế thượng phong của một bản tính hèn hạ đã làm ông Settembrini đau đớn đến thế, hẳn phải xa lạ với Naphta bé nhỏ; bởi vậy cách ông đón nhận sự sa sút của trạng thái thân xác mình cũng không phải là buồn rầu hay sầu khổ, mà là một vẻ hớn hở giễu cợt và một tính hiếu chiến có một không hai, một cơn khát nghi ngờ, phủ định và gây rối về mặt tinh thần, thứ đã khiêu khích nỗi u uất của người kia nặng nề nhất và ngày ngày làm những cuộc tranh biện trí thức giữa họ thêm gay gắt. Dĩ nhiên Hans Castorp chỉ có thể nói về những cuộc tranh biện chàng có mặt. Nhưng chàng gần như chắc chắn rằng mình không bỏ lỡ cuộc nào, rằng sự hiện diện của chính chàng, với tư cách đối tượng giáo hóa, là cần thiết để châm ngòi cho những cuộc đàm luận quan trọng. Và nếu chàng không tha cho ông Settembrini nỗi khổ khi thấy mình lại cho những ác ý của Naphta là đáng nghe, thì chàng vẫn phải thú nhận rằng chúng dần dà đã vượt quá mọi chừng mực, và lắm khi vượt qua cả ranh giới của sự lành mạnh về tinh thần.
Kẻ bệnh hoạn ấy không có đủ sức lực, hoặc đủ thiện chí, để vươn lên trên bệnh tật, mà nhìn thế giới qua hình ảnh và dấu hiệu của chính bệnh tật. Khiến ông Settembrini tức tối, đến nỗi chỉ muốn tống người học trò đang lắng nghe ra khỏi phòng, hoặc bịt tai chàng lại, hắn tuyên bố rằng vật chất là một thứ chất liệu quá đỗi tồi tệ để tinh thần có thể tự thực hiện trong đó. Mưu toan như vậy là một điều ngu xuẩn. Kết quả là gì? Một bộ mặt quái dị! Kết quả hiện thực của cuộc cách mạng Pháp từng được ca tụng kia chính là nhà nước tư sản tư bản chủ nghĩa - thật là một món quà quý hóa! - mà người ta lại hy vọng cải thiện bằng cách phổ quát hóa sự ghê tởm ấy. Cộng hòa thế giới, đó hẳn sẽ là hạnh phúc, chắc chắn thế! Tiến bộ ư? Ồ, đó chỉ là chuyện người bệnh nổi tiếng kia cứ luôn luôn đổi tư thế vì tưởng rằng nhờ thế sẽ được dễ chịu hơn. Cái ước muốn chiến tranh không được thú nhận, nhưng ngấm ngầm lan rộng khắp nơi, là một biểu hiện của điều ấy. Cuộc chiến ấy sẽ đến, và như thế là tốt, mặc dù nó sẽ sinh ra những điều khác hẳn với điều những kẻ đạo diễn nó mong đợi. Naphta khinh bỉ nhà nước an toàn tư sản. Hắn nhân một dịp để phát biểu về điều đó, là khi người ta đi dạo trên đại lộ vào mùa thu, và vừa chớm mưa thì đột nhiên, như theo lệnh, thiên hạ đồng loạt giương ô lên đầu. Với hắn, đó là một biểu tượng của sự hèn nhát và thứ mềm nhũn tầm thường, vốn là kết quả của nền văn minh. Một biến cố và điềm báo như vụ đắm chiếc tàu hơi nước Titanic mang tác động phản tổ, nhưng quả là sảng khoái đích thực. Sau đó lại om sòm đòi thêm an toàn cho "giao thông". Nói chung, lúc nào cũng là cơn phẫn nộ dữ dội nhất, hễ như "an toàn" có vẻ bị đe dọa. Thật là đáng thương, và trong cái mềm nhũn nhân đạo của nó, nó hiệp vần rất khéo với sự thô bạo lang sói và đê hèn của chiến trường kinh tế mà nhà nước tư sản phô ra. Chiến tranh, chiến tranh! Hắn tán thành, và cơn thèm khát chiến tranh phổ quát ấy đối với hắn, so ra, dường như còn đáng trọng.
Nhưng hễ như ông Settembrini chẳng hạn đưa chữ "công lý" vào câu chuyện, và khuyến nghị nguyên tắc cao cả ấy như một phương thuốc phòng ngừa những tai họa chính trị đối nội lẫn đối ngoại, thì liền lộ ra rằng Naphta, kẻ mới đây còn cho phần tinh thần là quá cao quý để việc thể hiện nó ở trần thế có thể thành công, hoặc nên thành công, nay lại chính ra sức đặt nghi vấn ngay vào phần tinh thần ấy và bôi nhọ nó. Công lý! Đó có phải là một khái niệm đáng sùng bái chăng? Một khái niệm thần thánh chăng? Một khái niệm bậc nhất chăng? Thượng đế và tự nhiên là bất công, các ngài có kẻ được sủng ái, thực hành sự tuyển chọn ân sủng, tô điểm cho người này bằng một đặc tuyển hiểm hóc và dọn cho người khác một số phận dễ dãi, tầm thường. Còn con người có ý chí thì sao? Đối với hắn, công lý một mặt là một sự yếu đuối làm tê liệt, là chính nỗi ngờ vực - và mặt khác lại là một tiếng kèn hiệu gọi tới những hành động không cần đắn đo. Vậy nên, vì con người, để còn đứng trong phạm vi đạo lý, bao giờ cũng phải sửa chữ "công lý" theo nghĩa này bằng chữ "công lý" theo nghĩa kia, thì cái tính tuyệt đối và tính triệt để của khái niệm ấy còn ở đâu? Vả lại, người ta "công bằng" với lập trường này _hay_ với lập trường khác. Phần còn lại là chủ nghĩa tự do, và ngày nay chẳng còn lôi nổi con chó nào rời bếp lò bằng thứ ấy nữa. Công lý dĩ nhiên chỉ là một cái vỏ từ ngữ rỗng tuếch của lối hùng biện tư sản, và muốn đi đến hành động, trước hết phải biết mình nói đến thứ công lý nào: thứ công lý trao cho mỗi người cái thuộc về mình, hay thứ công lý muốn ban cho mọi người cái như nhau.
Ở đây chúng tôi chỉ tùy tay vớt đại từ cõi vô bờ một thí dụ cho thấy hắn chủ tâm khuấy loạn lý trí ra sao. Nhưng còn tệ hơn nữa khi hắn chuyển sang nói về khoa học - thứ mà hắn không tin. Hắn không tin vào nó, hắn nói, bởi con người hoàn toàn tự do tin hoặc không tin vào nó. Nó là một đức tin như mọi đức tin khác, chỉ có điều tồi hơn và ngu xuẩn hơn mọi đức tin khác; và ngay chính chữ "khoa học" đã là biểu hiện của thứ chủ nghĩa hiện thực ngu độn nhất, thứ chủ nghĩa không hổ thẹn khi lấy, hoặc đem xuất trình như tiền thật, những phản chiếu hết sức khả nghi của các đối tượng trong trí tuệ con người, rồi từ đó mà chế ra thứ giáo điều vô hồn và vô an ủi nhất từng bị áp đặt lên nhân loại. Chẳng lẽ khái niệm về một thế giới cảm tính tồn tại tự thân chẳng phải là mâu thuẫn nội tại lố bịch nhất trong mọi mâu thuẫn hay sao? Nhưng khoa học tự nhiên hiện đại với tư cách giáo điều chỉ sống độc độc nhờ tiền đề siêu hình rằng những hình thức nhận thức của cơ cấu chúng ta - không gian, thời gian và nhân quả - trong đó thế giới hiện tượng diễn ra, là những quan hệ có thực, tồn tại độc lập với nhận thức của chúng ta. Khẳng định nhất nguyên ấy là sự trâng tráo trần trụi nhất từng được dâng lên trước tinh thần. Không gian, thời gian và nhân quả, nói theo nhất nguyên, tức là phát triển, - và thế là người ta đã có giáo điều trung tâm của thứ ngụy tôn giáo vô thần tự do tư tưởng, nhờ đó người ta tưởng mình bãi bỏ được quyển thứ nhất của Môi-se và đem tri thức khai minh đối chọi với một ngụ ngôn làm cho ngu muội, như thể Haeckel đã có mặt khi trái đất hình thành vậy. Kinh nghiệm ư! Chất ê-te vũ trụ hẳn là đã được xác minh chính xác chứ? Nguyên tử, cái trò đùa toán học xinh xắn về "phần tử nhỏ nhất, không thể phân chia" ấy - đã được chứng minh rồi chăng? Học thuyết về tính vô hạn của không gian và thời gian hẳn là dựa trên kinh nghiệm chăng? Quả thật, chỉ cần có một chút logic, người ta sẽ đi đến những kinh nghiệm và kết quả rất vui nhộn với giáo điều về tính vô hạn và tính hiện thực của không gian và thời gian: ấy là kết quả của hư vô. Tức là đi đến nhận thức rằng chủ nghĩa hiện thực mới là chủ nghĩa hư vô đích thực. Vì sao? Vì lẽ đơn giản rằng tỷ lệ của bất cứ đại lượng nào đối với vô hạn đều bằng không. Trong cái vô hạn không có đại lượng nào cả, và trong vĩnh cửu không có cả trường độ lẫn biến đổi. Trong cái vô hạn về không gian, vì mọi khoảng cách ở đó về mặt toán học đều bằng không, thì thậm chí ngay cả hai điểm ở cạnh nhau cũng không thể có, huống chi là các vật thể, lại càng huống chi là vận động. Điều này hắn, Naphta, xác nhận để đối phó với sự táo tợn mà nền khoa học duy vật dùng để rao những chuyện hoang đường thiên văn của nó, cái lối ba hoa lộng gió của nó về "vũ trụ" như thể đó là tri thức tuyệt đối. Nhân loại đáng thương, đã để cho một cuộc phô trương huênh hoang những con số vô giá trị xô đẩy vào cảm giác về sự hư không của chính mình, đã để bị tước mất cái bi cảm về tầm hệ trọng của chính mình! Bởi còn có thể tạm cho qua được, nếu lý trí và nhận thức của con người cứ ở lại trong cõi trần thế và trong phạm vi ấy đối xử những trải nghiệm của mình với các chủ-khách thể như là có thực. Nhưng nếu nó vươn vượt quá lên vào câu đố vĩnh cửu, bằng cách làm cái gọi là vũ trụ học, vũ trụ nguyên học, thì trò đùa chấm dứt, và sự ngạo mạn leo tới đỉnh của tính quái dị. Xét cho cùng, thật là một điều nhảm nhí phạm thượng, cái việc tính "khoảng cách" của một ngôi sao nào đó tới trái đất bằng hàng nghìn tỷ kilômét hay cả năm ánh sáng, rồi tưởng rằng với thứ trò mê sảng chữ số như thế người ta đem lại cho tinh thần con người một cái nhìn thấu vào bản chất của vô hạn và vĩnh cửu, - trong khi vô hạn nói chung và tuyệt đối chẳng liên can gì đến đại lượng, và vĩnh cửu cũng chẳng liên can gì đến trường độ hay những khoảng cách thời gian, mà trái lại, xa chỗ là những khái niệm khoa học tự nhiên, chúng chính là sự thủ tiêu điều mà ta gọi là tự nhiên! Quả thật, cái ngây thơ của một đứa trẻ tin rằng các ngôi sao là những lỗ thủng trên vòm trời, qua đó ánh sáng vĩnh cửu rọi xuống, đối với hắn còn đáng quý gấp nghìn vạn lần toàn bộ thứ ba hoa rỗng tuếch, phi lý và ngạo mạn mà nền khoa học nhất nguyên bày đặt ra về "vũ trụ"!
Settembrini hỏi hắn xem, phần mình, hắn có mang niềm tin ấy về các vì sao hay không. Hắn đáp rằng hắn xin giữ cho mình mọi sự khiêm nhường và tự do của lòng hoài nghi. Lại một lần nữa, qua đó người ta thấy hắn hiểu "tự do" là gì, và một khái niệm như thế có thể dẫn đến đâu. Chỉ tiếc rằng ông Settembrini lại có lý do để sợ Hans Castorp sẽ thấy tất cả những điều đó là đáng nghe!
Ác tâm của Naphta luôn rình rập những dịp để phát giác các nhược điểm của cái tiến bộ chinh phục tự nhiên, để chứng minh nơi những kẻ mang nó và những người tiên phong của nó những cú thoái lui rất người vào cõi phi lý. Các nhà hàng không, các phi công, hắn nói, phần lớn là những cá nhân khá tồi tệ và khả nghi, trên hết là hết sức mê tín. Họ mang theo những con lợn cầu may, một con quạ lên máy bay, họ nhổ ba lần chỗ này chỗ nọ, họ xỏ vào tay những chiếc găng của những tay lái may mắn. Thứ vô lý nguyên thủy như thế làm sao lại ăn nhập được với thế giới quan làm nền cho nghề nghiệp của họ? - Mâu thuẫn mà hắn vạch ra khiến hắn khoái trá, đem lại cho hắn sự thỏa mãn; hắn bám riết lấy nó rất lâu... Nhưng chúng tôi lại đang chụp bên này ngoạm bên kia trong cái bất tận để tìm vài mẫu vật về lòng thù địch của Naphta, trong khi còn có những chuyện quá sức cụ thể để kể.
