Núi thần — Chương 7

Chương 7 / 8 · Bài review Núi thần

Những biến đổi

Thời gian là gì? Một bí mật, – vô thể mà toàn năng. Một điều kiện của thế giới hiện tượng, một vận động, gắn liền và hòa lẫn với sự hiện hữu của những vật thể trong không gian và sự vận động của chúng. Nhưng giả như không có vận động thì cũng không có thời gian chăng? Không có vận động nếu không có thời gian chăng? Cứ hỏi đi! Thời gian là một hàm số của không gian chăng? Hay ngược lại? Hay cả hai là một? Cứ việc hỏi nữa đi! Thời gian thì hoạt động, nó mang bản tính của động từ, nó “sinh ra”. Thế nó sinh ra cái gì? Biến đổi! Bây giờ không phải khi ấy, đây không phải kia, vì giữa cả hai có vận động. Nhưng bởi vận động mà người ta dùng để đo thời gian lại là vận động theo vòng, khép kín trong chính nó, nên đó là một thứ vận động và biến đổi mà gần như cũng có thể gọi là yên nghỉ và bất động; bởi cái khi ấy cứ không ngừng lặp lại trong bây giờ, cái kia trong đây. Lại nữa, vì một thời gian hữu hạn và một không gian có giới hạn, dẫu với nỗ lực tuyệt vọng đến đâu, cũng không thể hình dung nổi, nên người ta đã quyết định “nghĩ” thời gian và không gian như vĩnh cửu và vô hạn, – hiển nhiên với ý rằng làm thế, nếu không thật tốt, thì ít ra cũng khá hơn đôi chút. Nhưng chẳng phải việc xác lập cái Vĩnh cửu và cái Vô hạn đồng nghĩa, về mặt logic và tính toán, với sự hủy diệt mọi cái có giới hạn và hữu hạn, quy chúng về số không theo quan hệ đó sao? Trong cái Vĩnh cửu, còn có thể có trước sau chăng; trong cái Vô hạn, còn có thể có bên cạnh chăng? Những khái niệm như khoảng cách, vận động, biến đổi, thậm chí chỉ riêng sự hiện hữu của những vật thể hữu hạn trong vũ trụ, làm sao có thể dung hòa với những giả định bất đắc dĩ về cái Vĩnh cửu và cái Vô hạn? Cứ việc hỏi mãi như thế đi!

Hans Castorp đã hỏi trong đầu mình như thế và tương tự như thế, cái đầu vốn ngay từ khi chàng vừa tới trên này đã tỏ ra sẵn lòng với những sự sục sạo và càm ràm kiểu ấy, và có lẽ còn được mài bén riêng cho việc ấy, được làm cho bạo dạn trong thói cật vấn bởi một khoái cảm tai hại nhưng mãnh liệt mà từ đó chàng đã phải trả giá. Chàng tự hỏi mình, rồi hỏi anh Joachim tốt bụng, rồi hỏi thung lũng dày tuyết phủ từ những thời không ai nhớ nổi ấy, mặc dầu chàng đâu có thể chờ đợi ở bất cứ nơi nào trong ba nơi đó một điều gì giống như câu trả lời, – mà thật khó nói là ở phía nào còn ít hy vọng nhất. Chàng chỉ đặt ra cho chính mình những câu hỏi như vậy, đơn giản vì chàng không biết câu trả lời. Về phần Joachim, gần như không thể nào lôi kéo anh dự phần vào đó, bởi anh, như Hans Castorp có lần đã nói bằng tiếng Pháp vào một buổi tối, chẳng nghĩ gì khác ngoài chuyện được làm lính ở miền đồng bằng, và đang sa vào một cuộc chiến mỗi ngày một cay đắng với niềm hy vọng ấy, khi thì nó như tiến lại gần, khi thì lại giễu cợt tan biến về phía xa, một cuộc chiến mà gần đây anh tỏ ra muốn kết liễu bằng một cú bạo quyết. Vâng, Joachim tốt bụng, nhẫn nại, ngay thẳng, và hoàn toàn được định hình bởi tinh thần phụng sự cùng kỷ luật, nay cũng bị những cơn phản nghịch xâm nhập, anh nổi loạn chống lại “thang Gaffky”, cái hệ thống xét nghiệm mà theo đó dưới phòng thí nghiệm, hay “Labor” như người ta thường nói, người ta dò ra và ghi định mức độ một bệnh nhân bị trực khuẩn xâm nhiễm: liệu chúng chỉ xuất hiện lẻ tẻ hiếm hoi hay chen chúc vô số trong mẫu thử đem phân tích, điều ấy quyết định bậc của chỉ số Gaffky, và chính cái đó mới là tất cả. Bởi nó biểu thị, một cách tuyệt đối không sai chạy, triển vọng hồi phục mà người mang nó có thể trông cậy; số tháng hay số năm một người còn phải lưu lại, không khó mà xác định theo đó, bắt đầu từ cuộc ghé qua nửa năm cho đến câu phán “Chung thân”, mà xét riêng về mặt thời lượng thì lắm phen lại nói lên quá ít. Vậy nên Joachim nổi loạn chống lại thang Gaffky, công khai tuyên bố mình không còn tin vào uy quyền của nó nữa, – không _hoàn toàn_ công khai, không phải hẳn trước mặt bề trên, nhưng dù sao cũng trước mặt người anh em họ, thậm chí ngay tại bàn ăn. “Tôi phát ngấy rồi, tôi không để người ta đem mình ra làm trò nữa đâu,” anh nói lớn, và máu dồn lên khuôn mặt rám nắng đậm. “Mười bốn hôm trước tôi là Gaffky số 2, chuyện vặt, triển vọng tốt nhất, mà hôm nay số 9, đông đặc cả lên, miền đồng bằng thì thôi đừng nói nữa. Đến quỷ cũng khó mà hiểu nổi rốt cuộc tình trạng mình ra sao, không thể chịu được. Trên Schatzalp có một người, một nông dân Hy Lạp, người ta gửi ông ta lên từ Arcadia, một tay đại lý đã gửi ông ta lên, – một ca vô vọng, ở ông ta bệnh chạy phi mã, ngày nào cũng có thể chờ Exitus, thế mà chưa từng đời nào người ấy có trực khuẩn trong đờm. Trái lại viên đại úy Bỉ béo, người đã ra về khỏe mạnh lúc tôi mới tới, từng là Gaffky số 10, ở ông ta nó nhung nhúc cả lên, mà rốt cuộc chỉ có mỗi một hang nhỏ xíu. Gaffky mặc xác nó! Tôi chấm dứt đây, tôi về nhà, dù đó có là cái chết của tôi đi nữa!” Joachim nói như vậy; và mọi người đều đau xót bàng hoàng khi thấy chàng trai hiền lành, điềm đạm ấy trong cơn náo động như thế. Hans Castorp không thể không, trước lời dọa dẫm của Joachim rằng anh sẽ vứt bỏ tất cả và trở về miền đồng bằng, nhớ tới vài phát biểu nào đó chàng đã nghe bằng tiếng Pháp từ người thứ ba. Nhưng chàng im lặng; bởi lẽ nào chàng lại đem chính sự nhẫn nại của mình ra làm mẫu mực cho người anh em họ, như Frau Stöhr đã làm, bà ta quả thật đã khuyên Joachim đừng bướng bỉnh phạm thượng như thế, mà hãy ngoan ngoãn chịu đựng trong đức khiêm cung và noi gương lòng thủy chung, với nó bà, Karoline, đang kiên gan bền ý ở lì trên này và tự nguyện từ bỏ việc ở nhà mình tại Cannstatt cai quản nội trợ, để một ngày kia trả lại cho chồng một người vợ đã hoàn toàn và triệt để bình phục nơi chính mình? Không, điều đó Hans Castorp dẫu sao cũng không làm nổi, nhất là từ sau đêm hội Fasching, chàng cảm thấy có lỗi với Joachim, – nghĩa là: lương tâm chàng bảo chàng rằng Joachim hẳn phải nhìn trong cái điều họ không nói ra, nhưng Joachim chắc chắn biết, một cái gì như phản bội, đào ngũ và bất trung, xét về phía một đôi mắt nâu tròn, một cơn muốn cười chỉ có căn cứ lờ mờ, và một mùi nước hoa cam, những tác động mà ngày nào chàng cũng phải hứng chịu năm lần, nhưng trước chúng chàng vẫn nghiêm khắc và đàng hoàng cụp mắt xuống đĩa... Vâng, ngay cả trong sự kháng cự âm thầm mà Joachim dùng để đón nhận những suy đoán và những góc nhìn của chàng về “thời gian”, Hans Castorp cũng tưởng như cảm thấy một chút gì của đức đoan chính quân nhân kia, thứ chứa đựng một lời trách cứ đối với lương tâm chàng. Còn về phía thung lũng, cái thung lũng mùa đông dày tuyết phủ, mà từ chiếc ghế nằm tuyệt hảo của mình Hans Castorp cũng hướng những câu hỏi siêu cảm tới đó, thì những mũi nhọn, chỏm đỉnh, đường sườn và những cánh rừng nâu-lục-đỏ của nó đứng lặng trong thời gian, được dệt quanh bởi dòng thời gian trần thế lặng lẽ trôi, khi thì rực sáng trong màu lam thẳm của bầu trời sâu, khi thì bị làn khói che phủ, khi thì ánh lên đỏ ửng trên cao bởi mặt trời sắp lặn, khi thì cứng như kim cương mà lấp lánh trong phép mầu đêm trăng, – nhưng lúc nào cũng trong tuyết, đã suốt sáu tháng không ai nhớ nổi, dẫu là sáu tháng vụt qua rất nhanh, và tất cả khách trú đều tuyên bố rằng họ không thể nhìn nổi tuyết nữa, nó làm họ phát ngấy, chỉ riêng mùa hè thôi cũng đã thỏa mãn đủ mọi đòi hỏi của họ về phương diện ấy rồi, vậy mà giờ đây ngày nào cũng tuyết khối, tuyết đống, tuyết đệm, tuyết dốc, điều đó vượt quá sức người, là một sự giết hại đối với tinh thần và tâm tính. Và họ đeo kính màu, xanh, vàng, đỏ, hẳn cũng để gìn giữ đôi mắt, song còn hơn thế là vì trái tim.

Thung lũng và núi non trong tuyết đã sáu tháng rồi ư? Đã bảy! Thời gian cứ tiến bước trong khi chúng ta kể, – _thời gian của chúng ta_, thời gian ta dành cho câu chuyện này, nhưng cũng cả thời gian đã trôi xa của Hans Castorp và những bạn đồng mệnh của chàng trên kia giữa tuyết, và nó sinh ra những biến đổi. Mọi sự đang trên đường thành hiện thực đúng như Hans Castorp, trong ngày Fasching, trên đường từ “Platz” trở về, đã buột miệng nói trước bằng những lời mau lẹ khiến Herr Settembrini nổi giận: không hẳn là điểm chí đã ở ngay trước mắt, nhưng lễ Phục sinh đã đi qua thung lũng trắng, tháng Tư đang tiến bước, tầm nhìn hướng tới lễ Ngũ Tuần đã thông suốt, chẳng bao lâu nữa mùa xuân sẽ đến, tuyết sẽ tan, – dĩ nhiên không phải toàn bộ tuyết sẽ tan, trên những đỉnh phía nam, trong các khe đá của dãy Rätikon ở phía bắc, lúc nào cũng còn một phần tuyết nằm lại, chưa kể thứ tuyết ngay cả vào các tháng hè hằng năm cũng sẽ còn đổ xuống, chỉ là không lưu lại; nhưng sự xoay chuyển của năm nhất định hứa hẹn những đổi mới có tính quyết định trong một thời gian ngắn nữa, vì từ đêm hội ấy, đêm mà Hans Castorp đã mượn của Frau Chauchat một cây bút chì, rồi sau trả lại đúng cây ấy và theo ý muốn còn nhận một thứ khác để thay thế, một vật lưu niệm mà chàng mang trong túi, đến nay đã sáu tuần trôi qua, – gấp đôi khoảng thời gian Hans Castorp thoạt đầu đã muốn ở lại trên này.

Quả thật đã sáu tuần trôi qua kể từ buổi tối Hans Castorp làm quen với Clawdia Chauchat và rồi trở về phòng mình muộn hơn Joachim sùng tín công vụ trở về phòng anh biết bao; sáu tuần kể từ ngày hôm sau, ngày đã mang tới cuộc ra đi của Frau Chauchat, cuộc ra đi lần này của nàng, cuộc ra đi _tạm thời_ của nàng tới Daghestan, mãi tận phía đông bên kia dãy Kavkaz. Rằng cuộc ra đi ấy có tính tạm thời, chỉ là một cuộc ra đi cho lần này thôi, rằng Frau Chauchat có ý định trở lại, – chưa định rõ khi nào, nhưng rằng một ngày nào đó nàng muốn hoặc phải quay về, Hans Castorp đã có trong tay những lời cam đoan, trực tiếp và bằng miệng, vốn không được nói ra trong cuộc đối thoại ngoại ngữ đã được thuật lại, mà vì thế thuộc về quãng chen giữa không lời về phía chúng ta, trong quãng ấy chúng ta đã ngắt dòng chảy bị thời gian ràng buộc của câu chuyện và chỉ để riêng nó, thời gian thuần túy, tự do tác hành. Dù sao đi nữa, chàng trai đã nhận được những lời cam đoan và hứa hẹn an ủi ấy trước khi trở về số 34; bởi ngày hôm sau chàng không còn trao đổi với Frau Chauchat một lời nào nữa, hầu như cũng chẳng nhìn thấy nàng, chỉ thấy nàng hai lần từ xa: vào bữa trưa, khi nàng trong áo dạ xanh và áo len trắng, dưới tiếng cánh cửa kính nện chát chúa, lại dịu dàng lướt tới bàn ăn lần cuối, khiến tim chàng đập dồn lên tận cổ và chỉ có sự canh chừng sắc lẹm mà Fräulein Engelhart dành cho chàng mới ngăn chàng không lấy tay che mặt; – và rồi vào ba giờ chiều, lúc nàng ra đi, cuộc ra đi mà chàng không thực sự có mặt dự vào, mà chỉ đứng từ một cửa sổ hành lang nhìn xuống lối xe vào để dõi theo.

Mọi việc đã diễn ra theo cách Hans Castorp, trong thời gian ở trên này, đã nhiều lần thấy nó diễn ra: xe trượt hay cỗ xe dừng lại trước bậc dốc, người đánh xe và anh hầu buộc các va-li lên, các khách của dưỡng đường, bạn bè của kẻ, khỏi hay chưa khỏi, lên đường trở về miền đồng bằng để sống hoặc để chết, hoặc chỉ những người trốn giờ quy định để mặc cho biến cố ấy tác động lên mình, tụ tập trước cổng; một ông mặc áo đuôi tôm từ ban quản trị, thậm chí có khi cả các bác sĩ, cũng có mặt, rồi người ra đi bước ra, – phần nhiều với gương mặt rạng rỡ và niềm nở ưu ái chào những người tò mò đứng quanh cùng những kẻ còn ở lại, trong khoảnh khắc được cuộc phiêu lưu ấy kích thích mạnh mẽ... Lần này người bước ra là Frau Chauchat, mỉm cười, ôm đầy hoa trong tay, khoác áo du hành dài, thô, viền lông, đội chiếc mũ lớn, đi cùng Herr Buligin, người đồng hương ngực lõm của nàng, người sẽ cùng đi với nàng một quãng đường. Cả nàng nữa dường như cũng vui sướng náo nức, như bất cứ ai ra đi đều như thế, – chỉ đơn thuần vì đổi đời, hoàn toàn không lệ thuộc vào việc người ta đi với sự đồng ý của bác sĩ hay chỉ vì quá chán chường tuyệt vọng mà tự mình mạo hiểm, mang mặc cảm tội lỗi cắt ngang thời gian lưu trú. Má nàng hồng lên, nàng nói liến thoắng, hẳn là bằng tiếng Nga, trong khi người ta quấn quanh đầu gối nàng một tấm chăn lông... Không chỉ những người đồng hương của Frau Chauchat và những bạn cùng bàn của nàng, mà còn rất nhiều khách khác cũng có mặt, Dr. Krokowski mỉm cười rắn rỏi để lộ hàm răng vàng trong bộ râu, lại có thêm hoa, bà cô đãi bánh mứt, “kẹo nhỏ nhỏ”, như bà vẫn quen nói, tức là mứt Nga, cô giáo đứng đó, rồi người Mannheim, – người này đứng cách ra một quãng, u ám dõi nhìn, và đôi mắt đau khổ của ông ta đã lần theo ngôi nhà mà ngước lên, nơi chúng nhận ra Hans Castorp ở cửa sổ hành lang và u ám dừng lại trên chàng... Hofrat Behrens không lộ diện; hiển nhiên ông đã từ biệt người ra đi từ trước trong một dịp riêng tư nào đó... Rồi giữa những cái vẫy tay và tiếng gọi của người đứng quanh, đôi ngựa cất bước kéo xe đi, và đôi mắt xếch của Frau Chauchat, trong khi đà lao tới của chiếc xe trượt làm phần thân trên của nàng ngả lùi vào đệm, cũng lại một lần nữa, mỉm cười, lướt qua mặt tiền tòa nhà Berghof và trong một phần giây dừng lại trên gương mặt Hans Castorp... Tái nhợt, người ở lại đã vội về phòng mình, ra lô-gia của mình, để từ đây nhìn chiếc xe trượt một lần nữa, chiếc xe leng keng trượt xuống con đường xe vào về phía “Dorf”, rồi chàng gieo mình vào ghế và từ túi ngực rút ra vật lưu niệm, vật làm tin, lần này không phải bằng những dăm gỗ đỏ nâu, mà bằng một tấm bản mỏng có khung viền thanh, một phiến kính phải giơ lên ánh sáng mới thấy được gì trên đó, – chân dung bên trong của Clawdia, không có gương mặt, nhưng cho thấy bộ xương mảnh dẻ phần thân trên của nàng, được những hình thể mềm của thịt bao quanh một cách sáng mờ và ma quái, cùng với những cơ quan trong lồng ngực...

Biết bao lần chàng đã ngắm nó và áp lên môi trong khoảng thời gian từ đó trôi qua, trong khi thời gian ấy sinh ra biến đổi! Chẳng hạn, nó đã sinh ra sự quen dần với một đời sống trên này trong cảnh Clawdia Chauchat vắng mặt tận nơi xa trong không gian, và lại còn nhanh hơn người ta có thể tưởng: thời gian ở đây vốn đặc biệt được cấu tạo cho điều ấy, hơn nữa còn được tổ chức cốt để làm nảy sinh sự quen dần, dẫu chỉ là sự quen dần với việc người ta không quen được. Tiếng đập chát chúa lanh lảnh mở đầu cho năm bữa ăn khổng lồ nay không còn phải chờ nữa và cũng không còn xảy ra nữa; ở một nơi khác, xa xôi khôn cùng, giờ đây Frau Chauchat để cửa sập lại, – một biểu hiện bản thể gắn với sự tồn tại, với bệnh tật của nàng theo một lối hòa lẫn và liên kết tương tự như thời gian với những vật thể trong không gian: có lẽ _đó chính là_ bệnh của nàng, và chẳng gì khác... Nhưng nếu nàng vắng mặt một cách vô hình, thì đồng thời nàng cũng hiện diện một cách vô hình đối với tâm trí Hans Castorp, – linh thần của chốn ấy, mà chàng đã nhận ra và chiếm hữu trong một giờ khắc tai hại, trong một giờ khắc ngọt ngào đến tràn bờ, trong một giờ khắc không một bài ca nhỏ bình yên nào của miền đồng bằng có thể hợp vào, và hình bóng bên trong của nó chàng mang trên trái tim suốt chín tháng nay bị đòi hỏi dữ dội đến thế.

Trong giờ khắc ấy, cái miệng run rẩy của chàng, bằng tiếng lạ và bằng tiếng mẹ đẻ, đã lắp bắp nửa vô thức nửa nghẹn lại bao điều vượt rào: những đề nghị, lời hiến dâng, những đồ án điên rồ và những quyết tâm của ý chí, những thứ mà mọi sự tán thành đều bị từ chối một cách hoàn toàn chính đáng, – nào là chàng muốn tháp tùng linh thần ấy qua bên kia Kavkaz, muốn đi theo nó, muốn đón đợi nó tại nơi mà cơn tùy hứng tự do của linh thần sẽ chọn làm chỗ ở kế tiếp, để không bao giờ còn lìa nó nữa, và còn những điều vô trách nhiệm khác. Điều mà chàng trai chất phác mang theo ra khỏi giờ khắc phiêu lưu sâu thẳm ấy, rốt cuộc chỉ là vật làm tin bằng bóng ảnh và cái khả năng đã xích gần tới bậc của điều có thể xảy ra, rằng Frau Chauchat sẽ quay lại đây lần thứ tư, sớm hay muộn, theo như bệnh tật, thứ đã cho nàng tự do, định liệu. Nhưng là sớm hay muộn, – Hans Castorp, như người ta đã lại nói lúc từ biệt, khi ấy nhất định sẽ “đã đi xa từ lâu”; và ý nghĩa khinh mạn của lời tiên đoán ấy hẳn còn khó chịu đựng hơn nhiều, nếu như người ta không thể nghĩ rằng có những điều không được tiên báo để chúng xảy ra, mà để chúng _đừng_ xảy ra, gần như theo tinh thần của một phép trấn chú. Những nhà tiên tri kiểu ấy nhạo báng tương lai bằng cách nói cho nó biết nó sẽ thành hình ra sao, để nó phải hổ thẹn mà đừng thực sự thành hình như vậy. Và nếu trong cuộc trò chuyện đã được thuật lại cũng như ngoài nó, linh thần ấy đã gọi chàng, Hans Castorp, là một “_joli bourgeois au petit endroit humide_”, điều ấy đại khái là bản dịch cách nói của Settembrini về “đứa con ưu phiền của cuộc đời”, thì vấn đề chỉ còn là thành phần nào trong hỗn hợp bản tính ấy sẽ tỏ ra mạnh hơn: der bourgeois hay là cái còn lại... Linh thần ấy cũng đã không tính đến rằng chính nó từng nhiều phen ra đi rồi trở về, và Hans Castorp cũng có thể trở lại đúng vào lúc thích hợp, – mặc dầu quả thật chàng còn ngồi mãi trên này chỉ là để chàng _không_ phải trở lại: đó, như với biết bao người khác, chính là ý nghĩa minh nhiên của sự lưu lại của chàng.

_Một_ lời tiên tri giễu cợt từ đêm hội hóa trang đã ứng nghiệm: Hans Castorp có một đường sốt xấu, vọt lên thành một mũi nhọn dốc đứng mà hồi ấy chàng đã vẽ vào với một cảm giác hội hè; đường biểu nhiệt của chàng sau khi hạ xuống đôi chút lại chạy dài thành một cao nguyên, và, chỉ gợn sóng nhẹ, cứ bền bỉ nằm trên mặt bằng của mức quen thuộc trước kia. Đó là một cơn tăng nhiệt mà, theo lời Hofrat, độ cao và sự dai dẳng chẳng tương xứng mấy với phát hiện tại chỗ. "Rốt cuộc thì cậu vẫn bị nhiễm độc hơn người ta tưởng ở cậu đấy, cậu bạn nhỏ ạ," ông nói. "Nào, ta thử dùng đến tiêm vậy! Cái ấy sẽ hợp với cậu. Ba bốn tháng nữa cậu sẽ như cá gặp nước, nếu theo ý kẻ ký tên dưới đây." Thế là từ đó Hans Castorp mỗi tuần hai lần, vào thứ Tư và thứ Bảy, ngay sau buổi vận động sáng, phải xuống "phòng thí nghiệm" trình diện để nhận mũi tiêm của mình.

Cả hai vị bác sĩ đều cho dùng thứ thuốc ấy, khi người này, khi người kia, nhưng Hofrat làm việc ấy như một tay bậc thầy, với một cú vung gọn, vừa châm kim vừa đẩy thuốc vào. Ngoài ra, ông chẳng bận tâm mấy đến chỗ mình đâm, thành thử lắm khi đau đến quỷ thần, và cái điểm ấy còn cứng rắn, nóng rát mãi hồi lâu. Hơn nữa, mũi tiêm tác động dữ dội lên toàn bộ cơ thể, làm chấn động hệ thần kinh như một hành vi cưỡng bức kiểu thể thao, và điều đó chứng tỏ sức lực vốn có ở nó; sức lực ấy còn biểu lộ ở chỗ, ngay tức khắc, trong chốc lát, nó thậm chí còn làm nhiệt độ tăng lên: Hofrat đã báo trước như thế, và quả đúng là như thế, đều đặn như luật định, không có gì đáng bắt bẻ ở hiện tượng đã được báo trước ấy. Thủ thuật diễn ra rất nhanh, miễn là tới lượt mình; chỉ trong nháy mắt người ta đã có thuốc đối trị nằm dưới da, dù là ở đùi hay ở cánh tay. Nhưng đôi ba lần, khi Hofrat tình cờ có hứng và không bị thuốc lá làm u ám, thì nhân dịp tiêm chích cũng có một cuộc chuyện trò nhỏ với ông, mà Hans Castorp biết cách lèo lái đại khái như sau:

"Tôi vẫn còn thích nhớ đến buổi cà phê đầm ấm bữa nọ tại nhà ông, thưa Herr Hofrat, vào mùa thu năm ngoái, khi tình cờ lại thành ra như thế. Mới hôm qua thôi, hay là đã lâu hơn rồi nhỉ, tôi còn nhắc với ông anh họ tôi về chuyện đó..."

"Gaffky bảy," Hofrat nói. "Kết quả mới nhất. Cậu chàng nhất định không chịu giải độc. Ấy thế mà chưa bao giờ nó làm tôi bực và quấy rầy như dạo gần đây, cứ nằng nặc đòi đi và đòi có một thanh kiếm đeo, cái đầu trẻ con. Nó đem mười lăm tháng trời cỏn con của nó ra mà ca cẩm với tôi, cứ như thể đã ném đi cả mấy kỷ nguyên vậy. Đòi đi, đằng nào cũng đòi đi, nó cũng nói thế với cậu chứ? Cậu nên nói cho nó tỉnh ra, từ phía cậu ấy, mà phải nói mạnh vào! Cái thằng đàn ông ấy sẽ đi tong nếu nó non nớt mà nuốt cái đám mờ êm ái của cậu, trên kia bên phải. Một tay ăn sắt như thế thì chẳng cần bao nhiêu chất xám, nhưng cậu, người điềm đạm hơn, người dân sự, người có giáo dưỡng tư sản, cậu nên chỉnh cái đầu nó lại trước khi nó làm điều dại dột."

"Tôi vẫn làm thế, thưa Herr Hofrat," Hans Castorp đáp, mà không để rời tay lái. "Tôi vẫn thường làm thế mỗi khi cậu ấy nổi tính, và dĩ nhiên cũng nghĩ rằng rồi cậu ấy sẽ chịu nghe lẽ phải. Nhưng những tấm gương bày ra trước mắt ta đâu phải lúc nào cũng là tốt nhất, chính cái ấy mới hại. Cứ luôn luôn có những cuộc ra đi, những cuộc trở xuống miền đồng bằng, tự ý và không có thẩm quyền đích thực, nhưng lại được làm như một cuộc lễ hội, cứ như thể đó là một cuộc ra đi thật sự, và ở đó có cái gì quyến rũ đối với những tính cách yếu hơn. Chẳng hạn mới đây... mới đây còn ai ra đi nữa nhỉ? Một quý bà, ở bàn Nga tốt, Madame Chauchat. Về Dagestan, người ta kể thế. Thì Dagestan, tôi không biết khí hậu ở đó, rốt cuộc có lẽ cũng ít bất lợi hơn ở vùng ven nước trên kia. Nhưng theo nghĩa của chúng ta thì dẫu sao cũng vẫn là miền đồng bằng, cho dù về mặt địa lý nó có thể là miền núi, tôi không thạo lắm khoản ấy. Thế rồi người ta sống thế nào được trong khi còn chưa lành hẳn, ở nơi mà những khái niệm cơ bản đều thiếu cả, và không ai biết gì về trật tự của chúng ta trên này, về việc phải giữ gìn ra sao với chuyện nằm và đo nhiệt độ? Mà dù sao thì bà ấy cũng sẽ trở lại thôi, chính bà ấy đã có lần cho tôi biết như vậy, mà sao ta lại nhắc tới bà ấy nhỉ? À phải, hôm ấy chúng tôi gặp ông trong vườn, thưa Herr Hofrat, nếu ông còn nhớ, hay đúng hơn là ông gặp chúng tôi, vì chúng tôi ngồi trên một băng ghế, tôi còn nhớ rõ là ghế nào, tôi có thể chỉ chính xác cho ông cái ghế chúng tôi đã ngồi đó hút thuốc. Nghĩa là tôi hút thuốc, vì ông anh họ tôi thì thật khó hiểu, lại không hút. Mà ông hôm ấy cũng đang hút thuốc, và chúng tôi còn mời nhau nhãn hiệu của mình nữa, giờ tôi mới lại nhớ ra, điếu Brasil của ông ngon tuyệt với tôi, nhưng phải xử trí với nó như với ngựa non thì phải, nếu không dễ xảy chuyện lắm, như đã xảy ra với ông bữa ấy sau hai điếu hàng nhập nho nhỏ, khi ông muốn đứng dậy mà nhảy đi với bộ ngực phập phồng, có điều vì rốt cuộc chẳng sao nên giờ ta có thể cười. Vả lại dạo nọ tôi lại đặt từ Bremen gửi lên vài trăm điếu Maria Mancini, tôi quả rất gắn bó với thứ sản phẩm ấy, nó làm tôi có cảm tình về mọi phương diện. Chỉ có điều giá tăng lên vì thuế và cước phí thì khá là đau, và nếu kỳ tới ông còn chất thêm cho tôi một món đáng kể nữa, thưa Herr Hofrat, thì rất có thể tôi đành cải đạo mà quay sang một thứ cỏ bản xứ ở đây thôi, trong các cửa sổ người ta trưng bày những món khá đẹp. Rồi sau đó chúng tôi còn được xem tranh của ông nữa, tôi nhớ như in đến hôm nay và đã vô cùng thích thú, tôi thật sự kinh ngạc trước những gì ông dám mạo hiểm với sơn dầu, tôi thì chẳng bao giờ dám thế. Hôm ấy chúng tôi cũng thấy chân dung Frau Chauchat với làn da được vẽ hạng nhất kia, tôi có thể nói rằng tôi đã say mê. Bấy giờ tôi còn chưa quen chính người mẫu ấy, chỉ biết bà qua diện mạo và tên gọi. Từ đó về sau, ngay sát trước lần ra đi này của bà ấy, tôi mới còn được đích thân làm quen với bà."

"Cậu nói gì cơ!" Hofrat đáp, cũng đúng hệt như ông đã đáp, nếu được phép nhắc lại, khi trước cuộc khám đầu tiên Hans Castorp báo với ông rằng ngoài ra chàng cũng có chút sốt. Và rồi ông không nói gì thêm.

"Phải, đúng là như thế," Hans Castorp xác nhận. "Theo kinh nghiệm thì trên này quả thật không dễ kết giao, nhưng giữa Frau Chauchat và tôi, vào giờ phút chót, rốt cuộc cũng đã thành và thu xếp xong, trong chuyện trò chúng tôi đã..." Hans Castorp rít không khí qua kẽ răng. Chàng vừa nhận mũi tiêm. "Phù!" chàng bật ra, ngoái về phía sau. "Chắc hẳn ông vừa tình cờ chạm trúng một dây thần kinh cực kỳ quan trọng nào đó, thưa Herr Hofrat. Ôi, vâng, vâng, đau đến địa ngục. Cảm ơn, xoa bóp một chút thì đỡ... Trong chuyện trò, chúng tôi đã gần nhau hơn."

"Thế à! Rồi sao?" Hofrat nói. Ông hỏi và gật đầu, với vẻ mặt của một người đang đợi một câu trả lời hết sức khen ngợi, đồng thời đã đặt vào chính câu hỏi ấy, từ kinh nghiệm bản thân, sự xác nhận cho lời khen đang chờ đợi.

"Tôi ngờ rằng tiếng Pháp của tôi có hơi trục trặc," Hans Castorp lảng đi. "Rốt cuộc thì tôi biết nó từ đâu cho được. Nhưng đúng vào lúc cần thiết, lắm khi người ta lại được ban cho đủ thứ, và thế là việc hiểu nhau cũng tạm ổn một cách khá tử tế."

"Tôi tin thế. Nào?" Hofrat lặp lại lời thúc giục của mình. Tự ông lại thêm vào: "Xinh xắn, phải không?"

Hans Castorp vừa cài cổ áo sơ mi vừa đứng dang chân, khuỷu tay xoè ra, mặt ngửa lên trần.

"Rốt cuộc thì chuyện ấy cũng chẳng có gì mới," chàng nói. "Ở một nơi nghỉ tắm dưỡng, hai người hay thậm chí hai gia đình cùng sống nhiều tuần dưới một mái nhà, cách biệt nhau. Rồi một ngày nọ họ làm quen với nhau, thành thật cảm mến nhau, và đồng thời lại vỡ lẽ rằng một bên đang chuẩn bị ra đi. Cái nỗi tiếc nuối như thế hẳn xảy ra thường lắm, tôi tưởng vậy. Thế rồi ít ra người ta cũng muốn giữ chút liên lạc với nhau trong đời, được nghe tin nhau, nghĩa là qua đường bưu điện. Nhưng Frau Chauchat..."

"Chà, cô ấy hẳn không muốn chứ gì?" Hofrat cười một cách hiền hòa.

"Không, bà ấy chẳng muốn biết gì đến chuyện đó cả. Thế bà ấy cũng chẳng bao giờ viết cho ông vài dòng xen giữa, từ những nơi lưu trú của bà ấy sao?"

"Ấy, Chúa gìn giữ," Behrens đáp. "Cô nàng ấy chẳng bao giờ nghĩ đến chuyện đó đâu. Trước hết là vì lười, rồi nữa, viết thế nào được? Tôi không đọc được tiếng Nga, lúc cần kíp thì tôi cũng có thể bập bẹ đôi câu, nhưng đọc thì chẳng được lấy một chữ. Mà cậu thì càng không. Thế rồi, tiếng Pháp hay cả thứ Tân Cao Đức thì con mèo con ấy meo meo đáng yêu thật đấy, nhưng bảo viết, thì nó sẽ lúng túng đến cùng cực. Chính tả, anh bạn ạ! Không, thế thì đành tự an ủi thôi, chàng trai của tôi. Đằng nào nàng cũng cứ thỉnh thoảng lại trở về, hết thời kỳ này đến thời kỳ khác. Chuyện kỹ thuật, vấn đề tính khí, như tôi đã nói rồi. Người này thì lâu lâu lại tổ chức một cuộc ra đi và cứ phải quay lại mãi, còn người kia thì ở lại ngay một lèo lâu đến mức không bao giờ cần quay lại nữa. Nếu bây giờ ông anh họ cậu ra đi, cứ bảo nó như thế cho tôi, thì rất có thể cậu sẽ còn được chứng kiến cuộc trở vào long trọng của nó ngay tại đây đấy."

"Nhưng thưa Herr Hofrat, ông nghĩ rằng tôi sẽ còn..."

"Cậu à? Nó! Là nó! Rằng nó sẽ không ở dưới kia lâu đến thế như nó đã ở trên này. Ý tôi là thế, với con người thật thà này của tôi, và đó là lời nhắn tôi gửi cậu cho nó, nếu cậu vui lòng."

Một cuộc chuyện trò như thế có lẽ đã diễn ra đại khái như vậy, được Hans Castorp khôn khéo lèo lái, cho dù kết quả của nó chỉ là hư không đến nước lưỡng nghĩa. Bởi vì về chuyện phải ở lại bao lâu mới được chứng kiến sự quay về của một người bỏ đi trước thời hạn, thì nó đã lưỡng nghĩa; còn đối với người đàn bà đã khuất bóng kia, thì hoàn toàn bằng không. Hans Castorp sẽ không nghe được tin gì của nàng chừng nào bí mật của không gian và thời gian còn ngăn cách họ; nàng sẽ không viết, và cả chàng nữa, cũng sẽ không được trao cho dịp làm điều đó... Mà thực ra vì sao sự việc lại phải khác đi, nếu chàng suy xét cho kỹ? Chẳng phải chàng đã có một ý nghĩ thật tư sản và câu nệ đó sao, rằng họ phải viết thư cho nhau, trong khi ngày trước chàng đã từng cảm thấy như thể giữa họ, chuyện _nói_ với nhau thậm chí còn chẳng cần thiết, hay chỉ đáng mong muốn mà thôi? Và phải chăng chàng quả thực đã "nói" với nàng, theo nghĩa của Tây phương có giáo dưỡng, bên cạnh nàng trong đêm hội hóa trang, hay đúng hơn là đã nói mộng bằng ngoại ngữ, theo một lối ít văn minh? Vậy thì còn viết để làm gì nữa, trên giấy thư hay bưu thiếp, như những tấm chàng thỉnh thoảng vẫn gửi về nhà dưới miền đồng bằng để báo tin về những dao động trong kết quả khám nghiệm? Chẳng phải Clawdia có lý khi cảm thấy mình được miễn khỏi chuyện thư từ, nhờ cái tự do mà bệnh tật ban cho nàng sao? Nói, viết, một công việc thật hết sức nhân văn-cộng hòa kia đấy, công việc của ông Brunetto Latini, người đã viết cuốn sách về các đức hạnh và các thói xấu, đã trau chuốt người Florence, dạy họ nói năng và nghệ thuật lèo lái nền cộng hòa của họ theo những quy tắc của chính trị...

Từ đó những ý nghĩ của Hans Castorp lại rơi vào Lodovico Settembrini, và chàng đỏ mặt như bữa nọ đã đỏ mặt, khi nhà văn bất ngờ bước vào phòng bệnh của chàng, làm cả căn phòng bỗng bừng sáng. Với Herr Settembrini, Hans Castorp hẳn cũng có thể đem những câu hỏi của mình về các câu đố siêu cảm ra mà hỏi, dẫu chỉ theo nghĩa thách thức và quấy nhiễu, chứ không phải trong niềm chờ đợi sẽ nhận được câu trả lời từ một nhà nhân văn mà mọi cố gắng đều hướng về những quyền lợi trần thế của đời sống. Nhưng kể từ buổi hội hè mùa Fasching và cuộc ra đi đầy xao động của Settembrini khỏi phòng dương cầm, giữa Hans Castorp và người Ý đã hình thành một sự xa cách, bắt nguồn từ lương tâm cắn rứt của người này cũng như nỗi bất bình sư phạm sâu xa của người kia, và đưa đến chỗ họ lánh nhau, nhiều tuần liền không trao với nhau một lời nào. Trong mắt Herr Settembrini, Hans Castorp còn là một "đứa con cưng đáng lo của cuộc đời" nữa chăng? Không, hẳn chàng đã là một kẻ bị buông bỏ trong mắt con người tìm kiếm luân lý ở lý trí và đức hạnh ấy... Và Hans Castorp cũng cứng lòng lại đối với Herr Settembrini, chàng cau mày và bĩu môi khi họ gặp nhau, trong khi cái nhìn đen láy sáng bóng của Herr Settembrini dừng trên chàng với một lời trách cứ câm lặng. Dẫu vậy, sự cứng lòng ấy lập tức tan đi khi nhà văn, sau nhiều tuần, như đã nói, lần đầu tiên lại cất lời với chàng, tuy chỉ là lúc sượt qua nhau và dưới hình thức những ám chỉ thần thoại, muốn hiểu được thì phải có giáo dưỡng Tây phương. Việc ấy xảy ra sau bữa tối; họ gặp nhau ở cánh cửa kính không còn sập mạnh nữa. Settembrini nói, vượt qua chàng trai trẻ và ngay từ đầu đã có ý sắp tách khỏi chàng lần nữa:

"Thế nào, kỹ sư, quả lựu nếm ra sao?"

Hans Castorp mỉm cười, vừa vui sướng vừa bối rối.

"Nghĩa là... Ông muốn nói gì vậy, thưa Herr Settembrini? Quả lựu à? Có thấy dọn đâu? Tôi chưa bao giờ trong đời... À có, một lần tôi đã uống nước lựu pha Selters. Nó ngọt quá."

Người Ý, đã đi qua rồi, ngoái đầu lại và nhả từng tiếng:

"Thần linh và phàm nhân đôi khi đã từng xuống cõi âm rồi lại tìm được đường về. Nhưng những kẻ dưới lòng đất biết rằng ai nếm trái cây của vương quốc họ thì sẽ mãi thuộc về họ."

Và ông lại đi tiếp, trong chiếc quần kẻ ô sáng màu muôn thuở của mình, bỏ lại sau lưng Hans Castorp, người lẽ ra phải bị "đâm thấu" bởi ngần ấy ý nghĩa và theo một nghĩa nào đó quả cũng đã như vậy, mặc dù chàng, vừa bực vừa buồn cười trước cái đòi hỏi phải là như vậy, lẩm bẩm một mình:

"Latini, Carducci, Ratzi-Mausi-Falli, để tôi yên!"

Dẫu vậy, chàng vẫn xúc động hạnh phúc vô cùng trước lời bắt chuyện đầu tiên ấy; bởi lẽ bất chấp chiến lợi phẩm, món tặng phẩm rùng rợn mà chàng mang trên tim, chàng vẫn gắn bó với Herr Settembrini, hết sức coi trọng sự hiện hữu của ông, và ý nghĩ rằng mình đã hoàn toàn và vĩnh viễn bị ông khước từ, từ bỏ, hẳn sẽ còn đè nặng và khủng khiếp đối với tâm hồn chàng hơn là cảm giác của cậu học trò không còn được kể đến ở trường nữa và ung dung hưởng những lợi lộc của nỗi nhục, như Herr Albin... Nhưng chàng không dám tự phía mình cất lời với vị mentor, và ông này lại để mặc cho nhiều tuần trôi qua trước khi một lần nữa tiến lại gần đứa học trò đáng lo ấy.

Điều đó xảy ra khi trên những đợt sóng biển của thời gian cứ lăn tới trong một nhịp điệu đơn điệu vĩnh cửu, lễ Phục Sinh đã được đưa dạt tới và được cử hành ở "Berghof", như người ta cẩn trọng cử hành ở đó mọi chặng đoạn và mọi dấu mốc, để tránh một sự đều đều không phân đốt. Trong bữa điểm tâm thứ nhất, mỗi vị khách đều thấy bên bộ đồ ăn của mình một bó violet nhỏ; đến bữa điểm tâm thứ hai, ai nấy nhận được một quả trứng nhuộm màu; còn bàn ăn trưa ngày lễ thì được trang hoàng bằng những chú thỏ làm bằng đường và sô-cô-la.

“Ngài Tenente, còn ông, Ingenieur, các ông đã từng đi biển bao giờ chưa?” Herr Settembrini hỏi, khi sau bữa ăn ông cầm chiếc tăm xỉa răng bước tới bên chiếc bàn nhỏ của hai anh em họ... Cũng như phần đông khách trọ, hôm nay họ rút ngắn kỳ liệu pháp nằm nghỉ chính đi một phần tư giờ để ngồi đây uống cà phê với cognac. “Bị mấy con thỏ này, mấy quả trứng nhuộm màu này gợi nhắc, tôi nhớ tới đời sống trên một chiếc tàu hơi nước lớn, nhiều tuần liền trước một chân trời trống rỗng, giữa chốn hoang mạc mặn chát, trong những hoàn cảnh mà sự tiện nghi hoàn hảo của nó chỉ khiến người ta quên đi tính quái đản của chúng ở bề mặt, trong khi ở những vùng sâu hơn của tâm tư, ý thức về điều ấy vẫn âm thầm gặm nhấm như một nỗi kinh hoàng kín mật... Tôi nhận ra lại cái tinh thần theo đó, trên boong một chiếc phương chu như thế, người ta cung kính gợi nhắc các ngày lễ của _terraferma_. Đó là sự tưởng niệm của những kẻ ở ngoài thế giới, là ký ức mẫn cảm theo lịch... Ở đất liền hôm nay hẳn là lễ Phục sinh, phải không? Ở đất liền hôm nay người ta mừng sinh nhật đức vua, và chúng ta cũng làm thế, chừng nào có thể, chúng ta cũng là con người kia mà... Có phải vậy không?”

Hai anh em họ tán đồng. Quả thực là thế. Hans Castorp, cảm động vì được ngỏ lời và bị lương tâm cắn rứt thúc bách, liền hết lời ca ngợi nhận xét ấy, cho là thông tuệ, tuyệt diệu và đậm chất văn chương, rồi ra sức phụ họa Herr Settembrini. Chắc chắn là như vậy, chỉ ở bề mặt thôi, đúng hệt như Herr Settembrini đã nói một cách tạo hình đến thế, sự tiện nghi trên chiếc tàu biển mới khiến người ta quên đi hoàn cảnh và tính táo bạo của hoàn cảnh ấy; mà, nếu được phép tự mình nói thêm, trong sự tiện nghi hoàn hảo ấy thậm chí còn có một nét gì đó của sự phù phiếm và thách thức, một điều tương tự như cái mà người xưa gọi là Hybris (chỉ để lấy lòng mà chàng đến cả người xưa cũng viện dẫn), hay đại loại như: “Ta là vua Babylon!”, nói tóm lại là một cái gì phạm thượng. Nhưng mặt khác, sự xa xỉ trên tàu, xét cho cùng, lại cũng “involviere” một thắng lợi lớn của tinh thần con người và danh dự con người, bởi lẽ khi mang sự xa xỉ và tiện nghi ấy ra tận những bọt sóng mặn mòi và ở đó can trường duy trì nó, con người, nói như vậy, đã đặt bàn chân mình lên gáy các nguyên tố, lên những quyền lực hoang dại, và điều đó lại “involviere” chiến thắng của nền văn minh nhân loại trước hỗn mang, nếu chàng được phép tự mình dùng lối nói ấy...

Herr Settembrini chăm chú nghe chàng, chân bắt chéo, tay cũng bắt chéo, đồng thời một cách điệu đà dùng chiếc tăm vuốt bộ ria cong.

“Thật đáng chú ý,” ông nói. “Con người ta không thể thốt ra một nhận xét nào có tính khái quát, dù chỉ đôi chút đĩnh đạc, mà lại không tự phơi bày trọn vẹn mình, không vô tình đặt cả cái tôi của mình vào đó, không bằng một ẩn dụ nào đó trình bày chủ đề nền tảng và vấn nạn nguyên ủy của đời mình. Vừa rồi ông đã như thế đấy, Ingenieur. Điều ông nói quả thật phát ra từ tận đáy nhân cách của ông, và nó cũng diễn đạt, theo một lối thi vị, trạng thái hiện thời của nhân cách ấy: đó vẫn còn là trạng thái của cuộc thử nghiệm...”

“_Placet experiri!_” Hans Castorp gật đầu và cười nói, với chữ _c_ theo lối Ý.

“_Sicuro_, nếu ở đây là nói về niềm đam mê đáng kính muốn trải nghiệm thế giới, chứ không phải sự buông thả. Ông đã nói đến ‘Hybris’, ông đã dùng chính chữ ấy. Nhưng Hybris của lý trí chống lại những quyền lực tăm tối mới là tính người cao nhất, và nếu nó triệu vời sự báo thù của các vị thần ganh tị, _per esempio_, bằng việc chiếc phương chu xa xỉ bị đắm và cắm đầu thẳng xuống vực sâu, thì đó là một sự diệt vong trong danh dự. Ngay cả hành động của Prometheus cũng là Hybris, và nỗi khổ hình của ông trên mỏm đá Scythia đối với chúng ta là cuộc tử đạo thiêng liêng nhất. Còn cái Hybris kia thì sao, sự diệt vong trong cuộc thử nghiệm dan díu với những sức mạnh của phản lý tính và của lòng thù địch đối với loài người thì sao? Có danh dự chăng? Nó có thể có danh dự chăng? _Sì o no!_”

Hans Castorp khuấy chiếc tách nhỏ của mình, mặc dù trong đó chẳng còn gì.

“Ingenieur, Ingenieur,” người Ý vừa gật đầu vừa nói, và đôi mắt đen của ông như nhìn trân trân trong vẻ trầm tư, “ông không sợ cơn lốc của vòng địa ngục thứ hai, nơi đánh dập và quăng quật những kẻ phạm tội xác thịt, những kẻ bất hạnh đã đem lý trí hiến tế cho lạc thú đó sao? _Gran Dio_, khi tôi hình dung ông sẽ bị thổi bay đầu trên đầu dưới, chấp chới tứ phía, tôi muốn ngã lăn ra vì buồn khổ, như một cái xác ngã xuống vậy...”

Họ cười, vui vì ông đùa và nói những điều đầy thi vị. Nhưng Settembrini nói thêm:

“Vào tối hóa trang, bên rượu vang, ông còn nhớ chứ, Ingenieur, ông đã phần nào từ biệt tôi, vâng, đại khái là như vậy. Thế thì hôm nay đến lượt _tôi_. Như các ông đang thấy tôi đây, thưa các ông, tôi sắp nói lời từ biệt với các ông. Tôi rời khỏi ngôi nhà này.”

Cả hai kinh ngạc đến tột độ.

“Không thể nào! Đó chỉ là chuyện đùa thôi!” Hans Castorp kêu lên, y như có dịp khác chàng cũng từng kêu như thế. Chàng hầu như kinh hãi chẳng kém lần trước. Nhưng Settembrini cũng đáp lại:

“Hoàn toàn không. Đúng như tôi nói với các ông đấy. Mà vả lại tin này cũng không đến với các ông một cách không được chuẩn bị. Tôi đã giải thích với các ông rằng vào lúc niềm hy vọng của tôi, hy vọng có thể trong một thời gian nào đó còn trông thấy được mà trở về với thế giới lao động, tỏ ra không thể đứng vững nữa, thì tôi đã quyết sẽ nhổ trại ở đây và thu xếp ở đâu đó trong làng cho lâu dài. Thế còn muốn sao nữa, khoảnh khắc ấy đã tới rồi. Tôi không thể bình phục, điều đó đã được xác quyết. Tôi có thể lần hồi sống tiếp, nhưng chỉ ở đây thôi. Bản án, bản án chung quyết, tuyên là chung thân, và Hofrat Behrens đã báo cho tôi điều ấy với chính vẻ vui tươi vốn có của ông ta. Vậy thì tốt, tôi rút ra những hệ luận. Một chỗ trọ đã được thuê, tôi đang sửa soạn chuyển tới đó chút tài sản trần thế ít ỏi của mình cùng đồ nghề văn chương... Cũng không xa đây lắm, ở ‘Dorf’, chúng ta sẽ còn gặp nhau, chắc chắn thế, tôi sẽ không để các ông khuất mắt đâu, nhưng với tư cách người cùng nhà, tôi có danh dự được từ biệt các ông.”

Đó là lời loan báo của Settembrini vào ngày Chủ nhật Phục sinh. Hai anh em họ đã tỏ ra hết sức xúc động vì chuyện ấy. Họ còn chuyện trò khá lâu, lại nhiều lần, với nhà văn về quyết định của ông: về việc ngay cả ở tư gia ông vẫn có thể tiếp tục chế độ điều dưỡng ra sao; về việc mang theo và tiếp tục công trình bách khoa thư đồ sộ mà ông đã nhận lấy, cái bản tổng quan về mọi kiệt tác của tinh thần cao nhã dưới góc độ những xung đột của đau khổ và sự diệt trừ chúng; sau hết, còn về chỗ ở tương lai của ông trong nhà một “người bán tạp hóa”, như Herr Settembrini nói. Người bán tạp hóa ấy, ông kể, đã cho một thợ may nữ người Bohemia thuê phần trên căn nhà của mình, và tay này đến lượt lại nhận người thuê lại... Vậy là những câu chuyện ấy đã lùi vào dĩ vãng. Thời gian bước tới, và hơn một đổi thay đã do nó đem lại. Settembrini quả thực không còn ở dưỡng đường quốc tế “Berghof” nữa, mà ở nhà Lukaček, tay thợ may nữ, đã được mấy tuần rồi. Cuộc dọn đi của ông không diễn ra dưới hình thức một chuyến xe trượt tuyết rời trại, mà là đi bộ, trong một chiếc paletot ngắn màu vàng, cổ và tay áo hơi điểm lông, có một người đi kèm đẩy xe cút kít chở hành lý văn chương cùng hành lý trần thế của nhà văn, và người ta đã thấy ông vung gậy mà đi khuất, sau khi còn đứng dưới cổng nhéo má một cô hầu bàn bằng lưng hai ngón tay... Như ta đã nói, tháng Tư đã phần lớn, đến ba phần tư, ngả vào bóng quá khứ; dẫu vậy, vẫn còn là giữa mùa đông, quả thật, trong phòng buổi sáng chỉ hơn sáu độ một chút, ngoài trời rét âm chín độ, lọ mực nếu để ngoài loggia thì qua đêm vẫn đóng lại thành một cục băng, một cục than đá. Nhưng mùa xuân đang đến gần, người ta biết điều đó; ban ngày, khi mặt trời chiếu, trong không khí đây đó đã có thể cảm thấy một linh cảm hết sức khẽ khàng, hết sức mong manh về nó; thời kỳ tuyết tan đang ở ngay trước mắt, và với việc ấy gắn liền những biến đổi đang diễn ra không gì ngăn nổi ở “Berghof”, không ngăn nổi ngay cả bởi uy quyền, bởi lời nói sống động của Hofrat, người trong phòng, trong sảnh, trong mỗi lần khám, mỗi lượt thăm bệnh, mỗi bữa ăn, đều chống lại thành kiến phổ biến đối với mùa tuyết tan.

Ông hỏi, ông đang phải đối phó với những người chơi thể thao mùa đông hay với người ốm, với bệnh nhân? Họ cần tuyết, tuyết đông cứng, để làm gì trên đời kia chứ? Một thời kỳ bất lợi, mùa tuyết tan ư? Chính là thời kỳ thuận lợi nhất thì có! Theo chứng cứ hẳn hoi, khắp cả thung lũng vào lúc này số người nằm liệt giường tương đối còn ít hơn bất cứ thời điểm nào khác trong năm! Khắp thế giới rộng lớn, điều kiện thời tiết cho người bệnh phổi vào mùa này đều tệ hơn chính ở đây! Ai có một tia lý trí thì cứ nên ở lại mà tận dụng tác dụng tôi luyện của thời tiết nơi đây. Sau đó người ấy sẽ vững vàng trước mọi đòn đánh, được miễn nhiễm với mọi khí hậu trên đời, với điều kiện duy nhất là phải chờ cho sự khỏi bệnh hoàn toàn thực sự nhập cuộc, và cứ thế mãi. Nhưng Hofrat có nói hay đến đâu đi nữa, thành kiến đối với mùa tuyết tan vẫn cắm chặt trong đầu óc người ta, nơi nghỉ dưỡng vắng dần; rất có thể chính mùa xuân đang tới đã cồn cào trong thân thể họ và làm những con người quen định cư hóa ra bứt rứt, ham đổi thay, dù sao thì những cuộc ra đi “hoang” và “sai luật” cũng tăng lên ngay trong nhà Berghof đến mức đáng ngại. Chẳng hạn Frau Salomon ở Amsterdam, mặc cho niềm khoái thú mà các cuộc khám bệnh cùng việc phô bày những bộ đồ lót ren tinh xảo nhất đem lại cho bà, đã bỏ đi một cách hoàn toàn “hoang” và “sai luật”, không hề được phép, mà không phải vì bà khá hơn, trái lại vì bà ngày một tệ hơn. Việc bà ở trên này đã lùi rất xa về trước cả ngày Hans Castorp đến; đã hơn một năm từ lúc bà đặt chân tới, với một chứng bệnh rất nhẹ, và người ta đã phán cho bà ba tháng. Sau bốn tháng, đáng lẽ bà “chắc chắn sẽ khỏi trong vòng bốn tuần”, nhưng sáu tuần sau nữa thì khỏi bệnh đã chẳng còn là chuyện có thể nói đến: người ta bảo bà ít nhất còn phải ở lại bốn tháng nữa. Cứ thế mà tiếp diễn, mà đây đâu phải trại khổ sai, cũng chẳng phải mỏ núi ở Siberia, Frau Salomon vẫn ở lại và tiếp tục phô ra những bộ đồ lót tinh xảo nhất. Nhưng vì sau lần khám cuối cùng, đúng lúc mùa tuyết tan trước mắt, bà lại được gia thêm năm tháng nữa, do tiếng rít ở phía trên bên trái và những âm sắc bất thường không thể nhầm lẫn dưới nách trái, nên sự nhẫn nại của bà đứt phựt, và trong phản kháng, vừa chửi rủa “Dorf” và “Platz”, chửi bầu không khí trứ danh, chửi ngôi nhà quốc tế Berghof cùng các bác sĩ, bà bỏ đi, về nhà, về Amsterdam, cái thành phố nước lộng gió.

Làm vậy có khôn ngoan chăng? Hofrat Behrens nhấc vai, nhấc tay lên, rồi thả hai cánh tay ấy đập đánh bốp xuống đùi. Chậm nhất vào mùa thu, ông nói, Frau Salomon sẽ lại có mặt ở đây, nhưng lần ấy thì là mãi mãi. Liệu ông có đúng không? Ta rồi sẽ thấy, vì chúng ta còn bị trói buộc với chốn vui thú này thêm một quãng thời gian trần thế khá dài nữa. Nhưng trường hợp Salomon tuyệt nhiên không phải là trường hợp duy nhất kiểu ấy. Thời gian sinh ra những đổi thay, điều ấy thì nó vẫn luôn làm, song dần dà hơn, không rõ rệt đến thế. Phòng ăn xuất hiện những khoảng trống, những khoảng trống ở cả bảy bàn, ở bàn Nga Tốt cũng như bàn Nga Xấu, ở những bàn kê dọc cũng như bàn kê ngang. Không hẳn điều đó đã cho một hình ảnh đáng tin cậy về số khách của nhà dưỡng đường; bởi những người mới tới, như mọi khi, vẫn có, phòng ốc hẳn vẫn kín, nhưng đó lại là những vị khách mà tình trạng kết thúc đã hạn chế sự tự do đi lại. Trong phòng ăn, như ta đã nói, thiếu vắng không ít người nhờ còn giữ được tự do đi lại; nhưng cũng có người vắng theo một cách đặc biệt sâu và rỗng, như bác sĩ Blumenkohl, người đã chết. Khuôn mặt ông ta ngày càng mang đậm vẻ như đang ngậm trong miệng một thứ gì khó nuốt; rồi ông ta nằm liệt giường luôn và sau đó chết, không ai biết đích xác là vào lúc nào; mọi việc đã được xử trí với tất cả sự tế nhị và kín đáo quen thuộc. Một khoảng trống. Frau Stöhr ngồi bên cạnh khoảng trống ấy, và bà ta rùng mình trước nó. Bởi thế bà ta dời sang phía bên kia của chàng Ziemßen trẻ, sang chỗ của Miss Robinson, người đã được cho ra viện lành bệnh, đối diện cô giáo, người láng giềng bên trái của Hans Castorp, vẫn kiên cố giữ nguyên vị trí. Hiện thời, ở phía bàn ấy chỉ mình cô giáo ngồi đơn độc, ba chỗ còn lại đều bỏ trống. Sinh viên Rasmussen, ngày qua ngày càng đờ đẫn và rũ rượi hơn, đã nằm liệt giường và bị coi là moribund; còn bà cô già thì đã đi cùng cô cháu gái và Marusja ngực nở, chúng ta nói là “đi chơi xa”, như mọi người đều nói, bởi sự trở lại của họ trong một thời gian gần là điều đã định. Ngay đến mùa thu họ cũng sẽ lại đến kia mà, như thế gọi là ra đi sao? Hạ chí chẳng phải đã gần lắm rồi khi chỉ cần lễ Ngũ Tuần qua đi, mà lễ ấy lại đã ngay trước cửa; và khi ngày dài nhất tới, thì mọi sự chẳng lại tuột dốc rất nhanh về phía mùa đông hay sao, nói tóm lại, bà cô già và Marusja cơ hồ đã lại có mặt rồi, mà điều đó là tốt, vì Marusja thích cười nọ tuyệt nhiên chưa được chữa khỏi và tẩy độc; cô giáo biết đôi điều về những vết loét lao mà Marusja mắt nâu ấy được cho là có trên bộ ngực sum suê của mình, và đã mấy lần phải mổ. Khi cô giáo nhắc đến chuyện ấy, Hans Castorp vội liếc sang Joachim, chàng đang cúi gương mặt lấm tấm của mình xuống đĩa.

Bà cô già hoạt bát đã khoản đãi những bạn đồng bàn, tức là hai anh em họ, cô giáo và Frau Stöhr, một bữa tối từ biệt tại nhà hàng, một cuộc chè chén với trứng cá muối, champagne và rượu mùi, trong đó Joachim giữ vẻ rất lặng lẽ, thậm chí chỉ nói lẻ tẻ vài câu bằng một giọng gần như không thành tiếng, đến nỗi bà cô già, với lòng yêu người của mình, đã cất lời khích lệ chàng, mà lại, gạt sang một bên những luật lệ phong nhã của văn minh, còn xưng hô thân mật với chàng nữa. “Có hề hấn gì đâu, bố trẻ ạ, đừng để bụng, cứ uống, cứ ăn, cứ nói đi, chúng tôi sắp trở lại thôi!” bà nói. “Nào ta cùng ăn, cùng uống, cùng chuyện trò, còn nỗi buồn thì cứ để nó là nỗi buồn, Chúa sẽ cho thu sang trước khi ta ngờ tới, tự cậu phán xem, có gì đáng để phiền muộn nào!” Sáng hôm sau, để làm kỷ niệm, bà phát cho hầu như tất cả khách lui tới phòng ăn những hộp “kẹo nhỏ” sặc sỡ, rồi cùng hai cô gái trẻ của mình đi chơi xa ít bữa.

Còn Joachim thì sao, tình cảnh chàng thế nào? Từ đó chàng có được giải thoát và nhẹ nhõm chăng, hay tâm hồn chàng lại chịu một sự thiếu vắng nặng nề trước phía bàn trống rỗng kia? Sự sốt ruột khác thường và có tính phản kháng của chàng, lời đe dọa rằng nếu còn bị dắt mũi lâu hơn nữa thì chàng sẽ làm một cuộc ra đi hoang, có liên quan đến sự ra đi của Marusja chăng? Hay ngược lại, chính việc chàng trước mắt rốt cuộc vẫn chưa đi, mà còn ghé tai nghe sự tôn vinh mùa tuyết tan của Hofrat, là do sự thật kia quyết định: rằng Marusja ngực nở chẳng phải đã thực sự ra đi, mà chỉ mới đi vắng ít bữa, và sẽ trở lại sau năm đơn vị nhỏ nhất của thời gian trên này? Ôi, hẳn là tất cả những điều ấy cùng một lúc đều đúng cả, hết thảy với mức độ ngang nhau; Hans Castorp có thể tự hình dung như vậy, ngay cả chẳng bao giờ nói với Joachim về chuyện ấy. Bởi chàng kiêng nhắc đến nó nghiêm ngặt hệt như Joachim tránh gọi tên một người đàn bà khác cũng chỉ đi vắng ít bữa.

Trong khi đó, tại bàn của Settembrini, ở chỗ ngồi của người Italy, gần đây ai đã ngồi đó, giữa bầu bạn là những vị khách Hà Lan có sức ăn ghê gớm đến nỗi đầu mỗi bữa tối năm món hằng ngày, ngay cả trước món súp, ai nấy cũng gọi dọn cho mình ba quả trứng ốp-la? Đó là Anton Karlowitsch Ferge, chính ông, kẻ đã nếm trải cuộc phiêu lưu địa ngục của cơn sốc màng phổi! Phải, Herr Ferge đã ra khỏi giường; ngay cả không cần khí màng phổi nhân tạo, tình trạng ông cũng đã khá lên đến mức ông trải phần lớn thời gian ban ngày trong bộ dạng đi lại được và ăn mặc chỉnh tề, và với bộ ria mép phồng lên hiền lành của mình cùng cái yết hầu to lớn nom cũng hiền lành không kém, ông lại dự các bữa ăn. Hai anh em họ đôi khi chuyện trò với ông trong phòng ăn và ngoài đại sảnh, và đôi khi nữa, khi tình cờ tiện thể, họ cùng đi với ông trong những cuộc dạo bộ công vụ, lòng mang thiện cảm đối với người chịu đựng chất phác ấy, kẻ tự nhận là hoàn toàn chẳng hiểu gì những điều cao siêu, rồi, sau lời mào đầu như thế, lại kể một cách hết sức thư thái về nghề chế tạo giày cao su và những miền xa xôi của đế quốc Nga, Samara, Georgia, trong khi họ lội bì bõm qua thứ bùn nhão của nước tuyết giữa màn sương.

Bởi lẽ lúc này đường sá quả thực hầu như không đi nổi nữa, chúng đang trong cơn tan rã hoàn toàn, và sương mù đang ủ đặc. Dĩ nhiên Hofrat nói đó không phải sương mù mà là mây; nhưng theo phán đoán của Hans Castorp, ấy chỉ là thói bắt bẻ chữ nghĩa. Mùa xuân đang trải qua một cuộc chiến nặng nề, một cuộc chiến kéo dài hàng tháng trời, mãi tới tận tháng Sáu, xen giữa cả trăm lần tái phát trở lại cái rét đắng mùa đông. Ngay từ tháng Ba, hễ mặt trời ló ra là ngoài ban-công và trên ghế nằm, dù mặc thứ quần áo mỏng nhất và đã che dù, người ta cũng khó lòng chịu nổi cái nóng, và đã có những quý bà ngay từ khi ấy đã làm ra vẻ mùa hè, đem khoe trong bữa điểm tâm thứ nhất những chiếc váy mousseline. Họ quả có phần được thứ khí hậu trên này biện hộ, một thứ khí hậu khuyến khích sự rối trí bằng cách đảo lộn bừa các mùa theo phương diện khí tượng; nhưng ở sự sốt sắng đi trước ấy của họ cũng còn có biết bao thiển cận và nghèo tưởng tượng, cái thứ ngu xuẩn của những sinh vật chỉ biết có khoảnh khắc hiện tại, không sao nghĩ nổi rằng rồi đây sự thể lại còn có thể đổi khác, và trên hết nữa là lòng ham thích đổi thay cùng nỗi sốt ruột ngốn mất thời gian: lịch đã sang tháng Ba, ấy là mùa xuân, mà mùa xuân thì gần như mùa hè, thế là người ta lôi váy mousseline ra để diện cho người ta ngắm, trước khi mùa thu kịp ập xuống. Và theo một nghĩa nào đó, nó đã ập xuống thật. Tháng Tư mang đến những ngày âm u, ẩm lạnh, cơn mưa dầm lê thê chuyển thành tuyết, thành tuyết mới quay cuồng. Những ngón tay cứng đờ trong loggia, hai tấm chăn lông lạc đà lại được triệu hồi ra làm phận sự, suýt nữa thì người ta phải dùng tới túi lông, ban quản trị quyết định sưởi nóng trở lại, và ai nấy đều than phiền rằng mình đã bị tước mất mùa xuân. Cuối tháng, khắp nơi phủ dày tuyết; nhưng rồi gió foehn nổi lên, đã được những vị khách từng trải và nhạy cảm báo trước, đánh hơi thấy trước: Frau Stöhr cũng như nàng Levi màu ngà, và không kém phần quả quyết là bà góa Hessenfeld, cùng nhất trí cảm nhận được nó ngay trước khi trên đỉnh ngọn núi đá hoa cương phía nam còn chưa xuất hiện lấy một đám mây nhỏ nhất. Bà Hessenfeld lập tức có khuynh hướng lên cơn co giật trong nước mắt, Levi phải nằm liệt giường, còn Frau Stöhr, hàm răng cửa như răng thỏ bướng bỉnh hở ra, cứ từng giờ biểu lộ nỗi lo sợ mê tín rằng một cơn thổ huyết có thể ập đến với bà; bởi người ta đồn rằng gió foehn thúc đẩy và gây ra những chuyện như thế. Cái ấm áp thống trị thật khó tin, lò sưởi tắt ngấm, người ta để cửa ban-công mở suốt đêm mà sáng ra trong phòng vẫn mười một độ; tuyết tan ào ạt, nó trở thành màu băng, xốp và lỗ chỗ, sụt lún ở những nơi chất thành đống, nom như đang lẩn xuống đất. Khắp nơi là rỉ rả, thấm lọc và nhỏ giọt, là rơi tí tách và đổ ào trong rừng, và những bờ chắn xúc đắp dọc đường, những tấm thảm nhợt nhạt của đồng cỏ biến mất, dù khối lượng tuyết trước đó đã đổ xuống quá dồi dào khiến nó không thể biến đi nhanh chóng. Và rồi trên những chặng đường công vụ dưới thung lũng hiện ra những cảnh tượng kỳ diệu, những ngạc nhiên mùa xuân, huyền ảo, chưa từng thấy. Một dải đồng cỏ trải ra đó, phía sau là hình nón Schwarzhorn còn ngập hoàn toàn trong tuyết, bên phải gần đó là sông băng Scaletta cũng còn phủ tuyết dày, và cả mảnh đất với đống cỏ khô đâu đó kia cũng vẫn còn trong tuyết, tuy lớp phủ đã mỏng và thưa, chỗ này chỗ kia bị cắt ngang bởi những chỗ đất gồ lên sẫm màu, thô ráp, và khắp nơi bị cỏ khô đâm thủng. Nhưng như những người đi bộ nhận thấy, ấy là một kiểu phủ tuyết rất không đều mà đồng cỏ kia phô bày ra, bởi ở phía xa, về phía những sườn dốc có rừng, nó dày đặc hơn, còn ở tiền cảnh, trước mắt những người đang xem xét, lớp cỏ vẫn héo quắt và xỉn màu như mùa đông kia chỉ còn lấm tấm tuyết, đốm đốm, nở hoa... Họ nhìn gần hơn, cúi mình xuống ngạc nhiên trước nó, đó không phải tuyết, mà là hoa, hoa-tuyết, tuyết-hoa, những chiếc đài nhỏ cuống ngắn, trắng và trắng ánh lam, đó là crocus, xin lấy danh dự họ mà nói, mọc lên hàng triệu từ nền cỏ ướt rỉ nước, dày đến mức người ta hoàn toàn có thể lầm nó với tuyết, thứ mà rồi xa hơn nữa nó hòa lẫn vào không sao phân biệt nổi.

Họ cười sự lầm lẫn của mình, cười vì vui sướng trước phép lạ hiện ra trước mắt, cái sự thích ứng bắt chước vừa duyên dáng vừa e dè ấy của sự sống hữu cơ vừa mới lần đầu lại dám ló mình ra. Họ hái chúng, ngắm nghía và khảo xét những hình thể đài hoa mảnh dẻ ấy, cài chúng lên khuy áo, mang chúng về, cắm chúng vào những cốc nước trên phòng mình; bởi sự cứng đờ vô cơ của thung lũng đã kéo dài lắm, kéo dài, tuy không buồn tẻ.

Nhưng rồi tuyết-hoa lại bị tuyết thật phủ lấp, và số phận ấy cũng xảy đến với những bông Soldanella xanh lam, những bông anh thảo vàng và đỏ nối tiếp nó. Phải, mùa xuân quả khó khăn biết bao để mở đường và khuất phục mùa đông trên này! Mười lần nó bị quật lùi trước khi có thể đứng chân được ở đây, cho tới lần mùa đông kế tiếp lại xông vào với bụi tuyết trắng, gió băng và lò sưởi phải nhóm lên. Đầu tháng Năm (vì bây giờ hóa ra đã sang tháng Năm rồi, trong khi chúng ta còn đang kể về tuyết-hoa), đầu tháng Năm mà trong loggia chỉ ngồi viết một bưu thiếp gửi về miền đồng bằng thôi cũng đã là một cực hình, ngón tay đau buốt vì cái ẩm lạnh thô bạo của tháng Mười Một; và năm cây rưỡi lá rộng của vùng này trụi không khác cây cối dưới kia vào tháng Giêng. Mưa kéo dài ngày này sang ngày khác, trút xuống suốt một tuần, và nếu không nhờ những đức tính hòa giải của kiểu ghế nằm trên này thì việc phải ở ngoài trời nhiều giờ nghỉ ngơi đến thế trong làn khói mây, với gương mặt ướt lạnh và tê cứng, hẳn đã vô cùng khắc nghiệt. Nhưng kín đáo bên trong, rốt cuộc đó vẫn là một cơn mưa xuân, và càng kéo dài, nó càng bộc lộ ra như thế. Gần như toàn bộ tuyết đã tan dưới cơn mưa ấy; không còn màu trắng nữa, chỉ đây đó vài chỗ xám băng bẩn đục, và quả thật giờ thì đồng cỏ bắt đầu xanh lên!

Màu xanh của đồng cỏ, sau cái trắng vô tận ấy, là một niềm dịu mát biết bao cho mắt! Và còn có một thứ xanh khác nữa, vượt xa màu xanh của cỏ non về độ mịn màng và mềm dịu đáng yêu. Đó là những chùm lá kim non của cây thông rụng lá, Hans Castorp trên những chặng đường công vụ hiếm khi cưỡng nổi việc ve vuốt chúng bằng tay và dùng chúng mà chà nhẹ lên má mình, cái mềm mại và tươi mới của chúng đáng yêu đến không cưỡng nổi. “Người ta có thể trở thành một nhà thực vật học đấy,” chàng trai nói với bạn đồng hành, “thật tình người ta có thể nảy ra hứng thú với khoa học này chỉ vì thú vui trước sự thiên nhiên thức dậy sau một mùa đông như ở trên này của chúng ta! Kia đúng là long đởm đấy, anh bạn, cái thứ anh trông thấy trên sườn dốc ấy, còn cái này là một giống violet vàng nhỏ nào đó mà tôi không biết. Nhưng ở đây thì ta có ranunculus, dưới kia chúng nom cũng chẳng khác thế, thuộc họ mao lương, cánh kép, như tôi nhận thấy, một loài cây đặc biệt duyên dáng, lại còn là lưỡng tính nữa, anh thấy đó, cả đống nhị và một số bầu noãn, một bộ nhị và một bộ nhụy, nếu như tôi còn nhớ được chút gì. Tôi tin chắc là tôi sẽ sắm lấy một cuốn sách thực vật học nào đó để tự tìm hiểu cho kỹ hơn một chút về lĩnh vực đời sống và tri thức này. Quả vậy, thế giới giờ mới hóa ra rực rỡ biết bao!”

“Đến tháng Sáu thì còn đẹp hơn nữa,” Joachim nói. “Hoa nở ngoài đồng ở đây vốn nổi tiếng mà. Nhưng tôi không tin là mình sẽ chờ đến lúc ấy. Anh định học thực vật chắc là nghe từ Krokowski chứ gì?”

Krokowski? Joachim muốn nói gì thế? À ra vậy, chàng nghĩ đến điều ấy là vì dạo gần đây trong một buổi hội thảo của mình, Dr. Krokowski đã làm ra vẻ rất thực vật học. Quả nhiên, kẻ nào tưởng rằng những biến đổi do thời gian sinh ra đã đi xa tới mức Dr. Krokowski không còn thuyết giảng nữa, kẻ ấy hẳn lầm to! Cứ mỗi mười bốn ngày ông lại giảng, như trước kia, trong chiếc áo đuôi tôm, tuy không còn đi dép xăng-đan, thứ ông chỉ mang vào mùa hè và thế là chẳng bao lâu nữa sẽ lại mang, cứ mỗi thứ Hai cách tuần trong phòng ăn, như hồi ấy, vào những ngày đầu tiên của Hans Castorp, khi chàng đến muộn với máu lem trên người. Suốt chín tháng trời, nhà phân tích ấy đã nói về tình yêu và bệnh tật, chẳng bao giờ nhiều một lúc, mà thành những phần nhỏ, trong những cuộc trò chuyện nửa tiếng đến ba phần tư tiếng, phô mở kho tàng hiểu biết và suy tư của mình, và mọi người đều có cảm tưởng rằng ông sẽ chẳng bao giờ cần phải ngừng lại, rằng chuyện ấy hoàn toàn có thể cứ tiếp diễn mãi mãi không cùng. Đó là một thứ “Nghìn lẻ một đêm” bán nguyệt, lần này nối lần khác cứ se sợi vào chỗ tùy hứng, và rất thích hợp, như những truyện thần thoại của Scheherezade, để xoa dịu một vị vương công hiếu kỳ và ngăn người ấy khỏi bạo hành. Trong tính vô bờ của mình, đề tài của Dr. Krokowski gợi nhớ đến công trình mà Settembrini đã hiến sức cộng tác, bộ Bách khoa thư những nỗi khổ; và muốn biết nó đã tỏ ra có khả năng biến hóa đến đâu, chỉ cần thấy rằng dạo gần đây diễn giả thậm chí đã nói tới cả thực vật học, nói chính xác hơn: nấm... Vả chăng có lẽ ông cũng đã hơi đổi đề tài; giờ đây người ta nói nhiều hơn đến tình yêu và _cái chết_, điều này gợi cớ cho bao suy ngẫm mang phần nào dáng vẻ thơ mộng tinh tế, mà phần khác lại không khoan nhượng về mặt khoa học. Chính trong mối liên hệ ấy mà nhà bác học, với giọng kéo lê phương Đông của mình và âm r chỉ khẽ bật lưỡi một lần, đã nói đến thực vật học, tức là đến nấm, những tạo vật bóng tối phong nhiêu và kỳ ảo của sự sống hữu cơ kia, vốn có bản tính nhục thể, đứng rất gần giới động vật, trong cấu trúc của chúng người ta còn nhận thấy những sản phẩm của quá trình trao đổi chất nơi động vật, chất đạm, glycogen, tức tinh bột động vật. Và Dr. Krokowski đã nói về một thứ nấm vốn đã nổi tiếng từ thời cổ điển vì hình dạng và những năng lực được gán cho nó, một thứ nấm morchel mà trong tên Latin có kèm định ngữ _impudicus_, thứ có hình dáng gợi tới tình yêu, nhưng mùi của nó lại gợi tới cái chết. Bởi lạ lùng thay, đó là mùi xác chết mà _Impudicus_ tỏa ra khi từ chiếc mũ hình chuông của nó nhỏ xuống thứ chất nhầy xanh lục, dẻo quánh, phủ kín nó và mang các bào tử. Nhưng trong mắt những kẻ ít học, cho đến nay thứ nấm ấy vẫn còn bị xem là một phương thuốc kích dục.

À, như thế thì quả là hơi quá đối với các quý bà, Staatsanwalt Paravant đã nhận xét như vậy; ông này, được sự tuyên truyền của Hofrat nâng đỡ về mặt tinh thần, đã trụ qua được cả thời kỳ tuyết tan trên này. Và cả Frau Stöhr, người cũng kiên gan đứng vững, đối đầu với mọi cám dỗ của một cuộc bỏ đi hoang dại, lúc ngồi bàn ăn cũng đã phát biểu rằng hôm nay Krokowski dù sao đi nữa cũng thật “obskur” với thứ nấm cổ điển của ông ta. “Obskur”, người đàn bà khốn khổ nói thế và làm ô danh bệnh tật của mình bằng những lỗi học đòi vô danh. Nhưng điều khiến Hans Castorp ngạc nhiên lại là Joachim đã ám chỉ tới Dr. Krokowski và môn thực vật học của ông; bởi kỳ thực giữa hai người, nhà phân tích ấy cũng ít được nhắc đến y như nhân vật Clawdia Chauchat hay Marusja, họ không nói tới ông, họ thích lặng thinh bỏ qua bản chất và hoạt động của ông hơn. Thế mà giờ đây Joachim đã gọi tên vị trợ tá ấy, lại bằng giọng cáu kỉnh, cũng như nhận xét trước đó của chàng rằng chàng sẽ không đợi đến lúc đồng cỏ nở hoa rộ đã vang lên hết sức bực bội. Joachim tội nghiệp, xem ra rốt cuộc đang bắt đầu mất thăng bằng; giọng chàng run lên vì kích động khi nói, chàng tuyệt nhiên không còn là Joachim dịu dàng và điềm tĩnh như xưa nữa. Có phải chàng thiếu mùi nước hoa cam? Có phải trò đùa với con số Gaffky khiến chàng tuyệt vọng? Có phải chàng không sao tự dàn xếp với chính mình được xem nên đợi mùa thu ở đây hay sẽ làm một cuộc giả ra đi?

Kỳ thực còn có một điều khác nữa làm nảy ra cái rung run bực bội ấy trong giọng Joachim và khiến chàng nhắc tới bài giảng thực vật học hôm nọ bằng một giọng gần như giễu cợt. Về điều ấy Hans Castorp không biết gì, hay đúng hơn, chàng không biết rằng Joachim biết điều ấy; còn chính chàng, cái kẻ trốn tránh kia, đứa con khiến đời sống và khoa sư phạm phải lo lắng ấy, thì lại biết quá rõ. Nói ngắn gọn, Joachim đã lần ra được một vài trò mánh của người anh em họ, chàng đã bất ngờ nghe lỏm được lúc Hans Castorp phạm một hành vi phản bội, tương tự như điều chàng đã phạm vào thứ Ba hội hóa trang, một sự bất trung mới, lại càng nặng hơn vì điều không thể nghi ngờ là Hans Castorp phạm nó một cách thường xuyên.

Thuộc về nhịp điệu muôn thuở đơn điệu của dòng thời gian, thuộc về cơ cấu cố định mà vẫn tiêu khiển của ngày thường lệ, ngày nào cũng như ngày nào, giống hệt chính nó đến mức lẫn lộn, đến mức gây rối trí, đồng nhất với bản thân nó, một thứ vĩnh cửu đứng yên, khiến người ta khó lòng hiểu nổi bằng cách nào nó lại có thể sinh ra biến đổi, thuộc về trật tự bất khả xâm phạm của đời sống hằng ngày, như mọi người hẳn còn nhớ, là vòng đi kiểm tra của Dr. Krokowski từ ba giờ rưỡi đến bốn giờ chiều qua tất cả các phòng, nghĩa là qua suốt các ban-công, từ ghế nằm này sang ghế nằm khác. Ngày thường lệ của Berghof đã lặp lại biết bao lần kể từ hồi ấy, khi Hans Castorp ở trong tư thế sống nằm ngang đã bực mình vì vị trợ tá vòng tránh chàng và chẳng thèm để ý đến chàng! Từ lâu, vị khách ngày nào đã trở thành một đồng chí, Dr. Krokowski thậm chí còn thường gọi chàng bằng cái tên ấy trong những lần đi khám kiểm tra; và nếu từ ngữ quân sự nọ, mà âm r ông tạo ra theo một lối dị thường bằng cách chỉ chạm lưỡi một lần vào phần trước vòm miệng, có khiến ông nom thật ghê gớm, như Hans Castorp từng phán với Joachim, thì dù sao nó cũng không hoàn toàn không hợp với phong thái vạm vỡ, vui vẻ nam tính và như mời gọi một niềm tin thân thiện của ông, phong thái mà tuy thế lại phần nào bị cái sắc tái sẫm của ông tố cáo là dối trá, và lúc nào cũng vẫn dính theo một điều gì đáng ngại.

“Nào, Kamerad, thế nào, ra sao!” Dr. Krokowski nói, khi từ cặp man rợ người Nga bước lại chỗ đầu giường nằm của Hans Castorp; và người được gọi trống không một cách tươi rói như thế, hai tay xếp trên ngực, ngày nào cũng lại mỉm cười vừa thân thiện vừa đau khổ trước lối xưng hô ghê gớm ấy, trong khi ngắm những chiếc răng vàng của ông bác sĩ lộ ra trong bộ râu đen. “Ngủ nghỉ khá chứ?” rồi Dr. Krokowski có lẽ lại tiếp. “Biểu nhiệt đi xuống à? Hôm nay đi lên à? Nào, chẳng hề gì, đến đám cưới thì đâu lại vào đấy thôi. Tôi chào ông.” Và với câu ấy, câu nghe cũng ghê gớm không kém, vì ông phát âm nó thành “tôi gdào ông”, ông đã lại đi tiếp sang chỗ Joachim, bởi đây chỉ là một vòng kiểm tra, một cái nhìn nhanh xem mọi sự có ổn không, chứ không hơn.

Dĩ nhiên, đôi khi Dr. Krokowski cũng nán lại lâu hơn, đứng đó với bờ vai rộng và nụ cười luôn luôn nam tính, chuyện phiếm với người đồng chí về chuyện này chuyện kia, về thời tiết, về những cuộc ra đi và đến nơi, về tâm trạng của bệnh nhân, tâm tính tốt hay xấu của chàng, đôi khi cả về hoàn cảnh riêng tư, gốc gác và triển vọng của chàng nữa, cho đến khi ông nói “tôi gdào ông” rồi đi tiếp; còn Hans Castorp, đổi thế mà chắp hai tay sau gáy, cũng mỉm cười trả lời ông về tất cả những điều ấy, dĩ nhiên với cái cảm giác ghê tởm xuyên thấu, nhưng chàng vẫn trả lời. Họ nói chuyện khe khẽ; tuy vách ngăn bằng kính không tách hẳn các loggia ra, Joachim vẫn không thể hiểu câu chuyện bên cạnh, và vả lại cũng không hề thử dù chỉ một chút. Chàng thậm chí còn nghe thấy người anh em họ của mình rời khỏi ghế nằm và cùng Dr. Krokowski đi vào phòng, hẳn là để cho ông xem biểu nhiệt; và trong đó cuộc chuyện trò có lẽ còn tiếp diễn thêm một lúc khá lâu nữa, xét theo sự chậm trễ mà vị trợ tá, theo ngả bên trong, mới đến chỗ Joachim.

Hai người bạn ấy đã chuyện trò về gì? Joachim không hỏi; nhưng nếu trong đám chúng ta có ai không noi gương chàng mà nêu câu hỏi ấy lên, thì nói chung phải nhắc rằng giữa những người đàn ông, những đồng bạn, mà quan niệm căn bản đều mang sắc thái duy tâm, trong đó một người trên con đường giáo dưỡng của mình đã đi tới chỗ xem vật chất là sự sa ngã của tinh thần, là một sự tăng sinh kích thích tai hại của chính tinh thần ấy, còn người kia, với tư cách thầy thuốc, lại quen giảng về tính chất thứ sinh của bệnh tật hữu cơ, thì biết bao chất liệu và duyên cớ cho sự trao đổi tinh thần vốn sẵn đó. Biết bao điều, ta muốn nói, có thể được đem ra bàn bạc và trao đổi ở đây: về vật chất như sự thoái hóa bất chính của cái phi vật chất, về sự sống như tính vô liêm sỉ của vật chất, về bệnh tật như hình thức dâm ô của sự sống! Dựa theo những buổi hội nghị đang diễn ra, câu chuyện có thể xoay sang tình yêu như một quyền lực gây thành bệnh, sang bản tính siêu cảm của dấu hiệu, sang những “vết” “cũ” và “mới”, sang những chất độc hòa tan và bùa yêu, sang việc chiếu thấu cái vô thức, phúc lành của sự phân tích tâm hồn, sự hoàn nguyên của triệu chứng, và còn gì nữa, _chúng ta_ nào biết, vì về phía chúng ta hết thảy điều ấy vẫn chỉ là gợi ý và phỏng đoán, một khi câu hỏi được đặt ra rằng Dr. Krokowski và chàng Hans Castorp trẻ tuổi đã có thể chuyện trò với nhau những gì!