Một buổi chiều tháng Hai, các ông hợp thành một đoàn đi dã ngoại tới Monstein, một nơi cách chốn sinh hoạt hằng ngày của họ một giờ rưỡi xe trượt tuyết. Có Naphta và Settembrini, Hans Castorp, Ferge và Wehsal. Trên hai cỗ xe trượt chỉ thắng một ngựa, Hans Castorp đi với nhà nhân văn, Naphta đi với Ferge và Wehsal, người ngồi cạnh phu xe, vào lúc ba giờ, quấn bọc kỹ lưỡng, họ lên đường từ chỗ cư ngụ của những người ở ngoài và theo tiếng chuông leng keng - thứ âm thanh thân mật biết bao giữa một phong cảnh im tuyết - mà đi dọc theo sườn bên phải, qua Frauenkirch và Glaris, hướng về phương nam. Từ chính hướng trời ấy, màn tuyết phủ dồn tới rất nhanh, đến nỗi chẳng bao lâu nữa chỉ còn trông thấy phía sau dãy Rhätikon một vệt xanh nhạt. Giá lạnh gay gắt, núi non mù sương. Con đường đưa họ đi, một thềm hẹp không lan can giữa vách núi và vực thẳm, dựng đứng lên giữa rừng linh sam hoang dã. Cỗ xe chỉ nhích từng bước. Những xe trượt từ trên xuống thường xuyên tiến lại phía họ, và khi gặp nhau thì phải xuống xe. Sau những khúc quanh, tiếng chuông lạ ngân lên mảnh và báo động; những cỗ xe trượt thắng hai ngựa nối hàng đi qua, và việc tránh đường đòi hỏi nhiều thận trọng. Gần tới nơi, hiện ra một cảnh quan đẹp mắt nhìn xuống một đoạn núi đá của đường Zügen. Người ta chui ra khỏi những tấm chăn trước quán trọ nhỏ ở Monstein, tự xưng là "Kurhaus", và bỏ mặc xe trượt lại đó, đi thêm vài bước nữa để nhìn chếch về đông nam, hướng dãy "Stulsergrat". Vách núi khổng lồ cao ba nghìn thước chìm trong màn sương. Chỉ có một đâu đó nhô lên một mũi nhọn chọc trời, siêu trần, xa hút như cõi Valhalla và thiêng liêng bất khả tiếp cận, từ giữa làn hơi mù. Hans Castorp thán phục cảnh ấy lắm và cũng giục những người khác làm như vậy. Chính chàng là người, với một cảm thức quy phục, đã thốt lên chữ "bất khả tiếp cận", và nhờ thế khiến ông Settembrini có dịp nhấn mạnh rằng mỏm đá ấy dĩ nhiên hoàn toàn đã có dấu chân người. Nói chung, điều đó nay hầu như không còn nữa: sự bất khả tiếp cận và bất cứ thiên nhiên nào mà con người chưa từng đặt chân lên. Naphta đáp lại: đó là một chút cường điệu và phách lối. Và hắn nêu tên Mount Everest, ngọn núi cho đến nay vẫn đối lại tính tò mò xấc xược của con người bằng một sự khước từ băng giá, và dường như muốn cứ mãi giữ nguyên sự dè dặt ấy. Nhà nhân văn bực mình. Các ông quay trở lại "Kurhaus", trước cửa có vài cỗ xe trượt lạ, đã tháo ngựa, đỗ cạnh xe của họ.
Người ta có thể ở lại đây. Trên tầng gác có những buồng khách sạn đánh số. Tại đó cũng có phòng ăn, mộc mạc kiểu nhà nông và sưởi rất ấm. Những người đi chơi gọi một bữa ăn nhẹ nơi bà chủ quán niềm nở: cà phê, mật ong, bánh mì trắng và bánh mì lê, món đặc sản của địa phương. Rượu vang đỏ được đưa ra cho các phu xe. Những vị khách Thụy Sĩ và Hà Lan ngồi ở các bàn khác.
Chúng tôi cũng muốn nói rằng nơi một người nào đó trong năm người bạn của chúng tôi, sức ấm do cà phê nóng và hết sức đáng khen kia đã làm nảy sinh một cuộc đàm đạo cao hơn. Nhưng nói thế sẽ không chính xác, bởi cuộc trò chuyện này thực ra là một độc thoại của Naphta, kẻ sau mấy lời góp vào của những người khác thì một mình cáng đáng trọn vẹn, - một độc thoại được tiến hành theo một lối hết sức kỳ quặc và sỗ sàng về mặt giao tiếp, vì cựu tu sĩ Dòng Tên ấy, trong vẻ dịu dàng chỉ giáo, chỉ độc hướng lời về phía Hans Castorp, quay lưng lại ông Settembrini ngồi bên kia mình, và cũng hoàn toàn bỏ mặc hai ông kia.
Thật khó mà gọi tên cho đúng chủ đề của bài ứng khẩu ấy, thứ mà Hans Castorp theo dõi bằng những cái gật đầu nửa như tán thành. Nói cho đúng, nó cũng không có một đối tượng thống nhất, mà chuyển động lỏng lẻo trong cõi tinh thần, chạm đây sượt đó, và cốt yếu nhắm tới việc chứng minh một cách nản lòng tính hai mặt của những hiện tượng đời sống tinh thần, bản chất óng ánh đổi màu và sự bất kham khi đem vào chiến đấu của những khái niệm lớn được rút ra từ đó, đồng thời làm cho người ta nhận thấy cái Tuyệt đối xuất hiện trên mặt đất trong tấm áo lấp lánh biết bao.
Cùng lắm, người ta có thể quy bài thuyết trình của hắn vào vấn đề tự do, thứ mà hắn xử lý theo chiều hướng gây rối loạn. Trong số những điều khác, hắn nói đến chủ nghĩa lãng mạn và cái hai nghĩa đầy mê hoặc của phong trào châu Âu ấy ở đầu thế kỷ mười chín, trước phong trào đó các khái niệm phản động và cách mạng đều tiêu tán, nếu chúng không hợp nhất vào một cái gì cao hơn. Bởi lẽ thật là quá sức buồn cười nếu muốn gắn khái niệm cách mạng riêng độc với tiến bộ và với phong trào khai sáng đang xông lên trong thế thắng. Chủ nghĩa lãng mạn châu Âu trước hết là một phong trào tự do: chống cổ điển chủ nghĩa, chống hàn lâm, hướng chống gu thẩm mỹ Pháp cũ, chống lại cựu phái của lý tính mà những người bênh vực nó đã bị chế giễu là những cái đầu đội tóc giả phủ phấn.
Và Naphta chuyển sang các cuộc Chiến tranh Giải phóng, sang những cơn hứng khởi kiểu Fichte, sang cuộc vùng dậy dân tộc chan chứa men say và ca khúc kia chống lại một bạo quyền không thể chịu nổi, - mà khốn thay, he, he, bạo quyền ấy lại chính là hiện thân của tự do, nghĩa là hiện thân của các ý niệm cách mạng. Thật buồn cười biết bao: người ta đã vừa hát vang vừa xông ra để đập tan bạo quyền cách mạng, thay vào đó là roi vọt phản động của các ông hoàng, và như thế lại được gọi là làm vì tự do.
Người thính giả trẻ tuổi ở đây sẽ nhận ra sự phân biệt, hoặc cả sự đối lập, giữa tự do bên ngoài và tự do bên trong - đồng thời cả câu hỏi nhạy cảm xem thứ không-tự-do nào thì dễ dung hòa nhất, he, he, hay ít dung hòa nhất, với danh dự của một dân tộc.
Có lẽ tự do còn là một khái niệm lãng mạn hơn cả một khái niệm khai sáng, vì với chủ nghĩa lãng mạn nó có chung sự đan bện không thể gỡ của những xung lực vươn rộng của nhân loại với sự nhấn mạnh cái tôi một cách say mê mà thu hẹp. Xung lực tự do mang tính cá nhân chủ nghĩa đã sản sinh ra sự sùng bái lịch sử-lãng mạn đối với cái dân tộc, thứ sùng bái có tính hiếu chiến và bị chủ nghĩa tự do nhân đạo gọi là đen tối, mặc dù chính chủ nghĩa ấy cũng dạy cá nhân chủ nghĩa, chỉ có điều theo một chiều hơi ngược lại. Cá nhân chủ nghĩa là lãng mạn-trung cổ trong niềm xác tín của nó về tầm quan trọng vô hạn, mang tính vũ trụ, của từng cá thể riêng lẻ, từ đó nảy sinh học thuyết về linh hồn bất tử, học thuyết địa tâm và cả chiêm tinh học. Mặt khác, cá nhân chủ nghĩa lại là chuyện của chủ nghĩa nhân văn tự do hóa, thứ ngả về vô chính phủ và trong mọi trường hợp đều muốn bảo vệ cá nhân thân yêu khỏi bị hy sinh cho cái chung. Đó là cá nhân chủ nghĩa, vừa là cái này mà cũng lại là cái kia, một chữ dùng cho lắm điều.
Nhưng phải thừa nhận rằng cái bi cảm của tự do đã sinh ra những kẻ thù tự do rực rỡ nhất, những hiệp sĩ thông tuệ nhất của quá khứ trong cuộc chiến với sự tiến bộ phá rã không biết kính sợ. Và Naphta nêu Arndt, người nguyền rủa chủ nghĩa công nghiệp và tôn vinh đẳng cấp quý tộc, nêu Görres, người đã viết tác phẩm Thần bí Ki-tô giáo. Và chẳng lẽ thần bí lại không có gì dính dáng đến tự do ư? Chẳng lẽ nó lại không chống kinh viện, chống giáo điều, chống giáo quyền ư? Hẳn nhiên người ta buộc phải thấy trong hệ thống giáo phẩm một quyền lực của tự do, vì nó đã dựng một con đê ngăn trước nền quân chủ vô hạn chế. Nhưng thần bí học vào cuối thời Trung cổ đã chứng tỏ bản chất tự do của nó như người đi trước của cuộc Cải cách, - cuộc Cải cách, he, he, mà về phần mình lại là một mớ bòng bong không thể tháo gỡ giữa tự do và sự phản phục trung cổ...
Hành động của Luther... Ờ phải, nó có cái hơn là phô bày bằng một tính cụ thể thô ráp nhất bản chất đáng ngờ của chính hành động, của hành động nói chung. Liệu thính giả của Naphta có biết hành động là gì chăng? Một hành động, chẳng hạn, là vụ viên cố vấn quốc vụ Kotzebue bị chàng sinh viên hội đoàn Sand sát hại. Điều gì, nói theo ngôn ngữ hình sự học, đã “trao vũ khí vào tay” chàng Sand trẻ tuổi? Lòng say mê tự do, dĩ nhiên rồi. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, thì thật ra không hẳn là thế; đúng hơn, ấy là lòng cuồng tín đạo lý và mối căm ghét đối với thứ phù phiếm phản dân tộc. Tuy nhiên, đằng khác, Kotzebue lại phục vụ Nga, tức là phục vụ Liên minh Thần thánh; và như vậy, rốt cuộc Sand hẳn cũng đã nổ súng vì tự do, điều này dĩ nhiên lại trở nên khó tin một lần nữa bởi sự thực là trong số những người bạn thân cận nhất của chàng có cả các tu sĩ Dòng Tên. Tóm lại, hành động là gì mặc lòng, thì trong mọi trường hợp, nó vẫn là một phương tiện tồi để làm cho mình sáng tỏ, và đối với việc giải quyết những vấn đề tinh thần, nó cũng góp được rất ít.
“Tôi có được phép hỏi xem ngài có định sớm kết thúc những điều _nước đôi_ của mình không?”
Chính ông Settembrini đã hỏi như vậy, và hỏi với giọng gay gắt. Ông vẫn ngồi, những ngón tay gõ xuống mặt bàn, tay vặn ria mép. Giờ thì đủ rồi. Sự nhẫn nại của ông đã hết. Ông ngồi thẳng, còn hơn thẳng nữa: tái nhợt, ông như thể đang nhón cả mũi chân lên ngay trong lúc ngồi, đến nỗi chỉ còn hai bắp đùi chạm vào mặt ghế, và trong tư thế ấy, với đôi mắt đen lóe chớp, ông đương đầu với kẻ thù, kẻ vừa quay về phía ông bằng một vẻ kinh ngạc giả tạo.
“Ngài vừa muốn nói _thế nào_ cơ?” Naphta hỏi vặn lại...
“Tôi muốn nói,” người Ý đáp và nuốt xuống, “tôi muốn nói rằng tôi quyết ngăn ngài đừng quấy nhiễu lâu thêm nữa một tuổi trẻ không được che chở bằng những lời nước đôi của ngài!”
“Thưa ngài, tôi yêu cầu ngài liệu lời mà nói!”
“Một lời yêu cầu như thế, thưa ngài, là không cần. Tôi vốn quen liệu lời mà nói, và lời nói của tôi phù hợp chính xác với sự thật khi tôi tuyên bố rằng cách thức ngài dùng để làm cho tuổi trẻ vốn đã chao đảo thêm rối loạn về tinh thần, bị cám dỗ và suy nhược về đạo đức, là một sự _bỉ ổi_, và không lời lẽ nào đủ nghiêm để trừng phạt nó...”
Tới chữ “bỉ ổi”, Settembrini nện bàn bằng lòng bàn tay và, vừa xô ghế lùi lại, đứng bật hẳn dậy, dấu hiệu cho tất cả những người còn lại cũng làm như vậy. Từ các bàn khác, người ta ngoái nhìn sang, lắng tai nghe, thật ra chỉ từ một bàn thôi, vì các vị khách Thụy Sĩ đã ra về, và chỉ còn những người Hà Lan lắng nghe cuộc đấu khẩu vừa bùng nổ với những vẻ mặt đờ đẫn.
Thế là tất cả đều đứng thẳng đờ quanh bàn chúng tôi: Hans Castorp và hai đối thủ, đối diện họ là Ferge và Wehsal. Cả năm người đều tái mặt, mắt mở lớn, môi giật giật. Há chẳng phải ba người không can dự có thể thử can gián, dùng một câu bông đùa để tháo gỡ sự căng thẳng, dùng vài lời nói nhân tình mà xoay chuyển mọi sự về điều lành hay sao? Họ đã không làm thử điều ấy. Những hoàn cảnh nội tại ngăn họ lại. Họ đứng đó, run lên, và bàn tay họ bất giác siết chặt thành nắm đấm. Ngay cả A. K. Ferge, người mà mọi điều cao hơn, như chính ông tuyên bố, đều hoàn toàn xa lạ, và ngay từ đầu đã tuyệt nhiên từ bỏ việc cân nhắc tầm mức của cuộc tranh cãi, ngay cả ông ta cũng tin chắc rằng ở đây mọi sự đã thành một mất một còn, và rằng, đã bị cuốn vào cùng, thì chẳng thể làm gì khác hơn là để mặc sự việc đi theo đường của nó. Chòm ria hiền lành của ông rung lên hạ xuống dữ dội.
Im lặng ngự trị, nên người ta nghe thấy Naphta nghiến răng. Đối với Hans Castorp, đó là một kinh nghiệm tương tự như kinh nghiệm về mái tóc dựng đứng của Wiedemann: chàng từng nghĩ đó chỉ là một lối nói, chứ ngoài đời không hề có thật. Nhưng giờ đây Naphta quả thực đang nghiến răng trong im lặng, một âm thanh khủng khiếp khó chịu, hoang dã và dị thường, song dầu sao vẫn chứng tỏ một thứ tự chủ ghê gớm nào đó, vì hắn không thét lên, mà chỉ nói khe khẽ, cùng một thứ cười nửa hơi thở gấp:
“Bỉ ổi ư? Trừng phạt ư? Những con lừa đức hạnh đã giở thói húc người rồi sao? Đội cảnh binh giáo huấn của nền văn minh đã bị ta dồn tới mức tuốt gươm sáng loáng rồi sao? Tôi gọi đó là một thành công, cho bước đầu, mà lại còn là một thành công đạt được quá dễ, tôi xin thêm vào bằng giọng khinh bỉ, bởi chỉ một lời trêu chọc nhẹ hều thế thôi cũng đã đủ khiến cái cảm quan đức hạnh đang canh gác phải khoác giáp lên mình! Còn chuyện sau rồi sẽ có, thưa ngài. Cả sự ‘trừng phạt’ nữa, cả cái ấy nữa. Tôi mong rằng những nguyên tắc văn minh của ngài không cản ngài biết mình còn nợ tôi điều gì, bằng không tôi sẽ buộc phải đem những nguyên tắc ấy ra thử thách bằng những phương tiện mà...”
Một cử động gắt của ông Settembrini khiến hắn nói tiếp:
“À, tôi thấy rồi, điều đó sẽ không cần thiết. Tôi là chướng ngại của ngài, ngài là chướng ngại của tôi, được thôi, chúng ta sẽ chuyển việc phân xử cuộc bất đồng nho nhỏ này tới chỗ thích đáng. Hiện thời chỉ một điều thôi. Nỗi lo sợ sùng đạo của ngài đối với nhà nước khái niệm kinh viện của cuộc Cách mạng Jacobin nhìn thấy trong cách thức của tôi, cách khiến tuổi trẻ biết hoài nghi, xô đổ các phạm trù và tước các ý niệm khỏi phẩm giá đức hạnh học viện của chúng, một tội ác sư phạm. Nỗi lo ấy quả là có lý hơn cả mức cần thiết, bởi thứ nhân đạo của ngài kể như đã xong rồi, xin ngài cứ tin thế, xong rồi, hết thật rồi. Ngày nay nó chỉ còn là một cái đuôi sam, một sự nhạt nhẽo cổ điển chủ nghĩa, một _Ennui_ tinh thần gây nên những cơn ngáp co giật, và cuộc cách mạng mới, cuộc cách mạng _của chúng tôi_, thưa ngài, đang chuẩn bị quét dọn nó đi. Nếu chúng tôi, với tư cách những kẻ giáo dục, gieo rắc sự hoài nghi, sâu hơn nhiều so với điều mà sự khai sáng khiêm tốn của các ngài từng có thể mơ tới, thì chúng tôi rất rõ mình đang làm gì. Chỉ từ sự hoài nghi triệt để, từ cõi hỗn mang đạo lý, cái tuyệt đối mới phát sinh, nền khủng bố thiêng liêng mà thời đại cần đến. Ấy là để biện minh cho tôi và để giáo huấn ngài. Còn chuyện khác lại thuộc sang một trang khác. Ngài sẽ còn nghe tin tôi.”
“Ngài sẽ được nghe, thưa ngài!” Settembrini gọi với theo hắn, kẻ đã rời bàn và vội tới giá áo để chộp lấy bộ áo lông của mình. Rồi người Tam Điểm thả người nặng nề xuống ghế và ép hai tay lên tim.
“_Distruttore! Cane arrabbiato! Bisogna ammazzarlo!_” ông thốt ra, hơi thở ngắn gấp.
Những người khác vẫn còn đứng quanh bàn. Ria mép của Ferge vẫn tiếp tục rung lên hạ xuống. Wehsal xệch hẳn hàm dưới sang một bên. Hans Castorp bắt chước điệu chống cằm của ông nội, vì gáy chàng đang run bần bật. Tất cả đều nghĩ tới việc mình đã ngờ đâu, trong chuyến đi chơi này, lại có thể xảy ra những chuyện như thế. Tất cả, kể cả ông Settembrini, đồng thời cùng nghĩ rằng may mắn biết bao khi họ đã đến đây bằng hai xe trượt tuyết chứ không phải chung một xe. Trước mắt, điều ấy ít ra làm cho việc trở về được dễ dàng hơn. Nhưng rồi sau đó thì sao?
“Ông ấy đã thách đấu ngài,” Hans Castorp nói, ngực nặng trĩu.
“Đúng thế,” Settembrini đáp và ngước nhìn người đang đứng bên mình, rồi ngay sau đó lại quay đi, chống đầu lên tay.
“Ngài chấp nhận chứ?” Wehsal muốn biết...
“Ông còn phải hỏi ư?” Settembrini đáp và cũng nhìn ông ta trong chốc lát... “Thưa các ông,” ông nói tiếp và đứng dậy, hoàn toàn trấn tĩnh, “tôi lấy làm tiếc về kết cục của cuộc vui chúng ta, nhưng những sự cố như thế này là điều bất cứ người đàn ông nào trong đời cũng phải tính đến. Về mặt lý thuyết, tôi phản đối đấu tay đôi, tôi suy nghĩ theo pháp luật. Nhưng trong thực hành, lại là chuyện khác; và có những tình thế mà, những đối lập mà, nói tóm lại, tôi sẵn sàng đáp lại vị ấy. Thật may là thời trẻ tôi cũng từng đấu kiếm đôi chút. Chỉ vài giờ luyện tập là cổ tay tôi sẽ lại quen việc. Chúng ta đi thôi! Những điều cụ thể còn phải bàn định. Tôi đoán rằng vị kia đã ra lệnh thắng ngựa rồi.”
Hans Castorp có những lúc, trên đường về và cả sau đó, thấy đầu óc choáng váng trước tính chất quái đản của điều sắp xảy đến, nhất là khi rõ ra rằng Naphta không muốn nghe tới chuyện đao kiếm chém đâm gì cả, mà khăng khăng đòi đấu súng lục, và rằng chính hắn quả thật có quyền chọn vũ khí, vì theo những quan niệm của luật danh dự, hắn là người bị xúc phạm. Có những lúc, cứ nói vậy đi, chàng thanh niên đã có thể giải phóng tinh thần mình, ít nhiều, khỏi sự vướng mắc và mù mịt chung do những hoàn cảnh nội tại gây nên, và tự nhủ rằng đây quả là điên rồ, và người ta phải ngăn nó lại.
“Giá như ở đây có một sự lăng nhục thực sự!” chàng kêu lên trong cuộc trò chuyện với Settembrini, Ferge và Wehsal, kẻ mà ngay trên đường về Naphta đã lôi kéo làm người chuyển thư thách đấu và làm trung gian giữa hai bên. “Một sự mạ lỵ theo nghĩa dân sự, xã hội! Giá như người này đã lôi cái tên lương thiện của người kia xuống bùn, giá như ở đây dính tới một người đàn bà, tới một tai ách đời sống cụ thể nào đó mà người ta không còn thấy khả năng điều giải! Được, trong những trường hợp như thế, đấu tay đôi là lối thoát cuối cùng, và nếu rồi danh dự được thỏa đáng, sự việc lại trôi qua êm thắm, và người ta nói: hai đối thủ chia tay nhau trong hòa giải, thì thậm chí còn có thể cho rằng đó là một định chế tốt, hữu ích và thiết thực trong những trường hợp rối ren nhất định. Nhưng hắn đã làm gì? Tôi đâu có định bênh hắn, tôi chỉ hỏi hắn đã làm gì để xúc phạm ngài. Hắn đã xô đổ các phạm trù. Hắn đã, như chính hắn nói, tước các khái niệm khỏi phẩm giá học viện của chúng. Vì thế mà ngài cảm thấy bị xúc phạm, cứ tạm giả định là như vậy, và là có lý...”
“Tạm giả định?” ông Settembrini lặp lại và nhìn chàng...
“Có lý, có lý! Hắn đã xúc phạm ngài bằng cách ấy. Nhưng hắn không mạ lỵ ngài! Xin cho phép tôi nói rằng đó là hai điều khác nhau! Ở đây đang nói đến chuyện trừu tượng, chuyện tinh thần. Người ta có thể xúc phạm bằng những điều tinh thần, nhưng không thể mạ lỵ bằng chúng. Đó là một nguyên tắc mà bất cứ tòa danh dự nào cũng sẽ thừa nhận, tôi có thể thề với ngài như thế. Và bởi vậy, cả điều ngài đáp lại hắn bằng ‘bỉ ổi’ và ‘trừng phạt nghiêm khắc’, cũng không phải là sự mạ lỵ, bởi điều ấy cũng được hiểu theo nghĩa tinh thần; mọi sự đều nằm trong phạm vi tinh thần và hoàn toàn không dính dáng gì tới cái cá nhân, trong khi sự mạ lỵ chỉ có thể tồn tại duy nhất ở đó. Điều tinh thần không bao giờ có thể là chuyện cá nhân, ấy là sự hoàn chỉnh và soi sáng thêm cho nguyên tắc ấy, và vì thế...”
“Anh nhầm rồi, bạn tôi ạ,” ông Settembrini đáp, mắt nhắm lại. “Anh nhầm, trước hết là trong giả định rằng điều tinh thần không thể mang tính cách cá nhân. Anh không nên nghĩ thế,” ông nói và mỉm cười một cách kỳ lạ, tinh tế và đau đớn. “Nhưng trên hết, anh sai trong cách đánh giá của anh về chính điều tinh thần nói chung, cái mà rõ ràng anh cho là quá yếu để có thể gây nên những xung đột và đam mê cứng rắn ngang với những gì đời sống hiện thực mang theo, những thứ không để lại lối thoát nào khác ngoài việc cầm vũ khí. _All’ incontro!_ Cái trừu tượng, cái đã được thanh lọc, cái ý niệm, đồng thời cũng là cái tuyệt đối, và do đó là cái nghiêm ngặt đích thực, nó hàm chứa những khả năng thù hận, đối địch vô điều kiện và không thể hòa giải, sâu xa và triệt để hơn đời sống xã hội rất nhiều. Anh có lấy làm lạ rằng chính nó còn dẫn trực tiếp và không khoan nhượng hơn cả đời sống xã hội tới tình thế hoặc anh hoặc tôi, tới tình thế triệt để đích thực, tức là tới cuộc đấu tay đôi, tới cuộc chiến thể xác, không? Đấu tay đôi, bạn tôi ạ, không phải là một ‘định chế’ như những định chế khác. Nó là điều cuối cùng, là sự quay trở lại trạng thái nguyên sơ của tự nhiên, chỉ được làm dịu đi đôi chút bởi một sự quy định mang tính hiệp sĩ nào đó, mà kỳ thực rất hời hợt. Cái cốt yếu của tình thế vẫn là cái tuyệt đối nguyên thủy, cuộc chiến thể xác, và bổn phận của mỗi người đàn ông là phải giữ cho mình đủ sức đương đầu với tình thế ấy, dẫu đã xa tự nhiên đến đâu. Anh ta có thể rơi vào đó mỗi ngày. Ai không thể vì điều lý tưởng mà đứng ra bằng chính con người mình, cánh tay mình, máu mình, thì không xứng với nó, và điều quan trọng là giữa mọi sự tinh thần hóa vẫn phải giữ mình là một người đàn ông.”