Kỳ thực, họ đã không còn trò chuyện như vậy nữa; chuyện ấy đã lùi lại phía sau, chỉ trong một dạo, vài tuần lễ thôi, mới từng diễn ra như thế; gần đây Dr. Krokowski ở bên bệnh nhân này lại cũng không nán lâu hơn ở những người khác, phần nhiều cuộc thăm nom nay lại chỉ gói vào câu “Thế nào, anh bạn?” và “Tôi chào ông đấy”. Nhưng bù lại Joachim đã có một phát hiện khác, chính là điều chàng cảm thấy như một sự phản bội từ phía Hans Castorp; mà chàng phát hiện ra hoàn toàn ngoài ý muốn, không hề, trong cái hồn nhiên kiểu quân nhân của mình, đi một bước nào trên đường do thám cả, điều ấy có thể tin được. Chuyện chỉ giản dị là vào một ngày thứ Tư, chàng bị gọi ra khỏi liệu pháp nằm nghỉ đầu tiên, bị lệnh xuống tầng hầm để người coi buồng tắm cân; và chính khi ấy chàng trông thấy việc đó. Chàng đi xuống cầu thang, chiếc cầu thang sạch sẽ lót linoleum, từ đó nhìn thẳng tới cánh cửa phòng khám, hai bên là những buồng soi, bên trái là buồng hữu cơ và bên phải, qua chỗ ngoặt, là buồng tâm lý hạ thấp xuống một bậc, ngoài cửa cắm tấm danh thiếp của Dr. Krokowski. Nhưng tới giữa cầu thang Joachim bỗng đứng sững lại, vì ngay lúc ấy Hans Castorp, vừa đi tiêm về, bước ra khỏi phòng khám. Chàng dùng cả hai tay khép cánh cửa vừa vội vàng đi qua, rồi không ngoái nhìn quanh mà rẽ sang phải, hướng về cánh cửa có tấm danh thiếp ghim đinh bấm, và chỉ với vài bước ngắn, lặng lẽ đung đưa về phía trước, đã tới nơi. Chàng gõ cửa, cúi người xuống trong khi gõ, ghé tai sát ngón tay đang nện. Và khi tiếng “Mời vào!” trầm nam của người bên trong, với âm r bật lên một cách ngoại lai và nguyên âm đôi méo xệch, vọng ra từ căn phòng ấy, Joachim thấy người anh em họ của mình biến mất vào chỗ nửa tối của cái hố phân tích của Dr. Krokowski.

Lại thêm một người

Dài ngày, những ngày dài nhất, nói theo nghĩa khách quan và xét về số giờ có nắng của chúng; bởi sự kéo dài theo thiên văn chẳng làm gì được cái vẻ trôi qua ngắn ngủi của chúng, cả đối với từng ngày một lẫn đối với dòng trôi đơn điệu của chúng. Xuân phân đã lùi lại gần ba tháng, hạ chí đã tới. Nhưng năm tự nhiên ở trên này theo lịch một cách dè dặt: chỉ bây giờ, chỉ mấy hôm nay đây, mùa xuân mới thực sự thành hình dứt khoát, một mùa xuân vẫn chưa có chút nặng nề nào của mùa hạ, nồng hương, không khí mỏng, nhẹ, với sắc xanh bầu trời rạng bạc và hoa cỏ đồng nội muôn màu như trẻ thơ.

Hans Castorp lại bắt gặp trên các sườn dốc chính những loài hoa mà Joachim, với lòng tử tế, đã từng hái vài bông đem đặt vào phòng chào đón chàng thuở trước: cỏ thi và hoa chuông, một dấu hiệu đối với chàng rằng năm tháng đang tự vận hành trong lòng chính nó. Nhưng giờ đây từ làn cỏ non xanh ngọc trên những triền dốc và những bãi cỏ trải rộng dưới đáy thung đã chẳng mọc vọt lên biết bao sự sống hữu cơ, thành sao, thành chén, thành chuông hoặc mang những hình dạng thất thường hơn, làm đầy không khí nắng bằng mùi hương khô cay: cẩm chướng dại và hoa bướm hoang từng đám lớn, cúc dại, marguerite, anh thảo vàng và đỏ, đẹp hơn và lớn hơn nhiều so với những gì Hans Castorp tưởng mình từng thấy ở miền đồng bằng, nếu quả dưới ấy chàng có để ý tới; thêm vào đó là những bông soldanella gục đầu với những chiếc chuông viền tua, xanh lam, tím sẫm và hồng nhạt, một đặc sản của tầng giới này.

Chàng hái lấy tất cả vẻ đáng yêu ấy, đem những bó hoa về, với một tinh thần nghiêm túc, không hẳn để trang trí căn phòng mình, cho bằng để xử lý chúng theo lối khoa học nghiêm ngặt, như chàng đã tự đề ra. Một ít đồ nghề thực vật học đã được sắm: một giáo trình thực vật học đại cương, một chiếc xẻng nhỏ tiện tay để đào cả cây lên, một tập ép cỏ, một chiếc kính lúp tốt; và với những thứ ấy chàng xoay xở trong loggia của mình, giờ lại ăn mặc kiểu mùa hạ, trong một trong những bộ áo quần chàng đã mang theo lên đây ngay từ bấy giờ, cả điều này nữa cũng là một dấu hiệu cho vòng quay của năm.

Hoa tươi cắm trong mấy chiếc cốc nước đứng trên mặt các món đồ trong phòng bên trong, trên chiếc bàn đèn đặt cạnh chiếc ghế nằm tuyệt hảo của chàng. Hoa khác, nửa tàn, đã bắt đầu rũ nhưng còn nhựa sống, nằm rời rạc trên lan can ban công, vương vãi trên nền loggia, trong khi những bông khác nữa, được trải ngay ngắn, đang chịu ép giữa các tờ giấy thấm hút ẩm dưới sức nặng của những hòn đá, để Hans Castorp sau này có thể dán những tiêu bản khô dẹt ấy vào tập của mình bằng những dải giấy phết nhựa. Chàng nằm, đầu gối co cao, còn bắt chéo cái này lên cái kia, và trong khi sống lưng cuốn sách chỉ nam mở úp trên ngực chàng dựng thành một đỉnh mái, chàng đưa mặt kính tròn dày mài của chiếc kính lúp vào giữa đôi mắt xanh mộc mạc của mình và một bông hoa mà chàng đã cắt bỏ bớt cánh bằng dao nhíp để dễ bề quan sát đế hoa, và qua thấu kính mạnh, nó phồng lên thành một cấu trúc thịt da thật phiêu lưu. Khi ấy, những bao phấn ở đầu chỉ nhị đổ phấn vàng của chúng ra, từ bầu nhụy vươn lên vòi nhụy mang đầu nhụy; và nếu cắt ngang qua nó, người ta có thể quan sát cái ống mảnh mai, qua đó các hạt phấn và ống phấn, nhờ một chất tiết ngọt, được cuốn trôi vào khoang bầu noãn. Hans Castorp đếm, khảo xét và so sánh; chàng nghiên cứu cấu tạo và vị trí của đài hoa và cánh hoa cũng như của cơ quan sinh dục đực và cái, kiểm tra sự phù hợp giữa điều mình trông thấy với các hình minh họa sơ đồ và tự nhiên, hài lòng xác nhận tính chính xác khoa học nơi cấu tạo của những loài cây chàng đã biết, rồi chuyển sang, với sự hướng dẫn của Linné, xác định những loài chàng chưa thể gọi tên theo ngành, nhóm, bộ, loài, họ và chi. Vì có nhiều thời gian, chàng đã đạt được vài tiến bộ trong môn phân loại học thực vật trên cơ sở hình thái học so sánh. Dưới cây đã ép khô trong tập cỏ, chàng nắn nót viết tên Latin mà khoa học nhân văn đã nhã nhặn đặt cho nó, viết thêm những đặc điểm nhận dạng của nó, rồi đem cho Joachim tốt bụng xem, khiến chàng này lấy làm kinh ngạc.

Buổi tối, chàng ngắm các vì sao. Chàng đã nảy sinh một mối quan tâm đối với năm tháng tự vận hành trong lòng chính nó, mặc dầu chàng đã sống trên đời vài hai chục vòng quay của mặt trời mà chưa bao giờ bận tâm tới những chuyện như thế. Nếu chính chúng ta vô tình cũng vận động trong những cách nói như “xuân phân”, thì điều ấy xảy ra trong tinh thần của chàng và đã là để hướng tới hiện tại rồi. Bởi những thuật ngữ kiểu ấy là thứ mà gần đây chàng thích gieo vãi xung quanh mình; và ngay cả những kiến thức thuộc lĩnh vực này cũng làm người anh em họ của chàng ngạc nhiên.

“Bây giờ mặt trời sắp đi vào cung Cự Giải rồi đấy,” chàng có thể bắt đầu như thế trong một cuộc dạo bộ, “cậu có rõ chuyện ấy không? Đó là cung đầu tiên của mùa hạ trong hoàng đạo, cậu hiểu chứ? Giờ nó đi qua Sư Tử và Xử Nữ để tiến về điểm thu phân, một trong hai điểm phân, vào cuối tháng Chín, khi vị trí mặt trời lại rơi lên xích đạo trời, như mới đây trong tháng Ba, lúc mặt trời đi vào điểm Bạch Dương.”

“Cái đó thì tôi không để ý,” Joachim gắt gỏng nói. “Cậu nói thao thao mấy thứ gì mà trơn tru thế? Điểm Bạch Dương? Hoàng đạo?”

“Dĩ nhiên, hoàng đạo; _zodiacus_. Những dấu hiệu cổ xưa của bầu trời ấy mà, nào Bọ Cạp, Nhân Mã, Ma Kết, _aquarius_ và đủ thứ tên như thế, làm sao người ta lại không quan tâm cho được! Có mười hai cả thảy, điều ấy chí ít cậu cũng biết, ba cung cho mỗi mùa, những cung đi lên và những cung đi xuống, vòng những chòm sao mà mặt trời đi qua, theo tôi thật vĩ đại! Hãy tưởng tượng xem, người ta đã tìm thấy chúng như một bức họa trần trong một ngôi đền Ai Cập, lại còn là một đền thờ Aphrodite nữa, không xa Theben. Người Chaldäer cũng đã biết chúng từ lâu rồi, người Chaldäer đấy nhé, xin cậu, cái dân tộc phù thủy cổ xưa ấy, Ả Rập-Sémitic, uyên bác lắm về chiêm tinh và bói đoán. Họ cũng đã nghiên cứu vành đai trời nơi các hành tinh vận hành, và chia nó thành mười hai cung sao, những Dodekatemoria, như đã truyền tới chúng ta. Thật vĩ đại. Ấy là nhân loại!”

“Giờ cậu lại nói ‘nhân loại’, như Settembrini.”

“Phải, như ông ấy, mà cũng hơi khác. Người ta phải nhận nó như nó vốn thế, nhưng như vậy vẫn cứ là vĩ đại. Tôi nằm như thế và ngắm các hành tinh, mà nghĩ đến người Chaldäer với nhiều thiện cảm, vì họ cũng đã biết những hành tinh ấy, dẫu không phải tất cả họ đều biết, dù họ thông thái đến đâu. Nhưng những hành tinh họ không biết thì tôi cũng chẳng trông thấy được; Uranus cũng chỉ mới đây mới được phát hiện bằng kính thiên văn thôi, một trăm hai mươi năm trước.”

“Mới đây?”

“Tôi gọi là ‘mới đây’, nếu cậu cho phép, so với ba nghìn năm tính đến bấy giờ. Nhưng khi tôi nằm mà ngắm các hành tinh, thì cả ba nghìn năm ấy cũng thành ra ‘mới đây’, và tôi nghĩ một cách thân tình đến người Chaldäer, những kẻ cũng đã nhìn thấy chúng và làm thơ vần về chúng, và ấy là nhân loại.”

“Ừ, được thôi; trong đầu cậu quả có những dự phóng rất bao quát.”

“Cậu nói ‘bao quát’, còn tôi nói ‘thân tình’, muốn gọi thế nào thì gọi. Nhưng vậy nhé, khi mặt trời đi vào Thiên Bình, chừng khoảng ba tháng nữa, thì ngày đã ngắn đi đến mức ngày và đêm bằng nhau, rồi chúng cứ ngắn dần thêm nữa cho đến khoảng Giáng sinh, điều ấy cậu biết rồi. Nhưng xin cậu thử nghĩ cho: trong khi mặt trời đi qua những cung mùa đông, Ma Kết, Bảo Bình và Song Ngư, thì ngày lại đang dài thêm rồi đấy! Bởi lúc ấy điểm xuân phân lại tới, đến lần thứ ba nghìn kể từ người Chaldäer, và ngày cứ dài thêm mãi cho tới sang năm, khi mùa hạ lại bắt đầu.”

“Dĩ nhiên.”

“Không, đó là một trò tinh quái kiểu Eulenspiegel! Mùa đông thì ngày dài ra, và khi ngày dài nhất tới, 21 tháng Sáu, đầu mùa hạ, thì mọi sự lại bắt đầu đi xuống, chúng lại ngắn đi rồi, và đi về phía mùa đông. Cậu gọi thế là dĩ nhiên, nhưng nếu một lần gác sang bên cái việc nó là dĩ nhiên, thì người ta có thể phát hoảng lên, trong chốc lát, và muốn co quắp chụp lấy một cái gì đó. Cứ như thể Eulenspiegel đã sắp đặt sao cho lúc đầu mùa đông thì thật ra mùa xuân bắt đầu, còn lúc đầu mùa hạ thì thật ra mùa thu bắt đầu... Người ta bị dắt mũi, bị nhử đi vòng vòng bằng viễn tượng của một cái gì mà bản thân nó đã lại là điểm ngoặt... Điểm ngoặt ở trong vòng tròn. Bởi tất cả chỉ là những điểm ngoặt không có bề rộng, hợp thành nên vòng tròn; độ cong thì không đo được, chẳng có sự kéo dài nào của phương hướng cả, và cõi vĩnh cửu không phải là ‘thẳng mãi, thẳng mãi’, mà là ‘vòng quay, vòng quay’.”

“Thôi đi!”

“Lễ hạ chí!” Hans Castorp nói, “Hạ chí! Lửa núi và vòng nhảy tay nắm tay quanh ngọn lửa bốc rực! Tôi chưa từng thấy, nhưng tôi nghe bảo người nguyên sơ làm như thế, họ mừng đêm đầu mùa hạ, đêm mà mùa thu bắt đầu, giờ chính ngọ và đỉnh cao của năm, từ đó mọi sự đi xuống, họ nhảy múa, quay cuồng và reo hò. Họ reo hò vì điều gì trong tính nguyên sơ của họ, cậu có thể hiểu ra không? Họ vui nhộn cuồng phóng đến thế là vì đâu? Vì từ đây mọi sự đi xuống bóng tối chăng, hay có lẽ vì cho tới nay mọi sự đã đi lên và giờ thì bước ngoặt đã đến, điểm ngoặt không nắm giữ nổi, đêm giữa mùa hạ, độ cao trọn vẹn, với niềm sầu ở trong cơn hứng khởi? Tôi nói đúng như nó là, bằng những chữ hiện đến với tôi. Ấy là sự hứng khởi u hoài và nỗi u hoài hứng khởi khiến người nguyên sơ reo hò và múa quanh ngọn lửa; nếu cậu muốn nói thế, họ làm vậy từ một niềm tuyệt vọng tích cực, để tôn vinh trò tinh quái kiểu Eulenspiegel của vòng tròn và của cõi vĩnh cửu không có sự kéo dài của phương hướng, nơi mọi sự đều trở lại.”

“Tôi thì không muốn nói như thế đâu,” Joachim lẩm bẩm, “xin cậu đừng đổ sang tôi. Quả là những chuyện rất rộng rãi mà buổi tối cậu nghiền ngẫm, khi nằm đó.”

“Phải, tôi không chối rằng cậu bận rộn một cách hữu ích hơn với ngữ pháp tiếng Nga của cậu. Chẳng bao lâu nữa cậu phải thông thạo thứ tiếng ấy kia mà, anh bạn, dĩ nhiên là một lợi thế lớn cho cậu nếu có chiến tranh, cầu Chúa ngăn điều đó.”

“Ngăn ư? Cậu nói như một người dân sự. Chiến tranh là cần thiết. Không có chiến tranh thì thế giới chẳng bao lâu sẽ thối rữa, Moltke đã nói như thế.”

“Phải, hẳn nó cũng có khuynh hướng ấy. Và đến mức ấy thì tôi có thể nhượng cậu,” Hans Castorp bắt đầu nói và vừa định quay trở lại với người Chaldäer, những kẻ cũng đã từng gây chiến và chinh phục Babylonia, mặc dù họ là dân Sémitic và do đó gần như người Do Thái, thì cả hai đồng thời nhận ra rằng có hai ông, đi sát ngay phía trước họ, đang ngoái đầu lại phía họ, bị những lời họ nói làm cho chú ý và quấy rầy khỏi cuộc chuyện trò riêng.

Ấy là trên con đường chính, giữa Kurhaus và khách sạn Belvedere, trên đường trở về Davos-Dorf. Thung lũng khoác lễ phục, trong những màu sắc dịu, sáng và vui. Không khí tuyệt diệu. Một bản giao hưởng của những mùi hương hoa cỏ đồng nội tươi vui tràn đầy bầu không khí tinh sạch, khô ráo, rạng nắng.

Họ nhận ra Lodovico Settembrini đi bên cạnh một người lạ; nhưng có vẻ như chính ông hoặc là không nhận ra họ, hoặc là không muốn có một cuộc chạm mặt, vì ông vội vàng quay đầu đi chỗ khác rồi, gesticulierend, lại chúi sâu vào cuộc trò chuyện với bạn đồng hành, thậm chí còn cố bước nhanh hơn về phía trước. Nhưng khi hai người anh em họ, đi bên phải ông, cúi chào vui vẻ, ông làm ra vẻ ngạc nhiên thích thú quá đỗi, với tiếng “Sapristi!” và “Quỷ thật chứ!”, rồi lại muốn ghìm lại, để hai người ấy vượt qua và đi lên trước, điều mà họ không hiểu, nghĩa là không hề nhận thấy, vì họ chẳng thấy có lý gì trong đó cả. Trái lại, thành thực vui mừng được gặp lại ông sau một quãng xa cách khá lâu, họ nán lại bên ông và bắt tay ông, vừa hỏi thăm tình hình sức khỏe vừa trong niềm chờ đợi lịch sự liếc nhìn sang người bạn đường của ông. Thế là họ buộc ông phải làm điều mà rõ ràng ông thích không làm hơn, nhưng đối với họ lại có vẻ là việc tự nhiên và đáng chờ đợi nhất trên đời: tức là giới thiệu họ với người kia; và việc ấy quả đã diễn ra, trong lúc vừa đi vừa gần như đứng lại, theo cách Settembrini, ở trước mặt mình, bằng những cử chỉ tay nối kết và những lời nói vui vẻ, đã đặt các ông vào quan hệ với nhau, khiến họ đưa tay bắt nhau ngay trước ngực ông.

Hóa ra người lạ kia, xem chừng trạc tuổi Settembrini, là người cùng nhà với ông: người thuê lại buồng còn lại của Lukaček, người thợ may nữ phục, tên là Naphta, ít ra hai chàng trai hiểu được là thế. Ông ta là một người đàn ông nhỏ thó, gầy gò, cạo nhẵn mặt, và xấu xí theo một lối sắc ngọt, có thể nói là ăn mòn, đến nỗi hai anh em họ không khỏi lấy làm lạ. Ở ông, mọi thứ đều sắc: cái mũi khoằm ngự trị toàn bộ khuôn mặt, cái miệng mím hẹp, cặp tròng kính mài dày của chiếc kính mắt ngoài ra thanh mảnh mà ông đeo trước đôi mắt xám nhạt, và ngay cả sự im lặng ông giữ lấy, khiến người ta có thể đoán rằng lời nói của ông hẳn sẽ sắc bén và lý lẽ phân minh. Ông để đầu trần, đúng phép lịch sự, và chỉ mặc complet, nhưng ăn vận rất khéo: bộ flannel xanh sẫm sọc trắng của ông cho thấy một đường cắt may đẹp, đúng mực theo mốt, như ánh mắt dò xét khá sành đời của hai anh em họ nhận ra; mà, nhân tiện nói, họ cũng bắt gặp từ phía ông Naphta bé nhỏ một cái nhìn cùng loại như thế, chỉ nhanh hơn và sắc hơn, lướt dọc xuống người họ. Giá như Lodovico Settembrini không biết mang tấm áo dạ xù và chiếc quần kẻ ô của mình với nhiều duyên dáng và phong độ đến vậy, thì diện mạo ông hẳn đã bị lép vế trước giới thanh nhã. Nhưng điều ấy lại càng không xảy ra, bởi chiếc quần kẻ ô vừa được là phẳng mới tinh, đến nỗi thoạt trông người ta gần như có thể tưởng là đồ mới, hẳn là công lao của ông chủ nhà trọ của ông, theo nhận xét thoáng qua của hai chàng trai. Song nếu Naphta xấu xí, xét theo vẻ sang và tính thế tục trong y phục, dường như gần gũi với hai anh em họ hơn là với người cùng nhà, thì không chỉ tuổi tác nhiều hơn đã xếp ông đứng về phía kia, cùng với Settembrini, đối lại các chàng trai, mà còn một điều khác quyết định nữa, điều có thể quy gọn dễ dàng nhất vào sắc mặt của hai cặp người, nghĩa là ở chỗ một bên nâu và rám đỏ, còn bên kia thì nhợt nhạt: gương mặt Joachim trong suốt mùa đông đã sẫm thêm thành màu đồng hun, còn mặt Hans Castorp thì hồng rực dưới mái tóc vàng; nhưng làn tái nhợt kiểu Ý của ông Settembrini, vốn đi thật cao quý với bộ ria mép đen, ánh dương cũng không làm gì nổi, và người bạn đồng hành của ông, tuy tóc vàng, dẫu thật ra là thứ vàng tro, nhạt như kim loại, ông lại chải suôn từ vầng trán cao và hơi thoái ra ngược hết về sau đầu, cũng có một làn da mặt trắng bệch mờ đục của các chủng người ngăm sẫm. Hai trong số bốn người cầm gậy dạo bộ, ấy là Hans Castorp và Settembrini; bởi Joachim vì lý do quân nhân nên không dùng vật ấy, còn Naphta, sau khi được giới thiệu xong, liền lại chắp tay ra sau lưng. Tay ông nhỏ và thanh, cũng như đôi bàn chân rất mảnh mai, hợp với vóc người ông. Việc ông nom như bị cảm và ho theo một kiểu hơi suy nhược, khó chịu, lại không gây chú ý.

Cái thoáng bối rối hay phật ý khi chợt trông thấy hai chàng trai, Settembrini lập tức đã vượt qua một cách tao nhã. Ông tỏ ra vui vẻ nhất mực và vừa nói đùa vừa giới thiệu ba người với nhau, chẳng hạn gọi Naphta là “_Princeps scholasticorum_”. Niềm vui, ông bảo, “đang mở triều đình rực rỡ trong đại sảnh lồng ngực ông”, theo cách Aretino từng nói, và đó là công của mùa xuân, một mùa xuân mà ông hết lời ca ngợi. Các ông đều biết ông vẫn có lắm điều canh cánh trong lòng đối với cái thế giới trên này, cho dẫu ông đã bao phen trút nhẹ nó bằng lời nói. Nhưng xin kính chào mùa xuân miền núi cao! Trong chốc lát, nó đủ sức hòa giải ông với tất cả những nỗi kinh tởm của cõi này. Ở đây thiếu hẳn mọi cái gây rối trí và kích động của mùa xuân miền đồng bằng. Không có sự sôi sục trong tầng sâu! Không mùi hương ẩm ướt, không lớp hơi ngột ngạt! Trái lại là sáng sủa, khô ráo, vui tươi và một vẻ duyên dáng chua gắt. Đó là đúng ý lòng ông, thật tuyệt diệu!

Họ đi thành một hàng không đều, cả bốn người cùng sóng vai nhau chừng nào còn có thể, nhưng hễ có người đi ngược chiều lướt qua thì Settembrini, người giữ cánh phải, lại phải bước xuống lòng đường, và khi khác, đội hình của họ lại tạm tan ra vì người này hay người kia tụt lại rồi lách vào, chẳng hạn Naphta ở phía trái, hoặc Hans Castorp, đứng giữa nhà nhân văn và anh họ Joachim. Naphta cười ngắn, bằng một giọng bị cơn sổ mũi làm nghẹt đi, khi nói nghe như tiếng một chiếc đĩa nứt bị gõ bằng đốt ngón tay. Vừa nghiêng đầu sang phía người Ý, ông vừa nói, với giọng nhấn âm kéo lê:

“Hãy nghe tay Voltairian, nhà duy lý kia kìa. Ông ấy ca ngợi thiên nhiên vì ngay trong dịp màu mỡ nhất nó cũng không làm chúng ta rối trí bằng những làn hơi huyền bí, trái lại vẫn giữ được sự khô ráo cổ điển. Độ ẩm trong tiếng Latin gọi là gì nhỉ?”

“Cái hài hước,” Settembrini gọi qua vai trái, “cái hài hước trong cách giáo sư của chúng ta ngắm thiên nhiên nằm ở chỗ ông ấy, như thánh Catharina thành Siena, nghĩ tới những vết thương của Chúa Kitô khi trông thấy những bông anh thảo đỏ.”

Naphta đáp:

“Thế thì đúng hơn là dí dỏm chứ chưa phải hài hước. Nhưng dẫu sao như thế vẫn có nghĩa là đem tinh thần vào thiên nhiên. Nó cần đến điều đó.”

“Thiên nhiên,” Settembrini nói, hạ thấp giọng và không còn hẳn nói qua vai nữa mà chỉ còn nói chếch xuống từ vai, “hoàn toàn không cần đến tinh thần của ông. Bản thân nó đã là tinh thần.”

“Ngài không thấy chán với thuyết nhất nguyên của mình sao?”

“À, vậy ra ông cũng thừa nhận rằng việc ông thù nghịch chia đôi thế giới, xé rời Thượng đế và thiên nhiên, chỉ là lòng ham khoái lạc thôi đấy!”

“Tôi thấy thú vị ở chỗ ông gọi là ham khoái lạc cái điều tôi muốn nói khi tôi nói đam mê và tinh thần.”

“Cứ nghĩ rằng ông, người đem những chữ lớn lao như thế đặt lên những nhu cầu phù phiếm như thế, đôi khi lại gọi tôi là kẻ hùng biện!”

“Ông vẫn khăng khăng rằng tinh thần có nghĩa là phù phiếm. Nhưng tinh thần đâu có lỗi gì khi tự bản chất nó là nhị nguyên. Nhị nguyên, phản đề, đó là nguyên lý vận động, đam mê, biện chứng, tinh anh. Nhìn thế giới như bị xẻ đôi trong thù nghịch, ấy là tinh thần. Mọi thứ nhất nguyên đều buồn tẻ. _Solet Aristoteles quaerere pugnam._”

“Aristoteles ư? Aristoteles đã đặt tính hiện thực của các ý niệm phổ quát vào trong các cá thể. Đó là phiếm thần luận.”

“Sai. Hãy ban cho các cá thể tính cách bản thể, hãy nghĩ bản chất của sự vật tiếp diễn từ cái phổ quát vào hiện tượng đơn lẻ, như Thomas và Bonaventura, với tư cách những người theo Aristoteles, đã làm, thì ông sẽ có một thế giới được tách khỏi mọi sự hợp nhất với ý niệm tối cao, nó ở ngoài Thượng đế, và Thượng đế thì siêu việt. Đó là Trung Cổ cổ điển, thưa ông.”

“Trung Cổ cổ điển là một tổ hợp từ thật tuyệt!”

“Xin ông thứ lỗi, nhưng tôi vẫn cho khái niệm cái cổ điển có chỗ đứng ở nơi nó đúng chỗ, nghĩa là ở bất cứ đâu một ý niệm đạt tới đỉnh cao của nó. Cổ đại đâu phải lúc nào cũng cổ điển. Tôi nhận thấy ở ông một sự ác cảm đối với sự... phóng túng của các phạm trù, đối với cái tuyệt đối. Ông cũng không muốn cả tinh thần tuyệt đối. Ông muốn rằng tinh thần kia chẳng qua là sự tiến bộ dân chủ.”

“Tôi hy vọng chúng ta đồng ý với nhau trong niềm xác tín rằng tinh thần, dẫu tuyệt đối đến đâu, cũng không bao giờ có thể đứng ra biện hộ cho phản động.”

“Tuy vậy, nó vẫn luôn là người biện hộ cho tự do!”

“Tuy vậy ư? Tự do là luật của lòng yêu người, chứ không phải hư vô chủ nghĩa và ác ý.”

“Điều mà hiển nhiên ông đang sợ.”

Settembrini vung cánh tay qua đầu. Cuộc đấu khẩu ngắn chấm dứt. Joachim ngạc nhiên nhìn hết người này sang người khác, trong khi Hans Castorp cau mày nhìn xuống đường mình đi. Naphta đã nói bằng một giọng sắc ngọt và quả quyết như chân lý hiển nhiên, mặc dù chính ông mới là người bênh vực sự tự do rộng hơn. Đặc biệt, cách ông phản bác bằng tiếng “Sai!” với đôi môi trề ra ở âm “s” rồi lập tức mím chặt lại, thật khó chịu. Settembrini thì một phần chống lại ông bằng lối vui vẻ hơn, một phần cũng đem một sự nồng ấm đẹp đẽ vào lời mình, chẳng hạn ở chỗ ông kêu gọi sự đồng lòng trong những tâm thế căn bản nào đó. Giờ đây, khi Naphta im lặng, ông bắt đầu giải thích cho hai anh em họ biết người xa lạ kia là ai, đáp ứng nhu cầu được soi sáng mà ông đoán thấy ở họ sau cuộc đối đáp với Naphta. Người này để mặc, chẳng buồn bận tâm. Ông là giáo sư ngôn ngữ cổ điển ở các lớp trên của trường Fridericianum, Settembrini giải thích, phô bày địa vị của người được giới thiệu theo lối Ý sao cho càng trọng thể càng tốt. Số phận của ông ta giống như chính số phận của Settembrini. Vì tình trạng sức khỏe mà lên đây cách nay năm năm, ông ta đã phải tự thuyết phục rằng mình cần lưu lại lâu dài, bèn rời dưỡng đường và đến ở tư tại nhà Lukaček, người thợ may nữ phục. Viên Latinist xuất sắc ấy, một học trò của trường dòng, như Settembrini diễn đạt có phần mơ hồ, đã khôn ngoan được trường trung học trên này giữ lại làm giảng viên, một người làm vẻ vang cho nơi ấy... Tóm lại, Settembrini đã nâng Naphta xấu xí lên không ít, mặc dù vừa rồi ông còn có với người kia một cuộc tranh luận gì đó mang tính trừu tượng, và mặc dù cuộc lời qua tiếng lại gần như tranh biện ấy lập tức lại sắp tiếp diễn.

Bấy giờ Settembrini chuyển sang giải thích cho ông Naphta về hai anh em họ, mà qua đó, thật ra, lộ ra rằng trước kia ông đã từng kể về họ cho Naphta nghe rồi. Đây chính là chàng kỹ sư trẻ của ba tuần lễ, nơi chàng Hofrat Behrens đã tìm thấy một vết ẩm, ông nói, còn đây là niềm hy vọng của tổ chức quân đội Phổ, trung úy Ziemßen. Và ông kể về nỗi bức bối trong lòng Joachim cùng những dự định lên đường của anh, để thêm rằng hẳn là người ta sẽ xử ép chàng kỹ sư nếu không quy cho chàng cùng một nỗi nôn nóng muốn trở lại công việc.

Naphta nhăn mặt. Ông nói:

“Các ông đây có một người giám hộ thật hùng biện. Tôi không dám ngờ rằng ông ấy thông ngôn đúng ý nghĩ và ước muốn của các ông. Công việc, công việc, xin mời, lát nữa thế nào ông ấy cũng sẽ mắng tôi là kẻ thù của nhân loại, một _inimicus humanae naturae_, nếu tôi dám nhắc tới những thời mà tiếng kèn ấy tuyệt nhiên không mang lại cho ông hiệu quả thường lệ của nó, nghĩa là những thời mà điều đối lập với lý tưởng của ông lại được tôn vinh cao hơn vô song. Chẳng hạn Bernhard thành Clairvaux đã dạy một nấc thang hoàn thiện khác hẳn điều mà Herr Lodovico chưa từng dám mơ tới. Các ông có muốn biết là gì không? Bậc thấp nhất của ông ấy ở trong ‘cối xay’, bậc thứ hai ở trên ‘cánh đồng’, còn bậc thứ ba, đáng khen nhất, thì, xin ông đừng nghe, Settembrini, ‘trên giường nghỉ’. Cối xay, đó là biểu tượng của đời sống trần thế, mà chọn như vậy cũng không tệ. Cánh đồng có nghĩa là linh hồn của người thế tục, nơi nhà giảng đạo và bậc thầy tinh thần tác động vào. Bậc ấy đã xứng đáng hơn rồi. Nhưng trên giường thì...”

“Đủ rồi! Chúng tôi biết mà!” Settembrini kêu lên. “Thưa các ông, bây giờ ông ấy sẽ giảng cho các ông thấy mục đích và công dụng của cái giường trác táng!”

“Tôi không biết ông lại đứng đắn đến thế, Lodovico. Khi người ta thấy ông nháy mắt với các cô gái... Cái sự hồn nhiên ngoại giáo để đâu mất rồi? Vậy thì chiếc giường là nơi diễn ra sự giao hội của kẻ yêu với đối tượng được yêu, và, như một _Symbolum_, là sự tách biệt trầm tư khỏi thế gian và tạo vật nhằm hướng tới sự giao hội với Thượng đế.”

“Phì! _Andate, andate!_” người Ý xua đi, gần như muốn khóc. Mọi người cười. Nhưng rồi Settembrini nghiêm nghị nói tiếp:

“À không, tôi là người châu Âu, người Tây phương. Cái trật tự tôn ti của ông kia hoàn toàn là phương Đông. Phương Đông căm ghét hoạt động. Lao-Tse dạy rằng không làm gì còn hữu ích hơn mọi sự giữa trời và đất. Một khi tất cả loài người ngừng hành động, thì sự yên tĩnh và hạnh phúc viên mãn sẽ ngự trị trên mặt đất. Đó, ông có sự giao hội của ông rồi đấy.”

“Ông nói gì thế. Còn thần bí học Tây phương thì sao? Và chủ nghĩa tĩnh mặc, có thể kể Fénelon vào hàng ngũ mình, chủ trương rằng mọi hành động đều lầm lỗi, vì muốn hành động tức là xúc phạm Thượng đế, Đấng duy nhất muốn hành động? Tôi đang trích các mệnh đề của Molinos. Xem ra khả thể tinh thần của việc tìm thấy cứu rỗi trong tĩnh tại có một sự phổ biến chung cho toàn thể nhân loại đấy chứ.”

Lúc này Hans Castorp chen vào. Với cái dũng của sự đơn sơ, chàng dự phần vào câu chuyện và, mắt nhìn xa xăm vào khoảng không, lên tiếng:

“Trầm tư, cách biệt. Nghe cũng có lý riêng của nó, đáng để nghe đấy. Chúng ta ở trên này quả thật sống cách biệt ở mức độ khá cao, điều ấy thì có thể nói được. Chúng ta nằm cao năm nghìn bộ trên những chiếc ghế của mình, mà chúng lại dễ chịu khác thường, nhìn xuống thế gian và tạo vật, rồi tự nghĩ ngợi lấy những điều của mình. Nếu tôi nghĩ kỹ và phải nói thật, thì cái giường, ý tôi là chiếc ghế nằm, ông hẳn hiểu chứ, trong mười tháng đã giúp ích cho tôi nhiều hơn và làm nảy ra trong đầu tôi nhiều ý nghĩ hơn là cái cối xay dưới miền đồng bằng suốt bao năm trời trước đó, điều ấy không thể phủ nhận.”

Settembrini nhìn chàng bằng đôi mắt đen ánh lên vẻ buồn. “Kỹ sư,” ông nói nghẹn lại, “kỹ sư!” Rồi ông nắm lấy cánh tay Hans Castorp và giữ chàng chậm lại một chút, như thể muốn khuyên giải riêng chàng _privatim_ sau lưng những người kia.

“Tôi đã bao lần nói với ông rằng người ta nên biết mình là ai và phải nghĩ theo cách xứng hợp với mình! Công việc của người Tây phương, bất chấp mọi mệnh đề, là lý trí, là phân tích, là hành động và tiến bộ, chứ không phải cái giường lười của nhà tu hành!”

Naphta đã nghe. Ông quay lại nói về phía sau:

“Của nhà tu hành ư! Người ta mang ơn các nhà tu hành về sự khai khẩn đất đai châu Âu! Người ta mang ơn họ vì nước Đức, nước Pháp và nước Ý không bị phủ kín bởi rừng hoang và đầm lầy nguyên thủy, mà ban cho chúng ta lúa, trái cây và rượu vang! Các nhà tu hành, thưa ông, đã làm việc rất mực...”

“_Ebbè_, thế thì đấy!”

“Xin ông. Công việc của người sùng đạo không phải là cứu cánh tự thân, nghĩa là một thứ thuốc gây tê mê, mà ý nghĩa của nó cũng không nằm ở chỗ thúc đẩy thế gian hay mưu cầu lợi ích làm ăn. Nó là sự thực hành khổ hạnh thuần túy, là bộ phận của kỷ luật sám hối, là phương thuốc cứu rỗi. Nó che chở con người chống lại xác thịt, phục vụ cho việc dập tắt nhục cảm. Bởi vậy nó mang, xin cho phép tôi xác định điều ấy, một tính chất hoàn toàn phi xã hội. Nó là chủ nghĩa ích kỷ tôn giáo thuần khiết nhất.”

“Tôi hết sức cảm ơn ông về sự khai sáng ấy và vui mừng được thấy phúc lành của lao động vẫn chứng tỏ hiệu lực của mình ngay cả trái với ý muốn con người.”

“Vâng, trái với ý định của con người. Ở đây chúng ta nhận ra không gì ít hơn là sự khác biệt giữa cái hữu dụng và cái nhân bản.”

“Trước hết tôi chỉ bực mình nhận thấy rằng ông lại đang xẻ đôi thế giới đấy thôi.”

„Tôi lấy làm tiếc đã khiến ngài không hài lòng, nhưng người ta phải phân biệt và sắp đặt các sự vật, và giữ cho ý niệm _Homo Dei_ khỏi những thành phần ô tạp. Người Ý các ông đã phát minh ra nghề đổi tiền và nhà băng; xin Chúa tha thứ điều ấy cho các ông. Nhưng người Anh đã phát minh ra học thuyết xã hội duy kinh tế, và điều đó thiên tài của con người sẽ không bao giờ tha thứ cho họ.“

„A, thiên tài của nhân loại cũng sống trong những nhà tư tưởng kinh tế lớn của quần đảo ấy đấy chứ! – Ngài định nói gì, kỹ sư?“

Hans Castorp phủ nhận điều đó, nhưng rồi vẫn nói; và cả Naphta lẫn Settembrini đều nghe chàng với một sự căng thẳng nhất định:

„Theo đó hẳn ông phải có thiện cảm với nghề nghiệp của anh em họ tôi, Herr Naphta, và đồng tình với sự nôn nóng muốn bước vào nghề ấy của anh... Tôi thì là dân sự từ đầu đến chân, anh em họ tôi thường trách tôi điều đó. Tôi còn chưa từng đi lính, quả thật là một đứa con của hòa bình, và đôi khi thậm chí đã nghĩ rằng mình cũng hoàn toàn có thể trở thành giáo sĩ, – ông cứ hỏi anh tôi đi, tôi từng nhiều lần nói như thế. Nhưng nếu tôi tạm gác sang một bên những thiên hướng riêng của mình – mà nói đúng ra, có lẽ tôi cũng chẳng cần gác chúng hẳn sang một bên làm gì –, thì tôi lại có rất nhiều cảm thông và thiện cảm đối với giới quân nhân. Chuyện ấy quả có một ý nghĩa nghiêm trọng đến quỷ quái, một ý nghĩa ‘khổ hạnh’, nếu ông muốn nói vậy – khi nãy ông đã tử tế dùng từ ấy theo một cách nào đó –, và họ luôn luôn phải tính đến chuyện sẽ phải đụng mặt với cái chết, – mà rốt cuộc hàng giáo sĩ cũng phải đụng mặt, – chứ còn với gì nữa. Bởi thế giới quân nhân mới có _bienséance_, có thứ bậc, có vâng phục, có danh dự kiểu Tây Ban Nha, nếu tôi được phép nói như vậy, và cũng khá ngang nhau thôi, dù người ta mang một chiếc cổ áo quân phục cứng đờ hay một chiếc vòng cổ hồ cứng, rút lại thì vẫn là một chuyện, là cái ‘khổ hạnh’, như khi nãy ông đã diễn đạt thật xuất sắc... Tôi không biết mình có thành công trong việc trình bày cho ông mạch suy nghĩ của tôi...“

„Có chứ, có chứ“, Naphta nói và liếc sang Settembrini, khi ấy đang xoay cây gậy trong tay và ngắm trời.

„Và bởi vậy tôi nghĩ,“ Hans Castorp nói tiếp, „rằng những thiên hướng của anh em họ tôi, Ziemßen, hẳn phải là điều làm ông cảm thấy đồng điệu, sau tất cả những gì ông vừa nói. Tôi không nghĩ tới ‘ngai vàng và bàn thờ’ hay những mối liên kết kiểu đó, những thứ mà một số người, những người chỉ đơn thuần yêu trật tự và chỉ đơn giản có thiện chí, đôi khi dùng để biện minh cho sự gắn bó ấy. Mà tôi nghĩ tới chỗ rằng công việc của giới quân nhân, nghĩa là sự phục vụ – trong trường hợp này người ta gọi là sự phục vụ – tuyệt đối không diễn ra vì những lợi thế vụ lợi và chẳng có quan hệ gì với ‘học thuyết xã hội duy kinh tế’, như ông nói; bởi vậy người Anh cũng chỉ có ít lính thôi, vài người cho Ấn Độ và vài người ở nhà để duyệt binh...“

„Ngài nói tiếp cũng vô ích thôi, kỹ sư,“ Settembrini ngắt lời chàng. „Sự tồn tại của người lính – tôi nói điều này mà không hề muốn động chạm đến viên trung úy của chúng ta – là điều không thể bàn tới về mặt tinh thần, bởi nó thuần túy hình thức, tự thân không có nội dung; kiểu mẫu căn bản của người lính là tên lính đánh thuê, kẻ để mình bị mộ cho việc này hay việc nọ, – nói ngắn lại, từng có người lính của cuộc Phản Cải cách Tây Ban Nha, người lính của các đạo quân cách mạng, người lính Napoléon, người lính của Garibaldi, và có người lính Phổ. Hãy để tôi nói về người lính khi tôi biết anh ta chiến đấu _vì_ cái gì!“

„Việc _anh ta chiến đấu_,“ Naphta đáp lại, „dẫu sao vẫn là một đặc tính có thể nắm bắt được của đẳng cấp ấy, cứ tạm công nhận như thế đi. Có thể điều đó chưa đủ để làm cho đẳng cấp ấy trở thành ‘có thể bàn tới về mặt tinh thần’ theo ý ông, nhưng nó đặt đẳng cấp ấy vào một lĩnh vực mà sự khẳng định đời sống kiểu thị dân bị cấm tuyệt mọi cái nhìn thấu vào.“

„Cái mà ông vui lòng gọi là sự khẳng định đời sống kiểu thị dân,“ Herr Settembrini đáp bằng phần trước của đôi môi, trong khi hai khóe miệng ông dưới bộ ria cong kéo ngang ra căng cứng và cái cổ ông theo một cách hết sức kỳ dị tự vặn xiên và giật cục ra khỏi cổ áo, „sẽ luôn luôn được thấy là sẵn sàng đứng ra bảo vệ những ý niệm của lý tính và đạo lý, cũng như ảnh hưởng chính đáng của chúng đối với những tâm hồn trẻ đang dao động, dưới bất cứ hình thức nào.“

Một quãng im lặng tiếp theo. Hai chàng trai bối rối nhìn xuống trước mặt. Sau vài bước, Settembrini, sau khi đã đưa đầu và cổ trở lại tư thế tự nhiên, nói:

„Các cậu chớ lấy làm lạ, ông này và tôi, chúng tôi thường cãi nhau, nhưng hoàn toàn trong tình bằng hữu và trên cơ sở của không ít điều đồng tâm.“

Điều ấy quả là phải lẽ. Đó là một cử chỉ hiệp sĩ và nhân đạo của Herr Settembrini. Nhưng Joachim, vốn cũng có thiện ý và định kéo dài câu chuyện một cách vô hại, rốt cuộc vẫn nói ra, như thể đang đứng dưới một áp lực và cưỡng bách nào đó, và gần như trái với ý mình:

„Tình cờ ban nãy anh em tôi có nói về chiến tranh, khi đi đằng sau hai ông.“

„Tôi có nghe thấy,“ Naphta đáp. „Tôi bắt được chữ ấy và ngoảnh lại. Các anh bàn chuyện chính trị à? Thảo luận tình hình thế giới chăng?“

„Ồ, không đâu,“ Hans Castorp cười. „Làm sao chúng tôi lại đi đến chỗ ấy được! Với nghề nghiệp của anh em họ tôi đây thì quan tâm đến chính trị quả thật là không thích hợp, còn tôi thì tự nguyện từ bỏ hẳn, chẳng hiểu gì về chuyện ấy cả. Từ khi ở đây, tôi còn chưa cầm đến một tờ báo nữa...“

Settembrini thấy điều ấy, cũng như một lần trước kia, là đáng chê trách. Ngay lập tức ông tỏ ra được thông tin hết sức đầy đủ về những đại cục, và phán đoán chúng theo chiều thuận, xét ở chỗ mọi việc đang diễn biến theo một hướng có lợi cho văn minh. Bầu không khí chung của châu Âu đầy ắp những tư tưởng hòa bình, những kế hoạch giải trừ quân bị. Ý niệm dân chủ đang tiến bước. Ông tuyên bố mình có những tin tức mật, theo đó phong trào Thanh Thổ vừa đúng lúc kết thúc các chuẩn bị cho những hành động lật nhào tận gốc. Thổ Nhĩ Kỳ như một quốc gia dân tộc và lập hiến, – quả là một chiến thắng của nhân tính!

„Tự do hóa Hồi giáo,“ Naphta chế nhạo. „Tuyệt lắm. Một thứ cuồng tín khai sáng, – rất hay. Vả lại chuyện này dính dáng đến anh đấy,“ ông quay sang Joachim. „Nếu Abdul Hamid sụp đổ thì ảnh hưởng của các anh ở Thổ Nhĩ Kỳ cũng chấm hết, và nước Anh sẽ tự xưng làm kẻ bảo hộ... Các anh nhất định phải coi trọng những mối liên hệ và nguồn tin của Settembrini nhà ta đấy,“ ông nói với hai anh em họ; và ngay cả điều ấy cũng nghe hỗn xược, vì dường như ông cho rằng họ có khuynh hướng không coi Herr Settembrini ra gì. „Trong các vấn đề dân tộc-cách mạng, ông ấy biết đường đi nước bước. Ở quê nhà, người ta duy trì quan hệ tốt với Ủy ban Balkan của Anh. Nhưng rồi các thỏa thuận ở Reval sẽ ra sao, Lodovico, nếu bọn Thổ tiến bộ của ông gặp vận? Eduard sẽ không còn có thể cho phép người Nga mở Dardanellen nữa, và nếu nước Áo bất chấp vẫn gượng dậy tiến hành một chính sách Balkan tích cực, thì...“

„Với những lời tiên tri tai họa của ông!“ Settembrini gạt đi. „Nikolaus yêu hòa bình. Người ta mắc nợ ông ấy các hội nghị ở Den Haag, những sự kiện luân lý bậc nhất vẫn mãi là thế.“

„À, nước Nga hẳn còn phải cho phép mình nghỉ ngơi đôi chút sau cái rủi nho nhỏ ở phương Đông chứ!“

„Xấu hổ thay, thưa ông. Ông không nên giễu cợt khát vọng của nhân loại hướng tới sự hoàn thiện xã hội của chính mình. Dân tộc nào phá ngang những nỗ lực ấy, hẳn sẽ tự đặt mình dưới sự lên án đạo lý.“

„Thì chính trị còn để làm gì, nếu không phải là để cho nhau cơ hội tự làm mình bại hoại về phương diện đạo lý!“

„Ông tôn thờ chủ nghĩa Đại Đức chăng?“

Naphta nhún vai; hai vai ông không cao đều nhau hẳn hoi. Có lẽ thân hình ông thật ra hơi vẹo, thêm vào vẻ xấu xí vốn có. Ông khinh không thèm trả lời. Settembrini phán:

„Dù sao thì điều ông vừa nói thật cay độc. Trong những nỗ lực cao thượng của nền dân chủ nhằm khẳng định mình trên trường quốc tế, ông không muốn nhìn thấy gì ngoài mưu mẹo chính trị...“

„Ông hẳn đòi tôi phải thấy trong đó chủ nghĩa duy lý tưởng hay thậm chí cả tính tôn giáo? Đó là những cơn động đậy cuối cùng, yếu ớt, của chút bản năng tự tồn còn sót lại mà một hệ thống thế giới đã bị kết án vẫn còn sở hữu. Tai họa phải đến và nhất định sẽ đến, nó đến bằng mọi ngả và dưới mọi hình thức. Hãy lấy nghệ thuật trị quốc của Anh mà xem. Nhu cầu của nước Anh muốn bảo toàn cái Glacis Ấn Độ là chính đáng. Nhưng hậu quả thì sao? Eduard biết rõ như ông và tôi rằng những người cầm quyền ở Petersburg phải rửa cho sạch vết nhục Mãn Châu và cần sự chuyển hướng của cách mạng cũng thiết yếu như cơm bánh hằng ngày. Thế mà ông ta vẫn lái – hẳn ông ta buộc phải làm vậy! – xung lực bành trướng của Nga về phía châu Âu, đánh thức những sự kình địch đã ngủ im giữa Petersburg và Wien –“

„Ôi, Wien! Ông lo lắng cho vật cản của thế giới ấy, hẳn là vì trong cái đế quốc mục ruỗng mà nó là thủ đô, ông nhận ra xác ướp của Đế chế La Mã Thần thánh của dân tộc Đức!“

„Còn tôi thì thấy ông thân Nga, hẳn là do một thiện cảm nhân văn đối với chế độ hoàng đế-giáo hoàng.“

„Thưa ông, nền dân chủ còn có nhiều điều để hy vọng ở Kremlin hơn là ở Hofburg, và đó là một nỗi nhục cho xứ sở của Luther và Gutenberg –“

„Ngoài ra rất có thể còn là một điều ngu xuẩn. Nhưng ngay cả sự ngu xuẩn ấy cũng là một công cụ của định mệnh –“

„Ôi, xin ông đừng nói với tôi về định mệnh! Chỉ cần lý tính của con người _muốn_ mạnh hơn định mệnh, thì nó _là_ mạnh hơn!“

„Điều được muốn tới bao giờ cũng chỉ là số phận. Châu Âu tư bản chủ nghĩa muốn cái số phận của chính nó.“

„Người ta tin vào sự đến gần của chiến tranh khi người ta không ghê tởm nó một cách đầy đủ!“

„Sự ghê tởm của ông còn cụt lủn về mặt lý lẽ, chừng nào ông chưa bắt đầu từ chính bản thân nhà nước.“

„Nhà nước dân tộc là nguyên lý của cõi đời này, cái mà ông muốn quy cho quỷ sứ. Nhưng hãy làm cho các dân tộc được tự do và bình đẳng, hãy che chở những kẻ nhỏ và yếu khỏi bị áp bức, hãy tạo dựng công lý, hãy xác lập những biên giới dân tộc...“

„Biên giới Brenner, tôi biết. Việc thanh toán nước Áo. Giá mà tôi biết ông định thực hiện điều đó bằng cách nào mà không cần đến chiến tranh!“

„Và quả thật tôi rất muốn biết có bao giờ tôi từng lên án chiến tranh dân tộc kia chứ.“

„Tôi vẫn nghe thấy rõ là –“

„Không, điểm này thì tôi phải xác nhận cho Herr Settembrini,“ Hans Castorp xen vào cuộc tranh luận mà chàng vẫn vừa đi vừa theo dõi, trong khi nghiêng đầu chăm chú nhìn nghiêng người nào đang nói. „Anh em họ tôi và tôi đây cũng đã đôi lần có cái vinh hạnh được cùng ông ấy đàm luận về những chuyện này và những chuyện tương tự; nghĩa là, dĩ nhiên, rút cục thì chỉ là chúng tôi ngồi nghe ông ấy triển khai những ý kiến của mình và làm sáng tỏ mọi sự. Và ở đây tôi có thể xác nhận, mà anh em họ tôi đây hẳn cũng còn nhớ, rằng Herr Settembrini đã hơn một lần nói với một sự hào hứng lớn lao về nguyên lý của vận động, của phản loạn và của việc cải tạo thế giới, vốn tự thân, theo tôi nghĩ, không hẳn là một nguyên lý cho lắm hòa bình, và rằng trước khi nguyên lý ấy có thể chiến thắng khắp nơi và nền cộng hòa thế giới hạnh phúc phổ quát có thể thành hiện thực, thì còn có những nỗ lực to lớn đang chờ nó ở phía trước. Đó là lời của ông ấy, dù dĩ nhiên lời lẽ ông ấy sinh động và văn chương hơn lời tôi nhiều, điều ấy thì khỏi phải nói. Nhưng điều tôi biết rất rõ và còn nhớ nguyên văn, bởi là một dân sự chính cống nên tôi thực sự hơi giật mình về điều ấy, chính là việc ông ấy nói rằng ngày đó sẽ đến, nếu không phải trên đôi chân bồ câu thì cũng trên cánh đại bàng (tôi nhớ mình đã giật mình vì cánh đại bàng ấy), và rằng Wien phải bị đánh gục nếu người ta muốn dẫn hạnh phúc vào đời. Vậy thì không thể nói rằng Herr Settembrini đã bác bỏ chiến tranh nói chung. Tôi nói có đúng không, Herr Settembrini?“

„Đại khái thế,“ người Ý đáp cụt lủn, vừa quay đầu đi vừa vung cây gậy.

„Tệ thật,“ Naphta mỉm cười một cách xấu xí. „Thế là chính học trò của ông đã chứng ra nơi ông những khuynh hướng hiếu chiến. _Assument pennas ut aquilae ..._“

„Chính Voltaire cũng đã tán thành cuộc chiến tranh văn minh và đã khuyên Friedrich Đệ Nhị gây chiến với người Thổ.“

„Thay vào đó ông ta lại liên minh với họ, he, he. Rồi lại còn nền cộng hòa thế giới nữa! Tôi xin khỏi đi hỏi xem nguyên lý của vận động và phản loạn sẽ ra sao khi hạnh phúc và sự hợp nhất đã được thiết lập. Ngay trong khoảnh khắc ấy, phản loạn sẽ trở thành tội ác...“

„Ông biết rất rõ, và hai vị trẻ tuổi này cũng biết rất rõ, rằng ở đây là nói đến một sự tiến bộ của nhân loại được nghĩ là vô hạn.“

„Nhưng mọi vận động đều là vận động tròn,“ Hans Castorp nói. „Trong không gian và trong thời gian, các định luật về sự bảo toàn khối lượng và về tính tuần hoàn dạy như vậy. Ban nãy anh em tôi còn nói với nhau về chuyện ấy. Vậy thì, khi vận động đã khép kín và không có độ bền của phương hướng, liệu còn có thể nói tới tiến bộ được chăng? Buổi tối, khi tôi nằm như thế và ngắm vòng hoàng đạo, nghĩa là: cái nửa người ta trông thấy được, rồi nghĩ tới những dân tộc hiền triết xưa kia...“

„Ngài không nên trầm tư và mơ mộng, kỹ sư,“ Settembrini ngắt lời chàng, „mà phải dứt khoát phó mình cho những bản năng của lứa tuổi và của giống nòi ngài, những thứ hẳn phải thúc ngài tới hành động. Ngay cả giáo dưỡng khoa học tự nhiên của ngài cũng phải gắn ngài với ý niệm tiến bộ. Ngài thấy, qua những khoảng thời gian vô lượng, sự sống tiến triển và đi lên từ giống infusor tới con người; ngài không thể nghi ngờ rằng trước mắt con người vẫn còn mở ra những khả thể hoàn thiện vô hạn. Nhưng nếu ngài cứ cố chấp bám lấy toán học, thì xin ngài dẫn cái vòng tuần hoàn của mình từ hoàn thiện đến hoàn thiện, và tự làm tươi tỉnh bằng học thuyết của thế kỷ mười tám chúng ta rằng con người nguyên thủy vốn tốt lành, hạnh phúc và hoàn hảo; rằng chỉ những sai lầm của xã hội mới làm nó méo mó và hư hỏng; và rằng trên con đường lao động phê phán vào việc kiến tạo xã hội, nó sẽ lại trở nên tốt lành, hạnh phúc và hoàn hảo, sẽ trở nên như thế –“

“Ông Settembrini đã quên không thêm rằng,” Naphta xen vào, “cái mục đồng Rousseau ấy chỉ là một sự xuyên tạc theo lối duy lý đối với giáo thuyết của Giáo hội về tình trạng vô quốc gia và vô tội lỗi thuở ban đầu của con người, về sự trực tiếp gần Chúa và tư cách con cái Chúa nguyên thủy của con người, mà con người phải quay trở về. Nhưng sự phục hồi nước Chúa sau khi mọi hình thái trần thế tan rã lại nằm ở nơi đất và trời, cái cảm tính và cái siêu cảm tính tiếp xúc với nhau; sự cứu rỗi là siêu vượt; còn về nền cộng hòa thế giới tư bản chủ nghĩa của ông, thưa bác sĩ thân mến, thì thật hết sức kỳ lạ khi phải nghe ông nói đến ‘bản năng’ trong mối liên hệ này. Cái bản năng hoàn toàn đứng về phía cái dân tộc tính, và chính Thượng đế đã cấy vào con người bản năng tự nhiên khiến các dân tộc tự tách biệt nhau ra thành những quốc gia khác nhau. Chiến tranh...”

“Chiến tranh,” Settembrini kêu lên, “chính chiến tranh nữa, thưa ông, cũng đã từng phải phục vụ cho tiến bộ, như ông sẽ phải thừa nhận với tôi nếu ông nhớ đến một vài biến cố thuộc thời đại yêu thích của ông, ý tôi là: nếu ông nhớ đến các cuộc Thập tự chinh! Những cuộc chiến văn minh ấy đã hết sức may mắn thúc đẩy quan hệ giữa các dân tộc về mặt kinh tế và giao thương, đồng thời thống nhất nhân loại phương Tây dưới dấu hiệu của một ý niệm.”

“Ông thật rộng lượng đối với ý niệm. Càng thế tôi càng xin phép nhã nhặn cải chính ông ở điểm này: rằng các cuộc Thập tự chinh, cùng với sự sôi động giao thông mà chúng tạo ra, đã tác động ít điều hòa quốc tế hơn bất cứ gì, mà trái lại còn dạy cho các dân tộc biết phân biệt nhau, và mạnh mẽ thúc đẩy sự hình thành ý niệm quốc gia dân tộc.”

“Rất xác đáng, nếu xét đến quan hệ giữa các dân tộc và giới giáo quyền. Đúng vậy! từ bấy giờ cảm thức về danh dự quốc gia của nhà nước mới bắt đầu được củng cố để chống lại sự lấn lướt của tôn ti giáo phẩm...”

“Mà trong khi đó, điều ông gọi là sự lấn lướt của tôn ti giáo phẩm chẳng qua chỉ là ý niệm về sự hợp nhất của loài người dưới dấu hiệu của tinh thần!”

“Người ta biết quá cái tinh thần ấy rồi, và xin được miễn.”

“Rõ ràng cơn cuồng quốc gia của ông căm ghét chủ nghĩa thế giới vượt thắng trần gian của Giáo hội. Chỉ tiếc tôi chưa biết ông định làm sao hòa giải cái sự căm ghét ấy với nỗi ghê sợ chiến tranh. Sự sùng bái nhà nước theo lối cổ điển của ông hẳn phải khiến ông thành kẻ bênh vực quan niệm pháp quyền thực định, và với tư cách ấy...”

“Ta đã sang chuyện pháp quyền rồi ư? Trong công pháp quốc tế, thưa ông, tư tưởng về luật tự nhiên và lý tính phổ quát của loài người vẫn còn sống...”

“Phì, công pháp quốc tế của ông rốt cuộc cũng chẳng qua chỉ là một sự xuyên tạc kiểu Rousseau đối với _ius divinum_, cái chẳng liên can gì đến tự nhiên hay lý tính, mà đặt nền trên mặc khải...”

“Ta đừng cãi nhau về tên gọi nữa, thưa giáo sư! Xin ông cứ tự nhiên gọi là _ius divinum_ cái mà tôi tôn kính như luật tự nhiên và công pháp quốc tế. Điều cốt yếu là trên các quyền thực định của những quốc gia dân tộc, phải có một quyền cao hơn, có hiệu lực phổ quát hơn, vươn lên, và làm cho việc phân xử những vấn đề quyền lợi tranh chấp bằng các tòa trọng tài trở nên khả dĩ.”

“Bằng các tòa trọng tài! Hễ nghe chữ ấy là tôi phát ốm! Bằng một tòa trọng tài thị dân quyết định những vấn đề của sự sống, dò tìm ý muốn của Chúa, và định đoạt lịch sử! Thôi, chừng ấy về những bàn chân bồ câu. Thế còn đôi cánh đại bàng đâu?”

“Nếp sống văn minh thị dân...”

“Ối chà, nếp sống văn minh thị dân chẳng biết nó muốn gì! Lúc thì người ta gào lên đòi chống sự sút giảm sinh đẻ, yêu cầu phải làm nhẹ bớt chi phí nuôi con và chuẩn bị nghề nghiệp. Thế mà đồng thời người ta ngạt thở giữa cảnh chen chúc, và mọi nghề nghiệp đều chật ních đến nỗi cuộc tranh giành máng ăn còn làm cho mọi cuộc chiến tranh trong quá khứ trở nên mờ nhạt. Khoảng trống và thành phố vườn! Cường kiện hóa nòi giống! Nhưng cường kiện hóa để làm gì, nếu văn minh và tiến bộ muốn rằng sẽ không còn chiến tranh nữa? Chiến tranh sẽ là phương thuốc cho mọi sự và vì mọi sự. Cho sự cường kiện hóa, và thậm chí chống lại cả sự sút giảm sinh đẻ.”

“Ông đùa rồi. Không còn nghiêm chỉnh nữa. Câu chuyện của chúng ta đang tan ra, mà tan đúng lúc. Ta đến nơi rồi,” Settembrini nói, vừa dùng gậy chỉ cho hai anh em họ căn nhà nhỏ trước cổng rào của nó họ đã dừng lại. Nó nằm gần lối vào ‘Làng’, sát bên đường, chỉ cách đường bởi một mảnh vườn con hẹp, và thật khiêm nhường. Dây nho dại vươn lên từ những rễ trồi hẳn ra ngoài, quấn quanh cửa nhà, rồi chìa một cánh tay cong, áp sát vào tường, về phía ô cửa sổ trệt bên phải, ô cửa bày hàng của một tiệm tạp hóa nhỏ. Settembrini giải thích rằng tầng trệt là của ông chủ hàng xén. Chỗ trọ của Naphta ở trên một tầng, trong hiệu may, còn chính ông thì ngụ dưới mái. Đó là một thư phòng yên tĩnh.”

Với một vẻ khả ái đột ngột bộc lộ ra khiến người ta ngạc nhiên, Naphta bày tỏ hy vọng rằng từ cuộc gặp gỡ này sẽ nảy sinh những cuộc gặp gỡ khác nữa. “Hãy đến thăm chúng tôi,” ông nói. “Tôi hẳn đã nói: Hãy đến thăm tôi, nếu như ở đây bác sĩ Settembrini không có quyền lâu năm hơn đối với tình bạn của các cậu. Hãy đến bất cứ khi nào các cậu muốn, hễ các cậu có hứng cho một cuộc đàm đạo nho nhỏ. Tôi quý trọng sự trao đổi với tuổi trẻ, và cũng có lẽ không hoàn toàn thiếu hẳn truyền thống sư phạm nào đó... Nếu vị thầy trên ghế của chúng ta” (ông chỉ vào Settembrini) “muốn dành riêng mọi thiên hướng và thiên chức sư phạm cho chủ nghĩa nhân văn thị dân, thì phải phản bác ông ấy. Vậy nhé, hẹn sớm gặp lại!”

Settembrini tỏ ý khó xử. Có những khó khăn như thế đấy, ông nói. Những ngày của viên trung úy ở trên này đã đếm được rồi, còn chàng kỹ sư hẳn sẽ muốn gấp đôi lòng sốt sắng trong chế độ điều dưỡng, để rất chóng theo chân anh xuống miền đồng bằng.

Hai chàng trai lần lượt tán thành cả hai người, người này rồi đến người kia. Họ đón nhận lời mời của Naphta bằng những cái cúi đầu, và ngay khoảnh khắc sau đó lại gật đầu nhún vai công nhận những băn khoăn của Settembrini là xác đáng. Thành thử mọi sự vẫn để ngỏ.

“Ông ta gọi ông kia là gì nhỉ?” Joachim hỏi, khi họ men theo khúc quanh đường dốc lên “Berghof”...

“Tớ nghe là ‘thầy trên ghế’,” Hans Castorp nói, “và cũng đang nghĩ về điều đó đây. Chắc là một trò đùa gì đó; họ vẫn có những cái tên kỳ quặc dành cho nhau mà. Settembrini gọi Naphta là ‘_princeps scholasticorum_’, cũng chẳng tệ. Mấy nhà scholastic ấy hẳn là các bậc học giả Trung cổ, những triết gia giáo điều, nếu cậu muốn. Hm. Mà người ta cũng đã nói đến thời Trung cổ khá nhiều lần, khiến tớ chợt nhớ ngay hôm đầu Settembrini đã bảo rằng trên này của chúng ta có nhiều cái phảng phất Trung cổ: ta đi tới ý ấy qua Adriatica von Mylendonk, qua cái tên. Thế _ông ấy_ làm cậu thấy sao?”

“Cái gã nhỏ thó ấy à? Không hay. Ông ta có nói vài điều tớ thích. Tòa trọng tài dĩ nhiên là một trò hèn hạ. Nhưng bản thân ông ta thì tớ chẳng thích mấy, mà một người có nói bao nhiêu điều hay đi nữa, tớ được gì, nếu bản thân hắn là một gã khả nghi. Và khả nghi thật đấy, cậu không thể chối được. Chỉ riêng câu chuyện về ‘những nơi giao hợp’ đã là đáng ngại rõ rệt rồi. Mà ông ta lại còn có cái mũi Do Thái nữa, cậu cứ nhìn mà xem! Dáng hình còm nhom như thế thì cũng chỉ người Semite mới hay có thôi. Thế cậu thật lòng định đến thăm ông ta đấy à?”

“Dĩ nhiên là chúng ta sẽ đến thăm ông ta!” Hans Castorp tuyên bố. “Cái sự còm nhom ấy, đó chỉ là anh nhà binh trong cậu đang lên tiếng thôi. Nhưng người Chaldée cũng có những cái mũi như thế mà vẫn lanh lợi kinh khủng, đâu chỉ trong các khoa huyền bí. Naphta cũng có cái gì đó của huyền học, ông ta khiến tớ không ít hứng thú. Tớ cũng không dám quả quyết rằng hôm nay tớ đã hiểu ra ông ta rồi, nhưng nếu chúng ta gặp ông ta thường hơn, có lẽ ta sẽ hiểu được, và tớ thấy hoàn toàn không phải là không thể rằng, nhân dịp này, nói chung chúng ta sẽ khôn ra.”

“Trời ạ, ở trên này cậu cứ ngày một khôn ra mãi, với sinh học và thực vật học của cậu, với những bước ngoặt vô căn cứ của cậu nữa. Với cả ‘thời gian’ thì cậu đã động đến ngay từ hôm đầu rồi. Mà rốt cuộc chúng ta ở đây là để khỏe hơn, chứ không phải để khôn hơn, khỏe hơn và khỏe hẳn, để cuối cùng họ thả cho chúng ta được tự do và cho xuất viện xuống miền đồng bằng như những người đã khỏi bệnh chứ!”

“Tự do ngự trên núi cao!” Hans Castorp cất giọng hát bừa bãi. “Nhưng trước hết cứ bảo tớ nghe tự do là gì đã,” chàng tiếp lời. “Lúc nãy Naphta và Settembrini cũng cãi nhau về chuyện ấy mà chẳng đi đến đâu. ‘Tự do là luật của lòng yêu người!’ Settembrini nói thế, và câu ấy nghe đúng là người tiền bối Carbonaro của ông ta. Nhưng dẫu Carbonaro có can đảm đến đâu, và dẫu chính Settembrini của chúng ta cũng can đảm đến đâu chăng nữa...”

“Phải, ông ta trở nên khó chịu khi câu chuyện chạm đến lòng can đảm cá nhân.”

“... thì tớ vẫn tin rằng ông ta sợ nhiều điều mà gã Naphta nhỏ bé kia _không_ sợ, cậu hiểu chứ, và rằng cái tự do với lòng can đảm của ông ta khá kiểu cách. Cậu có nghĩ ông ta đủ can đảm để _de se perdre ou même de se laisser dépérir_ không?”

“Tự dưng cậu lại nói tiếng Pháp làm gì thế?”

“Chỉ vậy thôi... Không khí ở đây vốn quốc tế quá mà. Tớ không biết ai phải thấy thú hơn mới đúng: Settembrini, vì nền cộng hòa thế giới thị dân của ông ta, hay Naphta với cái kosmopolis phẩm trật của ông ta. Cậu thấy đấy, tớ đã chú ý lắm, nhưng sự việc chẳng sáng tỏ hơn với tớ, trái lại, tớ thấy điều lộ ra từ những lời lẽ của họ là một sự hỗn độn rất lớn.”

“Lúc nào cũng thế. Rồi cậu sẽ luôn thấy rằng hễ nói năng và có ý kiến là rốt cuộc chỉ sinh ra hỗn độn. Tớ đã bảo cậu rồi, rốt cuộc chẳng hệ gì chuyện một người có những ý kiến gì, mà là chuyện người ấy có ra một con người tử tế hay không. Tốt nhất là chẳng có ý kiến gì cả, cứ làm phận sự của mình.”

“Ừ, cậu nói thế được, như một anh lính đánh thuê và một sự tồn tại thuần hình thức đúng như cậu là. Còn ở tớ thì khác, tớ là người dân sự, tớ, theo một nghĩa nào đó, có trách nhiệm. Và tớ bực mình khi thấy thứ hỗn độn như thế: nào là một người rao giảng nền cộng hòa thế giới quốc tế và ghê tởm chiến tranh về nguyên tắc, thế mà lại ái quốc đến nỗi nhất quyết đòi đường biên Brenner và muốn tiến hành một cuộc chiến văn minh vì nó; còn người kia thì coi nhà nước là trò quỷ quái và huýt sáo về sự hợp nhất phổ quát nơi chân trời, nhưng ngay khoảnh khắc sau lại bênh vực quyền của bản năng tự nhiên và chế nhạo các hội nghị hòa bình. Nhất định chúng ta phải đến đó để hiểu cho ra lẽ. Cậu tuy nói rằng ta không nên khôn hơn ở đây, mà nên khỏe hơn. Nhưng hai điều ấy ắt phải hòa hợp được chứ, anh bạn, và nếu cậu không tin điều đó, thì cậu đang gây ra sự phân đôi thế giới đấy, mà làm cái trò ấy thì bao giờ cũng là một lỗi lớn, tớ xin nói cho cậu biết.”

Về nước Chúa và sự cứu rỗi hiểm ác

Hans Castorp, trong lô-gia của mình, định tên một loài cây lúc này, khi mùa hè thiên văn đã bắt đầu và ngày tháng cũng bắt đầu ngắn lại, đang mọc lan ở nhiều nơi: cây aquilegia hay _Aquilegia_, một loài thuộc họ mao lương, mọc theo dạng bụi lâu năm, cuống cao, hoa màu lam và tím, cũng có cả màu nâu đỏ, lá thảo mộc bản rộng. Loài cây ấy mọc đây đó, nhưng mọc dày đặc nhất là nơi đáy khe tĩnh lặng kia, nơi gần tròn một năm trước chàng đã lần đầu nhìn thấy nó: cái hẻm rừng heo hút rì rầm nước xiết, có cầu ván và ghế nghỉ, nơi cuộc dạo chơi nôn nóng, tự tiện và có hại cho sức khỏe của chàng ngày ấy đã kết thúc, và nay thỉnh thoảng chàng lại tìm đến.

Thực ra, nếu bắt đầu một cách bớt mạo hiểm hơn hồi ấy chàng đã làm, thì đường tới đó cũng không xa lắm. Từ đích các cuộc đua xe trượt trong “Làng” mà lên sườn dốc một chút, thì nơi đẹp như tranh ấy trên con đường rừng, nơi những cây cầu gỗ bắc ngang đường xe trượt lòng máng từ Schatzalp đi xuống, có thể tới được trong hai mươi phút, không cần đường vòng, không cần hát opera, cũng không cần những quãng dừng nghỉ vì kiệt sức; và khi Joachim bị cột chân trong nhà vì những nghĩa vụ điều dưỡng, vì khám bệnh, chụp ảnh nội khoa, thử máu, tiêm chích hoặc cân ký, thì Hans Castorp, trong tiết trời quang, thường đi bộ đến đó sau bữa điểm tâm thứ hai, đôi khi cả sau bữa thứ nhất, và cả những giờ giữa trà chiều và bữa tối chàng cũng hay dùng để ghé thăm nơi chốn yêu thích của mình, ngồi trên chiếc ghế dài nơi trận chảy máu cam dữ dội đã bất thần ập đến với chàng năm nào, nghiêng đầu lắng nghe tiếng con suối đổ, nhìn ngắm bức tranh phong cảnh khép kín chung quanh, cũng như vô số hoa aquilegia xanh lam giờ đây lại nở trong lòng khe.

Chàng đến đó chỉ để thế thôi sao? Không, chàng ngồi đó để được một mình, để hồi tưởng, để kiểm đếm những ấn tượng và phiêu lưu của bao tháng trời, và để suy ngẫm mọi sự. Chúng rất nhiều và muôn vẻ, lại không dễ gì sắp xếp, bởi trước mắt chàng chúng hiện ra phần nhiều đan cài và chảy lẫn vào nhau, đến nỗi cái cụ thể có thể cầm nắm được hầu như không thể tách khỏi cái chỉ được nghĩ đến, mơ thấy và tưởng tượng ra. Nhưng tất cả đều mang bản chất phiêu lưu, đến mức trái tim vốn dễ rung động của chàng, thứ trái tim từ ngày đầu tiên trên này đã như thế và vẫn cứ như thế, lại khựng đi rồi đập thình thịch mỗi khi chàng nghĩ tới chúng. Hay chăng chỉ riêng suy xét của lý trí thôi cũng đã đủ để làm trái tim dễ rung động ấy hãi hùng một cách phiêu lưu đến thế: rằng _Aquilegia_ ở đây, nơi một thuở trong trạng thái sinh hoạt suy giảm Pribislav Hippe đã hiện ra với chàng bằng xương bằng thịt, không phải là vẫn còn, mà là đã lại nở nữa rồi; và rằng từ “ba tuần lễ” chẳng bao lâu nữa sẽ thành ra tròn một năm?

Vả chăng, trên chiếc ghế dài bên dòng nước xiết ấy chàng không còn bị chảy máu cam nữa, chuyện đó đã qua rồi. Sự thích nghi của chàng, điều mà Joachim đã lập tức trình ra là khó khăn và quả thật đã chứng tỏ là khó khăn, nay đã tiến triển; sau mười một tháng, hẳn phải kể là đã hoàn tất, và xa hơn thế theo phương diện ấy thì khó lòng còn đợi được gì nữa. Hóa tính của dạ dày chàng đã điều hòa và thích ứng; Maria Mancini đã ngon trở lại, các dây thần kinh của những niêm mạc đã khô đi từ lâu lại cảm nhận một cách tiếp nhận hương vị của thứ sản phẩm rẻ tiền ấy, thứ mà chàng vẫn như trước, mỗi khi gần cạn, đặt mua từ Bremen với một cảm thức gần như thành kính, mặc dầu trong các tủ kính của nơi dưỡng bệnh quốc tế này, những món hàng hết sức mời gọi vẫn phô bày. Phải chăng Maria tạo nên một thứ dây liên hệ giữa chàng, kẻ đã bị nhấc khỏi đời thường, với miền đồng bằng, với quê cũ? Phải chăng nó duy trì và gìn giữ những mối quan hệ như thế hữu hiệu hơn những tấm bưu thiếp mà chàng thỉnh thoảng gửi xuống dưới cho hai ông cậu, những khoảng cách giữa các tấm thiếp ấy ngày một thưa ra đúng theo mức độ chàng đã lĩnh hội cho mình một lối quản trị thời gian quảng khoát hơn theo quan niệm trên này? Đó phần lớn là bưu ảnh, cho tiện chiều lòng hơn, với những hình đẹp của thung lũng trong tuyết cũng như trong bộ dạng mùa hè, và chúng chỉ chừa ra vừa đủ chỗ để viết, đủ dùng để chuyển đạt thông cáo y khoa mới nhất, báo cho thân quyến kết quả một cuộc khám hằng tháng hay khám tổng quát, nghĩa là chẳng hạn cho hay rằng về mặt thính chẩn cũng như thị chẩn đều ghi nhận một sự cải thiện không thể lầm lẫn, nhưng chàng vẫn chưa được giải độc, và thân nhiệt hơi cao mà chàng vẫn còn ở trong đó là do những chỗ nhỏ vẫn còn hiện hữu, song nhất định sẽ biến mất không để lại dấu vết nếu chàng biết kiên nhẫn, để rồi sau đó dứt khoát chàng sẽ không cần trở lại nữa. Chàng có thể tin chắc rằng ở chàng, người ta không đòi hỏi cũng không chờ đợi một tài viết thư vượt quá chừng ấy; chàng đâu có ngỏ lời tới một phạm vi nhân văn-hùng biện nào; mà những thư trả lời chàng nhận được cũng chẳng phải loại trào dâng cảm xúc hơn gì. Chúng phần nhiều đi kèm với những khoản sinh kế bằng tiền bạc gửi từ nhà lên cho chàng, tức lợi tức của gia sản do cha chàng để lại, những khoản mà trong đồng tiền trên này trông ra có lợi đến mức chàng chưa bao giờ tiêu hết trước khi một đợt gửi mới tới, và chúng gồm vài dòng đánh máy, ký tên James Tienappel, kèm lời thăm hỏi và chúc bình phục của ông bác cố, đôi khi cả của Peter đi biển nữa.

Việc tiêm chích, Hans Castorp báo về nhà, mới đây đã bị vị Cố vấn triều đình cho ngừng lại. Chúng không hợp với chàng thanh niên bệnh nhân này, gây cho chàng đau đầu, chán ăn, sụt cân và mệt mỏi, trước hết đã làm "nhiệt độ" tăng lên rồi sau đó cũng không xóa bỏ được nó. Nó vẫn cháy tiếp như một thứ nóng khô chủ quan trên khuôn mặt hồng đỏ của chàng, như một lời nhắc rằng sự thích nghi, đối với nhánh non này của miền đồng bằng và nền khí tượng ẩm ướt vui vẻ của nó, rốt cuộc có lẽ chủ yếu chỉ cốt ở việc quen với chuyện mình không quen nổi, điều mà nhân tiện Rhadamanthys cũng chính tự mình không làm được, vì ông ta lúc nào cũng có đôi má xanh tái. "Có người chẳng bao giờ quen được," Joachim đã nói ngay từ đầu, và dường như đó chính là trường hợp của Hans Castorp. Bởi lẽ cả chứng run gáy, thứ đã bắt đầu quấy rầy chàng trên này chẳng bao lâu sau khi đến nơi, cũng không chịu mất đi, trái lại cứ không sao tránh khỏi mà tái hiện khi đi lại, khi trò chuyện, thậm chí cả ở đây, nơi nở đầy hoa xanh biếc của những suy tưởng về toàn bộ các cuộc phiêu lưu của chàng, đến nỗi tư thế chống cằm trang nghiêm của Hans Lorenz Castorp gần như đã thành một thói quen cố định nơi chàng rồi, mà không phải không khiến chính chàng, mỗi khi dùng đến nó, kín đáo nhớ tới cái cổ áo giết cha của cụ già, tới hình thái lâm thời của chiếc vòng cổ danh dự, tới đường tròn vàng nhợt của chiếc chậu rửa tội, tới cái âm nguyên-nguyên thủy đầy mộ đạo, và những mối tương cận tương tự khác, để từ đó lại dẫn chàng quay về suy xét toàn bộ đời mình.

Pribislav Hippe không còn hiện ra với chàng bằng xương bằng thịt như mười một tháng trước nữa. Sự thích nghi của chàng đã hoàn tất, chàng không còn thị kiến, không còn nằm đó với thân xác bất động trên ghế dài trong khi cái tôi của mình ngụ ở một hiện tiền xa xôi, không còn gì thuộc loại ngẫu biến ấy nữa. Độ rõ và sinh động của hình ảnh hồi tưởng này, mỗi khi nó hiện lên trước chàng, đều nằm trong những giới hạn bình thường, lành mạnh; và trong mối liên hệ đó, Hans Castorp thường rút từ túi ngực ra món tặng vật bằng kính mà chàng cất ở đó trong một phong thư lót mềm rồi sau nữa trong ví da: một tấm phiến, nếu giữ song song với mặt đất thì nom đen sẫm như gương và đục mờ, nhưng khi giơ lên trước ánh sáng bầu trời thì sáng ra và phô bày những sự vật thuộc nhân học: hình ảnh trong suốt của thân thể con người, lồng xương sườn, dáng trái tim, vòm cơ hoành và bộ máy phổi, thêm vào đó là xương đòn và xương cánh tay trên, tất cả được bao quanh bởi một làn bao nhợt mờ, tức thứ thịt mà trong tuần hóa trang Hans Castorp đã nếm đến một cách trái lẽ. Có gì lạ đâu nếu trái tim dễ rung động của chàng khựng lại rồi lao sầm xuống mỗi khi ngắm món tặng vật ấy, rồi tiếp tục tính đếm và suy xét "mọi sự", tựa vào tấm lưng mộc mạc đóng ghép của chiếc ghế nghỉ, hai tay khoanh lại, đầu nghiêng về vai, giữa tiếng nước đổ và trước khóm _Aquilegia_ xanh biếc đang nở?

Cái tạo hình cao của đời sống hữu cơ, dáng hình con người, lơ lửng trước mắt chàng, như trong đêm băng giá đầy sao nọ nhân một dịp học hỏi bác học, và với sự chiêm quan nội tại ấy gắn liền nơi chàng Hans Castorp trẻ tuổi là không ít những câu hỏi và phân biệt mà Joachim tốt bụng hẳn chẳng buộc phải bận tâm, nhưng đối với chúng chàng, với tư cách một người dân sự, đã bắt đầu cảm thấy mình có trách nhiệm, mặc dầu ở miền đồng bằng dưới kia chàng cũng chưa từng nhìn thấy chúng và hẳn vĩnh viễn sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy, trái lại chỉ ở nơi đây, từ sự tách biệt trầm ngắm ở độ cao năm nghìn bộ người ta mới nhìn xuống thế giới và tạo vật mà nghĩ ngợi, có lẽ cũng nhờ một sự tăng cường của thân thể do những độc chất hòa tan gây ra, thứ cháy trên mặt như một cơn nóng khô. Gắn với hình dung kia, chàng nghĩ tới Settembrini, gã kéo đàn quay giáo huấn có cha sinh ở Hellas, kẻ giải thích tình yêu dành cho cái tạo hình cao như chính trị, phản loạn và tài hùng biện, bằng cách làm phép thánh hóa ngọn giáo của người công dân trên bàn thờ nhân loại; chàng cũng nghĩ tới người đồng chí Krokowski và điều mà từ một thời gian nay chàng đã làm với ông ta trong căn buồng tối, suy ngẫm về bản tính hai mặt của sự phân tích và xem nó trợ ích cho hành động và tiến bộ đến đâu, lại gần gũi với nấm mồ và môn giải phẫu khả nghi của nấm mồ đến đâu. Chàng gọi dậy cạnh nhau và đối lập nhau hình ảnh của hai ông nội, người phản loạn và người trung thành, những người mặc đồ đen vì những lý do khác nhau, và cân nhắc phẩm giá của họ; rồi lại tự hỏi mình về những phức thể rộng lớn như hình thức và tự do, tinh thần và thể xác, danh dự và ô nhục, thời gian và vĩnh cửu, và chàng đã chịu một cơn choáng váng ngắn ngủi nhưng dữ dội khi nghĩ rằng hoa _Aquilegia_ lại nở và năm tháng đang tự quay tròn vào chính nó.

Chàng có một từ lạ lùng để gọi công việc suy tưởng đầy trách nhiệm ấy của mình ở nơi ẩn cư nên thơ kia: chàng gọi nó là "cai quản", dùng cái từ đùa cợt, trẻ con, cái lối nói của thiếu niên ấy để chỉ một cuộc tiêu khiển mà chàng yêu thích, mặc dầu nó đi kèm kinh hãi, chóng mặt và đủ thứ cơn náo loạn của tim, lại còn làm cơn nóng mặt của chàng tăng lên quá mức. Tuy vậy, chàng không thấy là bất xứng khi sự gắng sức gắn với hoạt động ấy buộc chàng phải dùng tới tư thế chống cằm; bởi lẽ tư thế đó hẳn là phù hợp với phẩm cách mà việc "cai quản", trước cái tạo hình cao đang lơ lửng kia, đã ban cho chàng trong nội tâm.

"_Homo Dei_," Naphta xấu xí đã gọi cái tạo hình cao ấy như thế, khi ông ta bảo vệ nó chống lại học thuyết xã hội Anh quốc. Có gì lạ đâu nếu Hans Castorp, vì trách nhiệm dân sự của mình và vì lợi ích của việc cai quản, thấy mình cần phải cùng Joachim đến thăm gã nhỏ con ấy? Settembrini không vui về điều đó, Hans Castorp đủ khôn khéo và nhạy cảm để cảm ra rất rõ. Ngay cuộc gặp đầu tiên cũng đã làm nhà nhân văn khó chịu, ông ta hiển nhiên đã cố ngăn cản nó và muốn, về mặt giáo huấn, gìn giữ hai chàng trai, nhưng nhất là chính chàng nữa, như đứa con nuôi lắm mưu nọ tự nhủ, khỏi sự quen biết với Naphta, mặc dầu bản thân ông ta lại giao du và tranh luận với người này. Những nhà giáo dục là thế đó. Cái gì thú vị, họ tự cho phép mình hưởng, bằng cách bảo rằng họ "đủ sức" đối với nó; còn với tuổi trẻ thì họ cấm đoán và đòi tuổi trẻ phải thấy mình không "đủ sức" đối với cái thú vị ấy. May thay, gã kéo đàn quay ấy thật ra hoàn toàn không có quyền cấm đoán chàng Hans Castorp trẻ tuổi điều gì, mà ông ta cũng tuyệt nhiên chưa hề thử làm thế. Đứa học trò hay lo ấy chỉ cần phủ nhận sự quá nhạy của mình và giả bộ ngây thơ là chẳng còn gì ngăn chàng vui vẻ nhận lời mời của Naphta nhỏ bé, điều chàng quả đã làm, cùng với Joachim theo cùng dù muốn hay không, vài ngày sau cuộc gặp đầu tiên, vào một chiều Chủ nhật, sau buổi liệu pháp nằm nghỉ chính.

Từ Berghof đi xuống ngôi nhà nhỏ có cửa chính quấn dây nho chỉ mất vài phút đường. Họ bước vào, bỏ lối vào cửa hàng tạp hóa bên phải sang một bên, rồi leo lên chiếc cầu thang nâu hẹp dẫn họ tới một cánh cửa tầng, bên cạnh chuông cửa chỉ gắn duy nhất tấm bảng tên của Lukaček, ông thợ may đồ nữ. Người ra mở cho họ là một cậu thiếu niên nửa trẻ con trong một thứ đồng phục, áo khoác sọc và xà cạp, một tên hầu nhỏ cắt tóc ngắn và má đỏ. Họ hỏi cậu về ông giáo sư Naphta và, vì không có danh thiếp, đọc cho cậu nhớ tên mình, để cậu đi vào báo với ông Naphta, cậu không dùng tước xưng nào cả. Cánh cửa phòng đối diện lối vào mở sẵn và cho thấy xưởng may, nơi Lukaček, bất chấp ngày nghỉ, ngồi xếp bằng trên một cái bàn mà khâu. Ông ta nhợt nhạt và hói đầu; từ một cái mũi quá khổ trễ xuống, bộ ria đen của ông ta rủ sang hai bên mép với một vẻ chua chát.

"Chào ông!" Hans Castorp cất tiếng.

"Xin chào," ông thợ may đáp bằng giọng địa phương, mặc dầu cái chất Thụy Sĩ ấy chẳng hợp gì với tên ông hay vẻ ngoài của ông và nghe thành ra sai lạc, kỳ quặc.

"Chăm chỉ thế kia à?" Hans Castorp vừa gật đầu vừa nói tiếp... "Hôm nay là Chủ nhật cơ mà!"

"Việc gấp," Lukaček đáp cộc lốc và lại châm kim.

"Hẳn là món gì sang lắm," Hans Castorp đoán, "cần gấp cho một buổi Reunion hay gì đó chăng?"

Ông thợ may để câu hỏi ấy lửng đi một lúc, cắn đứt sợi chỉ rồi xâu lại. Sau đó ông mới gật đầu.

"Có đẹp không?" Hans Castorp còn hỏi. "Ông có may tay áo vào chứ?"

"Có, tay áo, may cho một bà già mà," Lukaček đáp bằng giọng Bohêmia rất nặng. Sự trở lại của tên hầu nhỏ cắt ngang cuộc chuyện trò qua cửa ấy. Cậu báo ông Naphta cho mời vào gần hơn và mở cho hai chàng trai một cánh cửa ở chếch phải thêm hai ba bước, đồng thời còn phải vén lên trước mặt họ một tấm màn cửa đã xẹp rũ. Bước vào trong, họ được Naphta tiếp đón, ông đứng trên tấm thảm xanh rêu, chân đi giày có nơ.

Cả hai anh em họ đều kinh ngạc trước sự xa hoa của phòng làm việc hai cửa sổ đã đón họ, thậm chí gần như lóa mắt vì kinh ngạc; bởi lẽ vẻ nghèo nàn của ngôi nhà nhỏ, của cầu thang, của hành lang tồi tàn ấy hoàn toàn không để người ta chờ đợi một điều như vậy, và nhờ tác dụng tương phản đã ban cho vẻ thanh nhã trong cách bài trí của Naphta một cái gì thần tiên mà tự nó vốn không hề có, và trong mắt Hans Castorp cùng Joachim Ziemßen hẳn cũng chẳng có. Dù sao đi nữa, căn phòng ấy tinh nhã, thậm chí lộng lẫy, mà lại lộng lẫy đến mức, bất chấp bàn giấy và tủ sách, nó thực ra không giữ được tính chất một thư phòng đàn ông. Trong đó có quá nhiều lụa, lụa đỏ màu rượu vang, đỏ màu tía: những bức màn che các cánh cửa xấu xí được may bằng thứ ấy, những màn viền trên cửa sổ cũng vậy, và cả những tấm bọc của bộ đồ đạc kê ở một đầu ngắn của phòng, đối diện cánh cửa thứ hai, trước một tấm thảm dệt gần như phủ trọn cả bức tường. Đó là những ghế bành kiểu Baroque, trên tay ghế có những miếng đệm nhỏ, quây quanh một chiếc bàn tròn nẹp kim loại, phía sau là một chiếc đi-văng cùng kiểu có gối nhung lụa. Các tủ sách chiếm những mảng tường bên cạnh hai cánh cửa. Chúng, cũng như bàn giấy, hay đúng hơn là chiếc bàn viết có nắp cuốn vòm đặt giữa hai cửa sổ, đều làm bằng gỗ mahogany, có cánh kính phía sau căng lụa xanh. Nhưng ở góc bên trái bộ đi-văng có thể thấy một tác phẩm nghệ thuật, một pho tượng gỗ sơn màu lớn đặt cao trên bệ phủ đỏ, một cái gì vừa thân mật vừa kinh khiếp, một Pietà, ngây ngô và gây hiệu quả tới mức gần như grotesque: Đức Mẹ trùm khăn, mày cau lại và miệng lệch mở ra trong tiếng than, trên lòng là Đấng Khổ nạn, một hình thể sai lệch thô sơ về tỷ lệ nhưng phần giải phẫu lại được gọt tỉa quá gắt, song chính điều đó lại làm lộ sự thiếu hiểu biết, đầu rũ xuống tua tủa gai nhọn, mặt mũi tay chân lấm và rịn máu, ở vết thương bên sườn và dấu đinh nơi tay chân đóng những chùm máu đông dày cộp. Món trưng bày ấy hẳn đã ban cho căn phòng lụa một dấu nhấn đặc biệt. Mà tường giấy, phần thấy được phía trên các tủ sách và ở bức tường có cửa sổ, rõ ràng cũng là công trình của người thuê: màu xanh những sọc dọc của nó chính là màu của tấm thảm mềm trải trên lớp phủ sàn màu đỏ. Chỉ có trần thấp là ít có cách cứu vãn. Nó trơ trụi và nứt nẻ. Tuy vậy từ đó vẫn thòng xuống một chiếc đèn chùm nhỏ kiểu Venezia. Các cửa sổ được che bằng những tấm rèm kem chạm đến tận sàn.

"Vậy là chúng ta đã có mặt ở đây để dự một cuộc đàm đạo!" Hans Castorp nói, trong khi mắt chàng dán vào nỗi kinh hãi mộ đạo ở góc phòng hơn là vào chủ nhân của căn phòng gây sửng sốt ấy, người đang thừa nhận rằng hai anh em họ đã giữ lời. Ông muốn dùng những cử chỉ hiếu khách của bàn tay phải nhỏ bé đưa họ tới chỗ ngồi bọc lụa, nhưng Hans Castorp đi thẳng, như bị hút chặt, tới nhóm tượng gỗ và đứng lại trước nó, hai tay chống nạnh, đầu nghiêng sang một bên.

"Ông có cái gì ở đây thế này!" chàng nói khẽ. "Thật là ghê gớm mà tuyệt. Đã từng thấy nỗi thống khổ nào như thế bao giờ chưa. Hẳn là đồ cổ, tất nhiên rồi?"

"Thế kỷ mười bốn," Naphta đáp. "Có lẽ gốc Rheinland. Nó gây ấn tượng với ông chứ?"

"Ghê gớm," Hans Castorp nói. "Nó quả thật không sao có thể không gây ấn tượng lên người xem. Tôi không ngờ lại có thể có cái gì vừa xấu đến thế, xin ông thứ lỗi, mà lại vừa đẹp đến thế."

"Những sản phẩm của một thế giới thuộc linh hồn và sự biểu đạt," Naphta đáp, "bao giờ cũng xấu trong vẻ đẹp và đẹp trong sự xấu xí, đó là quy luật. Ở đây là vẻ đẹp tinh thần, chứ không phải vẻ đẹp của xác thịt, thứ tuyệt đối ngu xuẩn. Vả lại vẻ đẹp ấy cũng là trừu tượng nữa," ông thêm. "Vẻ đẹp của thân thể là trừu tượng. Chỉ cái nội tại, cái của sự biểu đạt tôn giáo, mới có thực tại."

"Ông đã phân biệt và sắp đặt điều ấy thật đúng đắn, đáng cảm ơn," Hans Castorp nói. "Thế kỷ mười bốn à?" chàng hỏi lại cho chắc... "một nghìn ba trăm lẻ mấy đó? Phải, đó là thời Trung cổ như trong sách viết, và theo một nghĩa nào đó tôi nhận ra ở đây đúng hình dung mà gần đây tôi đã tạo cho mình về thời Trung cổ. Thực ra trước kia tôi chẳng biết gì về nó, vì tôi là người của tiến bộ kỹ thuật, nếu quả tôi có đáng kể gì. Nhưng trên này, hình dung về thời Trung cổ đã được đem đến gần tôi bằng nhiều cách. Hồi ấy học thuyết xã hội duy kinh tế hẳn còn chưa có, điều đó thì rõ. Người nghệ nhân ấy tên là gì nhỉ?"

Naphta nhún vai.

„Điều đó can hệ gì đâu?“ ông nói. „Ta không nên hỏi điều ấy, bởi ngay thuở nó ra đời người ta cũng đã không hỏi vậy. Nó không có một ông tác giả cá nhân kỳ khôi nào làm ra, mà là vô danh và cộng đồng. Vả lại, đây là Trung đại đã vào rất sâu, Gothic, _Signum mortificationis_. Ở đây ông sẽ chẳng còn thấy chút gì của sự nương tay và tô đẹp mà thời Roman còn tưởng phải dành cho Đấng chịu đóng đinh khi thể hiện ngài nữa: không vương miện đế vương, không vẻ khải hoàn uy nghi trên thế gian và cái chết tử hình. Tất cả đều là sự công bố triệt để về nỗi đau khổ và sự yếu nhược của xác thịt. Phải đến thị hiếu Gothic mới thực là bi quan-khổ hạnh. Hẳn ông không biết cuốn sách của Innozenz Đệ Tam, ‘_De miseria humanae conditionis_’, một tác phẩm văn chương cực kỳ hóm hỉnh. Nó có từ cuối thế kỷ mười hai, nhưng phải đến nghệ thuật này mới cung cấp hình minh họa cho nó.“

„Herr Naphta,“ Hans Castorp nói sau một tiếng thở dài, „tôi quan tâm đến từng lời trong điều ông vừa nhấn mạnh. Ông nói ‘_Signum mortificationis_’ phải không? Tôi sẽ ghi nhớ điều đó. Trước đó ông còn nói cái gì đó về ‘vô danh và cộng đồng’, điều cũng có vẻ đáng để suy nghĩ. Tiếc thay, ông đoán rất đúng rằng tôi không biết cuốn sách của vị giáo hoàng ấy, tôi đoán Innozenz Đệ Tam là một giáo hoàng. Có phải tôi đã hiểu đúng rằng tác phẩm ấy vừa khổ hạnh vừa hóm hỉnh? Tôi phải thú thật, trước nay tôi chưa từng hình dung hai điều đó lại có thể đi đôi với nhau như thế, nhưng khi thử xét kỹ, tôi thấy điều ấy thật sáng tỏ, dĩ nhiên rồi, một luận văn về nỗi khốn khổ của con người vốn rất cho phép đùa cợt, dĩ nhiên là trên lưng xác thịt. Thế tác phẩm ấy có kiếm được không? Nếu tôi gom góp vốn Latin của mình lại, biết đâu tôi đọc nổi.“

„Tôi có cuốn ấy,“ Naphta đáp, gật đầu chỉ về một cái tủ. „Xin tùy ông sử dụng. Nhưng ta ngồi xuống chứ? Từ đi-văng ông vẫn nhìn thấy bức Pietà. Bữa xế nho nhỏ của chúng ta vừa tới...“

Đó là cậu hầu nhỏ mang trà vào, cùng một chiếc giỏ xinh xắn nạm bạc, trong đó là bánh Baumkuchen đã cắt miếng. Nhưng đằng sau nó, qua cánh cửa mở, ai là người bước vào với nhịp chân lanh lẹ, miệng thốt “Sapperlot!” “_Accidenti!_” và một nụ cười tao nhã? Chính là Herr Settembrini, ở trên cao hơn một tầng lầu, tìm đến với ý định bầu bạn cùng các ngài. Qua ô cửa sổ con con của mình, ông nói, ông đã trông thấy hai anh em họ đi tới, bèn vội viết nốt một trang bách khoa vừa nằm dưới ngòi bút, rồi cũng tự mời mình tới đây làm khách. Chẳng có gì tự nhiên hơn việc ông đến cả. Mối quen biết lâu năm của ông với người ở Berghof cho ông quyền ấy, mà sự giao du và trao đổi của ông với Naphta nữa, bất chấp những bất đồng sâu xa về quan điểm, rõ ràng vốn rất sôi nổi, điều đó thể hiện ngay ở cách ông chủ nhà chào đón ông như một người quen thuộc, nhẹ tênh và không hề ngạc nhiên. Điều ấy không ngăn Hans Castorp nhận được từ sự xuất hiện của ông một ấn tượng kép hết sức rõ rệt. Thứ nhất, chàng cảm thấy Herr Settembrini đến là để không bỏ mặc chàng và Joachim, hay nói cho gọn là chính chàng, ở riêng với Naphta nhỏ thó xấu xí, mà dùng sự hiện diện của mình tạo nên một đối trọng mang tính giáo huấn; và thứ hai, rõ ràng là ông hoàn toàn chẳng phản đối chút nào, trái lại còn khá vui lòng tận dụng dịp này để đổi quãng ngồi trên căn xép của mình lấy một lúc ở trong căn phòng mịn như tơ của Naphta và dùng một bữa trà bày biện chu đáo: ông xoa hai bàn tay vàng khè, ở phía mé ngoài mu bàn tay mọc lông đen, trước khi với lấy, rồi ăn bánh Baumkuchen với một sự khoái khẩu không thể lầm được, lại còn buông lời khen ngợi; những lát bánh mỏng cong cong chạy những đường gân sô-cô-la.

Câu chuyện còn tiếp tục xoay quanh bức Pietà, vì Hans Castorp bằng mắt lẫn lời vẫn bám lấy đề tài ấy, đồng thời quay sang Herr Settembrini và cố đưa ông này, nói như thể, vào một sự tiếp xúc phê bình với tác phẩm nghệ thuật kia, trong khi nỗi chán ghét của nhà nhân văn đối với món trang trí phòng này vốn hiện khá rõ trên nét mặt ông lúc ông ngoảnh nhìn về phía đó; bởi ông đã ngồi quay lưng vào góc ấy. Quá lịch thiệp để nói hết những điều mình nghĩ, ông chỉ giới hạn ở việc phê phán những sai lệch về tỉ lệ và hình thể nơi nhóm tượng, những vi phạm đối với chân lý của tự nhiên, những điều, theo ông, còn lâu mới có tác dụng gây xúc động nơi ông, vì chúng không phát sinh từ sự bất lực của thời sơ khai, mà từ ác ý, từ một nguyên tắc thù nghịch tận gốc, điểm này thì Naphta ác ý tán đồng ông. Hẳn rồi, tuyệt không thể nói đến sự vụng về kỹ thuật. Vấn đề là ở một sự giải phóng có ý thức của tinh thần khỏi cái tự nhiên, mà sự đáng khinh của nó được tuyên cáo theo tinh thần tôn giáo bằng cách khước từ mọi khiêm nhường trước nó. Nhưng khi Settembrini tuyên bố rằng sự coi nhẹ tự nhiên và việc nghiên cứu tự nhiên là một điều lạc lối về phương diện nhân tính, rồi bắt đầu, bằng những lời lẽ đanh chắc, đề cao di sản Hy-La, chủ nghĩa cổ điển, hình thức, cái đẹp, lý trí và niềm tươi sáng kính cẩn trước tự nhiên, những gì duy nhất được kêu gọi để phụng sự sự nghiệp con người, chống lại cái vô hình tướng phi lý mà thời Trung đại và những thời đại bắt chước nó đã sùng chuộng, thì Hans Castorp xen vào và hỏi rằng nếu vậy thì còn phải hiểu Plotinus ra sao, người mà ai nấy đều biết là đã xấu hổ về thân thể mình, và Voltaire, người đã nhân danh lý tính mà nổi loạn chống lại trận động đất ô nhục ở Lisbon? Phi lý ư? Điều đó cũng phi lý đấy, nhưng nếu suy xét mọi lẽ cho thấu đáo, thì theo chàng, hoàn toàn có thể gọi cái phi lý là cái đáng trọng về mặt tinh thần, và lòng thù ghét tự nhiên phi lý của nghệ thuật Gothic rốt cuộc cũng đáng trọng chẳng kém gì thái độ của Plotinus và Voltaire, bởi trong đó biểu lộ cùng một sự giải phóng khỏi Fatum và Faktum, cùng một niềm kiêu hãnh không chịu làm nô lệ, thứ từ chối thoái lui trước quyền lực ngu độn, nghĩa là trước tự nhiên...“

Naphta bật cười, tiếng cười rất gợi nhớ đến cái đĩa nọ và kết thúc bằng một cơn ho. Settembrini cao nhã nói:

„Ông làm hại chủ nhà của chúng ta khi tỏ ra hóm hỉnh như thế, và vì vậy chứng tỏ mình vô ơn đối với món bánh tuyệt hảo này. Rốt cuộc lòng biết ơn có phải chuyện của ông không? Với điều kiện tôi giả định rằng biết ơn là biết dùng cho đúng những tặng vật đã nhận...“

Vì Hans Castorp lấy làm hổ thẹn, ông bèn nhã nhặn thêm vào:

„Người ta biết anh là một tay tinh quái, Ingenieur ạ. Cái lối anh thân mật trêu chọc điều thiện chẳng khiến tôi phải tuyệt vọng chút nào về lòng yêu mến anh đối với nó. Dĩ nhiên anh biết rằng chỉ có sự nổi dậy nào của tinh thần chống lại cái tự nhiên mà vẫn để mắt tới phẩm giá và vẻ đẹp của con người mới đáng gọi là cao quý, chứ không phải thứ mà, nếu không chủ đích làm con người bị hạ nhục và suy đồi, thì ít ra cũng kéo theo điều đó. Anh cũng biết thời đại mà hiện vật kia sau lưng tôi mắc nợ sự tồn tại của mình đã sản sinh những sự tàn bạo phi nhân và sự bất khoan dung khát máu đến mức nào. Tôi chỉ cần nhắc anh nhớ tới loại thẩm phán săn lùng tà giáo khủng khiếp, tới nhân vật đẫm máu như Konrad von Marburg chẳng hạn, và tới cơn cuồng nộ giáo sĩ đê tiện của y đối với mọi thứ chống lại quyền thống trị của siêu nhiên. Anh còn xa mới thừa nhận gươm và giàn hỏa thiêu là những công cụ của lòng yêu người...“

„Trái lại, chính để phụng sự lòng yêu người ấy,“ Naphta lên tiếng, „mà bộ máy của Quốc ước đã hoạt động khi nó thanh tẩy thế giới khỏi những công dân xấu. Mọi hình phạt của Giáo hội, kể cả giàn hỏa thiêu, kể cả phép tuyệt thông, đều được áp đặt để cứu linh hồn khỏi sự đọa đày vĩnh viễn, điều mà ta không thể nói về lòng ham tận diệt của bọn Jacobin. Tôi xin phép nhận xét rằng mọi thứ công lý tra tấn và đổ máu nào không bắt nguồn từ niềm tin vào một đời sau đều là sự phi lý súc vật. Còn về sự hạ nhục con người, thì lịch sử của nó trùng khít một cách chính xác với lịch sử của tinh thần tư sản. Phục hưng, Khai sáng, khoa học tự nhiên và chủ nghĩa kinh tế của thế kỷ mười chín đã chẳng bỏ sót một điều gì, tuyệt nhiên không một điều gì, có vẻ thích hợp để xúc tiến sự hạ nhục ấy, bắt đầu từ nền thiên văn học mới, thứ đã biến trung tâm của vũ trụ, cái sân khấu cao quý nơi Thượng đế và Ác quỷ tranh giành quyền sở hữu thụ tạo mà cả hai phía đều ham muốn nồng nhiệt, thành một hành tinh bé nhỏ vô can, và tạm thời chấm dứt vị thế vũ trụ lớn lao của con người, cái vị thế mà khoa chiêm tinh, nhân tiện nói thêm, vốn dựa vào.“

„Tạm thời?“ Nét mặt Herr Settembrini, khi ông rình chờ hỏi câu ấy, chính nó cũng có chút gì của một thẩm quan dị giáo và một tay tra xét, kẻ đang chờ người khai tự mắc vào điều rõ ràng đáng tội.

„Đúng thế. Trong vài trăm năm thôi,“ Naphta lạnh lùng xác nhận. „Nếu mọi dấu hiệu không lừa dối, thì việc phục hồi danh dự cho kinh viện, cả ở phương diện này nữa, đang ở trước mắt, mà thật ra đã diễn ra rầm rộ rồi. Copernicus sẽ bị Ptolemaios đánh bại. Luận đề nhật tâm đang dần dần gặp phải một sức kháng cự tinh thần mà những nỗ lực của nó có lẽ sẽ đạt đích. Về mặt triết học, khoa học sẽ thấy mình bị buộc phải khôi phục cho trái đất tất cả những phẩm vị mà giáo điều Giáo hội từng muốn giữ gìn cho nó.“

„Sao cơ? Sao cơ? Kháng cự tinh thần? Bị buộc về mặt triết học? Sẽ đạt đích? Một thứ chủ ý chí nào đang cất tiếng qua ông vậy? Còn nghiên cứu vô tiền đề? Còn nhận thức thuần túy? Còn chân lý, thưa ông, thứ gắn bó mật thiết đến thế với tự do, và mà những chứng nhân bằng máu của nó, những người mà ông muốn biến thành kẻ xúc phạm trái đất, trái lại lại làm rạng danh tinh cầu này mãi mãi ư??“

Herr Settembrini có một lối đặt câu hỏi thật dữ dội. Ông ngồi thẳng băng, trút những lời chính trực của mình xuống ông Naphta bé nhỏ, đến cuối cùng còn kéo giọng lên mạnh mẽ đến nỗi người ta nghe rõ ông tin chắc biết bao rằng câu trả lời của đối thủ trước lời ấy chỉ có thể là sự im lặng hổ thẹn. Trong khi nói, ông cầm một miếng Baumkuchen giữa các ngón tay, nhưng nay đặt nó trở lại đĩa, vì sau khi đã nêu câu hỏi như thế, ông không còn muốn cắn vào nó nữa.

Naphta đáp với một vẻ bình thản khó chịu:

„Bạn hiền ạ, không có nhận thức thuần túy đâu. Tính chính đáng của học thuyết tri thức của Giáo hội, có thể tóm lại trong câu của Augustinus ‘Tôi tin để tôi nhận biết’, là điều hoàn toàn không thể bác bỏ. Đức tin là cơ quan của nhận thức, còn trí năng là thứ yếu. Khoa học vô tiền đề của ngài là một huyền thoại. Thể nào cũng có sẵn một đức tin, một thế giới quan, một ý niệm, tóm lại: một ý chí, và việc của lý tính là biện giải nó, chứng minh nó. Rốt cuộc, trong mọi trường hợp, đều quy về _Quod erat demonstrandum_. Ngay cả khái niệm chứng minh, xét về mặt tâm lý, cũng đã chứa một yếu tố chủ ý chí rất mạnh. Những nhà kinh viện lớn của thế kỷ mười hai và mười ba đều đồng lòng ở niềm xác tín rằng trong triết học không thể là đúng điều gì mà trước thần học đã là sai. Nếu ngài muốn, ta cứ gạt thần học sang một bên, nhưng một thứ nhân đạo không thừa nhận rằng trong khoa học tự nhiên không thể đúng điều gì mà trước triết học là sai, thì đó không phải là nhân đạo. Lập luận của Thánh vụ viện chống Galilei là: các mệnh đề của ông ta phi lý về phương diện triết học. Không có lập luận nào đanh thép hơn thế.“

„Eh, eh, những lập luận của Galilei tội nghiệp mà vĩ đại của chúng ta đã tỏ ra xác đáng hơn kia! Không, ta hãy nói nghiêm chỉnh đi, Professore! Hãy trả lời cho tôi trước mặt hai chàng trai chăm chú này câu hỏi sau: ông có tin vào một chân lý, vào chân lý khách quan, chân lý khoa học, cái mà việc theo đuổi nó là luật tối cao của mọi luân lý, và mà những chiến thắng của nó trước quyền uy làm thành lịch sử vinh quang của tinh thần loài người không?!“

Hans Castorp và Joachim quay đầu từ Settembrini sang Naphta, người trước nhanh hơn người sau. Naphta đáp:

„Một chiến thắng như thế là điều không thể, vì quyền uy chính là con người, là lợi ích, phẩm giá và sự cứu rỗi của con người, và giữa nó với chân lý không thể có xung đột. Chúng trùng làm một.“

„Vậy thì chân lý hẳn là...“

„Chân lý là điều gì có ích cho con người. Trong con người, tự nhiên được quy tụ; trong toàn thể tự nhiên, chỉ mình con người được tạo ra, và toàn thể tự nhiên chỉ vì con người. Con người là thước đo của sự vật, và sự cứu rỗi của con người là tiêu chuẩn của chân lý. Một nhận thức thuần lý thuyết mà thiếu mối liên hệ thực hành với ý niệm cứu rỗi của con người thì vô vị đến mức phải phủ nhận nơi nó mọi giá trị chân lý và cấm không cho nó nhập cuộc. Những thế kỷ Kitô giáo hoàn toàn nhất trí về sự vô nghĩa đối với con người của khoa học tự nhiên. Lactantius, người mà Constantinus Đại đế chọn làm thầy cho con trai mình, đã hỏi thẳng rằng người ta sẽ thu được phúc lành gì nếu biết sông Nil bắt nguồn ở đâu, hoặc bọn vật lý gia lảm nhảm gì về bầu trời. Ngài thử trả lời ông ấy xem! Nếu triết học Plato được chuộng hơn mọi triết học khác, thì chính vì nó không bận tâm tới nhận thức về tự nhiên, mà tới nhận thức về Thượng đế. Tôi xin bảo đảm với ngài rằng nhân loại đang trên đường tìm trở lại quan điểm ấy và nhận ra rằng nhiệm vụ của khoa học chân chính không phải là chạy theo những tri thức tai hại, mà trái lại, về nguyên tắc phải gạt bỏ điều có hại, hoặc chỉ đơn thuần vô nghĩa về mặt ý niệm, và nói gọn lại là bày tỏ bản năng, chừng mực, sự chọn lựa. Thật trẻ con khi cho rằng Giáo hội đã bảo vệ bóng tối chống lại ánh sáng. Giáo hội đã hoàn toàn có lý khi tuyên bố sự truy cầu nhận thức sự vật một cách ‘vô tiền đề’, nghĩa là một sự truy cầu gạt bỏ mọi lưu tâm đến cái tinh thần, đến mục đích giành lấy sự cứu rỗi, là đáng trừng phạt; và thứ đã dẫn con người vào tăm tối, và sẽ còn dẫn họ ngày một sâu hơn, chính là khoa học tự nhiên ‘vô tiền đề’, phi triết học kia.“

„Ông đang rao giảng một thứ chủ nghĩa thực dụng đấy,“ Settembrini đáp, „chỉ cần chuyển nó sang địa hạt chính trị là người ta nhìn thấy ngay toàn bộ sự độc hại của nó. Tốt, đúng và công bằng là điều gì có ích cho nhà nước. Sự an toàn, phẩm giá, quyền lực của nó là tiêu chuẩn của cái đạo đức. Hay lắm! Như thế là cửa nẻo đã mở toang cho mọi tội ác, còn chân lý nhân loại, công lý cá nhân, nền dân chủ, chúng muốn xem mình còn sống sót ra sao thì xem...“

„Tôi xin đề nghị một chút logic,“ Naphta đáp. „Hoặc Ptolemäus và kinh viện đúng, và thế giới là hữu hạn trong thời gian và không gian. Khi ấy thần tính là siêu việt, sự đối lập giữa Thượng đế và thế giới vẫn đứng vững, và con người nữa cũng là một hiện hữu nhị nguyên: vấn đề linh hồn của con người nằm ở cuộc xung đột giữa cái cảm tính và cái siêu cảm tính, còn mọi cái thuộc xã hội đều ở hạng thứ yếu, và là thứ yếu rất xa. Chỉ thứ chủ nghĩa cá nhân ấy tôi mới có thể thừa nhận là nhất quán. Hoặc là các nhà thiên văn Phục hưng của ông đã tìm ra chân lý, và vũ trụ là vô hạn. Khi ấy không có thế giới siêu cảm tính, không có nhị nguyên; cõi bên kia đã được thu nạp vào cõi này, sự đối lập giữa Thượng đế và tự nhiên trở nên vô hiệu, và bởi trong trường hợp ấy, nhân cách con người cũng không còn là chiến trường của hai nguyên lý thù địch nữa, mà hài hòa, mà nhất thể, cho nên xung đột nội tại của con người chỉ còn đặt nền trên xung đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, và mục đích của nhà nước sẽ, rất đúng theo tinh thần ngoại giáo, trở thành luật của cái đạo đức. Hoặc cái này, hoặc cái kia.“

“Tôi phản đối!” Settembrini kêu lên, vừa chìa chén trà về phía chủ nhà với cánh tay duỗi thẳng. “Tôi phản đối cái sự gán ghép rằng nhà nước hiện đại có nghĩa là cá nhân làm nô lệ cho quỷ dữ! Tôi phản đối lần thứ ba, và phản đối cái lựa chọn giả bức bách giữa tinh thần Phổ và phản động Gothic mà ông muốn đặt chúng tôi vào! Dân chủ không có ý nghĩa nào khác ngoài việc là một sự hiệu chỉnh theo tinh thần cá nhân chủ nghĩa đối với mọi thứ tuyệt đối hóa nhà nước. Chân lý và công lý là những báu vật vương miện của luân lý cá nhân, và trong trường hợp xung đột với lợi ích nhà nước, chúng thậm chí có thể mang dáng vẻ những quyền lực chống nhà nước, trong khi kỳ thực chúng nhắm đến phúc lợi cao hơn, cứ nói toạc ra đi: phúc lợi siêu thế của nhà nước. Phục Hưng là nguồn gốc của sự thần thánh hóa nhà nước! Thứ ngụy logic nào thế! Những thành tựu - tôi nói với một sự nhấn giọng theo từ nguyên: những cái _giành lấy được_ của thời Phục Hưng và Khai sáng, thưa ông, mang tên là nhân cách, nhân quyền, tự do!”

Những người nghe thở phào, vì họ đã nín thở trước lời đáp lớn của ngài Settembrini. Hans Castorp thậm chí không thể không dùng tay đập xuống mép bàn, tuy có phần dè dặt. “Xuất sắc!” chàng nói qua kẽ răng, còn Joachim cũng lộ vẻ khoái trá rõ rệt, mặc dù đã có một lời chống lại tinh thần Phổ được thốt ra. Nhưng rồi cả hai quay sang người đối thoại vừa bị bác lại kia, Hans Castorp với một sự sốt sắng đến nỗi chống khuỷu tay lên bàn và tì cằm vào nắm đấm, gần giống như khi vẽ con lợn con, rồi chăm chú nhìn sát vào mặt ông Naphta.

Người kia ngồi im, sắc lạnh, hai bàn tay gầy đặt trong lòng. Ông nói:

“Tôi đã cố đưa logic vào cuộc trò chuyện của chúng ta, còn ông đáp lại tôi bằng những điều cao thượng. Rằng thời Phục Hưng đã sinh ra mọi thứ người ta gọi là chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa cá nhân, tính thị dân nhân văn, điều ấy tôi biết cũng khá rõ; nhưng những ‘nhấn giọng theo từ nguyên’ của ông chẳng làm tôi mảy may xúc động, bởi cái tuổi đời _chiến đấu_, cái thời đại anh hùng của những lý tưởng ấy đã qua lâu rồi; ngày nay chúng đã chết, hoặc ít ra cũng đang hấp hối, và bàn chân của những kẻ sẽ kết liễu chúng đã đứng ngay ngoài cửa. Nếu tôi không lầm, ông tự xưng là một người cách mạng. Nhưng nếu ông tin rằng kết quả của những cuộc cách mạng tương lai sẽ là tự do, thì ông lầm rồi. Nguyên tắc tự do đã tự hoàn tất và tự vượt qua mình trong năm trăm năm qua. Một nền sư phạm ngày nay mà vẫn tự hiểu mình là con gái của thời Khai sáng, và nhìn thấy phương tiện giáo dưỡng của mình ở sự phê phán, sự giải phóng và bồi dưỡng cái tôi, ở sự giải thể những hình thức sống được quy định tuyệt đối, - một nền sư phạm như thế có thể còn giành được vài thắng lợi tu từ nhất thời, nhưng tính lạc hậu của nó, đối với người hiểu biết, thì vượt ra ngoài mọi nghi ngờ. Mọi cộng đồng giáo dưỡng đích thực từ xưa đến nay đều biết rõ, rốt cuộc mọi nền sư phạm chỉ có thể nhằm đến điều gì trong chân lý: đó là mệnh lệnh tuyệt đối, sự ràng buộc sắt đá, là kỷ luật, hy sinh, phủ nhận cái tôi, cưỡng bức nhân cách. Sau cùng, tin rằng tuổi trẻ tìm thấy khoái lạc của mình trong tự do là một sự hiểu lầm vô tâm về tuổi trẻ. Khoái lạc sâu xa nhất của nó là vâng phục.”

Joachim bỗng ngồi thẳng người dậy. Hans Castorp đỏ bừng mặt. Ông Settembrini kích động xoay xoay bộ ria mép đẹp của mình.

“Không!” Naphta nói tiếp. “Không phải sự giải phóng và khai triển cái tôi mới là bí mật và mệnh lệnh của thời đại. Điều nó cần, điều nó khao khát, điều nó sẽ tự tạo ra cho mình, đó là - khủng trị.”

Ông đã nói tiếng cuối cùng ấy nhỏ hơn tất cả những gì trước đó, không hề động đậy thân thể; chỉ có hai tròng kính loé lên trong thoáng chốc. Cả ba người nghe ông đều giật nảy mình, kể cả Settembrini, nhưng chẳng bao lâu ông ta mỉm cười và lấy lại bình tĩnh.

“Và liệu người ta có thể thỉnh giáo rằng,” ông hỏi, “ông hình dung ai hoặc cái gì - ông thấy đấy, tôi hoàn toàn chỉ là câu hỏi, tôi thậm chí chẳng biết phải hỏi thế nào - ông hình dung ai hoặc cái gì là kẻ gánh mang cái - tôi miễn cưỡng nhắc lại từ ấy - cái khủng trị này?”

Naphta ngồi im, sắc lạnh, loé sáng. Ông nói:

“Tôi xin sẵn lòng. Tôi tin mình không sai khi giả định rằng giữa chúng ta có sự nhất trí trong việc thừa nhận một trạng thái nguyên sơ lý tưởng của nhân loại, một trạng thái không nhà nước và không quyền lực, của tình con cái trực tiếp đối với Chúa, trong đó không có thống trị cũng không có phục dịch, không có luật pháp cũng không có hình phạt, không có bất công, không có sự phối hợp xác thịt, không có khác biệt giai cấp, không có lao động, không có sở hữu, mà chỉ có bình đẳng, huynh đệ, và sự toàn hảo đạo đức.”

“Rất tốt. Tôi đồng ý,” Settembrini tuyên bố. “Tôi đồng ý, trừ ở điểm sự phối hợp xác thịt, vốn hiển nhiên hẳn phải luôn luôn có, vì con người là một động vật có xương sống phát triển cực cao và không khác, so với các sinh thể khác -”

“Tùy ông. Tôi ghi nhận sự đồng thuận về nguyên tắc của chúng ta đối với tình trạng ban đầu có tính thiên đường ấy, vô pháp đình và trực diện với Chúa, một tình trạng đã bị đánh mất vì sự sa ngã. Tôi tin rằng chúng ta còn có thể đi cùng nhau thêm một quãng nữa, tức là cùng quy nhà nước về một khế ước xã hội được kết lập để tính đến tội lỗi, để bảo vệ chống lại sự bất công, và nhìn trong đó nguồn gốc của quyền lực cai trị.”

“Benissimo!” Settembrini kêu lên. “Khế ước xã hội... đó là thời Khai sáng, đó là Rousseau. Tôi đã không ngờ -”

“Xin khoan. Ở đây đường chúng ta chia ra. Từ thực kiện rằng mọi sự thống trị và quyền lực thuở đầu đều ở nơi nhân dân, và rằng nhân dân đã chuyển nhượng quyền lập pháp cùng toàn bộ quyền lực của mình cho nhà nước, cho quân vương, học phái của ông trước hết rút ra quyền cách mạng của nhân dân đối với vương quyền. Còn chúng tôi -”

“Chúng tôi?” Hans Castorp hồi hộp nghĩ... Ai là “chúng tôi”? Nhất định lát nữa mình phải hỏi Settembrini xem ông ấy muốn nói ai bằng chữ “chúng tôi”.

“Còn phần chúng tôi,” Naphta nói, “có lẽ không kém cách mạng hơn ông, từ xưa đến nay trước hết vẫn rút ra từ đó quyền tối thượng của Giáo hội đối với nhà nước thế tục. Bởi nếu tính chất không thuộc về Chúa của nhà nước chưa hẳn đã viết trên trán nó, thì ngay sự kiện lịch sử này, rằng nó quy về ý chí của nhân dân chứ không, như Giáo hội, quy về sự thiết lập thiêng liêng, cũng đủ để chứng tỏ nó, nếu không hẳn là một thiết chế của ác tâm, thì dẫu sao ít nhất cũng là một thiết chế của nhu cầu cấp bách và của sự bất toàn tội lỗi.”

“Nhà nước, thưa ông -”

“Tôi biết ông nghĩ thế nào về nhà nước dân tộc. ‘Trên hết là lòng yêu tổ quốc và lòng ham danh vọng vô biên.’ Đó là Virgil. Ông hiệu chỉnh ông ta bằng một chút chủ nghĩa cá nhân tự do, và đó là dân chủ; nhưng quan hệ căn bản của ông với nhà nước vì thế hoàn toàn không hề suy suyển. Rằng linh hồn của nó là tiền bạc, điều ấy hiển nhiên chẳng hề đụng chạm gì tới ông. Hay ông muốn phủ nhận? Thời cổ đại mang tính tư bản vì nó sùng tín nhà nước. Thời Trung cổ Kitô giáo đã nhận ra rất rõ chủ nghĩa tư bản nội tại của nhà nước thế tục. ‘Tiền bạc sẽ là hoàng đế’ - đó là một lời tiên tri từ thế kỷ thứ mười một. Ông dám phủ nhận rằng lời ấy đã ứng nghiệm từng chữ, và rằng sự quỷ hóa đời sống nhờ thế đã được hoàn tất trọn vẹn chăng?”

“Bạn thân mến, xin ông cứ nói. Tôi nóng lòng được làm quen với nhân vật lớn lao chưa biết mặt ấy, kẻ mang nỗi kinh hoàng.”

“Một sự hiếu kỳ táo bạo ở người phát ngôn của một giai cấp xã hội vốn là kẻ mang thứ tự do đã hủy hoại thế giới. Tôi có thể, nếu cần, bỏ qua lời phản bác của ông, vì hệ ý thức chính trị của giai cấp thị dân tôi đã rõ. Mục tiêu của nó là đế quốc dân chủ, là sự tự vượt quá của nguyên lý nhà nước dân tộc vào cõi phổ quát, tức nhà nước thế giới. Hoàng đế của đế quốc ấy ư? Ta biết rồi. Không tưởng của ông thật ghê rợn, vậy mà - đến điểm này nào đó, chúng ta lại như gặp nhau. Bởi nước cộng hòa thế giới tư bản của ông có một cái gì siêu vượt; quả vậy, nhà nước thế giới là sự siêu vượt của nhà nước thế tục, và chúng ta đồng lòng trong niềm tin rằng một trạng thái khởi nguyên hoàn hảo của nhân loại phải có một trạng thái chung cuộc hoàn hảo tương ứng, nằm xa nơi chân trời. Từ những ngày của Gregor Cả, người sáng lập nhà nước của Chúa, Giáo hội đã xem nhiệm vụ của mình là đưa con người trở lại dưới sự dẫn dắt của Chúa. Yêu sách thống trị của Giáo hoàng không được nêu ra vì chính nó, trái lại, nền độc tài đại diện của ngài là phương tiện và con đường hướng tới mục tiêu cứu chuộc, là hình thức chuyển tiếp từ nhà nước ngoại giáo sang vương quốc trên trời. Ông đã nói với người học trò này đây về những vụ đổ máu của Giáo hội, về sự bất dung trừng phạt của nó, - thật hết sức ngu xuẩn, bởi lòng sốt sắng vì Chúa dĩ nhiên không thể là chủ hòa, và Gregor đã nói ra lời ấy: ‘Đáng nguyền rủa kẻ nào giữ thanh gươm mình lại khỏi máu!’ Rằng quyền lực là điều ác, điều ấy chúng tôi biết. Nhưng thuyết lưỡng nguyên giữa thiện và ác, giữa bên kia và bên này, giữa tinh thần và quyền lực, nếu vương quốc phải đến, thì tạm thời phải bị thủ tiêu trong một nguyên lý kết hợp khổ hạnh và thống trị. Đó là điều tôi gọi là sự cần thiết của khủng trị.”

“Kẻ mang nó! Kẻ mang nó!”

“Ông hỏi ư? Chẳng lẽ chủ nghĩa Manchester của ông đã không nhận thấy sự tồn tại của một học thuyết xã hội có nghĩa là sự con người vượt thắng chủ nghĩa duy kinh tế, và những nguyên tắc cùng mục tiêu của nó trùng khít với những nguyên tắc và mục tiêu của nhà nước Kitô giáo của Chúa sao? Các Giáo phụ đã gọi hai tiếng ‘của tôi’ và ‘của anh’ là những tiếng tai hại, và gọi tư hữu là sự chiếm đoạt cùng trộm cắp. Họ bác bỏ quyền sở hữu tài sản, vì theo luật tự nhiên do Chúa đặt ra, trái đất là của chung mọi người, và bởi vậy hoa lợi của nó cũng sinh ra cho sự sử dụng chung của tất cả. Họ dạy rằng chỉ có lòng tham, một hậu quả của sa ngã, mới đại diện cho các quyền chiếm hữu và đã tạo ra sở hữu riêng. Họ đủ nhân đạo, đủ chống thương nghiệp để gọi toàn bộ hoạt động kinh tế là một mối nguy cho phần rỗi linh hồn, nghĩa là: cho tính người. Họ ghét tiền bạc và những giao dịch tiền tệ, và gọi sự giàu có tư bản là nhiên liệu cho lửa địa ngục. Quy luật kinh tế cơ bản rằng giá cả là kết quả của tương quan giữa cung và cầu, họ khinh miệt bằng cả tấm lòng, và lên án việc lợi dụng thời cuộc như một sự bóc lột trơ trẽn tình cảnh ngặt nghèo của người bên cạnh. Trong mắt họ còn có một sự bóc lột phạm thượng hơn nữa: bóc lột thời gian, cái tệ đoan bắt người ta phải trả một khoản phụ trội chỉ cho sự trôi qua đơn thuần của thời gian, tức tiền lãi, và nhờ thế lạm dụng một thiết định phổ quát của Chúa là thời gian, vào lợi ích của người này và thiệt hại của kẻ khác.”

“Benissimo!” Hans Castorp kêu lên, vì quá hăng hái mà mượn ngay công thức tán thưởng của ông Settembrini. “Thời gian... Một thiết định phổ quát của Chúa... Điều đó hết sức hệ trọng...!”

“Đúng thế,” Naphta tiếp tục. “Những tinh thần loài người ấy cảm thấy ý niệm tiền bạc tự mình sinh sôi là ghê tởm, xếp mọi giao dịch lấy lãi và đầu cơ vào phạm trù cho vay nặng lãi, và tuyên bố rằng mọi kẻ giàu có đều hoặc là một tên trộm, hoặc là kẻ thừa tự của một tên trộm. Họ còn đi xa hơn. Cũng như Thomas von Aquino, họ xem thương mại nói chung, việc làm ăn buôn bán thuần túy, việc mua và bán có rút lợi nhuận nhưng không hề gia công hay cải thiện hàng hóa kinh tế, là một nghề đáng hổ thẹn. Họ không có xu hướng đánh giá quá cao lao động tự thân, vì đó chỉ là một vấn đề đạo đức, không phải tôn giáo; nó diễn ra để phụng sự đời sống, chứ không phải Chúa. Và nếu quả rốt cuộc chỉ là chuyện đời sống và kinh tế mà thôi, thì họ đòi hỏi rằng lao tác sản xuất phải được coi là điều kiện của lợi ích kinh tế và là thước đo của sự đáng trọng. Đáng kính đối với họ là người cày ruộng, người thợ thủ công, chứ không phải thương nhân, không phải nhà công nghiệp. Bởi họ muốn sản xuất phải hướng theo nhu cầu, và ghê tởm việc sản xuất hàng hóa đại trà. Vậy đó, tất cả những nguyên tắc và chuẩn mực kinh tế ấy, sau bao thế kỷ bị vùi lấp, nay đang sống lại trong phong trào cộng sản hiện đại. Sự tương ứng là hoàn toàn, cho đến tận ý nghĩa của yêu sách thống trị mà lao động quốc tế nêu lên chống lại giới buôn bán và đầu cơ quốc tế, tức giai cấp vô sản thế giới, lực lượng ngày nay đem nhân tính và các tiêu chuẩn của nhà nước của Chúa đối lập với sự mục ruỗng tư sản-tư bản. Nền chuyên chính vô sản, yêu sách cứu chuộc chính trị-kinh tế ấy của thời đại, không mang ý nghĩa của quyền thống trị vì chính nó và vĩnh viễn, mà mang ý nghĩa của sự thủ tiêu tạm thời đối lập giữa tinh thần và quyền lực dưới dấu Thánh giá, ý nghĩa của sự vượt thắng thế gian bằng phương tiện thống trị thế gian, ý nghĩa của bước quá độ, của sự siêu vượt, ý nghĩa của vương quốc. Giai cấp vô sản đã tiếp nối công việc của Gregor, lòng sốt sắng vì Chúa của ông ở trong nó, và cũng như ông, nó sẽ không được phép giữ bàn tay mình lại khỏi máu. Nhiệm vụ của nó là gieo kinh hoàng vì phần rỗi của thế giới và để giành lấy mục tiêu cứu chuộc: tình con cái của Chúa không nhà nước và không giai cấp.”

Đó là bài diễn từ sắc nhọn của Naphta. Cả nhóm nhỏ im lặng. Hai chàng trai nhìn ông Settembrini. Đến lượt ông phải có một thái độ nào đó. Ông nói:

“Thật đáng kinh ngạc. Hẳn thế, tôi thú nhận mình bị chấn động, tôi đã không ngờ tới điều đó. _Roma locuta._ Mà đã nói mới ghê, đã nói mới ghê làm sao! Trước mắt chúng ta, ông ấy vừa thực hiện một cú Saltomortale mang tính tư tế, - nếu đó là một mâu thuẫn trong tính từ, thì hẳn ông ấy đã ‘tạm thời thủ tiêu’ nó, a, vâng! Tôi nhắc lại: thật đáng kinh ngạc. Giáo sư có cho rằng những phản đối là điều có thể hình dung được không, - những phản đối chỉ đứng trên lập trường của tính nhất quán thôi? Khi nãy ông đã cố làm cho chúng tôi hiểu một chủ nghĩa cá nhân Kitô giáo đặt nền trên tính nhị nguyên giữa Chúa và thế giới, và chứng minh cho chúng tôi thấy ưu thế của nó trước mọi thứ luân lý do chính trị quy định. Vài phút sau, ông lại đẩy chủ nghĩa xã hội tới chuyên chính và kinh hoàng. Làm sao những điều ấy ăn vần với nhau được?”

“Những đối cực,” Naphta nói, “có thể ăn vần với nhau. Chỉ cái nửa vời và tầm thường mới là vô lý. Chủ nghĩa cá nhân của ông, như tôi đã cho phép mình nhận xét, là một nửa vời, một sự nhượng bộ. Nó hiệu chỉnh luân lý nhà nước ngoại giáo của ông bằng một ít Kitô giáo, một ít ‘quyền của cá nhân’, một ít thứ gọi là tự do, thế thôi. Trái lại, một chủ nghĩa cá nhân xuất phát từ tầm quan trọng vũ trụ, tầm quan trọng chiêm tinh của linh hồn cá thể, một chủ nghĩa cá nhân không có tính xã hội mà có tính tôn giáo, cảm nghiệm cái nhân loại không như sự xung đột giữa cái tôi và xã hội, mà như sự xung đột giữa cái tôi và Chúa, giữa xác thịt và tinh thần, - một chủ nghĩa cá nhân như thế, một chủ nghĩa cá nhân đích thực, lại rất hoàn toàn dung hợp với một cộng đồng ràng buộc đến mức tối đa...”

“Nó là vô danh và tập thể,” Hans Castorp nói.

Settembrini mở lớn mắt nhìn chàng.

“Im đi, kỹ sư!” ông ra lệnh bằng một vẻ nghiêm khắc hẳn phải quy vào sự căng thẳng và bứt rứt thần kinh của ông. “Hãy tự tìm hiểu đi, nhưng đừng sản xuất! Đó là một câu trả lời,” ông nói, lại quay sang Naphta. “Nó chẳng an ủi tôi bao nhiêu, nhưng dẫu sao cũng là một câu trả lời. Hãy nhìn thẳng vào mọi hệ quả... Với công nghiệp, chủ nghĩa cộng sản Kitô giáo phủ nhận kỹ thuật, máy móc, sự tiến bộ. Với cái mà ông gọi là nghề lái buôn, tức tiền bạc và việc làm ăn bằng tiền, thứ mà thời cổ đại coi trọng hơn nông nghiệp và thủ công rất nhiều, nó phủ nhận tự do. Bởi hiển nhiên, rành rành ra đó, rằng như thế, cũng như trong thời trung cổ, mọi quan hệ riêng tư cũng như công cộng đều bị trói vào ruộng đất, cả... điều này thú thật với tôi không hoàn toàn dễ thốt ra... cả nhân cách nữa. Nếu chỉ có đất đai mới nuôi sống được con người, thì cũng chỉ mình nó mới ban phát tự do. Thợ thủ công và nông dân, dẫu đáng kính đến đâu đi nữa, nếu không có đất, thì vẫn là kẻ lệ thuộc vào người có đất. Quả vậy, mãi sâu vào thời trung cổ, đại bộ phận dân cư, ngay cả ở các thành thị, vẫn là những kẻ lệ thuộc. Trong mạch câu chuyện, ông đã đôi lần buông ra này nọ về phẩm giá con người. Thế mà đồng thời, ông lại bênh vực một thứ luân lý kinh tế gắn liền với sự bất tự do và vô phẩm giá của nhân cách con người.”

“Về phẩm giá và sự vô phẩm giá,” Naphta đáp, “còn có thể bàn thêm. Trước mắt, tôi đã lấy làm thỏa mãn nếu những mối liên hệ ấy khiến ông có dịp hiểu tự do không hẳn như một cử chỉ đẹp đẽ cho bằng như một vấn đề. Ông xác nhận rằng luân lý kinh tế Kitô giáo, trong vẻ đẹp và tính nhân đạo của nó, lại tạo ra những kẻ không tự do. Tôi xin đối lại rằng chính sự nghiệp của tự do, hay nói cụ thể hơn, sự nghiệp của các thành thị, rằng sự nghiệp ấy, dẫu đạo đức đến đâu chăng nữa, xét về lịch sử, vẫn gắn liền với sự suy đồi vô nhân đạo nhất của luân lý kinh tế, với mọi điều kinh tởm của giới con buôn và đầu cơ hiện đại, với quyền thống trị ma quỷ của đồng tiền, của việc làm ăn.”

“Tôi nhất quyết đòi ông đừng ẩn mình sau những ngờ vực và những phản đề nữa, mà hãy rõ ràng, dứt khoát thú nhận mình đứng hẳn về phía phản động đen tối nhất!”

“Bước đầu tiên để đi tới tự do và nhân tính đích thực hẳn là rũ bỏ nỗi sợ run rẩy trước khái niệm ‘phản động’.”

“Thôi nào, thế là đủ rồi,” Herr Settembrini tuyên bố bằng giọng khẽ run, vừa đẩy tách và đĩa ra xa, mà kỳ thực cả hai đều đã trống không, rồi đứng dậy khỏi chiếc sofa bọc lụa. “Đủ cho hôm nay, đủ cho một ngày, theo tôi nghĩ. Thưa giáo sư, xin cảm ơn sự khoản đãi ngon lành, xin cảm ơn cuộc đàm đạo hết sức tinh thần. Những người bạn của tôi từ Berghof ở đây đang được liệu trình gọi về, còn tôi thì muốn, trước khi họ đi, đưa họ lên xem căn tịnh thất của tôi. Đi thôi, các ngài! Addio, Padre!”

Lúc này ông thậm chí đã gọi Naphta là “Padre”! Hans Castorp ghi nhận điều ấy với đôi mày nhướng cao. Người ta để mặc cho Settembrini cầm đầu cuộc ra về, sai khiến hai anh em họ, và tuyệt nhiên không đặt ra câu hỏi liệu Naphta có muốn cùng đi chăng. Hai người trẻ cáo từ, cũng không quên cảm ơn, và được khuyến khích sẽ còn trở lại. Họ đi theo người Ý, không phải là không để Hans Castorp tiện đường mượn mang theo cuốn _De miseria humanae conditionis_, một tập bìa cứng đã mục. Gã Lukaček râu chua vẫn còn ngồi trên bàn làm việc của mình, may chiếc áo tay rộng cho bà già kia, khi họ đi ngang qua cửa buồng hắn đang mở để tiến tới chiếc cầu thang gần như dựng đứng dẫn lên tầng mái. Mà nói cho đúng, đó hoàn toàn chẳng phải là một tầng. Chỉ đơn giản là bộ vì kèo mái, với những thanh gỗ trần lộ dưới mặt trong lớp ván lợp, và với cái không khí mùa hạ của kho áp mái, mùi gỗ ấm. Nhưng trong bộ vì kèo ấy có hai buồng nhỏ, và chính ở đó nhà tư bản cộng hòa cư ngụ; chúng phục vụ cộng tác viên tao nhã của bộ “Xã hội học của khổ đau” làm phòng làm việc và buồng ngủ. Vui vẻ, ông đưa hai người bạn trẻ đi xem, gọi cái ngăn phòng ấy là tách biệt và ấm cúng, như để trao sẵn cho họ những lời đúng đắn mà họ có thể dùng để ca ngợi nó, và quả nhiên cả hai đồng thanh dùng đúng những lời ấy. Thật duyên dáng, cả hai thấy vậy, tách biệt và ấm cúng, y như ông nói. Họ ngó vào buồng ngủ con con, nơi trước chiếc giường hẹp và ngắn đặt trong góc mái xép có một tấm thảm vá nhỏ, rồi lại quay về phòng làm việc, nơi cũng được trang bị chẳng khá hơn bao nhiêu, song lại bày ra một trật tự có phần kiểu cách, thậm chí hơi lạnh lẽo. Những chiếc ghế thô và cũ kiểu xưa, cả thảy bốn chiếc, mặt ghế đan rơm, được đặt cân xứng hai bên cửa, còn chiếc đi-văng cũng đã bị đẩy sát vào tường, để cho chiếc bàn tròn phủ nỉ xanh, trên đó như để trang trí hay để giải khát, và trong mọi trường hợp là một cách tỉnh táo, có đặt một chai nước với cái cốc úp lên cổ chai, cô độc chiếm giữ chính giữa căn phòng. Sách đóng bìa cứng lẫn bìa mềm tựa nghiêng vào nhau trên một giá tường nhỏ, còn cạnh khung cửa sổ hé mở vươn lên cao cái bục viết gấp chân cao bằng gỗ nhẹ, phía trước là một tấm lót sàn dày bằng nỉ, vừa đủ lớn để đứng lên đó. Hans Castorp thử đứng vào chỗ ấy một lát, tại nơi làm việc của Herr Settembrini, nơi ông xử lý văn chương đẹp vì những mục đích bách khoa dưới góc nhìn của những nỗi khổ con người, chống khuỷu tay lên mặt bàn nghiêng và phán rằng đứng ở đây quả là tách biệt và ấm cúng. Chàng nghĩ, hẳn xưa kia cha của Lodovico đã từng đứng bên bục viết của mình ở Padua như thế, với cái mũi dài và thanh đến vậy, rồi được biết rằng quả thật đó chính là bục viết của nhà bác học quá cố mà chàng đang đứng trước, vâng, cả những chiếc ghế rơm, cái bàn và ngay cả chai nước cũng đều từ di sản của ông mà ra, hơn nữa: những chiếc ghế rơm ấy thậm chí còn đã thuộc về người ông Carbonaro; ở Milano, chúng từng tô điểm các bức tường phòng biện hộ của ông. Điều đó thật gây ấn tượng. Trong mắt hai người trẻ, diện mạo của những chiếc ghế bỗng mang một nét gì đó chính trị âm mưu khuấy đảo, và Joachim rời khỏi chiếc ghế mình đã vô tư ngồi với chân vắt chéo, ngờ vực ngắm nghía nó rồi không ngồi lại nữa. Còn Hans Castorp, đứng bên bục viết của Settembrini cha, nghĩ đến việc nay người con đang tiếp tục lao động ở đó, đem chính trị của người ông kết hợp với chủ nghĩa nhân văn của người cha vào văn chương đẹp. Rồi cả ba cùng đi. Nhà văn đã ngỏ ý đưa hai anh em họ về tận nơi.

Họ im lặng đi được một quãng, nhưng sự im lặng của họ xoay quanh Naphta, và Hans Castorp có thể chờ: hẳn chắc Herr Settembrini sẽ nói đến người hàng xóm cùng nhà của mình, vâng, chính vì mục đích ấy mà ông đã đi cùng họ. Chàng không lầm. Sau một tiếng thở ra như để lấy đà, người Ý bắt đầu:

“Thưa các ngài, tôi muốn cảnh báo các ngài.”

Vì ông ngừng lại một nhịp, nên dĩ nhiên Hans Castorp hỏi, với vẻ ngạc nhiên giả tạo: “Về điều gì?” Ít nhất chàng cũng có thể hỏi: “Về ai?” nhưng chàng cố ý giữ cách nói phiếm chỉ để phô bày toàn bộ vẻ ngây thơ của mình, trong khi đến cả Joachim cũng biết rõ đầu đuôi.

“Về con người mà chúng ta vừa là khách của ông ta,” Settembrini đáp, “và người mà, trái với ý muốn và chủ tâm của tôi, tôi đã làm quen các ngài với ông ta. Các ngài biết đấy, ngẫu nhiên đã muốn như thế, tôi không thể tránh được; nhưng trách nhiệm thì tôi phải mang, và tôi mang nó rất nặng. Bổn phận của tôi là ít nhất cũng phải chỉ cho tuổi trẻ của các ngài thấy những mối nguy hiểm tinh thần mà sự giao du với con người ấy khiến các ngài gặp phải, và ngoài ra còn phải xin các ngài giữ quan hệ với ông ta trong những giới hạn khôn ngoan. Hình thức của ông ta là logic, nhưng bản chất của ông ta là sự rối loạn.”

“À, quả đúng là thế,” Hans Castorp nói, với Naphta thì hẳn là không thể hoàn toàn yên tâm được, đôi khi lời lẽ của ông ta quả có chút kỳ quặc; nghe cứ như ông ta thật sự muốn quả quyết rằng mặt trời quay quanh trái đất. Nhưng rốt cuộc, làm sao chàng và người anh em họ lại có thể nảy ra ý nghĩ rằng việc giao du xã hội với một người bạn của chính ông, của Settembrini, lại là điều chẳng nên làm? Chính ông cũng nói rồi đó: nhờ ông mà họ đã quen Naphta, cùng ông mà họ đã gặp ông ta, ông đi dạo với ông ta, ông vẫn tự nhiên xuống dưới uống trà với ông ta; như vậy hẳn chứng tỏ rằng...”

“Đúng vậy, kỹ sư, đúng vậy.” Giọng Herr Settembrini nghe dịu dàng, cam chịu, mà vẫn có một rung động khẽ. “Người ta có thể đáp lại tôi như thế, và vì vậy anh đáp lại tôi như thế. Được thôi, tôi sẵn lòng tự biện minh. Tôi sống cùng mái nhà với vị ấy, gặp gỡ là điều không thể tránh, một lời kéo theo lời khác, rồi thành quen biết. Herr Naphta là một người có đầu óc, mà điều ấy hiếm lắm. Ông ta thuộc loại bản tính luận biện, tôi cũng vậy. Ai muốn kết tội tôi thì cứ việc, nhưng tôi tận dụng cơ hội được giao kiếm tư tưởng với một đối thủ dẫu sao cũng ngang tầm. Tôi chẳng có ai trong cả một vùng rộng lớn này... Tóm lại, đúng thế, tôi đến chỗ ông ta, ông ta đến chỗ tôi, chúng tôi thậm chí còn đi dạo cùng nhau. Chúng tôi tranh luận. Chúng tôi tranh đấu đến đổ máu, hầu như mỗi ngày, nhưng tôi thú nhận rằng chính sự đối lập và thù nghịch trong tư tưởng của ông ta lại càng làm tăng sức hấp dẫn khiến tôi gặp ông ta. Tôi cần sự cọ xát. Quan điểm sẽ không sống nổi nếu không có dịp chiến đấu, và... tôi đã được tôi luyện vững vàng trong những quan điểm của mình. Còn các anh thì sao có thể tự nhận điều tương tự về mình được, anh, thưa trung úy, hay cả anh nữa, kỹ sư? Các anh không có vũ khí chống lại trò huyễn thuật trí tuệ, các anh đang phơi mình trước nguy cơ bị thứ ngụy biện nửa cuồng tín nửa ác ý ấy gây tổn hại cả về tinh thần lẫn tâm hồn.”

Vâng, vâng, Hans Castorp nói, quả đúng thật, anh em họ chàng hẳn là những bản tính ít nhiều đang bị đe dọa. Đó là câu chuyện về những đứa con âu lo của cuộc đời, chàng hiểu. Nhưng ngược lại, người ta vẫn có thể viện Petrarca với khẩu hiệu của ông, Herr Settembrini hẳn biết rồi, và dẫu sao thì những điều Naphta trình bày cũng thật đáng nghe: cái ý về thời cộng sản, trong đó chẳng ai được nhận tiền thưởng vì thời gian trôi qua, quả là tuyệt diệu, rồi chàng cũng rất quan tâm khi được nghe đôi điều về giáo dục học, những điều mà không có Naphta thì chàng hẳn chẳng bao giờ được nghe...

Herr Settembrini mím chặt môi, nên Hans Castorp vội thêm rằng dĩ nhiên bản thân chàng không đứng về phe nào cũng không ngả theo lập trường nào, chỉ là chàng thấy những điều Naphta nói về niềm vui của tuổi trẻ thật đáng nghe. “Nhưng trước hết xin ông giải thích cho tôi một điều đã!” chàng nói tiếp. “Vị Herr Naphta này đây, tôi nói ‘vị Herr’ để ngụ ý rằng tôi tuyệt nhiên không nhất thiết đồng cảm với ông ta, trái lại trong thâm tâm tôi giữ một thái độ hết sức dè dặt...”

“Mà như thế là rất phải!” Settembrini biết ơn kêu lên.

“... Vậy là ông ta đã nói biết bao điều chống lại đồng tiền, linh hồn của quốc gia như ông ta nói, và chống lại sở hữu, vì đó là trộm cắp, nói gọn lại là chống lại sự giàu có tư bản chủ nghĩa, mà hình như tôi nhớ ông ta từng bảo đó là nhiên liệu của lửa địa ngục, đại khái ông ta đã diễn đạt gần như thế nếu tôi không lầm, và còn hết lời ca tụng lệnh cấm cho vay lấy lãi thời trung cổ. Thế mà chính bản thân ông ta... Xin lỗi, nhưng ông ta hẳn là... Quả là một điều ngạc nhiên hết sức khi người ta bước vào chỗ ông ta. Bao nhiêu là lụa...”

“À vâng,” Settembrini mỉm cười, “đó là một gu thẩm mỹ rất tiêu biểu.”

“... những món đồ cổ đẹp đẽ,” Hans Castorp nhớ ra và nói tiếp, “bức Pietà từ thế kỷ mười bốn... chiếc đèn chùm Venezia... cậu hầu nhỏ mặc đồng phục... rồi còn bánh cây sô-cô-la muốn bao nhiêu có bấy nhiêu nữa... Riêng về phần mình, ông ta hẳn...”

“Herr Naphta,” Settembrini đáp, “riêng về phần mình thì cũng ít là nhà tư bản như chính tôi vậy.”

“Nhưng?” Hans Castorp hỏi... “Bây giờ thì trong lời ông phải có một chữ ‘nhưng’ chứ, Herr Settembrini.”

“À, những người bên ấy không để cho ai thuộc về họ phải thiếu thốn.”

“Ai, ‘những người bên ấy’?”

“Các vị cha kia.”

“Các cha? Các cha?”

“Nhưng mà, kỹ sư, ý tôi là các tu sĩ Dòng Tên!”

Thế là có một quãng lặng. Hai anh em họ lộ rõ vẻ sửng sốt tột độ. Hans Castorp kêu lên:

“Cái gì, trời đất thánh thần, quỷ tha ma bắt nữa, người ấy là một tu sĩ Dòng Tên ư?!”

“Anh đã đoán trúng rồi đấy,” Herr Settembrini tao nhã nói.

“Không, đời nào tôi lại... Ai mà nghĩ tới chuyện ấy cơ chứ! Bởi vậy nên ông mới gọi ông ta là Padre?”

“Đó là một chút cường điệu lịch sự,” Settembrini đáp. “Herr Naphta không phải là cha cố. Chính bệnh tật có lỗi ở chỗ trước mắt ông ta chưa đi xa được đến thế. Nhưng ông ta đã hoàn tất thời kỳ tập tu và đã khấn những lời khấn đầu tiên. Bệnh tật buộc ông ta phải gián đoạn việc học thần học. Sau đó ông ta còn phục vụ vài năm với tư cách prefect trong một cơ sở của dòng, nghĩa là làm người giám sát, praeceptor, gouverneur của các học sinh trẻ. Điều ấy hợp với khuynh hướng sư phạm của ông ta. Ở đây ông ta vẫn có thể tiếp tục theo đuổi nó bằng cách dạy tiếng Latin ở Fridericianum. Ông ta đã ở đây năm năm rồi. Hiện nay chưa biết chắc liệu và khi nào ông ta mới được phép rời khỏi nơi này. Nhưng ông ta là người của dòng, và dẫu cho mối ràng buộc của ông ta với dòng có lỏng lẻo hơn đối với bản thân ông ta đi nữa, thì ở đâu ông ta cũng không thể thiếu thốn. Tôi đã nói với các anh rằng riêng phần mình ông ta nghèo, nghĩa là: không có của. Dĩ nhiên, đó là quy định. Nhưng dòng này nắm giữ những của cải vô lượng, và họ chăm lo cho người của mình, như các anh đã thấy đấy.”

“Sét... đánh,” Hans Castorp lẩm bẩm. “Mà từ đầu đến giờ tôi hoàn toàn không biết và cũng không hề nghĩ rằng thứ ấy, một cách hết sức nghiêm chỉnh, vẫn còn tồn tại! Một tu sĩ Dòng Tên. Ra thế!... Nhưng nói tôi nghe một điều: nếu quả thật từ bên ấy mà ông ta được chu cấp và cung phụng đầy đủ như vậy, thì tại sao trên đời này ông ta lại ở... Tôi nhất định không muốn đụng chạm gì đến chỗ ở của ông đâu, Herr Settembrini, ở nhà Lukaček ông có một chỗ thật duyên dáng, thật dễ chịu, lại tách biệt và hơn nữa đặc biệt ấm cúng. Nhưng ý tôi là: nếu Naphta quả thật dư dả đến thế, nói theo kiểu thông tục của tôi, thì sao ông ta không thuê một căn hộ khác, bề thế hơn, có lối lên đàng hoàng và những phòng lớn, trong một ngôi nhà tử tế? Có cái gì thật giấu giếm và phiêu lưu trong cách ông ta chui vào cái hốc ấy với ngần ấy lụa...”

Settembrini nhún vai.

“Ắt phải là những lý do về chừng mực và thị hiếu,” ông nói, “khiến ông ta quyết định như vậy. Tôi cho rằng ông ta cải thiện lương tâm chống tư bản của mình bằng cách ở trong những căn phòng của một người nghèo, rồi bù đắp lại bằng cách ông ta ở trong đó như thế nào. Hẳn cả sự kín đáo cũng có phần trong chuyện này. Người ta không dí nó vào mũi thiên hạ rằng con quỷ từ đằng sau chu cấp cho mình hậu hĩ biết bao. Người ta dựng ra phía trước một mặt tiền khá khiêm tốn, rồi phía sau đó triển khai thị hiếu linh mục bằng lụa của mình...”

"Thật hết sức kỳ lạ!" Hans Castorp nói. "Hoàn toàn mới mẻ và quả thật kích động đối với tôi, tôi xin thú nhận như thế. Không, quả thực chúng tôi phải cảm ơn ngài, Herr Settembrini, về cuộc quen biết này. Ngài có tin được không, rằng chúng tôi còn sẽ lui tới thăm ông ta không biết bao nhiêu lần nữa? Điều ấy đã quyết rồi. Giao du như vậy quả thật mở rộng chân trời theo một mức độ hoàn toàn không ngờ tới và cho người ta cái nhìn vào một thế giới mà trước đây người ta chẳng hề có lấy một ý niệm mơ hồ là nó tồn tại. Một tu sĩ Dòng Tên chính cống! Và khi tôi nói: "chính cống", thì chính tôi lại tự gợi cho mình cái đầu mối về điều đang lởn vởn trong đầu, điều mà tôi vẫn còn phải nói ra. Tôi hỏi: liệu ông ta có chính cống thật không? Tôi biết chứ, ngài nghĩ rằng chuyện một kẻ được quỷ dữ ngầm chu cấp thì vốn đã chẳng chính đáng gì. Nhưng điều tôi muốn nói quy về câu hỏi này: ông ta có chính cống _trong tư cách một tu sĩ Dòng Tên_ hay không, đó là điều cứ lởn vởn trong đầu tôi. Ông ta đã phát biểu những điều, ngài biết tôi muốn nói những điều nào, về chủ nghĩa cộng sản hiện đại và về lòng sốt sắng vì Chúa của giai cấp vô sản, giai cấp không nên ghìm tay mình trước máu; tóm lại, những điều ấy, tôi không nói thêm gì về chúng nữa, nhưng so với chúng thì ông nội ngài với cây giáo thị dân của mình quả thật hiền lành như một con chiên, xin lỗi ngài về cách nói của tôi. Thế có được không? Điều đó có được bề trên của ông ta tán thành không? Nó có dung hợp với giáo lý La Mã, vì giáo lý ấy mà, theo tôi biết, Dòng phải đi khắp thiên hạ mà mưu toan vận động, hay không? Chẳng phải đó là, từ ấy gọi là gì nhỉ, dị giáo, lệch lạc, không đúng đắn sao? Ấy là điều _tôi_ đang tự hỏi về Naphta, và tôi rất muốn nghe ngài nghĩ gì."

Settembrini mỉm cười.

"Rất giản đơn. Quả thật, trước hết Herr Naphta là một tu sĩ Dòng Tên, là như vậy một cách trọn vẹn và hoàn toàn. Nhưng thứ hai, ông ta là một người có tinh thần, nếu không thì tôi đã chẳng tìm đến giao du, và với tư cách ấy ông ta mưu cầu những sự phối hợp mới, những thích ứng, những chỗ móc nối, những biến cải hợp thời. Ngài đã thấy chính tôi cũng sửng sốt trước các lý thuyết của ông ta. Đến mức ấy ông ta còn chưa từng tự bộc lộ với tôi. Tôi đã lợi dụng sự kích thích mà hiển nhiên sự có mặt của ngài đem lại cho ông ta để khêu ông ta nói ra, trên một phương diện nào đó, lời cuối cùng của mình. Nó quả đã đủ quái gở, đủ ghê gớm..."

"Vâng, vâng; nhưng sao ông ta không trở thành cha dòng? Hẳn tuổi tác cũng đủ rồi chứ."

"Tôi đã nói với ngài rồi, chính bệnh tật đã tạm thời ngăn ông ta điều đó."

"Được, nhưng ngài có nghĩ không: nếu thứ nhất ông ta là tu sĩ Dòng Tên, và thứ hai là một người có tinh thần, với những sự phối hợp ấy, thì cái thứ hai ấy, cái phần thêm vào ấy, có liên quan đến bệnh tật không?"

"Ngài muốn nói gì vậy?"

"Không, không, Herr Settembrini. Tôi chỉ muốn nói: ông ta có một vết ẩm, và điều đó ngăn ông ta trở thành cha dòng. Nhưng những sự phối hợp của ông ta hẳn cũng đã ngăn ông ta như vậy, và theo nghĩa ấy, nói thế nào nhỉ, những sự phối hợp ấy với cái vết ẩm kia thuộc về nhau. Theo cách của mình, ông ta cũng là một thứ đứa con khiến đời phải ưu phiền, một _joli jésuite_ với một _petite tache humide_."

Họ đã đến dưỡng đường. Trên bục trước tòa nhà, họ còn đứng lại một lát trước khi chia tay, tụm lại thành một nhóm nhỏ, trong khi mấy bệnh nhân lảng vảng ngoài cổng chăm chú nhìn cuộc trò chuyện của họ. Herr Settembrini nói:

"Xin nhắc lại, thưa hai người bạn trẻ của tôi, tôi cảnh báo các ngài. Tôi không thể ngăn các ngài vun đắp mối quen biết đã có một khi tính hiếu kỳ xui các ngài làm thế. Nhưng trong khi ấy, hãy vũ trang cho tim trí mình bằng lòng ngờ vực, đừng bao giờ để thiếu sức kháng cự phê phán. Tôi sẽ đặc tả con người này với các ngài bằng một lời. Ông ta là một kẻ trụy lạc."

Gương mặt hai anh em họ nhăn lại. Rồi Hans Castorp hỏi:

"Một... gì kia? Xin ngài thứ lỗi, nhưng ông ta dù sao cũng là người của Dòng kia mà. Theo chỗ tôi biết thì ở đó phải khấn những lời nhất định, vả lại ông ta gầy nhẳng và còm cõi đến thế..."

"Ngài nói ngốc quá, kỹ sư ạ," Herr Settembrini đáp. "Điều đó chẳng liên quan gì đến cảnh còm cõi thể xác cả, còn về những lời khấn thì ở đây vẫn có những điều bảo lưu. Tuy nhiên, tôi vừa nói theo một nghĩa rộng hơn và tinh thần hơn, một nghĩa mà đến nay đáng lẽ tôi có thể cho phép mình giả định là ngài đã hiểu. Ngài còn nhớ rõ chứ, một hôm tôi đến thăm ngài trong phòng, chuyện ấy đã lâu rồi, lâu khủng khiếp, khi ngài vừa nhập vào đây và đang làm liệu pháp nằm nghỉ..."

"Dĩ nhiên! Ngài bước vào trong chạng vạng rồi bật đèn lên, tôi nhớ như mới hôm nay..."

"Tốt, bấy giờ trong lúc chuyện trò, tạ ơn Chúa là chuyện ấy vẫn thường xảy ra, chúng ta đã đi đến những đề tài cao hơn. Tôi còn tin rằng chúng ta đã nói về chết và sống, về phẩm cách của cái chết, trong chừng mực nó là điều kiện và phụ thuộc của sự sống, và về tính chất nhăn nhở quái dị mà nó rơi vào khi tinh thần, một cách đáng ghê tởm, cô lập nó như một nguyên lý. Thưa các ngài!" Herr Settembrini tiếp lời, bước sát đến trước mặt hai chàng trai, xòe ngón cái và ngón giữa bàn tay trái như một cái nĩa chĩa về phía họ, dường như để gom họ lại vào sự chú ý, đồng thời giơ ngón trỏ bàn tay phải lên mà răn bảo... "Hãy khắc ghi rằng tinh thần là bậc tối thượng, ý chí của nó là tự do, nó quyết định thế giới đạo đức. Nếu theo lối nhị nguyên nó cô lập cái chết, thì do chính ý chí tinh thần ấy, cái chết thật sự và trên thực tế, _actu_, các ngài hiểu tôi chứ, trở thành một quyền lực riêng biệt, đối lập với sự sống, thành nguyên lý thù nghịch, thành cơn cám dỗ lớn lao, và vương quốc của nó là vương quốc của dục lạc. Các ngài hỏi tôi, tại sao lại là dục lạc ư? Tôi trả lời các ngài: bởi vì nó tháo tung và giải thoát, bởi vì nó là sự cứu chuộc, nhưng không phải sự cứu chuộc khỏi điều ác, mà là sự cứu chuộc xấu xa. Nó tháo tung tập tục và luân lý, nó giải thoát khỏi kỷ luật và tư thế, nó làm con người tự do cho dục lạc. Nếu tôi cảnh báo các ngài về con người mà tôi đã không muốn làm môi giới cho cuộc quen biết ấy, nếu tôi kêu gọi các ngài khi giao tiếp và biện luận với ông ta hãy thắt quanh trái tim mình ba vòng phê phán, thì ấy là bởi mọi tư tưởng của ông ta đều thuộc về dục lạc, bởi chúng đứng dưới sự che chở của cái chết, một quyền lực hết sức truỵ lạc, như khi ấy tôi đã nói với ngài, kỹ sư ạ; tôi còn nhớ rất rõ cách dùng chữ của mình, những lời phát biểu tốt và trúng mà tôi đã có dịp nói ra thì tôi vẫn luôn ghi nhớ, một quyền lực chống lại văn minh, tiến bộ, lao động và sự sống, mà việc bảo vệ những tâm hồn trẻ trung khỏi hơi thở độc ngạt của nó là bổn phận cao quý nhất của nhà giáo dục."

Không ai có thể nói hay hơn Herr Settembrini, cũng không rõ ràng và tròn trịa hơn. Hans Castorp và Joachim Ziemßen cảm ơn ông rất tử tế về những điều vừa nghe, xin phép cáo lui rồi bước lên cổng Berghof, trong khi Herr Settembrini, ở trên Naphta một tầng cầu thang và vượt khỏi căn buồng lụa của ông ta, trở về với chiếc bục nhân văn của mình.

Đó là cuộc viếng thăm đầu tiên của hai anh em họ tại chỗ Naphta, diễn biến của nó chúng tôi đã ghi lại ở đây. Từ đó về sau đã có thêm hai hoặc ba cuộc viếng thăm nữa, một lần thậm chí khi Herr Settembrini vắng mặt; và cả những cuộc ấy cũng cung cấp cho chàng Hans Castorp trẻ tuổi chất liệu để suy ngẫm, khi chàng ngồi nơi chốn ẩn cư xanh hoa của mình mà "cai trị", trong lúc hình tượng cao vời mang tên _Homo Dei_ lơ lửng trước con mắt nội tâm của chàng.

Nóng nảy. Và thêm một điều hết sức khó chịu

Thế là tháng Tám đến, và may sao những ngày đầu của nó đã để cho ngày kỷ niệm cuộc đến nơi của nhân vật anh hùng chúng ta trên này với chúng ta lặng lẽ chuồn qua. Chỉ được cái là nó đã qua rồi; đối với chàng Hans Castorp trẻ tuổi, nó đã hiện ra trước mắt chàng với đôi phần khó chịu. Thường lệ vẫn là như thế. Ngày đến nơi không được ưa chuộng, giữa những người đã tròn một năm và quá một năm ở đây, người ta không nhắc đến nó; và trong khi ngoài chuyện đó ra thì không hề có cái cớ nào cho tiệc tùng và tiếng khua cốc chén bị bỏ phí, những điểm nhấn chung và lớn trong nhịp điệu cùng mạch đập của năm được gia tăng bằng càng nhiều điểm nhấn riêng tư và bất thường càng tốt, còn sinh nhật, những cuộc tổng kiểm tra, những chuyến ra đi sắp tới, hoang dại hoặc thật sự, cùng những dịp tương tự thì được đánh dấu trong nhà ăn bằng yến ẩm và tiếng nút chai bật nổ, thì riêng ngày tưởng niệm ấy người ta chẳng dành cho gì ngoài sự im lặng, cứ lướt qua nó, thậm chí có lẽ thực sự cũng quên không để ý đến, và có thể yên tâm rằng những người khác hoàn toàn không ghi nhớ nó chính xác đến thế. Người ta vẫn trọng sự phân định; người ta theo dõi lịch, chu kỳ, sự lặp lại bên ngoài. Nhưng việc đo đếm và tính toán thời gian gắn với không gian trên này đối với từng cá nhân, nghĩa là thời gian riêng tư và cá biệt, lại là việc của những người lưu lại ngắn hạn và những kẻ mới đến; còn những người đã bám trụ thì trong phương diện ấy tán thưởng cái vô lượng và vĩnh cửu vô tâm, cái ngày lúc nào cũng như nhau, và mỗi người với một vẻ tế nhị đều ngầm gán cho người kia một ước muốn mà chính mình cũng ôm giữ. Sẽ bị coi là hoàn toàn vụng về và tàn nhẫn nếu bảo với ai đó rằng hôm nay anh ta đã ở đây tròn ba năm; điều ấy không xảy ra. Ngay cả Frau Stöhr, dẫu trong những phương diện khác bà có thiếu sót đến đâu, thì ở điểm này bà vẫn có mực thước và đã được mài giũa, không bao giờ một sự thất thố như thế lại vuột khỏi bà. Tình trạng đau ốm của bà, cơn sốt trong thân thể bà, tất nhiên đi liền với một sự thiếu giáo dưỡng lớn lao. Mới đây thôi, tại bàn ăn bà còn nói về "sự làm điệu" của các chóp phổi mình, và khi câu chuyện chuyển sang những sự việc lịch sử, bà đã tuyên bố rằng niên đại lịch sử quả thật chính là "chiếc nhẫn của Polykrates" của bà, điều ấy cũng đã gây ra một sự cứng lại nhất định nơi những người ngồi quanh. Nhưng chuyện bà vào tháng Hai chẳng hạn lại nhắc chàng Ziemßen trẻ tuổi về ngày kỷ niệm của anh thì không thể nào nghĩ tới được, mặc dù rất có thể bà đã nghĩ đến nó. Bởi cái đầu khốn khổ của bà dĩ nhiên đầy những dữ kiện và chuyện vặt vô ích, và bà thích tính hộ người khác; nhưng phép tắc vẫn giữ bà trong vòng cương tỏa.

Với ngày của Hans Castorp cũng vậy. Hẳn một lần lúc ăn bà đã cố nháy mắt với chàng một cách đầy ẩn ý; nhưng vì chàng đáp lại dấu hiệu ấy bằng một vẻ mặt trống rỗng, bà đã vội rút lui. Cả Joachim cũng đã im lặng trước người anh em họ, mặc dù hẳn anh vẫn nhớ ngày tháng mình ra đón người từ dưới kia lên thăm tại ga "Làng". Nhưng Joachim, vốn bẩm sinh đã không mấy thiên về chuyện trò, xa lắm mới được như Hans Castorp ít ra là đã trở thành trên này, chưa nói đến những nhà nhân văn và biện sĩ trong đám quen biết của họ, Joachim dạo gần đây đã tự khoác lấy một sự lặng lẽ đặc biệt và đáng chú ý, chỉ còn những tiếng đáp một âm tiết vượt qua môi anh, nhưng trong nét mặt anh thì có cái gì đang làm việc. Rõ ràng là đối với anh, với ga "Làng" còn gắn những hình dung khác ngoài chuyện đón người và chuyện đến nơi... Anh đang thư từ qua lại rất sôi nổi với miền đồng bằng. Những quyết định đang chín dần trong anh. Những sự chuẩn bị mà anh tiến hành cũng đang gần đi tới chỗ hoàn tất.

Tháng Bảy đã ấm áp và quang đãng. Nhưng khi tháng mới bắt đầu thì thời tiết xấu ập đến, ẩm ướt mù mịt, mưa tuyết, rồi tuyết rơi không thể lầm được, và tình trạng ấy kéo dài, xen vào bởi đôi ngày hè rực rỡ riêng lẻ, qua hết cuối tháng, sang cả tháng Chín. Ban đầu, các phòng vẫn còn ấm nhờ thời kỳ hè trước đó; trong phòng còn được mười độ, thế đã kể là dễ chịu. Nhưng chẳng mấy chốc càng lúc càng lạnh hơn, và người ta mừng thấy tuyết phủ kín thung lũng, vì chính quang cảnh ấy, chỉ riêng quang cảnh ấy thôi, còn nhiệt độ hạ thấp tự nó hẳn sẽ không có hậu quả gì, đã khiến ban quản lý cho sưởi, thoạt đầu chỉ nhà ăn, rồi cả các buồng nữa, và người ta có thể, khi từ lôgia bước vào sau khi đã hoàn tất phận sự nằm nghỉ, mình còn quấn trong hai tấm chăn, lấy đôi tay ướt cứng chạm vào những ống sưởi đã có sinh khí, mặc dầu hơi khô của chúng lại làm tăng thêm cái bỏng rát nơi đôi má.

Đó đã là mùa đông chăng? Các giác quan không thể cưỡng lại ấn tượng ấy, và người ta phàn nàn là mình đã bị "đánh cắp mất mùa hè", mặc dù chính mình, được nâng đỡ bởi những điều kiện tự nhiên lẫn nhân tạo, bằng một sự tiêu phí thời gian hoang tay cả trong lẫn ngoài, đã tự tước đoạt mùa hè của mình. Lý trí vẫn muốn biết rằng rồi sẽ còn những ngày thu đẹp; có khi chúng còn kéo đến từng loạt và trong một vẻ huy hoàng ấm áp đến mức gọi chúng là mùa hè cũng chẳng phải ban cho cái tên ấy quá nhiều vinh dự, miễn là người ta đừng để ý đến quỹ đạo trong ngày đã thấp hơn của mặt trời, đến cuộc từ biệt đã sớm hơn của nó. Nhưng tác động lên tâm tình do quang cảnh mùa đông ngoài kia gây ra thì mạnh hơn những lời an ủi như thế. Người ta đứng bên cánh cửa ban công khép kín của mình và ghê tởm nhìn ra màn tuyết bay, Joachim là người đứng như thế, và bằng một giọng nghẹn ép anh nói:

"Thế là cái ấy lại bắt đầu nữa sao?"

Hans Castorp, đứng sau lưng anh trong phòng, đáp:

"Thế thì có hơi sớm đấy, nó không thể là chuyện chung cuộc được, nhưng quả thật nó khoác một bộ mặt chung cuộc ghê rợn. Nếu mùa đông gồm bóng tối, tuyết và rét cùng những ống sưởi ấm, thì đúng là mùa đông lại đến, chẳng có gì để chối cãi cả. Và nếu nghĩ rằng vừa mới mùa đông đó thôi và băng tuyết tan đi còn chưa bao lâu, ít nhất _đối với chúng ta_ dường như là thế, phải không, như thể mùa xuân mới chỉ vừa đây thôi, thì trong khoảnh khắc người ta thấy buồn nôn cũng phải, tớ nhận điều ấy. Điều đó nguy hiểm cho niềm ham sống của con người; để tớ giảng cậu nghe tớ muốn nói thế nào. Tớ muốn nói thế này: thế giới, một cách bình thường, được sắp đặt sao cho phù hợp với những nhu cầu của con người và thuận lợi cho niềm ham sống, điều ấy phải thừa nhận. Tớ không muốn đi xa đến mức bảo rằng trật tự tự nhiên, ví dụ như kích thước trái đất, thời gian nó cần để quay quanh chính nó và quanh mặt trời, sự luân phiên của ngày và mùa, nếu cậu muốn thì là nhịp điệu vũ trụ, đã được đo theo nhu cầu của chúng ta; như thế hẳn sẽ là xấc xược và ngây ngô, đó sẽ là mục đích luận, như nhà tư tưởng nói. Nhưng sự việc đơn giản là ở chỗ nhu cầu của chúng ta và những sự kiện tự nhiên phổ quát, nền tảng, tạ ơn Chúa, lại hài hòa với nhau, tạ ơn Chúa, tớ nói như vậy, vì đó thực sự là một cớ để ngợi khen Chúa; và khi mùa hè đến dưới miền đồng bằng, hay mùa đông đến, thì mùa hè trước hoặc mùa đông trước đã lùi lại đúng vừa đủ để mùa hè và mùa đông lại hiện ra mới mẻ và được hoan nghênh đối với chúng ta, và trên điều ấy niềm ham sống được xây nên. Còn trên này của chúng ta, trật tự và sự hài hòa ấy bị xáo trộn, thứ nhất vì ở đây thực ra hoàn toàn chẳng có những mùa đúng nghĩa, như chính cậu từng nhận xét, mà chỉ có những ngày hè và những ngày đông _pêle-mêle_ lẫn lộn với nhau, và thêm nữa vì cái trôi qua đối với người ta ở đây vốn chẳng phải là thời gian gì cả, khiến cho mùa đông mới, khi nó đến, hoàn toàn không mới, mà lại chính là mùa đông cũ; và từ đó giải thích nỗi bất bình mà cậu đang nhìn qua ô kính với nó."

"Cảm ơn nhiều nhé," Joachim nói. "Và giờ, sau khi cậu đã giải thích nó ra, thì tớ tin là cậu hài lòng đến mức, trong những điều khác, cậu còn hài lòng cả với chính sự việc ấy nữa, mặc dù nó thì... Không!" Joachim nói. "Thôi!" anh nói. "Thật là một sự khốn kiếp. Toàn bộ chuyện này là một sự khốn kiếp ghê gớm, tởm lợm, và còn nếu về phần cậu... _Tôi_..." Và anh rảo bước ra khỏi phòng, giận dữ kéo sầm cánh cửa sau lưng, và nếu không phải mọi sự đều đánh lừa người nhìn, thì trong đôi mắt đẹp và hiền của anh đã có nước mắt.