Thế là Hans Castorp đã nhận được lời quở trách của mình. Còn có thể đáp gì vào đó nữa? Chàng im lặng, trầm ngâm nặng nề. Những lời của Settembrini nghe đĩnh đạc và lôgic, thế nhưng phát ra từ miệng ông, chúng vẫn mang một âm hưởng xa lạ và trái tự nhiên. Những ý nghĩ ấy đâu phải những ý nghĩ của ông, cũng như chính ông thoạt đầu nào đã tự mình nảy ra ý tưởng quyết đấu, ông chỉ tiếp nhận nó từ gã Naphta bé nhỏ mang tính khủng bố; chúng là biểu hiện của sự bị bao vây bởi những hoàn cảnh nội tại chung, mà trí tuệ đẹp đẽ của ông Settembrini đã trở thành kẻ nô lệ và công cụ. Sao cơ, cái tinh thần, chỉ vì nó nghiêm ngặt, lại phải không khoan nhượng dẫn tới cái thú tính, tới việc phân xử bằng cuộc chiến thể xác ư? Hans Castorp chống lại điều đó, hay ít nhất cũng cố chống lại, chỉ để kinh hoàng nhận ra rằng chàng cũng không làm nổi. Những hoàn cảnh nội tại ấy cũng mạnh mẽ trong chính chàng, chàng cũng không phải hạng người có thể thoát khỏi chúng. Từ cái miền ký ức kia, nơi Wiedemann và Sonnenschein đang lăn lộn trong một cuộc vật lộn thú vật đầy bối rối vô phương, có cái gì khủng khiếp và tối hậu thổi ập tới chàng, và chàng kinh hãi hiểu ra rằng ở tận cùng của mọi sự, rốt cuộc chỉ còn lại cái thể xác, những móng tay, những hàm răng. Phải, phải rồi, hẳn là người ta phải đánh nhau thôi, bởi chỉ như vậy ít ra mới còn cứu vãn được sự làm dịu trạng thái nguyên sơ ấy bằng quy tắc hiệp sĩ... Hans Castorp tự nguyện làm người phụ tá cho ông Settembrini.
Điều ấy bị khước từ. Không, không hợp, không tiện, người ta trả lời chàng như vậy, trước tiên là ông Settembrini, với một nụ cười tinh tế và đau đớn, rồi sau một thoáng suy nghĩ ngắn, cả Ferge lẫn Wehsal cũng nói thế, họ cũng đều cho rằng Hans Castorp không thể tham dự cuộc đấu với tư cách ấy. Cùng lắm, với tư cách một người công tâm, vì sự hiện diện của hạng người như vậy dĩ nhiên cũng thuộc vào những sự giảm nhẹ mang tính hiệp sĩ đã được quy định đối với cái thú tính, chàng có thể có mặt tại nơi đấu. Chính Naphta cũng cho biết ý theo chiều ấy qua miệng người đại diện danh dự của mình là Wehsal, và Hans Castorp bằng lòng. Là nhân chứng hay là người công tâm, trong mọi trường hợp chàng cũng có được khả năng tác động tới việc định ra các thể thức, điều sau đó tỏ ra là hết sức cần thiết.
Bởi Naphta quả đã hoàn toàn vượt khỏi mọi khuôn phép trong những đề nghị của y. Y đòi khoảng cách năm bước và, nếu cần, bắn đổi đạn ba lượt. Cơn điên rồ ấy, ngay tối hôm cuộc bất hòa xảy ra, y đã cho Wehsal đem sang, mà Wehsal thì đã hoàn toàn biến mình thành cái miệng lưỡi và đại diện cho những quyền lợi hung bạo của y, vừa theo ủy thác, vừa hẳn cũng theo đúng sở thích riêng, cố chấp đến cùng với những điều kiện như vậy. Dĩ nhiên Settembrini chẳng phản đối gì, nhưng Ferge, với tư cách người phụ tá, và Hans Castorp, kẻ đứng ngoài công tâm, thì phẫn nộ đến cực độ, đến nỗi chính Hans còn nổi nóng thô bạo với tên Wehsal khốn kiếp ấy. Hắn không thấy xấu hổ hay sao, chàng hỏi, khi moi ra những chuyện ghê gớm như thế trong một cuộc đấu tay đôi hoàn toàn trừu tượng, vốn chẳng hề có sự xúc phạm danh dự nào trong đời thực làm căn nguyên! Súng ngắn đã là quá quắt lắm rồi, ấy thế mà còn thêm những chi tiết giết người kia nữa. Thế thì tinh thần hiệp sĩ còn gì, và sao không bắn ngay qua chiếc khăn mùi soa cho xong! Chính hắn thử đứng ở khoảng cách ấy mà cho người ta nổ súng vào mình xem, chứ bởi đâu cơn khát máu lại dễ dàng tuôn khỏi môi hắn đến thế, và còn nữa. Wehsal nhún vai, lặng thinh ngụ ý rằng tình thế triệt để đây đã hiện ra rồi, và bằng thế, theo một nghĩa nào đó, làm cho phía bên kia, vốn có phần muốn quên điều ấy đi, bị tước mất khí giới. Dầu sao, qua bao phen đi đi lại lại trong ngày hôm sau, phía này cuối cùng cũng xoay xở được, trước hết giảm chuyện bắn đổi đạn ba lượt xuống còn một, rồi điều chỉnh vấn đề khoảng cách sao cho hai đấu thủ đứng đối diện nhau cách mười lăm bước, và được quyền tiến lên năm bước trước khi nổ súng. Nhưng ngay cả như thế cũng chỉ đạt được với điều kiện bảo đảm rằng sẽ không có một cố gắng hòa giải nào được tiến hành. Vả lại, người ta còn chưa có súng ngắn.
Herr Albin có súng. Ngoài khẩu súng lục nhỏ sáng loáng mà ông ta thích dùng để dọa các quý bà, ông ta còn sở hữu một cặp súng sĩ quan song sinh, nằm trên lớp nhung trong cùng một chiếc hộp, xuất xứ từ Bỉ: hai khẩu Browning tự động với báng gỗ nâu, nơi đặt ổ tiếp đạn, thân máy thép xanh ánh và những nòng súng tiện bóng, trên đầu nòng gắn thước ngắm nhỏ, thanh và gọn. Hans Castorp từng có lần nào đó trông thấy chúng ở chỗ gã ba hoa ấy, và đã ngỏ ý, trái với niềm xác tín của mình, chỉ vì bị hoàn cảnh cuốn lôi, muốn mượn chúng. Chàng làm việc ấy, nói thẳng không giấu mục đích sự việc, nhưng bọc mục đích ấy trong bí mật danh dự cá nhân và, với một mức thành công vừa phải, đánh vào tinh thần hào hiệp của gã khoác lác. Herr Albin thậm chí còn chỉ cho chàng cách nạp đạn, và cùng chàng ra ngoài trời bắn thử đui từ cả hai khẩu.
Mọi sự ấy ngốn mất thời giờ, thành thử cho tới cuộc hẹn, hai ngày và ba đêm đã trôi qua. Địa điểm gặp mặt là sáng kiến của Hans Castorp: đó là chốn đẹp như tranh, mùa hè nở hoa xanh, nơi ẩn cư riêng tư của chàng, mà chàng đã đưa ra làm đề nghị. Tại đây, vào buổi sáng thứ ba kể từ sau cuộc cãi vã, ngay khi trời vừa đủ sáng, vụ việc sẽ phải được giải quyết. Chỉ đến tối hôm trước, khá khuya, Hans Castorp, đang vô cùng kích động, mới chợt nảy ra ý nghĩ rằng hẳn còn cần phải đưa theo một bác sĩ ra bãi đấu.
Chàng lập tức bàn điểm ấy với Ferge, và nó tỏ ra cực kỳ khó xử. Radamanth tuy đã từng là sinh viên đoàn thể, nhưng không thể nào lại đi cầu viện vị thủ trưởng cơ sở này để tiếp tay cho một việc trái pháp luật như thế, nhất là khi đây lại là chuyện của các bệnh nhân. Thật ra, hầu như chẳng có hy vọng tìm thấy ở đây một bác sĩ nào sẵn lòng dính tay vào một cuộc đấu súng giữa hai người bệnh nặng. Còn về Krokowski, thì ngay đến chuyện cái đầu óc tinh thần chủ nghĩa ấy có thật vững vàng trong việc chữa thương hay không, cũng chưa lấy gì làm chắc.
Wehsal, được gọi tới, cho biết Naphta đã tỏ ý rồi, mà ý ấy là: y không muốn có bác sĩ. Y không đến nơi ấy để được xoa thuốc và quấn băng, mà để đánh nhau, và là đánh nhau một cách hết sức nghiêm chỉnh. Sau đó ra sao, y chẳng bận tâm, rồi đâu sẽ vào đấy. Đó nghe như một lời tuyên bố u ám; nhưng Hans Castorp cố hiểu nó theo nghĩa rằng Naphta thầm nghĩ sẽ chẳng cần tới bác sĩ đâu. Chẳng phải chính Settembrini, qua Ferge được phái sang, cũng đã cho biết rằng nên gạt vấn đề ấy đi, nó không làm ông bận lòng sao? Không phải là hoàn toàn phi lý khi hy vọng rằng, tự trong đáy lòng, hai đối thủ đều đồng thuận ở ý định sẽ không để xảy ra đổ máu. Họ đã ngủ hai đêm kể từ sau cuộc đôi co ấy, và sẽ còn ngủ thêm đêm thứ ba. Thời gian làm nguội, làm sáng; một trạng thái tâm hồn nhất định không thể đứng vững nguyên vẹn trước dòng giờ khắc trôi qua. Sáng mai, khi súng đã cầm trong tay, không ai trong hai người tranh chấp còn là chính con người của buổi tối bất hòa hôm nọ nữa. Nhiều lắm thì họ chỉ còn hành động một cách máy móc và do cưỡng bách của danh dự, chứ không phải theo ý chí tự do hiện tại, như khi trước kia họ từng hành động từ khoái cảm và xác tín; mà một sự chối bỏ cái tôi hiện thời của mình để nhường cho cái mình đã từng là ấy, dẫu sao cũng phải có cách ngăn lại chứ!
Hans Castorp không sai trong lối suy nghĩ của chàng, chỉ có điều, than ôi, chàng đúng theo một cách mà chàng không thể nào mường tượng nổi. Thậm chí chàng hoàn toàn đúng, ít nhất là trong trường hợp Herr Settembrini. Nhưng giả như chàng thoáng linh cảm được Leo Naphta sẽ thay đổi ý định của mình cho đến sát giây phút quyết định, hay sẽ đổi ý ngay chính trong giây phút ấy, theo một nghĩa nào, thì ngay cả những hoàn cảnh nội tâm sản sinh ra tất cả chuyện này cũng đã không thể khiến chàng dung cho điều sắp xảy đến diễn ra.
Bảy giờ, mặt trời còn xa mới nhô lên khỏi ngọn núi của nó, nhưng trời đã đang rạng ra một cách nặng nề, như khói bốc, khi Hans Castorp, sau một đêm trằn trọc, rời nhà Berghof để đi tới nơi hẹn. Mấy cô hầu đang lau dọn tiền sảnh, ngạc nhiên ngẩng lên khỏi công việc nhìn theo chàng. Nhưng chàng thấy cổng chính không còn khóa nữa: hẳn Ferge và Wehsal, riêng rẽ hay cùng nhau, đã đi qua đó rồi, người này để đón Settembrini, người kia để đón Naphta tới bãi đấu. Còn chàng, Hans, đi một mình, vì tư cách đứng ngoài công tâm không cho phép chàng ngả về một trong hai phía.