Người kia đứng sững lại, bối rối. Chàng đã không mấy coi trọng vài quyết định của người anh em họ, chừng nào anh này còn hăng hái buông những lời tuyên bố ầm ĩ. Nhưng giờ đây, khi tất cả chỉ còn âm thầm làm việc trong nét mặt Joachim và anh cư xử đúng như vừa rồi, Hans Castorp hoảng lên, vì chàng hiểu rằng người quân nhân ấy là hạng người sẽ chuyển sang hành động, - hoảng đến tái mét, và là tái mét cho cả hai người, cho mình và cho anh. _Fort possible qu’il va mourir_, chàng nghĩ, và vì đó hẳn chỉ là một món tri thức nghe từ tay thứ ba, nên vào đấy còn trộn lẫn cả nỗi day dứt của một mối ngờ vực cũ, chưa bao giờ được nguôi yên, trong khi đồng thời chàng nghĩ: Có thể nào anh ấy bỏ ta lại một mình trên này, - ta, người rốt cuộc chỉ đến để thăm anh ấy thôi kia mà?! rồi lại thêm: như thế thì thật điên rồ và khủng khiếp biết bao, - điên rồ và khủng khiếp đến nỗi ta cảm thấy mặt mình lạnh ngắt và tim mình đập loạn cả lên, vì nếu ta bị bỏ lại một mình trên này - mà điều đó sẽ xảy ra, nếu anh ấy lên đường; chuyện ta đi với anh ấy hoàn toàn là bất khả -, thì tức là - nhưng giờ tim ta gần như đứng lại hẳn - thì tức là mãi mãi vĩnh viễn, vì một mình ta quyết không bao giờ tìm được đường trở lại miền đồng bằng...

Đó là diễn trình ý nghĩ kinh hãi của Hans Castorp. Ngay trong chính buổi chiều hôm ấy chàng sẽ có được sự xác quyết về chiều hướng diễn biến của sự việc: Joachim tỏ rõ ý mình, xúc xắc đã gieo, và đã đi đến va chạm cùng quyết định.

Sau trà chiều, họ đi xuống tầng bán hầm sáng sủa để dự cuộc khám định kỳ hằng tháng. Đó là đầu tháng Chín. Bước vào phòng khám khô thoáng, họ thấy bác sĩ Krokowski ngồi nơi bàn làm việc, còn Hofrat, mặt xanh lè khác thường, thì tựa vào tường, hai tay khoanh lại, một tay cầm ống nghe mà gõ lên vai mình. Ông ngẩng mặt lên trần mà ngáp. "Chào nhé, các cậu!" ông uể oải nói, và suốt từ đấy vẫn để lộ một tâm trạng hết sức nhão ra, u uất, buông xuôi trước mọi sự. Chắc hẳn ông đã hút thuốc. Nhưng cũng còn có những điều bực dọc thuộc về công việc, những chuyện nội bộ của dưỡng đường mà hai người anh em đã nghe nói qua, thuộc cái loại quá đỗi quen thuộc: một cô gái trẻ tên Ammy Nölting, nhập viện lần đầu vào mùa thu năm kia và sau chín tháng, vào tháng Tám, được cho ra viện như đã lành, vậy mà chưa hết tháng Chín đã lại xuất hiện vì ở nhà cô "không thấy khỏe", đến tháng Hai lại được xác nhận là hoàn toàn yên ắng và trả về miền đồng bằng, nhưng từ giữa tháng Bảy đã lại ngồi vào chỗ của mình ở bàn Iltis, - cô Ammy ấy vào lúc một giờ đêm đã bị bắt gặp trong phòng cùng một người bệnh tên Polypraxios, chính gã người Hy Lạp đã gây xôn xao chính đáng trong lễ hội hóa trang nhờ cặp chân cân đối tuyệt đẹp, một nhà hóa học trẻ có cha làm chủ xưởng phẩm màu ở Piräus, - và kẻ bắt quả tang lại là một cô bạn bị cơn ghen làm cho rối loạn, cô này cũng vào được phòng Ammy bằng chính con đường Polypraxios đã vào, tức là trèo qua các ban công, rồi, bị giày vò bởi đau đớn và giận dữ trước cảnh tượng nhìn thấy, đã thét lên kinh hoàng, làm náo động tất cả và phao toáng câu chuyện. Behrens đã buộc phải tống cổ cả ba người, gã Athens, cô Nölting và cả cô bạn của cô, người vì lòng say đắm mà chẳng mấy giữ gìn danh dự bản thân, và ngay vừa rồi còn bàn bạc với người trợ lý của mình về vụ việc khó chịu ấy; tiện nói, cả Ammy lẫn kẻ phản bội kia đều từng là bệnh nhân điều trị riêng của ông này. Ngay trong khi khám cho hai người anh em, ông vẫn tiếp tục trút ra những lời than về chuyện đó bằng cái giọng sầu muộn và cam chịu; bởi ông là một nghệ sĩ lão luyện của thuật nghe khám, có thể đồng thời nghe trộm bên trong một con người, nói về một chuyện khác, và đọc cho người trợ lý chép lại điều mình nghe thấy.

"Ừ, ừ, _gentlemen_, cái _libido_ khốn kiếp ấy mà!" ông nói. "Các ngài dĩ nhiên còn thấy trò ấy là vui, với các ngài thì có hề gì. - Âm phế nang. - Nhưng một ông đứng đầu dưỡng đường thì ngán nó đến tận cổ, điều ấy các ngài có thể - vùng đục - cứ tin lời tôi. Tôi có lỗi gì đâu nếu như chứng lao lại cứ đi kèm với một thứ dục vọng đặc biệt - hơi ráp nhẹ chăng? Tôi đã không sắp đặt ra như thế, nhưng chưa kịp biết chuyện gì thì người ta đã đứng đó như một ông chủ chòi, - ngắn lại ở đây dưới nách trái. Chúng ta có phân tích, chúng ta có giãi bày, - chà, thật là hay quá! Càng giãi bày, lũ nhóc quỷ ấy lại càng dâm đãng. Tôi giảng toán học. - Ở đây khá hơn, tiếng động mất rồi. - Tôi bảo, chuyên tâm vào toán học là phương thuốc hay nhất chống lại tính háo sắc. Công tố viên Paravant, người bị thứ ấy hành ghê gớm, đã lao vào nó, bây giờ ông ta đang vật với bài toán cầu phương hình tròn và cảm thấy nhẹ nhõm lắm. Nhưng phần lớn bọn họ ngu quá mà cũng lười quá, Chúa thương xót vậy. - Âm phế nang. - Các ngài thấy đấy, tôi biết rất rõ là bọn trẻ trên này hư đi và sa đọa không phải quá khó, và trước đây đôi khi tôi cũng thử can thiệp vào những cuộc truỵ lạc. Nhưng rồi đã xảy đến chuyện một gã anh trai hay vị hôn phu nào đó hỏi thẳng vào mặt tôi rằng rốt cuộc việc ấy can hệ gì đến tôi. Từ đó về sau tôi chỉ còn là bác sĩ - ran nhẹ phía trên bên phải."

Ông đã xong với Joachim, nhét ống nghe vào túi áo choàng và dùng bàn tay trái khổng lồ dụi cả hai mắt, như ông vẫn làm mỗi khi "xịu xuống" và u uất. Gần như máy móc, và xen vào giữa những cái ngáp bực bội, ông buông câu cửa miệng của mình:

"Nào, Ziemßen, cứ vui lên. Vẫn chưa phải mọi sự đều đúng y như trong sách sinh lý học đâu, chỗ này chỗ kia còn trục trặc, mà với Gaffky thì anh cũng chưa thanh toán xong công chuyện đâu, thậm chí so với bữa nọ còn nhích lên một nấc nữa, - lần này là sáu đấy, nhưng đừng vì thế mà thổi phồng nỗi sầu nhân thế. Khi anh đến đây anh còn bệnh nặng hơn, điều ấy tôi có thể viết giấy cho anh, và nếu anh còn ở trên này thêm năm, sáu Manot nữa - anh có biết ngày xưa người ta nói '_mânôt_' chứ không phải 'Monat' không? Vốn nghe đầy vang hơn nhiều. Tôi đã tự nhủ từ nay chỉ còn nói 'Manot' -"

"Thưa ngài Hofrat," Joachim cất tiếng... Anh đứng đó, để trần nửa thân trên, trong tư thế khép kín, ngực ưỡn ra, gót chân chụm lại, và mặt lấm tấm từng vệt đúng như dạo nọ, khi nhân một dịp nhất định Hans Castorp lần đầu tiên nhận thấy rằng đó là cái cách người rám nắng đậm tái đi.

"Nếu anh," Behrens nói lấn át đà lên tiếng của anh, "còn làm nhiệm vụ xà cạp thật nghiêm trên này thêm độ nửa năm nữa, thì anh sẽ thành người trọn vẹn, khi ấy anh có thể đi chinh phục Konstantinopel, có thể vì khí chất quá ư cường tráng mà lên làm tổng tư lệnh ở vùng Mark nữa -"

Ai biết trong cơn ủ dột ấy ông còn ba hoa những gì nữa, nếu tư thế không nao núng của Joachim, quyết ý không thể nhầm lẫn của anh là sẽ nói, mà còn là nói một cách can đảm, đã không làm ông lạc khỏi mạch.

"Thưa ngài Hofrat," người thanh niên nói, "tôi xin kính cẩn báo cáo rằng tôi đã quyết định lên đường."

"Ủa nào? Anh định trở thành người chào hàng rong sao? Tôi tưởng về sau, khi đã khỏe mạnh, anh định vào quân ngũ chứ?"

"Không, bây giờ tôi phải lên đường, thưa ngài Hofrat, trong tám ngày nữa."

"Anh nói xem nào, tai tôi có nghe đúng không? Anh quẳng súng bỏ cuộc, anh định đào ngũ đấy à? Anh có biết như thế là đào ngũ không?"

"Không, tôi không hiểu như thế, thưa ngài Hofrat. Bây giờ tôi phải về trung đoàn."

"Mặc dù tôi bảo anh rằng nửa năm nữa tôi nhất định có thể cho anh ra viện, còn trước nửa năm thì không thể?"

Tư thế của Joachim ngày càng đậm vẻ quân lệnh. Anh hóp bụng lại và nói ngắn, giằn:

"Tôi đã ở đây hơn một năm rưỡi, thưa ngài Hofrat. Tôi không thể chờ lâu hơn nữa. Thoạt đầu ngài Hofrat đã nói: một quý. Rồi kỳ điều dưỡng của tôi cứ hết lần này tới lần khác bị kéo dài từng quý, từng nửa năm, mà tôi vẫn chưa khỏi."

"Ấy là lỗi của tôi ư?"

"Không, thưa ngài Hofrat. Nhưng tôi không thể chờ thêm được nữa. Nếu tôi không muốn lỡ mất hẳn nhịp bước, thì tôi không thể đợi đến khi bình phục hẳn trên này mới đi xuống. Tôi phải xuống ngay bây giờ. Tôi còn cần một ít thời gian cho việc sửa soạn quân trang và những chuẩn bị khác."

"Anh hành động với sự đồng thuận của gia đình chứ?"

"Mẹ tôi đồng ý. Mọi chuyện đều đã sắp xếp xong. Ngày mồng Một tháng Mười tôi vào trung đoàn Bảy mươi Sáu với tư cách sĩ quan tập sự."

"Bất chấp mọi nguy hiểm ư?" Behrens hỏi, nhìn anh bằng cặp mắt đỏ ngầu vì máu...

"Xin tuân lệnh, thưa ngài Hofrat," Joachim đáp, môi run run.

"Thế thì được, Ziemßen." Hofrat đổi sắc mặt, buông lơi tư thế và thả lỏng mọi bề. "Được thôi, Ziemßen. Nghỉ đi! Lên đường với Chúa. Tôi thấy anh biết mình muốn gì, anh tự nhận lấy việc ấy, và chừng ấy là đúng: từ cái khoảnh khắc anh nhận lấy nó, đó là việc của anh, không phải của tôi. Con người phải tự mình. Anh đi mà không có bảo đảm, tôi không chịu trách nhiệm gì cả. Nhưng không chừng lại ổn lắm. Nghề anh chọn vốn là nghề nhiều không khí. Rất có thể nó hợp với anh và anh sẽ cắn răng mà tự thoát ra được."

"Vâng, thưa ngài Hofrat."

"Thế còn anh, chàng trai thuộc giới dân sự? Chắc anh cũng định đi theo chứ?"

Đến lượt Hans Castorp phải trả lời. Chàng đứng đó, tái nhợt y hệt như một năm trước trong cuộc khám đã dẫn đến việc chàng được nhận vào đây, đứng đúng trên chỗ cũ, và người ta lại thấy rõ nhịp tim chàng đập vào xương sườn. Chàng nói:

"Tôi muốn để việc ấy tùy ở ý kiến của ngài, thưa ngài Hofrat."

"Ý kiến của tôi. Hay lắm!" Rồi ông nắm tay lôi chàng lại gần, nghe và gõ. Ông không đọc cho chép. Mọi việc diễn ra khá nhanh. Xong xuôi, ông nói:

"Anh có thể đi."

Hans Castorp lắp bắp:

"Nghĩa là... sao cơ. Thế tôi đã khỏe rồi ư?"

"Phải, anh khỏe rồi. Cái chỗ ở phía trên bên trái không còn đáng kể nữa. Nhiệt độ của anh không ăn nhập với chỗ ấy. Nó từ đâu ra thì tôi không thể nói cho anh biết. Tôi cho rằng nó chẳng có ý nghĩa gì hơn. Về phần tôi, anh có thể đi."

"Nhưng... thưa ngài Hofrat... Có lẽ lúc này ngài không hoàn toàn nghiêm chỉnh đấy chứ?"

"Không nghiêm chỉnh ư? Nghĩa là sao? Thế anh nghĩ gì vậy? Mà tiện thể tôi cũng muốn biết, rốt cuộc anh vốn nghĩ tôi là người thế nào? Anh coi tôi là cái gì? Một ông chủ chòi chắc?!"

Đó là cơn nóng giận bộc phát. Sắc xanh trên mặt Hofrat, vì luồng máu bốc lên rừng rực, đã đậm sang màu tím hoa cà; cái lối kéo xệch một bên môi dưới hàng ria mép của ông càng dữ dội hơn, đến nỗi mấy chiếc răng phía bên của hàm trên lộ cả ra; ông chồm đầu về phía trước như bò mộng, còn mắt ông lồi ra, ướt và đỏ máu.

"Tôi không chấp nhận điều đó!" ông thét lên. "Trước hết, tôi hoàn toàn không phải chủ sở hữu gì hết! Tôi là người làm công ở đây! Tôi là bác sĩ! Tôi _chỉ_ là bác sĩ thôi, anh nghe rõ chưa?! Tôi không phải kẻ dắt mối! Tôi không phải Signor Amoroso trên phố Toledo ở thành Napoli xinh đẹp, anh hiểu chưa?! Tôi là kẻ phụng sự nhân loại đau khổ! Và nếu các anh đã hình thành về tôi một quan niệm nào khác, thì cả hai cứ cút đi cho quỷ bắt, vào bụi sậy hay ra cho chó xé, tùy thích chọn lấy! Chúc đi đường may mắn!"

Sải những bước chân dài và rộng, ông đi ra cửa, qua cánh cửa thông sang phòng ngoài của buồng chiếu, rồi đóng sầm nó lại sau lưng.

Hai người anh em ngơ ngác nhìn bác sĩ Krokowski như tìm lời chỉ dẫn, nhưng ông này lại ra vẻ vùi đầu chôn chặt trong giấy tờ. Họ vội mặc quần áo vào. Trên cầu thang, Hans Castorp nói:

"Khủng khiếp thật. Cậu đã từng thấy ông ấy như thế bao giờ chưa?"

"Chưa, đến mức ấy thì chưa. Đó là những cơn của bậc cấp trên. Cách duy nhất cho đúng là cứ giữ tư thế không chê vào đâu được mà để cho chúng trút xuống đầu mình. Dĩ nhiên ông ấy đã bị chọc tức bởi câu chuyện Polypraxios với cô Nölting. Nhưng cậu có thấy không," Joachim nói tiếp, và người ta nhận ra niềm vui vì đã chiến đấu tới cùng cho việc của mình đang dâng lên trong anh và làm nghẹt cả lồng ngực anh, "cậu có thấy ông ấy đã xuống nước và đầu hàng thế nào khi nhận ra là tớ quyết thật không? Chỉ cần tỏ chút gan góc thôi, đừng để người ta lấn át. Bây giờ thì, có thể nói, tớ đã có 'phép', - chính ông ấy đã nói là rất có thể tớ sẽ cắn răng mà tự thoát ra được, - và tám ngày nữa tớ lên đường... ba tuần nữa là tớ có mặt ở trung đoàn," anh tự sửa, loại Hans Castorp ra khỏi cuộc chơi và thu gọn lời khẳng định run lên vì vui sướng ấy vào riêng trường hợp của mình.

Hans Castorp im lặng. Chàng không nói gì về cái "phép" của Joachim, cũng chẳng nói gì về cái phép của riêng mình, thứ mà dẫu sao hẳn cũng có thể đem ra bàn tới. Chàng sửa soạn cho liệu pháp nằm nghỉ, ngậm nhiệt kế vào miệng, rồi bằng những động tác ngắn, chắc, với một nghệ thuật đã thành thục hoàn toàn, làm đúng theo nghi thức thiêng liêng kia mà dưới miền đồng bằng không ai có ý niệm gì, quấn hai tấm chăn lông lạc đà quanh mình và sau đó nằm yên, như một ống trụ đều đặn, trên chiếc ghế nằm tuyệt hảo của chàng trong cái ẩm lạnh của buổi chiều đầu thu.

Những đám mây mưa sà thấp, lá cờ Phantasie ở dưới kia đã hạ xuống, những vệt tuyết sót lại nằm trên các cành ướt của cây linh sam quý. Từ gian nằm nghỉ bên dưới, nơi cách đây đúng một năm một ngày lần đầu tiếng ông Albin đã đập vào tai chàng, có những tiếng chuyện trò khe khẽ vọng lên đến người đang làm nhiệm vụ ấy, trong lúc các ngón tay và gương mặt chàng chẳng bao lâu tê cứng vì lạnh ẩm. Chàng đã quen với điều đó, và biết ơn cái nếp sinh hoạt ở chốn này, nếp sinh hoạt từ lâu đối với chàng đã trở thành nếp duy nhất còn có thể nghĩ tới, vì đã ban cho chàng cái ân huệ được nằm yên trong chở che mà nghĩ ngợi mọi sự.

Mọi sự đã được quyết định, Joachim sẽ lên đường. Radamanth đã cho anh rời đi, - không _rite_, không phải như một người khỏe mạnh, nhưng dẫu sao cũng vẫn cho rời đi với nửa phần tán thành, trên cơ sở và để ghi nhận lòng kiên định của anh. Anh sẽ đi xuống, bằng đường sắt khổ hẹp lao vào chiều sâu đến Landquart, đến Romanshorn, rồi vượt qua hồ nước mênh mang, thăm thẳm, trên đó trong bài thơ người kỵ sĩ đã phi qua, và băng qua toàn cõi Đức để về nhà. Anh sẽ sống ở đó, trong thế giới của miền đồng bằng, giữa toàn những con người chẳng hề biết người ta phải sống ra sao, những kẻ chẳng biết gì về nhiệt kế, về nghệ thuật tự quấn mình, về túi lông, về ba lần đi dạo, về... thật khó mà nói, khó mà kể cho xiết họ ở dưới kia không biết những gì, nhưng ý nghĩ rằng Joachim, sau khi đã ở trên này hơn một năm rưỡi, nay sẽ phải sống giữa những kẻ không biết ấy, - ý nghĩ ấy, chỉ liên quan đến Joachim, và chỉ rất xa xôi, như một sự thử lòng, mới dính dáng cả đến chàng, Hans Castorp, - đã làm chàng bối rối đến nỗi chàng nhắm mắt lại và đưa tay ra một cái như xua đi. "Không thể, không thể," chàng lẩm bẩm.

Nhưng nếu quả thực điều ấy là không thể, thì hẳn chàng sẽ cứ thế sống tiếp trên này một mình, không có Joachim? Phải. Trong bao lâu? Cho đến khi Behrens cho chàng xuất viện như đã khỏi hẳn, và là thật sự, chứ không phải kiểu hôm nay. Nhưng, thứ nhất, đó là một thời điểm mà muốn ấn định nó, người ta chỉ có thể, như Joachim đã từng làm nhân một dịp nào đó, đưa tay vào khoảng không mà ra cái cử chỉ của điều không sao trông thấy tận cùng; và thứ hai: liệu đến lúc ấy cái điều không thể kia có trở nên khả thể hơn chăng? Trái lại là đằng khác. Và cũng phải công bằng mà nhận rằng có một bàn tay đã chìa ra cho chàng lúc này, vào lúc cái không thể kia có lẽ vẫn chưa hoàn toàn bất khả như về sau sẽ vậy, một sự chống đỡ và dẫn dắt cho chàng, do chuyến ra đi cuồng dại của Joachim, trên con đường xuống miền đồng bằng, con đường mà tự thân chàng, đến muôn đời, sẽ chẳng bao giờ lần tìm lại được. Nền giáo dục nhân văn sẽ phải khuyên bảo chàng biết bao hãy nắm lấy bàn tay ấy và nhận lấy sự dẫn dắt ấy, nếu nền giáo dục nhân văn được hay cơ hội này! Nhưng ông Settembrini chỉ là một người đại diện, đại diện cho những điều và những quyền lực đáng lắng nghe, song không phải duy nhất, không phải tuyệt đối; mà với Joachim cũng vậy. Anh là một quân nhân, phải rồi. Anh ra đi, gần như đúng vào lúc Marusja ngực nở sắp quay trở lại (người ta biết là nàng trở lại vào mồng một tháng Mười), trong khi với chàng, Hans Castorp dân sự, việc ra đi, nói riêng đích danh và nói tắt, lại dường như bất khả chính bởi chàng còn phải chờ Clawdia Chauchat, người mà chuyện trở về của nàng thì còn xa mới có tin tức gì. “Đó không phải là quan niệm của tôi,” Joachim đã nói thế, khi Radamanth bảo anh là đào ngũ; điều ấy, xét riêng về Joachim, hẳn chỉ là chuyện bắp cải với lời lảm nhảm từ phía vị Hofrat u ám mà thôi. Nhưng đối với chàng, kẻ dân sự, thì sự tình quả là có khác. Đối với chàng (đúng vậy, hoàn toàn không còn ngờ gì nữa, chính là như thế! Để moi từ trong cảm xúc mình lên được ý nghĩ quyết định ấy, hôm nay chàng đã nằm ra đây giữa cái ẩm lạnh này) đối với chàng, quả thật sẽ là đào ngũ nếu chớp lấy cơ hội mà cuống cuồng hay nửa cuống cuồng lên đường về miền đồng bằng, là đào ngũ khỏi những trách nhiệm bày rộng ra trước mặt, những trách nhiệm đã nảy sinh cho chàng trên này từ việc chiêm ngưỡng hình tượng cao cả mang tên _Homo Dei_, là phản bội những nghĩa vụ cai quản nặng nề và nung nóng, vượt quá sức lực tự nhiên của chàng, song lại đem đến một niềm phúc lạ lùng, những nghĩa vụ mà chàng đang đảm đương tại lô ghế này và nơi chốn nở hoa xanh biếc này.

Chàng giật mạnh chiếc nhiệt kế ra khỏi miệng, dữ dội như mới chỉ một lần trước đó: sau lần dùng đầu tiên, khi bà quản viện vừa bán cho chàng dụng cụ thanh nhã ấy, rồi cúi xuống nhìn nó với đúng thứ háo hức như bấy giờ. Thủy ngân đã dâng lên khá mạnh, nó chỉ ba mươi bảy phẩy tám, gần phẩy chín.

Hans Castorp hất chăn khỏi người, nhảy bật dậy và bước nhanh một vòng vào buồng, đến cửa hành lang rồi quay lại. Đoạn, khi đã nằm ngang trở lại, chàng khẽ gọi Joachim và hỏi về đường biểu nhiệt của anh.

“Mình không đo nữa,” Joachim đáp.

“À, tôi thì có Tempus,” Hans Castorp nói, dùng chữ ấy theo bà Stöhr, phỏng theo lối “Schampus”; rồi Joachim, ở sau bức vách kính, lặng thinh.

Về sau nữa anh cũng chẳng nói gì, trong ngày hôm ấy và những ngày tiếp theo, không dùng lời mà dò hỏi kế hoạch và quyết định của người em họ, những điều tất phải tự bộc lộ ra, khi thời hạn đã được ấn định sít sao, hoặc bằng hành động, hoặc bằng sự không hành động; và quả chúng đã bộc lộ ra, tức là bằng cách sau. Dường như anh theo thuyết tịch nhiên, cái thuyết từng muốn biết rằng hành động là xúc phạm đến Thượng đế, đấng một mình muốn làm mọi sự. Dù sao chăng nữa, hoạt động của Hans Castorp trong những ngày ấy chỉ giới hạn ở một lần đến gặp Behrens, một cuộc trao đổi mà Joachim biết rõ, và diễn tiến cùng kết quả của nó thì anh có thể bấm năm đầu ngón tay mà tính ra. Người em họ của anh đã giải thích rằng chàng cho phép mình coi trọng hơn lời khuyên nhủ nhiều lần trước kia của vị Hofrat là hãy chữa cho thật tận gốc trường hợp của mình ở đây để không bao giờ phải quay lại nữa, hơn là lời nói mau mắn trong một phút bực dọc; chàng có 37,8, chàng không thể cảm thấy mình được cho xuất viện _rite_; và nếu phát biểu dạo nọ của vị Hofrat không phải nên hiểu là một sự trục xuất, một biện pháp mà chàng, người đang nói đây, không ý thức được là mình đã gây cớ cho, thì sau khi suy xét điềm tĩnh và với sự đối lập có ý thức với Joachim Ziemßen, chàng đã quyết định ở lại đây thêm nữa và chờ sự giải độc hoàn toàn của mình. Đáp lại, vị Hofrat, khá sát từng chữ, đã nói: “_Bon_ và đẹp lắm!” và: “Đừng phật ý!” và: thế mới gọi là nói năng như một anh chàng có đầu óc, và: ông đã thấy ngay từ đầu rằng Hans Castorp có khiếu làm bệnh nhân hơn cái gã bỏ chạy và gan lì kia. Vân vân.

Ấy, theo cách tính khá chính xác của Joachim, đó hẳn đã là diễn biến của cuộc trò chuyện ấy; và vì thế anh không nói gì, chỉ âm thầm ghi nhận rằng Hans Castorp không nhập vào những bước đi chuẩn bị ra đi của anh. Nhưng chính Joachim tốt bụng cũng đã có biết bao điều phải lo với bản thân! Một cơn bão đang dậy lên trong lồng ngực anh, điều ấy thì người ta có thể hình dung. Có lẽ lại hay, việc anh không đo nữa, mà dụng cụ của anh thì, theo lời anh, đã bị vỡ vì đánh rơi: những lần đo hẳn có thể cho ra những kết quả gây rối trí, anh xúc động kinh khủng đến thế, khi thì âm thầm bừng cháy, khi thì tái nhợt đi vì vui sướng và căng thẳng. Anh không thể nằm nữa; suốt ngày anh đi đi lại lại trong phòng mình, như Hans Castorp nghe thấy: vào tất cả những giờ, bốn lần mỗi ngày, mà ở Berghof tư thế nằm ngang ngự trị. Một năm rưỡi! Và giờ thì xuống miền đồng bằng, về nhà, giờ thì thực sự đến trung đoàn, dẫu chỉ với nửa phần cho phép! Đó chẳng phải chuyện nhỏ, theo bất cứ nghĩa nào, Hans Castorp cảm thấy điều ấy nơi người em họ đi lại không yên. Mười tám tháng, đã đi trọn vòng năm rồi lại thêm nửa vòng nữa trên này, đã ăn sâu vào, đã lăn trơn trong đường ray trật tự ấy, trong nếp sống bất di bất dịch ấy, nếp sống mà anh đã nếm trải suốt mọi mùa mọi buổi trong bảy lần bảy mươi ngày, vậy mà giờ đây về nhà như đi vào xứ lạ, về với những kẻ không biết! Không biết những khó khăn thích nghi nào đang chờ phía trước? Và người ta có được phép lấy làm lạ hay không, nếu nỗi kích động lớn lao của Joachim không chỉ toàn là niềm vui, mà còn có cả nỗi lo âu, nỗi đau phải từ biệt cái thân thuộc đến tận căn tủy đang xua anh đi khắp căn phòng? Chưa kể gì đến Marusja ở trên này.

Nhưng niềm vui vẫn trội hơn. Tim và miệng người Joachim tốt bụng như tràn ra vì nó; anh nói về chính mình, để mặc tương lai của người em họ yên đó. Anh nói rằng mọi sự sẽ mới mẻ và tươi tỉnh biết bao, cuộc đời, chính anh, thời gian, từng ngày, từng giờ. Anh sẽ lại có thời gian rắn chắc, những năm tháng thanh xuân chậm rãi mà nặng ký. Anh nói về mẹ mình, bà dì ghẻ Ziemßen của Hans Castorp, người có đôi mắt đen dịu dàng cũng hệt như Joachim, và người mà suốt cả quãng thời gian trên núi ấy anh chưa gặp lại, vì bà, cũng như anh, cứ bị khất từ tháng này sang tháng khác, từ nửa năm này sang nửa năm khác, nên chưa bao giờ quyết định lên thăm con trai. Anh mỉm cười hân hoan mà nói về lời tuyên thệ trước cờ mà chẳng bao lâu nữa anh sẽ đọc: nó được thực hiện trong những hoàn cảnh trọng thể trước sự hiện diện của lá cờ, người ta tuyên thệ với chính nó, với bản thân lá quân kỳ. “Thế à?” Hans Castorp hỏi. “Nghiêm chỉnh đấy chứ? Với cái cột? Với mảnh vải ấy?” Phải, đúng thế; còn ở pháo binh thì là với khẩu pháo, theo nghĩa tượng trưng. Kẻ dân sự bèn nhận xét rằng đó quả là những phong tục cuồng nhiệt, có thể nói là mẫn cảm cuồng tín; Joachim liền gật đầu, đầy kiêu hãnh và hạnh phúc.

Anh đắm mình vào những chuẩn bị, thanh toán hóa đơn cuối cùng ở văn phòng quản lý, bắt đầu thu xếp va-li từ mấy ngày trước thời hạn tự định. Anh gói cả quần áo mùa hè lẫn mùa đông, lại bảo người hầu phòng bọc bao lông và những chiếc chăn lông lạc đà vào vải bố: biết đâu trong một cuộc diễn tập nào đó anh lại dùng đến chúng. Anh bắt đầu nói lời từ biệt. Anh đến chào từ biệt Naphta và Settembrini, một mình, vì người em họ không cùng đi trong cuộc viếng thăm ấy và cũng không hỏi Settembrini đã nghĩ gì, nói gì về cuộc ra đi sắp tới của Joachim và việc không-ra-đi sắp tới của Hans Castorp: liệu ông đã nói “Szieh, szieh” hay “Szo, szo”, hay cả hai, hay “_Poveretto_”, điều đó hẳn đã phải là chuyện dửng dưng đối với chàng.

Rồi đến buổi chiều tối trước ngày khởi hành, khi Joachim làm mọi việc lần cuối: mỗi bữa ăn, mỗi lần liệu pháp nằm nghỉ, mỗi cuộc dạo bộ; và từ biệt các bác sĩ, bà quản viện. Và rồi chính buổi sáng ấy ló rạng: mắt nóng, tay lạnh, Joachim bước vào bàn điểm tâm, vì anh đã thức trắng đêm, cũng hầu như không nuốt nổi miếng nào, và khi cô lùn báo rằng hành lý đã được chằng lên rồi, anh lập tức bật khỏi ghế một cách hấp tấp để từ biệt bạn cùng bàn. Bà Stöhr đã rơi nước mắt, thứ nước mắt dễ chảy, không mặn, của kẻ ít giáo dưỡng, lúc nói lời chia tay, rồi ngay sau đó, sau lưng Joachim, lại làm ra cho cô giáo một bộ mặt nhăn nhó, vừa lắc đầu vừa xòe bàn tay quay qua quay lại, đầy mối hồ nghi cực kỳ thô thiển về quyền được ra đi của Joachim cũng như về sự bình an của anh. Hans Castorp trông thấy điều đó trong lúc đứng uống cạn tách của mình để theo sát gót người em họ. Vẫn còn tiền boa phải phát, còn phải đáp lại lời chào chia tay chính thức của một sứ giả từ ban quản lý ở tiền sảnh. Như thường lệ, đã có các bệnh nhân đứng sẵn để xem cuộc lên đường: bà Iltis với cái “Sterilett”, cô Levi màu ngà, Popów phóng túng với vị hôn thê của ông ta. Họ phe phẩy khăn tay trong khi cỗ xe, bị hãm ở bánh sau, sột soạt lăn xuống lối xe vào. Joachim đã nhận được hoa hồng. Anh đội mũ trên đầu. Hans Castorp thì không.

Buổi sáng thật rực rỡ, buổi sáng đầu tiên có nắng sau một quãng u ám dài. Schiahorn, những ngọn Grünen Türme, chỏm núi làng hiện ra trước nền xanh với vẻ biểu hiệu không đổi, và mắt Joachim dừng lại trên đó. Hans Castorp nói, gần như cũng đáng tiếc thay, đúng vào ngày ra đi mà thời tiết lại đẹp như thế. Trong đó có cái ác ý, và một ấn tượng kết thúc thực sự không hiếu khách sẽ làm mọi cuộc chia tay dễ dàng hơn. Joachim đáp lại rằng anh không cần đến sự dễ dàng ấy, và đây là thời tiết huấn luyện tuyệt hảo, ở dưới kia anh rất có thể dùng đến nó. Ngoài ra họ nói ít. Với tất cả những gì đè nặng trên mỗi người và giữa hai người, dĩ nhiên chẳng có gì thực sự để nói. Hơn nữa, trước mặt họ còn có gã què ngồi trên ghế xà ích cạnh người đánh xe.

Ngồi cao, bị xóc trên những chiếc đệm cứng của cỗ xe song mã mui hở, họ đã để lại phía sau dòng nước chảy, đường ray hẹp, đang đi xuống trên con đường xây cất không đều, chạy song song với đường sắt, rồi dừng lại trên khoảnh sân sỏi trước tòa nhà ga ở “Dorf”, vốn chẳng hơn gì một cái chòi. Hans Castorp nhận ra tất cả mà kinh hãi. Từ khi đến đây, vào lúc bóng chiều sa xuống mười ba tháng trước, chàng chưa hề nhìn lại nhà ga lần nào. “Chính ở đây mình đã đến,” chàng nói, một cách thừa thãi, còn Joachim chỉ đáp: “Thì đúng là ở đây,” rồi trả tiền xe.

Gã què lanh lẹ lo liệu mọi việc, vé tàu, hành lý. Họ đứng cạnh nhau trên sân ga, bên đoàn tàu tí hon, cạnh khoang xe nhỏ bọc nệm xám, nơi Joachim đã chiếm một chỗ cùng áo choàng, cuộn chăn kẻ và hoa hồng. “Thế thì anh cứ đi tuyên lời thề cuồng nhiệt của anh đi nhé!” Hans Castorp nói, và Joachim đáp: “Sẽ làm.” Còn gì nữa? Họ nhắn nhau những lời chào cuối, lời chào gửi tới những người dưới kia, tới những người trên này. Rồi Hans Castorp chỉ còn dùng cây gậy của mình vạch trên mặt nhựa đường. Khi có tiếng gọi lên tàu, chàng giật mình, nhìn Joachim và Joachim nhìn lại chàng. Họ bắt tay nhau. Hans Castorp mỉm cười mơ hồ; mắt người kia thì nghiêm nghị và buồn bã khẩn khoản. “_Hans!_” anh nói, lạy Đức Chúa toàn năng! trên đời này đã từng xảy ra điều gì khó xử đến thế chưa? Anh gọi Hans Castorp bằng tên riêng! Không phải bằng “cậu” hay “người anh em”, như họ vẫn quen suốt đời, mà bất chấp mọi sự e dè lễ độ, lại bằng tên riêng một cách tràn trề đến đau đớn! “Hans,” anh nói và siết bàn tay người em họ với nỗi âu lo khẩn thiết, trong khi chàng phải nhận thấy rằng cái gáy của người thức trắng đêm, người sốt vì chuyến đi, người đang bị chấn động kia rung lên hệt như lúc anh “cai quản” “Hans,” anh nói, khẩn khoản, “sớm xuống theo mình nhé!” Rồi anh nhảy lên bậc để bước vào. Cửa sập lại, tiếng còi rít lên, các toa va vào nhau, đầu máy nhỏ kéo đi, đoàn tàu trôi tuột khỏi nơi ấy. Người ra đi vẫy mũ qua cửa sổ, người ở lại vẫy tay. Với trái tim xáo tung, chàng còn đứng đó một mình rất lâu. Đoạn chàng chậm rãi đi trở lại con đường mà năm nào ngày ấy Joachim đã dẫn chàng đi.

Cuộc công kích bị đẩy lui

Bánh xe quay. Cây chỉ mốc dịch chuyển. Lan kiếm và hoa aquilegia đã tàn, cẩm chướng dại cũng vậy. Những ngôi sao xanh thẫm của hoa long đởm, hoa nghệ tây mùa thu, nhợt nhạt và độc địa, lại hiện ra trong đám cỏ ướt, và trên những cánh rừng phủ một màu ánh đỏ. Điểm phân thu đã qua, lễ Các Đẳng trong tầm mắt, và với những người tiêu dùng thời gian thành thạo hơn, hẳn cả mùa Vọng đầu tiên, ngày ngắn nhất và lễ Giáng sinh nữa. Tuy vậy, những ngày tháng Mười đẹp vẫn còn nối tiếp nhau, những ngày thuộc đúng loại của hôm mà hai người anh em họ đã đi xem tranh sơn dầu cùng vị Hofrat.

Từ khi Joachim đi khỏi, Hans Castorp không còn ngồi ở bàn của bà Stöhr nữa, không còn ở cái bàn mà bác sĩ Blumenkohl đã chết đi, và nơi Marusja đã vùi cái vui tươi vô cớ của mình vào chiếc khăn tay mùi cam. Giờ đây những vị khách mới, hoàn toàn xa lạ, ngồi ở đó. Còn người bạn của chúng ta, khi đã lún sâu hai tháng rưỡi vào năm thứ hai của mình, đã được ban quản lý chỉ định cho một chỗ khác, ở một bàn kế bên, nằm chéo phía trước bàn cũ, chếch hơn về phía cửa hiên bên trái, ở giữa bàn cũ của chàng và bàn những người Nga tốt bụng, nói tắt lại là ở bàn Settembrini. Phải, giờ đây Hans Castorp ngồi vào chỗ bị bỏ trống của nhà nhân văn, vẫn ở đầu bàn, đối diện với chỗ ngồi của bác sĩ, cái chỗ mà ở mỗi một trong bảy chiếc bàn đều được dành sẵn cho vị Hofrat và tay trợ thủ của ông khi họ đến quan sát.

Phía trên kia, bên trái ban chủ tọa y khoa, ngồi thụp trên mấy chiếc gối là người nhiếp ảnh gia nghiệp dư gù lưng từ Mexico, nét mặt, bởi nỗi cô độc ngôn ngữ, mang vẻ của một người điếc; và bên cạnh ông ta là chỗ ngồi của cô tiểu thư đứng tuổi xứ Siebenbürgen, người mà, như Herr Settembrini từng than phiền, cứ bắt cả thiên hạ phải quan tâm đến ông anh rể của mình, mặc dầu chẳng ai biết gì về con người ấy, mà cũng chẳng muốn biết. Vào những giờ nhất định trong ngày, người ta thấy cô đứng nơi lan can lô-gia ban công của mình, cây gậy nhỏ có tay nắm bạc Tula vắt ngang sau gáy, thứ gậy cô cũng dùng trong những cuộc tản bộ theo chỉ định, ưỡn bộ ngực phẳng như cái đĩa trong những nhịp hít thở sâu hợp vệ sinh. Ngồi đối diện cô là một người Tiệp mà ai nấy gọi là Herr Wenzel, bởi không ai phát âm nổi họ thật của ông. Hồi nọ Herr Settembrini đôi khi cũng thử bật ra cái chuỗi phụ âm rối rắm làm nên cái tên ấy, dĩ nhiên không phải do thành tâm cố gắng, mà chỉ để vui vẻ thử thách sự bất lực quý phái của vốn Latinh tính nơi mình trước bụi rậm âm thanh hoang dã kia. Tuy béo ụ như một con lửng và có một sức ăn nổi bật đến kinh ngạc ngay cả giữa những người trên này, người xứ Böhmen ấy suốt bốn năm nay vẫn quả quyết rằng mình phải chết. Trong những buổi quây quần ban tối, đôi khi ông gảy leng keng trên cây mandoline buộc ruy băng những bài hát quê nhà và kể về đồn điền củ cải đường của mình, nơi toàn những cô gái xinh xắn làm việc. Gần chỗ Hans Castorp hơn, về hai phía chiếc bàn, là Herr và Frau Magnus, cặp vợ chồng nhà nấu bia từ Halle. Một bầu u sầu bao quanh đôi vợ chồng này như không khí, bởi cả hai đều mất đi những sản phẩm trao đổi chất tối quan trọng cho sự sống, Herr Magnus thì đường, còn Frau Magnus thì đạm. Trạng thái tinh thần, nhất là của Frau Magnus nhợt nhạt, dường như không còn lấy một vệt hy vọng nào; từ bà toát ra một sự hoang vắng tinh thần như hơi hầm rượu, và còn bộc lộ rõ hơn cả cô Stöhr thất học, chính cái sự kết hợp giữa bệnh tật và ngu độn mà Hans Castorp, từng bị Herr Settembrini quở trách vì điều ấy, đã cảm thấy khó chịu về mặt tinh thần. Herr Magnus hoạt bát đầu óc hơn và cũng hay nói hơn, tuy vẫn chỉ theo cái kiểu trước kia từng khơi dậy ở Settembrini một nỗi sốt ruột văn chương. Ngoài ra ông còn dễ nổi nóng và thường va chạm thù địch với Herr Wenzel vì những lý do chính trị và những lý do khác nữa. Bởi những khát vọng dân tộc của người Böhmen khiến ông tức tối, nhất là khi người kia còn công khai theo chủ nghĩa bài rượu và buông những lời phán xét đạo đức bất lợi cho nghề sinh nhai của nhà nấu bia, còn ông này, mặt đỏ gay, thì bênh vực tính vô khả công kích về phương diện vệ sinh của thứ đồ uống mà quyền lợi của ông gắn bó hết sức mật thiết. Trong những dịp như thế, trước kia Herr Settembrini thường hòa giải bằng óc khôi hài; còn Hans Castorp, thay vào chỗ ông, thấy mình chẳng mấy khéo léo và không thể viện đến một uy tín đủ lớn để thay thế ông trong việc ấy.

Chỉ với hai bạn cùng bàn là chàng có quan hệ riêng tư hơn: A. K. Ferge từ Petersburg, người ngồi bên trái chàng, là một; con người nhẫn chịu hiền lành ấy, từ dưới bụi ria mép đỏ nâu rậm rì, kể chuyện nghề sản xuất giày cao su và những miền xa xôi, vòng Bắc Cực, mùa đông vĩnh cửu ở Mũi Bắc, và với ông ta Hans Castorp thậm chí đôi khi còn cùng thực hiện một cuộc dạo bộ theo quy lệ. Người kia thì, mỗi khi tình cờ, lại nhập bọn hai người ấy thành người thứ ba trong những cuộc đi như thế, và có chỗ ngồi ở đầu trên của bàn, đối diện với người Mexico gù lưng, chính là người Mannheim tóc thưa răng xấu tên Wehsal, Ferdinand Wehsal, làm nghề buôn bán, kẻ mà đôi mắt lúc nào cũng đeo bám với một niềm ham muốn đục mờ nơi thân hình duyên dáng của Frau Chauchat, và từ lễ Fastnacht đến nay vẫn tìm kiếm tình bạn của Hans Castorp.

Y theo đuổi điều ấy với sự bền bỉ và khiêm cung, bằng một thứ tận tụy ngước nhìn từ bên dưới, đối với người bị nhắm đến thì chứa đựng nhiều điều ghê gai đáng ngại, bởi chàng hiểu được cái ý nghĩa phức tạp của nó, nhưng vẫn tự nhủ phải đối đãi cho có tình người. Bình thản nhìn, vì biết chỉ cần khẽ chau mày là đủ khiến kẻ cảm xúc khốn khổ kia co dúm và giật lùi, chàng dung chịu cái lối cung phụng của Wehsal, kẻ chộp lấy mọi dịp để cúi mình trước chàng và làm duyên làm đẹp lòng chàng, thậm chí còn dung chịu việc y đôi khi mang áo khoác ngoài cho chàng trong những cuộc dạo bộ, với một vẻ gần như sùng kính y vắt nó trên cánh tay, và sau hết còn dung chịu cả câu chuyện của người Mannheim, thứ câu chuyện tối đục. Wehsal khoái nêu ra những vấn đề như: liệu có nghĩa lý, có hợp lẽ hay chăng khi bày tỏ tình yêu với một người đàn bà mà ta yêu, nhưng nàng lại chẳng muốn biết gì về ta, lời tỏ tình _vô vọng_ ấy, các ngài nghĩ sao về nó. Về phần mình, y hết sức tán thành, cho rằng với nó gắn liền một hạnh phúc vô hạn. Bởi lẽ nếu hành vi thú nhận quả có gây ghê tởm và hàm chứa nhiều tự hạ nhục, thì trong khoảnh khắc nó vẫn thiết lập nên sự gần gũi trọn vẹn của tình yêu với đối tượng mình ham muốn, lôi người ấy vào chỗ tín nhiệm, vào chính nguyên tố của đam mê bản thân, và nếu như với thế thì dĩ nhiên mọi sự đều chấm hết, thì sự mất mát vĩnh viễn ấy cũng không phải là cái giá quá đắt cho khoái lạc tuyệt vọng của một khoảnh khắc; bởi sự thú nhận có nghĩa là bạo lực, và nỗi ghê sợ chống cự đối với nó càng lớn thì khoái cảm lại càng nhiều hơn... Đến đây, một nét tối sầm trên mặt Hans Castorp khiến Wehsal lùi lại, tuy điều ấy xảy ra chủ yếu là vì có mặt Ferge hiền lành, người mà, như người ta vẫn thường nhấn mạnh, mọi đề tài cao hơn và khó hơn đều hoàn toàn xa lạ, hơn là do sự nghiêm cứng của một quan tòa đạo đức ở phía người anh hùng của chúng ta. Bởi, vì chúng tôi vẫn ở cách xa như nhau khỏi ý muốn làm cho chàng tốt hơn hoặc xấu hơn con người chàng vốn thế, nên xin nói thêm rằng, một buổi tối nọ, khi Wehsal tội nghiệp, riêng tư bốn mắt, bằng những lời nhợt nhạt nài ép chàng, nhân danh Chúa mà hãy tin cậy kể rõ hơn cho y về những trải nghiệm và kinh nghiệm của đêm Fastnacht sau buổi hội họp ấy, thì Hans Castorp đã bằng sự tử tế điềm tĩnh mà chiều theo, không hề để cho, như độc giả có thể tưởng, cảnh tượng đằm xuống ấy vương một chút gì thấp hèn khinh suất. Tuy vậy, chúng tôi có lý do để loại chàng và cả chính chúng tôi khỏi chuyện ấy, và chỉ xin thêm rằng từ đó về sau Wehsal mang chiếc Paletot của Hans Castorp thân thiện với lòng tận tụy tăng lên gấp bội.

Bấy nhiêu về nhóm bạn cùng bàn mới của Hans. Chỗ bên phải chàng còn để trống, chỉ tạm thời có người ngồi, chỉ trong vài ngày: một vị khách trú tạm, như xưa kia chính chàng đã từng, một cuộc viếng thăm họ hàng, một vị khách từ miền đồng bằng và là sứ giả từ đó, nếu người ta muốn nói thế, nói gọn lại là ông cậu James Tienappel của Hans.

Thật là một điều phiêu lưu, việc bỗng dưng có một đại diện và sứ giả của quê nhà ngồi bên cạnh mình, mang trong từng thớ vải bộ đồ Anh quốc của ông ta vẫn còn tươi nguyên bầu khí quyển của cái cũ xưa, cái đã chìm khuất, của đời sống trước kia, của một “thượng giới” nằm sâu bên dưới. Nhưng điều ấy hẳn phải đến. Từ lâu Hans Castorp vẫn thầm tính đến một đợt đột kích như thế từ miền đồng bằng, thậm chí còn đoán khá đúng chính con người nay quả nhiên được giao phó việc dò xét ấy, điều đó vốn cũng chẳng khó gì; vì Peter, kẻ đi biển, hầu như không được tính tới, còn về ông bác Tienappel thì rõ rành rành rằng dẫu mười con ngựa kéo cũng chẳng bao giờ lôi nổi cụ đến những vùng này, nơi mà về áp lực không khí cụ có mọi lẽ để e sợ. Không, hẳn phải là James, người sẽ thay mặt quê nhà ngó xem kẻ thất lạc kia ra sao; thực ra người ta đã chờ ông từ trước rồi. Nhưng từ khi Joachim một mình trở về và trong vòng họ hàng báo cho biết tình hình ở đây, thì cuộc tấn công ấy đã đến hạn, thậm chí quá hạn, và vì thế Hans Castorp chẳng hề ngạc nhiên chút nào khi, gần mười bốn ngày sau cuộc ra đi của Joachim, viên concierge trao cho chàng một bức điện tín mà, mở ra với linh cảm báo trước, quả nhiên hiện ra là lời báo trước trong thời gian rất ngắn của James Tienappel. Ông có việc trên đất Thụy Sĩ và đã quyết định nhân dịp ấy ghé lên chỗ cao của Hans một chuyến. Ngày kia ông sẽ đến.

“Được,” Hans Castorp nghĩ. “Hay lắm,” chàng nghĩ. Và trong lòng chàng còn thêm vào một câu như: “Xin mời!” “Giá mà chú biết được!” chàng nói thầm với người đang tiến lại gần. Nói gọn, chàng đón nhận tin báo với sự điềm tĩnh lớn lao, dĩ nhiên vẫn báo lại cho Hofrat Behrens và cho ban quản lý, cho chuẩn bị một căn phòng, phòng của Joachim vẫn còn trống, rồi đến ngày hôm sau nữa, đúng vào giờ chàng đã từng đến nơi, tức khoảng tám giờ tối, khi trời đã tối hẳn, chàng đi bằng chính cỗ xe cứng nảy ấy, cỗ xe chàng đã dùng để tiễn Joachim xuống, ra ga “Dorf” đón sứ giả của miền đồng bằng, người muốn đến xem cho ra lẽ.

Đỏ như chu sa, không đội mũ, chỉ mặc độc bộ đồ, chàng đứng ở mép sân ga khi con tàu nhỏ lăn bánh vào, đứng ngay dưới cửa sổ toa của người họ hàng và gọi ông cứ việc bước ra, vì chàng đã có mặt đây rồi. Konsul Tienappel, ông là phó lãnh sự, cũng nhờ thế mà đỡ đần cho cụ già trong cả lĩnh vực danh dự này một cách rất đáng cảm ơn, co ro bọc trong chiếc áo choàng mùa đông, vì quả thực đêm tháng Mười lạnh buốt, chỉ thiếu một chút nữa là có thể gọi là sương giá trong vắt, mà thật ra về gần sáng ắt sẽ có băng, bước xuống khỏi toa với một vẻ tươi tỉnh ngạc nhiên, biểu lộ điều ấy trong những hình thức hơi mảnh và rất đỗi văn minh của một quý ông vùng tây bắc nước Đức, chào người cháu-họ bên đằng cậu bằng những lời nhấn mạnh sự hài lòng trước diện mạo tuyệt hảo của chàng, thấy mình được người tập tễnh giải thoát khỏi mọi bận tâm về hành lý, rồi ở ngoài kia cùng Hans Castorp trèo lên cái ghế cao và cứng của chiếc xe chở họ. Dưới bầu trời đầy sao, họ đi như thế, và Hans Castorp, ngả đầu ra sau, trỏ ngón tay trỏ lên không trung, giảng giải cho ông cậu-người anh em họ về những tầng cao phía trên, dùng lời nói và cử chỉ gom lại hết chòm sao lấp lánh này đến chòm sao lấp lánh khác, gọi đích danh cả các hành tinh, trong khi người kia, chú ý đến chính con người ngồi cạnh mình còn hơn là tới vũ trụ, tự nhủ rằng tuy việc nói ngay, nói ở đây, và nói chính về sao trời quả cũng có thể chấp nhận được, không hẳn là điên rồ, nhưng dầu sao vẫn còn bao điều khác gần hơn nhiều với chuyện cần nói. Từ bao giờ mà ở trên này cậu lại biết đường biết nẻo chắc chắn đến thế, ông hỏi Hans Castorp; chàng đáp rằng đó là thành quả của liệu pháp nằm nghỉ buổi tối ngoài ban công vào xuân, hạ, thu, đông. Gì cơ? đêm mà cậu cũng nằm ngoài ban công à? Ồ có chứ. Mà ngài phó lãnh sự cũng sẽ làm thế. Ngài sẽ chẳng còn cách nào khác.

“Vâng, dĩ... dĩ nhiên,” James Tienappel đáp, cố tỏ ra dễ dãi và hơi khiếp vía. Người anh em nuôi của ông nói đều đều và bình thản. Không mũ, không Paletot, chàng ngồi bên cạnh ông trong làn tươi mát kề cận sương giá của buổi tối mùa thu. “Cậu hẳn là chẳng thấy rét gì sao?” James hỏi; vì chính ông thì đang run dưới lớp dạ dày một tấc của chiếc áo choàng, và cách nói của ông vừa có gì hấp tấp vừa có gì chậm chạp, bởi răng ông có khuynh hướng va vào nhau lập cập. “Bọn tôi không rét,” Hans Castorp bình thản và ngắn gọn đáp.

Ngài phó lãnh sự nhìn chàng nghiêng nghiêng mãi không chán. Hans Castorp không hỏi han gì về bà con và người quen ở nhà. Những lời thăm hỏi từ dưới ấy mà James chuyển lại, kể cả của Joachim, người đã về trung đoàn và đang sáng lên vì hạnh phúc lẫn kiêu hãnh, chàng đón nhận với lời cảm ơn điềm tĩnh, không đi sâu thêm vào hoàn cảnh ở quê nhà. Bị một điều gì mơ hồ quấy rầy, đến nỗi chính ông cũng không biết phải nói nó phát ra từ phía người cháu hay có lẽ từ trong bản thân mình, từ thể trạng của một người vừa đi đường xa, James nhìn quanh mà chẳng thấy được bao nhiêu phong cảnh thung lũng cao, rồi hít căng lồng ngực thứ không khí mà sau khi thở ra ông tuyên bố là tuyệt diệu. Quả vậy, người kia đáp, chẳng phải vô cớ mà nó nổi tiếng xa gần đến thế. Nó có những tính chất mạnh mẽ. Tuy đẩy nhanh sự đốt cháy toàn thân, nhưng trong nó cơ thể vẫn bồi thêm chất đạm. Những chứng bệnh mà ai cũng âm ỉ mang trong người, nó có thể chữa được, nhưng trước hết nó còn thúc đẩy mạnh mẽ chúng, bằng một sự căng lên và nâng lên hữu cơ toàn diện, có thể nói là đưa chúng đến chỗ bộc phát như ngày hội. Xin cho phép, ngày hội ư? Quả thế. Chưa bao giờ ngài để ý rằng sự phát tác của bệnh tật có cái gì đó như ngày hội, rằng nó là một thứ lễ hội của thân xác sao? “Vâng, dĩ... dĩ nhiên,” ông cậu vội vã đáp với chiếc hàm dưới mất tự chủ, rồi cho biết ông có thể ở lại tám ngày, nghĩa là một tuần, tức bảy ngày, mà cũng có lẽ chỉ sáu. Vì, như đã nói, ông thấy diện mạo Hans Castorp, nhờ một thời gian dưỡng bệnh mà quả thật đã kéo dài quá mọi chờ đợi, khỏe mạnh và cường tráng một cách nổi bật, nên ông cho rằng người cháu sẽ cùng ông xuống nhà ngay.

“Nào, nào, đừng có vừa đến đã lấy đầu húc tường,” Hans Castorp nói. Ông cậu James nói y như một người dưới kia vậy. Cứ thử nhìn ngó quanh đây với bọn tôi một chút, rồi sống quen vào đã, sau đó ông sẽ đổi ý thôi. Cốt yếu là phải lành hẳn, cái lành hẳn ấy mới là điều quyết định, mà mới đây Behrens còn bắt chàng thêm nửa năm nữa. Đến đây ông cậu gọi chàng là “cậu” và hỏi chàng có điên không. “Cậu điên hẳn rồi đấy à?” ông hỏi. Thế này thì đã là một kỳ nghỉ dưỡng năm quý năm trời mất rồi, mà giờ còn thêm nửa năm nữa! Nhân danh Đức Chúa toàn năng, người ta làm gì có lắm thời gian đến thế! Hans Castorp bèn cười ngắn và điềm tĩnh lên phía các vì sao. À, thời gian! Riêng về cái đó, về thời gian của con người, thì James trước hết sẽ phải xét lại những khái niệm ông mang theo, rồi hẵng bàn chuyện ấy trên này. Ông sẽ, vì quyền lợi của Hans, ngay sáng mai nói một lời nghiêm túc với ngài Hofrat, Tienappel hứa. “Cứ làm đi!” Hans Castorp nói. “Ông sẽ thích ông ấy. Một tính cách thú vị, vừa xông xáo vừa u sầu.” Rồi chàng chỉ lên những ánh đèn của Sanatorium Schatzalp và tiện thể kể về những xác chết người ta chở xuống theo đường bob.

Hai quý ông dùng bữa cùng nhau trong Berghof-Restaurant, sau khi Hans Castorp đưa vị khách vào phòng của Joachim và cho ông ta dịp sửa soạn qua loa. Căn phòng đã được hun bằng H₂CO, Hans Castorp nói, kỹ lưỡng chẳng khác nào ở đó đã không diễn ra một cuộc ra đi cuống quýt, mà là một cuộc ra đi hoàn toàn khác, không phải _exodus_, mà là _exitus_. Và khi ông cậu hỏi thế nghĩa là sao: “Tiếng lóng đấy!” người cháu nói. “Lối nói đấy!” chàng nói. “Joachim đã đào ngũ, đào ngũ về với lá cờ, chuyện ấy cũng có đấy. Nhưng mau lên, kẻo còn được ăn nóng!” Thế là họ ngồi đối diện nhau trong nhà hàng ấm áp dễ chịu, ở một chỗ ngồi cao. Người đàn bà lùn phục vụ họ thoăn thoắt, và James gọi một chai Burgunder được đặt lên, nằm trong một cái giỏ. Họ cụng ly và để cho hơi ấm dịu dàng ấy chảy qua người. Người trẻ hơn nói về cuộc sống trên này trong vòng biến chuyển của các mùa, về vài hiện tượng trong phòng ăn, về Pneumothorax, mà bản chất của nó chàng giải thích bằng cách viện đến trường hợp của Ferge hiền lành và lan man về tính chất thô bạo của Pleura-Chok, cũng nhắc tới ba cơn ngất đủ màu mà Herr Ferge từng nói là mình đã sa vào, chứng ảo khứu đã đóng một vai trò trong cơn choáng ấy, và cả tràng cười ông ta đã bật ra lúc nó sập đánh chộp. Chàng gần như một mình chi trả cho cuộc chuyện trò ấy. James ăn và uống khỏe, như thói quen của ông, lại thêm cái ngon miệng được mài sắc bởi chuyến đi và sự đổi không khí. Tuy vậy, đôi lúc ông vẫn ngắt quãng việc ăn uống, ngồi đó, miệng đầy thức ăn mà quên nhai, dao nĩa bất động trên đĩa thành một góc tù, và nhìn Hans Castorp trân trân, dường như không tự biết, cũng không để lộ rằng người kia có tỏ ra khó chịu gì hơn về chuyện ấy. Những đường gân phồng nổi lên nơi hai thái dương của ngài Konsul Tienappel, dưới lớp tóc vàng mỏng.

Không ai nói đến những chuyện quê nhà, không phải chuyện riêng tư gia đình, cũng không phải chuyện thành phố, chuyện làm ăn, hay hãng Tunder & Wilms, xưởng đóng tàu, nhà máy cơ khí và lò rèn nồi hơi, nơi vẫn còn chờ chàng thực tập sinh trẻ bước vào, tuy dĩ nhiên đó không phải mối bận tâm duy nhất của hãng đến nỗi người ta có thể tự hỏi liệu họ còn chờ nữa hay chăng. Hẳn James Tienappel đã chạm đến tất cả những đề tài ấy trong quãng đường xe chạy và cả về sau, nhưng chúng đều rơi xuống đất rồi nằm chết tại chỗ, bật ngược khỏi sự thờ ơ bình thản, quả quyết mà không hề làm bộ của Hans Castorp, một thứ bất khả xâm phạm hay miễn nhiễm khiến người ta nhớ đến sự chàng không cảm thấy cái lạnh của buổi chiều thu, nhớ đến câu “Chúng tôi không rét”, và có lẽ chính vì thế mà ông cậu đôi khi cứ nhìn chàng chằm chằm. Cuộc chuyện trò lại xoay sang bà quản lý, sang các bác sĩ, sang những buổi hội thuyết của Dr. Krokowski; ngẫu nhiên thay, James sẽ dự một buổi trong số đó nếu ở lại đủ tám ngày. Ai bảo người cháu rằng ông cậu có ý đi nghe bài giảng ấy? Không ai cả. Chàng mặc nhiên giả định điều đó, đặt nó ra như một việc đã quyết với vẻ quả quyết bình thản đến nỗi chính người kia phải thấy ý nghĩ rằng mình có thể không tham dự hiện lên dưới một thứ ánh sáng trái tự nhiên, và vội vàng nói “Dĩ nhiên, cố nhiên rồi” để chặn trước mọi ngờ vực, như thể chỉ trong thoáng chốc ông đã toan tính một điều không thể có. Chính đó là cái quyền lực mà cảm giác mơ hồ nhưng cưỡng bức về nó khiến ông Tienappel vô thức phải nhìn người cháu, mà lúc này lại còn há miệng, bởi lối thở qua mũi đã khép lại đối với ông, mặc dầu theo ông biết thì vị lãnh sự đâu có bị sổ mũi. Ông nghe người bà con nói về căn bệnh kia, thứ hiện là mối quan tâm nghề nghiệp chung của mọi người trên này, và về sự dễ dàng tiếp nhận nó; về ca bệnh riêng của Hans Castorp, khiêm tốn nhưng dai dẳng; về sức quyến rũ mà các trực khuẩn tác động lên tế bào của các nhánh khí quản và các phế nang; về sự hình thành củ lao và sự tạo ra những độc chất hòa tan gây chếnh choáng; về sự tan rã tế bào và quá trình bã đậu, rồi từ đó vấn đề đặt ra là liệu quá trình ấy sẽ đi tới một sự đình chỉ lành mạnh nhờ vôi hóa thạch hóa và sẹo xơ liên kết, hay tiếp tục phát triển thành những ổ nhũn lớn hơn, gặm đục các hang lan rộng và phá hủy cơ quan. Ông nghe nói đến thể diễn biến điên cuồng tăng tốc, phi nước đại của tiến trình ấy, thứ có thể dẫn tới _exitus_ chỉ trong vài tháng, thậm chí vài tuần; nghe nói đến phép mổ mở phổi, nghề thủ công mà Hofrat thành thạo một cách bậc thầy; nghe nói đến việc cắt bỏ phổi, như dự định sẽ làm vào ngày mai hoặc một trong những ngày tới cho một ca nặng mới đến, một người Scotland vốn xinh xắn, bị _Gangraena pulmonum_, chứng hoại thư phổi, xâm chiếm, đến nỗi trong người cô ngự trị một thứ ô uế đen ánh lục, và suốt ngày cô phải hít dung dịch axít carbolic phun sương để khỏi phát điên vì ghê tởm chính mình: thế rồi bỗng nhiên điều ấy xảy đến với vị lãnh sự, hoàn toàn ngoài dự liệu của chính ông và khiến ông xấu hổ đến cực điểm, là ông buột miệng bật ra. Ông phì cười sằng sặc, dĩ nhiên lập tức hoảng hốt hoàn hồn và tự ghìm lại, ho lên, tìm mọi cách che giấu sự việc vô nghĩa vừa xảy ra; mà trong khi ấy, để trấn an mình, song lại mang theo một nỗi bất an mới, ông nhận thấy Hans Castorp chẳng hề bận tâm gì đến sự cố, điều hiển nhiên không thể lọt khỏi mắt chàng, trái lại còn lướt qua nó bằng một sự thờ ơ không thể xem là tế nhị, nể nang hay lịch sự, mà là thuần túy dửng dưng và bất khả xâm phạm, một thứ dung thứ đến mức rờn rợn, như thể chàng từ lâu đã quên hẳn cách lấy làm lạ trước những chuyện như thế. Dù là vì vị lãnh sự sau cơn bộc phát vui vẻ ấy muốn khoác cho nó một tấm áo choàng của lý trí và ý nghĩa, hay vì mối liên hệ nào khác, thì bỗng nhiên ông dựng lên một câu chuyện đàn ông và câu lạc bộ, bắt đầu, với những mạch máu trên đầu nổi căng, nói về một “Chansonette” nào đó, một cô hát rong đầu đường, một mụ đàn bà thật điên rồ, hiện đang tung hoành ở St. Pauli và, bằng những quyến rũ đầy khí chất mà ông đem tả cho người cháu, khiến cả thế giới đàn ông của cộng hòa quê nhà phải nín thở. Lưỡi ông líu đi đôi chút trong lúc kể, nhưng điều đó không làm ông bận lòng, bởi sự dung thứ không lấy gì làm lạ của người ngồi đối diện xem ra cũng bao trùm cả hiện tượng ấy. Tuy vậy, dần dần sự mệt mỏi vì hành trình, vốn đang đè bẹp ông, hiện ra rõ đến mức ngay vào khoảng mười giờ rưỡi ông đã tán thành việc chấm dứt cuộc ngồi chơi, và trong lòng chẳng mấy vui khi ở đại sảnh lại còn xảy ra cuộc gặp với Dr. Krokowski đã được nhắc đến nhiều lần, ông này đang ngồi đọc báo bên cửa một phòng khách, và được cháu ông giới thiệu làm quen. Trước lời chào vừa rắn rỏi vừa vui vẻ của vị bác sĩ, ông hầu như chẳng còn biết đáp gì ngoài “Dĩ nhiên, cố nhiên rồi”, và thấy mừng khi người cháu, sau khi báo rằng sáng mai tám giờ sẽ đến đón ông đi ăn điểm tâm, đã theo lối ban-công từ căn phòng khử trùng của Joachim trở về phòng mình, còn ông thì có thể ngã vật xuống chiếc giường của kẻ đào ngũ ấy, với điếu thuốc chúc ngủ ngon thường lệ. Suýt nữa ông đã gây ra hỏa hoạn, vì đến hai lần, điếu thuốc đang âm ỉ kẹp giữa môi, ông thiếp vào giấc ngủ.

James Tienappel, người được Hans Castorp khi thì gọi là “ông cậu James”, khi thì chỉ giản dị là “James”, là một quý ông chân dài trạc bốn mươi, mặc vải Anh và đồ vải trắng tinh tươm như hoa, tóc vàng màu hoàng yến đã thưa, hai mắt xanh xích gần nhau, một chòm ria mép nhỏ khô xác như rơm, được tỉa tót và cạo mất một nửa, cùng đôi bàn tay được chăm sóc hết sức kỹ lưỡng. Là chồng và là cha từ vài năm nay, mà không vì thế bị buộc phải rời khỏi biệt thự rộng rãi của vị lãnh sự già trên đường Harvestehuder Weg, kết hôn với một phụ nữ thuộc cùng giới giao du, người cũng văn minh và thanh nhã, cũng có lối ăn nói nhỏ nhẹ, mau mắn và nhọn sắc lịch thiệp như chính ông, ở nhà ông hiện ra là một nhà kinh doanh rất cương nghị, chu đáo và, bất chấp mọi vẻ tao nhã, lạnh lùng khách quan; nhưng trong một phạm vi phong tục xa lạ, trên đường đi, chẳng hạn ở miền nam đất nước, ông lại mang vào tác phong mình một thứ niềm nở hấp tấp nào đó, một sự sẵn sàng lịch thiệp vội vã đến độ tự xóa mình, trong đó biểu lộ không phải là gì khác ngoài sự bất an về nền văn hóa của chính mình, mà trái lại chính là ý thức về tính khép kín vững mạnh của nó, kèm theo ước muốn sửa lại sự quy định có tính quý tộc của bản thân và, ngay giữa những hình thức sinh hoạt mà ông thấy không sao tin nổi, vẫn không để lộ chút nào vẻ bỡ ngỡ. “Dĩ nhiên, tất nhiên, cố nhiên rồi!” ông vội nói, để không ai nghĩ rằng ông tuy thanh lịch nhưng đầu óc hạn hẹp. Dẫu lần này đến đây quả thật là trong một sứ mệnh công vụ xác định, tức với nhiệm vụ và ý định phải cương quyết xem xét cho ra nhẽ, phải “bóc” người bà con trẻ tuổi chậm trễ kia ra, như ông tự nhủ trong lòng, rồi đưa về nộp lại ở nhà, ông vẫn ý thức rất rõ rằng mình đang hành động trên đất lạ, ngay từ phút đầu đã nhạy cảm trước linh cảm rằng có một thế giới và một phạm vi phong tục đang đón tiếp ông với tư cách khách, một thế giới, về sự tự tin khép kín, chẳng những không kém gì thế giới của ông, mà còn vượt hơn nó ở chính điểm ấy, đến nỗi năng lực doanh nhân của ông lập tức rơi vào thế lưỡng nan với phép giáo dưỡng của mình, mà là một thế lưỡng nan rất nặng nề; bởi sự tự tín của phạm vi chủ nhà tỏ ra thật sự đè bẹp.

Chính điều ấy Hans Castorp đã thấy trước, khi trong lòng chàng đáp bức điện của vị lãnh sự bằng một câu bình thản: “Xin cứ việc!”; nhưng không nên tưởng rằng chàng có ý thức lợi dụng sức mạnh tính cách của hoàn cảnh quanh mình để chống lại ông cậu. Chàng từ lâu đã là một phần của nó quá đỗi, đến nỗi không phải chàng sử dụng nó để đối phó kẻ tấn công, mà ngược lại, nó sử dụng chàng, thành thử mọi sự diễn ra trong một sự đơn giản khách quan, từ khoảnh khắc một linh cảm đầu tiên về tính vô vọng của sứ mạng mình phảng phất thổi đến với vị lãnh sự từ chính con người của đứa cháu, cho tới đoạn kết và cục diện mà dẫu sao Hans Castorp cũng không thể không dõi theo bằng một nụ cười man mác buồn.

Sáng đầu tiên, sau bữa điểm tâm trong đó người đã ở lâu trên này giới thiệu vị khách trú đến với vầng hào quang của nhóm bạn cùng bàn, Tienappel được Hofrat Behrens, với thân hình dài thượt và sặc sỡ, theo sau là viên trợ lý đen tái, chèo vào phòng ăn để quét sơ qua nơi ấy bằng câu hỏi tu từ buổi sáng của mình: “Ngủ ngon chứ?”, cho biết, hay nói thế này, từ miệng Hofrat ông không chỉ được biết rằng đó là một ý tưởng bia bọt thật tuyệt của mình khi lên đây cho người cháu trai cô quạnh nọ chút bầu bạn, mà còn biết rằng xét theo lợi ích thiết thân của chính mình thì ông làm vậy lại càng đúng, bởi lẽ hiển nhiên ông thiếu máu hoàn toàn. Thiếu máu, ông, Tienappel sao? Ồ, còn sao nữa! Behrens nói thế và dùng ngón tay kéo mí mắt dưới của ông xuống. Rất nặng! ông ta bảo. Ngài ông cậu đây sẽ xử sự sáng suốt hẳn hoi nếu duỗi dài người cho thoải mái trên ban-công của mình vài tuần lễ và nói chung trong mọi phương diện noi theo tấm gương của người cháu. Với tình trạng của ông, chẳng có gì tỉnh táo hơn là thử sống một thời gian như người mắc _tuberculosis pulmonum_ nhẹ, mà đằng nào thì nó lúc nào cũng vẫn hiện diện. “Dĩ nhiên, cố nhiên rồi!” vị lãnh sự vội vã nói, rồi còn đứng há miệng một cách sốt sắng lịch thiệp nhìn theo dáng vị kia cổ ngẩng cao đang chèo đi thêm một lúc, trong khi người cháu đứng bên cạnh vẫn bình thản và dạn dày. Rồi họ thực hiện cuộc dạo chơi thong dong tới chiếc ghế dài bên máng nước, điều vốn là lẽ tự nhiên phải có; sau đó James Tienappel giữ giờ nằm nghỉ đầu tiên của mình, dưới sự chỉ dẫn của Hans Castorp, chàng cho ông mượn một trong những chiếc chăn lông lạc đà của mình để đắp thêm vào tấm chăn choàng mang theo, còn bản thân chàng, xét theo thời tiết mùa thu đẹp đẽ, thì chỉ một chiếc đã quá đủ; và chàng tận tình dạy ông từng động tác trong nghệ thuật quấn mình đã thành lệ truyền, thậm chí sau khi đã vê tròn và vuốt phẳng vị lãnh sự thành một xác ướp, chàng lại tháo tung tất cả ra một lần nữa, để mặc ông tự làm lấy, chỉ chêm vào bằng sự giúp sức sửa sai khi cần, thủ tục đã định sẵn ấy, và dạy ông cách gắn tấm chắn vải lanh vào ghế, hướng nó về phía mặt trời.

Vị lãnh sự đùa cợt. Tinh thần miền đồng bằng vẫn còn mạnh trong ông, và ông chế giễu những gì mình đang học kia, cũng như trước đó đã chế giễu cuộc dạo bộ có chừng mực sau bữa điểm tâm. Nhưng khi thấy nụ cười bình thản mà không hiểu của người cháu trước những câu khôi hài của mình, nụ cười trong đó toàn bộ sự tự tin khép kín của phạm vi phong tục này hiện hình, thì ông đâm sợ, ông lo cho năng lực doanh nhân của mình và vội quyết định phải xúc tiến ngay, sớm nhất có thể, ngay chính chiều nay, cuộc nói chuyện quyết định với Hofrat về việc của đứa cháu, chừng nào ông դեռ còn chút ý chí riêng, còn chút sức lực từ dưới kia để chống trả; bởi ông cảm thấy những thứ ấy đang hao hụt, cảm thấy tinh thần của chốn này đang cùng với phép giáo dưỡng của ông lập thành một liên minh thù địch nguy hiểm chống lại chúng.

Hơn nữa, ông cảm thấy Hofrat đã hoàn toàn không cần thiết khi khuyên ông trên này, vì chứng thiếu máu của mình, hãy nhập vào những thói quen của người bệnh: điều đó tự nó đã diễn ra rồi, dường như chẳng hề có một khả thể nào khác để nghĩ đến; và mức độ mà, nhờ sự điềm tĩnh cùng sự tự tín bất khả xâm phạm của Hans Castorp, điều ấy chỉ có vẻ như thế, cũng như mức độ mà trên thực tế, xét một cách tuyệt đối, chẳng có gì khác là khả hữu và khả tư cả, thì đối với một người có giáo dưỡng ngay từ đầu không thể nào phân biệt nổi. Không gì hiển nhiên hơn là sau liệu pháp nằm nghỉ đầu tiên phải đến bữa điểm tâm thứ hai hết sức thịnh soạn, từ đó cuộc dạo bộ xuống “Platz” tự nó nảy ra một cách đầy thuyết phục; và sau đó Hans Castorp lại quấn ông cậu vào chăn. Chàng quấn ông vào, chính là phải dùng chữ ấy. Và trong nắng thu, trên một chiếc ghế mà sự tiện nghi hoàn toàn không thể chối cãi, thậm chí đáng ca tụng hết lời, chàng để ông nằm đó, như chàng tự nằm, cho đến khi tiếng cồng chấn động gọi vào bữa trưa giữa vòng bệnh nhân, bữa ăn tỏ ra hạng nhất, tip-top và phong phú đến mức giờ nằm nghỉ toàn thể tiếp theo không còn là một tập quán bên ngoài nữa, mà là một nhu cầu nội tại và được thực hành từ niềm xác tín riêng tư nhất. Cứ thế tiếp diễn cho đến bữa tối đồ sộ và cuộc giao tiếp buổi chiều trong phòng khách với những món đồ đùa nghịch quang học; trước một thời khóa biểu áp đặt mình bằng vẻ hiển nhiên dịu dàng như vậy, thực sự chẳng có gì để phản đối, và ngay cả nếu năng lực phê phán của vị lãnh sự không bị suy giảm bởi một trạng thái mà ông không muốn gọi hẳn là khó ở, song vốn được cấu thành một cách phiền toái từ mệt mỏi và bứt rứt, đồng thời với những cơn nóng và rét, thì thời khóa biểu ấy cũng vẫn chẳng tạo cho ông cơ hội nào để lên tiếng phản đối.

Để xúc tiến cuộc gặp mặt với Hofrat Behrens, điều được mong đợi mà không yên, người ta đã đi theo đường công vụ: Hans Castorp nộp yêu cầu lên viên quản lý khu tắm, rồi ông này chuyển nó cho bà quản lý trưởng; nhân dịp ấy lãnh sự Tienappel làm quen với người đàn bà kỳ quặc đó theo cái cách là bà xuất hiện trên ban-công của ông, thấy ông đang nằm, và bằng những phong thái xa lạ đã khiến phép giáo dưỡng của con người bất lực bị quấn tròn như cái ống kia phải làm việc hết sức nặng nề. Ông được biết rằng ngài đây, cái con người đáng kính ấy, xin vui lòng kiên nhẫn thêm vài ngày, Hofrat bận lắm, nào mổ xẻ, nào tổng khám, nhân loại đang đau khổ phải được ưu tiên, theo các nguyên tắc Ki-tô giáo, và vì ông ta nghe đâu là người khỏe mạnh, vậy thì đành phải làm quen với chuyện ở đây ông không phải số một, mà phải lùi lại và chờ. Khác hẳn nếu như ông muốn xin được khám, điều mà bà, Adriatica, cũng chẳng lấy gì làm lạ; ông cứ nhìn bà đi chứ, thế này, mắt đối mắt, mắt ông có phần đục và chập chờn, và nhìn cái cách ông nằm đó trước mặt bà thì tổng thể xem ra cũng chẳng khác mấy như thể nơi ông cũng không phải mọi sự đều thật sự ổn cả, không thật _sauber_ cho lắm, ông cứ hiểu cho đúng ý bà; còn bây giờ yêu cầu của ông là về một cuộc khám hay một cuộc nói chuyện riêng. Là cái sau, cố nhiên rồi, một cuộc nói chuyện riêng! người đang nằm bảo đảm. Vậy thì ông cứ chờ đến lúc có tin. Hofrat hiếm khi có thì giờ cho những cuộc nói chuyện riêng.

Nói tóm lại, mọi sự đều diễn ra khác với điều James đã hình dung, và cuộc nói chuyện với bà quản lý trưởng đã giáng một đòn dai dẳng vào thế quân bình của ông. Quá văn minh để bất nhã mà bảo với người cháu, người mà sự đồng điệu với những hiện tượng trên này lộ ra rõ rệt qua vẻ bình thản bất khả xâm phạm của chàng, rằng ông thấy mụ đàn bà ấy ghê sợ đến đâu, ông chỉ dè dặt gõ cửa mà hỏi chàng xem bà quản lý trưởng hẳn là một quý bà thật khác thường, điều Hans Castorp, sau khi liếc thoáng một cái dò xét lên không trung, đã nửa chừng thừa nhận bằng cách hỏi ngược lại rằng Mylendonk có bán cho ông một cái nhiệt kế không. “Không, cho tôi ấy à? Đó là nghề của bà ta sao?” ông cậu đáp lại... Nhưng điều tệ hại là, như nét mặt người cháu cho thấy hết sức rõ, chàng cũng sẽ chẳng ngạc nhiên hơn chút nào nếu điều chàng vừa hỏi thực sự đã xảy ra. “Chúng tôi không rét”, ấy là điều viết trên gương mặt ấy. Còn vị lãnh sự thì rét, ông rét mãi với cái đầu nóng bừng, và ông nghĩ rằng nếu quả thật bà quản lý trưởng đã ngỏ bán cho mình một cái nhiệt kế, ắt hẳn ông đã từ chối, nhưng rốt cuộc như thế có lẽ lại không đúng, vì một cách văn minh người ta không thể dùng đồ của người khác, chẳng hạn của chính đứa cháu.

Thế là vài ngày trôi qua, bốn hay năm ngày. Cuộc sống của người sứ giả chạy trên đường ray, trên đúng những đường ray đã được đặt sẵn cho ông, và chuyện nó có thể chạy ra ngoài những đường ấy dường như là điều không thể nghĩ tới. Vị lãnh sự có những trải nghiệm của mình, thu lấy những ấn tượng của mình; ta sẽ không nghe trộm ông thêm ở đó nữa. Một hôm trong phòng Hans Castorp, ông nhặt lên một tấm kính đen, đặt trên mặt tủ com-mốt, giữa những món tư hữu nho nhỏ khác mà chủ nhân dùng để trang điểm nơi ở sạch sẽ của mình, dựa vào một giá vẽ thu nhỏ chạm trổ; giơ lên ngược sáng, nó hiện ra là một âm bản nhiếp ảnh. “Cái gì đây?” ông cậu vừa ngắm vừa hỏi... Ông hẳn có lý mà hỏi! Bức chân dung ấy không có đầu, đó là bộ xương của phần trên cơ thể người trong một lớp thịt mờ sương, mà lại là một thân nữ nữa, như người ta có thể nhận ra. “Cái ấy à? Một món kỷ niệm,” Hans Castorp đáp. Sau đó ông cậu nói “Pardon!”, đặt bức hình trở lại giá vẽ rồi vội vàng tránh xa nó. Chỉ xin kể vậy như một thí dụ về những trải nghiệm và ấn tượng của ông trong bốn, năm ngày ấy. Ông cũng dự một _Conférence_ của Dr. Krokowski, vì không thể nào tự loại mình ra khỏi đó. Còn về cuộc nói chuyện riêng mong mỏi với Hofrat Behrens, thì đến ngày thứ sáu ông được toại nguyện. Ông được gọi, và sau bữa điểm tâm ông đi xuống tầng hầm, quyết tâm nói một lời nghiêm chỉnh với người đàn ông ấy về đứa cháu mình và sự tiêu phí thời gian của nó.

Khi trở lên lại, ông hạ giọng hỏi:

“Cháu đã từng nghe cái gì như thế bao giờ chưa?!”

Nhưng rõ ràng là hẳn Hans Castorp cũng đã từng nghe những điều như thế, và ngay cả vì thế mà chàng cũng chẳng thấy lạnh sống lưng; bởi vậy ông thôi không nói tiếp nữa, chỉ đáp lại câu hỏi gặng lại, nghe chẳng mấy sốt sắng, của đứa cháu bằng một tiếng: “Không, không”, nhưng từ giờ phút ấy lại có thêm một thói quen mới: tức là cau mày, chúm môi, nheo mắt ngước chếch lên một nơi nào đó, rồi bất thần hất mạnh đầu sang phía khác mà hướng cái nhìn vừa tả sang chiều ngược lại... Cuộc nói chuyện với Behrens có phải cũng đã diễn ra khác với điều viên Lãnh sự tưởng chăng? Phải chăng rốt cuộc người ta đã không chỉ nói đến Hans Castorp mà còn nói đến chính ông nữa, James Tienappel, đến nỗi cuộc chuyện trò đã mất hẳn tính chất một cuộc đàm đạo riêng? Cách cư xử của ông khiến người ta phải nghĩ như vậy. Viên Lãnh sự tỏ ra hết sức phấn chấn, huyên thuyên lắm lời, cười vô cớ, lại còn lấy nắm tay thúc vào hông đứa cháu mà reo lên: “Này, lão bạn già!” Xen giữa những lúc ấy là cái nhìn kia, về hướng này rồi đột ngột sang hướng nọ. Nhưng mắt ông cũng còn đi những con đường xác định hơn, cả ở bàn ăn lẫn trên các lối đi lại và trong buổi tụ họp chiều tối.

Viên Lãnh sự thoạt đầu chẳng hề đặc biệt chú ý tới một Frau Redisch nào đó, vợ một nhà công nghiệp Ba Lan, ngồi ở bàn của Frau Salomon hiện vắng mặt cùng cậu học sinh phàm ăn đeo kính tròn; và thật vậy, bà cũng chỉ là một quý bà phòng nằm nghỉ như bao người khác, lại còn là một người đàn bà tóc nâu, tầm thước, đẫy đà, không còn trẻ nữa, tóc đã lấm tấm bạc, song có chiếc cằm đôi thanh tú và đôi mắt nâu linh hoạt. Không thể nào nghĩ rằng về phương diện văn minh lịch sự, bà ta lại có thể đem ra so với bà Lãnh sự Tienappel ở miền đồng bằng dưới kia. Nhưng rồi tối Chủ nhật, sau bữa ăn khuya, trong đại sảnh, nhờ chiếc váy đen đính paillette khoét ngực bà mặc, viên Lãnh sự đã khám phá ra rằng Frau Redisch có bộ ngực, một đôi vú đàn bà trắng nhợt, bị ép sít mạnh, mà đường phân chia của chúng lộ ra khá sâu; và sự khám phá ấy đã làm rung chuyển, làm mê say người đàn ông chín chắn và tinh tế ấy đến tận đáy tâm hồn, như thể đó là một điều hệ trọng hoàn toàn mới mẻ, chưa từng ngờ tới, chưa từng nghe nói. Ông tìm cách làm quen với Frau Redisch, chuyện trò với bà khá lâu, lúc đầu đứng, rồi sau ngồi, và đi ngủ trong tiếng hát. Sang ngày hôm sau Frau Redisch không còn mặc chiếc váy đen đính paillette nữa, mà đã che kín mình; nhưng viên Lãnh sự biết điều ông biết và vẫn trung thành với những ấn tượng của mình. Ông tìm cách chặn bà trên các lối đi để cùng sánh bước bên cạnh bà mà chuyện trò, với một kiểu chăm chú hướng về và ngả lòng về phía bà thật riêng biệt, thật khẩn khoản và duyên dáng; ở bàn ăn ông nâng chén mời bà, bà đáp lại bằng một nụ cười làm lấp lánh những mũ chụp vàng bọc ngoài mấy chiếc răng của mình; và trong cuộc trò chuyện với đứa cháu, ông còn công khai tuyên bố bà là một “người đàn bà thần thánh”, rồi sau đó lại bắt đầu ca hát. Hans Castorp bình thản nhẫn nại chịu đựng tất cả những điều ấy, với một vẻ mặt như thể mọi sự tất phải là như vậy. Nhưng điều đó hầu như chẳng thể củng cố uy quyền của người thân lớn tuổi, và lại càng ít phù hợp với sứ mạng của viên Lãnh sự.

Bữa ăn mà ông nâng ly chào Frau Redisch, những hai lần, một lần ở món cá hầm ragout và sau đó ở món sorbet, cũng chính là bữa Hofrat Behrens dùng tại bàn của Hans Castorp và vị khách của chàng, vì ông vẫn tuần tự ghé dự ở cả bảy bàn, và ở đâu cũng dành sẵn cho ông chỗ ngồi tại đầu hẹp phía trên. Đôi bàn tay khổng lồ chắp lại trước đĩa, ông ngồi đó với chòm râu con con túm lại, giữa Herr Wehsal và gã gù người Mễ Tây Cơ, với kẻ sau ông nói tiếng Tây Ban Nha, bởi ông thông thạo mọi thứ tiếng, cả tiếng Thổ lẫn tiếng Hung, và lấy cặp mắt xanh lồi, đỏ ngầu tia máu, nhìn viên Lãnh sự Tienappel bên kia bàn giơ ly Bordeaux chào Frau Redisch. Về sau, trong khi ăn, Hofrat còn thuyết một bài nho nhỏ, do James khích lên, khi từ đầu nọ của chiếc bàn, ông ta buột miệng nêu ra cho Hofrat câu hỏi rằng con người thối rữa thì ra sao. Dẫu sao Hofrat cũng từng nghiên cứu phần xác, thân xác rõ ràng chính là chuyên môn của ông, có thể nói ông là một thứ vương công của thể xác, nếu được phép nói vậy, thế thì giờ xin ông kể thử xem khi thân xác tan rữa đi thì mọi sự diễn ra như thế nào!

“Trước hết bụng ông sẽ nổ tung,” Hofrat đáp, khuỷu tay chống xuống, người cúi qua hai bàn tay chắp lại. “Ông nằm đó trên mạt bào với mùn cưa của mình, và khí, ông hiểu chứ, sẽ làm ông trướng lên, phồng ông lên ghê gớm, như lũ nhãi ranh ác ý vẫn làm với ếch, khi chúng thổi hơi vào chúng; rốt cuộc ông sẽ là hẳn một quả bóng, rồi thành bụng của ông không chịu nổi sức căng ấy nữa mà bục ra. Bốp một cái, ông nhẹ người đi thấy rõ, ông làm giống Judas Ischarioth khi hắn rơi khỏi cành cây: ông xổ tung cả ra. Ấy, và sau đó thì thật ra ông lại đủ tư cách vào xã hội. Nếu được nghỉ phép, ông có thể đến thăm những người còn sống sau mình mà chẳng gây thêm sự chướng tai gai mắt nào. Người ta gọi đó là đã hết bốc mùi. Sau đó, nếu đem ra không khí, ông lại sẽ thành một tay bảnh bao thực sự, như những công dân Palermo treo mình trong các hành lang hầm mộ của các thầy Capuchin gần Porta Nuova. Họ treo ở đó, khô ráo và thanh nhã, hưởng sự kính trọng chung của mọi người. Cốt chỉ là phải hết bốc mùi.”

“Dĩ nhiên!” viên Lãnh sự nói. “Tôi vô cùng cảm tạ!” Và sáng hôm sau ông biến mất.

Ông đã đi rồi, lên đường, trên chuyến tàu tí hon sớm nhất xuống miền đồng bằng, dĩ nhiên không phải là không thu xếp mọi công chuyện của mình: ai lại có thể nghĩ khác! Ông đã thanh toán hóa đơn, nộp thù lao cho cuộc khám đã diễn ra, lặng lẽ, không hé với người bà con của mình một lời nào, sắp sẵn hai chiếc va-li xách tay, việc ấy hẳn đã được làm từ tối hoặc vào lúc gần sáng, khi người ta còn đang ngủ say ban đêm; và khi Hans Castorp vào phòng ông cậu vào giờ điểm tâm thứ nhất, chàng thấy căn phòng đã trống không.

Chàng đứng chống nạnh và nói: “Ra thế, ra thế.” Chính lúc này, một nụ cười u uất hiện hình trên nét mặt chàng. “À ra vậy,” chàng nói và gật đầu. Thế là đã có kẻ tẩu thoát. Trong một nỗi vội vàng câm lặng, như thể phải chớp lấy nghị lực quyết định của một khoảnh khắc và tuyệt đối không được bỏ lỡ chính khoảnh khắc ấy, ông ta đã quẳng đồ đạc vào va-li rồi đi biệt: một mình, chứ không phải hai người, không phải sau khi hoàn thành sứ mạng danh dự của mình, mà mừng rỡ vì chí ít cũng còn đơn độc mà thoát thân được, ông chú James, người lương thiện và kẻ đào ngũ về với lá cờ miền đồng bằng. Nào, chúc chuyến đi may mắn!

Hans Castorp không để ai nhận ra rằng chàng hoàn toàn không biết gì về cuộc ra đi sắp tới của ông khách bà con, nhất là không để người khập khiễng kia nhận ra, kẻ đã đưa viên Lãnh sự ra ga. Chàng nhận được một tấm bưu thiếp gửi từ Bodensee, nội dung rằng James đã nhận một bức điện tín gọi ông lập tức về miền đồng bằng vì việc làm ăn. Ông không muốn quấy rầy đứa cháu. Một lời dối trá theo phép tắc. “Chúc cháu tiếp tục ở lại dễ chịu!” Đó có phải là giễu cợt chăng? Nếu thế thì đó là một lối giễu cợt khá gượng ép, Hans Castorp nghĩ vậy, bởi ông cậu hẳn quyết không có lòng dạ nào mà giễu cợt hay đùa bỡn vào lúc ông lao mình vào cuộc ra đi ấy; trái lại, trong thâm tâm và bằng hình dung nội tại, ông đã nhận ra, với nỗi kinh hãi tái mặt, rằng nếu bây giờ, sau tám ngày lưu lại trên này, ông trở về miền đồng bằng, thì trong một khoảng khá lâu ở dưới ấy, ông sẽ thấy hoàn toàn sai trái, không tự nhiên và không được phép, nếu sau bữa điểm tâm lại không đi tản bộ công vụ, rồi tiếp đó không theo nghi lễ mà quấn chăn nằm ngang ngoài trời, nhưng thay vào đó lại đi tới văn phòng của mình. Và chính nhận thức đáng kinh hoàng ấy đã là nguyên nhân trực tiếp của cuộc trốn chạy của ông.

Thế là nỗ lực của miền đồng bằng nhằm đuổi kịp lại Hans Castorp, kẻ đã ở ngoài tầm với của nó, chấm dứt như vậy. Chàng trai không hề che giấu với chính mình rằng sự thất bại hoàn toàn ấy, điều chàng đã thấy trước, có ý nghĩa quyết định đối với quan hệ của chàng với những người dưới kia. Đối với miền đồng bằng, nó có nghĩa là một sự từ bỏ sau cùng kèm cái nhún vai; còn đối với chàng, đó là tự do đã thành toàn, trước tự do ấy trái tim chàng giờ đây không còn run rẩy nữa.

_Những thao tác tinh thần_

Leo Naphta xuất thân từ một thị trấn nhỏ gần biên giới Galicia-Volhynia. Về cha mình, người mà ông nói tới với lòng kính trọng, hiển nhiên trong cảm thức rằng tới nay ông đã lớn vượt khỏi thế giới nguyên thủy của mình đủ xa để có thể phán xét nó một cách khoan hậu, ông kể rằng người ấy từng là _schochet_, một người giết mổ theo nghi thức, và nghề này khác nghề đồ tể Kitô giáo, vốn vừa là thợ thủ công vừa là nhà buôn, biết bao. Cha của Leo thì không vậy. Ông là một chức dịch, mà lại là một chức dịch thuộc giới tinh thần. Đã được vị rabbi khảo nghiệm về sự thành thạo mộ đạo của mình và ủy quyền giết các súc vật được phép giết theo luật Moses, chiếu theo những quy định của Talmud, Elia Naphta, mà theo lời người con thì đôi mắt xanh của ông từng tỏa ánh sao, từng đầy một vẻ tinh thần tĩnh lặng, bản thân cũng đã tiếp nhận vào bản tính mình một cái gì như phẩm cách tư tế, một vẻ trang nghiêm gợi nhớ rằng thuở xưa việc giết súc vật tế thịt quả thật vốn là công việc của các thầy tư tế. Khi Leo, hay Leib như cậu được gọi hồi nhỏ, được phép đứng xem cha mình trong sân nhà, với sự phụ giúp của một người làm lực lưỡng, một chàng trai mang tầm vóc Do Thái lực sĩ, bên cạnh đó Elia gầy gò với chòm râu tròn vàng hoe của mình lại càng hiện ra thanh mảnh và mềm yếu hơn, thi hành chức phận nghi lễ của ông thế nào, vung con dao schachot lớn vào con vật bị trói chặt và bị bịt mõm nhưng chưa hề bị làm cho bất tỉnh, để lưỡi dao giáng xuống thành một nhát cắt sâu ở vùng đốt sống cổ ra sao, trong khi người làm hứng lấy dòng máu phun ra, bốc khói, vào những chiếc bát đang mau chóng đầy lên, thì cậu đã thu nhận quang cảnh ấy bằng cái nhìn trẻ thơ, cái nhìn xuyên qua cái cảm tính mà thấu vào bản chất, và điều đó hẳn vốn thuộc riêng cho con trai của Elia mắt sao ấy ở một mức độ đặc biệt. Cậu biết rằng những người đồ tể Kitô giáo buộc phải dùng dùi cui hoặc rìu đánh cho súc vật bất tỉnh trước khi giết chúng, và quy định ấy được đặt ra cho họ để tránh sự hành hạ súc vật và sự tàn nhẫn; trong khi cha cậu, tuy mềm yếu hơn và khôn ngoan hơn đám đầu bò ấy biết bao, lại còn có đôi mắt sao chẳng ai trong số họ có được, vẫn hành xử theo luật, bằng cách giáng nhát cắt sát sinh lên tạo vật lúc nó còn nguyên tri giác và để nó chảy máu cho đến khi gục xuống. Cậu bé Leib cảm thấy rằng phương pháp của đám Gojim thô lậu kia bị chi phối bởi một thứ lòng tốt xuề xòa và phàm tục, thứ lòng tốt không tôn vinh cái thiêng liêng ngang với sự vô xót thương trang trọng trong tập quán của cha cậu; và trong tâm trí cậu, ý niệm về lòng mộ đạo vì thế kết hợp với ý niệm về sự tàn nhẫn, cũng như trong trí tưởng tượng của cậu, hình ảnh và mùi của dòng máu phun trào kết hợp với ý niệm về cái thiêng và cái tinh thần. Vì cậu thấy rất rõ rằng cha mình đã không chọn nghề đẫm máu ấy vì cái thú vị thô bạo mà những chàng trai Kitô giáo lực lưỡng, hay ngay cả chính người làm Do Thái của ông, có thể tìm thấy trong đó, mà là theo cách của tinh thần, và, với một thể chất mảnh dẻ, theo ý nghĩa của đôi mắt đầy sao ấy.

Thật vậy, Elia Naphta từng là một người trầm tư mặc tưởng, một kẻ khảo cứu và suy ngẫm, không chỉ là người tra cứu Thora mà còn là một nhà phê bình Kinh văn, người tranh biện với vị rabbi về các mệnh đề của sách và không hiếm khi bất hòa với ông. Trong vùng ấy, và không chỉ giữa những người đồng đạo của mình, ông được coi là một người đặc biệt, một kẻ biết nhiều hơn người khác, phần nào theo nghĩa mộ đạo, nhưng phần khác lại theo một cách có thể không hoàn toàn lành và dù sao cũng chẳng nằm trong trật tự thông thường. Có cái gì bất quy củ, gần như bè phái, bám vào ông, một cái gì như ở kẻ được Chúa tâm tình, một Baal-Schem hay một Zaddik, nghĩa là một bậc làm phép lạ, nhất là vì quả thật có lần ông đã chữa khỏi cho một người đàn bà mắc chứng phát ban dữ dội, lần khác chữa cơn co giật cho một đứa bé trai, mà lại chữa bằng máu và những câu chú. Nhưng chính hào quang của một lòng mộ đạo theo lối nào đó có phần liều lĩnh ấy, trong đó mùi máu từ nghề nghiệp của ông cũng đóng một vai trò, đã trở thành tai ương của ông. Bởi nhân một cuộc dân biến và cơn cuồng nộ hoảng loạn bùng lên do cái chết không được làm sáng tỏ của hai đứa trẻ Kitô giáo, Elia đã chết một cách khủng khiếp: bị đóng đinh bằng đinh sắt như trên thập tự, người ta tìm thấy ông treo trên cánh cửa ngôi nhà đang cháy của mình; rồi người vợ của ông, tuy bị bệnh lao và liệt giường, đã cùng các con, cậu bé Leib và bốn anh chị em của cậu, tất cả đều giơ tay lên trời mà gào khóc than van, phải lưu lạc chạy trốn khỏi xứ sở.

Không hoàn toàn cùng quẫn, nhờ sự phòng xa của Elia, gia đình bị quật ngã ấy đã yên thân tại một thị trấn nhỏ ở Vorarlberg, nơi bà Naphta kiếm được việc trong một xưởng kéo sợi bông và làm chừng nào sức lực còn cho phép; trong khi những đứa trẻ lớn hơn đi học trường làng. Nhưng nếu những phần ăn tinh thần mà nhà trường ấy cung cấp có thể đủ với thể chất và nhu cầu của các anh chị em của Leo, thì đối với chính cậu, người con cả, điều đó khác xa. Từ mẹ, cậu thừa hưởng mầm bệnh ở ngực; còn từ cha, ngoài vóc người thanh mảnh, cậu thừa hưởng một trí năng khác thường, những thiên tư tinh thần sớm kết hợp với những bản năng kiêu ngạo, một hoài bão cao hơn, một nỗi khát khao xoáy sâu hướng tới những hình thức tồn tại quý phái hơn, và thôi thúc cậu vươn lên một cách đam mê vượt khỏi lĩnh vực xuất thân của mình. Ngoài nhà trường, từ năm mười bốn, mười lăm tuổi, cậu đã bằng những cuốn sách mà cậu biết cách kiếm cho mình, tiếp tục tự bồi dưỡng tinh thần một cách vô phép tắc và thiếu kiên nhẫn, cấp dưỡng cho trí tuệ mình. Cậu nghĩ và nói ra những điều khiến người mẹ còm cõi, ốm yếu của cậu phải rụt đầu nghiêng vào giữa hai vai và giơ cả hai bàn tay gầy guộc lên. Trong giờ học giáo lý, bản tính và những lời đáp của cậu níu lấy sự chú ý của vị rabbi giáo hạt, một con người mộ đạo và uyên bác, người đã nhận cậu làm học trò riêng và làm no thỏa khuynh hướng hình thức của cậu bằng việc dạy tiếng Hebrew cùng các ngôn ngữ cổ điển, còn khuynh hướng logic của cậu thì bằng sự chỉ dẫn toán học. Nhưng đổi lại, người tốt bụng ấy đã gặt một món đền đáp khá cay đắng; càng về sau người ta càng thấy rõ rằng ông đã nuôi một con rắn trong lòng. Cũng như xưa kia giữa Elia Naphta và vị rabbi của ông, ở đây cũng vậy: họ không hợp nhau, giữa thầy và trò nảy ra những va chạm tôn giáo và triết học ngày một gay gắt, và nhà thông kinh chính trực kia phải chịu đựng đủ mọi nỗi khổ có thể tưởng tượng nổi trước tính phản nghịch của trí tuệ, thói soi mói và thích ngờ vực, tinh thần phản bác và phép biện luận sắc lẹm của chàng Leo trẻ tuổi. Thêm vào đó, tính chất xoi móc cùng lối đào bới của trí năng Leo gần đây còn mang một sắc thái cách mạng: sự quen biết với con trai của một nghị viên Reichsrat thuộc phái dân chủ xã hội, và với chính nhân vật anh hùng của quần chúng ấy, đã đưa tinh thần cậu vào những con đường chính trị, đã trao cho niềm say mê logic của cậu một hướng phê phán xã hội; cậu diễn thuyết những điều khiến ông học giả Talmud hiền lành, vốn rất quý lòng trung thành của chính mình, phải dựng tóc gáy, và như vậy đã đặt dấu chấm hết cho mọi hòa hợp còn sót lại giữa thầy và trò. Nói ngắn lại, sự tình đã đi đến mức Naphta bị vị thầy ruồng bỏ, bị cấm cửa vĩnh viễn khỏi phòng làm việc của ông, mà lại đúng vào quãng thời gian mẹ cậu, Rahel Naphta, đang hấp hối.

Chính vào dạo ấy nữa, ngay sau khi người mẹ qua đời, Leo đã làm quen với cha Unterpertinger. Cậu thiếu niên mười sáu tuổi ngồi cô độc trên một chiếc ghế trong khu công viên của nơi gọi là Margaretenkopf, một gò cao ở phía tây thị trấn, bên bờ sông Ill, từ đó có thể phóng tầm mắt ra xa, thanh sáng, khắp thung lũng sông Rhein, ngồi đó, chìm trong những ý nghĩ u ám và cay đắng về số phận mình, về tương lai mình, thì một thành viên đang dạo chơi của ban giáo học thuộc nội trú viện Dòng Tên mang tên “Morgenstern” đến ngồi bên cạnh, đặt mũ xuống bên mình, bắt chéo chân dưới vạt áo chùng, rồi sau một lúc đọc sách kinh nhật tụng đã khơi ra một cuộc chuyện trò; cuộc chuyện trò ấy phát triển hết sức sôi nổi và rồi sẽ trở thành điều quyết định đối với số phận Leo. Vị tu sĩ Dòng Tên ấy, một người từng trải, phong nhã, say mê nghề giáo, sành người và khéo lưới người, đã chăm chú lắng nghe ngay từ những câu đáp đầu tiên, được cậu thiếu niên Do Thái khốn khổ phát âm rành rẽ với một vẻ sáng suốt giễu cợt. Từ đó phả ra về phía ông một thứ trí tuệ sắc nhọn và đau đớn; và khi dò sâu thêm, ông bắt gặp một vốn hiểu biết cùng một vẻ tao nhã hiểm độc trong tư duy, càng gây ngạc nhiên hơn bởi bộ dạng rách rưới của chàng trai trẻ. Người ta nói tới Marx, bộ “Tư bản” của ông này Leo Naphta đã nghiền ngẫm trong một bản phổ thông, rồi từ đó chuyển sang Hegel, người mà chàng cũng đã đọc đủ để có thể phát biểu đôi điều sắc sảo. Có thể vì một thiên hướng chung đối với nghịch luận, cũng có thể vì chủ ý lịch thiệp, chàng gọi Hegel là một nhà tư tưởng “Công giáo”; và trước câu hỏi mỉm cười của cha, rằng có thể biện minh điều ấy ra sao khi Hegel, với tư cách triết gia nhà nước Phổ, hẳn phải được xem, theo bản chất sâu xa nhất, là một người Kháng Cách, chàng đáp rằng chính danh xưng “triết gia nhà nước” càng xác nhận rằng mình đúng khi quả quyết về tính Công giáo của Hegel, theo nghĩa tôn giáo, dù dĩ nhiên không phải theo nghĩa giáo hội-tín điều. _Bởi vì_ (Naphta đặc biệt ưa liên từ này; trong miệng chàng nó có một cái gì đó vừa đắc thắng vừa nghiệt ngã, và đôi mắt sau tròng kính của chàng lại lóe lên mỗi lần chàng có thể chen nó vào), bởi vì khái niệm về cái chính trị gắn liền với khái niệm về cái Công giáo trên phương diện tâm lý, chúng hợp thành một phạm trù bao trùm mọi cái khách quan, mọi sự nghiệp, mọi hoạt động, mọi sự hiện thực hóa, mọi cái tác động ra bên ngoài. Đối diện với nó là lĩnh vực Kháng Cách mang màu sắc sùng tín, nảy sinh từ huyền nhiệm. Chàng nói thêm, trong Dòng Tên, bản chất chính trị-sư phạm của Công giáo hiện ra thật hiển nhiên; nghệ thuật trị quốc và giáo dục, dòng này từ xưa vẫn xem như những lãnh địa của mình. Chàng còn nhắc đến Goethe, người tuy bén rễ trong tinh thần sùng tín và chắc chắn là Kháng Cách, nhưng lại có một phương diện hết sức Công giáo, tức là nhờ chủ nghĩa khách quan và học thuyết hành động của ông. Ông đã bênh vực phép xưng tội vào tai, và với tư cách một nhà giáo dục, hầu như đã là một tu sĩ Dòng Tên.

Dù Naphta đã trình bày những điều ấy vì chàng tin ở chúng, hay vì chàng thấy chúng dí dỏm, hay để nói cho vừa tai người nghe, như một kẻ nghèo buộc phải nịnh nọt và tính toán kỹ mình có thể giúp ích ra sao, có thể gây hại ra sao, thì cha cũng chẳng bận tâm đến giá trị chân thực của chúng bằng cái sự thông minh tổng quát mà chúng chứng tỏ; câu chuyện cứ thế tiếp diễn, hoàn cảnh riêng của Leo chẳng bao lâu đã được vị tu sĩ Dòng Tên biết rõ, và cuộc gặp gỡ khép lại bằng lời mời của Unterpertinger bảo Leo đến thăm mình tại học viện.

Thế là Naphta đã được phép bước chân lên mảnh đất của _Stella matutina_, nơi mà từ lâu, trong tưởng tượng, bầu không khí vừa đầy tham vọng khoa học vừa đầy đòi hỏi xã hội của nó đã kích thích nỗi khát khao nơi chàng; và hơn thế nữa: bước ngoặt ấy còn đem đến cho chàng một người thầy, một vị ân nhân mới, có tâm thế đánh giá và nâng đỡ bản tính chàng hơn hẳn người trước, một bậc thầy mà lòng tốt, vốn lạnh theo bản tính của nó, lại dựa trên sự từng trải phong nhã với đời, và vào vòng sống của người ấy chàng khao khát được xâm nhập vô cùng. Giống như nhiều người Do Thái giàu trí tuệ khác, Naphta theo bản năng vừa là người cách mạng vừa là kẻ quý tộc; là người xã hội chủ nghĩa, mà đồng thời lại bị ám bởi giấc mơ được dự phần vào những hình thức tồn tại kiêu hãnh và cao quý, khép kín và có luật lệ. Lời phát biểu đầu tiên mà sự hiện diện của một nhà thần học Công giáo đã gợi ra nơi chàng, tuy tự trình hiện như một nhận xét hoàn toàn có tính phân tích-so sánh, kỳ thực lại là một lời tỏ tình với Giáo hội La Mã, mà chàng cảm thấy là một quyền lực vừa cao quý vừa tinh thần, nghĩa là phản vật chất, phản thực tại và phản thế gian, do đó là một quyền lực cách mạng. Và sự tôn sùng ấy là chân thực, phát xuất từ chính trung tâm bản thể chàng; bởi lẽ, như chàng tự cắt nghĩa, Do Thái giáo, do xu hướng hướng về cái trần thế-sự vật, do tính xã hội chủ nghĩa của nó, do tinh thần chính trị của nó, gần với lĩnh vực Công giáo hơn rất xa, thân thuộc với nó hơn hẳn đạo Kháng Cách trong cơn say mê đắm chìm nội tâm và tính chủ quan huyền nhiệm của mình, cũng như vì thế mà việc một người Do Thái cải sang Giáo hội La Mã dứt khoát là một biến cố ít cưỡng bách về tinh thần hơn là việc một người Kháng Cách cải đạo.

Bất hòa với vị mục tử của cộng đồng tôn giáo nguyên thủy của mình, mồ côi và bị bỏ rơi, lại đầy khao khát một bầu không khí sống trong sạch hơn, những hình thức tồn tại mà các thiên tư của chàng cho chàng quyền được hưởng, Naphta, kẻ từ lâu đã đạt tới cái tuổi luật định để tự phân định, đã nóng lòng sẵn sàng cho việc đổi tín ngưỡng đến nỗi “người phát hiện” ra chàng thấy mình khỏi phải tốn bất cứ công sức nào để chinh phục linh hồn ấy, hay đúng hơn, cái đầu óc khác thường ấy, cho thế giới đức tin của mình. Ngay trước khi chịu phép rửa tội, do sự thu xếp của cha, Leo đã tìm được trong “_Stella_” một chỗ trú ngụ tạm thời, sự nuôi dưỡng về thể xác và tinh thần. Chàng đã dọn đến đó, với một sự thản nhiên tuyệt đối, với tính vô cảm của một kẻ quý tộc tinh thần giữa hàng ngũ người nghèo, mà bỏ mặc những đứa em nhỏ hơn của mình cho sự cứu tế công cộng và cho một số phận xứng với tài năng thấp kém của chúng.

Đất đai của cơ sở giáo dục này cũng rộng lớn như các dãy nhà của nó, đủ chỗ cho gần bốn trăm học sinh nội trú. Toàn bộ khu này gồm rừng và đồng cỏ chăn thả, nửa tá sân chơi, các công trình nông nghiệp, những chuồng trại cho hàng trăm con bò. Học viện ấy đồng thời là nội trú viện, nông trại kiểu mẫu, học viện thể thao, trường bác học và đền thờ các nữ thần nghệ thuật; bởi lẽ kịch và nhạc luôn luôn diễn ra không ngớt. Đời sống ở đây mang tính vừa quý phái vừa tu viện. Với kỷ luật và vẻ thanh nhã, vẻ tiết chế vui tươi, tính tinh thần và sự chăm chút tươm tất, sự chính xác trong thời khóa biểu phong phú của mình, nó vuốt ve những bản năng sâu kín nhất của Leo. Chàng sung sướng đến tột độ. Chàng dùng những bữa ăn tuyệt hảo trong một phòng ăn rộng, nơi luật im lặng ngự trị cũng như trên các hành lang của học viện, và giữa phòng, một giám thị trẻ ngồi trên bục cao đã giải trí cho những người đang ăn bằng cách đọc thành tiếng. Lòng hăng hái của chàng trong giờ học nóng bỏng, và dù ngực yếu, chàng vẫn đem hết sức để buổi chiều tỏ ra xứng đáng trong trò chơi và thể thao. Sự sốt sắng mà chàng ngày ngày dự lễ sớm, và ngày Chủ nhật tham dự thánh lễ trọng, hẳn phải làm các cha giáo dục hài lòng. Tác phong xã hội của chàng cũng làm họ thỏa mãn không kém. Vào những ngày lễ, buổi chiều, sau khi đã dùng bánh ngọt và rượu vang, chàng mặc đồng phục xám và xanh lục, cổ đứng, quần có sọc, đội mũ kêpi, mà đi dạo theo hàng ngũ.

Một niềm say mê biết ơn tràn ngập chàng trước sự tế nhị dành cho nguồn gốc của chàng, cho đạo Kitô mới nhập của chàng, nói chung là cho những hoàn cảnh riêng của chàng. Không ai có vẻ biết rằng chỗ chàng giữ trong học viện là một suất miễn phí. Nội quy của nhà trường hướng sự chú ý của các bạn đồng học ra khỏi sự thật rằng chàng không có chỗ dựa gia đình, không có quê nhà. Việc nhận các bưu kiện chứa thực phẩm và đồ ngon ngọt bị cấm chung. Những gì dẫu vậy vẫn gửi đến thì được chia đều, và Leo cũng nhận một phần trong đó. Tính chất quốc tế của học viện ngăn không cho dấu ấn chủng tộc của chàng nổi bật một cách khả nghi. Ở đó có những người ngoại lai trẻ tuổi, những người Nam Mỹ gốc Bồ Đào Nha trông còn “Do Thái” hơn chàng, và như thế khái niệm ấy tan biến đi. Vị hoàng tử Ethiopia, người được nhận vào cùng thời với Naphta, thậm chí còn thuộc hẳn một kiểu người da đen tóc quăn như len, song lại rất mực cao quý.

Trong lớp Tu từ, Leo bày tỏ nguyện vọng được học thần học để một ngày kia, nếu quả thật được xét là xứng đáng, sẽ được thuộc về dòng. Hệ quả là người ta chuyển suất miễn phí của chàng từ “Khu nội trú thứ Hai”, nơi chi phí và lối sinh hoạt giản hơn, sang “Khu thứ Nhất”. Nay ở bàn ăn, chàng được gia nhân hầu hạ, và buồng ngủ của chàng ở kề một bên là buồng của một bá tước xứ Silesia, von Harbuval und Chamaré, còn bên kia là buồng của một hầu tước Marquis di Rangoni-Santacroce ở Modena. Chàng hoàn tất việc học một cách xuất sắc và, trung thành với quyết định của mình, đổi đời sống học sinh ở học viện giáo dưỡng lấy đời sống của nhà tập bên cạnh tại Tisis, một đời sống của sự khiêm nhường phục vụ, sự phục tùng lặng im và sự rèn luyện tôn giáo, từ đó chàng rút ra những khoái cảm tinh thần theo đúng nghĩa những quan niệm cuồng tín thuở trước.

Tuy nhiên, trong khi ấy sức khỏe chàng suy sụp, mà lại ít do trực tiếp sự nghiêm khắc của đời sống thử luyện, trong đó không thiếu những sự bồi dưỡng thân thể, hơn là do từ bên trong. Những phương pháp giáo dưỡng mà chàng là đối tượng, với tất cả sự khôn ngoan và tinh vi của chúng, vừa hợp với những thiên hướng riêng của chàng, vừa đồng thời thách thức chúng. Trong những thao tác tinh thần mà chàng dùng để lấp đầy ngày tháng và cả một phần đêm nữa, giữa bao cuộc khảo xét lương tâm, suy niệm, cân nhắc và chiêm quan ấy, chàng đã vướng mắc bằng một niềm say mê cãi cọ đầy ác ý vào hàng nghìn khó khăn, mâu thuẫn và điểm tranh chấp. Chàng là nỗi tuyệt vọng, dù đồng thời cũng là niềm hy vọng lớn, của vị hướng dẫn linh thao, người mà chàng, bằng cơn cuồng nộ biện chứng và sự thiếu giản phác của mình, ngày ngày làm cho khốn đốn. “_Ad haec quid tu?_” chàng hỏi, hai tròng kính sáng quắc... Và vị cha bị dồn vào chân tường không còn cách nào khác ngoài việc khuyên chàng cầu nguyện, để chàng đạt tới sự yên nghỉ của linh hồn, “_ut in aliquem gradum quietis in anima perveniat_”. Nhưng sự “yên nghỉ” ấy, nếu có đạt được, lại hệ tại ở một sự cùn lụt hoàn toàn của đời sống bản ngã và một sự hủy diệt bản thân thành công cụ thuần túy, một thứ bình yên nghĩa địa của tinh thần mà những dấu hiệu bên ngoài rờn rợn của nó Bruder Naphta có thể quan sát nơi nhiều khuôn mặt nhìn trống rỗng quanh mình, và điều ấy thì chàng sẽ không bao giờ đạt tới được, trừ phi bằng con đường suy tàn thân xác.

Việc những trở ngại và phiền lụy ấy không làm giảm sút uy tín của chàng nơi các bề trên là một bằng chứng cho tầm vóc tinh thần của họ. Chính cha Tỉnh dòng đã triệu chàng đến vào cuối hai năm tập viện, chuyện trò với chàng, chuẩn nhận việc thu nhận chàng vào dòng; và nhà scholastic trẻ tuổi ấy, sau khi đã lãnh bốn chức nhỏ, tức chức giữ cửa, giúp lễ, đọc sách và trừ quỷ, đồng thời cũng đã khấn những lời khấn “đơn”, nhờ đó từ nay chính thức thuộc về Hội Dòng, đã lên đường tới nhà học viện ở Falkenburg bên Hà Lan để bắt đầu việc học thần học.

Khi ấy chàng hai mươi tuổi, và ba năm sau, dưới ảnh hưởng của một khí hậu tai hại đối với chàng cùng những nỗ lực tinh thần, căn bệnh di truyền của chàng đã tiến xa đến mức sự lưu lại ở đó trở thành điều cấm kỵ nếu không muốn liều mạng sống. Một cơn thổ huyết mà chàng mắc phải đã làm các bề trên kinh động, và sau khi chàng lơ lửng nhiều tuần lễ giữa sống và chết, họ gửi người bệnh mới hồi phục một cách tạm bợ ấy trở lại nơi xuất phát của mình. Chính tại cơ sở giáo dục mà xưa kia chàng từng là học sinh, chàng được dùng làm giám thị, người trông coi các học viên và dạy môn nhân văn cùng triết học. Sự xen vào này vốn dĩ cũng là quy định, chỉ có điều thường thì sau vài năm phụng sự như thế người ta lại trở về học viện để tiếp tục và hoàn tất bảy năm học đạo. Điều ấy bị khước từ đối với Bruder Naphta. Chàng vẫn ốm yếu luôn; bác sĩ và bề trên nhận định rằng công việc tại chỗ này, trong bầu không khí lành, cùng với các học sinh và trong lao động nông nghiệp, hiện thời là điều thích hợp với chàng. Chàng quả đã lãnh chức thánh cao đầu tiên, giành được quyền hát bài Thư tín trong thánh lễ trọng vào ngày Chủ nhật, một quyền mà thật ra chàng không dùng đến, trước hết vì chàng hoàn toàn không có nhạc tính, và sau nữa vì sự dễ vỡ bệnh hoạn của giọng nói khiến chàng rất ít thích hợp với việc ca xướng. Nhưng vượt quá chức á phó tế thì chàng không tiến thêm được nữa, không tới phó tế, càng không tới chức linh mục; và vì cơn xuất huyết tái diễn, cơn sốt cũng không chịu lui, nên chàng, do dòng đài thọ, đã lên trên này lưu trú để điều dưỡng lâu dài, và kỳ điều dưỡng ấy kéo dài sang năm thứ sáu, hầu như không còn là điều dưỡng nữa, mà đã dần dần trở thành một điều kiện sống có tính tuyệt đối ở vùng cao khí loãng, được làm nhẹ bớt bằng một ít công việc dạy Latin tại trường trung học cho bệnh nhân...

* * * * *

Những điều ấy, cùng với nhiều điều khác nữa, cụ thể hơn nữa, Hans Castorp đã được biết qua chuyện trò với chính Naphta, khi chàng đến thăm ông trong căn buồng bọc lụa, một mình hoặc cùng với hai bạn cùng bàn Ferge và Wehsal mà chàng đã dẫn đến đó; hoặc khi chàng tình cờ gặp ông trong một cuộc dạo bước và cùng ông hành hương trở về phía “Làng”, biết được từng lúc, từng mảnh và cũng dưới hình thức những lời kể mạch lạc, và chàng không những thấy chúng cực kỳ kỳ lạ đối với riêng mình, mà còn khuyến khích cả Ferge lẫn Wehsal cũng nên thấy như vậy, điều mà họ quả đã làm: người thứ nhất thì dĩ nhiên với lời dè dặt nhắc rằng mọi cái cao hơn đều xa lạ với mình (vì chính trải nghiệm của cơn sốc màng phổi là điều duy nhất từng nâng ông ta vượt lên khỏi mức đòi hỏi thấp nhất của loài người), còn người kia thì với sự thích thú thấy rõ trước con đường may mắn của một kẻ từng bị đè nén, con đường nay dĩ nhiên, để cây cối khỏi mọc tới tận trời, xem ra lại khựng lại và sa lầy trong nỗi khổ chung của thân xác.

Về phần mình, Hans Castorp lấy làm tiếc cho sự đình trệ ấy, và chàng nhớ đến Joachim yêu danh dự với vừa tự hào vừa lo lắng, Joachim, bằng một nỗ lực anh hùng, đã xé toạc tấm lưới ngôn từ dai dẳng của Rhadamanthys mà chạy về với lá cờ của mình, vào cán cờ ấy, trong hình dung của Hans Castorp, nay anh đang bám chặt, ba ngón tay phải giơ lên để thề trung thành. Naphta cũng đã thề với một lá cờ, ông cũng đã được thu nhận dưới một lá cờ như thế, theo chính cách ông nói khi giảng cho Hans Castorp về bản chất của dòng mình; nhưng rõ ràng ông kém trung thành với lá cờ ấy hơn Joachim với lá cờ của mình, cùng những sai biệt và những tổ hợp của ông, trong khi Hans Castorp, khi lắng nghe con người _ci devant-_ hay vị Dòng Tên tương lai ấy, với tư cách một thường dân và đứa con của hòa bình, lại càng được củng cố trong ý kiến rằng mỗi người trong hai người ấy hẳn phải thấy thích thú với nghề nghiệp và thân phận của người kia, và hẳn phải hiểu nó là gần gũi với thân phận của chính mình. Bởi đó đều là những đẳng cấp quân ngũ, cả người này lẫn người kia, mà quân ngũ theo nhiều nghĩa: vừa theo nghĩa của “khổ hạnh” lẫn theo nghĩa trật tự cấp bậc, sự vâng phục và danh dự Tây Ban Nha. Chính điều sau cùng này ngự trị mạnh mẽ đặc biệt trong dòng của Naphta, vốn cũng bắt nguồn từ Tây Ban Nha, và điều lệnh thao luyện thiêng liêng của dòng, một thứ đối bản với điều lệnh mà về sau Friedrich nước Phổ ban cho bộ binh của mình, nguyên thủy đã được soạn bằng tiếng Tây Ban Nha, bởi vậy trong những câu chuyện kể và chỉ giáo của mình Naphta vẫn thường dùng những từ ngữ Tây Ban Nha. Chẳng hạn ông nói đến “_dos banderas_”, “hai lá cờ”, quanh đó các đạo quân tụ họp cho cuộc viễn chinh lớn: lá cờ địa ngục và lá cờ thiêng liêng; ở vùng Jerusalem là lá cờ này, nơi Christus, “_capitan general_” của hết thảy những người thiện, cầm quân, còn trên đồng bằng Babylon là lá cờ kia, nơi Luzifer làm “_caudillo_”, hay thủ lĩnh...

Nào trường viện “Morgenstern” chẳng đã từng là một nhà trường võ bị thực thụ đó sao, nơi các học viên, được chia thành những “sư đoàn”, bị ràng buộc danh dự phải giữ một thứ _bienséance_ nửa giáo sĩ nửa quân ngũ, một sự phối hợp giữa “Cổ cứng” và “Nếp cổ Tây Ban Nha”, nếu có thể nói như vậy? Ý niệm về danh dự và sự trội vượt, vốn giữ một vai trò huy hoàng đến thế trong hàng ngũ của Joachim, Hans Castorp nghĩ, chẳng phải cũng hiện ra rõ mồn một trong cái lĩnh vực mà Naphta, than ôi vì bệnh tật, đã không tiến được xa đó sao! Nghe ông ta nói, thì Dòng gồm toàn những sĩ quan cực kỳ nhiều tham vọng, chỉ mang trong lòng một ý nghĩ duy nhất là phải lập công xuất sắc trong khi phụng sự. (“_Insignes esse_”, tiếng Latin gọi như thế.) Theo giáo huấn và quy luật của đấng sáng lập kiêm vị tổng chỉ huy đầu tiên, người Tây Ban Nha Loyola, họ làm nhiều hơn, làm một thứ công vụ rực rỡ hơn tất cả những kẻ chỉ hành động theo lương tri lành mạnh của mình. Họ làm việc “_ex supererogatione_”, nghĩa là quá mức bổn phận, bởi lẽ họ không chỉ đơn thuần kháng cự sự phản loạn của xác thịt (“_rebellio carnis_”), điều mà rốt cuộc cũng chẳng hơn gì phận sự của bất cứ lương tri khỏe mạnh bậc trung nào, mà còn chiến đấu chống lại ngay cả những khuynh hướng của tính nhục cảm, của lòng yêu mình và yêu thế gian, kể cả trong những điều vốn thường được phép. Vì hành động một cách chiến đấu chống kẻ thù, “_agere contra_”, tức là tấn công, vẫn nhiều hơn và danh dự hơn là chỉ tự vệ (“_resistere_”). Làm cho kẻ thù suy yếu và gãy gục! quy điều lệnh chiến địa đã nói như thế, và tác giả của nó, người Tây Ban Nha Loyola, ở điểm này lại hoàn toàn đồng một ý với _capitan general_ của Joachim, vị Friedrich nước Phổ, cùng khẩu quyết chiến tranh của ông: “Tấn công! Tấn công!” “Bám riết lấy địch!” “_Attaquez donc toujours!_”

Nhưng điều mà thế giới của Naphta và thế giới của Joachim đặc biệt cùng chia sẻ, ấy là quan hệ của họ đối với máu và tiên đề rằng người ta không nên rút tay mình khỏi nó: chính ở đó, với tư cách những thế giới, những dòng tu, những đẳng cấp, họ nhất nhất trùng nhau một cách cứng rắn; và đối với một đứa con của hòa bình, thật rất đáng nghe Naphta kể về những kiểu nhà sư hiếu chiến thời Trung cổ, những kẻ khổ hạnh đến kiệt sức mà đồng thời lại đầy khát vọng quyền lực tinh thần, đã chẳng muốn kiêng nể máu me, ngõ hầu dựng nên quốc gia của Chúa, quyền thống trị thế gian của cái siêu nhiên; về những hiệp sĩ Đền thánh hiếu chiến coi cái chết trong giao tranh với bọn ngoại đạo là có công đức hơn cái chết trên giường, và coi việc bị giết vì Chúa Kitô hay giết người vì Chúa Kitô không phải là tội lỗi, mà là vinh quang cao nhất. Chỉ may là Settembrini đã không có mặt trong những câu chuyện ấy! Nếu không, ông ta lại chỉ đóng vai người kéo đàn quay phá đám và thổi sáo hòa bình, mặc dù quả thật còn có cuộc chiến tranh thánh vì dân tộc và văn minh chống Vienna kia, cuộc chiến mà ông tuyệt nhiên chẳng nói không; trong khi đó, chính niềm say mê và nhược điểm ấy lại bị Naphta mỉa mai và khinh bỉ trừng phạt. Ít ra chừng nào người Ý còn nóng hổi những tình cảm như vậy, Naphta còn đem ra đối lại một thứ thế giới công dân Ki-tô giáo, muốn gọi mọi nước, mà rồi cũng chẳng nước nào, là tổ quốc, và sắc lạnh nhắc lại lời một vị Tổng quản Dòng Tên tên là Nickel, theo đó lòng yêu tổ quốc là “một cơn dịch hạch và cái chết chắc chắn nhất của tình yêu Ki-tô giáo”.

Dĩ nhiên, chính là vì khổ hạnh mà Naphta gọi lòng yêu tổ quốc là một cơn dịch hạch, bởi thử hỏi còn gì ông ta lại không hàm vào từ ấy, còn gì, theo ý ông ta, lại không đi ngược với khổ hạnh và nước Chúa! Không chỉ sự gắn bó với gia đình và quê hương mới phạm vào điều đó, mà cả sự gắn bó với sức khỏe và sự sống nữa: chính điều ấy ông dùng để trách cứ nhà nhân văn khi người này thổi sáo hòa bình và hạnh phúc; ông cãi cọ mà quy cho đối phương lòng yêu xác thịt, _amor carnalis_, lòng yêu những tiện nghi của thân thể, _commodorum corporis_, và gọi thẳng vào mặt ông đó là thứ vô đạo trưởng giả đặc sệt, cái việc đặt dù chỉ một chút trọng lượng nào lên sự sống và sức khỏe.

Đó là cuộc đàm luận lớn về sức khỏe và bệnh tật, đã phát triển từ những dị biệt ấy vào một ngày, khi mùa đã xế khá gần Giáng sinh, trong lúc họ đi dạo giữa tuyết xuống “Platz” rồi quay về, và tất cả đều dự phần: Settembrini, Naphta, Hans Castorp, Ferge và Wehsal, hết thảy đều hơi sốt, vừa lừ đừ vừa bị kích động bởi bước đi và lời nói trong giá lạnh miền cao, không ai là không có phần run rẩy; và dù họ cư xử theo lối chủ động nhiều hơn, như Naphta và Settembrini, hay phần lớn là tiếp nhận và chỉ phụ họa câu chuyện bằng những lời chen ngắn, thì tất cả vẫn hăng hái đến nỗi thường quên cả mình mà dừng phắt lại, lập thành một nhóm người vừa mải mê sâu sắc vừa khoa tay, nói chồng lấn lên nhau, chắn lối đi, chẳng bận tâm đến những người qua đường xa lạ phải vòng tránh họ, rồi chính những người ấy cũng đứng lại, nghiêng tai lắng nghe và kinh ngạc trước những lời bàn luận lan man quá độ của họ.

Thực ra cuộc tranh luận khởi đi từ Karen Karstedt, cô Karen khốn khổ với những đầu ngón tay hở, người mới qua đời cách đó không lâu. Hans Castorp đã không hề biết gì về cơn sa sút đột ngột của cô và cái chết của cô; nếu không, chàng hẳn đã vui lòng, theo tình bằng hữu, dự tang lễ của cô, với thiên hướng đã công khai thú nhận của chàng đối với tang lễ nói chung. Nhưng sự kín đáo theo thông lệ nơi đây đã khiến chàng biết tin Karen qua đời quá muộn, và khiến nàng đã đi vào khu vườn của vị thần putto đội chiếc mũ tuyết lệch để nằm ngang vĩnh viễn. _Requiem aeternam ..._ Chàng dành cho ký ức nàng vài lời thân ái, điều này khiến ông Settembrini buông lời châm chọc hoạt động bác ái của Hansen, những cuộc thăm viếng của chàng với Leila Gerngroß, gã Rotbein thạo việc, cô Zimmermann quá tải, đứa con trai khoác lác của _Tous-les-deux_ và Natalie von Mallinckrodt đầy đọa đày, lại còn nán lại mà mỉa mai những bó hoa đắt tiền mà người kỹ sư đã dùng để bày tỏ lòng mộ mến với cả cái lũ tạp nham vô vọng và lố bịch ấy. Hans Castorp bèn chỉ ra rằng những người nhận các mối quan tâm của chàng, tạm trừ bà von Mallinckrodt và cậu bé Teddy, thì rốt cuộc cũng đều đã chết cả, khiến Settembrini hỏi lại rằng điều ấy lẽ nào làm họ trở nên đáng kính hơn sao. Nhưng, Hans Castorp đáp, vẫn có một điều có thể gọi là sự cung kính Ki-tô giáo trước khốn khổ. Và trước khi Settembrini kịp chỉnh huấn chàng, Naphta đã bắt đầu nói về những sự quá trớn đạo hạnh của lòng bác ái mà thời Trung cổ từng chứng kiến, những trường hợp cuồng tín và ngây ngất đáng kinh ngạc trong việc chăm sóc bệnh nhân: các công chúa vương tộc đã hôn lên những vết thương hôi hám của người phong, đã gần như cố ý lây bệnh từ những kẻ cùi và rồi gọi những mụn lở mình mắc phải là những đóa hồng của mình, đã uống cạn thứ nước dùng để rửa những thân thể mưng mủ, rồi sau đó tuyên bố rằng chưa bao giờ có gì ngon đến thế.

Settembrini làm bộ như sắp nôn mửa. Ông nói điều làm dạ dày ông lộn lên không hẳn là cái ghê tởm về mặt thể xác trong những hình ảnh và ý niệm ấy, mà đúng hơn là cơn điên khổng lồ tự bộc lộ trong một quan niệm như thế về lòng yêu người tích cực. Rồi ông đứng thẳng lên, lấy lại vẻ đĩnh đạc vui tươi, mà nói về những hình thức cứu tế nhân đạo tiến bộ của thời hiện đại, về sự đẩy lùi thắng lợi các bệnh dịch, và đem vệ sinh, cải cách xã hội cùng những thành tựu của khoa học y học đối lập với những nỗi kinh hoàng kia.

Naphta đáp rằng với những thứ tử tế đáng trọng theo lối thị dân ấy, những thế kỷ mà ông vừa gợi lên ắt hẳn được ích chẳng bao nhiêu, mà cả hai phía đều vậy: người bệnh tật và khốn cùng cũng ít được ích như người khỏe mạnh và hạnh phúc, những kẻ đã tỏ lòng nhân hậu với họ không hẳn vì thương xót cho bằng vì phần rỗi của chính linh hồn mình. Bởi lẽ, nếu cải cách xã hội thành công, thì những người sau sẽ mất đi phương tiện biện minh quan trọng nhất, còn những người trước sẽ bị tước mất địa vị thiêng liêng của mình. Vì thế, việc duy trì lâu bền sự nghèo khổ và bệnh tật đã nằm trong lợi ích của cả hai phe; và quan niệm ấy vẫn còn có thể tồn tại chừng nào còn có thể giữ vững quan điểm thuần túy tôn giáo.

Một quan điểm bẩn thỉu, Settembrini tuyên bố, và là một quan niệm mà cái tính ngớ ngẩn của nó gần như khiến ông thấy mình quá cao để phải chống cãi. Bởi lẽ ý niệm về “địa vị thiêng liêng”, cũng như điều người kỹ sư vừa phụ thuộc mà nói về “sự cung kính Ki-tô giáo trước khốn khổ”, đều là trò bịp bợm, dựa trên sự mê lầm, trên một cảm thông sai chỗ, một cú trượt tâm lý. Lòng thương xót mà người khỏe dành cho kẻ bệnh, rồi nâng nó lên thành kính sợ, bởi người ấy hoàn toàn không sao tưởng tượng nổi nếu đến phần mình phải chịu những đau đớn như thế thì sẽ làm sao chịu nổi, lòng thương xót ấy bị phóng đại ở một mức độ rất cao, chẳng hề thuộc về người bệnh, và sở dĩ nó thành ra thế là vì nó là kết quả của một sai lầm trong suy nghĩ và tưởng tượng: người khỏe đã nhét cách cảm nhận của chính mình vào người bệnh và hình dung người bệnh như thể là một người khỏe mạnh phải gánh chịu những cực hình của kẻ bệnh, điều đó hoàn toàn sai. Người bệnh đơn giản là một người bệnh, với bản tính và cách trải nghiệm đã bị biến đổi của hạng người ấy; bệnh tật tự sắp đặt con người của nó sao cho cả hai có thể xoay xở với nhau được; ở đó có những sự giảm sút cảm giác, những chỗ khiếm khuyết, những cơn gây tê ân huệ, những biện pháp thích nghi và giảm nhẹ về tinh thần lẫn đạo đức của tự nhiên, mà người khỏe, một cách ngây thơ, quên không tính đến. Thí dụ hay nhất chính là toàn bộ cái đám bệnh ngực trên này, với sự khinh suất, ngu độn và nhếch nhác của chúng, với sự thiếu thiện chí đối với sức khỏe. Và nói vắn lại, nếu người khỏe, trong niềm thương hại pha kính nể kia, tự mình mắc bệnh và không còn khỏe nữa, thì sẽ thấy rằng bệnh tật quả thực là một thân phận riêng, nhưng tuyệt nhiên không phải một thân phận danh dự, và rằng mình đã coi trọng nó quá nghiêm trọng.

Đến đây Anton Karlowitsch Ferge phản đối và bảo vệ cơn Pleurachok trước những sự bôi nhọ và khinh mạn. Sao cơ, thế nào, cơn Pleurachok của ông bị coi là đã được nhìn nhận quá nghiêm trọng ư? Xin kiếu, xin miễn cho! Trái táo Adam to tướng và bộ ria hiền lành của ông nhấp nhô lên xuống, và ông cấm mọi sự coi thường đối với những gì ông đã trải qua hồi ấy. Ông chỉ là một người đơn giản, một tay chào bảo hiểm, và mọi thứ cao siêu đều xa lạ với ông, chính cuộc trò chuyện này đã vượt rất xa chân trời của ông rồi. Nhưng nếu ông Settembrini chẳng hạn cũng muốn tính cả cơn Pleurachok vào trong điều ông vừa nói, cái địa ngục nhột nhạt ấy với mùi lưu huỳnh và ba cơn ngất đủ màu ấy, thì ông xin phép phải phản đối và trân trọng cảm ơn. Bởi ở đó thì nào có chút dấu vết gì của những suy giảm, những cơn gây tê ân huệ hay những sai lầm tưởng tượng; trái lại, đó là sự chó đẻ lớn nhất và trần trụi nhất dưới mặt trời, và ai chưa từng trải qua nó như ông thì hoàn toàn không thể có lấy một ý niệm nào về cái sự khốn cùng ấy –

Ấy chà, ấy chà! Settembrini nói. Cơn trụy sụp của ông Ferge quả ngày một trở nên vĩ đại hơn, càng lùi xa bao nhiêu so với lúc nó xảy ra, và giờ đây ông ta gần như mang nó quanh đầu như một vầng hào quang. Còn ông, Settembrini, thì rất ít kính nể những người bệnh đòi hỏi được ngưỡng mộ. Chính ông cũng có bệnh, mà không hề nhẹ; nhưng không chút làm bộ, ông lại thiên về chỗ xấu hổ vì điều đó. Vả lại, ông đang nói một cách phi cá nhân, theo lối triết học; và điều ông nhận xét về sự khác biệt giữa bản tính cùng cách trải nghiệm của người bệnh với người khỏe hoàn toàn có cơ sở, các ông chỉ việc nghĩ đến các bệnh tâm thần, chẳng hạn như ảo giác. Nếu một trong những người đang cùng đi với ông, giả thử người kỹ sư hoặc ông Wehsal, tối nay trong bóng nhập nhoạng nhìn thấy người cha đã khuất của mình hiện ra ở một góc phòng, nhìn mình và nói với mình, thì đối với đương sự đó, ắt hẳn đây sẽ là một biến cố tuyệt đối kinh khủng, một trải nghiệm cực kỳ chấn động và làm rối loạn, đủ khiến ông ta nghi ngờ giác quan và lý trí của mình, và lập tức rời khỏi căn phòng để đi điều trị thần kinh. Chẳng phải sao? Nhưng cái trò ở đây lại là: điều đó không thể xảy đến với các ông được, bởi các ông lành mạnh về tinh thần. Nhưng nếu nó xảy đến, thì các ông sẽ không còn lành mạnh nữa mà là có bệnh, và sẽ không phản ứng như một người khỏe, nghĩa là bằng nỗi kinh hoàng và sự tháo chạy, mà sẽ tiếp nhận hiện tượng ấy như thể nó hoàn toàn bình thường, rồi còn bước vào trò chuyện với nó, đúng như thói quen của những kẻ bị ảo giác; và tin rằng đối với những người ấy, ảo giác có nghĩa là một nỗi kinh hãi theo kiểu người khỏe, thì chính đó là cái sai lầm của trí tưởng tượng mà người không bệnh vấp phải.

Ông Settembrini đã nói về người cha trong góc phòng bằng một lối vừa khôi hài vừa sống động đến thế. Ai nấy đều phải cười, kể cả Ferge, mặc dù ông bị tổn thương vì cuộc phiêu lưu địa ngục của mình bị coi nhẹ. Về phần mình, nhà nhân văn lợi dụng tâm trạng đang bị kích thích ấy để nói thêm và biện hộ cho quan điểm rằng những kẻ bị ảo giác, và nói chung mọi _pazzi_, đều không phải là những đối tượng đáng trọng: theo ông, những người ấy tự cho phép mình quá nhiều điều một cách hoàn toàn không thể chấp nhận được, và khá thường xuyên họ hoàn toàn có thể tự điều hướng cơn điên của mình, như chính ông đã thấy trong những lần thỉnh thoảng ghé thăm nhà thương điên. Bởi khi bác sĩ hoặc một người lạ xuất hiện nơi ngưỡng cửa, thì kẻ ảo giác phần lớn liền ngừng những bộ mặt nhăn nhó, ngừng nói năng và khoa chân múa tay, rồi cư xử đứng đắn chừng nào còn biết mình đang bị quan sát, để sau đó lại thả lỏng bản thân. Vì sự điên loạn trong nhiều trường hợp chắc chắn chính là một sự buông thả bản thân như thế, đến mức nó phục vụ như nơi lánh nạn trước nỗi sầu khổ lớn lao và như biện pháp tự vệ của một bản tính yếu đuối trước những đòn số phận quá nặng, những đòn mà một con người như vậy không cảm thấy mình có thể chịu đựng bằng đầu óc minh mẫn. Nhưng như thế thì, có thể nói, ai rồi cũng làm được; còn ông, Settembrini, thì chỉ bằng ánh mắt của mình, bằng cách đặt trước những cơn mê sảng của họ một tư thế lý trí không khoan nhượng, đã từng buộc không ít kẻ điên, ít ra là trong chốc lát, phải quay về với sáng suốt...

Naphta cười nhạt, còn Hans Castorp thì quả quyết rằng chàng sẵn lòng tin từng lời ông Settembrini vừa nói. Cứ hình dung ra cảnh ông ấy mỉm cười dưới bộ ria và nhìn chằm chằm gã đầu óc bã đậu bằng cái lý tính không nhân nhượng, thì chàng hoàn toàn hiểu được vì sao kẻ đáng thương kia đã phải tự thu mình lại và trả danh dự cho sự sáng suốt, dù tất nhiên hắn hẳn cũng đã cảm thấy sự xuất hiện của ông Settembrini là một sự quấy rầy cực kỳ không đúng lúc... Nhưng Naphta cũng từng thăm các nhà thương điên, ông nhớ lại một kỳ lưu trú trong “Ngôi nhà Bất an” của một nơi như thế, và ở đó đã phô bày trước mắt ông những cảnh tượng và hình ảnh mà, ôi trời ơi, trước chúng cái nhìn đầy lý trí và ảnh hưởng mực thước của ông Settembrini hẳn khó lòng mà hiệu nghiệm: những cảnh tượng kiểu Dante, những bức tranh ghê rợn và quái đản của kinh hoàng và đau đớn: những kẻ điên trần truồng ngồi co ro trong các bồn tắm ngâm thường trực, dưới mọi tư thế của nỗi hãi hùng linh hồn và cơn sững sờ kinh hoảng; vài người gào lên thảm thiết, những người khác giơ cao cánh tay và há miệng rộng mà bật ra một tràng cười trong đó mọi thành phần của địa ngục đã hòa trộn vào nhau...

“Aha,” ông Ferge nói, và cho phép mình nhắc lại tiếng cười của chính ông, cái tiếng đã tuột ra khỏi ông trong cơn ngắc ngoải.

Nói ngắn lại, nền sư phạm không khoan nhượng của ông Settembrini hẳn đã hoàn toàn phải xếp xó trước những cảnh tượng của Ngôi nhà Bất an; mà đối với những cảnh tượng ấy, cơn rùng mình của sự kính sợ tôn giáo dầu sao vẫn là một phản ứng nhân bản hơn cái lối duy lý đạo đức hợm hĩnh mà vị hiệp sĩ mặt trời cực rạng rỡ và _Vikarius Salomonis_ của chúng ta ở đây vẫn thích đem ra đối chọi với cơn điên.

Hans Castorp không có thì giờ bận tâm đến những tước hiệu mà Naphta lại vừa ban cho Herr Settembrini. Chàng chỉ thoáng tự nhủ sẽ nhân dịp đầu tiên mà dò cho ra nhẽ. Nhưng lúc này cuộc tranh luận đang diễn ra đã ngốn trọn chú ý của chàng; bởi Naphta vừa đúng khi ấy đang sắc sảo phân tích những khuynh hướng chung khiến nhà nhân văn, về nguyên tắc, hết mực tôn vinh sức khỏe và cố hết sức làm ô danh, làm nhỏ lại bệnh tật, – trong lập trường ấy quả có lộ ra một sự tự phủ nhận đáng kể và hầu như đáng khen, vì bản thân Herr Settembrini cũng là người có bệnh. Tuy nhiên, thái độ của ông, dẫu bởi phẩm giá phi thường của nó mà chẳng hề bớt sai lầm đi, vẫn phát sinh từ một lòng kính trọng và sùng mộ đối với thân xác, điều chỉ có thể là chính đáng nếu thân xác còn ở trong trạng thái nguyên sơ do Thượng đế tạo thành, chứ không phải ở tình trạng suy đọa – _in statu degradationis_. Bởi được tạo ra là bất tử, nhưng do sự sa đọa của tự nhiên bởi tội tổ tông mà nó đã rơi vào hư hoại và đáng ghê tởm, trở nên hữu tử và mục nát, nên không thể được nhìn như gì khác ngoài nhà ngục và trại giam phạt của linh hồn, chỉ thích hợp để khơi dậy cái cảm thức hổ thẹn và bối rối, _pudoris et confusionis sensum_, như thánh Ignatius đã nói.

Chính Plotinus, nhà nhân văn, hẳn ai cũng biết, cũng đã từng bày tỏ cảm thức ấy! Hans Castorp kêu lên. Nhưng Herr Settembrini, cánh tay hất vòng lên qua đầu từ khớp vai, bảo chàng đừng trộn lẫn các quan điểm và tốt hơn hết cứ nên giữ thái độ tiếp nhận.

Trong khi đó Naphta quy lòng tôn kính mà thời Trung cổ Kitô giáo dành cho nỗi khốn cùng của thân xác về sự tán đồng tôn giáo mà nó đã dành cho cảnh cơ nhục lầm than. Bởi những ung nhọt của cơ thể không những làm hiển lộ sự sa sút của thân xác ấy, mà còn tương ứng với sự mục nát nhiễm độc của linh hồn theo một cách gây nên niềm thỏa mãn có tính giáo hóa và thiêng liêng, – trong khi sự tươi nở của thân thể lại là một hiện tượng lừa dối và xúc phạm lương tri, điều người ta đã hết sức nên phủ nhận bằng một sự hạ mình sâu xa trước tật nguyền. _Quis me liberabit de corpore mortis hujus?_ Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác của cái chết này? Đó là tiếng nói của tinh thần, một tiếng nói muôn đời vẫn là tiếng nói của nhân tính đích thực.

Không, theo cách nhìn được Herr Settembrini trình bày đầy xúc động, đó là một tiếng nói của bóng đêm, – tiếng nói của một thế giới mà mặt trời của lý trí và nhân tính còn chưa mọc lên. Phải, dẫu về phần thân xác ông có bệnh, ông vẫn giữ được tinh thần đủ mạnh khỏe và không bị đầu độc để chống lại gã thầy tu Naphta trong vấn đề thân xác một cách rất đẹp, và đem linh hồn ra mà chế nhạo. Ông còn đi xa đến mức ca tụng thân thể con người như ngôi đền đích thực của Thượng đế; đáp lại, Naphta tuyên bố mô thịt ấy chẳng là gì hơn tấm màn ngăn giữa chúng ta và vĩnh cửu, mà điều ấy lại dẫn đến chỗ Settembrini dứt khoát cấm ông ta dùng chữ “nhân tính” – và cứ thế.

Vẻ mặt cứng đờ vì giá rét, đầu trần, trong đôi giày bọc cao su, khi thì giẫm lên lớp tuyết cứng kêu răng rắc đã rắc tro khiến mặt hè cao hẳn lên, khi thì lấy chân cày trong đống tuyết tơi của lòng đường xe chạy, Settembrini mặc một chiếc áo khoác mùa đông mà cổ lông hải ly và ve tay, vì những chỗ trụi lông, nom hầu như bị ghẻ, tuy vậy ông vẫn biết mặc nó một cách lịch lãm; Naphta thì trong một chiếc áo choàng đen, dài chấm chân và cài kín đến cổ, chỉ lót lông bên trong nên bên ngoài không lộ chút nào; họ tranh cãi về những nguyên tắc ấy với mối bận tâm riêng tư nhất, đến nỗi thường xảy ra là họ không nói với nhau mà quay sang Hans Castorp, người đang nói bèn trình bày trường hợp của mình với chàng, còn đối thủ chỉ ra hiệu bằng đầu hay bằng ngón tay cái. Họ kẹp chàng ở giữa, còn chàng, quay đầu qua lại, lúc thì tán thành người này, lúc thì tán thành người kia, hoặc đứng khựng lại, thân trên ngả chếch ra sau, tay trong chiếc găng da dê lót bông vung vẩy, mà cố nêu lên đôi điều của riêng mình, dĩ nhiên là hết sức bất cập; trong khi đó Ferge và Wehsal đi vòng quanh cả ba, khi ở trước mặt họ, khi ở đằng sau, hoặc cùng họ tạo thành một hàng, cho tới khi dòng xe cộ lại phá vỡ hàng lối ấy.

Chịu tác động từ những lời chen ngang của họ, cuộc tranh luận bật sang những đề mục cụ thể hơn, và lần lượt, khá gấp, với sự nhập cuộc ngày càng tăng của tất cả, đụng tới các vấn đề hỏa táng, hình phạt thân thể, tra tấn và án tử hình. Chính Ferdinand Wehsal là kẻ đã đưa chuyện hình phạt đòn roi ra, và điều ấy, theo Hans Castorp thấy, hiện rõ ngay trên mặt anh ta. Chẳng có gì lạ khi Herr Settembrini lên tiếng trong những lời lẽ thanh sạch nhất, viện tới phẩm giá con người để phản đối cách xử sự man rợ ấy, cả trong giáo dục lẫn nhất là trong pháp đình, – còn việc Naphta lên tiếng bênh vực đòn roi tuy cũng không làm ai ngạc nhiên, nhưng vẫn gây sửng sốt bởi một thứ láo xược u ám nào đó. Theo ông ta, lảm nhảm ở đây về phẩm giá con người là điều phi lý, vì phẩm giá chân thực của chúng ta nằm ở tinh thần chứ không ở xác thịt, và vì linh hồn con người chỉ quá dễ có khuynh hướng hút toàn bộ khoái sống của nó từ thân xác, cho nên những đau đớn giáng xuống thân xác ấy là một phương tiện hoàn toàn đáng khuyến khích để làm cho cái thích thú nhục cảm của linh hồn trở nên chua chát, và như thể xua nó từ xác thịt trở lui vào tinh thần, để tinh thần lại giành quyền thống trị. Xem phương tiện giáo giới bằng đòn vọt như một điều đặc biệt nhục nhã là một lời trách móc hết sức ngớ ngẩn. Thánh Elisabeth đã từng bị cha giải tội của mình, Konrad von Marburg, đánh đòn đến bật máu, nhờ đó mà “linh hồn bà”, như truyền thuyết chép, đã được “xuất thần” “cho tới tầng ca đoàn thứ ba”, còn chính bà thì đã dùng roi quất một bà già nghèo vì quá buồn ngủ không chịu đi xưng tội. Chẳng lẽ người ta thật lòng dám toan gọi những cuộc tự quất roi mà người thuộc một số dòng tu và giáo phái, cũng như nói chung những người có đời sống nội tâm sâu hơn, từng tự áp lên mình để làm cho nguyên lý tinh thần trong họ thêm mạnh, là dã man, là vô nhân đạo? Niềm tin rằng sự bãi bỏ bằng luật pháp các hình phạt đòn vọt ở những xứ tự cho mình là cao quý là một tiến bộ thực sự, bởi tính bất di bất dịch của nó, chỉ càng buồn cười hơn mà thôi.

Thì ít ra, Hans Castorp nhận xét, điều này tuyệt đối phải thừa nhận: trong thế đối lập giữa thân xác và tinh thần, thân xác hiển nhiên là nguyên lý ác, nguyên lý ma quỷ... hiện thân, haha, tức là hiện thân, chừng nào thân xác dĩ nhiên còn là tự nhiên – dĩ nhiên là tự nhiên, thế cũng chẳng tồi! – và chừng nào tự nhiên, trong thế đối lập của nó với tinh thần, với lý trí, là cái gì quả quyết xấu xa, – xấu xa theo nghĩa huyền nhiệm, có thể nói như vậy, nếu người ta, dựa vào nền giáo dưỡng và hiểu biết của mình, dám liều một chút. Đã giữ lấy quan điểm ấy, thì đối xử với thân xác cho tương xứng, nghĩa là cho nó nếm những phương tiện kỷ luật mà, nếu lại liều thêm một lần nữa, người ta có thể gọi là xấu xa theo nghĩa huyền nhiệm, hẳn chỉ là hoàn toàn hợp lẽ. Biết đâu Herr Settembrini, vào dạo ấy, khi sự yếu nhược của thân thể đã ngăn ông tới dự đại hội tiến bộ ở Barcelona, mà có một thánh Elisabeth ở bên cạnh...

Mọi người bật cười, và vì nhà nhân văn có vẻ muốn nổi xung, Hans Castorp vội kể chuyện những trận đòn chính mình từng lãnh: ở trường trung học của chàng, trong các lớp dưới, hình phạt ấy phần nào vẫn còn được thi hành, đã từng có những cây roi mây, và dẫu các thầy giáo không muốn ra tay với chàng vì nể mặt địa vị xã hội, thì có lần chàng vẫn bị một bạn học khỏe hơn đánh cho một trận, một thằng thô lỗ to xác, bằng chiếc roi dẻo quất vào đùi và bắp chân chỉ bọc vớ, và đau thì thật nhục nhã, thật bỉ ổi, không sao quên được, đau gần như huyền nhiệm, đến nỗi giữa những cơn nức nở giật thốc thân mật một cách ô nhục, nước mắt cứ thế phụt ra vì giận dữ và vì nỗi đau khổ mất danh dự – xin Herr Wehsal vui lòng lượng thứ cho chữ ấy –, còn Hans Castorp thì cũng đã đọc thấy rằng trong các nhà tù khổ sai, khi lĩnh hình phạt roi vọt, những tên sát nhân cướp của hung hãn nhất cũng khóc hu hu như trẻ con.

Trong khi Herr Settembrini lấy cả hai tay, bọc trong thứ da đã sờn đến ghê, che mặt lại, Naphta hỏi bằng một vẻ lạnh lùng của chính khách rằng ngoài giá và roi ra thì người ta còn dùng gì để chế ngự bọn phạm nhân ngỗ nghịch nữa, những thứ vốn dĩ đặt trong một nhà tù khổ sai là hoàn toàn hợp kiểu; một nhà tù khổ sai nhân đạo là một thứ nửa vời về mặt thẩm mỹ, một sự thỏa hiệp, và Herr Settembrini, dẫu là kẻ khéo nói, kỳ thực chẳng hiểu gì về cái đẹp. Còn về giáo dục, nếu nghe Naphta, thì khái niệm phẩm giá con người của những kẻ muốn loại bỏ phương tiện kỷ luật thân xác khỏi đó bắt rễ từ chủ nghĩa cá nhân tự do của thời đại nhân đạo tư sản, một thứ chuyên chế khai sáng của cái tôi đang hấp hối để nhường chỗ cho những quan niệm xã hội mới đang kéo tới, ít mềm yếu hơn, những quan niệm về ràng buộc và uốn phục, về cưỡng bách và phục tùng, trong đó không thể thiếu sự tàn nhẫn thiêng liêng, và những quan niệm ấy cũng sẽ khiến người ta một lần nữa nhìn sự trừng phạt thây xác bằng cặp mắt khác.

“Bởi thế mới có cái tên vâng lời như xác chết!” Settembrini chế nhạo; và khi Naphta buông ra rằng, vì Thượng đế phó thân xác chúng ta cho nỗi ô nhục ghê gớm của sự thối rữa như hình phạt của tội lỗi, nên rốt cuộc cũng chẳng phải tội phạm thượng gì nếu thân xác ấy đôi khi ăn đòn, – thì chỉ trong nháy mắt người ta đã chuyển sang chuyện hỏa táng tử thi.

Settembrini ca ngợi nó. Có thể khắc phục nỗi ô nhục ấy, ông vui vẻ nói. Nhân loại, vì những lý do tiện dụng cũng như bị thúc đẩy bởi những động cơ lý tưởng, đang trên đường khắc phục nó. Và ông cho biết mình có phần tham gia vào việc chuẩn bị một đại hội quốc tế về hỏa táng mà địa điểm rất có thể sẽ là Thụy Điển. Người ta đã dự định trưng bày một lò thiêu kiểu mẫu, được thiết trí theo toàn bộ kinh nghiệm thu lượm được cho tới nay, cùng với một điện đựng bình tro, và từ đó có thể chờ đợi những gợi mở cùng khích lệ sâu rộng. Chôn dưới đất mới là một thủ tục lỗi thời búi tó, cổ lỗ biết bao, – trước mọi hoàn cảnh của thời hiện đại! Sự bành trướng của các thành phố! Việc đẩy những cái gọi là nghĩa trang, ngốn không gian, ra tận ngoại vi! Giá đất! Sự tỉnh mộng của nghi thức mai táng do nhu cầu tất yếu phải dùng đến các phương tiện giao thông hiện đại! Về tất cả những điều ấy Herr Settembrini đều có thể nêu ra những nhận xét tỉnh táo mà đích đáng. Ông đùa cợt hình ảnh người góa bụa cúi rạp lưng, ngày ngày hành hương ra mộ người vợ quá cố yêu dấu để tại chỗ đối thoại với bà. Một tay sống cảnh điền viên như thế trước hết hẳn phải được hưởng một sự dư dật kỳ quặc về của cải quý nhất của đời người, tức là thời gian; mà hơn nữa, cơ chế vận hành đại trà của nghĩa trang trung tâm hiện đại hẳn cũng sẽ làm ông ta chán ngấy thứ khoái cảm cảm tình mang tính thoái tổ ấy. Sự hủy diệt tử thi bằng lửa, – đó là một ý niệm biết bao sạch sẽ, hợp vệ sinh, xứng đáng, phải, anh hùng, so với việc phó mặc nó cho sự tự phân hủy khốn nạn và sự đồng hóa bởi những sinh vật hạ đẳng! Phải, ngay cả lòng người cũng được thỏa đáng hơn bằng phương thức mới ấy, nhu cầu trường tồn của con người. Bởi thứ bị thiêu rụi trong lửa là những thành phần vốn dĩ biến đổi, ngay từ lúc sinh thời đã phải phục tùng sự trao đổi chất của thân thể; còn những thành phần tham dự ít nhất vào dòng chảy ấy, những gì gần như không thay đổi đã đồng hành với con người suốt đời sống trưởng thành của họ, thì đồng thời lại là những phần chịu lửa, chúng cấu thành tro cốt, và cùng với tro cốt ấy những người ở lại thu nhặt cái nơi người đã khuất vốn là bất diệt.

“Hay lắm,” Naphta nói; ô, thế thì rất, rất nhã nhặn. Phần bất diệt của con người, tro cốt.

A, dĩ nhiên, Naphta có ý muốn giữ chặt nhân loại trong lập trường phi lý tính của nó trước các sự kiện sinh học, ông chủ trương cái nấc tôn giáo nguyên thủy, ở đó cái chết là một nỗi kinh hoàng và bị bao quanh bởi những rùng mình bí mật đến mức cấm không cho ánh mắt của lý trí sáng rõ hướng vào hiện tượng ấy. Quả là dã man! Nỗi kinh hãi trước cái chết bắt nguồn từ những thời đại văn hóa thấp kém nhất, khi cái chết bạo lực là lẽ thường, và cái tính kinh khủng quả thực gắn với nó đã từ lâu kết hôn trong cảm giác con người với chính ý niệm về cái chết nói chung. Tuy nhiên, ngày càng rõ rệt hơn, nhờ sự phát triển của khoa vệ sinh tổng quát và sự củng cố của an ninh cá nhân, cái chết tự nhiên đã trở thành chuẩn mực, và đối với người lao động hiện đại, ý nghĩ về sự yên nghỉ vĩnh viễn sau khi sức lực mình đã cạn kiệt đúng phép tắc hoàn toàn không hiện ra như điều gì ghê rợn, trái lại như điều bình thường và đáng mong muốn. Không, cái chết không phải là nỗi kinh hoàng cũng chẳng phải điều huyền bí, nó là một hiện tượng rõ ràng, hợp lý, cần thiết về mặt sinh lý và đáng được hoan nghênh, và nấn ná quá lâu trong việc chiêm ngắm nó sẽ là đánh cắp khỏi đời sống. Vì vậy người ta cũng dự định gắn vào lò thiêu kiểu mẫu ấy và điện đựng bình tro đi kèm, tức là “Sảnh của Cái chết”, một “Sảnh của Sự sống”, trong đó kiến trúc, hội họa, điêu khắc, âm nhạc và thi ca sẽ hợp nhất để hướng tinh thần của người còn sống ra khỏi trải nghiệm về cái chết, khỏi nỗi sầu trì độn và lời than khóc bất lực, quay về những thiện ích của đời sống...

“Thật gấp gáp!” Naphta giễu. “Để người ta khỏi phụng sự cái chết quá độ, khỏi đi quá xa trong lòng thành kính trước một sự thật đơn giản đến thế, dẫu quả thật không có nó thì hẳn sẽ chẳng hề có lấy kiến trúc, hội họa, điêu khắc, âm nhạc hay thi ca.”

“Người ta đào ngũ sang lá cờ ấy,” Hans Castorp mơ màng nói.

“Tính khó hiểu trong lời ông nói, kỹ sư ạ,” Settembrini đáp, “để lộ ra cái đáng trách của nó. Trải nghiệm về cái chết rốt cuộc phải là trải nghiệm về sự sống, bằng không nó chỉ là một trò ma quái.”

“Trong ‘Sảnh của Sự sống’ người ta có đặt những biểu tượng dâm tục như trên vài cỗ quan tài cổ không?” Hans Castorp nghiêm túc hỏi.

Dầu sao đi nữa, Naphta nhận định, sẽ có một bữa tiệc béo bở cho các giác quan. Bằng đá cẩm thạch và sơn dầu, một thứ thị hiếu cổ điển chủ nghĩa sẽ phô trương thân xác, cái thân xác tội lỗi này, thứ người ta rút khỏi sự thối rữa, điều đó chẳng có gì đáng lấy làm lạ, vì do quá mực âu yếm người ta thậm chí không còn muốn để cho nó chịu đòn nữa...

Đến đây Wehsal chen vào với đề tài tra tấn; chuyện ấy hiện ngay trên mặt anh ta. Tra khảo bằng nhục hình, – các ông nghĩ thế nào về chuyện đó. Ferdinand, tức anh ta, trong những chuyến đi công cán, bao giờ cũng thích lợi dụng dịp tại những nơi chốn văn hóa cổ để xem cho biết những chốn kín đáo xưa kia từng thực hành cái lối khảo xét lương tâm ấy. Bởi vậy anh ta biết các buồng tra tấn ở Nürnberg, ở Regensburg, và vì mục đích giáo dưỡng đã quan sát khá kỹ ở đó. Quả vậy, ở những nơi ấy người ta đã hành hạ thân xác vì linh hồn một cách hết sức thiếu dịu dàng, bằng đủ thứ cách khéo nghĩ ra. Mà thậm chí đã chẳng có tiếng thét nào. Cái quả lê bị nhét thúc vào cái miệng há hốc, cái quả lê nổi tiếng ấy, tự nó vốn đã chẳng phải món ngon gì, – rồi trong mọi thứ tất bật, im lặng ngự trị...

“_Porcheria_,” Settembrini lẩm bẩm.

Ferge phát biểu rằng cái quả lê thì cứ đáng trọng như thường, và toàn bộ thứ tất bật trong im lặng ấy cũng vậy. Nhưng một cái gì hèn hạ hơn chuyện nắn màng phổi thì ngay cả hồi đó người ta cũng không thể nghĩ ra nổi.

Việc ấy vốn đã được làm là để chữa cho ông ấy mà!

Một linh hồn ngoan cố, một công lý bị tổn thương cũng biện minh chẳng kém gì cho một sự vô xót thương tạm thời. Thứ hai, tra tấn còn là kết quả của một bước tiến duy lý.

Naphta hẳn đã không hoàn toàn tỉnh trí.

Nhưng không, ông ta đại thể vẫn khá tỉnh trí. Herr Settembrini là một người duy mỹ, và lịch sử trung đại của trình tự xét xử hiển nhiên lúc này không bày ra trước mắt ông một cách mạch lạc. Quả thật đó là một quá trình ngày càng được duy lý hóa, theo cách mà dần dần, trên cơ sở những suy xét của lý tính, Chúa đã bị gạt ra khỏi công việc pháp đình. Thần phán đã sụp đổ, vì người ta buộc phải nhận thấy rằng kẻ mạnh hơn chiến thắng, ngay cả khi y sai. Những người thuộc hạng như Herr Settembrini, những kẻ hoài nghi, những nhà phê phán, đã rút ra nhận thức ấy và thúc đẩy để lối tố tụng thẩm vấn thay vào chỗ của trình tự xét xử ngây thơ cũ, một lối xét xử không còn cậy vào sự can thiệp của Chúa vì chân lý nữa, mà nhắm tới việc buộc bị cáo thú nhận chân lý. Không có lời thú nhận thì không có kết án, người ta cứ thử đi hỏi trong dân chúng ngay đến ngày nay mà xem: bản năng ấy ăn sâu lắm, chuỗi chứng cứ có kín kẽ đến đâu đi nữa, bản án vẫn bị cảm thấy là thiếu chính đáng nếu thiếu lời thú nhận. Làm sao cưỡng bức được nó? Làm sao xác minh ra chân lý vượt lên trên mọi dấu hiệu thuần túy, mọi ngờ vực thuần túy? Làm sao nhìn vào tim, vào óc của một con người đang che giấu, đang từ chối chân lý ấy? Nếu tinh thần cố chấp ác ý, thì chẳng còn gì khác ngoài việc quay sang thân xác, cái mà người ta còn có thể khống chế. Tra tấn, như một phương tiện để làm xuất hiện lời thú nhận không thể thiếu ấy, là điều lý tính đòi hỏi. Nhưng kẻ đã đòi hỏi và đưa thủ tục thú nhận ấy vào, chính là Herr Settembrini, và do đó ông ta cũng là tác giả của tra tấn.

Nhà nhân văn cầu các vị còn lại đừng tin điều ấy. Đó là những trò quỷ quái. Nếu mọi sự quả thật diễn ra như Herr Naphta giảng giải, nếu quả nhiên lý tính là kẻ phát minh ra điều ghê rợn, thì điều đó chỉ chứng tỏ rằng lý tính bao giờ cũng cay đắng cần đến chỗ dựa và sự soi sáng biết bao, và những kẻ thờ phụng bản năng tự nhiên lại càng ít có cớ để sợ rằng dưới mặt đất này có khi mọi việc sẽ diễn ra quá ư hợp lý! Có điều người phát biểu trước hẳn đã lầm đường. Sự ghê tởm pháp lý kia không thể quy về lý tính chỉ riêng vì cội nguồn của nó là niềm tin vào địa ngục. Cứ hãy nhìn quanh trong các viện bảo tàng và các phòng tra tấn mà xem: nào kẹp, nào kéo giãn, nào vít, nào nung sém, tất cả hiển nhiên đều phát sinh từ một trí tưởng tượng trẻ con bị mê lầm, từ ước muốn mô phỏng thành kính những gì diễn ra ở cõi bên kia, nơi chốn của hình phạt vĩnh cửu. Hơn nữa, người ta thậm chí còn tưởng là mình đang giúp đỡ kẻ phạm tội. Người ta giả định rằng chính linh hồn khốn khổ của hắn đang vật lộn để thốt ra lời thú nhận, và chỉ có xác thịt, với tư cách nguyên lý của cái ác, chống lại ý chí tốt đẹp hơn của hắn. Vì thế người ta đã tưởng mình gần như làm cho hắn một việc yêu thương, khi dùng nhục hình mà bẻ gãy xác thịt hắn. Một cơn mê sảng khổ hạnh...

Liệu người La Mã cổ cũng từng bị giam hãm trong lối nghĩ ấy chăng.

Người La Mã ư? _Ma che!_

Tuy vậy, họ cũng đã biết đến tra tấn như một phương tiện tố tụng.

Một thế lúng túng về lô-gích... Hans Castorp tìm cách giúp vượt qua bằng cách, đầy vẻ kẻ cả và như thể việc lèo lái một cuộc trò chuyện như thế là phần mình, ném vấn đề án tử vào cuộc tranh luận. Tra tấn đã bị bãi bỏ, mặc dù các thẩm phán điều tra hẳn vẫn còn những thủ đoạn của họ để làm bị cáo nhũn ra. Nhưng án tử hình dường như bất tử, không thể thiếu được. Những dân tộc văn minh nhất vẫn bám lấy nó. Người Pháp đã có những kinh nghiệm rất tệ với các cuộc lưu đày. Người ta đơn giản là không biết về mặt thực tế phải làm gì với một số sinh vật giống người nào đó, ngoài việc làm cho họ ngắn đi một cái đầu.

Đó không phải là những “sinh vật giống người”, Herr Settembrini dạy cho chàng biết; đó là con người, như chính chàng, người kỹ sư, và như cả người đang nói đây, chỉ có điều ý chí yếu đuối và là nạn nhân của một xã hội lỗi lầm. Và ông kể về một trọng phạm, một kẻ giết người nhiều lần, thuộc đúng vào cái hạng mà các công tố viên trong phần luận tội vẫn quen gọi là “thú tính hóa”, là “dã thú trong hình hài người”. Người đàn ông ấy đã phủ kín các bức tường buồng giam của mình bằng thơ. Và những câu thơ ấy tuyệt nhiên chẳng tồi chút nào, trái lại còn hay hơn nhiều thứ thơ mà các công tố viên đôi khi cũng làm ra.

Điều đó hắt một thứ ánh sáng kỳ quặc lên nghệ thuật, Naphta đáp. Nhưng ngoài ra thì chẳng có gì đáng chú ý cả.

Hans Castorp đã chờ đợi rằng Herr Naphta sẽ muốn duy trì việc hành hình. Theo chàng, Naphta hẳn cũng cách mạng như Herr Settembrini, nhưng là theo nghĩa bảo tồn, một nhà cách mạng của sự bảo tồn.

Thế giới, Herr Settembrini mỉm cười tự tin, rồi sẽ cứ thế bỏ qua cái cuộc cách mạng phản kích phản nhân văn ấy để tiếp tục công việc thường ngày. Herr Naphta thà còn nghi ngờ nghệ thuật hơn là chịu thừa nhận rằng nghệ thuật cũng tấn phong kẻ đọa lạc nhất vào hàng người. Với thứ cuồng tín như vậy thì không thể nào chinh phục được tuổi trẻ đi tìm ánh sáng. Một liên minh quốc tế, với mục tiêu là thủ tiêu án tử hình bằng luật pháp ở mọi nước văn minh, vừa mới thành lập. Herr Settembrini có vinh dự được thuộc về liên minh ấy. Địa điểm của đại hội đầu tiên của họ còn chưa định, nhưng nhân loại có quyền tin tưởng rằng những diễn giả sẽ cất tiếng ở đó hẳn sẽ mang theo những lý lẽ làm khí giới! Và ông đưa ra những lý lẽ ấy, trong đó có lý lẽ về khả năng thường trực của sự lầm lẫn pháp lý, của án oan giết người bởi công lý, cũng như lý lẽ về niềm hy vọng cải hóa không bao giờ được phép từ bỏ; ông thậm chí còn trích lời “sự báo thù là của ta”, và còn giảng rằng nhà nước, nếu nhắm tới sự nâng cao phẩm tính chứ không phải bạo lực, thì không được lấy ác báo ác, và ông bác bỏ khái niệm “hình phạt”, sau khi từ lập trường của một thuyết định mệnh khoa học mà công kích khái niệm “tội lỗi”.

Rồi tuổi trẻ đi tìm ánh sáng phải ngồi nhìn Naphta vặn gãy cổ từng lý lẽ một. Ông chế giễu nỗi ghê máu và sự tôn sùng sinh mệnh của nhà nhân đạo, khẳng định rằng sự tôn sùng sự sống cá thể ấy chỉ thuộc về những thời buổi ô dù thị dân phẳng lì nhất; còn trong những hoàn cảnh có chút đam mê, hễ chỉ cần có một ý niệm nào đó vượt lên trên ý niệm về “an ninh”, một cái gì siêu nhân vị, tức là siêu cá thể, được đưa vào cuộc, mà đó mới là trạng thái duy nhất xứng với con người, thành thử cũng là trạng thái bình thường theo nghĩa cao hơn, thì sự sống cá thể bao giờ cũng không những sẽ bị hy sinh cho ý tưởng cao hơn ấy không chút chần chừ, mà còn được chính cá nhân tự nguyện ném vào chỗ hiểm nữa. Ông nói, lòng bác ái của đối thủ ông đang ra sức tước khỏi sự sống mọi trọng âm nặng nề và nghiêm khắc đến chết người; nó nhắm tới việc thiến hoạn sự sống, ngay cả bằng thuyết định mệnh của cái thứ khoa học gọi là của nó. Nhưng chân lý là ở chỗ khái niệm tội lỗi không những không bị thuyết định mệnh xóa bỏ, mà còn nhờ nó mà tăng thêm sức nặng và sự kinh hãi.

Nghe cũng chẳng tồi. Vậy chẳng lẽ ông đòi cái nạn nhân bất hạnh của xã hội ấy phải thật sự cảm thấy mình có tội và bước lên đoạn đầu đài vì xác tín sao?

Đúng vậy. Kẻ phạm tội thấm nhuần tội lỗi của mình như thấm nhuần chính bản thân mình. Bởi hắn là như hắn là, và không thể, cũng không muốn, là khác đi, mà chính đó mới là tội lỗi. Herr Naphta chuyển tội và công từ lĩnh vực thực chứng sang lĩnh vực siêu hình. Trong việc làm, trong hành động, quả thật sự định đoạt ngự trị, ở đây không có tự do, nhưng trong hữu thể thì có. Con người là như nó đã muốn là, và cho tới khi bị tiêu diệt nó cũng sẽ không thôi muốn là như vậy; nó đã giết người với một niềm ham thích sống, và do đó trả bằng mạng mình cũng chưa phải là quá đắt. Cứ để hắn chết đi, vì hắn đã phải đền cho khoái lạc sâu thẳm nhất.

Khoái lạc sâu thẳm nhất ư?

Sâu thẳm nhất.

Người ta mím môi lại. Hans Castorp hắng giọng. Hàm dưới của Wehsal méo xệch. Herr Ferge thở dài. Settembrini tinh tế nhận xét:

“Người ta thấy đấy, có một lối khái quát hóa nhuốm màu cá nhân lên chính đối tượng. Ông có ham muốn giết người chăng?”