Chàng bước đi một cách máy móc và do cưỡng bách của danh dự, dưới sức ép của hoàn cảnh. Việc chàng có mặt trong cuộc chạm trán ấy là một điều tất yếu hiển nhiên. Không thể nào tự gạt mình ra và nằm chờ kết cục ở trên giường được, thứ nhất, vì... nhưng cái thứ nhất ấy chàng không nói tiếp, mà lập tức thêm vào cái thứ hai: rằng nói chung không được để mặc sự việc cho chính nó. Cho tới lúc này, tạ ơn trời, vẫn chưa có gì ghê gớm xảy ra, và cũng không nhất thiết phải có gì ghê gớm xảy ra, thậm chí điều ấy còn là khó xảy ra. Người ta đã phải dậy dưới ánh đèn nhân tạo, và giờ đây phải tụ tập ngoài trời, lúc sáng sớm giá buốt đắng cay, khi chưa ăn sáng, vì đã hẹn như thế rồi. Nhưng rồi, dưới tác động của sự hiện diện của chính chàng, của Hans Castorp, hẳn đâu đó mọi việc sẽ xoay sang điều lành và vui vẻ, theo một cách chưa thể đoán trước, và tốt hơn là đừng cố đoán, vì kinh nghiệm cho thấy ngay cả một diễn biến khiêm tốn nhất cũng đi khác hẳn cái cách người ta cố hình dung trước về nó.
Tuy vậy, đó vẫn là buổi sáng khó chịu nhất trong ký ức chàng. Mệt lả và thiếu ngủ, Hans Castorp gần như run răng vì thần kinh, và ngay ở tầng sâu chưa mấy xa của bản thể mình, chàng đã rất bị cám dỗ phải ngờ vực những lời tự trấn an. Quả là những thời buổi thật khác thường... Người đàn bà từ Minsk bị cãi cọ làm tan nát, cậu học trò lên cơn điên, Wiedemann và Sonnenschein, vụ tát tai của người Ba Lan, tất cả hỗn loạn kéo qua tâm trí chàng. Chàng không thể hình dung nổi rằng ngay trước mắt mình, khi mình có mặt ở đây, hai người lại nổ súng vào nhau, làm nhau bê bết máu. Nhưng khi chàng nghĩ đến điều đã trở thành sự thật trước chính mắt chàng giữa Wiedemann và Sonnenschein, chàng lại mất lòng tin vào bản thân và vào thế giới của mình, rùng mình trong chiếc áo lông, trong khi, dẫu sao đi nữa, và giữa tất cả những điều ấy, một cảm giác về tính phi thường và vẻ bi tráng của hoàn cảnh, hợp cùng những yếu tố cường kiện của không khí ban mai, vẫn nâng chàng lên và làm chàng tỉnh táo.
Giữa những cảm giác và ý nghĩ pha tạp, thay đổi như thế, chàng đi lên trong ánh sáng nửa tối, đang dần tỏ hơn, ở khu “Làng”, từ miệng đường trượt băng theo một lối hẹp nhất men sườn dốc, tới khu rừng phủ tuyết dày, băng qua những chiếc cầu gỗ bên dưới là đường băng chạy xuống, rồi lội tiếp giữa các thân cây trên một con đường có lẽ do dấu chân tạo ra nhiều hơn là do xẻng xúc. Vì đi vội, chẳng bao lâu chàng đã bắt kịp Settembrini và Ferge, người dùng một tay giữ chặt chiếc hộp súng dưới tấm áo đi xe đạp của mình. Hans Castorp không ngần ngại nhập vào với họ, và vừa đến bên cạnh, chàng đã trông thấy Naphta và Wehsal ở phía trước, chỉ hơn một quãng ngắn.
“Sáng lạnh quá, ít ra cũng phải âm mười tám độ,” chàng nói với thiện ý, nhưng chính mình lại hoảng vì sự bỡn cợt trong lời ấy, và thêm ngay: “Thưa các ông, tôi tin chắc...”
Những người kia im lặng. Ferge để bộ ria mép hiền lành của mình nhích lên rồi hạ xuống. Một lúc sau, Settembrini đứng lại, nắm lấy tay Hans Castorp, rồi đặt cả tay kia lên nữa, và nói:
“Bạn tôi, tôi sẽ không giết người. Tôi sẽ không làm thế. Tôi sẽ đứng ra đón viên đạn của ông ta, đó là tất cả những gì danh dự có thể đòi ở tôi. Nhưng tôi sẽ không giết người, anh cứ tin điều ấy!”
Ông buông tay ra và đi tiếp. Hans Castorp cảm động sâu xa, nhưng sau vài bước vẫn nói:
“Điều đó nơi ông thật là cao đẹp lạ lùng, Herr Settembrini, chỉ có điều, mặt khác... Nếu như phần ông ấy...”
Herr Settembrini chỉ lắc đầu. Và vì Hans Castorp nghĩ rằng nếu một người không bắn, thì người kia hẳn cũng không thể nào nỡ ra tay được, nên chàng thấy mọi sự dường như khởi đầu thuận lợi, và những giả định của mình bắt đầu được xác nhận. Lòng chàng nhẹ hẳn đi.
Họ qua chiếc cầu nhỏ bắc ngang khe núi, nơi mùa hè con thác giờ đây đã im tiếng trong cơn đông cứng từng đổ xuống, và chính nó góp phần nhiều đến vẻ đẹp như tranh của nơi này. Naphta và Wehsal đang đi đi lại lại trong tuyết trước chiếc ghế băng lót những tấm đệm trắng dày, nơi xưa kia Hans Castorp, giữa những hồi ức khác thường sống động, đã từng phải chờ cho cơn chảy máu cam của mình dứt hẳn. Naphta hút thuốc lá, và Hans Castorp tự xét xem mình có muốn làm như thế không, nhưng không tìm thấy trong bản thân một chút khuynh hướng nào như vậy, bèn kết luận rằng thế thì ở người kia điều ấy hẳn càng chỉ là sự làm bộ. Với niềm ưa thích vốn vẫn luôn có ở đây, chàng đưa mắt ngắm chung quanh cái vẻ thân mật táo bạo của chốn ấy, nơi trong hoàn cảnh băng giá này cũng không kém phần đẹp đẽ so với thời kỳ hoa xanh của nó. Thân và cành của cây linh sam vươn chéo vào khung cảnh đều nặng oằn tuyết phủ.
“Chào buổi sáng!” chàng cất tiếng bằng giọng tươi tỉnh, mong lập tức đưa vào cuộc tụ họp một âm điệu tự nhiên, thứ có thể giúp xua tan điều dữ, nhưng không gặp may, vì chẳng ai đáp lại. Những lời chào trao đổi giữa họ chỉ là những cái cúi đầu câm lặng, cứng đến gần như vô hình. Tuy thế, chàng vẫn quyết ý phải lập tức dùng cho mục đích tốt đẹp cái nhịp cử động lúc mới đến, cái hơi thở đang dâng ấm áp, cái hơi nóng mà quãng đường đi nhanh trong buổi sáng mùa đông đã truyền cho chàng, và bắt đầu:
“Thưa các ông, tôi tin chắc...”
“Ông sẽ trình bày những điều ông tin chắc vào dịp khác,” Naphta lạnh lùng cắt ngang lời chàng. “Xin đưa vũ khí,” y thêm với cùng một vẻ ngạo mạn. Và Hans Castorp, bị chặn họng, đành phải đứng nhìn Ferge lôi chiếc hộp tai hại ấy ra khỏi dưới áo choàng, còn Wehsal, đã bước tới bên ông, nhận từ tay Ferge một khẩu súng lục để trao lại cho Naphta. Settembrini nhận khẩu kia từ tay Ferge. Sau đó người ta phải nhường chỗ; Ferge lẩm bẩm xin mọi người làm vậy, rồi bắt đầu bước đo các khoảng cách và đánh dấu cho thấy rõ: giới hạn ngoài thì ông dùng gót giày cào những vạch ngắn trên tuyết, còn những rào mốc bên trong thì bằng hai cây gậy dạo, của chính ông và của Settembrini.
Người chịu đựng hiền lành ấy, ông đang bận bịu làm gì vậy? Hans Castorp không tin nổi mắt mình. Ferge chân dài, sải bước khá rộng, nên chí ít mười lăm bước kia cũng thành ra một quãng cách đáng kể, dẫu ở đó vẫn còn những cái rào chết tiệt ấy, mà thật tình thì nằm chẳng xa nhau mấy. Hẳn nhiên, ông có ý ngay thật. Nhưng dẫu sao, dưới sức ép của cơn mù sương nào mà ông lại hành động như vậy, khi lo liệu những điều có ý nghĩa ghê gớm đến thế?
Naphta, đã quẳng chiếc áo lông của mình xuống tuyết để lộ lớp lót chồn nâu, tay cầm súng lục, bước ra đứng vào một trong những vạch gót giày ngoài cùng ngay khi nó vừa được kẻ xong, trong lúc Ferge còn đang bận làm những dấu mốc khác. Khi mọi thứ hoàn tất, Settembrini, để mở chiếc áo lông cũ rách, cũng vào vị trí của mình. Hans Castorp giật mình thoát khỏi một cơn tê liệt và lại hấp tấp bước lên lần nữa.
“Thưa các ông,” chàng nói, giọng khẩn thiết, “xin đừng hấp tấp! Dù thế nào thì bổn phận của tôi...”
“Im đi!” Naphta thét lên, sắc lạnh. “Tôi muốn có hiệu lệnh.”
Nhưng không ai phát hiệu lệnh cả. Điều ấy đã không được sắp đặt cho ổn thỏa. Hẳn người ta định phải hô lên: “Bắt đầu!”, chỉ có điều chuyện kẻ đứng ngoài công tâm sẽ là người phải cất ra lời thúc giục khủng khiếp ấy thì đã không được nghĩ tới, và trong mọi trường hợp cũng chẳng hề được nói ra. Hans Castorp im bặt, và không ai nhảy vào thay chàng.
“Chúng ta bắt đầu!” Naphta tuyên bố. “Xin ông tiến lên và bắn đi!” y gọi vọng sang phía đối thủ, còn chính mình cũng bắt đầu bước tới, cánh tay duỗi thẳng, chĩa khẩu súng vào Settembrini ngang tầm ngực, một cảnh tượng khó tin. Settembrini cũng làm như thế. Đến bước thứ ba, trong khi người kia, không nổ súng, đã tới sát rào mốc rồi, ông bèn nâng khẩu súng lên rất cao và bóp cò. Tiếng nổ sắc gọn đánh thức muôn vàn tiếng vọng. Núi non ném qua ném lại âm vang và dội vang cho nhau, thung lũng rền lên vì nó, và Hans Castorp nghĩ hẳn mọi người sẽ đổ xô đến nơi.
“Ông đã bắn lên trời,” Naphta nói một cách điềm tĩnh, đồng thời hạ vũ khí xuống.
Settembrini đáp:
“Tôi bắn vào đâu là quyền của tôi.”
“Ông sẽ còn phải bắn thêm một lần nữa!”
“Tôi không hề nghĩ tới chuyện ấy. Đến lượt ông.” Herr Settembrini, đầu ngẩng cao, mắt ngước lên trời, đã hơi xoay nghiêng người về phía bên kia, chứ không đứng chính diện hẳn, một điều trông thật cảm động. Người ta nhận ra rất rõ rằng ông đã nghe lời dặn không nên phô trọn bề ngang của mình cho đối thủ, và rằng ông đang hành động theo lời chỉ dẫn ấy.
“Đồ hèn nhát!” Naphta gào lên, và bằng tiếng kêu bộc lộ tính người ấy, y đã thừa nhận rằng bóp cò đòi hỏi nhiều can đảm hơn là để cho người khác bắn vào mình; rồi y nâng khẩu súng lên theo một cách không còn gì dính dáng đến giao đấu nữa, và tự bắn vào đầu.
Một cảnh tượng thảm hại, không thể nào quên! Y loạng choạng, hay ngã nhào, trong khi núi non chơi trò tung bắt với tiếng nổ sắc lạnh của hành vi tội lỗi ấy, lùi lại mấy bước, hai chân văng về phía trước, toàn thân quăng thành một vòng xoay sang phải, rồi đổ sấp mặt xuống tuyết.
Mọi người đứng sững trong một thoáng. Settembrini, sau khi quăng phắt súng đạn của mình ra thật xa, là người đầu tiên đến bên ông.
“_Infelice!_” ông kêu lên. “_Che cosa fai per l’amor di Dio!_”
Hans Castorp giúp ông lật thi thể lại. Họ trông thấy cái lỗ đỏ đen bên thái dương. Họ nhìn vào một khuôn mặt mà tốt hơn cả là nên phủ lên bằng chiếc khăn tay lụa, một góc khăn còn thò ra từ túi ngực của Naphta.
Tiếng sét
Bảy năm Hans Castorp đã ở lại với những người trên này, – chẳng phải một con số tròn trĩnh gì đối với những tín đồ của hệ thập phân, nhưng dẫu sao vẫn là một con số tốt, gọn ghẽ theo lối riêng của nó, một khối thời gian vừa huyền thoại vừa có vẻ tạo hình, có thể nói thế, làm tâm hồn thỏa mãn hơn chẳng hạn một nửa tá khô khan. Chàng đã ngồi ở cả bảy bàn trong phòng ăn, mỗi bàn chừng một năm. Sau rốt chàng ngồi ở bàn Nga tồi, cùng với hai người Armenia, hai người Phần Lan, một người Bukhara và một người Kurd. Chàng ngồi đó với một nhúm râu nhỏ mà trong khi ấy chàng đã để lại, một chòm râu cằm vàng rơm, hình dạng khá khó xác định, mà chúng ta buộc phải xem là bằng chứng cho một thứ thản nhiên triết học nào đó đối với diện mạo của mình. Phải, ta còn phải đi xa hơn và gắn cái ý niệm về một thiên hướng cá nhân muốn bỏ mặc bản thân ấy với một thiên hướng tương tự của ngoại giới trong quan hệ với chàng. Nhà chức trách đã thôi nghĩ ra những trò tiêu khiển cho chàng. Ngoài câu hỏi ban sáng xem chàng có ngủ “ngon” không, nhưng đó vốn chỉ là câu hỏi tu từ và được nêu một cách chiếu lệ, vị Cố vấn Cung đình không còn đặc biệt nói với chàng mấy nữa, và Adriatica von Mylendonk cũng vậy (vào thời gian chúng ta đang nói đây, bà đang mang một hột lẹo đã chín già). Xét kỹ ra, việc ấy hiếm lắm, nếu không phải là chẳng bao giờ. Người ta để yên chàng – hơi giống một học sinh được hưởng cái đặc ân kỳ quặc và vui đáo để là không còn bị gọi lên nữa, không còn phải làm gì nữa, bởi chuyện lưu ban của nó đã là điều quyết định và bởi nó không còn được tính đến nữa, – một hình thức tự do mang tính cuồng hoan, như ta xin thêm vào, đồng thời tự hỏi liệu tự do có khi nào lại có thể mang một hình thức hay bản chất nào khác ngoài chính hình thức ấy chăng. Dẫu sao thì ở đây có một kẻ mà từ nay nhà chức trách không cần phải dõi theo bằng con mắt chăm nom nữa, vì chắc chắn rằng trong lồng ngực chàng sẽ không còn chín muồi những quyết ý hoang dại và bướng bỉnh nào nữa, – một kẻ đã yên bề và chung cuộc, đã từ lâu chẳng còn biết mình còn có thể đi đâu khác, kẻ hoàn toàn không còn đủ sức nắm bắt nổi ngay cả ý nghĩ trở về miền đồng bằng nữa... Há chẳng phải riêng sự kiện chàng bị chuyển sang bàn Nga tồi đã bộc lộ một mức độ nào đó của sự chẳng mấy bận tâm đối với con người chàng hay sao? Mà nói vậy tuyệt nhiên không phải để hạ thấp cái gọi là bàn Nga tồi! Giữa bảy cái bàn ấy không hề có bất cứ ưu thế hay bất lợi nào có thể nắm bắt được. Mạnh miệng mà nói, đó là một nền dân chủ của những bàn danh dự. Chính những bữa ăn phong phú quá đỗi ấy cũng được dọn ở bàn này như ở mọi bàn khác; và chính Rhadamanthys đôi khi, theo phiên, cũng chắp đôi bàn tay khổng lồ trước đĩa của mình ở đó; còn những dân tộc ngồi ăn quanh bàn đều là những thành viên đáng kính của nhân loại, dẫu họ không hiểu tiếng Latin và khi ăn không quá mực kiểu cách.
Thời gian, thứ không thuộc về giống những chiếc đồng hồ nhà ga, nơi kim lớn rơi giật từng nấc, năm phút một, mà gần hơn với giống những chiếc đồng hồ bé tí kia, nơi sự vận động của kim hoàn toàn khuất mắt, hoặc như cỏ, chẳng có con mắt nào trông thấy nó mọc, dẫu nó vẫn âm thầm mọc lên, điều mà rồi một ngày kia không còn có thể phủ nhận được nữa; thời gian, một đường thẳng được hợp thành toàn những điểm không có quảng độ (mà ở đây Naphta, đáng buồn thay đã khuất, hẳn sẽ hỏi làm sao toàn những cái không có quảng độ ấy lại xoay xở sinh ra được một đường thẳng): vậy thì thời gian, theo cái lối bí mật, khó nhận ra và tuy thế vẫn cần mẫn của nó, đã cứ tiếp tục làm nảy sinh những biến đổi. Chẳng hạn như cậu bé Teddy, để chỉ nêu một ví dụ, đến một ngày kia – nhưng dĩ nhiên không phải là “đến một ngày kia”, mà là không biết tự ngày nào – không còn là cậu bé nữa. Các bà không thể cho cậu ngồi lên lòng mình nữa, khi thi thoảng cậu đứng dậy, thay bộ pyjama bằng bộ đồ thể thao rồi đi xuống. Một cách không ai nhận thấy, thế cờ đã đổi chiều; vào những dịp như thế chính cậu lại bế các bà lên lòng mình, và điều ấy khiến cả đôi bên thích thú ngang nhau, thậm chí còn hơn trước. Cậu đã thành một chàng trai trẻ – ta đừng nói là nở rộ, nhưng quả đã vống lên: Hans Castorp không trông thấy điều đó, nhưng chàng đã trông thấy nó. Vả lại thời gian và sự lớn vọt ấy chẳng hợp gì với chàng trai Teddy; cậu không phải hạng người sinh ra để chịu đựng chúng. Cái thuộc về thời gian đã không chúc phúc cho cậu, – năm hai mươi mốt tuổi cậu chết vì chính căn bệnh mà trước đây cậu đã tỏ ra dễ thu nhận, và người ta lục soát căn phòng của cậu. Chúng ta kể điều ấy bằng giọng bình thản, vì giữa tình trạng mới của cậu và tình trạng cũ thật ra không có khác biệt gì lớn.
Nhưng còn xảy ra những cái chết nặng ký hơn, những cái chết ở miền đồng bằng, liên hệ gần gũi hơn tới người anh hùng của chúng ta, hay ít nhất xưa kia hẳn đã gần gũi hơn với chàng. Chúng ta nghĩ tới cái chết mới đây của lão Konsul Tienappel, bác cố của Hans và người cha nuôi nay ký ức đã nhạt màu. Ông cụ đã hết sức cẩn trọng tránh né những điều kiện áp suất không khí bất lợi và để mặc chú James đi làm trò xấu hổ trong ấy; nhưng rốt cuộc ông cụ vẫn không thể trốn thoát mãi cơn trúng phong, và tin báo ngắn gọn theo lối điện tín về sự qua đời của ông – ngắn gọn mà vẫn dịu dàng, dè dặt, dịu dàng và dè dặt với người đã khuất còn hơn với kẻ nhận tin – một ngày kia đã được chuyển lên tới chiếc ghế nằm tuyệt hảo của Hans Castorp, khiến chàng đi mua giấy viền đen và viết cho những người anh em họ bậc chú rằng chàng, một đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, nay hẳn lại phải xem mình như bị mồ côi thêm một lần nữa, thành ra mồ côi đến ba bận, và vì thế lại càng đau buồn hơn bởi chàng bị ngăn trở và cấm không được gián đoạn cuộc lưu trú ở đây để đưa tang người bác cố đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Nói tới tang thương thì hẳn là tô hồng sự việc, tuy nhiên trong những ngày ấy mắt Hans Castorp vẫn mang một vẻ đăm chiêu hơn thường lệ. Cái chết này, vốn ý nghĩa tình cảm chưa bao giờ là mạnh mẽ, lại còn bị những năm tháng phiêu lưu của sự xa cách bào mòn gần như tới số không, dầu sao cũng tương đương với việc thêm một mối dây ràng buộc, thêm một mối liên hệ với cõi bên dưới bị đứt lìa, và đem lại cho điều Hans Castorp gọi một cách chính đáng là tự do sự trọn vẹn sau cùng. Quả thật, vào thời muộn màng mà chúng ta đang nói đây, mọi tiếp xúc giữa chàng với miền đồng bằng đã bị triệt tiêu sạch sành sanh. Chàng không viết thư xuống đó nữa và cũng không nhận thư từ đó. Chàng cũng không còn lấy Maria Mancini từ dưới ấy lên nữa. Trên này chàng đã tìm được một nhãn hiệu hợp ý mình, và nay trung thành với nó cũng như xưa từng trung thành với người bạn gái kia: một sản phẩm mà ngay cả nhà thám hiểm cực địa giữa băng giá hẳn cũng sẽ nhờ đó mà vượt qua được những gian lao khủng khiếp nhất, và khi đã có nó thì người ta cứ đơn giản nằm đó như ngoài bờ biển mà chịu đựng, – một điếu xì gà lá cát được chăm nom đặc biệt kỹ, tên là “Rütlischwur”, có dáng hơi lùn mập hơn Maria, màu xám chuột, mang một vòng thân xanh nhạt, tính nết rất ngoan ngoãn và ôn hòa, cháy thành một lớp tro trắng như tuyết, bền chặt, trong đó những đường gân của lá bọc vẫn còn đứng nguyên, và cháy đều tới mức lẽ ra có thể dùng thay cho một chiếc đồng hồ cát đang chảy cho kẻ thưởng thức, mà quả chàng cũng dùng nó theo cách ấy tùy nhu cầu của mình, vì chàng không còn mang đồng hồ quả quýt nữa. Nó đã đứng lại; một hôm nó rơi từ chiếc bàn con cạnh giường xuống, và chàng thôi không buồn cho nó trở lại vòng quay tròn đo đếm nữa, – cũng vì những lý do khiến chàng từ lâu đã từ bỏ cả việc có lịch, hoặc loại xé từng ngày, hoặc loại báo trước sự rơi xuống của những ngày và ngày lễ: tức là vì những lý do của “tự do”, để tôn vinh cuộc dạo bước trên bãi biển, cái luôn-luôn-và-vĩnh-viễn đứng yên ấy, cái phép phù kín nhiệm mà người bị cất nhấc kia đã tỏ ra dễ thu nhận, và vốn là cuộc phiêu lưu căn bản của tâm hồn chàng, cuộc phiêu lưu trong đó mọi cuộc phiêu lưu giả kim của cái chất liệu đơn sơ này đã diễn ra.
Chàng cứ nằm đó như thế, và như vậy, vào giữa mùa hè, đúng vào mùa chàng đến đây, năm lại một lần nữa, đến lượt thứ bảy – chàng không biết điều ấy – tự quay tròn khép vào chính nó.
Bấy giờ bỗng rền vang –
Nhưng sự hổ thẹn và dè dặt ngăn chúng ta không để giọng kể phồng to trước điều đã vang lên và xảy đến khi ấy. Ở đây xin đừng khoác lác, đừng kể chuyện săn bắn ba hoa! Hãy hạ giọng cho vừa với lời xác nhận rằng tiếng sét ấy đã nổ rền, cái tiếng sét mà tất cả chúng ta đều biết, tiếng nổ chói tai của một hỗn hợp tai ương tích tụ từ lâu giữa trì độn và căng bẳn, – một tiếng sét lịch sử, nói ra với lòng kính cẩn đã được hãm bớt, làm rung chuyển nền móng trái đất, nhưng đối với chúng ta là tiếng sét phá tung Núi thần và hất kẻ ngủ bảy năm ra trước cổng nó một cách chẳng mấy dịu dàng. Chàng ngồi thừ ra trên cỏ và dụi mắt, như một người, bất chấp bao lời nhắc nhở, đã xao lãng không chịu đọc báo.
Người bạn và bậc hướng đạo miền Nam của chàng vẫn luôn cố sửa chữa phần nào điều ấy và đã lấy làm bổn phận phải thông báo cho đứa con cưng đáng lo trong công cuộc giáo dưỡng của mình về những biến cố bên dưới, ít nhất là trong những nét lớn; nhưng ông chẳng gặp được mấy thính giác nơi một người học trò tuy đôi khi cũng để cho những cái bóng tinh thần của sự vật gợi ra cho mình, theo lối điều hành thế giới, đôi điều mộng tưởng nọ kia, song lại chẳng hề đoái hoài tới chính các sự vật, mà đó lại là vì cái thiên hướng kiêu ngạo muốn coi những cái bóng là sự vật, còn trong chính sự vật thì chỉ nhìn thấy những cái bóng, – vì thế mà người ta cũng không nên trách chàng quá nặng, bởi mối quan hệ ấy rốt cuộc vẫn chưa được làm sáng tỏ dứt khoát.