“Điều đó không liên can gì đến ông. Nhưng nếu tôi đã làm thế, thì tôi sẽ cười thẳng vào mặt một sự ngu muội nhân đạo muốn nuôi tôi bằng đậu lăng cho tới tận cái chết tự nhiên của mình. Kẻ giết người sống lâu hơn kẻ bị giết, điều ấy hoàn toàn vô nghĩa. Hai người đã, dưới bốn mắt, một mình với nhau, như chỉ còn trong một dịp thứ hai, có họ hàng với dịp này, hai hữu thể mới ở riêng với nhau như thế, một bên chịu đựng, một bên hành động, chia sẻ một bí mật gắn kết họ mãi mãi. Họ thuộc về nhau.”

Settembrini lạnh lùng thú nhận rằng ông thiếu cái cơ quan để cảm thụ thứ huyền nhiệm về cái chết và giết chóc ấy, và ông cũng không hề thấy thiếu nó. Không có gì chống lại những tài năng tôn giáo của Herr Naphta, chúng không nghi ngờ gì là trội hơn tài năng của ông, chỉ có điều ông ghi nhận rằng mình chẳng hề ghen tị. Một nhu cầu thanh sạch không thể vượt qua giữ ông xa hẳn một lĩnh vực nơi sự cung kính trước khốn cùng mà tuổi trẻ ưa thử nghiệm khi nãy đã nói tới hiển nhiên ngự trị không chỉ về phương diện thể xác mà cả về phương diện tinh thần; nói ngắn lại, một lĩnh vực nơi đức hạnh, lý tính và sức khỏe chẳng đáng gì, còn thói xấu và bệnh tật thì lại được tôn vinh đến không biết chừng nào.

Naphta xác nhận rằng đức hạnh và sức khỏe quả thật không phải là một trạng thái tôn giáo. Ông nói, đã được nhiều lắm rồi nếu làm cho rõ rằng tôn giáo hoàn toàn chẳng có gì dính dáng đến lý tính và đạo đức cả. Vì, ông nói thêm, nó chẳng có gì dính dáng đến sự sống. Sự sống đặt nền trên những điều kiện và cơ sở, một phần thuộc nhận thức luận, một phần thuộc địa hạt đạo đức. Những cái trước mang tên thời gian, không gian, nhân quả; những cái sau là luân lý và lý tính. Tất cả những điều ấy đối với bản chất tôn giáo không những xa lạ và dửng dưng, mà còn đối địch thù nghịch nữa; bởi chính chúng làm nên sự sống, cái gọi là sức khỏe, tức là tính phàm tục hạng nhất và sự trưởng giả tận gốc, mà thế giới tôn giáo phải được xác định như là đối cực tuyệt đối, và tuyệt đối thiên tài, của nó. Ngoài ra, ông, Naphta, cũng không muốn hoàn toàn phủ nhận khả năng của thiên tài nơi phạm vi của sự sống. Có một thứ tính thị dân của sự sống mà cái lòng chất phác mang tầm tượng đài của nó là điều không thể chối cãi, một thứ uy nghi trưởng giả mà người ta có thể thấy đáng kính, miễn là vẫn ghi nhớ rằng trong dáng đường bệ đứng chân dạng rộng, tay chắp sau lưng, ưỡn ngực ấy, nó có nghĩa là sự vô tôn giáo nhập thể.

Hans Castorp giơ ngón trỏ lên, như ở trường học. Chàng nói, chàng không muốn va chạm với bên nào cả, nhưng ở đây hiển nhiên đang nói về tiến bộ, về tiến bộ của con người, tức là nói theo một nghĩa nào đó về chính trị, về nền cộng hòa hùng biện và nền văn minh của phương Tây có giáo dưỡng, và ở điểm ấy chàng nghĩ rằng sự khác nhau, hay nếu Herr Naphta nhất định muốn thì là sự đối lập, giữa sự sống và tôn giáo rốt cuộc quy về sự khác nhau giữa thời gian và vĩnh cửu. Bởi tiến bộ chỉ có trong thời gian; trong vĩnh cửu thì không có tiến bộ, và cũng không có chính trị hay hùng biện. Ở đó người ta, nói như vậy, ngả đầu vào Chúa và nhắm mắt lại. Và đó là sự khác nhau giữa tôn giáo và luân lý, nói một cách lộn xộn như thế.

Settembrini nói, cái ngây thơ trong cách diễn đạt của chàng ít đáng ngại hơn nỗi sợ va chạm của chàng và khuynh hướng nhượng bộ quỷ dữ của chàng.

À, về quỷ thì họ đã từng bàn luận với nhau từ lâu lắm rồi, Herr Settembrini và chàng, Hans Castorp. “_O Satana, o ribellione!_” Rốt cuộc chàng đã nhượng bộ con quỷ nào mới được chứ. Con gắn với phản nghịch, lao động và phê phán hay con kia? Thế thì nguy đến tính mạng mất, một quỷ bên phải, một quỷ bên trái, làm sao nhân danh quỷ mà chui lọt qua đó cho được!

Naphta nói, theo cách ấy thì tình hình đã không được đặc tả đúng như Herr Settembrini mong muốn nhìn thấy. Điều quyết định trong thế giới quan của ông ấy là việc ông ấy biến Chúa và quỷ thành hai con người hay hai nguyên lý khác nhau, rồi đặt “sự sống”, theo đúng khuôn mẫu trung đại nghiêm ngặt, làm đối tượng tranh chấp giữa hai bên. Nhưng trên thực tế thì họ là một, và cùng nhất tề đối lập với sự sống, với tính thị dân của sự sống, với đạo đức, lý tính, đức hạnh, với tư cách nguyên lý tôn giáo mà cả hai cùng biểu hiện.

“Thật là một mớ hỗn độn tởm lợm, _che guazzabuglio proprio stomachevole_!” Settembrini kêu lên. Thiện và ác, thánh thiện và tội lỗi, tất cả bị trộn lẫn! Không phán đoán! Không ý chí! Không có khả năng khước từ điều đáng phải khước từ! Chẳng lẽ Herr Naphta không biết mình đang phủ nhận _cái gì_, khi ném Chúa và quỷ nhập một trước tai tuổi trẻ và nhân danh cái song nhất cuồng loạn ấy mà bác bỏ nguyên lý đạo đức? Ông ta phủ nhận _giá trị_, mọi sự xác lập giá trị, nói ra thật ghê tởm. Hay lắm, vậy là không có thiện cũng không có ác, mà chỉ có toàn thể vô luân vô tự kia! Cũng không có cá nhân trong phẩm giá phê phán của nó, mà chỉ có cộng đồng nuốt chửng và san phẳng hết thảy, sự tiêu vong thần bí vào trong nó! Cá nhân...

Thật thú vị làm sao khi Herr Settembrini lại một lần nữa tưởng mình là một cá nhân chủ nghĩa! Nhưng để được như thế thì trước hết phải biết sự khác nhau giữa luân lý và hạnh phúc, điều mà ở ngài khai minh kiêm nhất nguyên luận này tuyệt nhiên không có. Ở đâu sự sống một cách ngu xuẩn được nhận làm mục đích tự thân, và người ta hoàn toàn không hỏi đến một ý nghĩa và mục đích nào vượt lên trên nó, thì ở đó ngự trị đạo đức giống loài và xã hội, luân lý của loài có xương sống, chứ không phải chủ nghĩa cá nhân, mà chủ nghĩa ấy chỉ duy nhất có nhà trong lĩnh vực tôn giáo và huyền nhiệm, trong cái gọi là “toàn thể vô luân vô tự” kia. Cái luân lý của Herr Settembrini ấy rốt cuộc là gì và muốn gì! Nó bị ràng buộc vào sự sống, tức chẳng qua chỉ là cái có ích, tức là phi anh hùng đến mức đáng thương hại. Nó ở đó để người ta nhờ nó mà sống lâu và hạnh phúc, giàu có và khỏe mạnh, hết. Cái thứ phàm tục của lý tính và lao động ấy lại được ông ta coi là đạo đức. Còn về phần Naphta, thì ông xin phép nhiều lần gọi nó là thứ tính thị dân của sự sống hèn mọn.

Settembrini yêu cầu tiết chế, nhưng chính giọng ông lại rung động đầy đam mê khi thấy không thể chịu nổi việc Herr Naphta cứ mãi nói về “tính thị dân của sự sống” bằng một giọng, Chúa mới biết vì sao, khinh khỉnh kiểu quý tộc, như thể _điều đối lập_ với nó, mà ai cũng biết cái đối lập với sự sống là gì, lại có thể là cái cao quý hơn vậy!

Những tiếng then chốt và khẩu hiệu mới! Giờ thì họ đã đến với sự cao quý, với vấn đề quý tộc! Hans Castorp, quá nóng nực và kiệt sức vì rét buốt lẫn vấn đề, phán đoán chao đảo cả về mức dễ hiểu hay sự liều lĩnh sốt sắng trong chính cách diễn đạt của mình, thú nhận bằng đôi môi rã rời rằng từ trước tới nay chàng vẫn hình dung cái chết với một thứ cổ bèo Tây Ban Nha hồ cứng, hoặc cùng lắm, như thể trong tiểu lễ phục vậy, với một cái cổ áo cánh nhọn hồ cứng, còn sự sống thì với một cổ đứng nhỏ nhỏ hiện đại tầm thường như thế... Nhưng rồi chính chàng cũng hoảng vì cái vẻ vừa say sưa mộng mị vừa không thể đem ra dùng trong giao tiếp xã hội của lời mình, và quả quyết rằng không phải thế chàng định nói. Chỉ là có phải quả thực vẫn có những người, những con người nhất định, mà ta không sao tưởng tượng họ đã chết được, chính bởi họ quá đỗi tầm thường chăng! Ý chàng muốn nói là: họ gây ấn tượng giỏi sống đến mức người ta cảm thấy như họ chẳng bao giờ có thể chết, như thể họ không xứng với sự thánh hiến của cái chết.

Herr Settembrini hy vọng mình không lầm khi cho rằng Hans Castorp nói những điều như thế chỉ cốt để người ta cãi lại chàng. Chàng thanh niên ấy rồi sẽ luôn thấy ở ông một người sẵn lòng giúp chàng, về mặt tinh thần, chống đỡ những cơn cám dỗ như vậy. “Thạo sống” ư? Và lại dùng chữ ấy theo một nghĩa tầm thường, khinh mạn như thế sao? “Đáng sống!” Xin chàng hãy dùng chữ ấy thay vào, thế là các khái niệm sẽ tự sắp xếp thành một trật tự chân chính và đẹp đẽ đối với chàng. “Đáng sống”: và tức thì, theo con đường liên tưởng dễ dàng nhất mà cũng chính đáng nhất, ý niệm về cái đáng mến cũng hiện ra, gần gũi thân thiết với ý niệm trước đến nỗi có thể nói rằng chỉ cái gì thật sự đáng sống mới thật sự đáng mến. Cả hai gộp lại, cái đáng sống và vì thế đáng mến, làm thành điều người ta gọi là cái cao quý.

Hans Castorp thấy như thế thật duyên dáng và hết sức đáng nghe. Chàng nói, Herr Settembrini đã hoàn toàn chinh phục chàng bằng lý thuyết giàu hình tượng của mình. Bởi người ta muốn nói gì thì nói, mà quả cũng có thể nói được đôi điều lắm chứ, chẳng hạn bệnh tật là một trạng thái đời sống được nâng cao và bởi vậy có cái gì lễ hội trong nó, thì dẫu sao cũng chắc chắn một điều: bệnh tật có nghĩa là sự nhấn quá mức vào phần thể xác, như thể nó dồn con người trở lui, quăng con người trở lại hoàn toàn vào chính thân xác mình, và do đó làm tổn hại đến phẩm giá con người cho đến mức hủy diệt, bởi nó hạ nhục con người xuống thành một thân xác thuần túy. Vậy nên bệnh tật là phi nhân.

Naphta lập tức phản bác rằng bệnh tật là điều hết sức người; bởi làm người tức là mang bệnh. Quả thật, con người về bản chất là một sinh thể mang bệnh, chính tình trạng bệnh hoạn ấy mới làm nên con người, và kẻ nào muốn chữa cho con người lành lại, muốn khiến con người làm hòa với tự nhiên, “trở về với tự nhiên” (trong khi xưa nay con người chưa từng tự nhiên), tất cả những hạng hôm nay đi rao giảng như tiên tri, từ các nhà phục nguyên, bọn ăn sống, phái chuộng không khí trời, những ông thầy tắm nắng, vân vân, tóm lại mọi thứ Rousseau, đều chẳng nhắm gì ngoài việc phi nhân hóa và thú hóa con người... Tính người ư? Sự cao quý ư? Chính tinh thần là cái làm cho con người, cái hữu thể đã được tách khỏi tự nhiên ở một mức độ cao và cũng cảm thấy mình đối lập với tự nhiên ở một mức độ lớn, khác biệt với toàn bộ đời sống hữu cơ còn lại. Vậy nên chính trong tinh thần, trong bệnh tật, mà phẩm giá và sự cao quý của con người đặt nền; nói gọn lại, con người càng bệnh bao nhiêu thì càng là người bấy nhiêu, và thần khí của bệnh tật còn nhân tính hơn thần khí của sức khỏe. Thật lạ khi có kẻ đóng vai người yêu nhân loại mà lại nhắm mắt trước những chân lý nền tảng của tính người như thế. Herr Settembrini lúc nào cũng nhắc đến tiến bộ. Cứ như tiến bộ, nếu quả có cái gọi là tiến bộ, lại không hoàn toàn mắc nợ bệnh tật, nghĩa là mắc nợ thiên tài, mà thiên tài chẳng là gì khác hơn chính bệnh tật! Cứ như những người khỏe mạnh từ xưa đến nay lại không sống nhờ các thành tựu của bệnh tật! Đã từng có những con người tự giác và tự nguyện bước vào bệnh tật và điên loạn để giành lấy cho nhân loại những nhận thức rồi sau đó sẽ trở thành sức khỏe, một khi đã được giành bằng điên loạn, và việc sở hữu cùng hưởng dụng chúng, sau hành động hy sinh anh hùng kia, sẽ không còn bị điều kiện hóa bởi bệnh tật và điên loạn nữa. Đó mới là cái chết trên thập giá đích thực...

A ha, Hans Castorp nghĩ bụng, tên Jesuit chẳng đúng phép tắc kia, với những lối phối ghép của ngươi và cách ngươi cắt nghĩa cái chết trên thập giá! Thảo nào người ta thấy ngay vì sao ngươi đã không trở thành cha cố, _joli jésuite à la petite tache humide_! Giờ thì gầm đi, hỡi sư tử! chàng thầm hướng về Herr Settembrini mà nhủ. Và ông này quả đã “gầm”, khi tuyên bố tất cả những điều Naphta vừa khẳng định chỉ là trò đánh lòa, lối cãi chày cãi cối, sự làm rối loạn thế gian. “Hãy cứ nói toạc ra đi,” ông kêu lên với đối thủ, “hãy cứ, với trách nhiệm của một nhà giáo dục, nói thẳng vào tai tuổi trẻ còn dễ uốn nắn rằng tinh thần là bệnh tật! Thật thế, làm vậy ông sẽ khuyến khích họ đi tới tinh thần, sẽ thu phục họ cho đức tin vào tinh thần lắm đấy! Rồi đằng khác lại tuyên bố bệnh tật và cái chết là cao quý, còn sức khỏe và sự sống là tầm thường, đó đúng là phương pháp chắc chắn nhất để hướng học trò vào việc phụng sự nhân loại! _Da vero, è criminoso!_” Và như một hiệp sĩ, ông đứng ra bênh vực sự cao quý của sức khỏe và của sự sống, cái cao quý do tự nhiên ban cho và chẳng việc gì phải run sợ trước tinh thần. “Hình thể!” ông nói; và Naphta, theo lối cao giọng hơn, nói: “Logos!” Nhưng người không muốn biết gì đến Logos lại nói “Lý trí!”, trong khi người của Logos bênh vực “đam mê”. Thật hỗn độn. “Khách thể!” người này nói, và người kia: “Cái tôi!” Rồi rốt cuộc, bên này còn nói tới “nghệ thuật”, bên kia tới “phê phán”, và dù sao thì người ta vẫn cứ quay lại mãi với “tự nhiên” và “tinh thần”, với chuyện cái nào cao quý hơn, với “vấn đề quý phái”. Nhưng trong đó chẳng có trật tự và sự sáng tỏ nào cả, thậm chí cũng chẳng phải một sự phân đôi hiếu chiến; bởi mọi thứ không những chống lại nhau mà còn lẫn vào nhau, và những người tranh luận không những mâu thuẫn lẫn nhau mà còn mâu thuẫn với chính mình nữa. Settembrini đã không ít lần cất lên những tiếng hoan hô hùng biện cho “phê phán”, thế mà nay lại đòi nhận cái đối lập của nó, tức “nghệ thuật”, làm nguyên lý cao quý; còn Naphta, trong khi đã hơn một lần xuất hiện như người bênh vực “bản năng tự nhiên”, chống lại Settembrini, kẻ từng đối xử với tự nhiên như “quyền lực ngu đần”, như một sự kiện trần trụi và một định mệnh trần trụi mà lý trí và lòng kiêu hãnh của con người không được thoái vị trước nó, thì nay người nọ lại chiếm vị trí về phía tinh thần và “bệnh tật”, nơi duy nhất có thể tìm thấy sự cao quý và tính người, trong khi người kia lại hóa thành người biện hộ cho tự nhiên và vẻ cao quý khỏe mạnh của nó, quên bẵng mọi sự giải phóng. Với “khách thể” và “cái tôi” cũng rối ren không kém; vâng, ở đây sự hỗn loạn, vốn rốt cuộc vẫn chỉ là một thứ duy nhất, còn đến mức vô phương cứu chữa hơn nữa, đúng nghĩa đen đến nỗi chẳng ai còn biết rốt cuộc ai mới là kẻ sùng tín và ai mới là kẻ tự do. Naphta nghiêm giọng cấm Herr Settembrini tự xưng là một “cá nhân chủ nghĩa”, bởi ông ta phủ nhận sự đối lập giữa Thượng đế và tự nhiên, hiểu vấn đề con người, xung đột nội tại của nhân cách, chỉ như xung đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích toàn thể, và vì vậy bị trói chặt vào một thứ luân lý gắn với đời sống và có tính thị dân, thứ luân lý xem đời sống là mục đích tự thân, nhắm tới lợi ích một cách phi anh hùng, và nhìn thấy luật luân lý trong mục đích của nhà nước; trong khi trái lại, chính Naphta đây, vì biết rõ rằng vấn đề trong con người thật ra đặt trên sự xung đột giữa cái cảm tính và cái siêu cảm tính, mới là người đại diện cho chủ nghĩa cá nhân đích thực, chủ nghĩa cá nhân huyền nhiệm, và mới thật là con người của tự do và của chủ thể. Nhưng nếu quả ông ta là như vậy, Hans Castorp nghĩ, thì “tính vô danh và tính cộng đồng” sẽ ra sao, chỉ cần nêu ngay _một_ chỗ bất nhất làm ví dụ? Và rồi còn những điều nổi bật mà ông ta từng thao thao trong cuộc đàm đạo với cha Unterpertinger về “tính Công giáo” của triết gia nhà nước Hegel, về mối liên kết nội tại giữa các khái niệm “chính trị” và “Công giáo”, và phạm trù khách quan mà cả hai cùng tạo thành, thì sao? Chẳng phải nghệ thuật trị quốc và giáo dục từ bao giờ cũng là lĩnh vực hoạt động đặc biệt của dòng tu Naphta đó sao? Và là thứ giáo dục gì mới được chứ! Herr Settembrini hẳn nhiên là một nhà sư phạm nhiệt thành, nhiệt thành đến quấy rầy và khó chịu; nhưng về phương diện tính khách quan khổ hạnh và khinh ngã, các nguyên tắc của ông tuyệt nhiên không dám tranh tài với những nguyên tắc của Naphta. Mệnh lệnh tuyệt đối! Ràng buộc sắt đá! Cưỡng bức! Vâng phục! Khủng bố! Điều ấy hẳn cũng có danh dự của nó, nhưng đối với phẩm giá phê phán của cá thể thì nó chỉ lưu tâm rất ít. Đó là điều lệnh thao diễn của Friedrich nước Phổ và của Loyola xứ Tây Ban Nha, đạo hạnh và nghiêm rắn đến tận máu; chỉ có điều người ta phải tự hỏi một điểm: làm sao Naphta lại đi tới cái tính tuyệt đối đẫm máu ấy, trong khi chính ông ta công khai thú nhận rằng mình hoàn toàn không tin vào nhận thức thuần túy và sự nghiên cứu vô tiền giả định, nói ngắn lại là không tin vào chân lý, chân lý khách quan, chân lý khoa học, cái mà đối với Lodovico Settembrini, việc theo đuổi nó có nghĩa là luật tối cao của toàn bộ luân lý nhân loại. Ấy là điều đạo hạnh và nghiêm ngặt nơi Herr Settembrini, trong khi ở Naphta thì việc quy chân lý về con người và tuyên bố rằng chân lý là cái gì có ích cho con người lại lỏng lẻo và bê tha. Chẳng phải đó đúng là tính thị dân của đời sống và thói philistin công lợi hay sao, khi làm cho chân lý phụ thuộc vào lợi ích của con người theo cách ấy? Nói cho đúng, đó không phải là tính khách quan sắt đá; trong ấy có nhiều tự do và chủ thể hơn điều Leo Naphta muốn thừa nhận, dẫu rằng quả thật, theo một cách rất tương tự, đó cũng là “chính trị”, cũng như lời phát biểu mang tính giáo huấn của Herr Settembrini: tự do là luật của lòng yêu người. Điều đó hiển nhiên có nghĩa là trói buộc tự do, cũng như Naphta trói buộc chân lý: tức là trói nó vào con người. Ở đó cái đạo hạnh rõ ràng nhiều hơn tự do, và đến lượt nó, đây lại là một sự khác biệt có nguy cơ bị đánh mất trong những sự quy định như thế. Chao ôi, Herr Settembrini này! Chẳng phải vô cớ mà ông là một văn sĩ, nghĩa là: cháu một chính khách và con một người theo chủ nghĩa nhân văn. Ông quảng đại thiết tha với phê phán và sự giải phóng đẹp đẽ, lại còn ngân nga trêu các cô gái ngoài phố, trong khi Naphta nhỏ thó, sắc nhọn kia bị trói buộc bởi những lời khấn khắc nghiệt. Thế mà nếu muốn nói, thì người này gần như là một kẻ trác táng vì quá tự do tư tưởng, còn người kia trái lại là một tay cuồng đức hạnh. Herr Settembrini sợ “tinh thần tuyệt đối” và nhất quyết muốn đóng đinh tinh thần vào tiến bộ dân chủ, kinh hoàng trước thứ phóng đãng tôn giáo của Naphta quân phiệt, thứ phóng đãng quẳng Thượng đế và quỷ dữ, sự thánh thiện và tội ác, thiên tài và bệnh tật vào chung một mớ, và chẳng biết tới bất cứ sự định giá nào, bất cứ phán đoán của lý trí nào, bất cứ ý chí nào. Vậy thì rốt cuộc ai mới là kẻ tự do, ai là kẻ sùng tín, điều gì làm nên thân phận và trật tự chân thực của con người: sự tiêu vong trong cộng đồng vừa nuốt chửng vừa san bằng tất cả, một cộng đồng đồng thời trác táng và khổ hạnh, hay “chủ thể phê phán”, nơi thói ba hoa bịp bợm và sự nghiêm khắc đức hạnh thị dân xô lấn lẫn nhau? Chao ôi, các nguyên tắc và các phương diện cứ liên tục xô lấn nhau, mâu thuẫn nội tại thì chẳng hề thiếu, và trách nhiệm công dân bị làm cho khó khăn đến mức phi thường, không chỉ trong việc quyết định giữa các đối cực, mà ngay cả chỉ trong việc giữ chúng như những tiêu bản tách bạch và sạch sẽ, đến nỗi cám dỗ lao đầu xuống cái “toàn thể vô trật tự về luân lý” của Naphta thật lớn lao biết bao. Đó là sự đan chéo và vướng mắc phổ quát, là cuộc đại hỗn loạn, và Hans Castorp tưởng như nhận ra rằng những người đang tranh cãi kia hẳn đã bớt cay cú hơn nếu chính linh hồn họ không bị đè nặng ngay trong lúc tranh cãi.

Người ta đã cùng nhau đi bộ lên tới Berghof; rồi ba người ở đó lại tiễn hai vị khách ngoài về tận trước căn nhà nhỏ của họ, và tại đấy họ còn đứng rất lâu trong tuyết, trong khi Naphta và Settembrini cãi nhau, theo lối sư phạm, như Hans Castorp thừa biết, và để tác động lên tính dễ uốn nắn của tuổi trẻ đang kiếm tìm ánh sáng. Đối với ông Ferge, tất cả những điều ấy đều quá cao siêu, như ông ta đã nhiều lần cho thấy; còn Wehsal thì tỏ ra ít dự phần, từ lúc câu chuyện không còn xoay quanh đòn roi và tra tấn nữa. Hans Castorp cúi đầu, lấy gậy đào trong tuyết và ngẫm nghĩ về cuộc đại hỗn loạn.

Cuối cùng người ta chia tay nhau. Không thể đứng mãi được, và cuộc đàm đạo thì không bờ bến. Ba vị khách Berghof quay trở về nơi cư ngụ của mình, còn hai nhà thi đua sư phạm thì phải cùng nhau vào lại căn nhà nhỏ, người này để trở về xà lim lụa của mình, người kia để tìm lại căn buồng nhân văn với bục đứng và chai nước. Còn Hans Castorp thì đi vào lô-gia ban công của chàng, tai đầy tiếng huyên náo và binh khí của hai đạo quân, từ Jerusalem và Babylon tiến tới, dưới _dos banderas_, gặp nhau trong một cuộc hỗn chiến rối bời.

Tuyết

Năm lần mỗi ngày, ở bảy chiếc bàn, người ta đều đồng thanh bày tỏ nỗi bất bình với tính chất thời tiết của mùa đông năm ấy. Người ta phán rằng nó thi hành bổn phận của một mùa đông núi cao một cách rất tồi tệ, rằng nó hoàn toàn không cung ứng những phương dược khí tượng mà vùng khí hậu này mang tiếng nhờ đó, ít nhất cũng không ở mức mà tờ quảng cáo đã hứa hẹn, những người ở lâu năm đã quen hưởng, và những người mới đến đã từng hình dung. Sự thiếu hụt lớn lao về nắng là điều không thể không ghi nhận, về ánh mặt trời, nhân tố trị liệu quan trọng ấy, thiếu sự trợ giúp của nó thì sự hồi phục hẳn nhiên bị chậm lại... Và bất kể Herr Settembrini nghĩ thế nào về lòng thành thật mà các vị khách trên núi theo đuổi việc bình phục của mình và việc trở về từ “quê nhà” này xuống miền đồng bằng: dẫu sao họ cũng đòi quyền lợi của mình, dẫu sao họ cũng muốn bõ công bõ phí cho những khoản chi mà cha mẹ, chồng họ đã gánh cho họ, và vì vậy họ cằn nhằn trong các câu chuyện lúc ăn, trong thang máy, và ở đại sảnh. Ban điều hành cấp trên cũng tỏ ra hoàn toàn hiểu nghĩa vụ phải bù đắp và bồi hoàn của mình. Một thiết bị mới cho “mặt trời vùng cao nhân tạo” đã được mua thêm, vì hai thiết bị sẵn có không đáp ứng nổi nhu cầu của những kẻ muốn làm rám nắng bằng điện; điều ấy rất hợp với các thiếu nữ và phụ nữ, còn đối với cánh đàn ông thì, bất chấp lối sống nằm ngang, nó ban cho một diện mạo thể thao tuyệt đẹp và đầy vẻ chinh phục. Phải, diện mạo ấy sinh hoa kết quả trong thực tế; phụ nữ, tuy hoàn toàn rõ ràng về nguồn gốc kỹ thuật-mỹ phẩm của vẻ nam tính nọ, vẫn đủ ngốc hoặc đủ tinh quái, đủ mê đắm sự đánh lừa của giác quan, để say sưa vì ảo tưởng ấy và đón nhận nó theo lối đàn bà. “Lạy Chúa!” bà Schönfeld nói, một nữ bệnh nhân tóc đỏ mắt đỏ từ Berlin, buổi tối ở đại sảnh với một tay phong nhã chân dài ngực lép, người trên danh thiếp tự xưng là “_Aviateur diplômé et Enseigne de la Marine allemande_” và đang mang tràn khí màng phổi, ngoài ra lại mặc smoking đến bữa trưa rồi tối đến cởi món ấy ra, quả quyết rằng ở hải quân quy định là như thế, “lạy Chúa!” bà nói, mắt hau háu ngắm nhìn viên _Enseigne_, “ông ấy rám nắng vì mặt trời vùng cao mới tuyệt làm sao! Trông hắn như một tay săn đại bàng, cái đồ quỷ sứ ấy!” “Cứ chờ đấy, tiên cá,” hắn thì thào vào tai bà trong thang máy, khiến da gà nổi khắp người bà, “bà sẽ phải đền tội vì trò liếc mắt tai hại ấy!” Và băng qua các ban công, men theo những vách ngăn bằng kính, gã quỷ sứ kiêm thợ săn đại bàng đã tìm được đường đến với nàng tiên cá...

Dẫu vậy, còn xa lắm người ta mới cảm thấy mặt trời vùng cao nhân tạo là một sự bù đắp thực sự cho phần thiếu hụt ánh sáng trời thật của năm ấy. Hai hay ba ngày nắng trong trẻo mỗi tháng, những ngày mà quả thật với sắc xanh nhung sâu thẳm phía sau những đỉnh núi trắng, với muôn tia lấp lánh như kim cương và hơi nóng ngon lành cháy rát trên gáy cùng trên mặt người ta, đã đặc biệt huy hoàng lóe bừng lên từ màu xám sương mù nhòa nhạt và màn che dày đặc, hai hay ba ngày như thế suốt nhiều tuần lễ là quá ít đối với tâm hồn những con người mà số phận của họ biện minh cho những đòi hỏi được an ủi một cách khác thường, và những người trong thâm tâm khăng khăng vin vào một giao kèo, theo đó, để đổi lấy việc từ bỏ những niềm vui và nỗi khổ của nhân tính miền đồng bằng, họ được bảo đảm một đời sống tuy vô sinh khí nhưng thật nhẹ nhàng và vui thú, một đời sống vô lo đến mức bãi bỏ cả thời gian và hoàn toàn thuận lợi. Hofrat cũng chẳng giúp được bao nhiêu khi nhắc cho họ nhớ rằng, ngay trong những hoàn cảnh ấy, cuộc sống ở Berghof vẫn còn xa mới giống sự lưu đày ở một trại khổ sai hay một mỏ Siberia, và rằng bầu không khí nơi đây, mỏng và nhẹ như nó vốn thế, gần như là thứ ê-te trống rỗng của vũ trụ, nghèo nàn phụ gia trần thế, dù tốt hay xấu, ngay cả không có nắng vẫn còn che chở họ khỏi khói mù và hơi ngột ngạt của miền bằng: sự u ám và phản kháng lan tràn, những lời đe dọa bỏ đi tức khắc là chuyện thường ngày, và cũng đã có khi chúng được thực hiện, bất chấp những tấm gương như vụ trở lại đáng buồn mới đây của bà Salomon, người mà bệnh tình vốn không nặng, tuy kéo dài, nhưng bởi tự tiện lưu lại Amsterdam ẩm ướt và lộng gió nên đã mang tính chất suốt đời...

Thay vì mặt trời, thì lại có tuyết, tuyết từng khối, một lượng tuyết khổng lồ đến mức Hans Castorp suốt đời chưa từng thấy. Mùa đông trước quả tình cũng chẳng thiếu thốn về mặt ấy, nhưng những thành tựu của nó thật còm cõi so với năm nay. Năm nay mới thật quái dị và vô độ, làm lòng người tràn đầy ý thức về tính phiêu lưu và vẻ dị thường của cõi này. Ngày nào tuyết cũng rơi, suốt đêm tuyết cũng rơi, lất phất hay thành cơn mù tuyết dày đặc, nhưng cứ là tuyết rơi. Vài con đường ít ỏi còn được giữ cho có thể đi lại trông như những lối hào, hai bên là những bức tường tuyết cao hơn đầu người, những mặt phẳng như phiến thạch cao, với ánh lấp lánh tinh thể hột mịn rất đẹp mắt, và cũng là chỗ để khách trên núi viết vẽ, truyền cho nhau đủ thứ nhắn gửi, câu bông đùa và lời bóng gió. Nhưng ngay cả giữa hai bức tường ấy người ta vẫn bước trên nền đã bị đội cao lên nhiều, dẫu xúc đến mấy; điều đó nhận ra ở những chỗ rời xốp và những hố trũng, nơi bàn chân bỗng lún phập xuống sâu, có khi đến tận gối: phải hết sức để ý kẻo bất thần gãy chân. Những băng ghế nghỉ đã biến mất, bị vùi lấp; may ra chỉ còn một mẩu tựa lưng nhô lên khỏi nấm mồ trắng của chúng. Dưới phố, cao độ mặt đường bị dời đi một cách kỳ quặc đến nỗi các cửa hiệu tầng trệt trong nhà đã hóa thành tầng hầm, người ta phải từ mặt vỉa hè bước xuống bằng những bậc tuyết mới vào được.

Và trên những khối đã nằm sẵn ấy tuyết vẫn cứ rơi thêm, ngày này qua ngày khác, lặng lẽ sa xuống trong giá lạnh vừa phải, mười, mười lăm độ dưới không, chẳng đến nỗi thấu tủy, người ta cảm thấy nó rất ít, năm độ hay hai độ cũng có lẽ thế thôi, vì trời lặng gió và không khí khô hanh đã tước mất nọc nhọn của nó. Buổi sáng rất tối; người ta dùng bữa điểm tâm dưới ánh nhân tạo của những chụp đèn tròn trong phòng ăn với những đai vòm trang trí khuôn mẫu vui mắt. Ngoài kia là cái hư vô đục xám, thế giới bị gói chặt trong lớp bông xám trắng ép sát các ô kính, trong bụi tuyết và làn sương mù dày đặc. Núi non khuất tăm; nhiều lắm thì sau một lúc mới lờ mờ thấy được ít cây lá kim gần nhất: chúng đứng đó nặng trĩu, rồi nhanh chóng tan biến vào cái hỗn hợp xám đục, và thỉnh thoảng một cây vân sam trút bớt gánh nặng của mình, giũ bụi trắng tung vào màu xám. Đến mười giờ, mặt trời hiện lên trên ngọn núi của nó như một làn khói le lói, đem vào phong cảnh vô nghĩa, không còn nhận ra được kia một thứ sinh khí ma quái nhợt nhạt, một ánh gợi cảm tái xanh. Nhưng mọi sự vẫn tan loãng trong vẻ mảnh nhẹ và tái nhợt như ma, không còn một đường nét nào để mắt có thể lần theo với chút chắc chắn. Đường viền các đỉnh núi nhòe đi, mờ sương, mờ khói. Những mặt tuyết được rọi sáng nhợt nhạt, chồng lớp phía sau và phía trên nhau, dẫn tầm mắt vào cõi vô thể. Rồi có khi một đám mây sáng, như khói, cứ lơ lửng rất lâu trước một vách đá mà không hề đổi hình.

Đến trưa, mặt trời, nửa chừng xuyên ra, tỏ ý muốn hòa tan sương mù vào sắc xanh. Nỗ lực ấy còn xa mới thành công; nhưng từng lúc người ta vẫn nắm bắt được một linh cảm về màu xanh của trời, và chút ánh sáng ít ỏi ấy cũng đủ để làm cho khắp vùng, vốn bị cuộc phiêu lưu của tuyết làm méo mó một cách kỳ quái, lóe lên ánh kim cương. Thường thì vào giờ ấy tuyết ngừng rơi, dường như để cho người ta có một cái nhìn khái quát về thành quả đã đạt được; phải, ngay cả những ngày nắng hiếm hoi chen vào kia cũng dường như phục vụ mục đích đó, những ngày mà cơn tuyết lặng đi và ngọn lửa trời bất thần tìm cách làm tan chảy lớp bề mặt tinh khiết tuyệt vời của những khối tuyết mới. Hình ảnh thế giới trở nên thần tiên, trẻ thơ và khôi hài. Những chiếc gối dày, xốp, như vừa được đắp lên trên cành cây, những cái u của mặt đất mà bên dưới giấu những thân gỗ bò thấp hoặc các mỏm đá nhô ra, cái dáng ngồi thụp, chìm lỉm, bịt bùng ngộ nghĩnh của phong cảnh, tất cả hợp thành một thế giới lùn thần, trông buồn cười như bước ra từ sách cổ tích. Nhưng nếu cảnh gần, nơi người ta nhọc nhằn cử động, gợi một vẻ huyễn tưởng tinh quái, thì chính hậu cảnh xa xa nhìn vào, những pho tượng đài chồng chất của dãy Alpes phủ tuyết, lại khơi dậy những cảm thức về cái cao cả và thiêng liêng.

Buổi chiều, từ hai đến bốn giờ, Hans Castorp nằm trong ô ban công và, được bọc kín mít, tựa đầu lên lưng chiếc ghế nằm tuyệt hảo của mình, đã chỉnh không quá dựng cũng không quá ngả, nhìn qua lan can bọc đệm ra rừng và núi. Khu rừng linh sam xanh đen, oằn nặng vì tuyết, leo dần lên sườn dốc, và giữa các thân cây, khắp mặt đất đều mềm như nệm vì tuyết. Phía trên đó, núi đá vươn lên trong màu xám trắng, với những mặt tuyết khổng lồ bị ngắt quãng bởi vài mũi đá nhô sẫm hơn, và những đường sống núi mảnh nhẹ như đang tan thành hơi. Tuyết rơi lặng lẽ. Mọi thứ càng lúc càng nhòe đi. Cái nhìn, khi đi vào một cõi hư vô bông xốp, rất dễ sà vào giấc ngủ. Một cơn rùng mình đi kèm khoảnh khắc chuyển sang bên kia, nhưng rồi không đâu có giấc ngủ nào thuần khiết hơn giấc ngủ này trong giá băng, thứ giấc ngủ không mộng mị mà chẳng bị chạm tới bởi một cảm giác vô thức nào về gánh nặng hữu cơ của sự sống, bởi việc hít thở bầu không khí rỗng nhẹ, không chút hơi mù ấy đối với cơ thể cũng chẳng nặng nhọc hơn việc không thở đối với kẻ chết. Khi tỉnh dậy, núi non đã hoàn toàn biến mất trong sương tuyết, và chỉ từng mảng của nó, một vòm đỉnh, một mũi đá, thay phiên hiện ra vài phút rồi lại bị che lấp. Trò ma quỷ khe khẽ ấy vô cùng giải trí. Phải hết sức chăm chú mới có thể rình bắt màn huyễn ảnh khăn voan ấy trong những biến đổi thầm kín của nó. Một mảng núi đá hiện ra hoang dã và vĩ đại, tự do giữa làn sương, mà không thấy đỉnh cũng không thấy chân. Nhưng chỉ lơ đãng rời mắt khỏi nó một phút thôi, nó đã biến mất.

Rồi lại có những trận bão tuyết khiến người ta hoàn toàn không thể ở lại trong chòi ban công, vì cái trắng tung mù ấy bị gió dồn thành từng đợt tràn vào trong và phủ kín dày lên mọi thứ, từ nền nhà đến bàn ghế. Phải, ngay trong thung lũng cao được che chở này cũng có thể nổi giông. Bầu khí quyển mong manh ấy rơi vào náo loạn, đầy nghịt những bông tuyết quay cuồng đến nỗi không trông xa nổi một bước. Những luồng gió giật nghẹt thở xô đám tuyết mù vào một vận động dữ dội, nghiêng ngang, dồn nó từ dưới lên trên, từ đáy thung lũng lên tận không trung, khuấy nó thành một điệu vũ điên cuồng hỗn loạn, đó không còn là tuyết rơi nữa, mà là một hỗn mang của bóng tối trắng, một cơn quái tượng, sự quá độ hiển hiện của một miền vượt quá tính ôn hòa, trong đó có lẽ chỉ loài sẻ tuyết, bỗng hiện ra từng đàn, mới còn biết đường như ở chốn quê nhà.

Tuy nhiên, Hans Castorp yêu đời sống trong tuyết. Chàng thấy nó họ hàng với đời sống bên bờ biển về nhiều phương diện: tính đơn điệu nguyên sơ của cảnh thiên nhiên là cái chung của cả hai cõi; tuyết, thứ tuyết bột sâu, xốp, không tì vết này, ở đây đóng đúng vai trò mà cát vàng trắng đóng ở dưới kia; sự tiếp xúc với cả hai đều sạch sẽ như nhau, người ta giũ cái trắng khô vì giá khỏi giày và áo quần cũng như ở dưới kia giũ thứ bột đá và vỏ sò không bụi của đáy biển, mà chẳng để lại dấu vết gì; và cái nhọc nhằn của việc bước đi trong tuyết cũng tương tự như một cuộc đi bộ trên cồn cát, trừ phi bề mặt đã được nắng trời làm tan chảy sơ qua, rồi đêm xuống lại đóng cứng: khi ấy bước đi trên đó còn nhẹ nhàng, dễ chịu hơn trên sàn gỗ, chính xác nhẹ nhàng và dễ chịu như trên lớp cát mịn, rắn, sạch nước và có độ đàn hồi nơi bờ mép biển.

Chỉ có điều những trận tuyết rơi và những khối tuyết chất đọng năm ấy đã thu hẹp một cách cay nghiệt khả năng vận động ngoài trời đối với bất cứ ai, trừ người trượt ván tuyết. Những chiếc xe ủi tuyết vẫn làm việc; nhưng chúng chật vật lắm mới tạm giữ cho mấy lối đi thông dụng nhất và con đường chính của khu dưỡng mát khỏi bị lấp, còn những con đường ít ỏi còn mở, rồi rất nhanh dẫn vào chỗ không thể tới được, thì người qua lại đông nghịt, người khỏe lẫn người bệnh, dân bản xứ lẫn đám khách sạn quốc tế; còn những người ngồi xe trượt thì cứ va cả vào chân người đi bộ, các ông các bà ngả người ra sau, chân chĩa về phía trước, vừa lao vun vút xuống dốc trên những chiếc xe trượt trẻ con lắc lư nghiêng ngả vừa cất tiếng hô báo động mà âm điệu đủ cho thấy họ thấm nhuần đến mức nào tầm quan trọng của công cuộc mình đang đảm nhận, để rồi tới chân dốc lại lôi món đồ chơi thời thượng ấy bằng dây lên núi.

Những cuộc đi dạo ấy giờ đây Hans Castorp đã ngấy đến tận cổ. Chàng nuôi hai ước muốn: mạnh hơn cả là được ở một mình với những ý nghĩ và những công việc chính sự của mình, và ước muốn ấy, dù chỉ hời hợt, thì ô ban công của chàng cũng có thể đáp ứng; nhưng ước muốn kia, đi liền với nó, lại thiết tha hướng tới một sự tiếp xúc thân mật hơn, tự do hơn với dãy núi bị tuyết tàn phá, đối tượng mà chàng đã bắt đầu có lòng gắn bó, và chừng nào kẻ ôm ấp nó vẫn còn là một người đi bộ không vũ trang và không cánh, thì ước muốn ấy không thể nào thành tựu; bởi một kẻ như thế hẳn sẽ lập tức bị chôn ngập đến tận ngực trong chính thứ nguyên tố ấy, nếu toan vượt khỏi điểm tận cùng rất chóng gặp ở khắp nơi của những lối giao thông đã được xúc mở.

Vì thế, một ngày nọ trong mùa đông thứ hai của mình trên này, Hans Castorp quyết định mua một đôi ván trượt tuyết và học cách sử dụng chúng, đúng đến mức mà nhu cầu thiết thực của chàng đòi hỏi. Chàng không phải người ưa thể thao; chưa bao giờ là như vậy, vì thiếu một thiên hướng thân thể; cũng không giả đò làm ra vẻ như vậy, như một số khách Berghof, những kẻ vì chiều theo tinh thần địa phương và mốt mà ăn diện một cách làm dáng, nhất là đám đàn bà, chẳng hạn Hermine Kleefeld, người mà, mặc dù hơi thở không đầy đủ khiến chóp mũi và đôi môi luôn tái xanh, vẫn thích xuất hiện trong bữa Lunch với bộ quần len, rồi sau bữa ăn lại ngồi chây lười trong chiếc ghế mây ở đại sảnh, hai đầu gối dạng ra, dáng điệu hết sức nhếch nhác. Nếu Hans Castorp hỏi phép Hofrat cho dự định phóng túng của mình, chàng ắt sẽ bị bác ngay tức khắc. Việc vận động thể thao đối với cộng đồng những người trên này, ở Berghof cũng như ở mọi dưỡng đường tương tự, đều tuyệt đối bị cấm; bởi lẽ bầu không khí tưởng chừng đi vào phổi nhẹ tênh ấy vốn đã đặt ra những đòi hỏi nghiêm khắc đối với cơ tim, và riêng đối với Hans Castorp, câu nói tinh anh của chàng về "việc làm quen với chuyện mình không hề quen được" vẫn còn nguyên hiệu lực, còn xu hướng sốt của chàng, mà Radamanth quy cho một vết ẩm, thì vẫn dai dẳng tồn tại. Bằng không thì chàng còn lên đây làm gì nữa? Bởi vậy, ước muốn và dự định ấy quả là mâu thuẫn và không hợp phép. Chỉ có điều cũng phải hiểu cho đúng. Điều châm chích chàng không phải là tham vọng muốn sánh vai với những kẻ đỏm dáng ngoài trời và những tay mê thể thao vì cảnh ngộ, hạng người mà, nếu khẩu hiệu ban ra như thế, cũng sẽ chăm chăm chơi bài trong căn phòng ngột ngạt với một sự sốt sắng quan trọng không kém. Hoàn toàn ngược lại, chàng cảm thấy mình thuộc về một cộng đồng khác, ràng buộc hơn, chứ không phải cái lũ du khách con con ấy; và còn hơn thế nữa, dưới một phương diện rộng hơn và mới hơn, do một thứ phẩm giá khiến người ta xa cách và một nghĩa vụ khiến người ta dịu hẳn xuống, chàng cảm thấy dường như chuyện tung tẩy hời hợt như bọn kia và lăn lộn trong tuyết như một thằng ngốc không phải là phần việc của mình. Chàng không hề có ý nghĩ đến những trò vượt rào; chàng vẫn muốn giữ chừng mực, và điều chàng dự tính, Rhadamanthys hoàn toàn có thể cho phép được. Nhưng vì lẽ nội quy nhà dưỡng đường, ông dẫu sao cũng sẽ cấm, nên Hans Castorp quyết định hành động sau lưng ông.

Nhân dịp, chàng nói với ông Settembrini về dự định của mình. Ông Settembrini suýt nữa thì ôm chầm lấy chàng vì sung sướng. "Ồ phải, phải chứ, kỹ sư, nhân danh Chúa, xin ông làm đi! Đừng hỏi ai cả, cứ làm đi, thiên thần hộ mệnh của ông đã mách cho ông đấy! Làm ngay đi, trước khi ý thích lành mạnh này lại bỏ ông mà đi! Tôi đi với ông, tôi hộ tống ông tới cửa hiệu, và ngay lập tức chúng ta sẽ cùng nhau tậu lấy những dụng cụ phúc lành ấy! Tôi cũng sẽ đi cùng ông lên núi, sẽ cùng ông lướt đi, chân mang giày có cánh như Mercurio, nhưng tôi không được... A, phép tắc ư! Tôi đã làm rồi, nếu chẳng qua chỉ là 'không được phép'; đằng này là tôi không làm nổi, tôi là kẻ bỏ đi. Còn ông... chuyện đó sẽ không hại ông đâu, tuyệt đối không, miễn là ông biết điều và đừng quá trớn. Mà chà, cho dù nó có hại ông đôi chút đi nữa, thì đó vẫn sẽ là thiên thần hộ mệnh của ông, kẻ mà... Tôi chẳng nói thêm gì nữa. Một kế hoạch tuyệt hảo làm sao! Hai năm trên này mà vẫn còn đủ sức nghĩ ra chuyện ấy, à, không, cốt lõi của ông vẫn lành mạnh, người ta không có lý do gì để tuyệt vọng về ông cả. Bravo, bravo! Ông sẽ giễu mặt vào vị chúa bóng tối trên kia, ông sẽ mua lấy đôi giày trượt ấy, cho gửi chúng đến chỗ tôi hoặc Lukaček, hay xuống tay người bán tạp hóa dưới căn nhà nhỏ của chúng ta. Từ đó ông lấy chúng ra để tập luyện, rồi ông sẽ lướt đi..."

Mọi sự diễn ra đúng y như vậy. Dưới con mắt của ông Settembrini, người đóng vai một tay sành sỏi khó tính tuy hoàn toàn không biết gì về thể thao, Hans Castorp mua trong một cửa hiệu chuyên dụng ở phố chính một đôi ván trượt tuyết xinh xắn, sơn véc-ni nâu nhạt, làm bằng gỗ tần bì tốt, với bộ dây da tuyệt hảo và đầu ván cong nhọn lên phía trước; chàng cũng mua thêm những cây gậy có mũi sắt và vòng chặn, lại nhất quyết tự mình vác tất cả trên vai mang đi tới chỗ ở của Settembrini, nơi chẳng bao lâu đã thỏa thuận xong với người bán tạp hóa việc gửi cất các dụng cụ ấy mỗi ngày. Nhờ thường xuyên quan sát mà hiểu được cách sử dụng của chúng, chàng bắt đầu tự mình, xa đám đông chen chúc ở những bãi tập, ngày ngày vụng về tập tành trên một sườn dốc gần như không cây cối, không xa dưỡng đường Berghof là mấy; và đôi ba lần, từ một khoảng cách nào đó, ông Settembrini đứng nhìn chàng, chống lên gậy, chân vắt thanh nhã, reo những tiếng bravo chào mừng tiến bộ về độ lanh lẹ. Mọi việc diễn ra suôn sẻ thì một hôm, khi Hans Castorp đang lượn xuống đoạn ngoặt đường đã xúc mở theo hướng "Dorf", toan mang đôi ván trượt trả lại cho người bán tạp hóa, chàng chạm mặt Hofrat. Behrens không nhận ra chàng, mặc dù trời đang chính ngọ sáng rõ và người mới đến suýt đâm sầm vào ông. Ông tự quấn mình trong một đám mây khói xì gà rồi lầm lũi bước qua.

Hans Castorp nhận ra rằng người ta chóng đạt tới một kỹ xảo mà trong lòng mình thực sự cần đến. Chàng không hề đòi hỏi trình độ điêu luyện. Điều chàng cần, chàng đã học được chỉ trong vài ngày mà không quá nóng người hay hụt hơi. Chàng tập giữ hai bàn chân đẹp đẽ ở gần nhau và tạo ra những vệt song song, thử xem khi đổ dốc người ta dùng cây gậy để điều hướng ra sao, học cách lấy đà vượt những chướng ngại, những gò đất nhỏ, tay dang ra, nhô lên rồi chúi xuống như một con tàu trên biển động, và kể từ lần thử thứ hai mươi trở đi, chàng không còn ngã nữa khi đang lao hết tốc lực mà hãm lại bằng thế Telemark, một chân đưa ra trước, chân kia khuỵu gối. Dần dần chàng mở rộng phạm vi luyện tập của mình. Một hôm ông Settembrini thấy chàng biến mất trong màn sương trắng đục, bèn chụm hai bàn tay làm loa gọi với theo một lời cảnh báo, rồi đi về nhà, thỏa mãn theo lối nhà giáo.

Mùa đông trên núi thật đẹp, không phải đẹp theo lối hiền hòa và thân thiện, mà đẹp như miền hoang dã Biển Bắc đẹp dưới cơn gió tây dữ dội, tuy không có tiếng sấm gầm, mà là trong sự tĩnh lặng của cõi chết, song vẫn khơi dậy những cảm giác kính sợ rất tương cận. Những đế ván dài và dẻo của Hans Castorp đưa chàng đi đủ ngả: dọc sườn trái về phía Clavadel hoặc sang bên phải qua Frauenkirch và Glaris, phía sau những nơi ấy cái bóng của khối Amselfluh ám hiện trong sương mù; rồi cả vào thung lũng Dischma hoặc men lên phía sau Berghof theo hướng Seehorn nhiều rừng, mà chỉ có chóp tuyết nhô cao quá ranh giới cây cối, và khu rừng Drusatsch, phía sau đó người ta thấy được nét bóng nhợt nhạt của dãy Rhätikon ngập sâu trong tuyết. Chàng cũng để cho tuyến cáp treo dốc đứng đưa mình cùng những tấm ván lên Schatzalp và lang thang nhàn nhã trên ấy, như bị bắt cóc lên độ cao hai nghìn mét, trên những triền nghiêng ánh lên của lớp tuyết bột, nơi mà vào những ngày quang tỏ người ta được phóng tầm mắt cao cả ra khắp phong cảnh của cuộc phiêu lưu mình.

Chàng vui thích với vật sở đắc của mình, trước nó cái không thể tới được như tự mở ra và chướng ngại hầu như tiêu tan. Nó bao bọc chàng trong một nỗi cô độc đáng mong muốn, thậm chí là nỗi cô độc sâu thẳm nhất có thể nghĩ tới, một nỗi cô độc chạm vào trái tim bằng những cảm giác về cái gì hoang lạ và hệ trọng đối với con người. Một bên chàng là dốc thông đổ sụp xuống làn sương tuyết, bên kia là một triền đá vươn lên với những khối tuyết khủng khiếp, chu vi như của loài Cyclops, vồng lên, gồ ghề, tạo thành hang hốc và chỏm mũ. Sự im lặng, mỗi khi chàng đứng bất động để khỏi nghe thấy chính mình, là tuyệt đối và trọn vẹn, một thứ câm lặng như bọc bông, chưa từng biết, chưa từng nghe, chẳng nơi nào khác có. Không một làn gió động nhẹ đến cây cối, không một tiếng xào xạc, không một tiếng chim. Đó là sự câm lặng nguyên thủy mà Hans Castorp lắng nghe khi đứng như thế, tựa lên gậy, đầu nghiêng về vai, miệng hé mở; và trong đó tuyết vẫn lặng lẽ, không ngừng rơi tiếp, thong thả sa xuống, không một tiếng động.

Không, thế giới ấy trong sự câm lặng không đáy của nó chẳng có gì là hiếu khách; nó đón kẻ viếng thăm hoàn toàn để mặc người ấy cho vận may rủi của riêng mình, thật ra nó không nhận người ấy vào cũng không cưu mang, nó dung thứ sự xâm nhập, sự hiện diện của người ấy theo một lối chẳng lành, chẳng bảo đảm điều gì; và những cảm giác âm thầm đe dọa của cái nguyên tố, không hẳn thù địch mà đúng hơn là dửng dưng đến chết người, chính là điều nó phát ra. Đứa con của văn minh, tự bản quán vốn xa lạ với thiên nhiên hoang dã, lại dễ thụ cảm sự hùng vĩ của nó hơn gã con trai thô ráp của chính nó, kẻ từ thuở ấu thơ đã phải nương dựa vào nó và sống với nó trong một tình thân quen tỉnh táo. Kẻ sau này hầu như không biết đến nỗi sợ mang tính tôn giáo mà kẻ trước, lông mày nhướng cao, cảm thấy khi bước ra trước nó, và nỗi sợ ấy âm thầm quyết định toàn bộ quan hệ cảm xúc của người ấy với nó ở tầng sâu, duy trì trong tâm hồn người ấy một sự rung động thành kính thường trực và một nỗi kích động e dè. Hans Castorp, trong chiếc áo gilê len lạc đà tay dài, đôi xà cạp quấn và trên đôi ván trượt sang trọng của mình, thực tình cảm thấy mình khá táo bạo khi lắng nghe sự câm lặng nguyên thủy ấy, sự hoang vu mùa đông chết chóc và không tiếng động; và cảm giác nhẹ nhõm trỗi dậy khi trên đường về những nơi cư trú đầu tiên của loài người lại hiện ra trong màn che đã khiến chàng ý thức được trạng thái trước đó của mình và dạy chàng hiểu rằng suốt mấy giờ liền tâm hồn chàng đã bị một nỗi kinh hoàng bí mật mà thiêng liêng ngự trị. Ở Sylt, trong chiếc quần trắng, chàng từng đứng vững vàng, lịch thiệp và cung kính bên rìa đợt sóng dữ như đứng trước chuồng sư tử, sau chấn song con thú há cái mõm với những răng nanh khủng khiếp mà ngáp sâu đến tận họng. Rồi chàng đã tắm biển, trong khi một người canh bãi thổi tù và báo hiểm cho những ai trơ tráo toan vượt qua đợt sóng đầu, lại gần cơn bão đang dồn tới dù chỉ một chút; và ngay cả đợt quật cuối cùng của dòng thác cũng giáng vào gáy như một cú vả của vuốt thú. Từ đó người thanh niên đã biết cái hạnh phúc say mê của những va chạm tình ái nhẹ nhàng với những sức mạnh mà sự ôm ghì trọn vẹn của chúng hẳn sẽ hủy diệt mình. Nhưng điều chàng chưa từng biết là khuynh hướng tăng cường sự tiếp xúc say mê ấy với thiên nhiên chết chóc đến mức sự ôm ghì trọn vẹn bắt đầu đe dọa, nghĩa là, với tư cách một đứa con người yếu ớt, tuy có vũ trang và được văn minh trang bị tương đối tử tế, lại dám mạo hiểm đi xa đến thế vào cõi quái đản, hoặc ít ra không chịu chạy trốn trước nó cho tới khi sự giao tiếp đã lướt sát miền hệ trọng và hầu như không còn có thể tùy ý đặt giới hạn cho nó nữa, cho tới khi vấn đề không còn là bọt sóng tràn ra và cái quật nhẹ của vuốt thú, mà là con sóng, cái mõm, biển cả.

Nói gọn lại: Hans Castorp có can đảm trên này, nếu can đảm trước các nguyên tố không phải là sự tỉnh táo cùn mòn trong quan hệ với chúng, mà là sự phó mình có ý thức và nỗi kinh sợ cái chết đã được khuất phục nhờ lòng đồng cảm. Đồng cảm ư? Hẳn nhiên, Hans Castorp nuôi một lòng đồng cảm với các nguyên tố trong lồng ngực hẹp và văn minh của mình; và có một mối liên hệ giữa lòng đồng cảm ấy với cảm giác phẩm giá mới mà chàng ý thức được khi nhìn lũ người trượt xe, cảm giác khiến một nỗi cô độc sâu hơn, lớn hơn, kém tiện nghi khách sạn hơn nỗi cô độc của lôgia ban-công của mình bỗng hiện ra với chàng là điều thích đáng và đáng mong. Từ đó chàng đã ngắm dãy núi sương cao, điệu múa của bão tuyết, và trong tâm hồn đã xấu hổ về cái nhìn chòng chọc của mình vượt qua lan can của tiện nghi. Vì thế, chứ không phải vì máu mê thể thao hay niềm vui thân xác bẩm sinh, mà chàng đã học trượt tuyết. Nếu ở ngoài kia, giữa sự hùng vĩ, giữa cái câm lặng chết chóc đang đổ tuyết, chàng cảm thấy không yên tâm, mà đứa con của văn minh quả thật tuyệt đối không thể yên tâm, thì thôi vậy, từ lâu trên này chàng đã nếm cái bất an ấy bằng tinh thần và ý thức rồi. Một cuộc đàm luận với Naphta và Settembrini cũng đâu phải điều gì yên lành cho lắm; nó cũng dẫn vào chỗ không lối và cực kỳ nguy hiểm; và nếu có thể nói đến phía Hans Castorp một lòng đồng cảm với cõi hoang vu mùa đông vĩ đại, thì là vì, mặc cho nỗi kinh hãi thành kính của mình, chàng cảm thấy đó là sân khấu thích hợp để giải quyết những phức hợp tư tưởng của mình, là nơi cư ngụ xứng đáng cho một kẻ, tuy chính mình cũng chẳng rõ đã đến nông nỗi ấy bằng cách nào, lại đang mang gánh những quốc sự liên quan đến địa vị và quốc gia của _homo Dei_.

Ở đây không có người đàn ông nào cầm tù và thổi báo hiểm cho những kẻ tò mò, trừ phi Herr Settembrini chính là người ấy, khi ông gọi với theo Hans Castorp đang khuất dần, hai bàn tay úp quanh miệng. Nhưng chàng có can đảm và đồng cảm, chàng chẳng buồn đếm xỉa đến tiếng gọi sau lưng hơn là đã từng đếm xỉa đến tiếng kia, một thuở nọ đã vang lên sau lưng chàng trong đêm hóa trang, khi chàng bước những bước nhất định ấy. “_Eh, Ingeniere, un po’ di ragione, sa!_” Ồ phải rồi, hỡi quỷ Sa-tăng có tính sư phạm, với _ragione_ và _ribellione_ của ông, chàng nghĩ. Dù sao tôi vẫn mến ông. Ông tuy là một gã ba hoa và kẻ kéo đàn quay, nhưng ông có thiện ý, có thiện ý hơn, và tôi thích ông hơn gã Tên Dòng Tên bé nhỏ sắc lạnh kia, kẻ tra tấn và cai ngục Tây Ban Nha với cặp kính lóe chớp, mặc dầu hắn hầu như luôn đúng mỗi khi hai người cãi nhau... giằng co, theo lối sư phạm, vì linh hồn khốn khổ của tôi, như Thượng đế và Quỷ dữ giằng co vì con người thời Trung cổ...

Với hai ống quần phủ phấn tuyết, chàng chống gậy bước lên những cao độ tái nhợt nào đó, nơi mặt trải mênh mang như tấm khăn nâng dần thành từng bậc, từng thềm, cao mãi, cao mãi, chẳng biết lên đâu; dường như chúng chẳng dẫn tới đâu cả; miền trên cùng của chúng hòa lẫn với bầu trời, cũng trắng mờ như chính chúng, đến mức không biết trời bắt đầu từ đâu; không thấy đỉnh núi, không thấy đường sống núi nào, chỉ là cái hư vô mù sương mà Hans Castorp đẩy mình leo lên; và bởi sau lưng chàng nữa, thế giới, thung lũng của loài người có cư dân ở, rất chóng khép lại và biến khỏi tầm mắt, cũng chẳng còn tiếng động nào từ đó vọng đến, nên nỗi cô độc, đúng hơn là sự lạc mất của chàng, trước khi chàng kịp ngờ tới, đã trở nên sâu đến mức chàng chỉ có thể mong ước được như vậy, sâu đến tận nỗi kinh sợ, điều kiện tiên quyết của lòng can đảm. “_Praeterit figura hujus mundi_”, chàng tự nhủ bằng thứ Latin không thuộc tinh thần nhân văn, chàng đã nghe Naphta dùng cách nói ấy. Chàng dừng lại và nhìn quanh. Khắp nơi hoàn toàn chẳng có gì và không đâu thấy một vật gì, ngoài vài bông tuyết thật nhỏ từ cõi trắng bên trên rơi xuống cõi trắng dưới đất, và sự im lặng chung quanh hùng vĩ đến mức chẳng nói điều gì. Trong khi ánh nhìn của chàng vỡ ra trong khoảng trắng trống rỗng làm lóa mắt, chàng cảm thấy trái tim mình cựa động, trái tim đang đập vì cuộc leo dốc, cái cơ quan cơ bắp hình tim ấy, hình dáng thú tính của nó và lối đập của nó chàng đã từng, có lẽ là phạm thượng, rình nghe dưới những luồng chớp lách tách của buồng chiếu xuyên. Và một thứ cảm động xâm chiếm chàng, một lòng đồng cảm giản dị và thành kính đối với trái tim mình, trái tim người đang đập, quá đỗi cô độc trên này trong cái trống rỗng băng giá cùng câu hỏi và bí ẩn của nó.

Chàng tiếp tục đẩy mình đi, cao hơn nữa, về phía bầu trời. Thỉnh thoảng chàng cắm đầu trên của cây gậy trượt xuống tuyết rồi nhìn ngắm ánh xanh từ đáy lỗ lao theo thân gậy lên khi chàng rút nó ra. Điều ấy làm chàng thích thú; chàng có thể đứng lâu để thử đi thử lại hiện tượng quang học nhỏ bé ấy. Đó là một thứ ánh sáng núi và ánh sáng vực rất kỳ lạ, dịu mảnh, xanh pha lục, trong như băng mà vẫn râm tối, bí ẩn và quyến rũ. Nó nhắc chàng nhớ đến ánh sáng và màu sắc của một số đôi mắt, những đôi mắt xếch nhìn bằng cái nhìn định mệnh, mà Herr Settembrini từ quan điểm nhân văn chủ nghĩa đã khinh miệt gọi là “những khe mắt Tatar” và “ánh mắt sói thảo nguyên”, nhắc đến những đôi mắt đã thấy từ lâu và không tránh được lại tìm thấy, đôi mắt của Hippe và Clawdia Chauchat. “Sẵn lòng,” chàng nói nửa thành tiếng trong cõi không âm. “Nhưng đừng làm hỏng nó: _Il est à visser, tu sais._” Và trong trí tưởng chàng nghe thấy sau lưng những lời khuyên nhủ du dương về lý trí.

Phía bên phải, cách một quãng, rừng cây mờ đi trong sương. Chàng quay về hướng ấy để có một mục tiêu trần thế trước mắt, thay vì thứ siêu việt trắng nhợt kia, và bỗng nhiên lao xuống mà không hề nhận ra chút nào trước đó rằng mặt đất đang trũng đi. Sự lóa mắt ngăn cản mọi nhận biết về hình thể địa hình. Không nhìn thấy gì cả; mọi vật nhòa loãng trước mắt. Hoàn toàn bất ngờ, những chướng ngại nâng bổng chàng lên. Chàng mặc mình theo dốc xuống mà mắt không phân biệt nổi độ nghiêng của nó.

Cụm cây đã hấp dẫn chàng nằm ở bên kia khe vực, nơi chàng đã vô tình trượt vào. Đáy khe phủ tuyết xốp ấy hạ thấp dần về phía sườn núi, chàng nhận ra như thế khi đi theo nó một quãng về hướng ấy. Con đường đi xuống; các sườn bên cao dần lên; nếp gấp ấy dường như dẫn vào trong lòng núi như một con đường lõm. Rồi mũi ván của chàng lại chúc lên; nền đất nhô cao; chẳng bao lâu không còn vách bên nào để leo khỏi nữa; cuộc trượt không lối của Hans Castorp lại đi trên sườn núi trống trải hướng lên trời.

Chàng thấy rừng lá kim nằm lệch về phía sau và phía dưới mình, bèn quay theo hướng ấy và trong một đợt đổ dốc nhanh, tới được những cây thông oằn nặng tuyết, xếp thành hình nêm như những mũi nhô của những cánh rừng dốc đang mờ dần trong sương, lấn ra vùng không cây. Dưới cành cây chàng vừa nghỉ vừa hút một điếu thuốc, trong tâm hồn vẫn không thôi có điều gì đè nặng, căng thẳng, nghèn nghẹn vì sự im lặng quá mức sâu thẳm, vì nỗi cô độc phiêu lưu, nhưng vẫn kiêu hãnh vì đã chinh phục được chúng và can đảm trong ý thức về quyền phẩm giá của mình đối với khung cảnh này.

Lúc ấy là ba giờ chiều. Ngay sau bữa trưa chàng đã lên đường, định trốn một phần của Đại liệu pháp nằm nghỉ và bữa xế để kịp trở về trước khi trời tối. Một cảm giác khoan khoái tràn ngập chàng khi nghĩ rằng mấy giờ đồng hồ lang thang giữa trời rộng và sự hùng vĩ đang nằm phía trước. Trong túi chiếc quần cưỡi ngựa chàng có ít sô-cô-la và trong túi áo gilê có một chai nhỏ đựng rượu porto.

Rất khó nhận ra vị trí của mặt trời, vì nó bị sương phủ quá dày. Phía sau, về vùng cửa thung lũng, cái góc núi không nhìn thấy được, mây đen sầm lại, hơi nước ở tầng thấp hơn dày lên và dường như đang trườn tới. Trông như sắp có tuyết, thêm tuyết nữa, để cứu chữa một nhu cầu bức thiết, nghĩa là một trận bời bời ra trò. Và quả thực, những bông nhỏ không tiếng ấy trên sườn núi đã bắt đầu rơi dày hơn.

Hans Castorp bước ra, để hứng vài bông lên tay áo mà ngắm chúng bằng con mắt am tường của một kẻ nghiên cứu vì yêu thích. Chúng có vẻ như những mẩu vụn vô hình thù, nhưng chàng đã hơn một lần đặt những vật tương tự dưới chiếc kính tốt của mình và biết rõ chúng được cấu thành từ những báu vật nhỏ bé tinh xác và xinh xắn đến thế nào, những món châu báu, những ngôi sao huân chương, những trâm cài nạm kim cương, đến người thợ kim hoàn trung tín nhất cũng không sao làm ra giàu có và li ti hơn được; vâng, với tất cả lớp trắng bụi nhẹ, tơi xốp ấy, thứ đè nặng rừng cây từng khối, phủ kín mặt trải mênh mông, và trên đó hai bàn trượt của chàng chở chàng đi, sự tình quả thật khác với cát biển quê nhà mà nó gợi nhớ: như ai cũng biết, chất liệu làm nên nó không phải là những hạt đá, mà là vô vàn phần tử nước đông cứng lại, kết tinh thành một sự đa dạng cân xứng; chính là những phần tử của thứ vật chất vô cơ vẫn làm trương nở sinh chất của sự sống, thân cây, thân người; và trong vô vàn ngôi sao phù thủy ấy, với vẻ huy hoàng tí hon bí mật, không dành cho con mắt loài người, không có hai cái nào giống nhau; ở đó ngự trị một sức sáng tạo vô tận trong việc biến hóa và tạo tác tinh vi hết mức của cùng một sơ đồ cơ bản duy nhất, hình lục giác đều cạnh đều góc; nhưng tự thân mỗi sản phẩm lạnh giá ấy lại có một sự cân xứng tuyệt đối và một tính quy tắc băng giá, mà chính điều ấy mới là vẻ rờn rợn, phản hữu cơ và thù nghịch với sự sống của chúng; chúng quá đỗi đều đặn, còn chất thể được tổ chức cho sự sống thì không bao giờ đều đặn đến mức ấy; sự sống rùng mình trước tính chính xác tuyệt đối, nó cảm thấy ở đó một cái gì chết chóc, như chính bí mật của cái chết; và Hans Castorp tưởng như hiểu được vì sao những bậc kiến trúc sư đền đài thời cổ đã cố ý và kín đáo đưa vào những sai lệch nhỏ khỏi đối xứng trong các hàng cột của mình.

Chàng đẩy mình đi, lướt sột soạt trên những lưỡi trượt, theo rìa rừng mà lao lớp tuyết dày trên sườn xuống miền sương mờ, rồi cứ thế, lúc lên lúc trượt, không mục đích và thong thả, tiếp tục lang thang trong vùng đất chết, với những mặt trải trống rỗng gợn sóng, thứ thực vật khô chỉ gồm vài bụi thông lùn hiện đen lên lẻ tẻ, và đường viền chân trời bằng những gò cao mềm mại khiến nó giống cảnh quan cồn cát một cách kỳ lạ. Hans Castorp gật đầu hài lòng mỗi khi đứng lại mà thưởng thức sự tương tự ấy; và ngay cả cảm giác rát bỏng trên mặt, khuynh hướng run nhẹ nơi chân tay, sự pha trộn kỳ lạ và như men say giữa kích động với mỏi mệt mà chàng cảm thấy, chàng cũng dung thứ bằng lòng đồng cảm, vì tất cả những điều đó nhắc chàng một cách thân thuộc đến những tác động gần gũi của không khí biển, vốn cũng vừa kích bốc vừa bão hòa những chất gây buồn ngủ. Chàng cảm thấy bằng lòng sự độc lập nhẹ nhõm của mình, sự lang thang tự do của mình. Trước mặt chàng không có con đường nào buộc chàng phải theo, sau lưng chàng cũng không có con đường nào sẽ đưa chàng trở lại y như chàng đã đến. Lúc đầu quả có những cọc, những gậy cắm xuống, những dấu hiệu trong tuyết, nhưng chàng đã cố ý sớm giải phóng mình khỏi sự giám hộ của chúng, vì chúng nhắc chàng đến người đàn ông với chiếc tù và và dường như không thích đáng với mối quan hệ nội tâm của chàng với cõi hoang vu mùa đông vĩ đại.

Sau những gò đá phủ tuyết, len qua giữa chúng bằng những cú lái ngoặt khi sang phải, khi sang trái, chàng gặp một triền dốc, rồi một khoảng bằng, rồi những khối núi lớn, với những khe và đèo được tuyết lót mềm nom sao mà dễ tới, mà quyến rũ. Phải, sức quyến dụ của những nơi xa hút, của những độ cao, của những cô tịch cứ mãi mới ra mở trước mắt, mạnh mẽ trong lòng Hans Castorp; và bất chấp nguy cơ về trễ, chàng vẫn nhắm sâu hơn vào sự im lặng hoang dã, vào cái mênh mang ghê gớm không bảo đảm gì ấy, mặc dầu thêm vào đó, sự căng thẳng và nỗi bức bối bên trong chàng, trước cảnh trời tối sầm lên sớm một cách bất thường, như những màn xám sa xuống khắp miền, đã chuyển thành nỗi sợ thật sự. Chính nỗi sợ ấy làm chàng ý thức rằng từ nãy đến giờ, trong thâm tâm, chàng gần như cố tình làm mất phương hướng, cố quên bẵng đâu là hướng thung lũng và xóm làng, và quả chàng đã thành công, theo đúng điều mình mong muốn, một cách trọn vẹn. Vả chăng, chàng cũng có thể tự nhủ rằng, nếu quay lại ngay và cứ trượt mãi xuống dốc, thì hẳn sẽ chóng tới thung lũng, tuy có lẽ ở khá xa “Berghof”, nhưng vẫn là quá chóng; chàng sẽ về quá sớm, sẽ không tận dụng hết thì giờ của mình, trong khi, dĩ nhiên, nếu cơn bão tuyết ập đến bất ngờ, thì trước mắt e chàng sẽ hoàn toàn chẳng còn tìm ra đường về nữa. Nhưng chỉ vì thế mà vội vã tháo chạy từ sớm thì chàng không chịu, mặc cho nỗi sợ, nỗi sợ rất thành thật của chàng trước các nguyên tố, có bóp nghẹt lòng chàng đến đâu. Ấy hầu như không phải cách hành xử của một tay thể thao; bởi tay thể thao chỉ giao mình cho các nguyên tố chừng nào còn biết mình làm chủ được chúng, biết dè dặt, và là kẻ khôn ngoan hơn, biết nhượng bộ. Còn điều đang diễn ra trong tâm hồn Hans Castorp chỉ có thể gọi bằng một từ: sự thách thức. Và từ ấy, dẫu hàm chứa biết bao điều đáng trách, ngay cả khi, hoặc nhất là khi, cái cảm xúc phạm thượng tương ứng với nó lại đi đôi với một nỗi sợ chân thành đến thế, thì nếu chịu suy ngẫm đôi chút về con người, cũng đại khái hiểu được rằng ở những tầng đáy tâm hồn của một chàng trai, một người đàn ông trẻ đã sống nhiều năm ròng như chàng đây, ắt tích tụ, hay, như kỹ sư Hans Castorp hẳn sẽ nói, “tích lũy”, không ít điều để rồi một ngày kia bật tung ra như một tiếng “Xá gì!” mang tính nguyên sơ hoặc một tiếng “Thì cứ đến đi!” đầy sốt ruột phẫn uất, tóm lại, bật ra thành đúng cái sự thách thức và khước từ thận trọng khôn ngoan ấy. Bởi vậy chàng cứ thế lao tới trên đôi ván dài, trượt nốt xuống con dốc rồi lướt qua triền tuyết tiếp sau, nơi ở một quãng cách có một túp nhà gỗ, một đụn cỏ khô hay một lều núi mái đè đá, hướng về ngọn núi gần nhất, có sống lưng lởm chởm những cây thông, và phía sau nó những đỉnh cao mờ sương chồng chất lên nhau. Vách núi trước mặt chàng, điểm xuyết từng cụm cây rời, thì dựng đứng, nhưng nếu chếch sang phải hẳn có thể men vòng nửa chừng với độ dốc vừa phải mà ra phía sau nó, để xem tiếp nữa phía ấy sẽ là gì; và vào cái công việc thám sát ấy Hans Castorp bắt tay, sau khi trước cánh đồng có túp lều chăn bò còn trượt xuống một khe khá sâu, đổ từ phải sang trái.

Chàng vừa mới bắt đầu leo lên trở lại thì, đúng như đã có thể chờ đợi, tuyết rơi và gió bão bùng phát ra trò, nói cho gọn, cơn bão tuyết cuối cùng đã tới, thứ đã đe dọa từ lâu, nếu người ta có thể nói là “đe dọa” đối với những nguyên tố mù lòa và vô tri, những thứ không cố ý tiêu diệt chúng ta, điều mà so ra còn có phần thân mật hơn, mà trái lại, chúng dửng dưng theo cái cách khủng khiếp nhất trước việc chuyện ấy lỡ thể xảy ra kèm theo. “A!” Hans Castorp nghĩ và đứng lại, khi luồng gió đầu tiên quất vào màn tuyết dày và táp trúng chàng. “Thứ hơi thở này thật thấu tận tủy.” Quả thật, ngọn gió ấy mang một bản tính hết sức ác nghiệt: cái rét ghê gớm đang ngự trị, vào khoảng hai mươi độ dưới không, thực ra chỉ không cảm thấy và còn có vẻ hiền hòa khi lớp không khí không hơi ẩm đứng yên bất động như thường lệ; nhưng hễ nó động lên thành gió là da thịt như bị dao cắt, và khi nó ập tới như lúc này, bởi cú quét gió đầu tiên chỉ là tiền phong thôi, thì có bảy lớp da thú cũng chưa đủ che bộ xương khỏi nỗi kinh hoàng băng giá của cái chết, mà Hans Castorp lại không mặc bảy lớp da thú, chỉ một áo gi-lê len, thứ từ trước đến nay vốn vẫn hoàn toàn đủ cho chàng, thậm chí chỉ cần chút nắng là đã hóa phiền. Vả lại, chàng đón gió hơi chếch từ phía sau, nên quay đầu lại để hứng nó thẳng mặt rõ ràng chẳng phải một ý hay; và vì sự cân nhắc ấy hòa lẫn với tính ngang tàng và cái “Xá gì!” đến nơi đến chốn trong tâm hồn chàng, nên cậu chàng điên ấy vẫn cứ tiến thêm nữa, len giữa những cây thông đứng lẻ, để ra phía sau ngọn núi mình vừa nhắm tới.

Nhưng trong việc ấy tuyệt nhiên chẳng có gì vui thú, vì trước điệu múa của bông tuyết, dường như không rơi xuống mà cuộn xoáy dày đặc chiếm kín mọi khoảng không, người ta chẳng trông thấy gì; những cơn gió băng xông thẳng tới làm tai bỏng rát vì đau nhói, làm tê liệt chân tay và khiến hai bàn tay mất cảm giác, đến nỗi không còn biết mình còn nắm cây gậy leo núi hay không nữa. Tuyết tạt vào sau cổ áo chàng rồi tan chảy xuống dọc sống lưng, đậu trên vai và phủ kín sườn phải; chàng có cảm giác như mình sắp đông cứng ở đây thành một người tuyết, cây gậy cứng đờ trong tay; và tất cả sự bất tiện ấy còn diễn ra trong những điều kiện tương đối thuận lợi: hễ quay mình lại thì mọi sự còn tệ hơn; vậy mà đường về nhà nay đã thành một việc nặng nhọc, thứ việc có lẽ chàng cũng không nên chần chừ mãi mới bắt tay vào.

Thế là chàng đứng khựng lại, giận dữ nhún vai và quay đầu đôi ván. Ngọn gió ngược lập tức làm chàng nghẹt thở, đến nỗi chàng phải lặp lại một lần nữa cái thao tác xoay trở bất tiện ấy để lấy hơi, rồi với tư thế vững hơn mà đương đầu với kẻ thù dửng dưng. Cúi đầu xuống và cẩn thận điều hòa nhịp thở, cuối cùng chàng cũng cất bước được theo hướng ngược lại, tuy hết sức ngạc nhiên, bất chấp những dự liệu xấu, trước cái khó khăn của việc tiến lên, nảy sinh đặc biệt từ sự mù lòa và cơn hụt hơi của chàng. Giây nào chàng cũng buộc phải dừng lại, trước hết để né cơn bão mà hít lấy chút không khí, rồi còn vì, ngẩng nhìn lên với đầu cúi thấp, chàng chẳng thấy gì ngoài sự tối tăm trắng xóa, nên phải đề phòng khỏi đâm sầm vào cây cối, khỏi bị chướng ngại quật ngã. Tuyết bay thành đám lớn vào mặt chàng và tan ở đó, khiến mặt như đông cứng. Chúng bay vào miệng, ở đó tan ra với một vị hơi nước nhạt nhẽo, bay tạt vào mi mắt, những thứ co giật khép chặt lại, ngập tràn hai mắt và ngăn cản mọi sự ngó nhìn, vốn dĩ cũng vô ích, vì màn che dày đặc trước tầm mắt và sự chói lòa của tất cả cái trắng ấy gần như đã vô hiệu hóa hẳn thị giác rồi. Đó là hư vô, thứ hư vô trắng xóa và cuộn xoáy, vào đó chàng nhìn khi ép mình phải nhìn. Chỉ đôi khi những bóng ma quái của thế giới hiện tượng mới nhô lên trong ấy: một bụi tùng lùn, một cụm vân sam, cả cái dáng mờ yếu ớt của cái chòi cỏ mà chàng vừa mới đi ngang qua.

Chàng bỏ mặc nó đấy, tìm đường quay lại qua triền tuyết nơi có cái chòi. Nhưng làm gì có đường; giữ cho được một hướng, cái hướng đại khái về nhà, xuống thung lũng, là chuyện dựa vào may nhiều hơn vào trí, bởi người ta cùng lắm chỉ thấy được bàn tay trước mắt, chứ đến cả đầu mút đôi giày tuyết của mình cũng không thấy; mà dẫu có thấy rõ hơn đi nữa, thì vẫn còn đủ những sắp đặt nhằm gây trở ngại tối đa cho việc tiến lên: mặt mũi đầy tuyết, cơn bão làm kẻ đối địch phá hỏng sự hô hấp, cắt đứt nó, ngăn không cho cả hít lẫn thở ra, và từng chốc lại buộc người ta phải ngoảnh đi mà hớp lấy hơi, dưới những điều kiện như thế thử hỏi người này hay người kia, Hans Castorp hay một kẻ khác khỏe hơn, ai mà tiến lên nổi; người ta đứng khựng lại, hổn hển, chớp mắt ép nước ra khỏi hàng mi, đập cho rơi cái áo giáp tuyết đã phủ bết lên phía trước thân mình, và thấy việc cứ phải tiến lên trong cảnh ngộ ấy là một đòi hỏi vô lý.

Dầu vậy Hans Castorp vẫn tiến lên, nghĩa là: chàng vẫn rời được khỏi chỗ. Chỉ có điều đó có phải là một sự tiến lên hữu ích, một sự tiến lên đúng hướng hay không, và liệu đứng nguyên tại chỗ có khi lại bớt sai hơn chăng, tuy điều ấy cũng chẳng khả thi, thì còn để ngỏ, hơn nữa xét về lý thuyết, xác suất còn nghiêng hẳn chống lại; và xét thực tế, chẳng bao lâu Hans Castorp thấy như nền đất dưới chân có gì không ổn, như thể chàng không còn đặt chân trên đúng thứ địa hình kia nữa, tức cái triền bằng phẳng mà từ dưới khe chàng đã phải hết sức gian nan leo lên mới lấy lại được, và điều cốt yếu là lại phải băng qua nó. Quãng bằng phẳng đã quá ngắn; chàng lại đang đi lên. Hiển nhiên cơn bão, từ tây nam, từ phía cửa thung lũng thổi tới, bằng sức ép ngược hung hãn của nó đã đẩy chàng lệch khỏi đường. Từ khá lâu rồi, đó là một sự tiến lên sai lạc, thứ mà chàng đang kiệt sức theo đuổi. Mù quáng, bị bao bọc trong đêm trắng cuộn xoáy, chàng chỉ tự dấn ngày một sâu hơn vào cái đe dọa dửng dưng ấy.

“A, thế này cơ à!” chàng nghiến răng nói và dừng lại. Chàng không diễn đạt một cách bi tráng hơn, mặc dầu trong khoảnh khắc chàng có cảm giác như một bàn tay băng giá chộp tới tim mình, khiến nó giật nảy rồi đập vào lồng ngực bằng những nhịp dồn dập như thuở Rhadamanthys phát hiện ra vết ẩm nơi chàng. Bởi chàng hiểu rằng mình không có quyền dùng những lời lớn lối và điệu bộ kịch tính, vì phần của chàng chính là sự thách thức, và mọi điều đáng ngại trong hoàn cảnh này đều hoàn toàn do chính chàng gánh lấy. “Cũng chẳng tệ,” chàng nói và cảm thấy những đường nét trên mặt mình, những cơ biểu cảm của nét mặt, không còn vâng theo linh hồn nữa và không còn khả năng biểu thị điều gì, không phải sợ hãi, cũng không phải giận dữ hay khinh miệt, bởi chúng đã đông cứng. “Giờ sao đây? Chếch xuống bên này, rồi từ đây cứ theo mũi mà đi, luôn luôn thật đúng ngược chiều gió. Nói thì dễ hơn làm,” chàng tiếp, vừa thở hổn hển vừa đứt quãng, nhưng thật sự là nói thành tiếng nửa nhỏ nửa rõ, trong lúc lại bắt đầu nhúc nhích; “nhưng phải làm gì đó, tôi không thể ngồi xuống mà đợi được, vì khi ấy tôi sẽ bị phủ kín bởi thứ đều đặn lục giác, và Settembrini, nếu ông ấy cầm cái tù và tới tìm tôi, sẽ thấy tôi ngồi chồm hỗm ở đây với đôi mắt kính đờ, cái mũ tuyết lệch trên đầu...” Chàng nhận ra rằng mình đang nói với chính mình, mà lại nói một cách hơi kỳ quặc. Thế là chàng tự quở mình về việc ấy, nhưng lại vẫn làm, nửa thành tiếng và rành rọt, mặc dầu hai môi chàng đã tê dại đến mức chàng từ bỏ việc dùng chúng, nói không có những phụ âm được cấu thành nhờ đôi môi, điều này lại gợi cho chính chàng nhớ tới một hoàn cảnh sống thuở trước, khi cũng đã như vậy. “Im đi và liệu mà thoát khỏi đây,” chàng nói, rồi thêm: “Tôi thấy anh đang nhảm đi và đầu óc không còn thật tỉnh táo nữa. Về một phương diện nào đó, điều ấy thật nguy.”

Tuy nhiên, việc điều ấy là nguy, xét dưới góc độ thoát thân của chàng, chỉ là một ghi nhận thuần túy của lý trí giám sát, như thể của một người xa lạ, không can dự, tuy có lo lắng. Còn về phần bản tính tự nhiên của chàng, chàng lại rất ngả theo ý muốn phó mặc mình cho cơn mơ hồ đang cùng với sự mệt mỏi ngày một tăng mà chiếm lấy chàng; tuy vậy chàng vẫn ghi nhận xu hướng ấy và giữ nó lại trong suy nghĩ. “Đây là hình thái trải nghiệm đã biến đổi của một kẻ lạc vào bão tuyết trên núi rồi không còn tìm được đường về,” chàng vừa nhọc nhằn bước tới vừa nghĩ, lại vừa thở không ra hơi mà lẩm bẩm những mảnh câu đứt đoạn về điều ấy trước mặt mình, tránh dùng những từ ngữ quá rõ ràng vì một thứ kín đáo nào đó. “Người nghe kể lại sau này sẽ hình dung nó ghê rợn, nhưng quên rằng bệnh tật, mà hoàn cảnh của tôi quả cũng phần nào là một thứ bệnh, vốn đã sửa soạn con người của nó sao cho hai bên có thể sống chung với nhau được. Khi ấy có những suy giảm cảm giác, những cơn mê nhân từ, những biện pháp giảm nhẹ của tự nhiên, phải, đúng thế... Tuy nhiên, phải chống lại chúng, bởi chúng có hai bộ mặt, mập mờ đến bậc cao nhất; đánh giá chúng thế nào hoàn toàn tùy ở lập trường. Chúng đầy ý tốt và là một ơn huệ, miễn là rốt cuộc người ta không còn phải về nhà nữa; nhưng chúng lại đầy ý xấu và cực kỳ đáng chống cự, chừng nào chuyện về nhà vẫn còn có thể nói tới, như trường hợp tôi đây, kẻ mà trong trái tim đang đập giông bão này của mình không hề nghĩ đến việc để cho mình bị phủ lấp ở đây bởi thứ tinh thể học đều đặn ngu xuẩn...”