Không còn như xưa nữa, khi Herr Settembrini, sau khi đột ngột soi sáng tình hình, ngồi bên giường Hans Castorp nằm ngang mà tìm cách cải chính ảnh hưởng của mình lên chàng trong những chuyện sống và chết. Giờ đây thì ngược lại, chính chàng, hai tay kẹp giữa hai đầu gối, ngồi bên giường người nhân văn trong cái phòng nhỏ, hoặc bên chiếc chỗ nằm nghỉ ban ngày của ông trong căn studio áp mái tách biệt và ấm cúng với những chiếc ghế Carbanaro và chai nước, bầu bạn với ông và lịch sự lắng nghe những luận bàn của ông về tình thế thế giới, vì Herr Lodovico nay hiếm khi còn đứng dậy được nữa. Cái kết cục dữ dội của Naphta, hành vi khủng bố của tay biện luận tuyệt vọng đến sắc lạnh ấy, đã giáng một cú nặng nề vào bản tính mẫn cảm của ông; ông không sao hồi phục nổi, từ đó suy nhược và tàn tạ ghê gớm. Sự cộng tác của ông vào công trình “Bệnh lý học xã hội” bị đình trệ, cuốn từ điển về mọi tác phẩm văn chương lấy nỗi khổ của con người làm đối tượng không nhích thêm được bước nào nữa, liên minh nọ đợi uổng công tập tương ứng cho bộ bách khoa thư của họ, Herr Settembrini bị buộc phải giới hạn sự tham gia của mình vào tổ chức tiến bộ trong phạm vi lời nói miệng; và chính các chuyến thăm thân tình của Hans Castorp đã cho ông một cơ hội để làm điều ấy, một cơ hội mà không có những chuyến thăm ấy ông cũng hẳn đã phải thiếu.
Ông nói bằng giọng yếu ớt, nhưng nói nhiều, đẹp và thành tâm về sự tự hoàn thiện của nhân loại trên con đường xã hội. Lời ông đi như trên những bàn chân chim bồ câu; nhưng chẳng mấy chốc, khi ông chẳng hạn nói về sự liên hiệp của các dân tộc đã được giải phóng để mưu cầu hạnh phúc chung, thì lại chen vào đó – chính ông cũng không muốn thế và có lẽ cũng không tự biết – một cái gì như tiếng xào xạc của cánh đại bàng; và hẳn đó là do chính trị, di sản của người ông, cái di sản trong ông, Lodovico, đã liên kết với di sản nhân văn của người cha để thành văn chương đẹp, – đúng như tính người và chính trị đã liên kết với nhau trong tư tưởng nâng chén và chúc tụng của văn minh, cái tư tưởng đầy sự hiền hòa của bồ câu và sự gan dạ của đại bàng, đang chờ ngày của nó, buổi bình minh của các dân tộc, khi nguyên lý cố thủ sẽ bị giáng trúng đầu và liên minh thần thánh của nền dân chủ tư sản sẽ được xúc tiến... Tóm lại, ở đây có những điều bất chỉnh. Herr Settembrini là người nhân đạo, nhưng đồng thời, và chính bởi thế, nói nửa chừng thôi, ông cũng là người hiếu chiến. Trong cuộc đấu súng với Naphta dữ dằn, ông đã cư xử như một con người; nhưng ở quy mô lớn, nơi tính người hân hoan kết hợp với chính trị để thành ý niệm chiến thắng và thống trị của văn minh, và người ta làm phép thánh cho cây giáo của người thị dân trên bàn thờ nhân loại, thì người ta bắt đầu ngờ rằng liệu, xét một cách phi cá nhân, ông còn có ý giữ tay mình xa máu hay không; – vâng, chính hoàn cảnh nội tại đã khiến trong tâm niệm đẹp đẽ của Herr Settembrini, yếu tố gan dạ của đại bàng ngày càng thắng lướt yếu tố hiền hòa của bồ câu.
Không hiếm khi mối quan hệ của ông với những chòm sao lớn của thế giới mang tính hai chiều, bị quấy nhiễu bởi những lương tâm cắn rứt và một sự lúng túng. Mới đây thôi, vào hai năm hay một năm rưỡi trước, sự cộng tác ngoại giao giữa nước ông với Áo ở Albania đã làm cuộc chuyện trò của ông bất an; sự cộng tác ấy nâng ông lên, bởi nó hướng chống cái bán Á châu không có tiếng Latin kia, chống roi vọt và Schlüsselburg, nhưng đồng thời lại hành hạ ông đúng vì nó là một liên minh sai lầm với kẻ thù truyền kiếp, với nguyên lý cố thủ và sự nô dịch các dân tộc. Mùa thu năm ngoái, khoản đại cho Nga vay của nước Pháp nhằm xây dựng một mạng lưới đường sắt ở Ba Lan cũng đã gợi dậy nơi ông những cảm xúc mâu thuẫn tương tự. Vì Herr Settembrini thuộc phe thân Pháp trong nước mình, điều này chẳng có gì đáng ngạc nhiên, nếu ta nhớ rằng ông nội ông từng đặt những ngày của cuộc Cách mạng Tháng Bảy ngang với những ngày tạo dựng thế giới; nhưng sự thông đồng giữa nền cộng hòa khai sáng với cái Scythia Byzantine ấy đã gây cho ông một nỗi bối rối đạo đức, – một sự tức ngực mà rồi, khi nghĩ tới ý nghĩa chiến lược của mạng đường sắt kia, lại muốn mau chóng đổi thành hy vọng và niềm vui thở gấp. Rồi xảy ra vụ vương công bị ám sát, đối với bất cứ ai, trừ những kẻ ngủ bảy năm người Đức, đều là một dấu hiệu bão tố, một tín hiệu dành cho người hiểu biết; và ta có quyền kể Herr Settembrini vào số đó. Hans Castorp quả có thấy ông, với tư cách con người riêng tư, rùng mình trước hành vi kinh hoàng ấy, nhưng cũng thấy lồng ngực ông phập phồng trước ý nghĩ rằng đây là một hành vi của dân tộc, một hành vi giải phóng, được nhắm vào thành lũy của điều ông căm ghét, dẫu mặt khác lại phải được định giá như kết quả của sự xui khiến từ Moskva, điều gây cho ông nỗi tức ngực, song không ngăn ông gọi tối hậu thư của chế độ quân chủ gửi Serbia ba tuần sau đó là một sự xúc phạm đối với nhân loại và một tội ác ghê rợn, nếu xét những hậu quả của nó, những hậu quả mà ông đã được khai tâm để nhìn thấy, và ông chào đón bằng hơi thở gấp gáp...
Tóm lại, những cảm xúc của Herr Settembrini là một hợp chất nhiều tầng, cũng như tai họa mà ông thấy đang vón tụ lại với tốc độ ghê gớm, và về điều ấy ông tìm cách mở mắt cậu học trò của mình bằng những lời nửa kín nửa hở, trong khi một thứ lịch sự dân tộc và lòng thương hại lại giữ ông không để mặc mình hoàn toàn buông ra về chuyện đó. Trong những ngày đầu của các cuộc động viên, của lời tuyên chiến đầu tiên, ông đã quen với việc chìa cả hai tay về phía người khách đến thăm và siết lấy tay chàng, khiến gã ngốc cảm động tận tim, dẫu không mấy thấm vào óc. “Bạn tôi!” người Ý nói. “Thuốc súng, máy in – không thể chối cãi, quả các ông đã phát minh ra những thứ ấy hồi nào đó! Nhưng nếu các ông tin rằng chúng tôi sẽ hành quân chống lại cách mạng... _Caro_...”
Trong những ngày chờ đợi oi nồng nhất, khi một thứ cực hình căng giãn thực sự làm thần kinh châu Âu phải giằng chịu, Hans Castorp không gặp Herr Settembrini. Những tờ báo hung hãn giờ đây từ vực sâu xông thẳng lên lô-gia ban công của chàng, chớp giật xuyên khắp ngôi nhà, và bằng mùi lưu huỳnh bóp nghẹt lồng ngực của chúng, làm đặc quánh cả phòng ăn lẫn những buồng của các bệnh nhân nặng và những người hấp hối. Đó là những giây phút khi con chuột sóc ngủ ngày trong đám cỏ, không biết chuyện gì đang xảy ra với mình, từ từ dựng người lên, trước khi ngồi hẳn dậy và dụi mắt... Nhưng ta hãy đưa hình ảnh ấy đi đến cùng, để công bằng với cơn chuyển động trong tâm hồn chàng. Nó kéo chân lại dưới mình, đứng lên, nhìn quanh. Nó thấy mình đã bị giải thuật, được cứu thoát, được giải phóng, không phải nhờ sức riêng, điều mà nó phải bẽ bàng tự thú, mà là bị những quyền lực nguyên sơ từ bên ngoài tống ra chỗ thoáng khí, những quyền lực mà sự giải thoát của nó chỉ là một hệ quả rất phụ thuộc. Nhưng tuy số phận nhỏ bé của nó tan biến trước số phận chung, há chẳng vẫn có một cái gì của lòng tốt và công lý như được nhằm riêng, và bởi thế là của thần linh, biểu lộ trong đó hay sao? Có phải cuộc đời đã lại một lần nữa nhận lấy đứa con tội lỗi khiến nó phải bận lòng, không theo lối rẻ tiền, mà chỉ theo đúng lối này, cái lối nghiêm khắc và ngặt nghèo này, như một cuộc giáng xuống có lẽ không phải là sự sống, nhưng chính trong trường hợp này lại có thể có nghĩa là ba loạt súng danh dự cho chàng, kẻ tội nhân? Và thế là chàng quỳ sụp xuống, mặt và tay ngước lên một bầu trời tối sẫm mùi lưu huỳnh, nhưng không còn là mái hang của núi tội lỗi nữa.
Herr Settembrini bắt gặp chàng trong tư thế ấy, nói theo nghĩa hình tượng thật đậm, dĩ nhiên là thế; bởi trên thực tế, như ta biết, sự rụt rè về phép tắc của nhân vật anh hùng chúng ta loại trừ mọi trò diễn như vậy. Trong thực tế khô cứng, vị thầy gặp chàng lúc đang thu xếp va-li, vì từ giây phút tỉnh giấc ấy trở đi, Hans Castorp thấy mình bị cuốn vào cảnh huyên náo và xoáy lốc của cuộc ra đi điên cuồng mà tiếng sét long trời dưới thung lũng đã gây nên. “Heimat” nom như một ổ kiến hoảng loạn. Từ độ cao năm nghìn bộ, cái đám người trên này lao đầu cắm cổ xuống miền đồng bằng của cơn giáng xuống, làm nặng trĩu những bậc lên xuống của chuyến tàu con bị xông chiếm, không hành lý nếu cần, còn hành lý thì chất thành từng đống phủ kín các lối trên ga, cái nhà ga nhung nhúc mà ở độ cao ấy người ta tưởng như hơi oi khét lẹt từ dưới đang phả ngược lên; và Hans cũng lao theo. Giữa cơn náo loạn, Lodovico ôm choàng lấy chàng, theo đúng nghĩa đen, khép chàng vào tay mình và hôn chàng như một người phương Nam, hay cũng như một người Nga, lên cả hai má, khiến kẻ lữ hành cuống cuồng của chúng ta, giữa mọi chuyển động ấy, không phải không ngượng ngập. Nhưng suýt nữa chàng mất cả bình tĩnh khi vào phút chót Herr Settembrini gọi chàng bằng tên riêng, tức là “Giovanni”, và đồng thời vứt bỏ lối xưng hô theo phép thường dùng ở phương Tây văn minh để chuyển sang ngôi thân mật!
“_E così in giù_,” ông nói, “_in giù finalmente! Addio, Giovanni mio!_ Ta đã mong được thấy cậu lên đường theo một cách khác kia, nhưng thôi đành vậy, các vị thần đã định thế chứ không khác. Ta hy vọng tiễn cậu đi vào lao động, giờ đây cậu sẽ chiến đấu giữa những người của mình. Lạy Chúa, phần ấy đã được dành cho cậu chứ không phải cho viên trung úy của chúng ta. Đời chơi đùa làm sao... Hãy chiến đấu can trường ở nơi máu huyết ràng buộc cậu! Giờ đây chẳng ai còn làm được gì hơn. Còn ta, xin cậu tha thứ nếu ta dốc nốt phần sức lực còn lại để lôi cả đất nước ta vào cuộc chiến, về phía mà tinh thần và lợi ích riêng thiêng liêng chỉ cho nó. _Addio!_”
Hans Castorp chen đầu mình vào giữa mười cái đầu khác đang lấp đầy khuôn cửa sổ nhỏ. Chàng vẫy tay qua phía trên họ. Herr Settembrini cũng vẫy bằng tay phải, trong khi bằng đầu ngón áp út của tay trái, ông khẽ chạm vào khóe mắt.
* * * * *
Ta đang ở đâu? Đây là cái gì? Giấc mơ đã quăng ta tới nơi nào? Chạng vạng, mưa và bùn lầy, sắc đỏ cháy của bầu trời đục ngầu, bầu trời gầm rống không thôi vì tiếng sấm nặng nề, làm đầy những luồng không khí ướt át, bị xé toạc bởi tiếng rít sắc, bởi tiếng tru lao tới dữ dội như chó ngục, thứ tiếng kết thúc đường đi của nó bằng mảnh văng, tóe lửa, tiếng nổ rền và ngọn lửa, bằng tiếng rên xiết và tiếng thét, bằng tiếng kèn đồng chói gắt như muốn vỡ tung, và nhịp trống thúc dồn, gấp nữa, gấp nữa... Kia là một cánh rừng, từ đó những bầy vô sắc đang tràn ra, vừa chạy, vừa ngã, vừa bật nhảy. Kia là một dãy đồi chạy ngang trước đám cháy xa, mà ánh rực đôi khi tụ lại thành những lưỡi lửa phất phơ. Chung quanh ta là đồng ruộng lượn sóng, bị xới tung, bị nhão nhoét. Một con đường cái chạy bùn lầy, phủ đầy cành gãy, giống như cánh rừng; một lối đồng, bị rạch nát và lút sâu không đáy, uốn thành vòng cung tách khỏi nó hướng về dãy đồi; những gốc cây trơ trọi, cụt nhánh, chĩa lên trong cơn mưa lạnh... Đây là một cột chỉ đường, hỏi nó cũng vô ích; ánh nửa tối sẽ che khuất hàng chữ của nó, dẫu cho tấm biển không bị một phát đạn xé toạc thành răng cưa. Đông hay Tây? Đây là miền đồng bằng, đây là chiến tranh. Và chúng ta là những chiếc bóng nhút nhát bên đường, e dè trong sự an toàn của bóng tối, tuyệt nhiên không có ý buông mình vào khoác lác và những chuyện đi săn ba hoa, nhưng bị tinh thần kể chuyện dẫn đến đây để, giữa những người bạn xám xịt đang chạy, đang ngã, đang bị tiếng trống lùa tới trước, tràn ra từ rừng kia, còn được nhìn vào khuôn mặt đơn sơ của một người mà ta quen biết, người bạn đồng hành của bao năm trường, kẻ tội nhân hiền hậu mà ta đã bao lần nghe tiếng, trước khi đánh mất chàng khỏi tầm mắt.
Người ta đã gọi họ tới, những người bạn, để dồn thêm sức quyết định cho trận đánh đã kéo dài suốt cả ngày, trận đánh nhằm tái chiếm vị trí trên dãy đồi kia cùng những ngôi làng đang cháy phía sau nó, những nơi đã mất vào tay địch cách đây hai ngày. Đó là một trung đoàn tình nguyện, dòng máu trẻ, phần lớn là sinh viên, chưa ở chiến trường bao lâu. Họ được báo động trong đêm, đi tàu đến tận sáng và hành quân trong mưa cho tới chiều trên những quãng đường khủng khiếp, thật ra là chẳng có đường gì cả, đường sá bị nghẽn cứng, phải băng qua đồng ruộng và đầm lầy suốt bảy giờ, trong những chiếc áo choàng trương nặng vì ngấm nước, cùng hành trang chiến đấu, và đó chẳng phải cuộc tản bộ vui thú gì; bởi nếu không muốn mất cả ủng, thì gần như mỗi bước đều phải cúi xuống, móc ngón tay vào quai mà kéo bàn chân ra khỏi cái nền đất nhão nhoét đang mút chặt. Thế là họ đã phải mất một giờ đồng hồ chỉ để vượt qua một bãi cỏ nhỏ. Giờ đây họ đã tới nơi, dòng máu trẻ của họ đã gánh xong mọi thứ, những cơ thể đang căng cứng vì kích động và đã thấm mệt, nhưng vẫn được níu giữ trong tình trạng sẵn sàng bằng những dự trữ sâu nhất của sự sống, không còn hỏi đến giấc ngủ bị tước đoạt hay thức ăn nữa. Những gương mặt ướt sũng, bị bùn bắn lấm, viền dưới các quai mũ, dưới những chiếc mũ trùm vải xám lệch nghiêng, đang rực lên. Chúng rực lên vì gắng sức và vì cảnh tổn thất mà họ đã phải chịu trên đường xuyên qua khu rừng lầy lội. Bởi quân địch, đã biết cuộc kéo đến của họ, đã giăng một màn đạn chặn bằng shrapnel và pháo cỡ lớn lên đường họ đi, thứ màn đạn đã nổ tung từ trong rừng vào các tốp người của họ và vừa tru vừa tóe vừa phừng lửa quất xuống cánh đồng trống rộng nơi người ta lao sấp.
Họ phải xuyên qua, ba nghìn chàng trai đang sốt nóng ấy, họ phải làm lực lượng tiếp viện để cùng với những lưỡi lê của mình quyết định cuộc xung phong vào các chiến hào trước và sau dãy đồi, vào những ngôi làng cháy, và giúp đẩy cuộc xung phong ấy tiến đến một điểm nhất định đã được ghi trong mệnh lệnh mà người chỉ huy mang trong túi. Họ là ba nghìn người để khi tới được dãy đồi, tới được các ngôi làng, họ vẫn còn là hai nghìn; đó là ý nghĩa của con số ấy. Họ là một cơ thể, được tính toán để sau những tổn thất lớn vẫn còn có thể hành động và chiến thắng, vẫn còn có thể đón chào thắng lợi bằng tiếng “hurra” của một nghìn cổ họng, bất chấp những kẻ đã bị tách lẻ ra bằng chính việc ngã rụng khỏi đội ngũ. Không ít người đã bị tách lẻ như vậy rồi, đã rơi lại trong cuộc hành binh cưỡng bách mà đối với họ là quá sớm, quá non, quá mảnh mai. Họ tái nhợt đi và lảo đảo, nghiến chặt răng đòi hỏi sự cứng cỏi ở chính mình, nhưng rốt cuộc vẫn bị bỏ lại. Họ còn lê được một quãng cạnh cột hành quân, hết tốp này đến tốp khác vượt qua họ, và rồi họ biến mất, nằm gục xuống ở một nơi chẳng lành. Rồi đến khu rừng tóe mảnh. Nhưng số người tràn ra vẫn còn đông; ba nghìn có thể chịu được một cuộc trích huyết mà rồi vẫn còn là một khối đông đặc nhung nhúc. Họ đã bắt đầu tràn ngập miền đất mưa quất này của chúng ta, con đường cái, lối đồng, những thửa ruộng bùn nhão; chúng ta, những chiếc bóng đang nhìn bên đường, ở ngay giữa họ. Bên rìa rừng, lưỡi lê cứ được tra vào nòng bằng những động tác đã rèn luyện, tiếng kèn réo gọi khẩn cấp, trống gõ và dồn vang trong tiếng sấm trầm hơn, và họ lao tới trước, theo cách nào lao được thì lao, vừa kêu thét khàn khàn vừa lê đôi chân nặng như ác mộng thống khổ, vì những cục đất ngoài đồng bám chì nặng vào những chiếc ủng thô của họ.
Họ đổ vật xuống trước những đầu đạn đang tru tới, rồi lại bật dậy, vội vã tiến lên, vừa tiến vừa hét bằng cái can đảm khô cứng của tuổi trẻ, vì đạn chưa trúng mình. Đạn trúng họ, họ ngã xuống, hai cánh tay quờ quạng, bị bắn vào trán, vào tim, vào ruột. Họ nằm đó, mặt úp trong bùn, không nhúc nhích nữa. Họ nằm đó, lưng bị cái ba lô đội nhô lên, sau đầu dúi sâu vào đất, hai bàn tay quắp lại cào vào không khí. Nhưng khu rừng gửi ra những người mới, những người lại đổ rạp rồi bật dậy, vừa la hét hoặc lặng câm, vấp qua giữa những kẻ đã rơi xuống mà tiến về phía trước.
Dòng máu trẻ với những chiếc ba lô và súng lê, những áo choàng và đôi ủng lấm bùn của nó! Người ta cũng có thể, theo lối nhân văn tự mãn đẹp đẽ, mơ ra những hình ảnh khác để ngắm nhìn nó. Người ta có thể hình dung nó: ngựa đang cựa mình và quẫy nước trong một vũng biển, đang dạo bước trên bãi cát với người yêu, môi ghé bên tai cô dâu mềm mại, hay cũng đang vui vẻ thân tình dạy nhau môn bắn cung. Thay vào đó, nó nằm đây, mũi chúi trong thứ bẩn thỉu của lửa đạn. Việc nó làm điều ấy một cách hân hoan, dù trong nỗi sợ không bờ bến và nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ không sao nói xiết, tự nó đã là một điều cao cả và đáng hổ thẹn cho kẻ khác; nhưng điều đó không nên là lý do để đặt nó vào hoàn cảnh ấy.
Kìa người quen của chúng ta, kìa Hans Castorp! Từ rất xa chúng ta đã nhận ra chàng bởi chòm râu nhỏ mà chàng để lại từ cái bàn Nga Xấu. Chàng cũng rực lên trong ướt sũng như mọi người. Chàng chạy với đôi chân nặng bùn đồng, khẩu súng lê cầm xệ trong nắm tay. Xem kìa, chàng giẫm lên bàn tay của một người bạn đồng ngũ đã ngã rụng, giẫm bàn tay ấy bằng chiếc ủng đóng đinh của mình sâu xuống nền đất bùn phủ đầy cành dăm mảnh vụn. Dẫu vậy vẫn là chàng. Sao kia, chàng đang hát! Như người ta hát khe khẽ trước miệng trong một cơn kích động đờ đẫn, vô nghĩ mà không hề biết mình đang hát, chàng dùng hơi thở đứt quãng của mình để khe khẽ hát cho riêng mình:
“Tôi khắc vào vỏ nó Bao lời yêu dấu -”
Chàng ngã sấp. Không, chàng đã quăng mình nằm rạp xuống, vì một con chó ngục đang tru tới, một quả đạn nổ mạnh cỡ lớn, một cái chóp đường ghê tởm của vực thẳm. Chàng nằm đó, mặt chúi trong bùn mát, hai chân dang ra, bàn chân xoay nghiêng, gót chúc xuống đất. Sản phẩm của một nền khoa học đã hóa man rợ, nhồi nén điều tệ hại nhất, cắm chéo trước mặt chàng ba mươi bước, như chính quỷ dữ, sâu xuống lòng đất, rồi nổ tung dưới ấy với sức dữ tợn kinh hoàng và hất lên không trung một cột phun cao bằng ngôi nhà của đất, lửa, sắt, chì và nhân tính bị xé nát. Bởi ở đó có hai người nằm, họ là bạn, trong cơn nguy khốn họ đã nằm ép lại với nhau; giờ thì họ đã trộn lẫn và biến mất.
Ôi nỗi hổ thẹn của sự an toàn trong bóng tối của chúng ta! Đi đi! Ta không kể điều ấy! Người quen của chúng ta có bị trúng đạn không? Trong một khoảnh khắc chàng tưởng là có. Một cục đất lớn văng vào ống quyển chàng, đau ra phết, nhưng cũng thật buồn cười. Chàng gượng dậy, loạng choạng bước tiếp với đôi chân nặng đất, vô thức hát:
“Và cành cây xào xạc, Như gọi với tôi -”
Và thế là, giữa đám hỗn loạn, giữa mưa, giữa chạng vạng, chàng khuất khỏi mắt ta.
Vĩnh biệt, Hans Castorp, đứa con chân thành khiến cuộc đời phải bận lòng! Câu chuyện của anh hết rồi. Chúng ta đã kể xong nó; nó chẳng phải thú vị mà cũng chẳng phải tẻ nhạt, đó là một câu chuyện huyền kín. Chúng ta kể nó vì chính nó, không phải vì anh, bởi anh vốn đơn giản. Nhưng sau hết, ấy vẫn là câu chuyện của anh; vì nó đã xảy đến với anh, ắt hẳn anh cũng phải có đôi chút gì sau vành tai, và chúng ta không chối bỏ khuynh hướng sư phạm mà trong suốt diễn tiến của nó, chúng ta đã nảy lòng đối với anh, khuynh hướng có thể khiến ta khẽ lấy đầu ngón tay chấm nơi khóe mắt khi nghĩ rằng từ nay chúng ta sẽ chẳng còn được thấy hay nghe anh nữa.
Hãy đi cho yên, dù anh còn sống tiếp hay phải nằm lại! Triển vọng của anh thật xấu; cuộc vui nhảy múa dữ dằn mà anh bị lôi tuột vào đó sẽ còn kéo dài thêm nhiều năm tội lỗi nữa, và chúng ta chẳng muốn đánh cược lớn rằng anh sẽ thoát ra được. Thành thật mà nói, chúng ta để ngỏ câu hỏi ấy với một vẻ khá dửng dưng. Những cuộc phiêu lưu trong xác thịt và tinh thần, những cuộc phiêu lưu đã nâng sự giản đơn của anh lên, đã khiến anh về tinh thần vượt khỏi điều mà về xác thịt hẳn anh khó lòng sống sót qua. Đã có những khoảnh khắc trong đó, từ cái chết và sự dâm loạn của thân xác, một giấc mơ về tình yêu đã nảy lên nơi anh, mang dự cảm và như một mệnh lệnh. Liệu từ lễ hội thế giới của cái chết này, liệu từ cơn sốt lửa dữ dằn đang đốt bừng khắp bầu trời chiều mưa gió kia, một ngày nào đó tình yêu cũng sẽ vươn lên chăng?
_Tác phẩm cáo chung_
Trong bộ Tuyển tập tác phẩm, đã in ra 150 bản trên giấy velin sợi giẻ, được đánh số và có chữ ký của tác giả. Những bản này chỉ được phát hành theo lối đặt mua trước cho toàn bộ tác phẩm.
In tại Viện Thư mục học ở Leipzig