Quả thật chàng đã mệt lử rất nhiều rồi và chống trả sự mờ đục đang khởi lên trong cảm quan của mình theo một cách cũng mơ hồ và sốt nóng. Chàng đã không hoảng hốt theo cái lẽ, trong tình trạng lành mạnh, chàng phải hoảng hốt, khi nhận ra rằng mình lại một lần nữa đã trệch khỏi lối bằng: lần này hiển nhiên là sang phía bên kia, về phía triền dốc hạ thấp xuống. Vì chàng đang lao xuống, trong cơn gió ngược chếch, và dù trước mắt chàng lẽ ra không được làm như thế, thì trong khoảnh khắc ấy đó vẫn là cách dễ chịu nhất. “Cũng được thôi,” chàng nghĩ. “Xuống thấp hơn nữa rồi ta sẽ lại chỉnh hướng.” Và chàng đã làm thế, hoặc tin là mình làm thế, hoặc chính mình cũng không thật tin lắm, hoặc, điều còn đáng ngại hơn, chàng bắt đầu thấy dửng dưng việc mình có làm thế hay không. Những cơn sa sút hai mặt ấy tác động như vậy, và chàng chỉ kháng cự chúng một cách yếu ớt. Cái hỗn hợp giữa mệt mỏi và kích động, vốn tạo nên trạng thái thường trực quen thuộc của một người khách mà sự thích nghi với khí hậu hệ tại chính ở chỗ anh ta không hề quen được với nó, nay ở cả hai thành phần đã mạnh lên đến mức không còn có thể nói tới một cách xử sự điềm tĩnh đối với các cơn sa sút ấy nữa. Choáng váng và lảo đảo, chàng run lên vì cơn say và sự kích động, rất giống sau một cuộc biện luận với Naphta và Settembrini, chỉ khác là mạnh hơn không sao sánh nổi; và có lẽ cũng vì thế mà chàng tô hồng sự lười nhác của mình trong việc chống lại những cơn sa sút gây mê bằng những hồi tưởng say mềm về các cuộc luận chiến như vậy, lầm rầm một điều gì đó trong chính mình, mặc cho nỗi phẫn nộ khinh bỉ của chàng trước chuyện bị chôn lấp dưới thứ đều đặn lục giác, theo cái nghĩa, hay vô nghĩa, rằng cái ý thức bổn phận muốn buộc chàng phải chống lại những sự suy giảm khả nghi kia chẳng qua chỉ là luân lý suông, tức một thứ công dân tính nhỏ nhen của đời sống và sự tầm thường vô đạo. Ước muốn cùng cám dỗ được nằm xuống và nghỉ ngơi len vào tâm trí chàng dưới hình thức chàng tự nhủ rằng điều ấy cũng như trong một trận bão cát nơi sa mạc, khiến người Ả Rập sấp mặt xuống đất và kéo tấm burnus trùm lên đầu. Chỉ có điều, việc chàng không có burnus, và một cái áo gi-lê len thì không sao kéo trùm lên đầu cho được, là điều chàng cảm thấy như một phản bác đối với lối xử sự ấy, mặc dầu chàng đâu còn là trẻ con và từ bao nhiêu ghi chép lưu truyền cũng biết khá tường tận người ta chết cóng ra sao.

Sau một quãng đổ xuống khá nhanh và một đoạn bằng phẳng, bây giờ đường lại đi lên, mà lại khá dốc. Điều ấy chưa hẳn đã sai, vì trên đường xuống thung lũng hẳn thỉnh thoảng cũng phải lại có một đoạn lên dốc; còn về gió, có lẽ nó đã đổi chiều một cách thất thường, vì nay Hans Castorp lại thấy nó ở sau lưng và tự thân điều ấy chàng lấy làm đáng cảm tạ. Nhưng phải chăng cơn bão đang bẻ chàng đi, hay chính cái mặt dốc trắng mềm trước mặt chàng, bị màn tuyết chạng vạng che khuất, đang tác động lên thân thể chàng một sức hút khiến chàng nghiêng về phía nó? Nếu phó mặc cho nó, thì rốt cuộc cũng chỉ là một cái tựa mình xuống thôi, và sức cám dỗ của điều ấy thật lớn, lớn đúng như trong sách đã chép và đã được ghi nhận là mối nguy tiêu biểu, tuy thế điều đó tuyệt nhiên không làm suy giảm quyền lực sống động, hiện tiền của cơn cám dỗ. Nó đòi những quyền lợi cá biệt, không muốn xếp mình vào cái điều ai cũng biết, không muốn nhận ra mình ở trong đó, tự xưng là độc nhất vô nhị và không thể so sánh trong sự khẩn thiết của nó, dẫu vậy cũng không thể phủ nhận rằng đó là lời xúi giục thì thầm từ một phía nhất định, là sự gợi ý của một hữu thể mặc đồ đen Tây Ban Nha với chiếc cổ xếp nếp trắng như tuyết, gắn với ý niệm và hình dung nguyên tắc về nó là bao điều âm u, sắc lạnh kiểu Dòng Tên và thù nghịch với con người, nào tra tấn, nào roi vọt nô dịch, những điều khiến ngài Settembrini ghê tởm, tuy trước mặt chúng ông ta cũng chỉ hóa ra lố bịch với cái phong cầm quay và _ragione_ của mình...

Tuy vậy Hans Castorp vẫn gắng giữ mình cho phải lẽ và chống lại sự cám dỗ muốn ngả người xuống. Chàng không trông thấy gì, nhưng chàng chiến đấu và vẫn nhích đi được, dù có đúng hướng hay không, nhưng chàng đã làm phần mình và còn cựa quậy được, bất chấp những mối trói nặng nề mà trận bão giá mỗi lúc một giáng chặt hơn lên chân tay chàng. Khi thấy dốc lên quá gắt, chàng bẻ ngang, không tự giải thích gì mấy với mình, và cứ thế trượt men sườn dốc một quãng. Tách hai mí mắt co quắp ra mà nhìn dò xét là một cố gắng mà sự vô ích đã được kiểm nghiệm của nó chẳng hề khuyến khích người ta thực hiện. Dẫu vậy, đôi lúc chàng vẫn thấy lờ mờ một vài thứ: những cây vân sam tụ lại thành cụm, một con suối hay cái rãnh mà màu đen của nó hiện ra giữa những mép tuyết nhô trùm; và khi, để thay đổi, chàng lại một lần nữa đổ dốc xuống, tuy là ngược gió, chàng bỗng nhận ra phía trước, ở một khoảng xa nào đó, như lơ lửng tự do trong màn xoáy quét của tuyết, bóng một công trình của con người.

Một cảnh tượng đáng mừng, đáng an ủi biết bao! Chàng đã khá lắm mới vượt được đến đây, bất chấp mọi điều ngang trái, đến nỗi giờ đây ngay cả những công trình của con người cũng đã hiện ra, như dấu hiệu cho thấy thung lũng có người ở đã gần kề. Biết đâu ở đó có người; biết đâu chàng có thể vào trú nơi họ, để dưới mái che tường kín mà chờ cho thời tiết qua đi, và, nếu cần, có người cùng đi, dẫn đường, trong trường hợp bóng tối tự nhiên đã sập xuống trong lúc ấy. Chàng hướng về cái vật mơ hồ tựa chimera ấy, cái vật nhiều phen biến mất hẳn trong bóng tối của thời tiết, còn phải vượt thêm một đoạn leo ngược gió hao kiệt sức lực mới tới nơi, và khi tới nơi rồi, chàng kinh ngạc, phẫn nộ, kinh hãi và choáng váng mà nhận ra rằng đó chính là cái chòi quen thuộc, cái kho cỏ mái đè đá mà chàng, bằng đủ mọi đường vòng và với sự gắng sức lương thiện nhất, đã giành lại được.

Đúng là quỷ quái. Những lời nguyền rủa nặng nề, bỏ mất các phụ âm môi, rời khỏi đôi môi đông cứng của Hans Castorp. Chàng lần quanh cái chòi để định hướng và xác nhận rằng mình đã lại đến đó từ phía sau, nghĩa là trong suốt gần một giờ đồng hồ, theo ước lượng của chàng, chàng đã làm cái điều vô nghĩa thuần túy và vô dụng nhất đời. Nhưng sự việc vẫn thế, sách đã chép đúng như vậy. Người ta cứ đi vòng tròn, tự hành xác mình, trong lòng tin rằng việc ấy có ích, mà rốt cuộc chỉ vạch nên một cung tròn mênh mang, ngớ ngẩn, đưa trở về chính điểm cũ như vòng tuần hoàn trêu ngươi của năm tháng. Người ta lạc vơ lạc vẩn như thế, người ta không tìm được đường về như thế. Hans Castorp nhận ra hiện tượng đã được lưu truyền ấy với một niềm thỏa mãn nào đó, tuy vẫn kinh hãi, và chàng đập vào đùi mình vì vừa giận vừa sững sờ, bởi trong trường hợp riêng biệt, đặc thù và hiện thời của chàng, cái điều phổ quát kia đã xảy ra đúng mực đến thế.

Cái lán cô độc ấy không sao vào được, cửa khóa, không có chỗ nào chui lọt. Nhưng Hans Castorp trước mắt vẫn quyết định cứ ở lại đây, vì mái chìa ra tạo nên ảo giác về một chút ấm cúng nào đó, còn chính căn chòi, ở phía quay về núi mà Hans Castorp tìm đến, quả thực che chở được phần nào khỏi cơn bão, nếu người ta tì vai vào bức vách ghép bằng thân cây, bởi lấy lưng tựa vào thì, do đôi ván trượt tuyết dài, không thể làm được cho ra lẽ. Chàng đứng tựa xéo như vậy, sau khi cắm cây gậy trượt bên cạnh xuống tuyết, hai tay đút túi, cổ áo khoác len dựng cao, dùng chân phía ngoài làm điểm chống, và để cái đầu lảo đảo, với đôi mắt nhắm nghiền, tựa vào vách ván, thỉnh thoảng chỉ nheo mắt nhìn dọc theo vai mình, qua khe vực sang vách núi phía bên kia, nơi đôi khi hiện ra lờ mờ qua màn tuyết.

Tình thế của chàng, so ra, vẫn còn dễ chịu. “Cùng lắm thì ta có thể đứng thế này suốt đêm,” chàng nghĩ, “nếu thỉnh thoảng đổi chân, nói theo cách nào đó là nằm nghiêng sang phía kia, và xen vào giữa dĩ nhiên phải vận động đôi chút, điều ấy là tuyệt đối cần thiết. Dù bên ngoài đã cứng cóng, bên trong ta vẫn tích được hơi ấm nhờ sự vận động đã có, vậy nên chuyến đi chơi này cũng chưa hẳn hoàn toàn vô ích, cho dù ta có mất mạng và đã phiêu dạt từ chòi này sang chòi khác... ‘Mất mạng’, đó là kiểu nói gì vậy nhỉ? Thật ra chẳng cần dùng đến nó, nó không phải lối dùng quen thuộc cho điều đã xảy đến với ta; ta gán bừa nó vào đây chỉ vì đầu óc mình không được thật sáng sủa; mà tuy thế, xem ra nó vẫn là một chữ đúng theo lối riêng của nó... Miễn là ta chịu đựng nổi; bởi cái sự quấy đảo này, trận tuyết quấy đảo này, cái trò tác quái này, hoàn toàn có thể kéo dài tới sáng mai, và dù nó chỉ kéo dài tới lúc trời tối hẳn thôi thì cũng đã đủ gay rồi, vì ban đêm nguy cơ mất mạng, nguy cơ đi vòng vòng không lối ra cũng lớn như trong bão tuyết... Thậm chí hẳn là đã vào buổi chiều, chừng sáu giờ, ngần ấy thời gian ta đã làm phí trong cái việc mất mạng này. Mấy giờ rồi nhỉ?” Chàng rút đồng hồ ra xem, dẫu những ngón tay tê cứng phải moi nó khỏi quần áo chẳng dễ dàng gì, chiếc đồng hồ vàng nắp bật có chạm chữ lồng của chàng, vẫn tích tắc sinh động và tận tụy nơi chốn cô tịch hoang vu này, tựa như trái tim chàng, trái tim người cảm động kia trong hơi ấm hữu cơ của buồng ngực...

Mới có bốn giờ rưỡi. Quỷ thật, gần như lúc thời tiết nổi lên thì cũng đã ngần ấy rồi. Chẳng lẽ chàng phải tin rằng cuộc lang thang của mình chỉ mới kéo dài chưa đầy một khắc giờ? “Thời gian đã dài ra đối với ta,” chàng nghĩ. “Xem ra chuyện mất mạng thật buồn tẻ. Nhưng đến năm giờ hay năm rưỡi thì trời tối hẳn, điều ấy vẫn không thay đổi. Liệu trước đó nó có dứt đi không, có kịp lúc để ta khỏi tiếp tục mất mạng chăng? Nghĩ đến đó ta có thể nhấp một ngụm rượu porto, cho thêm sức.”

Thứ đồ uống tài tử ấy chàng nhét theo mình chỉ vì trên “Berghof” người ta có sẵn những chai dẹt đựng nó và bán cho khách đi dạo, dĩ nhiên không phải cho hạng người trái phép lạc lối trên núi trong tuyết và giá mà chờ qua đêm giữa những hoàn cảnh như thế này. Với một thần trí bớt suy giảm hơn, lẽ ra chàng phải tự nhủ rằng, xét về phương diện tìm đường về, đó gần như là thứ sai lầm nhất mà chàng có thể đưa vào người; và chàng cũng đã tự nhủ như thế, sau khi uống vài hớp, những hớp lập tức phát huy một tác dụng rất giống với thứ bia Kulmbach vào buổi tối ngày đầu tiên chàng đặt chân lên trên này, khi bằng những lời lẽ buông tuồng không kềm chế về nước xốt cá và những thứ tương tự, chàng đã va phải Settembrini, ông Lodovico, nhà giáo dục, kẻ chỉ bằng ánh mắt cũng đủ buộc những người điên rồ buông thả mình phải quay về lý trí; và ngay lúc ấy Hans Castorp nghe thấy chiếc tù và nhỏ du dương của ông vọng qua không trung, dấu hiệu rằng nhà giáo huấn hùng biện đang tiến đến bằng những bước trường chinh để giải cứu đứa học trò của đau khổ, đứa con cưng khiến đời phải lo lắng, ra khỏi tình cảnh điên rồ của nó và dẫn nó về nhà... Dĩ nhiên toàn bộ chỉ là chuyện nhảm, và chỉ do thứ Kulmbacher mà chàng đã lầm lẫn uống vào. Bởi lẽ, trước hết, Herr Settembrini nào có chiếc tù và nhỏ nào, ông ta chỉ có cái đàn quay của mình, dựng trên một chân chống bằng gỗ giữa mặt đường lát đá, và theo tiếng đàn quen thuộc của nó, ông ngước đôi mắt nhân văn lên những ngôi nhà; còn thứ hai, ông chẳng hề biết cũng chẳng hề nhận ra chuyện gì đang diễn ra, vì giờ đây chàng không còn ở dưỡng đường “Berghof” nữa, mà đang ở căn gác nhỏ có chiếc túi chườm nước nóng của thợ may nữ Lukaček, phía trên cái buồng lụa là của Naphta, và ông cũng không có quyền gì, cũng chẳng có khả năng nào để can thiệp, cũng như thuở nọ trong đêm hội hóa trang, khi Hans Castorp cũng ở vào một tình cảnh điên cuồng và tệ hại không kém, bởi chàng đã trả lại cho Clawdia Chauchat đau ốm _son crayon_, chiếc bút chì của mình, chiếc bút chì của Pribislav Hippe... Mà vả lại, cái “tình thế” ấy là thế nào? Muốn thật sự ở vào một thế nằm, người ta phải nằm chứ không phải đứng, để chữ ấy có được nghĩa công chính và ngay ngắn của nó, thay vì chỉ là một nghĩa bóng. Nằm ngang, đó mới là tư thế thích hợp với một thành viên lâu năm của Những Người Trên Này. Chẳng phải chàng đã quen nằm ngoài trời trong tuyết và giá, cả ban đêm lẫn ban ngày đó sao? Và chàng vừa sửa soạn buông mình chìm xuống, thì một tia sáng suốt chợt xuyên qua, túm lấy cổ áo chàng mà giữ chàng đứng thẳng, cho chàng hiểu rằng chính thứ lảm nhảm tư tưởng về “tình thế” ấy cũng chỉ phải ghi vào sổ của bia Kulmbach, chỉ nảy sinh từ cái ham muốn nằm xuống và ngủ đi không phải của riêng ai, cái ham muốn được ghi trong sách như một mối nguy điển hình, đang tìm cách mê hoặc chàng bằng ngụy biện và trò chơi chữ.

“Ở đây đã có một sự lầm lẫn,” chàng nhận ra. “Rượu porto không đúng thứ; mấy ngụm ít ỏi ấy đã làm đầu óc ta nặng quá quắt, nó cứ gục xuống ngực ta, và những ý nghĩ của ta là một mớ mơ hồ cùng những trò đùa nhạt nhẽo, ta không được phép tin vào chúng, không chỉ những ý nghĩ đầu tiên, nguyên thủy, chợt nảy ra trong đầu, mà cả những ý nghĩ thứ hai, những ý nghĩ ta làm ra một cách phê phán về những ý nghĩ đầu; ấy mới là điều bất hạnh. _Son crayon_! Cái đó, trong trường hợp này, có nghĩa là cây _crayon_ của ‘cô ấy’, chứ không phải của ‘anh ta’, và người ta chỉ nói _son_ vì _crayon_ là một danh từ giống đực; mọi điều khác đều là trò bông lơn. Trong khi đó, chẳng hạn, điều cấp bách hơn nhiều lại là sự kiện rằng cái chân trái, chân ta đang tì vào, gợi nhớ một cách kỳ lạ đến cái chân chống gỗ của chiếc đàn quay của Settembrini, cái chân mà ông ta luôn dùng đầu gối thúc đi trước mặt mình trên mặt đường lát đá khi bước lại gần hơn dưới cửa sổ và chìa chiếc mũ nhung ra để cô hầu nhỏ trên ấy ném cho ông một thứ gì vào trong. Mà đồng thời lại có một sức kéo vô nhân xưng như hẳn hai bàn tay lôi ta đặt mình xuống tuyết. Chỉ có vận động mới chống nổi điều đó. Ta phải làm cho mình vận động, để chuộc lỗi vì bia Kulmbacher và để làm mềm cái chân gỗ.”

Chàng lấy vai hất người khỏi vách. Nhưng ngay khi vừa rời cái lán, chỉ bước tới trước một bước thôi, gió đã chém vào chàng như lưỡi hái và quật chàng trở lại bức tường che chở. Hẳn nhiên đó là chỗ lưu lại đã được chỉ định cho chàng, và trước mắt chàng phải bằng lòng với nó, tuy vẫn được phép, để thay đổi, tựa sang vai trái và dồn sức lên chân phải, đồng thời vung vẩy chân trái đôi chút cho nó linh hoạt lại. Với thứ thời tiết như thế này, người ta không ra khỏi nhà, chàng nghĩ. Có thể thay đổi vừa phải, nhưng không được sính cái mới, cũng không được gây sự với cô ả cuồng phong. Hãy đứng yên và cứ để đầu mình rũ xuống, nếu nó đã nặng đến thế. Bức tường này tốt, xà gỗ, dường như từ nó tỏa ra một thứ hơi ấm nào đó, chừng nào ở đây còn có thể nói tới hơi ấm, thứ nhiệt riêng kín đáo của gỗ, có lẽ phần nhiều chỉ là chuyện tâm trạng, chủ quan... À, bao nhiêu là cây! À, khí hậu sống động của những kẻ đang sống! Thơm làm sao!...

Đó là một công viên trải dưới chân chàng, dưới ban công mà có lẽ chàng đang đứng trên đó: một công viên rộng lớn, xanh tươi sum suê với những cây lá rộng, những cây du, cây tiêu huyền, cây dẻ gai, cây phong, cây bạch dương, sắc lá đầy đặn, tươi mới, óng ánh của chúng hơi phân tầng dịu nhẹ về màu, còn ngọn cây thì xào xạc êm êm. Một luồng không khí ẩm, tuyệt diệu, đã được hơi thở của cây cối ướp hương balsam, đang thổi qua. Một trận mưa ấm vừa đi qua, nhưng mưa sáng trong. Từ dưới đất cho đến tận trời cao, người ta thấy không khí chan chứa những sợi nước sáng láng. Đẹp biết bao! Ôi, hơi thở quê nhà, hương thơm và sự sung mãn của miền đồng bằng, đã thiếu vắng từ lâu! Không trung ngập tiếng chim, ngập những tiếng sáo ríu rít dịu dàng thân mật và ngọt ngào, tiếng líu lo, tiếng gù, tiếng vỗ cánh và tiếng nức nở, mà không thấy một con nào. Hans Castorp mỉm cười, hít thở với lòng biết ơn. Nhưng trong khi đó mọi vật còn như hứa hẹn sẽ đẹp hơn nữa. Một cầu vồng giăng chéo bên trên phong cảnh, đầy đủ, đậm mạnh, một vẻ huy hoàng thuần túy, óng ánh ẩm ướt trong mọi màu sắc của nó, những màu sắc đậm đặc như dầu chảy xuống mảng xanh dày, bóng lộn. Ấy quả như âm nhạc, như toàn tiếng đàn hạc pha lẫn sáo và vĩ cầm. Đặc biệt là lam và tím tuôn chảy kỳ diệu. Mọi sự chìm vào trong đó, nhòa đi một cách phù phép, biến đổi, bung mở lại, mỗi lúc một đẹp hơn. Y như lần nọ, đã mấy năm rồi còn gì, khi Hans Castorp được nghe một ca sĩ lừng danh thế giới, một giọng tenor người Ý, từ cổ họng người ấy nghệ thuật và sức lực đầy ân sủng đã tuôn xuống trái tim loài người. Ông ta giữ một nốt cao, vốn đã đẹp ngay từ đầu. Nhưng dần dần, từng khoảnh khắc một, âm hưởng đầy đam mê ấy mở ra, nở phồng mà khai mở, sáng rỡ dần lên. Tấm màn này đến tấm màn khác, mà trước đó không ai nhận ra, như thể lần lượt rơi khỏi nó, còn một tấm cuối nữa, tấm mà khi ấy người ta tưởng đã phơi bày ánh sáng tinh tuyền và tận cùng nhất, rồi thêm một tấm cuối hết sức, rồi một tấm cuối chót đến không thể tin nổi nữa, giải phóng một sự tràn bờ của ánh huy hoàng và vẻ rực rỡ lấp lánh nước mắt đến mức những tiếng kêu đục nghẹn vì ngây ngất, gần như vừa tán đồng vừa phản đối, đã bật ra khỏi đám đông, và chính chàng, Hans Castorp trẻ tuổi thuở ấy, cũng bị một cơn nức nở ập đến. Phong cảnh của chàng giờ đây cũng thế, đang biến chuyển, đang mở ra trong một sự biến hóa rạng rỡ mỗi lúc một tăng. Một làn xanh trôi lững... Những màn mưa sáng lóa hạ xuống: kia là biển, một mặt biển, đó là biển phương Nam, xanh thẳm, xanh thẳm, lóe bạc, một vịnh biển đẹp tuyệt, về một phía mở mờ trong sương, nửa vòng ôm rộng bởi những dãy núi ngày càng xanh nhạt, xen giữa là các đảo, nơi những cây cọ vươn lên hoặc trên đó người ta thấy những ngôi nhà trắng nhỏ phát sáng giữa những lùm bách. Ôi, ôi, đủ rồi, hoàn toàn không xứng đáng, đó là thứ diễm phúc gì của ánh sáng, của sự tinh khiết sâu thẳm của bầu trời, của sự tươi mát đầy nắng của nước vậy! Hans Castorp chưa từng thấy điều ấy, chưa từng thấy gì tương tự. Trong những chuyến du ngoạn nghỉ hè, chàng mới chỉ nhấp môi đôi chút vào miền Nam, chàng biết biển dữ, biển nhợt, và gắn bó với nó bằng những tình cảm trẻ con, nặng nề; nhưng Địa Trung Hải, Naples, Sicilia hay Hy Lạp chẳng hạn, chàng chưa bao giờ đặt chân tới. Thế mà chàng vẫn _nhớ lại_. Vâng, kỳ lạ thay, đó là một niềm nhận ra lại mà chàng đang reo mừng. “À, phải, đúng là thế!” có tiếng kêu lên trong lòng chàng, như thể niềm hạnh phúc mặt trời xanh biếc đang bày ra trước mắt kia tự thuở nào chàng vẫn bí mật, giấu cả chính mình, mang nó trong tim: và chữ “thuở nào” ấy xa lắm, xa vô cùng, như biển khơi mở rộng về bên trái, nơi bầu trời nhẹ màu tím hoa cà đáp xuống trên mặt nước.

Đường chân trời nằm cao, khoảng rộng dường như dâng lên, vì Hans nhìn vịnh từ trên cao xuống, từ một độ cao nào đó: những dãy núi vươn vòng ôm lấy, thành những mũi đất, phủ rừng bụi, thò mình ra biển, kéo thành một vòng bán nguyệt từ giữa tầm nhìn đến tận chỗ chàng ngồi, rồi còn xa nữa; đó là một bờ biển núi non, nơi chàng ngồi xổm trên những bậc đá được mặt trời sưởi ấm; trước mặt chàng, bờ đất, rêu đá lẫn lộn, đổ xuống theo từng khối bậc cấp có bụi rậm thành một bãi bằng, nơi giữa lau sậy đống đá vụn tạo thành những vũng vịnh xanh lam, những bến nhỏ, những hồ nước con. Và miền đất chan nắng ấy, cùng những độ cao ven bờ dễ lui tới ấy, cùng những bồn đá tươi cười ấy, cũng như mặt biển vươn ra tới các đảo, nơi thuyền bè qua lại, khắp gần xa đều có người ở. Con người, những đứa con của mặt trời và biển, cử động và nghỉ ngơi khắp nơi, một nhân loại trẻ trung, xinh đẹp, minh triết và vui tươi, nom sao dễ chịu; toàn bộ trái tim Hans Castorp mở rộng ra, phải, rộng ra đến đau đớn, mà yêu thương trước cảnh tượng của họ.

Những chàng trai quần ngựa, một tay nắm dây dắt chạy bên nước kiệu hí vang, quăng đầu của chúng, lôi những con đang chồm bướng bằng dây cương dài, hoặc cưỡi không yên, lấy gót trần thúc vào hông ngựa mà lùa chúng xuống biển, trong khi những bắp cơ nơi lưng họ chuyển động dưới làn da nâu vàng trong nắng, còn những tiếng gọi họ trao nhau hoặc gọi lũ vật, vì một lẽ nào đó, nghe thật mê hoặc. Ở một vũng nước phản chiếu bờ bãi như hồ núi, ăn sâu vào trong đất liền, các thiếu nữ đang múa. Một cô, với búi tóc vén cao nơi gáy toát ra một vẻ duyên dáng đặc biệt, ngồi, chân đặt trong một hõm đất, thổi sáo mục đồng, mắt vượt qua những ngón tay đang bấm lỗ mà nhìn các bạn gái; những cô này, áo dài rộng, khi thì từng người một, mỉm cười dang tay, bước trong điệu múa, khi thì từng đôi, áp thái dương dịu dàng vào nhau mà dìu bước; trong khi sau tấm lưng người thổi sáo, trắng và dài và mảnh, lại cong mềm ở hai bên do thế đặt cánh tay, những chị em khác ngồi hoặc đứng ôm lấy nhau, vừa xem vừa trò chuyện điềm tĩnh. Xa hơn nữa, đám thanh niên tập bắn cung. Thật vui tươi và thân ái biết bao khi thấy những người lớn hơn chỉ bảo bọn tóc quăn còn vụng về cách giương dây, lên tên, cùng ngắm đích với họ, rồi cười mà đỡ những kẻ loạng choạng vì sức bật khi mũi tên vun vút bay đi. Những người khác câu cá. Họ nằm sấp trên những phiến đá ven bờ, một chân đong đưa, buông dây câu xuống biển, đầu thong thả ngoảnh sang trò chuyện với người bên cạnh, kẻ ngồi nghiêng, vươn người ra mà quăng mồi thật xa. Lại có những người khác đang ra sức, nào kéo, nào đẩy, nào chống mà đưa một chiếc thuyền mạn cao có cột buồm và sào buồm xuống biển. Trẻ con nô đùa, reo vang giữa các đê chắn sóng. Một người đàn bà trẻ nằm dài, ngoái nhìn ra sau, một tay kéo chiếc áo hoa lên giữa hai bầu ngực, còn tay kia khao khát với lên trong không trung một trái cây còn lá mà chàng trai eo thon đứng thẳng phía trên đầu nàng nghịch ngợm giơ tay giữ lại không cho tới. Người ta tựa trong những hốc đá, người ta ngần ngừ bên mép nước tắm, hai tay bắt chéo ôm lấy vai mình và dùng đầu ngón chân thử cái mát của nước. Từng đôi đi dọc bờ biển, và bên tai cô gái là miệng chàng trai thân mật dìu nàng đi. Những con dê lông dài nhảy từ phiến đá này sang phiến đá khác, dưới sự trông nom của một chàng chăn dê trẻ đứng nơi cao, một tay chống nạnh, tay kia tì lên cây gậy dài, chiếc mũ nhỏ vành sau lật ngược đội trên những lọn tóc nâu.

“Thật duyên dáng làm sao!” Hans Castorp nghĩ bằng cả tấm lòng. “Thật vui thích và lôi cuốn biết bao! Họ xinh đẹp, khỏe mạnh, sáng trí và hạnh phúc làm sao! Vâng, không chỉ là vóc dáng đẹp đẽ, mà còn thông minh và đáng yêu từ bên trong nữa. Chính điều ấy làm ta xúc động và gần như say mê hẳn: cái tinh thần và ý vị, có thể nói thế, nằm ở nền móng bản thể họ, cái trong đó họ cùng nhau sống và cùng nhau hiện hữu!” Chàng muốn nói đến lòng tử tế lớn lao và sự ý tứ lịch thiệp phân bố đồng đều trong cách những con người dưới nắng đối đãi với nhau: một sự kính trọng nhẹ nhàng, ẩn dưới nụ cười, mà họ gần như không ai nhận thấy, thế nhưng nhờ một mối ràng buộc tinh thần và một ý niệm đã ăn sâu chi phối rõ rệt tất cả, họ vẫn bày tỏ cùng nhau trên từng bước; thậm chí là một phẩm giá và một sự nghiêm khắc nữa, song hoàn toàn được hóa giải vào vẻ vui tươi, và chỉ như một ảnh hưởng tinh thần khôn tả của sự nghiêm túc không u ám, của một lòng mộ đạo sáng suốt, quy định việc làm cũng như điều không làm của họ, tuy cũng chẳng phải là hoàn toàn không có nghi lễ. Bởi trên một hòn đá tròn phủ rêu kia có một bà mẹ trẻ ngồi trong chiếc áo nâu trễ khỏi một bên vai, đang cho con bú. Và bất cứ ai đi ngang qua cũng chào nàng theo một cách riêng, trong đó dồn lại tất cả những gì vẫn kín đáo mà biểu cảm đến thế trong cung cách chung của con người: các chàng trai, bằng cách quay về phía người mẹ ấy, nhẹ, nhanh và theo đúng thể thức, bắt chéo hai tay trên ngực rồi mỉm cười cúi đầu; các cô gái thì bằng một động tác gợi không quá rành rọt một cái nhún gối, giống người đi lễ nhà thờ lúc bước qua bàn thờ lớn thì khẽ hạ mình xuống. Nhưng đồng thời họ lại gật đầu với nàng nhiều lần, linh hoạt, vui tươi và chân thành; và cái pha trộn giữa lòng sùng kính theo thể thức với tình bằng hữu hớn hở ấy, thêm vào đó là vẻ dịu hiền chậm rãi mà người mẹ ngước lên khỏi mụn con bé xíu của mình, đứa trẻ mà nàng dùng ngón trỏ ấn vào bầu ngực để giúp bú cho dễ, rồi mỉm cười cảm ơn những người đang tỏ lễ kính, tất cả đã thấm trọn Hans Castorp bằng niềm mê đắm. Chàng ngắm mãi không chán, mà vẫn bồn chồn tự hỏi liệu mình có được phép ngắm hay không, liệu việc lén dõi theo cái hạnh phúc đầy nắng và nề nếp ấy có khiến chàng, kẻ không thuộc về nơi đây, đang thấy mình hèn kém, xấu xí và thô kệch trong đôi ủng, mắc một điều đáng bị trừng phạt nặng nề nhất chăng.

Dường như điều ấy không có gì đáng ngại. Một cậu thiếu niên đẹp đẽ, mái tóc dày chải lệch phủ qua đầu, phía trước nhô trên trán rồi rủ xuống thái dương, đứng ngay dưới chỗ chàng ngồi, tách khỏi các bạn, hai tay khoanh trước ngực, không phải buồn bã hay bướng bỉnh, mà chỉ đơn giản là bình thản đứng riêng ra đó. Và cậu nhìn thấy chàng, ngước mắt lên phía chàng, đôi mắt đưa đi đưa lại giữa kẻ rình xem và những cảnh tượng trên bãi biển, như dò xét chính sự nghe lén của chàng. Nhưng đột nhiên cậu nhìn vượt qua chàng, nhìn ra phía sau chàng vào cõi xa, và tức khắc, trên gương mặt đẹp, những đường nét nghiêm chỉnh, nửa trẻ thơ ấy, biến mất nụ cười lịch thiệp đầy tình huynh đệ vốn là của chung mọi người; phải, không hề nhíu tối đôi mày, trên nét mặt cậu hiện lên một vẻ nghiêm nghị như bằng đá, vô biểu cảm, không thể dò biết, một sự khép kín của cái chết, khiến Hans Castorp, kẻ vừa mới dịu lại được đôi chút, bỗng tái người đi vì kinh hãi, không phải không kèm theo một linh cảm mơ hồ về ý nghĩa của nó.

Chàng cũng quay nhìn lại... Sau lưng chàng vươn lên những cột lớn, không có bệ, chồng bằng những khối trụ tròn mà rêu mọc trong các khe ghép: những cây cột của một cổng đền, trên phần nền bậc thềm mở ở giữa của cổng ấy chàng đang ngồi. Nặng lòng, chàng đứng dậy, đi xuống những bậc thềm bên hông và bước vào lối cổng sâu, xuyên qua đó, rồi tiếp tục theo một con đường lát gạch đưa chàng ngay tới trước một cổng tiền điện khác. Chàng cũng đi qua nó, và giờ đây ngôi đền hiện ra trước mắt: đồ sộ, trông phong hóa thành màu xám ngả xanh, với bệ bậc thang dựng dốc và mặt tiền rộng đặt trên những đầu cột của những cây cột khổng lồ, gần như đậm chắc, càng lên cao càng thu nhỏ, trong mối ghép của chúng đôi khi có một khối tròn có rãnh lõm bị xô lệch trồi sang bên. Khó nhọc, lại còn phải dùng cả tay và vừa trèo vừa thở dài, vì tim chàng mỗi lúc một như bị bó chặt hơn, Hans Castorp leo những bậc cao và vào tới khu rừng cột của đại sảnh. Nó rất sâu; chàng đi qua đó như giữa những thân cây của rừng dẻ gai bên biển nhợt, cố ý tránh phần chính giữa và tìm cách né sang bên. Nhưng rồi chàng lại lạc trở vào đó, và tại chỗ các hàng cột mở ra, chàng thấy mình đứng trước một nhóm tượng: hai hình nữ bằng đá trên cùng một bệ, dường như là mẹ và con gái; một người ngồi, lớn tuổi hơn, đường bệ hơn, thật dịu hiền và thần thánh, nhưng trên đôi mắt trống rỗng không sao ấy là đôi mày u uất, mặc áo tunic và áo choàng nhiều nếp, đường ngôi tóc lượn sóng kiểu mệnh phụ được phủ bằng một tấm voan; người kia đứng, được người nọ ôm bằng vòng tay mẹ hiền, gương mặt thiếu nữ tròn trịa, cánh tay và bàn tay cuộn trong những nếp áo khoác ngoài và giấu kín trong đó.

Ngắm pho tượng ấy, trái tim Hans Castorp, vì những lý do đen tối nào đó, lại càng nặng thêm, đầy lo âu và linh cảm hơn nữa. Chàng hầu như không dám, nhưng vẫn bị buộc phải đi vòng qua các hình tượng và bước hết khoảng không giữa hai hàng cột kép kế tiếp: ở đó cánh cửa kim loại của gian nội điện đang mở, và đầu gối kẻ khốn khổ muốn khuỵu xuống trước cảnh tượng chàng sững sờ nhìn thấy. Hai mụ đàn bà xám xịt, nửa trần truồng, tóc bù xù, cặp vú phù thủy thõng xuống với đầu vú dài như ngón tay, đang xoay xở trong đó giữa những lò than chập chờn một cách ghê rợn hết mức. Trên một cái chậu, chúng xé nát một đứa trẻ nhỏ, lặng lẽ man dại dùng tay mà xé nát nó, Hans Castorp thấy mái tóc vàng tơ lấm máu, rồi nuốt chửng từng mảnh, đến nỗi những chiếc xương bé giòn kêu răng rắc trong miệng chúng và máu ròng ròng từ cặp môi hung tợn. Một luồng băng giá kinh hoàng ghì chặt Hans Castorp như hóa phép. Chàng muốn lấy tay che mắt mà không thể. Chàng muốn trốn chạy mà không thể. Thì chúng đã trông thấy chàng ngay trong việc ghê tởm của mình, chúng lắc những nắm tay bê bết máu về phía chàng và rủa xả không thành tiếng, nhưng với tất cả sự hạ tiện cuối cùng, tục tằn, mà lại bằng chính thổ ngữ bình dân của quê hương Hans Castorp. Chàng buồn nôn, buồn nôn chưa từng thấy. Tuyệt vọng, chàng muốn giằng mình khỏi chỗ đứng ấy, và đúng như lúc chàng ngã xô nghiêng sang bên vào cây cột sau lưng, thì chàng thấy mình đã ở nơi cái chòi trong tuyết, nằm đè lên một cánh tay, đầu tựa vào đó, hai chân duỗi ra trước mặt cùng với đôi gậy trượt tuyết.

Tuy nhiên đó không phải một sự thức dậy đúng nghĩa và thực sự; chàng chỉ chớp mắt, nhẹ nhõm vì đã thoát khỏi hai mụ đàn bà ghê rợn, còn ngoài ra thì đối với chàng không mấy rõ, mà cũng chẳng mấy quan trọng, rằng mình đang nằm bên một cây cột đền hay bên một đống cỏ, và theo một nghĩa nào đó chàng vẫn tiếp tục mơ, không còn bằng hình ảnh nữa, mà bằng tư tưởng, song vì thế mà không bớt táo bạo và kỳ quái.

“Ta đã nghĩ ngay là cái đó do mơ mà ra,” chàng lảm nhảm trong lòng. “Một giấc mơ thật duyên dáng và kinh khủng. Suốt cả thời gian, kỳ thực ta vẫn biết điều đó, và mọi thứ đều do chính ta làm ra cho mình, công viên lá rợp và cái ẩm dịu đáng yêu ấy, rồi đến tất cả những gì về sau, cái đẹp cũng như cái ghê rợn, ta gần như biết trước. Nhưng làm sao người ta lại có thể biết ra những thứ như thế và tự tạo ra chúng cho mình, tự làm mình sung sướng đến thế và hoảng sợ đến thế? Ta lấy đâu ra vịnh đảo đẹp đẽ ấy, rồi khu đền miếu kia, nơi đôi mắt của người thiếu niên dễ mến đứng riêng một mình kia đã chỉ dẫn ta tới? Người ta không chỉ mơ bằng linh hồn riêng của mình, ta muốn nói vậy, người ta còn mơ vô danh và cùng nhau, dẫu theo cách riêng của từng người. Đại linh hồn mà ngươi chỉ là một mảnh nhỏ, hẳn đôi khi mơ qua ngươi, theo cách của ngươi, những điều mà nó thầm kín vẫn luôn mơ, về tuổi trẻ của nó, niềm hy vọng của nó, hạnh phúc và bình an của nó... và bữa tiệc máu của nó. Ta nằm đây bên cây cột của mình mà trong thân thể vẫn còn những tàn dư đích thực của giấc mơ, nỗi kinh hoàng lạnh giá trước bữa tiệc máu, và cả niềm vui trong tim từ trước đó nữa, niềm vui trước hạnh phúc và trước nề nếp mộ đạo của nhân loại trắng ngần. Điều ấy thuộc về ta, ta quả quyết thế, ta có quyền giấy trắng mực đen để nằm đây và mơ những điều như vậy. Ta đã học được nơi những người trên này biết bao điều về quá độ và lý tính. Ta đã cùng Naphta và Settembrini chết giữa núi non cực kỳ hiểm trở. Ta biết mọi sự về con người. Ta đã nhận ra thịt và máu của nó, ta đã trả lại cây bút chì của Pribislav Hippe cho Clawdia ốm đau. Nhưng ai nhận biết thân xác, sự sống, thì cũng nhận biết cái chết. Chỉ có điều đó chưa phải là toàn bộ, mà mới chỉ là một khởi đầu, nếu xét theo mặt giáo dưỡng. Người ta còn phải đặt nửa kia vào đó, cái đối lập của nó. Bởi mọi mối quan tâm tới cái chết và bệnh tật rốt cuộc chẳng qua chỉ là một dạng biểu hiện của mối quan tâm tới sự sống, như chính khoa y, một phân khoa nhân văn, đã chứng minh, khoa ấy lúc nào cũng lịch thiệp dùng tiếng Latin mà nói với sự sống và bệnh tật của nó, và chỉ là một bóng đổ của mối bận lòng lớn lao nhất và cấp bách nhất, mối bận lòng mà giờ đây ta, với toàn bộ sự cảm thông, gọi đúng tên nó ra: đó là đứa con khiến sự sống phải lo toan, đó là con người, là thân phận và quốc thể của nó... Ta không phải không am hiểu nó; ta đã học được nhiều nơi những người trên này, đã bị xô từ miền đồng bằng lên tận chốn cao, đến nỗi kẻ khốn khổ này suýt nữa không thở nổi; nhưng nay từ chân cột của mình, ta có một tầm trông cũng chẳng đến nỗi tệ... Ta đã mơ về thân phận của con người và cộng đồng kính cẩn, nhã nhặn, sáng suốt của nó, phía sau đó, trong đền, bữa tiệc máu ghê rợn diễn ra. Phải chăng những người mặt trời ấy đã lịch thiệp và đáng yêu với nhau đến thế, chính là trong ánh nhìn thầm lặng hướng về điều ghê rợn kia? Nếu vậy, đó sẽ là một kết luận thật tinh vi và thật lịch lãm mà họ rút ra! Trong tâm hồn mình, ta muốn đứng về phía họ chứ không về phía Naphta, mà nói cho cùng cũng không về phía Settembrini nốt, hai người ấy đều là hạng ba hoa. Một kẻ dâm dục và ác độc, còn kẻ kia thì lúc nào cũng chỉ thổi cái tù và lý tính, lại còn tưởng có thể làm cho cả phường cuồng dại tỉnh trí, thật lố bịch. Đó là thói trưởng giả hẹp hòi và thuần túy đạo đức, phi tôn giáo, điều ấy đã rõ ràng. Nhưng ta cũng không muốn theo phần của thằng Naphta bé con, theo tôn giáo của hắn, thứ chỉ là một _guazzabuglio_ giữa Thượng đế và ma quỷ, thiện và ác, vừa khéo để cá thể cắm đầu lao vào trong đó mà tiêu vong một cách huyền nhiệm vào cái toàn thể. Hai nhà giáo dục ấy! Cuộc tranh cãi và những đối lập của họ tự chúng cũng chỉ là một _guazzabuglio_, một tiếng huyên náo chiến trận rối beng, chẳng thể làm ù đầu ai được, miễn là người ấy chỉ cần hơi tự do một chút trong đầu và mộ đạo trong tim. Cái câu hỏi quý tộc của họ! Cái sự cao quý của họ! Chết hay sống, bệnh tật hay khỏe mạnh, tinh thần và tự nhiên. Phải chăng đó là những đối lập? Tôi hỏi: phải chăng đó là những câu hỏi? Không, đó không phải câu hỏi, và câu hỏi về sự cao quý của chúng cũng không phải. Cái quá độ của cái chết nằm trong sự sống, sự sống sẽ không còn là sự sống nếu thiếu điều đó, và ở chính giữa là thân phận của _homo Dei_ – ở giữa quá độ và lý tính – cũng như quốc thể của nó nằm giữa cộng đồng huyền nhiệm và thứ cá thể luận phù phiếm. Điều ấy ta nhìn thấy từ cây cột của mình. Trong thân phận ấy, con người phải đối đãi với chính mình một cách đẹp đẽ, lịch lãm, thân ái và kính cẩn, bởi chỉ mình nó là cao quý, chứ không phải các mặt đối lập. Con người là chúa tể của các mặt đối lập, chúng có là nhờ nó, và bởi vậy nó cao quý hơn chúng. Cao quý hơn cái chết, quá cao quý đối với cái chết, đó là sự tự do của đầu óc nó. Cao quý hơn sự sống, quá cao quý đối với sự sống, đó là lòng mộ đạo trong trái tim nó. Thế là ta vừa ghép được một vần, một bài thơ mộng mị về con người. Ta sẽ nhớ lấy. Ta sẽ sống cho tử tế. Ta sẽ không nhường cho cái chết quyền thống trị những ý nghĩ của ta! Vì ở đó, và không ở đâu khác, là lòng tốt và tình yêu con người. Cái chết là một sức mạnh lớn. Người ta tháo mũ xuống và nhón chân rón rén bước tới khi ở gần nó. Nó mang chiếc bâu xếp nếp uy nghi của cái đã qua, và người ta tự khoác lên mình màu đen nghiêm trang để tỏ lòng kính nó. Lý tính đứng trước nó thật ngớ ngẩn, vì lý tính chẳng là gì ngoài đức hạnh, còn nó thì là tự do, là quá độ, là vô dạng và là dục lạc. Dục lạc, giấc mơ của ta nói vậy, chứ không phải tình yêu. Cái chết và tình yêu, đó là một vần tồi, một vần lố bịch, một vần giả dối! Tình yêu đứng đối nghịch cái chết, chỉ mình nó, chứ không phải lý tính, mạnh hơn cái chết. Chỉ mình nó, chứ không phải lý tính, mới đem lại những ý nghĩ hiền lành. Cả hình thức nữa cũng chỉ từ tình yêu và lòng tốt mà ra: hình thức và nề nếp của cộng đồng thân ái-sáng suốt và của quốc thể đẹp đẽ của con người, trong ánh nhìn thầm lặng hướng về bữa tiệc máu. Ôi, giấc mơ đã mơ điều ấy thật rõ ràng và được dẫn dắt thật tốt! Ta sẽ nhớ lấy. Ta sẽ giữ lòng trung với cái chết trong tim, nhưng cũng sáng suốt nhớ rằng sự trung thành với cái chết và cái đã qua chỉ là ác độc, là dâm lạc tăm tối và lòng thù ghét con người, nếu nó chi phối tư tưởng và sự cai quản của chúng ta. _Con người, vì lòng tốt và tình yêu, không được nhường cho cái chết quyền thống trị những ý nghĩ của mình._ Và với điều ấy ta tỉnh dậy... Vì với điều ấy ta đã mơ xong, và thật sự mơ tới đích. Từ lâu lắm ta đã tìm lời ấy: ở nơi Hippe hiện ra với ta, trong lô-gia của ta và ở khắp mọi nơi. Chính cuộc tìm kiếm lời ấy cũng đã đẩy ta vào dãy núi tuyết. Bây giờ ta đã có nó. Giấc mơ của ta đã mách cho ta thật minh bạch để ta biết nó mãi mãi. Vâng, ta vui sướng vô cùng và được sưởi ấm hoàn toàn vì nó. Tim ta đập mạnh và biết vì sao nó đập. Nó không chỉ đập vì những lý do thân xác, không theo kiểu móng tay một xác chết vẫn còn dài ra; nó đập theo cách con người, và thật sự vì một tâm trạng hạnh phúc. Lời mơ của ta là một thứ rượu, tốt hơn rượu porto với bia mạch nha, nó chảy qua mạch máu ta như tình yêu và sự sống, đến nỗi ta giật mạnh mình ra khỏi giấc ngủ và giấc mơ, những thứ mà dĩ nhiên ta biết rất rõ là cực kỳ nguy hiểm cho đời trẻ của ta... Nào, nào! Mở mắt ra! Kia là chân tay ngươi, là hai chân kia trong tuyết! Co lại và đứng lên! Xem kìa, trời đẹp rồi!”

Thoát ra khỏi những trói buộc quấn siết và muốn ghì chàng xuống quả là nặng nhọc ghê gớm; nhưng lực thúc đẩy mà chàng đã biết tự tạo cho mình còn mạnh hơn. Hans Castorp chống người trên khuỷu tay, can đảm co gối lại, giật, chống và tự nâng mình lên như làm xiếc. Chàng dậm hai ván trượt xuống tuyết, vòng tay ôm lấy lồng ngực, lắc mạnh hai vai, đồng thời phóng những cái nhìn kích động và căng thẳng về phía nọ phía kia rồi ngước lên trời, nơi một màu lam nhợt lộ ra giữa những đám mây lam xám mỏng như voan, đang trôi nhè nhẹ và để lộ lưỡi liềm mảnh của mặt trăng. Chạng vạng nhẹ. Không bão, không tuyết rơi. Vách núi bên kia, với sống lưng sần sùi những cây linh sam, hiện lên đầy đặn và rõ ràng, nằm yên trong bình an. Bóng tối phủ tới nửa sườn; nửa trên được rọi một ánh hồng mịn màng đến vô cùng. Thế là chuyện gì đây, và thế giới đang ở vào tình thế nào? Đã là sáng chăng? Và chàng đã nằm suốt đêm trong tuyết mà không chết cóng, như sách vẫn nói, chăng? Không một chi thể nào đã tê chết, không cái nào vỡ kêu lanh canh trong lúc chàng dậm chân, lắc mình và đập tay vào người, những việc chàng không hề chậm trễ làm, trong khi đồng thời cố dùng trí óc dò cho ra tình cảnh. Tai, đầu ngón tay và ngón chân quả đều tê dại, nhưng cũng không hơn bao nhiêu so với biết bao lần chàng từng nằm trong lô-gia giữa những đêm mùa đông. Cuối cùng đào được chiếc đồng hồ ra. Nó vẫn chạy. Nó không đứng lại như thói thường mỗi khi buổi tối chàng quên lên dây. Nó còn chưa chỉ năm giờ, còn xa lắm. Còn thiếu mười hai, mười ba phút nữa mới tới. Lạ lùng thật! Có thể nào chàng chỉ nằm đây trong tuyết mười phút hoặc lâu hơn đôi chút, mà đã tự bịa đặt ra cho mình biết bao hình ảnh hạnh phúc và kinh hoàng cùng những ý nghĩ liều lĩnh như thế, trong khi cái quái tượng hình lục giác kia tan đi nhanh hệt lúc nó kéo đến? Nếu vậy thì, xét trên phương diện trở về nhà, chàng đã gặp một may mắn đáng kể. Bởi hai lần cơn mộng tưởng và sự hư cấu của chàng đã rẽ ngoặt đến nỗi chàng bật nhỏm dậy đầy sinh khí: một lần vì kinh hãi, và lần thứ hai vì vui sướng. Có vẻ như sự sống đã có ý tốt với đứa con lo âu lạc lối tận trên cao của nó...

Nhưng mặc cho sự thể ấy rốt cuộc ra sao, và mặc cho chung quanh chàng là buổi sáng hay buổi chiều đi nữa, thì trong mọi trường hợp cũng chẳng có gì nơi hoàn cảnh hay trong tình trạng riêng của chàng ngăn chàng chạy về nhà; và Hans Castorp đã làm đúng như thế, gần như rộng tay mà nói là theo đường chim bay, chàng lao xuống thung lũng, nơi khi chàng tới thì đèn đã sáng cả lên, mặc dầu trên đường đi những tàn dư của ánh ngày còn được tuyết giữ lại đã hoàn toàn đủ cho chàng. Chàng từ Brehmenbühl, ở rìa khu rừng Mattenwald, xuống tới và vào lúc năm giờ rưỡi đã có mặt ở “Dorf”, nơi chàng gửi dụng cụ thể thao tại nhà hàng tạp hóa, ghé nghỉ trong căn gác kho của ngài Settembrini và kể lại cho ông nghe lần này chính chàng cũng đã để cho bão tuyết bắt gặp như thế nào. Nhà nhân văn kinh hãi thực sự. Ông giơ tay lên đầu, ra sức mắng mỏ sự liều lĩnh nguy hiểm ấy, và lập tức nhóm chiếc máy cồn phì phò để pha cà phê cho người mệt lả, một thứ cà phê đậm đến thế mà rốt cuộc vẫn không ngăn được Hans Castorp thiếp ngủ ngay trên ghế tại nhà ông.

Bầu không khí văn minh đến mức cao độ của Berghof vuốt ve lấy chàng một giờ sau đó. Trong bữa tối, chàng ăn khỏe phi thường. Những gì chàng đã mơ bắt đầu nhạt đi. Còn những gì chàng đã nghĩ, ngay tối hôm ấy chàng đã không còn hiểu thật rõ nữa.

Làm lính và tử tế

Hans Castorp vẫn luôn nhận được những tin vắn từ người anh em họ của mình, lúc đầu là những tin tốt, tinh nghịch đầy hăng hái, rồi đến những tin bớt thuận lợi hơn, và cuối cùng là những tin lấy vẻ mờ nhạt mà tô đậy một điều thật buồn. Chuỗi bưu thiếp mở đầu bằng lời báo vui nhộn về ngày Joachim nhận nhiệm vụ và về nghi thức đầy nhiệt thành, trong đó, như Hans Castorp viết ở tấm bưu thiếp hồi âm, anh đã thề nghèo khó, trinh khiết và vâng phục. Rồi mọi sự tiếp diễn trong vui vẻ: những chặng đường của một sự nghiệp trơn tru, được ưu đãi, được san bằng bởi tình yêu nồng nhiệt đối với quân vụ và bởi thiện cảm của cấp trên, lần lượt được điểm ra bằng những lời chào hỏi và vẫy gọi. Vì Joachim đã học đại học mấy học kỳ, anh được miễn theo học trường quân sự và cũng được miễn qua thời kỳ phục vụ với cấp bậc thiếu sinh quân. Đến đầu năm mới, anh được thăng làm hạ sĩ quan và gửi một tấm ảnh chụp mình với quân hàm trên tay áo. Niềm hân hoan đối với tinh thần của một hệ thống tôn ti nghiêm khắc vì danh dự, được tổ chức bằng sắt thép mà vẫn bằng một lối hóm hỉnh nghiến răng nhượng bộ cái phần người, ánh lên trong từng bản tường trình vắn tắt của anh. Anh kể những giai thoại về cách cư xử vừa lãng mạn vừa rắc rối của viên Feldwebel của mình, một người lính cộc cằn như gấu và cuồng tín, đối với anh, kẻ thuộc cấp trẻ tuổi dễ sai lầm, nhưng trong đó ông ta lại nhìn thấy vị cấp trên đã được xức dầu của ngày mai, người thực tế đã lui tới cả câu lạc bộ sĩ quan. Mọi chuyện vừa khôi hài vừa dữ dội. Rồi người ta nhắc đến việc được phép dự kỳ thi sĩ quan. Đầu tháng Tư, Joachim đã là thiếu úy.

Rõ ràng không có ai hạnh phúc hơn, không có ai mà bản tính và ước vọng lại tan vào hình thức sống đặc biệt này một cách thuần khiết hơn thế. Với một thứ khoái cảm có phần thẹn thùng, anh kể lại lần đầu tiên mình đi ngang tòa thị chính trong vẻ oai phong trẻ trung ấy, rồi từ một khoảng cách vừa phải đã khẽ vẫy tay đáp lại người lính gác đang đứng nghiêm chào theo điều lệnh danh dự. Anh kể về những nỗi bực nhỏ và những niềm thỏa mãn của quân vụ, về tình đồng đội rực rỡ và ấm lòng, về lòng trung thành láu lỉnh của người hầu cận, về những sự cố buồn cười khi thao diễn và trong giờ huấn luyện, về các cuộc duyệt xét và những yến tiệc thân ái. Thỉnh thoảng cũng có nhắc đến chuyện giao tế, thăm viếng, tiệc tối, vũ hội. Còn sức khỏe của anh thì tuyệt nhiên không.

Ít nhất là cho tới gần mùa hè. Sau đó mới thấy nói rằng anh phải nằm giường, rằng tiếc thay anh đã phải báo bệnh: sốt catarrh, chuyện dăm ba ngày thôi. Đầu tháng Sáu anh lại đi làm nhiệm vụ, nhưng đến giữa tháng thì anh lại “gục”, cay đắng than thở về cái “đen đủi” của mình, và nỗi lo đã lộ hẳn ra rằng biết đâu vào cuộc đại diễn tập đầu tháng Tám, điều mà anh mong đợi bằng cả tấm lòng, anh lại không có mặt ở vị trí. Vớ vẩn, đến tháng Bảy anh hoàn toàn khỏe mạnh, trong nhiều tuần lễ, cho đến khi ở phía chân trời hiện ra một cuộc kiểm tra, cuộc kiểm tra đã trở nên cần thiết vì những dao động đáng nguyền rủa của nhiệt độ anh, và rất nhiều việc sẽ tùy thuộc vào kết quả ấy. Rồi Hans Castorp khá lâu chẳng nghe gì về kết quả cuộc kiểm tra đó, và khi cuối cùng có tin sang thì không phải Joachim viết cho chàng, hoặc vì anh không đủ sức viết, hoặc vì anh xấu hổ, mà là mẹ anh, bà Ziemßen, và bà điện tín. Bà báo rằng việc cho Joachim nghỉ phép trong vài tuần đã được bác sĩ xác định là tuyệt đối không thể tránh. Chỉ định lên núi cao, khuyên khởi hành ngay, xin dành hai phòng. Phí hồi âm đã trả. Ký tên: dì Luise.

Đó là vào cuối tháng Bảy, khi Hans Castorp trong lô-gia ban công của mình lướt qua bức điện ấy, rồi đọc, rồi đọc lại. Chàng khẽ gật đầu với nó, không chỉ bằng đầu mà bằng cả thân trên, và nghiến răng nói: “Szo, szo, szo! Szieh, szieh, szieh! Joachim lại trở về!” Niềm vui bỗng xuyên thấu chàng. Nhưng ngay sau đó chàng lại trầm xuống và nghĩ: “Hm, hm, tin tức hệ trọng đây. Cũng có thể gọi đó là một món quà thật đẹp mặt. Quỷ thật, nhanh quá đấy, đã chín muồi để về quê nhà rồi! Mẹ cậu ấy đi cùng...” (chàng nói “mẹ cậu ấy”, chứ không phải “dì Luise”; cảm thức của chàng về họ hàng, về các mối ràng buộc gia đình, không rõ từ bao giờ đã phai nhạt tới mức gần như xa lạ) “... điều ấy là nghiêm trọng. Lại đúng trước cuộc diễn tập mà tội nghiệp chưa gì đã nóng lòng đến thế! Hm, hm, trong đó có một phần không nhỏ sự ác độc, một thứ ác độc chế nhạo, đó là một sự kiện phản-duy-tâm. Thân xác khải hoàn, nó muốn điều khác với linh hồn và nó thắng thế, làm bẽ mặt những kẻ cao đàm vốn dạy rằng nó phải phục tùng linh hồn. Có vẻ họ chẳng biết mình nói gì, bởi nếu họ đúng thì, trong một trường hợp như thế này, điều ấy lại đổ một ánh sáng đáng ngờ lên chính linh hồn. Sapienti sat, tôi biết tôi muốn nói gì. Bởi câu hỏi mà chính tôi đặt ra là: đối lập chúng với nhau đến mức nào là sai lầm, và đến mức nào thì thật ra chúng cùng nằm chung một chăn, cùng diễn một ván bài đã dàn xếp từ trước, điều đó những kẻ cao đàm kia, may cho họ, không hề nghĩ tới. Joachim thân mến, ai lại muốn xâm phạm đến cậu và cơn nhiệt thành sặc mùi bia của cậu! Cậu thành thật đấy, nhưng thành thật là gì, tôi hỏi, nếu thân xác và linh hồn vốn cùng nằm chung một chăn? Lẽ nào cậu vẫn không quên được vài mùi hương sảng khoái, một bộ ngực cao và một tràng cười vô cớ đang đợi cậu ở bàn của nhà Stöhr?... Joachim lại trở về!” chàng nghĩ thêm lần nữa và co người lại vì vui sướng. “Cậu ấy trở về trong tình trạng hẳn là tồi tệ, nhưng chúng tôi sẽ lại thành hai người, tôi sẽ không còn phải sống trên này gần như hoàn toàn tự lo lấy nữa. Thế là tốt. Sẽ không phải mọi sự đều y hệt ngày trước; phòng của cậu ấy đã có người ở rồi: Mistreß Macdonald, kia kìa bà ta ho theo cái kiểu không thành tiếng của mình, và dĩ nhiên lại đặt cạnh bàn bức ảnh đứa con trai nhỏ, hoặc cũng có thể đang cầm nó trong tay. Nhưng đó là giai đoạn cuối, và nếu căn phòng ấy còn chưa được ghi trước cho ai, thì... Trước mắt chắc hẳn sẽ kiếm được một phòng khác. Theo tôi biết, phòng 28 đang trống. Tôi phải sang phòng quản trị ngay, và nhất là tới gặp Behrens. Thật là một tin tức, buồn ở một mặt và tuyệt vời ở mặt kia, nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng là một tin tức cực kỳ trọng đại! Tôi chỉ muốn chờ ông bạn tuôn lời như suối ấy, hẳn lát nữa sẽ tới, vì như tôi thấy thì đã ba giờ rưỡi. Tôi muốn hỏi ông ấy xem trong trường hợp này ông ấy còn giữ ý kiến rằng cái phần thể xác nên được xem là thứ yếu hay không...”

Ngay trước giờ trà chàng đã có mặt ở văn phòng quản trị. Căn phòng dự tính ấy, nằm cùng hành lang với phòng chàng, vẫn còn trống. Chỗ ở cho bà Ziemßen cũng sẽ thu xếp được. Chàng vội tới chỗ Behrens. Chàng gặp ông trong “phòng thí nghiệm”, một tay cầm xì gà, tay kia cầm một ống nghiệm đựng thứ gì đó màu sắc rất tệ.

“Thưa ngài Hofrat, ngài có biết không?” Hans Castorp bắt đầu...

“Biết chứ, rằng cái sự bực mình này không dứt ra được,” vị thầy mổ phổi đáp. “Đây là Rosenheim ở Utrecht,” ông nói và dùng điếu xì gà chỉ vào chiếc ống. “Gaffky mười. Rồi Fabrikdirektor Schmitz tới kêu gào phàn nàn rằng Rosenheim đã khạc nhổ trên đường dạo, với Gaffky mười. Và tôi phải quở trách hắn. Nhưng nếu tôi quở trách hắn, thì hắn sẽ phát cơn, vì hắn dễ kích động vô chừng và cùng gia đình chiếm tới ba phòng. Tôi không thể xua hắn đi được, nếu không tôi sẽ phải dây dưa với Tổng quản lý. Ngài thấy đó, người ta liên tiếp rơi vào những xung đột như thế mỗi phút mỗi giây, dù cho người ta chỉ thích lặng lẽ và tinh sạch mà đi con đường của mình đến đâu đi nữa.”

“Chuyện ngốc thật,” Hans Castorp nói với sự từng trải của một người thân cận và cư dân lão thành. “Tôi biết các vị ấy. Schmitz thì cực kỳ đúng mực và cầu tiến, còn Rosenheim thì khá buông tuồng. Nhưng rất có thể ngoài những chỗ cọ xát vệ sinh còn có những chỗ khác nữa, tôi tin thế. Schmitz và Rosenheim đều thân với Doña Perez từ Barcelona, ở bàn nhà Kleefeld, căn nguyên chắc hẳn là chuyện đó. Tôi xin đề nghị có lẽ nên nhắc lại lệnh cấm kia theo cách chung chung, còn ngoài ra thì nhắm mắt cho qua.”

“Dĩ nhiên là tôi nhắm mắt. Nhắm mắt mãi đến nỗi tôi sắp bị co quắp mi mắt rồi đây này. Thế còn ngài tới đây là để trình việc gì?”

Và Hans Castorp bèn trình ra tin tức buồn mà đồng thời cũng tuyệt vời của mình.

Không phải là vị Hofrat lấy làm ngạc nhiên. Trong bất cứ trường hợp nào ông cũng đã chẳng ngạc nhiên, nhưng ở đây lại càng không, vì Hans Castorp, dù được hỏi hay không, vẫn luôn cập nhật cho ông về tình hình của Joachim và ngay từ tháng Năm đã báo có chuyện phải nằm giường.

“Aha,” Behrens nói. “Thế đấy. Vậy thì tôi đã bảo ngài thế nào? Tôi đã chẳng nói nguyên văn với cậu ta và với ngài không phải mười lần mà một trăm lần rồi sao? Giờ thì thấy chưa. Suốt chín tháng trời cậu ta đã được toại nguyện và được hưởng thiên đường của mình. Nhưng một thiên đường chưa được giải độc hoàn toàn thì chẳng có phúc lành gì ở đó cả, kẻ đào ngũ ấy lại không chịu tin ông Behrens già này. Cứ phải tin ông Behrens già, nếu không thì thế nào cũng thiệt phần và tỉnh ngộ quá muộn. Giờ thì cậu ta quả đã lên được thiếu úy, phải, chẳng ai nói gì. Nhưng cậu ta được gì nào? Chúa nhìn vào trái tim, Ngài không xét cấp bậc sang hèn, trước mặt Ngài tất cả chúng ta đều đứng đó trong sự trần trụi của mình, bất kể tướng quân hay lính quèn...” Ông bắt đầu nóng lên, lấy bàn tay khổng lồ, giữa các ngón vẫn kẹp điếu xì gà, dụi mắt, rồi bảo lần này Hans Castorp đừng quấy rầy ông lâu hơn nữa. Một cái ổ cho Ziemßen hẳn là kiếm được thôi, và khi cậu ta đến thì người anh em họ phải lập tức tống cậu ta lên giường. Còn phần ông, Behrens, thì ông chẳng để bụng ai điều gì, ông vẫn dang rộng hai tay theo lối của người cha và sẵn sàng làm thịt một con bê cho kẻ bỏ trốn ấy.

Hans Castorp đánh điện. Chàng kể bên này bên nọ rằng người anh em họ của chàng sắp trở lại, và tất cả những ai quen Joachim đều vừa buồn vừa vui, mà cả hai đều thành thật, bởi cốt cách tươm tất và hiệp sĩ của Joachim đã giành được cảm tình chung, và trong không ít phán đoán cùng cảm nghĩ không nói ra, người ta đều ngả về phía cho rằng anh là người tử tế nhất trong tất cả những kẻ ở trên này. Chúng tôi không nhằm riêng vào cá nhân nào, nhưng vẫn tin có một sự thỏa mãn nhất định mà người này kẻ nọ cảm thấy trước việc Joachim buộc phải từ đẳng cấp quân nhân quay trở lại lối sống nằm ngang và, với vẻ tươm tất của mình, giờ đây sẽ lại là một người trong số chúng ta. Bà Stöhr, như ai cũng biết, lập tức đã nghĩ theo kiểu riêng của bà; bà thấy mình được xác nhận trong cái nước đôi thô tục mà bà đã dùng để tiễn Joachim xuống miền đồng bằng, và bà cũng không từ chối tự lấy đó làm đắc ý. “Thối, thối,” bà nói. Ngay tức khắc bà đã nhận ra vụ này là thối, và giờ chỉ còn hy vọng rằng Ziemßen với tính bướng bỉnh của mình đã không làm cho nó thối rữa hơn nữa. (“Thối rữa hơn nữa” là cách bà nói, bởi sự tầm thường vô lượng của bà.) Như thế thì rốt cuộc tốt hơn nhiều là cứ ở yên tại chỗ ngay từ đầu, như bà đây, tuy cũng có những mối lợi ích sinh tồn của mình ở miền đồng bằng, cụ thể là ở Cannstadt, một ông chồng và hai đứa con, nhưng vẫn biết tự chế ngự mình... Không còn một lời phúc đáp nào nữa từ Joachim hay bà Ziemßen. Hans Castorp không biết ngày giờ họ đến; bởi lẽ ấy, đã không có chuyện ra ga đón tiếp, mà ba ngày sau khi gửi bức điện của mình, họ đơn giản đã có mặt ở đó, và trung úy Joachim, cười một cách kích động, bước tới bên chiếc giường hành quân của người anh em họ.

Đó là sau khi liệu pháp nằm nghỉ chiều tối đã bắt đầu. Cũng chính chuyến tàu ấy đã đưa họ lên đây, chuyến tàu mà nhiều năm trước Hans Castorp đã tới trên này bằng nó, những năm tháng không ngắn cũng chẳng dài, mà là phi thời gian, hết sức dày đặc biến cố, vậy mà rốt cuộc lại thành số không và vô nghĩa; ngay cả mùa cũng vẫn thế, thậm chí đúng hệt: những ngày đầu tiên nhất của tháng Tám. Joachim, như đã nói, bước vào chỗ Hans Castorp, vui mừng, vâng, vào khoảnh khắc ấy thì rõ ràng là vui mừng đến kích động, hay đúng hơn, từ căn phòng mà chàng vừa sải bước băng qua thật nhanh, chàng bước ra ban-công, cười chào, thở gấp, nói khẽ và đứt quãng. Chàng đã lại trải qua chuyến đi dài, qua nhiều xứ, vượt mặt hồ rộng như biển, rồi theo những lối chen chúc mà lên cao, cao mãi, trở lại đây; và bây giờ chàng đứng đó, như thể chưa từng đi đâu cả, được người bà con đang từ tư thế nằm ngang nửa ngồi dậy đón bằng những tiếng chào ơi và những tiếng ồ kìa. Sắc mặt chàng hồng rạng, hoặc nhờ cuộc sống ngoài trời chàng đã sống, hoặc vì hơi nóng của cuộc hành trình. Không ghé vào phòng mình trước, chàng đã lao thẳng đến số 34 để chào người bạn đồng hành của những ngày cũ, nay lại trở thành hiện tại, trong khi mẹ chàng còn bận sửa soạn y phục. Mười phút nữa người ta sẽ ăn tối, dĩ nhiên là dưới nhà hàng. Hans Castorp hẳn vẫn còn có thể ăn thêm chút gì, hoặc ít ra uống một ngụm rượu vang. Và Joachim kéo chàng sang phòng số 28, nơi mọi sự diễn ra như xưa, vào buổi tối Hans mới tới, chỉ có điều theo chiều ngược lại: Joachim, vừa huyên thuyên như lên cơn sốt, vừa rửa tay ở chiếc chậu sáng loáng, còn Hans Castorp đứng nhìn, mà lấy làm kinh ngạc, và theo một nghĩa nào đó còn thất vọng nữa, khi thấy người anh em họ trong thường phục. Hóa ra sự nghiệp nhà binh chẳng hiện ra ở chàng chút nào cả. Chàng vẫn luôn hình dung Joachim như một sĩ quan, trong quân phục; vậy mà giờ đây chàng ta đứng đó trong một bộ đồ xám như bất cứ ai. Joachim cười, cho là Hans ngây thơ. Ồ không, quân phục chàng đã khéo để ở nhà rồi. Chuyện mặc quân phục, Hans Castorp hẳn phải biết, là có điều phải giữ ý; không phải quán xá nào người ta cũng lui tới trong quân phục. “À ra thế. Xin tuân lệnh,” Hans Castorp nói. Nhưng Joachim dường như hoàn toàn không thấy trong lời giải thích của mình có ý gì xúc phạm, mà trái lại, hỏi thăm về tất cả người và việc ở Berghof, không những không chút kiêu căng, mà với tất cả vẻ xao xuyến ân cần của kẻ trở về. Rồi Frau Ziemßen xuất hiện qua cánh cửa thông phòng, chào đứa cháu theo cái lối mà một số người vẫn chọn trong những dịp như vậy, nghĩa là như thể bà vui mừng ngạc nhiên được gặp chàng ở đây; có điều vẻ mệt mỏi và nỗi buồn lặng lẽ, rõ ràng là vì Joachim, đã phủ lên nét biểu lộ ấy một sắc thái u uất dịu xuống. Rồi họ đi xuống nhà.

Luise Ziemßen có đôi mắt đẹp, đen và hiền đúng như Joachim. Mái tóc của bà, cũng đen nhưng đã pha trắng khá nhiều, được giữ nếp và giữ dáng bằng một tấm lưới voan gần như vô hình; điều ấy cũng hợp với toàn bộ phong thái của bà, một phong thái điềm tĩnh, nhã nhặn mực thước và dịu dàng thu gọn, khiến bà, dù trí tính rõ rệt là giản dị, vẫn có được một vẻ đoan trang dễ mến. Điều đó thật rõ ràng, và Hans Castorp cũng chẳng lấy làm lạ, rằng bà không sao hiểu nổi cái vẻ vui nhộn của Joachim, nhịp thở gấp và lời nói dồn dập của chàng, những hiện tượng có lẽ trái hẳn với cung cách của chàng ở nhà và trên đường đi, và thật ra cũng trái với chính hoàn cảnh của chàng; thậm chí bà còn phần nào thấy chướng trước chúng. Đối với bà, cuộc trở về này là buồn bã, và bà tin rằng mình phải giữ đúng cái vẻ buồn bã ấy. Bà không thể nhập được vào tâm trạng của Joachim, cái tâm trạng náo động của kẻ hồi hương, vốn trong khoảnh khắc ấy, như men say, lấn át hết mọi điều đối nghịch, và hẳn còn được khích bốc thêm bởi việc lại hít thở bầu không khí trên này, cái bầu không khí nhẹ, hư vô, làm bốc nóng lên của chúng ta, không gì sánh nổi. “Tội nghiệp con tôi,” bà nghĩ; mà trong lúc ấy, bà lại thấy đứa con tội nghiệp kia cùng người anh em họ buông mình vào một niềm vui gần như phá phách, khơi lại trăm kỷ niệm, đặt ra trăm câu hỏi, rồi cười mà ngả người ra ghế khi nghe câu trả lời. Bà đã mấy lần nói: “Nhưng, các con!” Và điều bà rốt cuộc nói ra, vốn định là vui mừng, lại thành có pha ngỡ ngàng và một chút trách nhẹ: “Joachim, quả thật, đã lâu lắm mẹ không thấy con như thế này. Có vẻ như chúng ta phải lên tận đây thì con mới lại được như ngày con được thăng cấp.” Thế là, dĩ nhiên, sự vui nhộn của Joachim chấm dứt. Tâm trạng chàng đổi hẳn, chàng tỉnh lại, im lặng, không đụng đến món tráng miệng, mặc dầu đó là một món soufflé sô-cô-la với kem tươi ngon tuyệt vừa được dọn ra, còn Hans Castorp thì xử lý phần ấy thay cho chàng, tuy mới chỉ một giờ trôi qua kể từ khi chàng kết thúc bữa tối đồ sộ quá mức, và cuối cùng Joachim không ngẩng đầu lên nữa, rõ ràng vì nước mắt đã đầy trong mắt chàng.

Đó hẳn nhiên không phải là chủ ý của Frau Ziemßen. Thật ra, chỉ vì phép tắc mà bà muốn gợi ra một chút nghiêm trang điều độ, không biết rằng chính cái mức giữa chừng và ôn hòa ấy ở đây là thứ xa lạ với nơi chốn, và người ta chỉ có thể chọn giữa những cực đoan. Thấy con trai suy sụp đến thế, bản thân bà cũng tưởng như chẳng còn xa nước mắt, và biết ơn đứa cháu vì những cố gắng làm sống lại người đang buồn đến tê dại kia. Vâng, về mặt nhân sự, Hans Castorp nói, thì Joachim sẽ thấy lắm điều đã đổi thay và được thay mới, nhưng ngược lại cũng có những điều trong thời gian chàng vắng mặt đã lại tự khôi phục và trở về như trước. Chẳng hạn bà cô già cùng người đi kèm đã trở lại từ lâu. Các quý bà vẫn ngồi, như thường lệ, ở bàn của Stöhr. Marusja cười nhiều và cười rất thật lòng.

Joachim im lặng; trái lại, những lời ấy khiến Frau Ziemßen nhớ ra một cuộc gặp gỡ và những lời nhắn phải chuyển lại trước khi quên mất, cuộc gặp gỡ với một quý bà, không đến nỗi kém thiện cảm, tuy đi có một mình và có cặp lông mày hơi đều đặn quá, người đã bước tới bàn của bà và Joachim trong nhà hàng ở München, nơi họ đã lưu lại một ngày giữa hai chặng đi đêm, để chào Joachim. Một bạn đồng bệnh cũ, Joachim thử giúp mẹ nhớ xem...

“Frau Chauchat,” Joachim khe khẽ nói. Bà ấy hiện đang ở một dưỡng địa nào đó tại Allgäu và muốn sang Tây Ban Nha vào mùa thu. Đến mùa đông thì có lẽ bà ấy lại sẽ trở về đây. Bà ấy gửi lời thăm hỏi trân trọng.

Hans Castorp không còn là một cậu bé nữa; chàng làm chủ được những dây thần kinh mạch máu có thể khiến mặt chàng tái đi hay đỏ lên. Chàng nói:

“À, ra là bà ấy ư? Kìa, vậy là bà ấy lại ló ra từ sau dãy Caucasus rồi đấy. Và bà ấy muốn sang Tây Ban Nha à?”

Quý bà ấy có nêu tên một nơi nào đó ở dãy Pyrénées. “Một người đàn bà xinh, hay ít ra cũng có duyên. Giọng nói dễ chịu, cử chỉ dễ chịu. Nhưng lối xử sự thì tự do quá, xuề xòa,” Frau Ziemßen nói. “Cứ tự nhiên bước tới bắt chuyện với chúng tôi như bạn cũ, hỏi han rồi kể lể, mặc dầu như tôi nghe thì Joachim thật ra chưa từng chính thức quen biết bà ấy. Thật lạ lùng.”

“Đó là phương Đông và bệnh tật,” Hans Castorp đáp. Không thể lấy những thước đo của nề nếp nhân văn chủ nghĩa mà lại gần chuyện ấy; làm vậy là trật. Và giờ đây chàng nghĩ ngợi về việc Frau Chauchat định đi Tây Ban Nha. Hừm. Tây Ban Nha thì đằng khác cũng lệch khỏi cái trung độ nhân văn ấy xa chừng ấy, chỉ không phải về phía mềm, mà về phía cứng; đó không phải là vô hình thức, mà là quá hình thức, cái chết như hình thức, có thể nói thế, không phải sự tiêu giải trong cái chết, mà là sự nghiêm ngặt của cái chết, đen, cao sang và đẫm máu, Tòa Dị giáo, cổ áo hồ cứng, Loyola, Escorial... Thật thú vị, không biết Frau Chauchat sẽ thấy Tây Ban Nha ra sao. Thói đóng sầm cửa của bà ấy ở đó hẳn sẽ phải mất đi, và biết đâu một sự bù trừ nào đó giữa hai cực ngoài nhân văn lại có thể diễn ra mà hướng về cái người. Nhưng cũng có thể sinh ra một cái gì thật hiểm ác, thật khủng bố, nếu phương Đông đi sang Tây Ban Nha...”

Không, chàng đã không đỏ lên cũng không tái đi, nhưng ấn tượng mà những tin tức bất ngờ về Frau Chauchat gây nên nơi chàng đã bộc lộ ra thành những lời lẽ mà câu đáp lại, dĩ nhiên, chỉ có thể là một sự im lặng bối rối. Joachim ít hoảng hơn; chàng đã biết cái sắc sảo có phần quá gắt của người anh em họ trên này từ thuở trước. Nhưng trong mắt Frau Ziemßen hiện lên nỗi kinh hãi tột bậc; bà xử sự chẳng khác nào Hans Castorp vừa thốt ra những lời cực kỳ bất nhã, và sau một quãng ngừng ngượng ngập, bà khép lại bữa ăn bằng những câu nói khéo léo khỏa lấp. Trước khi chia tay, Hans Castorp truyền đạt chỉ thị của vị Hofrat rằng dù sao thì ngày mai Joachim cũng phải nằm yên trên giường cho tới khi ông khám xong. Còn lại rồi sẽ tính. Thế rồi chẳng bao lâu ba người bà con đều nằm trong những căn phòng mở toang của mình, giữa làn tươi mát của đêm hè miền núi cao, mỗi người với những ý nghĩ riêng; Hans Castorp thì chủ yếu nghĩ đến sự trở lại của Frau Chauchat, điều có thể chờ đợi trong vòng nửa năm tới.

Và thế là chàng Joachim tội nghiệp lại đã hành quân trở về quê nhà này để thực hiện một đợt hậu dưỡng nho nhỏ mà nay đã thành điều nên làm. Cụm từ “đợt hậu dưỡng nho nhỏ” rõ ràng là khẩu hiệu đã được tung ra ở miền đồng bằng, và trên này người ta cũng chấp nhận nó. Chính Hofrat Behrens cũng nhận lấy cách nói ấy, mặc dầu riêng chuyện ông bắt Joachim nằm giường suốt bốn tuần trước hết đã là đủ: như thế là cần thiết để sửa chữa những hỏng hóc nặng nhất, để tái thích nghi và tạm thời điều chỉnh đôi chút chế độ nhiệt của chàng. Còn để bị buộc phải ấn định trước một thời hạn cho đợt hậu dưỡng ấy thì ông biết cách tránh. Frau Ziemßen, người có đầu óc, biết điều, tuyệt không lạc quan theo máu nóng, khi ở xa giường Joachim, đã đề nghị mùa thu, vào khoảng tháng Mười, làm thời điểm xuất viện, và Behrens tán thành bà ở chỗ tuyên bố rằng đến thời gian ấy đằng nào người ta cũng sẽ tiến xa hơn hiện tại. Ngoài ra, bà rất thích ông. Ông đầy vẻ hiệp sĩ, nói “thưa bà phu nhân khả kính”, trong khi nhìn bà bằng đôi mắt lồi vằn máu với một sự trung hậu nam tử, và lại ăn nói toàn những thành ngữ kiểu sinh viên đoàn thể đến mức, giữa nỗi buồn, bà vẫn phải bật cười. “Tôi biết nó ở trong những bàn tay tốt nhất,” bà nói, và tám ngày sau khi đến nơi thì quay về Hamburg, vì nói nghiêm chỉnh ra chẳng hề có nhu cầu săn sóc nào, mà Joachim lại còn có bà con bầu bạn nữa.

“Vậy thì cứ mừng đi: mùa thu,” Hans Castorp nói, mỗi khi ngồi bên giường người anh em họ trong phòng số 28. “Lão già rốt cuộc cũng đã tự buộc mình đôi chút; cậu có thể vin vào đó mà trông cậy. Tháng Mười, đại khái là vào lúc ấy. Khi ấy có những người đi Tây Ban Nha, còn cậu cũng trở về với _bandera_ của cậu để lập công quá mức...”

Công việc hằng ngày của chàng là an ủi Joachim, nhất là về chuyện chàng này phải ở trên này mà lỡ mất cuộc diễn tập chiến tranh lớn bắt đầu vào những ngày tháng Tám ấy, bởi đó là điều chàng không sao nguôi được, và chàng bộc lộ thẳng thừng lòng khinh bỉ chính mình vì cái bạc nhược trời đánh mà vào phút chót chàng đã chịu thua.

“_Rebellio carnis_,” Hans Castorp nói. “Biết làm sao được? Đến viên sĩ quan can đảm nhất cũng chẳng làm gì nổi chuyện ấy, và ngay cả thánh Antonius cũng có cả một khúc hát về nó. Thôi thì nhân danh Chúa, thao diễn năm nào mà chẳng có, với lại cậu còn lạ gì thời gian ở đây nữa! Nó có phải là thời gian đâu; cậu chưa xa nó đủ lâu để không thể rất dễ dàng trở lại nhịp ấy, và chưa kịp trở tay thì đợt hậu dưỡng nho nhỏ của cậu đã xong rồi.”

Dù sao, sự làm mới cảm thức thời gian mà Joachim đã trải qua trong đời sống miền đồng bằng cũng quá đáng kể khiến chàng không thể không sợ bốn tuần lễ ấy. Tuy nhiên, người ta đã giúp chàng rất nhiều để vượt qua chúng; lòng cảm tình mà thiên hạ nhìn chung dành cho bản tính gọn ghẽ của chàng biểu lộ qua những cuộc thăm hỏi từ gần đến xa: Settembrini đến, tỏ vẻ cảm thông và duyên dáng, và vì từ trước ông vẫn gọi Joachim là “Trung úy”, nay ông xưng hô với chàng là “_Capitano_”; Naphta cũng ghé qua, và từ chính trong nhà, dần dà những người quen cũ cũng tới thăm, tranh thủ một khắc rảnh việc để ngồi bên giường chàng, nhắc lại câu nói về đợt hậu dưỡng nho nhỏ và nghe chàng kể các số phận của mình: các bà Stöhr, Levi, Iltis và Kleefeld, các ông Ferge, Wehsal và nhiều người khác nữa. Vài người thậm chí còn mang hoa cho chàng. Khi bốn tuần qua đi, chàng đứng dậy, vì cơn sốt đã dịu đến mức có thể đi lại được, và ngồi vào phòng ăn cạnh người anh em họ, giữa chàng ta và vợ ông chủ hãng bia là Frau Magnus, đối diện Herr Magnus, ở chỗ góc mà trước kia cậu James và trong mấy ngày cả Frau Ziemßen cũng đã từng ngồi.

Thế là hai người trẻ lại sống kề bên nhau như trước; hơn nữa, để bức tranh cũ còn được phục hiện đầy đủ hơn nữa, thì do Mistreß Macdonald, tay cầm bức ảnh đứa con trai mình, đã trút tiếng thở dài cuối cùng, căn phòng vốn thuộc về Joachim, nằm cạnh phòng Hans Castorp, cũng lại về tay chàng, dĩ nhiên sau khi được khử trùng kỹ lưỡng bằng H₂CO. Thật ra, nói cho đúng và theo cảm nhận, thì giờ đây sự thể là Joachim sống bên cạnh Hans Castorp chứ không còn ngược lại nữa: lúc này chính Hans Castorp mới là người cư ngụ lâu năm, có hình thức tồn tại mà người kia chia sẻ trong một thời gian ngắn, như một khách viếng. Bởi Joachim gắng gỏi một cách cứng cỏi và kiên quyết giữ mốc tháng Mười trước mắt, mặc dầu vài điểm nào đó trong hệ thần kinh trung ương của chàng không chịu tuân theo chuẩn mực ứng xử nhân văn chủ nghĩa và ngăn cản sự tỏa nhiệt bù trừ của làn da chàng.

Họ cũng lại tiếp tục những cuộc thăm viếng Settembrini và Naphta, cũng như những buổi dạo bước với đôi người vừa gắn bó vừa đối địch ấy; và nếu A. K. Ferge cùng Ferdinand Wehsal nhập bọn, điều này xảy ra khá thường, thì họ là sáu người, còn hai kẻ đối thủ về tinh thần kia cứ tiến hành những cuộc tỷ đấu bất tận của mình; mà nếu muốn tường thuật chúng với bất kỳ tham vọng đầy đủ nào, hẳn chúng ta cũng sẽ lạc vào cái vô cùng tuyệt vọng chẳng kém gì chính họ ngày ngày đã lạc vào, trước một cử tọa đông đảo, cho dẫu Hans Castorp vẫn muốn coi linh hồn tội nghiệp của chàng là đối tượng chính của cuộc tranh thắng biện chứng ấy. Chính từ Naphta mà chàng được biết Settembrini là người Tam điểm, điều đã gây nơi chàng một ấn tượng không kém gì khi người Ý kia từng tiết lộ cho chàng về gốc gác Dòng Tên và sự đỡ đầu của Dòng Tên đối với Naphta. Một lần nữa chàng lại ngạc nhiên đến mức gần như hoang đường khi nghe rằng những thứ như thế quả thật vẫn còn tồn tại, và chàng đã cật vấn kẻ khủng bố kia rất kỹ về nguồn gốc và bản chất của cái thiết chế kỳ quặc ấy, vốn chỉ vài năm nữa là có thể mừng sinh nhật hai trăm năm của mình. Trong khi Settembrini, sau lưng Naphta, vẫn nói về bản tính tinh thần của ông này bằng giọng cảnh báo đầy thống thiết, như thể nói về một điều gì ma quỷ, thì Naphta, sau lưng người kia, lại chế nhạo không chút khó nhọc cái lĩnh vực mà đối phương đại diện, bằng cách cho hiểu rằng đó là một cái gì hết sức lỗi thời và lạc hậu: thứ khai sáng tư sản và một lối tự do tư tưởng của ngày hôm kia, rốt cuộc chẳng là gì ngoài trò ma quái tinh thần tầm thường, thế mà lại tự ru mình bằng ảo tưởng kỳ quặc rằng mình vẫn còn tràn đầy sinh lực cách mạng. Ông nói: "Biết làm sao được, ngay ông nội ông ta đã là một Carbonaro, nói theo tiếng Đức tức là một tay đốt than. Từ ông nội, ông ta thừa hưởng cái đức tin của kẻ đốt than vào lý tính, tự do, tiến bộ của nhân loại và cả cái hòm mối mọt của ý hệ đức hạnh cổ điển-tư sản ấy nữa... Ông thấy đấy, điều làm thế giới rối loạn là sự bất tương xứng giữa tốc độ của tinh thần với sự vụng về, chậm chạp, quán tính ì ạch và sức ì khủng khiếp của vật chất. Phải nhận rằng chỉ riêng sự bất tương xứng ấy cũng đủ biện hộ cho mọi sự dửng dưng của tinh thần đối với cái hiện thực, bởi lẽ thông thường thì những men giống gây nên các cuộc cách mạng của hiện thực từ lâu đã làm nó phát ngấy rồi. Quả thực, đối với tinh thần sống, tinh thần chết còn ghê tởm hơn bất cứ thứ đá bazan nào, bởi ít ra những thứ ấy không hề tự xưng là tinh thần và đời sống. Những thứ bazan như thế, tàn tích của những thực tại xưa cũ mà tinh thần đã bỏ lại xa đến mức từ chối gắn cho chúng ngay cả khái niệm hiện thực, vẫn ì ạch kéo dài, và nhờ sự tồn tại thô lậu, chết cứng của mình mà đáng ghét thay, lại giữ cho cái lố bịch khỏi nhận ra sự lố bịch của chính nó. Tôi nói chung thôi, nhưng hẳn ông sẽ biết tự rút ra phần áp dụng cho cái tinh thần tự do nhân đạo kia, vốn tin rằng mình vẫn còn đang ở trong tư thế anh hùng chống lại quyền lực và uy quyền. Chao ôi, rồi lại còn những tai biến nhờ đó nó muốn tự chứng minh sức sống của mình, những chiến thắng muộn màng và ngoạn mục mà nó chuẩn bị và mơ tưởng một ngày kia sẽ ăn mừng! Chỉ nghĩ đến thôi, tinh thần sống đã có thể buồn chán đến chết, nếu nó không biết rằng rốt cuộc thì chỉ chính nó mới là kẻ từ những tai biến như thế bước ra như người chiến thắng và kẻ hưởng lợi, chính nó, kẻ hòa nung trong mình những yếu tố của cái cũ với cái tương lai nhất để thành cuộc cách mạng chân chính... Anh họ ông dạo này ra sao, Hans Castorp? Ông biết tôi có nhiều thiện cảm với cậu ấy."

"Xin cảm ơn, thưa ông Naphta. Với cậu ấy thì chắc ai cũng dành thiện cảm chân thành thôi, một chàng trai tốt lành, như ai nấy đều thấy rõ. Cả ông Settembrini hẳn cũng quý cậu ấy thực tình, dù dĩ nhiên phải bất bình với một thứ khủng bố đầy say mê vốn nằm ngay trong thân phận của Joachim. Thế mà giờ tôi lại nghe ông ấy là huynh đệ cùng hội Tam điểm. Khá thật. Điều ấy khiến tôi phải suy nghĩ, tôi xin nói thế. Nó đặt con người ông ấy dưới một thứ ánh sáng mới trước mắt tôi và làm sáng tỏ cho tôi không ít điều. Liệu thỉnh thoảng ông ấy cũng đứng hai chân thành góc vuông và làm cho cái bắt tay của mình mang một tính chất đặc biệt chăng? Tôi chưa từng nhận ra gì cả..."

"Những trò trẻ con như thế," Naphta nhận xét, "thì vị huynh đệ Ba Chấm đáng mến của chúng ta hẳn đã vượt qua rồi. Tôi cho rằng nghi thức hội Tam điểm đã phải chịu một sự thích nghi khá còm cõi với tinh thần công dân tỉnh táo của thời đại. Hẳn ngày nay người ta sẽ xấu hổ về nghi lễ thuở trước như về một thứ trò phù phép bất lịch sự, mà cũng không phải là không có lý, bởi khoác chủ nghĩa cộng hòa vô thần trong áo nhiệm nghi thì rốt cuộc quả thật là điều phi lý. Tôi không biết người ta đã dùng những nỗi kinh hoàng nào để thử thách lòng kiên định của ông Settembrini, liệu có bịt mắt dẫn ông qua đủ mọi lối hành lang và để ông chờ trong những hầm tối, trước khi đại sảnh của hội, chan chứa thứ ánh sáng dội gương, mở ra trước mắt ông hay không. Liệu người ta có nghiêm trang hỏi giáo lý ông, và trước một chiếc đầu lâu, dưới ba ngọn đèn, lấy gươm đe dọa lồng ngực trần của ông hay không. Ông phải tự hỏi chính ông ấy, nhưng tôi e ông sẽ thấy ông ấy rất ít lời, vì dù mọi sự có diễn ra theo lối công dân hơn nhiều đi nữa, thì trong mọi trường hợp ông ấy vẫn đã phải thề giữ kín."

"Thề ư? Giữ kín ư? Thế tức là quả có thật?"

"Dĩ nhiên. Giữ kín và vâng phục."

"Lại còn cả vâng phục nữa. Nghe này, thưa giáo sư, giờ thì tôi thấy hình như ông ấy chẳng có lý do gì để cứ bám lấy cái tính cuồng nhiệt và khủng bố trong thân phận anh họ tôi. Giữ kín và vâng phục! Tôi không bao giờ ngờ một người phóng khoáng như Settembrini lại có thể phục tùng những điều kiện và lời thề rặt kiểu Tây Ban Nha như thế. Tôi gần như cảm thấy trong Tam điểm có cái gì vừa quân sự vừa Dòng Tên..."

"Anh cảm thấy rất đúng," Naphta đáp. "Cây dò mạch của anh rung lên và gõ đúng chỗ. Bản thân ý niệm về hội kết vốn bất khả phân ly, và ngay từ gốc rễ đã gắn với ý niệm về cái tuyệt đối. Hệ quả là nó mang tính khủng bố, nghĩa là: phản tự do. Nó giải tỏa lương tri cá nhân và nhân danh mục đích tuyệt đối mà thánh hóa mọi phương tiện, kể cả phương tiện đẫm máu, kể cả tội ác. Có dấu hiệu cho thấy xưa kia, ngay trong các hội Tam điểm, tình huynh đệ cũng từng được niêm bằng máu một cách tượng trưng. Một hội kết không bao giờ là cái gì có tính nhàn lãm, mà bao giờ cũng, và theo bản chất của nó, là một cái gì mang tính tổ chức trong tinh thần tuyệt đối. Anh không biết rằng người sáng lập Hội Illuminati, hội từng có một thời gần như hòa lẫn với Tam điểm, vốn là một cựu thành viên của Dòng Tên sao?"

"Không, điều đó dĩ nhiên là mới toanh đối với tôi."

"Adam Weishaupt đã tổ chức hội kín nhân đạo của mình hoàn toàn theo khuôn mẫu Dòng Tên. Chính ông ta là người Tam điểm, và những nhân vật Tam điểm danh tiếng nhất thời ấy đều là Illuminati. Tôi nói đến nửa sau thế kỷ mười tám, thời kỳ mà Settembrini sẽ không chần chừ gọi là thời kỳ sa đọa của phường hội ông ta. Kỳ thực đó lại là thời cực thịnh của nó, cũng như của toàn bộ đời sống hội kín nói chung, là thời Tam điểm thực sự giành được một đời sống cao hơn, một đời sống mà về sau nó lại bị những người thuộc hạng nhà nhân loại chí hữu của chúng ta đây tẩy sạch mất, mà vào thời ấy hẳn chắc chắn sẽ thuộc về số người lấy Dòng Tên tính và chủ nghĩa ngu dân mà trách cứ nó."

"Và như thế là có lý do sao?"

"Có chứ, nếu anh muốn. Thứ tự do tư tưởng tầm thường có lý do của nó. Đó là thời các bậc tiền bối của chúng tôi tìm cách làm cho hội kết ấy tràn đầy đời sống Công giáo phẩm trật, và khi tại Clermont ở Pháp một chi hội Tam điểm Dòng Tên hưng thịnh. Đó cũng là thời phái Hoa Hồng Thập Tự thâm nhập vào các hội quán, một hội huynh đệ rất kỳ lạ, mà anh có thể ghi nhớ rằng nó kết hợp những mục tiêu cải tạo và làm cho hạnh phúc thuần lý tính về chính trị-xã hội với những mối liên hệ đặc thù tới tri thức bí mật phương Đông, tới minh triết Ấn Độ và Ả Rập cùng nhận thức ma thuật về tự nhiên. Bấy giờ đã diễn ra cuộc cải cách và chấn chỉnh của nhiều hội Tam điểm theo tinh thần Tuân phục Nghiêm ngặt, một tinh thần rõ rệt phi lý tính và bí nhiệm, ma thuật-luyện kim, mà các thượng cấp kiểu Scotland của Tam điểm mang ơn sự tồn tại của mình, những cấp bậc hiệp sĩ dòng hội được thêm vào trật tự cấp bậc quân sự cổ gồm học việc, bạn nghề và bậc thầy, những cấp Đại sư phụ dẫn vào giới tư tế và tràn đầy tri thức bí mật Hoa Hồng Thập Tự. Ở đây là sự quay trở lại với một số dòng hiệp sĩ tu trì của thời Trung cổ, đặc biệt là các hiệp sĩ Đền, anh biết đấy, những người đã thề trước Thượng phụ Jerusalem lời khấn nghèo khó, trinh khiết và vâng phục. Cho đến hôm nay, một thượng cấp trong phẩm trật Tam điểm vẫn còn mang danh hiệu "Đại vương công Jerusalem"."

"Mới đối với tôi, mọi sự đều hoàn toàn mới, thưa ông Naphta. Tôi đang lần ra đầu mối của ông Settembrini chúng ta đây... "Đại vương công Jerusalem" nghe không tệ chút nào. Dịp nào đó ông cũng nên gọi đùa ông ấy như thế mới được. Về phần mình, dạo nọ ông ấy đã đặt cho ông biệt hiệu "Doctor angelicus". Cái đó đòi phải trả đũa."

"Ồ, còn khối danh hiệu trang trọng tương tự cho các thượng cấp và cấp Đền của Tuân phục Nghiêm ngặt nữa kia. Chúng ta có một Bậc Thầy Hoàn hảo, một Hiệp sĩ Phương Đông, một Đại Thượng tế, và cấp thứ ba mươi mốt thậm chí còn mang tên "Vị vương công cao cả của bí mật vương giả". Anh nhận thấy rằng mọi tên gọi ấy đều chỉ về những mối liên hệ với huyền học phương Đông. Sự tái xuất hiện của chính hiệp sĩ Đền rốt cuộc chẳng có nghĩa gì khác hơn là việc tiếp nhận những mối liên hệ như thế, nói thật ra là sự đột nhập của men giống phi lý tính vào một thế giới ý niệm chuyên lo cải tạo xã hội sao cho hợp lý và hữu ích. Nhờ đó Tam điểm giành được một sức quyến rũ và hào quang mới, giải thích sự đổ xô mà nó được hưởng hồi ấy. Nó hút về phía mình mọi thành phần đã mệt mỏi vì cái tính duy lý vụn vặt của thế kỷ, vì cái sự sáng suốt nhân đạo nhạt nhẽo của nó, và khát khao những thứ rượu đời mạnh hơn. Thành công của dòng hội lớn đến nỗi bọn trưởng giả phàn nàn rằng nó làm đàn ông xa lạ với hạnh phúc gia đình và phẩm giá phụ nữ."

"Thế thì, thưa giáo sư, phải hiểu được là ông Settembrini không thích nhớ tới thời cực thịnh ấy của dòng hội mình."

"Đúng, ông ấy không thích nhớ rằng đã từng có những thời hội của ông ấy tự thu lấy toàn bộ sự ác cảm mà tự do tư tưởng, vô thần luận, lý trí bách khoa thường hướng về cái phức hợp gồm Giáo hội, Công giáo, thầy tu, Trung cổ. Anh vừa nghe rằng người ta từng buộc Tam điểm tội ngu dân..."

"Tại sao? Tôi muốn nghe rõ hơn, vì cớ nào lại thế."

"Tôi sẽ nói cho anh. Tuân phục Nghiêm ngặt đồng nghĩa với sự đào sâu và mở rộng truyền thống của dòng hội, với việc dời ngược nguồn gốc lịch sử của nó vào thế giới huyền nhiệm, vào cái gọi là bóng tối Trung cổ. Những cấp Đại sư phụ của các hội quán là những người được điểm đạo vào _physica mystica_, những kẻ mang tri thức tự nhiên ma thuật, mà chủ yếu là những đại luyện kim gia..."

"Bây giờ thì tôi phải cố hết sức nhớ lại xem, nói đại thể, thuật luyện kim rốt cuộc là chuyện gì. Luyện kim, tức là làm vàng, hòn đá hiền triết, _Aurum potabile_..."

"Vâng, nói theo lối phổ thông là thế. Nói học giả hơn một chút thì đó là sự thanh luyện, sự biến đổi vật chất và sự tinh luyện vật chất, sự transsubstantiation, mà lại là theo hướng cao hơn, tức là sự nâng cấp; _lapis philosophorum_, sản phẩm nam-nữ từ Sulfur và Merkur, _res bina_, _prima materia_ lưỡng tính, chẳng qua không gì khác, mà cũng chẳng gì kém hơn, là nguyên lý của sự nâng cấp, của sự thúc vật chất lên cao bằng những tác động từ bên ngoài, nếu anh muốn thì gọi là một nền sư phạm ma thuật."

Hans Castorp im lặng. Chàng ngước xéo lên trên, mắt chớp chớp.

"Một biểu tượng của sự transmutation luyện kim," Naphta nói tiếp, "trước hết là hầm mộ."

"Ngôi mộ ư?"

"Vâng, nơi mục rữa. Nó là tinh nghĩa của mọi lẽ kín niêm, chẳng là gì khác ngoài chiếc bình, chiếc bình pha lê chưng cất được niêm giữ cẩn mật, trong đó vật chất bị ép buộc tiến tới cuộc biến đổi và thanh luyện cuối cùng của nó."

"Ông nói "kín niêm" thật khéo, thưa ông Naphta. "Kín niêm" - tôi vẫn luôn thích từ ấy. Nó là một từ phép thuật đích thực, với những liên tưởng mơ hồ mà rộng rãi. Xin lỗi ông, nhưng mỗi khi nghe nó tôi lại cứ nghĩ đến những lọ Weck mà bà quản gia nhà tôi ở Hamburg - tên bà ấy là Schalleen, không bà không cô gì cả, cứ đơn giản là Schalleen - xếp thành hàng trên các kệ trong phòng đựng thức ăn. Những lọ niêm kín, trong đó có trái cây, có thịt và đủ thứ khác. Chúng đứng đó năm này qua năm khác; và khi cần mở một lọ ra, thì bên trong vẫn hoàn toàn tươi nguyên, không hề suy suyển, năm tháng chẳng làm gì nổi nó cả, người ta có thể dùng ngay đúng như nó vốn thế. Dĩ nhiên điều này không phải là luyện kim hay thanh luyện, mà chỉ là bảo tồn, bởi vậy mới có tên là đồ bảo quản. Nhưng cái kỳ ảo ở đây là: thức ngâm đã bị rút ra khỏi thời gian; nó bị niêm kín đối với thời gian, thời gian lướt qua nó, nó không có thời gian, mà đứng ngoài thời gian ấy trên cái kệ của nó. Thôi, chừng ấy về những lọ Weck. Cũng chẳng ra được bao nhiêu từ đó. Xin lỗi. Hình như ông còn định khai sáng cho tôi thêm nữa."

"Chỉ nếu anh muốn thế. Người học việc phải hiếu tri và không biết sợ, nếu nói theo đúng phong cách đề tài của chúng ta. Hầm mộ, ngôi mộ, từ bao giờ cũng là biểu tượng chính yếu của sự thụ hiến vào hội. Người học việc, gã non nớt khao khát được bước vào cõi tri thức, phải chứng tỏ lòng gan dạ của mình giữa những rùng rợn của nó; tục lệ của dòng hội đòi hỏi hắn được dẫn thử xuống đó, rồi phải lưu lại trong ấy, để sau đó nhờ một bàn tay huynh đệ vô danh mà đi ra khỏi đó. Bởi thế mới có những lối đi rối rắm và những hầm tối mà người tân nhập môn phải đi qua, tấm vải đen dùng phủ cả đại sảnh của Tuân phục Nghiêm ngặt, sự sùng bái quan tài, thứ giữ một vai trò quan trọng đến vậy trong nghi lễ điểm đạo và tụ hội. Con đường của huyền nhiệm và thanh luyện bị vây bủa bởi hiểm nguy, nó đi qua nỗi kinh hoàng trước cái chết, qua cõi mục rữa, và người học việc, người tân nhập môn, chính là tuổi trẻ ham hố những kỳ tích của đời sống, khao khát được đánh thức tới năng lực trải nghiệm mang tính quỷ mị, được dẫn dắt bởi những kẻ trùm mặt vốn chỉ là bóng dáng của bí mật mà thôi."

"Xin đa tạ, thưa giáo sư Naphta. Tuyệt diệu. Vậy đó tức là nền sư phạm kín niêm. Cũng chẳng hại gì khi đôi tai tôi từng được nghe qua về nó một lần."

"Lại càng không, vì ở đây là một sự dẫn dắt tới cái tối hậu, tới sự tuyên tín tuyệt đối vào cái siêu cảm, và do đó tới đích. Phép tuân hành luyện kim của hội Tam điểm đã dẫn nhiều tinh thần cao quý và kiếm tìm trong những thập niên về sau tới đích ấy; tôi không cần nêu tên ra, vì hẳn anh không thể không nhận thấy rằng chuỗi cấp bậc của các thượng cấp Scotland chỉ là một vật thay thế cho phẩm trật, rằng minh triết luyện kim của bậc thầy Tam điểm được hoàn tất trong mầu nhiệm biến đổi, và rằng sự dìu dắt bí mật mà hội quán đã dành cho các môn sinh của mình cũng được nhận ra rõ ràng không kém trong các phương tiện ân sủng, cũng như những trò chơi biểu tượng của nghi thức hội kia được thấy lại trong biểu tượng phụng vụ và kiến trúc của thánh Giáo hội Công giáo chúng ta."

"À, ra thế!"

“Tôi xin thưa, như thế vẫn chưa phải là tất cả. Tôi đã mạo muội gợi ý rằng việc quy nguồn gốc sinh hoạt hội kín về những phường thợ nề đáng kính về mặt nghề nghiệp kia chỉ là một sự ngoại hiện hóa lịch sử mà thôi. Ít nhất thì Strikte Observanz đã ban cho nó những nền tảng nhân loại sâu xa hơn nhiều. Bí mật của các hội kín có chung với một số huyền nhiệm nhất định của Giáo hội ta mối liên hệ hiển nhiên này: những im lặng lễ hội và những cuộc phóng túng thiêng liêng của thuở nhân loại sơ khai nhất ... Về phía Giáo hội, điều tôi nhắm tới là bữa tiệc đêm và tiệc ái, sự hưởng thụ bí tích thân và huyết; còn về phía hội kín thì –”

“Xin khoan. Xin khoan một chút cho một lời ghi bên lề. Ngay trong đời sống hội đoàn tuyệt đối mà ông anh họ tôi tham dự cũng có những thứ gọi là tiệc ái. Anh ấy thường viết cho tôi về chúng. Dĩ nhiên ở đó mọi sự diễn ra rất đứng đắn, cùng lắm chỉ hơi say sưa chút ít, thậm chí còn chưa mạnh bằng ở những cuộc nhậu của hội sinh viên đoàn ...”

“Còn về phía hội kín thì là tục sùng bái hầm mộ và quan tài mà ban nãy tôi đã hướng sự chú ý của cậu đến. Trong cả hai trường hợp đều là một thứ biểu tượng của cái tận cùng và cực hạn, những yếu tố của tính tôn giáo nguyên thủy mang màu sắc cuồng nhiệt, những nghi lễ hiến tế buông lỏng và diễn ra trong đêm để tôn vinh cái chết đi và cái sinh thành, cái chết, sự biến hóa và phục sinh ... Cậu còn nhớ chứ, những huyền nhiệm của Isis cũng như của Eleusis đều được cử hành vào ban đêm và trong những hang động tối tăm. Vậy đấy, trong hội Tam điểm xưa nay vẫn có rất nhiều hồi ức Ai Cập, và trong các hội kín có những nhóm tự gọi mình là liên minh Eleusis. Đã từng có những lễ hội của hội quán, những lễ hội của huyền nhiệm Eleusis và những bí mật ái dục, mà rốt cuộc người đàn bà cũng nhập cuộc, những lễ hội hoa hồng mà ba đóa hồng xanh trên chiếc tạp dề Tam điểm ám chỉ, và xem ra thường ngả sang cuồng Bacchus ...”

“Khoan, khoan, tôi nghe gì vậy, Giáo sư Naphta. Và tất cả những điều ấy là Tam điểm ư? Và với tất cả những điều ấy, trong đầu óc mình, tôi lại phải đem ông Settembrini sáng suốt minh bạch của chúng ta ...”

“Cậu mà làm thế là oan nặng cho ông ấy! Không, Settembrini chẳng còn biết gì về tất cả những thứ đó nữa. Tôi đã bảo cậu rồi đấy, rằng nhờ những kẻ như ông ta mà hội kín đã được gột sạch trở lại mọi yếu tố của một đời sống cao hơn. Nó đã được nhân đạo hóa, hiện đại hóa, trời ơi. Từ những lạc lối như thế, nó đã quay về với ích dụng, lý tính và tiến bộ, với cuộc chiến chống các vương hầu và giáo sĩ, nói vắn lại là với hạnh phúc xã hội; giờ ở đó người ta lại bàn về tự nhiên, đức hạnh, điều độ và tổ quốc. Tôi đoán: cả chuyện làm ăn nữa. Tóm lại, đó là nỗi khốn khổ tư sản dưới hình thức một câu lạc bộ ...”

“Tiếc thật. Tiếc cho những lễ hội hoa hồng. Tôi sẽ hỏi Settembrini xem có phải ông ấy hoàn toàn chẳng biết gì về chúng nữa không.”

“Hiệp sĩ chân chất của chiếc thước vuông!” Naphta nhạo báng. “Cậu phải nhớ rằng ông ta chẳng dễ gì được phép bước vào công trường dựng ngôi đền nhân loại đâu, vì ông ta nghèo rớt mồng tơi, và ở đó người ta không chỉ đòi hỏi giáo dưỡng bậc cao, giáo dưỡng nhân văn, xin nhấn mạnh thế, mà còn phải thuộc về giai cấp có của mới kham nổi những khoản phí gia nhập và niên phí chẳng hề nhỏ. Giáo dưỡng và tài sản, đó, cậu thấy chưa, là nhà tư sản! Đó là nền móng của nền cộng hòa thế giới tự do!”

“Quả thật,” Hans Castorp cười, “nó hiện ra rành rành trước mắt ta rồi.”

“Dẫu vậy,” Naphta nói thêm sau một quãng lặng, “tôi vẫn muốn khuyên cậu đừng xem người này và chính nghĩa của ông ta quá nhẹ, và vì đã một lần nói tới những quan hệ ấy, tôi gần như phải thỉnh cầu cậu hãy liệu chừng. Cái lố bịch chưa hẳn đồng nghĩa với cái vô hại. Sự thiển lậu không nhất thiết là hiền lành. Những người ấy đã pha rất nhiều nước vào thứ rượu vang từng có lúc bốc lửa, nhưng chính ý niệm về hội đoàn vẫn đủ mạnh để chịu đựng bao pha loãng; nó còn giữ lại những tàn dư của một bí ẩn màu mỡ, và cũng không thể nghi ngờ rằng các hội kín có nhúng tay vào trò chơi thế giới, cũng như không thể nghi ngờ rằng trong ông Settembrini khả ái ấy phải thấy nhiều hơn là chỉ riêng con người ông ta, rằng sau lưng ông ta có những quyền lực mà ông ta là kẻ thân thuộc và là sứ giả ...”

“Một sứ giả ư?”

“Phải, một kẻ đi cải đạo, một tay săn linh hồn.”

Mà ông là sứ giả của thứ gì? Hans Castorp nghĩ bụng. Thành tiếng, chàng nói:

“Cảm ơn, Giáo sư Naphta. Thành thật cảm kích vì lời mách và lời cảnh báo. Ông biết không? Bây giờ tôi sẽ lên cao thêm một tầng nữa, nếu ở tít trên kia mà còn có thể gọi là tầng, và thử dò xét ông huynh đệ đồng hội kín bịt mặt kia đôi chút. Một học việc phải ham hiểu biết và không sợ hãi ... Dĩ nhiên cũng phải thận trọng ... Đối với sứ giả thì dĩ nhiên phải dè chừng.”

Chàng hoàn toàn có thể không ngần ngại tìm đến Settembrini xin khai thị thêm, vì trong chuyện kín miệng ông này chẳng có gì để trách cứ ông Naphta, với lại xưa nay ông vốn cũng chưa từng đặc biệt lưu tâm biến sự mình thuộc về hội hài hòa kia thành một điều bí mật. Tập “_Rivista della Massoneria Italiana_” nằm ngỏ ngay trên bàn ông; chỉ là bấy lâu Hans Castorp không để ý tới. Và khi được Naphta khai sáng, chàng lái câu chuyện sang nghệ thuật vương giả, cứ như sự gắn bó của Settembrini với nó là điều chàng chưa từng nghi ngờ, thì chàng chỉ gặp một sự dè dặt rất ít ỏi. Tuy cũng có những điểm mà nhà văn không chịu nói ra, trái lại cứ hễ chạm tới là ông khép môi lại với một vẻ phô trương nhất định, rõ ràng bị ràng buộc bởi những lời thề khủng bố mà Naphta đã nhắc tới: một thứ bí mật vặt liên quan đến nghi thức bên ngoài và địa vị riêng của ông trong tổ chức kỳ lạ ấy. Còn ngoài ra, ông thậm chí còn thao thao bất tuyệt và phác cho kẻ hiếu kỳ một bức tranh đáng kể về tầm lan rộng của liên minh mình, liên minh trải ra thành chừng hai vạn hội quán và một trăm năm mươi đại hội quán gần như khắp thế giới, thậm chí sang cả những nền văn minh như Haiti và nước cộng hòa da đen Liberia. Ông cũng hết sức thích thú đem ra đủ mọi danh tiếng lớn, những người mang các tên tuổi ấy đã từng hoặc hiện còn là Tam điểm, kể Voltaire, Lafayette và Napoleon, Franklin và Washington, Mazzini và Garibaldi, rồi trong số người đang sống thì đến cả vua nước Anh, và thêm vào đó là rất nhiều người đàn ông trong tay nắm việc triều chính các quốc gia châu Âu, thành viên các chính phủ và nghị viện.

Hans Castorp tỏ ý kính nể, nhưng không kinh ngạc. Chàng nói, chuyện ấy ở các hội sinh viên đoàn cũng vậy thôi. Họ cũng gắn bó với nhau suốt đời và rất biết cách đưa người của mình vào chỗ, đến nỗi hầu như chẳng ai trong giới quan chức phẩm trật có thể làm nên trò trống gì nếu không từng là huynh đệ đoàn viên. Bởi vậy, có lẽ ông Settembrini nói như thế không hoàn toàn hợp nghĩa, khi muốn trình bày việc những nhân vật kiệt xuất ấy thuộc về hội kín như một điều làm vẻ vang cho chính họ; bởi lẽ phải giả định theo chiều ngược lại rằng việc bao nhiêu chức vụ quan trọng được trao vào tay các huynh đệ hội đoàn chỉ chứng minh quyền lực của chính hội đoàn, hội đoàn mà hẳn là, nhiều hơn điều ông Settembrini muốn nói toạc ra như thế, có nhúng tay vào trò chơi thế giới.

Settembrini mỉm cười. Ông thậm chí còn phe phẩy quạt bằng số “_Massoneria_” đang cầm trong tay. Có phải người ta định giăng bẫy ông chăng? ông hỏi. Có phải người ta thậm chí còn định dụ ông buột miệng nói những điều thiếu thận trọng về bản chất chính trị, về tinh thần về cơ bản là chính trị của hội kín? “Mánh lới vô ích, kỹ sư ạ! Chúng tôi công khai nhận mình là chính trị, không giấu giếm, không quanh co. Chúng tôi chẳng coi cái tiếng xấu kia vào đâu, cái tiếng xấu gắn với từ ngữ và danh xưng này trong mắt một vài kẻ ngu xuẩn, những kẻ ấy ở xứ ông đấy, kỹ sư ạ, hầu như chẳng ở đâu khác. Người yêu nhân loại rốt cuộc không thể nào thừa nhận sự phân biệt giữa chính trị và phi chính trị. Không có cái gọi là phi chính trị. Mọi sự đều là chính trị.”

“Triệt để đến thế ư?”

“Tôi biết chứ, có những người cho rằng nên nhắc đến bản tính nguyên thủy phi chính trị của tư tưởng Tam điểm. Nhưng những người ấy chơi chữ và vạch ra những ranh giới tưởng tượng, vô nghĩa, mà nay đã quá đến lúc phải nhận rõ là như thế. Trước hết, ít ra thì các hội quán Tây Ban Nha ngay từ đầu đã mang màu sắc chính trị –”

“Điều đó tôi cũng đoán được.”

“Cậu đoán được rất ít thôi, kỹ sư ạ. Xin đừng tưởng rằng tự nhà mình cậu đã có thể nghĩ ra được nhiều, mà hãy cố tiếp nhận và tiêu hóa, tôi van cậu vì lợi ích của chính cậu, cũng như của đất nước cậu và của châu Âu, điều mà tôi sắp, thứ hai, in sâu vào trí cậu đây. Bởi lẽ thứ hai là thế này: tư tưởng Tam điểm chưa bao giờ phi chính trị, không vào lúc nào cả, nó không thể như vậy được, và nếu có lúc nó tin rằng mình như vậy, thì ấy là nó tự lừa dối về bản thể của mình. Chúng ta là gì? Là những người xây cất và những kẻ phụ việc cho một công trình. Mục đích của mọi người là một, cái tốt đẹp của toàn thể là luật nền tảng của tình huynh đệ. Cái tốt đẹp ấy, công trình ấy, là gì? Là công trình xã hội được kiến tạo đúng nghệ thuật, là sự hoàn tất của nhân loại, là Jerusalem mới. Vậy thì trên đời này còn chính trị với phi chính trị gì nữa? Vấn đề xã hội, bản thân vấn đề cùng tồn tại, là chính trị, từ đầu đến cuối là chính trị, không gì ngoài chính trị. Ai hiến mình cho nó, và kẻ nào trốn tránh sự hiến mình ấy thì chẳng đáng mang danh con người, kẻ ấy thuộc về chính trị, cả nội chính lẫn ngoại chính; kẻ ấy hiểu rằng nghệ thuật của người Tam điểm tự do là nghệ thuật trị quốc –”

“Trị quốc ...”

“Rằng Tam điểm Illuminati từng biết đến cấp bậc chấp chính ...”

“Hay lắm, ông Settembrini. Nghệ thuật trị quốc, cấp bậc chấp chính, tôi thích lắm. Nhưng giờ xin ông cho tôi nghe một điều: các ông, tất cả các ông trong hội quán, có phải là Kitô hữu không?”

“_Perchè!_”

“Xin lỗi, tôi xin hỏi cách khác, chung hơn và đơn giản hơn. Các ông có tin vào Thượng đế không?”

“Tôi sẽ trả lời cậu. Sao cậu hỏi vậy?”

“Nãy tôi không muốn gài ông, nhưng có một câu chuyện Kinh Thánh, trong đó có kẻ dùng một đồng tiền La Mã để thử Chúa, và nhận được câu trả lời rằng phải trả cho Xê-da cái gì thuộc về Xê-da, và cho Thượng đế cái gì thuộc về Thượng đế. Theo tôi, chính cách phân biệt ấy tạo ra sự khác nhau giữa chính trị và phi chính trị. Nếu có Thượng đế, thì cũng có sự khác nhau ấy. Những người Tam điểm có tin vào Thượng đế không?”

“Tôi đã cam kết sẽ trả lời cậu. Cậu đang nói tới một sự thống nhất mà người ta đang nỗ lực thiết lập, nhưng ngày nay, điều khiến mọi người lương thiện đau lòng, nó vẫn chưa tồn tại. Liên minh thế giới của Tam điểm không tồn tại. Một khi nó được dựng nên – và tôi xin nhắc lại, người ta đang miệt mài lặng lẽ với toàn bộ chuyên cần để thực hiện công trình lớn ấy – thì chắc chắn tuyên tín tôn giáo của nó cũng sẽ thống nhất, và sẽ là: ‘_Écrasez l’infâme_‘.”

“Bắt buộc ư? Thế thì chẳng khoan dung gì.”

“Vấn đề khoan dung e là quá sức cậu đấy, kỹ sư ạ. Dù sao cậu cũng nên ghi nhớ rằng khoan dung trở thành tội ác khi nó dành cho cái ác.”

“Thượng đế là cái ác sao?”

“Siêu hình học là cái ác. Vì nó chẳng có ích gì ngoài việc ru ngủ sự cần mẫn mà chúng ta phải dốc vào việc dựng ngôi đền xã hội. Và quả vậy, đã từ một thế hệ trước, Đại Đông phương Pháp đã nêu gương bằng cách gạch tên Thượng đế ra khỏi toàn bộ văn thư của mình. Chúng tôi, người Ý, đã noi theo họ trong việc ấy ...”

“Công giáo làm sao!”

“Cậu muốn nói –”

“Rằng tôi thấy việc gạch bỏ Thượng đế sao mà Công giáo ghê gớm đến thế!”

“Cậu muốn diễn đạt –”

“Chẳng có gì đáng nghe đâu, ông Settembrini. Xin đừng bận tâm đặc biệt tới mấy lời lảm nhảm của tôi! Chỉ là đúng khoảnh khắc này, tôi bỗng thấy như thể vô thần luận là một cái gì đó Công giáo đến khổng lồ, và như thể người ta gạch bỏ Thượng đế chỉ để có thể càng Công giáo hơn mà thôi.”

Nếu sau đó ông Settembrini để một quãng ngừng xen vào, thì rõ ràng chỉ là vì sự điềm đạm sư phạm. Sau một hồi im lặng chừng mực, ông đáp:

“Kỹ sư ạ, tôi hoàn toàn không có ý muốn làm cậu bối rối hay xúc phạm trong đạo Tin Lành của cậu. Ta đang nói về khoan dung ... Không cần phải nhấn mạnh rằng đối với đạo Tin Lành, với tư cách là đối thủ lịch sử của sự bóp nghẹt lương tâm, tôi dành không chỉ sự dung nhẫn, mà cả lòng ngưỡng mộ sâu xa nhất. Việc phát minh ra nghệ thuật in và cuộc Cải cách là, đã và sẽ mãi là, hai công lao cao cả nhất mà Trung Âu đã lập được đối với nhân loại. Điều ấy không phải bàn. Chỉ có điều, sau những gì cậu vừa phát biểu, tôi không nghi ngờ rằng cậu sẽ hiểu tôi ngay từng lời khi tôi chỉ ra rằng đó mới chỉ là một mặt của vấn đề, và rằng nó còn có mặt thứ hai. Đạo Tin Lành hàm chứa những yếu tố ... Chính bản thân nhân cách của nhà cải cách của cậu cũng đã hàm chứa những yếu tố ... Tôi nghĩ tới những yếu tố của niềm an lạc tĩnh nghỉ và của một sự đắm chìm mang tính thôi miên, những yếu tố không phải của châu Âu, xa lạ và thù địch với luật sống của lục địa hoạt động này. Cứ nhìn ông Luther ấy mà xem! Hãy ngắm những chân dung của ông ta, thời trẻ cũng như về sau! Cái hộp sọ ấy là thế nào, những gò má ấy là thế nào, cái hốc mắt lạ lùng ấy là thế nào! Bạn tôi ơi, đó là châu Á! Tôi sẽ lấy làm lạ, lấy làm lạ vô cùng, nếu ở đó không có một yếu tố Wendisch-Slavơ-Sarmatia nào xen vào, và nếu như thế thì cái nhân vật ấy – dĩ nhiên ai mà muốn chối bỏ cho được sự vĩ đại của ông ta – đã không có nghĩa là một sự quá tải tai hại lên một trong hai đĩa cân đang đứng ngang nhau nguy hiểm đến thế ở đất nước cậu, một sức nặng khủng khiếp dồn vào đĩa phía đông, khiến đĩa kia, đĩa phía tây, cho đến hôm nay vẫn bị hất bổng mà phấp phới lên trời ...”

Từ chiếc bàn đọc sách gấp kiểu nhân văn bên ô cửa sổ nhỏ, trước đó ông vẫn đứng, ông Settembrini bước tới chiếc bàn tròn đặt chai nước, lại gần người học trò của mình hơn; người học trò ấy ngồi trên chiếc ghế dài nghỉ đã được đẩy sát vào tường, không có lưng tựa, chống khuỷu tay lên gối và tì cằm vào bàn tay.

“_Caro!_” ông Settembrini nói. “_Caro amico!_ Sẽ có những quyết định phải được đưa ra, những quyết định có tầm hệ trọng không sao ước lượng được đối với hạnh phúc và tương lai của châu Âu, và chúng sẽ rơi vào phần đất nước cậu, sẽ phải được thực hiện ngay trong tâm hồn nước ấy. Bị đặt giữa Đông và Tây, đất nước ấy sẽ buộc phải lựa chọn, sẽ phải dứt khoát và với trọn vẹn ý thức mà quyết định giữa hai lĩnh vực đang tranh giành bản thể của mình. Cậu còn trẻ, cậu sẽ dự phần vào quyết định ấy, cậu được kêu gọi để tác động đến nó. Vì thế, hãy cùng tôi chúc phúc cho số mệnh đã xô cậu tới những miền ghê rợn này, đồng thời lại cho tôi cơ hội, bằng lời nói không phải không từng trải, cũng chưa hoàn toàn mệt mỏi của mình, tác động lên tuổi trẻ dễ tiếp nhận của cậu và khiến nó cảm thấy trách nhiệm mà nó – mà đất nước cậu trước mặt nền văn minh đang gánh lấy ...”

Hans Castorp ngồi đó, cằm chống trong nắm tay. Chàng nhìn ra ngoài cửa sổ áp mái, và trong đôi mắt xanh chân chất của chàng có thể đọc thấy một vẻ bướng bỉnh nào đó. Chàng im lặng.

“Ông im lặng,” ông Settembrini xúc động lên tiếng. “Ông và đất nước ông để mặc một sự im lặng dè dặt ngự trị, mà tính bất khả xuyên thấu của nó không cho phép người ta phán đoán độ sâu của nó. Ông không yêu lời nói, hoặc không sở hữu nó, hoặc thần thánh hóa nó theo một cách không mấy thân thiện, thế giới được diễn đạt thành lời không biết và cũng không sao biết được phải hiểu ông ra sao. Bạn tôi ơi, điều ấy nguy hiểm. Ngôn ngữ chính là văn minh... Lời nói, ngay cả lời phản bác nhất, cũng liên kết đến thế... Nhưng sự không lời làm người ta cô độc. Người ta ngờ rằng ông sẽ tìm cách phá vỡ sự cô độc ấy bằng hành động. Ông sẽ để người em họ Giacomo” (ông Settembrini, cho tiện, thường gọi Joachim là “Giacomo”), “ông sẽ để người em họ Giacomo bước ra thay cho sự im lặng của ông, ‘và chỉ bằng những nhát đánh dữ dội, chàng quật ngã hai tên, bọn còn lại tháo chạy’...”

Khi Hans Castorp bật cười, ông Settembrini cũng mỉm cười, trong khoảnh khắc ấy cũng thấy thỏa mãn vì hiệu quả do lời lẽ tạo hình của mình gây ra.

“Được, vậy ta hãy cười!” ông nói. “Về sự vui vẻ, ông sẽ luôn luôn thấy tôi sẵn lòng. ‘Tiếng cười là một sự rạng sáng của tâm hồn’, một bậc cổ nhân đã nói như vậy. Vả chăng chúng ta đã đi chệch mất rồi, sang những chuyện mà, như tôi thừa nhận, có liên quan đến các khó khăn mà công cuộc chuẩn bị của chúng tôi cho việc thành lập liên minh thế giới của hội Tam điểm đang vấp phải, những khó khăn mà nhất là châu Âu Tin Lành dựng lên...” Và ông Settembrini tiếp tục nói với nhiệt tình về ý tưởng liên minh thế giới ấy, đã được khởi xướng từ Hungary, và sự thực hiện mà người ta hy vọng ở nó được định sẵn để trao cho hội Tam điểm một quyền lực quyết định vận mệnh thế giới. Ông hờ hững đưa ra xem những bức thư mà ông đã nhận từ các nhân vật tai to mặt lớn của liên minh ở nước ngoài trong việc này, một bức thư chính tay viết của Đại Sư phụ Thụy Sĩ, Huynh đệ Quartier la Tente bậc ba mươi ba, và bàn luận kế hoạch tuyên bố ngôn ngữ nhân tạo Esperanto là ngôn ngữ thế giới của liên minh. Nhiệt tâm nâng ông lên bình diện chính trị cao, mắt ông phóng về chỗ này chỗ nọ và ước lượng những triển vọng mà tư tưởng cách mạng-cộng hòa có được tại chính quê hương ông, ở Tây Ban Nha, ở Bồ Đào Nha. Cả với những người đứng đầu Đại lô hội của vương quốc vừa kể sau cùng, ông cũng muốn thiết lập liên hệ thư từ thăm dò. Ở đó, không còn nghi ngờ gì nữa, mọi sự đang chín dần về phía quyết định. Hans Castorp hãy nhớ đến ông, khi chỉ trong nay mai, dưới kia, các biến cố sẽ dồn dập chồng lên nhau. Hans Castorp hứa sẽ làm như vậy.

Cần phải ghi nhận rằng những chuyện phiếm Tam điểm ấy, diễn ra riêng rẽ giữa người học trò với từng người một trong hai vị cố vấn, vẫn còn thuộc về thời gian trước khi Joachim quay trở lại với những người trên này. Cuộc tranh luận mà giờ đây chúng ta sắp nói đến thì xảy ra khi anh đã hiện diện trở lại, và ngay trước mặt anh, chín tuần sau ngày anh về, vào đầu tháng Mười; và Hans Castorp về sau luôn nhớ rất chính xác buổi ngồi với nhau dưới nắng thu trước nhà điều dưỡng ở “Platz”, bên những đồ uống giải khát, là vì hồi ấy Joachim đã khiến chàng lo lắng ngấm ngầm, lo lắng bởi những lời than và những biểu hiện vốn thường không hề gây lo lắng, tức là đau họng và khàn tiếng: những phiền toái vô hại, nhưng dưới mắt chàng Castorp trẻ tuổi lại hiện ra trong một thứ ánh sáng nào đó thật đặc biệt, chính là thứ ánh sáng, có thể nói thế, mà chàng tin mình nhận thấy nơi chiều sâu đôi mắt Joachim, đôi mắt xưa nay vẫn hiền và lớn, nhưng hôm nay, chính xác là chỉ đến hôm nay thôi, dường như đã có một sự lớn rộng và sâu thêm không sao định nghĩa nổi của một vẻ suy tư và, phải thêm cái từ kỳ lạ ấy vào, _đe dọa_, kèm theo sự bừng sáng lặng lẽ từ bên trong như đã nói, mà nếu bảo rằng nó không làm Hans Castorp thích thú thì hẳn là hoàn toàn sai; trái lại, chàng còn rất thích là đằng khác, chỉ có điều, dẫu vậy, nó vẫn khiến chàng lo. Và nói ngắn lại, về những ấn tượng ấy, quả thật không thể nói autrement nào khác hơn là một cách rối rắm, hợp đúng với chính tính chất của chúng.

Còn cuộc chuyện trò, cuộc bút chiến, dĩ nhiên là một cuộc bút chiến giữa Naphta và Settembrini, thì đó là một việc riêng, chỉ có liên hệ lỏng lẻo với những cuộc thảo luận đặc biệt kia về hội kín. Ngoài hai anh em họ, còn có Ferge và Wehsal hiện diện, và mọi người đều hết sức chăm chú tham dự, mặc dù không phải ai cũng đủ sức theo nổi đề tài, chẳng hạn ông Ferge thì rõ ràng là không. Nhưng một cuộc cãi vã được tiến hành như thể sống chết đến nơi, mà đồng thời lại có một sự hóm hỉnh và trau chuốt như thể _không_ phải chuyện sống chết, mà chỉ là một cuộc thi tài tao nhã, và mọi cuộc tranh luận giữa Settembrini với Naphta đều diễn ra như thế: một cuộc cãi vã như vậy, dĩ nhiên và tự nó, bao giờ cũng thú vị để nghe, ngay cả với người hiểu ít về nó và chỉ lờ mờ thấy được tầm vóc của nó. Ngay cả những kẻ hoàn toàn không dự phần, ngồi quanh đó, cũng lắng nghe cuộc đối đáp với đôi mày nhướng cao, bị ràng buộc bởi niềm say mê và vẻ duyên dáng của lời ăn tiếng đáp.

Đúng như đã nói, việc ấy diễn ra trước nhà điều dưỡng, vào buổi chiều sau trà. Bốn vị khách của Berghof đã gặp Settembrini ở đó, và tình cờ Naphta nhập bọn. Tất cả ngồi quanh một chiếc bàn kim loại nhỏ bên những thứ đồ uống khác nhau pha với soda, anis và vermouth. Naphta, đang dùng bữa xế tại đây, gọi rượu vang và bánh ngọt, rõ ràng là một kỷ niệm của thời nội trú học sinh của y; Joachim luôn luôn làm ẩm cổ họng đang đau của mình bằng nước chanh nguyên chất, thứ anh uống rất đặc và chua, vì như thế làm se lại và đem cho anh nhẹ nhõm; còn Settembrini thì đơn giản dùng nước đường, nhưng qua một ống hút, và theo một cách duyên dáng ngon miệng đến nỗi như thể ông đang hớp thứ giải khát quý giá nhất. Ông đùa:

“Tôi nghe gì thế này, kỹ sư? Điều gì đang được đồn đến tai tôi vậy? Beatrice của ông trở lại ư? Người nữ dẫn đường của ông qua cả chín tầng cầu quay của Thiên Đường? Nào, tôi chỉ hy vọng rằng, ngay cả khi ấy, ông cũng sẽ không hoàn toàn khước từ bàn tay bạn hữu dìu dắt của Virgil của ông đâu nhé! Giáo sĩ của chúng ta đây sẽ xác nhận với ông rằng thế giới _medio evo_ không trọn vẹn nếu thần bí Phan Sinh thiếu đi cực đối ứng là nhận thức luận Thomist.”

Người ta cười trước cái uyên bác đùa vui đến thế và nhìn Hans Castorp, lúc ấy cũng cười và nâng ly vermouth về phía “Virgil của mình”. Nhưng thật khó tin biết bao nhiêu là cuộc xung đột tinh thần bất tận đã nảy sinh trong giờ tiếp theo từ lời nói của ông Settembrini, tuy có cầu kỳ, song vẫn hoàn toàn vô hại ấy. Bởi Naphta, tuy quả thật theo một nghĩa nào đó đã bị khiêu khích, lập tức chuyển sang tấn công và xông vào nhà thơ La-tinh, người mà Settembrini, như ai cũng biết, yêu gần như sùng bái, thậm chí còn đặt cao hơn Homer, trong khi Naphta, đối với ông cũng như đối với toàn bộ thơ ca La-tinh nói chung, đã hơn một lần tỏ ra khinh miệt gay gắt nhất, và đúng vào việc ấy, lần này nữa, y lập tức chộp lấy dịp với ác ý. Dante vĩ đại, y nói, quả đã chịu một sự hạn cuộc cực kỳ tốt bụng của thời đại mình khi quá nghiêm trang đối với tay làm vần hạng xoàng ấy và dành cho ông ta trong trường ca của mình một vai trò cao trọng đến thế, mặc dù ngài Lodovico hẳn lại gán cho vai trò ấy một ý nghĩa Tam điểm quá mức. Chứ rốt cuộc thì ở cái ông laureatus cung đình và tên bợ đỡ nhà Julius ấy, cái tay văn nhân đô hội và nhà hùng biện kiểu cách không có lấy một tia sức sản xuất ấy, mà linh hồn, nếu ông ta có linh hồn, thì dù sao cũng là đồ cũ người khác dùng rồi, và rốt cuộc hoàn toàn chẳng phải thi sĩ, mà là một gã Pháp đội tóc giả allonge thời Auguste, thì có gì đáng kể đâu cơ chứ!

Ông Settembrini không hề nghi ngờ rằng diễn giả vừa rồi ắt sẽ biết tìm phương kế để dung hòa sự khinh bỉ của mình đối với nền văn minh thượng tầng La Mã với chức trách thầy dạy tiếng La-tinh của mình, nhưng xem ra cần phải chỉ cho y thấy mâu thuẫn nghiêm trọng hơn mà qua những phán đoán như thế, y đã tự đặt mình vào với chính những thế kỷ yêu dấu của mình, những thế kỷ ấy chẳng những không khinh miệt Virgilius mà còn, một cách hồn nhiên, đã đối đãi xứng với sự vĩ đại của ông khi biến ông thành một pháp sư đầy quyền năng minh triết.

Naphta đáp, hoàn toàn vô ích khi ông Settembrini gọi tính hồn nhiên của những thời buổi rạng đông kia đến trợ giúp mình, tức kẻ chiến thắng, đã còn chứng tỏ sức sáng tạo của mình ngay trong việc ma quỷ hóa cái đã bị mình vượt thắng. Hơn nữa, các thầy dạy của Giáo hội non trẻ xưa kia chưa từng mệt mỏi trong việc cảnh báo chống lại những lời dối trá của các triết gia và thi sĩ cổ, đặc biệt là chống lại việc để mình bị ô nhiễm bởi tài hùng biện trù phú của Virgil; và hôm nay, khi một thời đại lại đang chìm xuống mồ, một bình minh vô sản lại đang rạng ra, thì quả thật giờ đây là lúc thuận lợi để cảm thông với họ! Vậy nên, để trả lời mọi điều, ngài Lodovico cũng cứ yên trí rằng ông đây vẫn hành nghề tư sản nho nhỏ của mình, điều mà ngài đã vui lòng ám chỉ đến, với tất cả sự _reservatio mentalis_ cần có, và không phải không có mỉa mai mà tự xếp mình vào một guồng máy giáo dục cổ điển-tu từ, thứ mà một kẻ lạc quan cùng lắm chỉ còn có thể tính tuổi thọ của nó bằng vài chục năm nữa mà thôi.

“Các người đã học chúng,” Settembrini kêu lên, “các người đã học đến toát mồ hôi những thi sĩ và triết gia xưa kia, đã cố chiếm lấy di sản quý báu của họ, cũng như các người đã dùng vật liệu của những công trình cổ đại để xây những nhà cầu nguyện của mình! Bởi các người cảm thấy rất rõ rằng bằng sức riêng, từ tâm hồn vô sản của mình, các người không thể nào sinh ra được một hình thức nghệ thuật mới, và các người hy vọng sẽ đánh bại cổ đại bằng chính vũ khí của nó. Rồi sẽ lại như thế, rồi bao giờ cũng sẽ như thế! Cái tính ban mai thô nhám của các người sẽ phải đến trường học hỏi nơi cái mà các người muốn thuyết phục chính mình và người khác là phải khinh bỉ; bởi không có giáo dưỡng, các người không thể đứng nổi trước mặt nhân loại, và chỉ có _một_ thứ giáo dưỡng thôi: thứ mà các người gọi là tư sản, mà thật ra là nhân loại!” Vấn đề chỉ còn vài chục năm nữa, nguyên lý giáo dục nhân văn sẽ cáo chung ư? Chỉ có phép lịch sự mới ngăn ông Settembrini không bật ra một tràng cười vừa vô tư vừa chế nhạo. Một châu Âu biết gìn giữ tài sản vĩnh cửu của mình, ông nói, sẽ bình thản đi tiếp sang chương trình nghị sự của lý tính cổ điển, vượt lên trên những tận thế vô sản mà đây đó người ta thích mơ màng.

Naphta cay độc đáp rằng, nói đến chương trình nghị sự thì chính ông Settembrini dường như lại không được thông tin cho lắm. Bởi điều đang nằm trên chương trình nghị sự, xét như một vấn đề, chính là cái mà ông kia thấy tiện coi như đã ngã ngũ: tức là liệu truyền thống Địa Trung Hải-cổ điển-nhân văn có phải là một việc của nhân loại và do đó là vĩnh cửu theo nghĩa nhân loại, hay rốt cuộc chỉ là hình thức tinh thần và đồ phụ thuộc của một thời đại, thời đại tư sản-tự do, và có thể chết cùng với thời đại ấy. Quyết định điều đó sẽ là việc của lịch sử, và dù sao cũng nên khuyên ông Settembrini đừng ru mình quá yên ổn trong niềm chắc dạ rằng quyết định ấy sẽ ngả theo hướng chủ nghĩa bảo thủ Latinh của ông.

Đó là một sự xấc xược đặc biệt của tên Naphta bé nhỏ, khi gọi ông Settembrini, người công khai phụng sự tiến bộ, là một kẻ bảo thủ. Ai nấy đều cảm thấy như vậy, và dĩ nhiên người chua xót nhất là chính đương sự, người đang kích động mà vê bộ ria cong của mình, và trong lúc tìm đòn phản kích đã để cho kẻ địch có thời gian tung thêm những mũi công kích vào lý tưởng giáo dưỡng cổ điển, vào tinh thần tu từ-văn chương của toàn bộ hệ thống nhà trường và giáo dục châu Âu, cùng cái tật mê hình thức-ngữ pháp của nó, vốn chẳng là gì khác ngoài một món phụ kiện lợi ích của sự thống trị giai cấp tư sản, nhưng đối với nhân dân thì từ lâu đã là trò cười. Phải, người ta không hề biết dân chúng cười nhạo đến thế nào những học vị tiến sĩ của chúng ta và toàn bộ cái quan liêu mandarinate học vấn của chúng ta, cũng như cười nhạo trường phổ thông nhà nước, thứ công cụ của nền chuyên chính giai cấp bourgeois, được vận hành trong ảo tưởng rằng giáo dục nhân dân là học vấn bác học bị pha loãng. Sự giáo dục và đào luyện mà nhân dân cần cho cuộc đấu tranh chống vương quốc tư sản mục ruỗng, từ lâu họ đã biết tìm ở nơi khác chứ không phải ở những nhà cưỡng bức quan phương ấy; và dần dà chim sẻ cũng đã ríu rít điều ấy trên mái nhà, rằng kiểu trường học của chúng ta nói chung, như nó đã phát triển từ trường dòng thời Trung cổ, là một cái đuôi sam lố bịch và một thứ lỗi thời, rằng trên đời này chẳng còn ai mắc nợ nhà trường về nền giáo dục đích thực của mình nữa, và rằng một hình thức giảng dạy tự do, rộng mở bằng những bài diễn thuyết công cộng, những cuộc triển lãm, rạp chiếu bóng, vân vân, vượt xa mọi sự dạy dỗ học đường.

Ông Settembrini đáp lại rằng, trong cái hỗn hợp giữa cách mạng và chủ nghĩa ngu dân mà Naphta vừa bày ra trước các thính giả, chất phụ gia ngu tối ấy chiếm ưu thế theo một cách khó nuốt. Sự hài lòng mà mối bận tâm của y đối với việc khai sáng dân chúng có thể gợi nên, bị giảm sút ít nhiều bởi nỗi lo rằng ở đây thật ra đang tác động một thiên hướng bản năng muốn phủ nhân dân và thế giới vào bóng tối mù chữ.

Naphta mỉm cười. Mù chữ! Hóa ra người ta tưởng mình vừa thốt lên được một chữ kinh hoàng đích thực, vừa giơ ra cái đầu của Gorgo, tin chắc rằng ai nấy sẽ phải có bổn phận tái mặt trước nó. Ông ta, Naphta, lấy làm tiếc phải gây cho người đối thoại của mình nỗi thất vọng rằng nỗi sợ hãi rất nhân văn trước khái niệm mù chữ ấy đơn giản chỉ làm ông ta buồn cười. Người ta phải là một nhà văn Phục Hưng, một kẻ kiểu cách, một Secentist, một Marinist, một anh hề của _estilo culto_, mới gán cho các môn đọc và viết một tính ưu tiên giáo dục phóng đại đến mức tưởng rằng đêm tối tinh thần ắt phải ngự trị ở đâu vắng mặt hiểu biết về chúng. Ông Settembrini có nhớ chăng rằng thi sĩ vĩ đại nhất của thời Trung cổ, Wolfram von Eschenbach, từng là người mù chữ? Hồi ấy, ở Đức, việc cho một cậu bé, nếu không hẳn định để nó thành giáo sĩ, đi học bị coi là điều đáng hổ thẹn; và sự khinh miệt có tính quý tộc-bình dân ấy đối với các nghệ thuật văn chương vẫn luôn là dấu hiệu của một bản chất cao quý, trong khi nhà văn, đứa con đích thực ấy của chủ nghĩa nhân văn và giai cấp tư sản, quả thật biết đọc biết viết, điều mà quý tộc, chiến binh và dân chúng không biết hoặc chỉ biết kém thôi, nhưng ngoài ra thì trên đời hắn chẳng còn biết cũng chẳng hiểu gì hết, mà vẫn chỉ là một cái bọc gió La-tinh chủ nghĩa, kẻ cai quản lời nói và để mặc cuộc sống cho những người lương thiện, bởi vậy mà từ chính trị hắn cũng làm ra một túi đầy gió, tức là đầy tu từ và văn chương đẹp đẽ, thứ mà trong ngôn ngữ đảng phái người ta gọi là chủ nghĩa cấp tiến và dân chủ, và vân vân, và vân vân.

Bấy giờ đến lượt ông Settembrini! Ông kêu lên rằng đối phương phô bày quá táo tợn thị hiếu của mình đối với sự man rợ cuồng tín của vài thời đại nào đó, khi chế giễu tình yêu dành cho hình thức văn chương, thứ mà không có nó thì nhân tính quả thật là điều không thể có và không thể nghĩ tới, quả thật không thể, không bao giờ có thể! Cao quý ư? Chỉ có lòng thù ghét con người mới có thể gọi sự không lời, cái tính sự vật thô nhám và câm lặng ấy bằng cái tên đó. Cao quý, trái lại, chỉ có thể là một thứ xa xỉ cao nhã nào đó, là _generosità_, biểu lộ ở chỗ gán cho hình thức một giá trị tự thân mang tính nhân loại, độc lập với nội dung, việc tôn thờ lời nói như một nghệ thuật vị nghệ thuật, di sản của nền văn minh Hy-La ấy mà các nhà nhân văn, những _uomini letterati_ của thế giới Roman, ít ra là của nó, đã đem trở lại, và là nguồn cội của mọi chủ nghĩa lý tưởng tiếp theo có nội dung, kể cả chủ nghĩa lý tưởng chính trị. “Đúng vậy, thưa ông! Điều mà ông muốn bôi nhọ như một sự chia tách giữa lời nói và cuộc sống, chẳng qua chỉ là một sự thống nhất cao hơn trong vầng miện của cái Đẹp; và tôi không hề e ngại việc tuổi trẻ cao thượng, trong một cuộc tranh chấp mà hai phía lựa chọn mang tên Văn chương và Man rợ, rồi sẽ luôn đứng về phía nào.”

Hans Castorp, người chỉ để nửa phần chú ý vào cuộc chuyện trò, vì con người vị chiến binh hiện diện kia, kẻ đại diện cho cái cốt cách cao quý, hay đúng hơn, vì vẻ biểu lộ mới lạ trong mắt anh ta, đang khiến chàng bận tâm, thì hơi giật mình, khi cảm thấy những lời cuối của Herr Settembrini như nhằm gọi đích danh và đòi hỏi ở mình; nhưng rồi chàng lại làm cái vẻ như dạo nọ, khi Settembrini long trọng ép chàng phải chọn giữa “Đông và Tây”: nghĩa là một vẻ mặt đầy dè dặt và bướng bỉnh, và im lặng. Hai người ấy việc gì cũng đẩy tới chỗ cùng cực, hẳn là điều cần thiết nếu người ta muốn tranh biện, và họ hục hặc quyết liệt về những sự chọn lựa tận cùng, trong khi với chàng, dường như ở đâu đó, giữa chính giữa hai điều khó ưa đang bị tranh chấp, giữa chủ nghĩa nhân bản hùng biện và thứ man rợ mù chữ, hẳn phải có cái mà người ta được phép gọi, theo nghĩa đích thân, là cái người, hay cái nhân bản. Nhưng chàng không nói ra, để khỏi chọc giận cả hai tinh thần ấy, và, quấn mình trong sự dè dặt, chàng nhìn họ tiếp tục trôi đi, vừa đối địch vừa phụ trợ cho nhau, mà lần từ trăm sang nghìn, sau khi Settembrini đã khơi mào bằng câu đùa nho nhỏ của ông về Virgil, thi sĩ Latin.

Ông chưa chịu buông lời; ông còn múa nó lên, để nó khải hoàn. Ông xông ra làm kẻ bảo hộ của thiên tài văn chương, ca ngợi lịch sử văn tự kể từ khoảnh khắc đầu tiên một con người, để cho tri thức và cảm xúc của mình có được độ bền của tượng đài, đã khắc những dấu hiệu của lời nói lên đá. Ông nói về vị thần Ai Cập Thot, đồng nhất với Hermes tam trùng vĩ đại của thời Hy Lạp hóa, vị được tôn thờ như người phát minh ra chữ viết, kẻ bảo trợ thư viện và nguồn cổ vũ của mọi nỗ lực tinh thần. Ông vừa nói vừa bẻ gối trước Trismegist ấy, Hermes của chủ nghĩa nhân văn, bậc thầy của đấu trường, kẻ mà nhân loại phải mang ơn vì món quà cao quý là lời văn chương, là nghệ thuật hùng biện tranh đấu; và như thế đã khiến Hans Castorp nhận xét rằng, vậy thì người Ai Cập chính gốc ấy hẳn nhiên cũng là một chính khách, và trên quy mô lớn hơn đã đóng chính vai trò mà Herr Brunetto Latini đã đảm nhiệm trong phạm vi riêng của ông, tức là mài giũa người Florentine và dạy họ nói năng, cũng như nghệ thuật lèo lái nền cộng hòa của họ theo những quy tắc của chính trị, điều này khiến Naphta đáp rằng Herr Settembrini có phần bịa đặt đôi chút và đã đưa cho ông một hình ảnh quá bóng bẩy về Thot-Trismegistos. Bởi lẽ đó, đúng hơn, là một thần linh khỉ, trăng và linh hồn, một con khỉ đầu chó với vành trăng lưỡi liềm trên đầu, và dưới danh Hermes thì trước hết là một vị thần của cái chết và người chết: kẻ cưỡng chế linh hồn và kẻ dẫn dắt linh hồn, kẻ đã trở thành, đối với thời cổ đại muộn, đại pháp sư, và đối với thời trung cổ kabbala, cha đẻ của thuật giả kim huyền môn.

Cái gì, cái gì vậy? Trong xưởng tư tưởng và hình dung của Hans mọi sự đảo lộn cả lên. Kìa, Thần Chết khoác áo choàng xanh hiện ra như một nhà hùng biện nhân văn; còn nếu ngắm kỹ hơn vị thần văn chương mang thiên chức giáo hóa và lòng yêu người kia, thì thay vào chỗ ấy lại xổm một bộ mặt khỉ, trên trán mang dấu hiệu của đêm tối và pháp thuật... Chàng xua đi, khoát tay gạt đi, rồi lấy tay che mắt. Nhưng vào trong bóng tối, nơi chàng trốn vào để thoát khỏi cơn rối loạn, giọng Settembrini vẫn vọng đến, ông tiếp tục ca tụng văn chương. Ông kêu lên rằng không chỉ sự vĩ đại chiêm nghiệm, mà cả sự vĩ đại hành động nữa, xưa nay vẫn luôn gắn liền với nó; và ông nêu Alexander, César, Napoléon, nêu Friedrich nước Phổ cùng những anh hùng khác, thậm chí cả Lassalle và Moltke. Việc Naphta muốn tống ông về xứ Trung Hoa chẳng hề làm ông nao núng, cái xứ mà người ta tôn sùng chữ cái theo cách kỳ quặc nhất từng có, và nơi người ta trở thành thống chế nếu biết phẩy bút đủ bốn mươi nghìn ký tự, điều hẳn phải làm vừa dạ một nhà nhân văn. Ấy, Naphta thừa biết rõ rằng vấn đề đâu phải ở trò phẩy bút, mà ở văn chương như một xung lực của nhân loại, ở tinh thần của nó, hỡi kẻ giễu cợt đáng thương, một tinh thần vốn chính là tinh thần, là phép lạ của sự kết hợp giữa phân tích và hình thức. Chính nó đánh thức sự cảm thông đối với mọi cái thuộc về con người, thúc đẩy sự làm suy yếu và tan rã của những phán đoán cùng xác tín ngu độn về giá trị, đem lại sự tiết chế, tinh luyện và cải hóa của nòi người. Trong khi tạo ra sự tinh vi đạo đức và độ nhạy cảm cao nhất, nó, cách xa mọi sự cuồng tín hóa, đồng thời giáo dục con người biết hoài nghi, biết công bằng, biết khoan dung. Tác dụng thanh tẩy và thánh hóa của văn chương, sự phá hủy dục vọng bằng nhận thức và lời nói, văn chương như con đường dẫn tới thấu hiểu, tới tha thứ và tới tình yêu, quyền năng cứu chuộc của ngôn ngữ, tinh thần văn chương như biểu hiện cao quý nhất của tinh thần con người nói chung, nhà văn như con người hoàn hảo, như bậc thánh: từ cung điệu rực sáng ấy vút lên khúc thánh ca biện hộ của Herr Settembrini. Than ôi, đối thủ của ông cũng đâu phải kẻ vụng miệng; y biết dùng những phản bác độc địa mà lấp lánh để phá ngang lời Halleluja kiểu Anh kia, bằng cách đứng về phía sự bảo toàn và sự sống chống lại cái tinh thần phân rã đang ẩn sau vẻ đạo mạo thiên thần ấy. Mối kết hợp kỳ diệu mà Herr Settembrini đã rung giọng ca tụng, giờ đây bị nói là rốt cuộc chẳng qua chỉ là dối trá và trò phù ảo; bởi hình thức mà tinh thần văn chương khoe khoang là đã liên kết được với nguyên lý khảo sát và phân tách kia, chỉ là một hình thức bề ngoài và giả dối, không phải hình thức chân thực, được nuôi lớn tự nhiên, không phải hình thức của sự sống. Kẻ tự xưng là người cải hóa con người ấy hẳn là luôn mồm nói tới thanh tẩy và thánh hóa, nhưng kỳ thực điều hắn nhắm tới lại là sự thiến hoạn và rút cạn máu huyết của sự sống; vâng, tinh thần, lý thuyết hăm hở kia, là thứ tàn hại sự sống, và kẻ nào muốn hủy diệt các đam mê thì là kẻ muốn cái hư vô, cái hư vô thuần túy, thuần túy thật đấy, vì “thuần túy” quả thực là thuộc tính duy nhất mà cùng lắm người ta còn có thể gán cho cái hư vô. Nhưng chính ở chỗ ấy Herr Settembrini, kẻ làm văn, lại bộc lộ đúng là kẻ ông ta vốn là, tức con người của tiến bộ, của chủ nghĩa tự do và của cuộc cách mạng tư sản. Vì tiến bộ là chủ nghĩa hư vô thuần túy, còn người thị dân tự do thì đích xác là con người của hư vô và của quỷ dữ; vâng, hắn phủ nhận Thượng đế, cái tuyệt đối bảo tồn và tích cực, khi thề nguyền với cái phản-tuyệt-đối ma quỷ, mà với chủ nghĩa hòa bình của tử thần ấy lại còn lấy làm kỳ lạ biết bao vì thấy mình ngoan đạo. Nhưng hắn chẳng ngoan đạo chút nào, trái lại là một trọng phạm đối với sự sống, kẻ đáng phải bị điệu ra trước tòa tra xét và pháp đình nghiêm khắc mà chịu trị tội đau đớn - _et cetera_.

Naphta biết chĩa mũi nhọn như thế, biết bẻ khúc thánh ca sang vẻ quỷ quái và tự trình hiện như hiện thân của một sự nghiêm khắc yêu thương có chức năng bảo tồn, đến nỗi việc phân biệt đâu là Thượng đế và đâu là quỷ dữ, đâu là cái chết và đâu là sự sống, một lần nữa lại trở thành điều hoàn toàn bất khả. Người ta hẳn sẽ tin lời chúng tôi rằng đối thủ của y đủ bản lĩnh để không chịu thiếu câu đáp trả, một câu đáp xuất sắc, và đến lượt nó lại gặp ngay một câu đối đáp cũng hay không kém, thế rồi chuyện cứ tiếp diễn thêm một lúc nữa và cuộc chuyện trò đổ vào những bàn luận đã từng được gợi ra từ trước. Nhưng Hans Castorp không nghe nữa, vì giữa chừng Joachim đã buột miệng rằng anh tin chắc mình bị sốt cảm lạnh, và không rõ giờ phải xử sự ra sao, vì ở đây cảm lạnh vốn không được _reçu_. Hai đấu sĩ bỏ qua chuyện ấy, nhưng Hans Castorp, như chúng tôi đã cho thấy, luôn đưa mắt lo ngại nhìn người anh em họ, nên đứng dậy cùng anh, ngay giữa một lời đối đáp, mặc cho số phận quyết định xem phần công chúng còn lại, gồm Ferge và Wehsal, có phát ra được một động lực sư phạm đủ mức để cuộc đua tranh tiếp tục hay không.

Dọc đường chàng thống nhất với Joachim rằng, trong việc cơn cảm và chứng đau họng của anh, tốt hơn hết là cứ theo đường công vụ, tức là nhờ người coi phòng tắm báo cho bà giám viện, rồi hẳn sẽ có gì đó được làm cho người bệnh. Làm vậy quả là phải lẽ. Ngay tối hôm ấy, vừa sau bữa ăn chiều, Adriatica gõ cửa phòng Joachim, đúng lúc Hans Castorp đang ở đó với anh, và the thé hỏi thăm những mong muốn cùng lời than phiền của viên sĩ quan trẻ. “Đau họng? Khàn tiếng?” bà ta nhắc lại. “Chà, cậu làm những trò nhảy nhót gì thế?” Rồi bà thử nhìn xoáy vào mắt anh, mà việc cái nhìn của họ không thể nghỉ yên trong nhau không phải lỗi ở Joachim: chính mắt bà ta mới là thứ lảng đi nơi khác. Cứ thế bà vẫn luôn thử lại mãi, trong khi kinh nghiệm đã cho thấy rõ rằng lần này việc ấy nào có được ban cho bà khả năng thực hiện! Với sự trợ giúp của một thứ thìa xỏ giày bằng kim loại rút từ chiếc túi đeo ở thắt lưng, bà soi vào cổ họng bệnh nhân, còn Hans Castorp phải cầm đèn trên tủ đầu giường mà rọi. Trong khi đứng nhón chân, dòm quanh chỗ lưỡi gà của Joachim, bà nói:

“Nói tôi nghe nào, cậu người đáng kính, cậu đã từng bị sặc bao giờ chưa?”

Biết trả lời sao đây! Ngay lúc ấy, chừng nào bà còn đang ngó nghiêng, thì tuyệt nhiên không thể hé miệng đáp được; mà cả sau khi bà đã buông anh ra, vẫn khó bề tìm được câu trả lời thích đáng. Dĩ nhiên trong đời anh cũng đã đôi ba lần bị sặc, khi ăn khi uống; nhưng đó là số phận con người, và hẳn không thể là điều bà muốn nói trong câu hỏi của mình. Anh bèn bảo: sao lại thế? Anh không nhớ lần gần đây nhất.

Ừ, thôi được; chẳng qua đó chỉ là một ý chợt nảy ra nơi bà thôi. Vậy là anh bị cảm lạnh, bà nói, làm hai anh em họ ngạc nhiên, bởi lẽ trong nhà này xưa nay chữ cảm lạnh vốn vẫn bị kiêng kỵ. Muốn xem xét cổ họng kỹ hơn, nếu cần, sẽ phải dùng đến chiếc gương thanh quản của Hofrat. Lúc ra về bà để lại Formamint, cùng một dải băng quấn với miếng gutta-percha để làm chườm ẩm ban đêm, và Joachim dùng cả hai thứ, lại còn cho rằng nhờ những cách ấy mình thấy nhẹ nhõm rõ rệt, vì thế tiếp tục dùng, nhất là khi chứng khàn tiếng của anh chẳng chịu dịu đi, mà trong mấy ngày sau còn nặng thêm, mặc dù cơn đau họng đôi khi gần như biến mất hẳn.

Tuy nhiên, cơn sốt cảm của anh chỉ là tưởng tượng thuần túy. Kết quả khách quan vẫn là tình trạng thường lệ, chính cái tình trạng, cùng với những kết quả thăm khám của Hofrat, đã giữ Joachim, người hết lòng vì danh dự, lại đây để điều dưỡng thêm đôi chút, trước khi anh có thể lại vội vã về với quân kỳ. Hạn tháng Mười trôi qua im ắng, không kèn không trống. Không ai mất một lời về việc ấy, cả Hofrat lẫn hai anh em họ với nhau: lặng lẽ và mắt cúi xuống, họ bỏ qua nó. Theo những gì Behrens đã đọc cho viên phụ tá thông hiểu tâm tính ghi lại trong buổi khám tháng, cùng những gì tấm bản chụp cho thấy, thì quá rõ ràng rằng cùng lắm chỉ có thể nói tới một cuộc ra đi liều lĩnh; trong khi lần này điều phải làm là ở trên này kiên trì thực hiện bổn phận với một sự tự chế bằng sắt, cho tới khi có được sức chịu đựng thời tiết một cách dứt khoát để phục vụ ở miền đồng bằng, để hoàn thành lời thề dưới kia.

Đó là khẩu hiệu đang có hiệu lực, và người ta ngầm giả vờ rằng mình đồng lòng về khẩu hiệu ấy. Nhưng sự thật là người này đối với người kia đều không hoàn toàn chắc chắn liệu tận đáy lòng đối phương có tin vào khẩu hiệu ấy hay không; và nếu họ hạ mắt xuống trước nhau, thì chính là vì mối hồ nghi đó, mà cũng không phải không có chuyện trước đó đôi mắt họ đã _gặp_ nhau. Điều ấy, từ sau cuộc đàm luận về văn chương nọ, đã xảy ra thường xuyên hơn, cuộc đàm luận trong đó lần đầu tiên Hans Castorp nhận thấy ánh sáng mới lạ nơi đáy mắt Joachim, cùng vẻ biểu lộ kỳ dị, như thể “đe dọa”, trong đó. Đặc biệt có một lần ở bàn ăn: khi Joachim khàn giọng bỗng dưng bị sặc rất dữ, đến nỗi một lúc lâu hầu như không thở lại được. Khi ấy, trong lúc Joachim vừa thở hổn hển sau chiếc khăn ăn, còn Frau Magnus, người ngồi cạnh anh, theo một lối xử trí cũ mà vỗ vào lưng anh, thì mắt họ gặp nhau theo một cách khiến Hans Castorp rúng động vì kinh hãi còn hơn cả bản thân tai nạn, một tai nạn dĩ nhiên ai cũng có thể gặp; rồi Joachim nhắm mắt lại và, che mặt bằng chiếc khăn ăn, rời bàn cùng phòng ăn để ra ngoài ho khan cho thông.

Mỉm cười, tuy vẫn còn hơi nhợt, mười phút sau anh trở vào, trên môi sẵn một lời xin lỗi vì sự xáo trộn đã gây ra, rồi lại dự phần như trước vào bữa ăn quá ư thịnh soạn; và về sau người ta thậm chí quên cả việc nhắc lại sự cố tầm thường ấy bằng một lời bình luận. Nhưng mấy ngày sau, lần này không phải trong bữa ăn chiều mà ở bữa điểm tâm thịnh soạn dùng nĩa, chuyện cũ lại xảy ra, dẫu rằng lần này đôi mắt không chạm nhau, ít nhất là mắt của hai anh em họ thì không, vì Hans Castorp cúi trên đĩa, bề ngoài như lơ đãng mà vẫn tiếp tục ăn, thì sau khi dọn bàn xong người ta cũng vẫn phải nói với nhau đôi lời về việc ấy, và Joachim mắng cái mụ đàn bà chết tiệt Mylendonk, con người đã, bằng câu hỏi đột ngột của mình, khiến anh bị gieo một con bọ vào tai, nhồi nhét gì đó vào đầu anh và bỏ bùa anh, quỷ tha bà ta đi. Vâng, hiển nhiên là sự ám thị, Hans Castorp nói, một điều thú vị để nhận ra dù nó khó chịu thế nào chăng nữa. Và Joachim, một khi sự việc đã được gọi đúng tên, từ đó chống trả bùa phép một cách hữu hiệu, cẩn thận khi ăn và không còn bị sặc thường hơn những người rốt cuộc chẳng bị bỏ bùa là mấy: mãi chín hay mười ngày sau mới lại một lần nữa, mà về điều ấy thì không còn gì thêm để nói.

Tuy nhiên, anh được triệu đến Rhadamanthys trái phiên và ngoài lịch. Bà giám viện đã báo cáo anh, và có lẽ bà làm thế cũng không hề ngốc; vì đã có sẵn một chiếc gương thanh quản trong nhà, nên chứng khàn tiếng dai dẳng này, có lúc kéo dài hàng giờ đến mức gần như mất tiếng thật sự, cùng với cơn đau họng kia, thứ cứ hễ Joachim lơ là không giữ cho cổ họng mềm đi bằng những thứ kích thích tiết nước bọt là lại tái phát, xem ra đã là một lý do đủ để lôi cái dụng cụ được nghĩ ra rất khôn khéo ấy ra khỏi tủ một lần, chưa kể việc nếu bây giờ Joachim chỉ còn bị sặc với sự hiếm hoi bình thường, thì ấy cũng chỉ là nhờ sự cẩn trọng lớn lao anh dành cho việc ăn uống, và chính điều đó hầu như đều đặn khiến anh tụt lại sau người khác trong các bữa ăn.

Thế là Hofrat soi gương, phản chiếu và nheo mắt nhìn thật sâu, thật lâu xuống họng Joachim, sau đó bệnh nhân, theo lời yêu cầu riêng của Hans Castorp, lập tức sang lôgia ban công của chàng để báo lại. Anh nói nửa như thì thầm, vì đúng vào giờ liệu pháp nằm nghỉ chính và lệnh im lặng đang ngự trị, rằng việc ấy khá là phiền toái và nhột nhạt, và rốt cuộc Behrens đã lải nhải đủ điều về một tình trạng kích ứng, rồi nói rằng hằng ngày phải bôi quét, ngay mai ông sẽ bắt đầu chấm thuốc ăn, chỉ cần trước hết chuẩn bị thuốc đã. Vậy là tình trạng kích ứng và những lần chấm thuốc ăn. Hans Castorp, đầu óc đầy những mối liên hệ ý nghĩ chạy rất xa và vươn tới những con người hoàn toàn cách biệt, như gã concierge tập tễnh và người đàn bà suốt cả tuần vẫn ôm tai mà dầu vậy vẫn có thể hoàn toàn yên lòng, còn có câu hỏi trên môi, nhưng không thốt ra được, nên quyết định sẽ trình chúng với Hofrat khi chỉ còn bốn mắt, và trước Joachim thì chỉ bày tỏ sự hài lòng rằng cái điều bực mình ấy giờ đã nằm dưới sự kiểm soát và Hofrat đã cầm việc trong tay. Ông ấy là một tay cừ và hẳn sẽ xoay ra phương cứu chữa thôi. Joachim bèn gật đầu, không nhìn người kia, quay đi và sang lôgia của mình.

Joachim, con người yêu danh dự ấy, rốt cuộc bị làm sao? Trong mấy ngày gần đây mắt anh đã trở nên bất định và rụt rè đến thế. Mới cách đây không lâu bà giám viện Mylendonk còn thất bại với nỗ lực đâm xuyên vào cái nhìn dịu hiền và đen sẫm của anh; nhưng nếu giờ bà còn thử vận thêm một lần nữa, thì thật không ai còn dám chắc sự việc sẽ diễn ra ra sao. Dù sao, anh tránh những cuộc chạm trán như thế, và nếu chúng dẫu vậy vẫn xảy ra, bởi Hans Castorp nhìn anh rất nhiều, thì người ta cũng chẳng thấy dễ chịu hơn gì. U uất, Hans Castorp ngồi lại trong khoang của mình, bị một cơn cám dỗ thôi thúc là phải lập tức gạn hỏi vị thủ trưởng cho ra lẽ. Nhưng làm thế không tiện, vì Joachim hẳn sẽ nghe thấy chàng đứng dậy; bởi vậy đành phải hoãn lại và chặn Behrens trong buổi chiều.

Nhưng điều đó không sao làm nổi. Thật lạ lùng! Tuyệt đối không thể nào tóm được vị cố vấn cung đình, không những tối hôm ấy mà suốt cả hai ngày sau cũng vậy. Dĩ nhiên Joachim có phần gây trở ngại, vì không được để chàng nhận ra điều gì, nhưng thế vẫn chưa đủ để giải thích tại sao không thể xin được cuộc nói chuyện ấy và không cách nào giữ cho kỳ được Radamanth. Hans Castorp đi tìm và hỏi thăm ông khắp tòa nhà, bị chỉ từ chỗ này sang chỗ nọ, nơi chắc chắn sẽ gặp ông, rồi rốt cuộc lại không còn thấy ông ở đó nữa. Trong một bữa ăn Behrens có mặt, nhưng ngồi xa tít, ở bàn người Nga xấu, và biến mất trước món tráng miệng. Mấy lần Hans Castorp tưởng đã nắm được ông ngay nơi cúc áo; chàng thấy ông đứng trên cầu thang và ngoài hành lang trò chuyện với Krokowski, với bà quản viện, với một bệnh nhân, bèn phục sẵn. Nhưng chỉ vừa ngoảnh mắt đi một thoáng, Behrens đã biến đâu mất.

Mãi đến ngày thứ tư chàng mới đạt được mục đích. Từ ban công mình chàng thấy kẻ bị săn đuổi đang ở ngoài vườn chỉ dẫn cho người làm vườn, liền vội chui ra khỏi tấm chăn và lao xuống. Vị cố vấn cung đình vừa lúc đang sải bước, cái gáy tròn lẳn đung đưa, về phía căn hộ mình. Hans Castorp chạy lúp xúp, thậm chí còn liều gọi với theo, nhưng không được đáp lại. Rốt cuộc, tới nơi thở hổn hển, chàng cũng làm cho người ấy phải dừng lại.

“Ông xuống đây làm gì!” vị cố vấn cung đình quát chàng, hai mắt lồi ra. “Tôi có nên cho người đưa riêng cho ông một bản nội quy nữa không? Theo chỗ tôi biết thì đang là giờ liệu pháp nằm nghỉ. Đồ biểu nhiệt và tấm phim của ông chẳng cho ông cái quyền đặc biệt nào để đóng vai nam tước cả. Phải cho dựng đâu đây một con bù nhìn trời đánh, dọa xiên những kẻ từ hai đến bốn giờ ra vườn phóng đãng mới được! Rốt cuộc ông muốn gì?”

“Thưa ngài cố vấn cung đình, tôi nhất định phải nói với ngài một lát!”

“Tôi biết chứ, ông đã tự nhủ với mình điều ấy từ lâu rồi. Ông rình tôi cứ như thể tôi là đàn bà, hay là một thứ đối tượng khoái lạc ghê gớm lắm vậy. Ông muốn gì ở tôi?”

“Chỉ vì người anh em họ của tôi thôi, thưa ngài cố vấn cung đình, xin ngài thứ lỗi! Bây giờ anh ấy được quét thuốc... Tôi tin chắc như thế là sự việc đã đi đúng đường. Có phải chuyện ấy chỉ là vô hại thôi không, xin phép cho tôi được hỏi vậy?”

“Ông lúc nào cũng muốn mọi sự đều vô hại, Castorp, ông là thế đấy. Ông cũng chẳng đến nỗi phản đối chuyện một lần nào đó dính vào những điều không vô hại, nhưng rồi ông lại đối đãi với chúng như thể chúng vô hại, và bằng thế ông tưởng mình làm vừa lòng Chúa lẫn người đời. Ông là một hạng hèn nhát và lòn cúi, anh bạn ạ, và nếu người anh em họ của ông gọi ông là dân sự, thì đó vẫn còn là cách nói hết sức uyển ngữ.”

“Có thể tất cả đều đúng, thưa ngài cố vấn cung đình. Dĩ nhiên, những nhược điểm trong tính cách tôi thì khỏi phải bàn. Nhưng chính vì lúc này có lẽ chúng chưa phải điều cần bàn tới, và điều tôi muốn thưa với ngài suốt ba ngày nay chỉ là...”

“Rằng tôi sẽ rót cho ông thứ rượu vang pha đường pha loãng, ngọt ngào dễ uống ấy! Ông muốn quấy rầy và làm chán tôi để tôi củng cố ông trong cái thói lòn cúi khốn kiếp của ông, và để ông có thể ngủ trong trắng vô tội, trong khi những người khác thức trắng và để mặc gió tạt vào mặt.”

“Nhưng, thưa ngài cố vấn cung đình, ngài thật nghiêm với tôi quá. Trái lại, tôi muốn...”

“Vâng, nghiêm khắc, đó lại chính là điều chẳng dính dáng gì đến ông. Ở đây người anh em họ của ông là một tay khác hẳn, thứ gỗ khác, hạt lúa khác. Cậu ấy biết sự tình. Cậu ấy _âm thầm_ biết sự tình, ông hiểu tôi chứ? Cậu ấy không bám lấy vạt áo người ta để bắt người ta phả cho mình khói xanh và sự vô hại. Cậu ấy biết mình làm gì và đặt cược điều gì vào đó, và là một đấng nam nhi biết giữ tư thế và biết ngậm miệng, mà đó là một nghệ thuật nam tính, tiếc thay không phải việc của một thứ tiện nghi hai chân như ông. Nhưng tôi nói cho ông biết, Castorp, nếu ông làm ầm lên ở đây, gào thét om sòm và phó mặc mình cho những cảm tình dân sự của ông, thì tôi sẽ tống ông ra ngoài trời. Vì ở đây người ta muốn là đàn ông với nhau, ông hiểu tôi chứ.”

Hans Castorp im lặng. Giờ đây mỗi khi đổi sắc mặt chàng cũng nổi loang lổ. Chàng quá đỏ màu đồng để có thể tái nhợt hẳn đi. Sau cùng chàng nói, môi giật giật:

“Xin đa tạ, thưa ngài cố vấn cung đình. Giờ thì hẳn tôi cũng biết sự tình rồi, vì tôi cho rằng ngài đã chẳng nói với tôi theo cái cách, phải nói sao nhỉ, trọng thể đến thế, nếu chuyện Joachim không nghiêm trọng. Tôi cũng hoàn toàn không phải hạng thích làm ầm và gào thét, ngài đã xử oan cho tôi ở điểm ấy. Và nếu như điều cần là sự kín đáo, thì tôi cũng đủ bản lĩnh như một người đàn ông, tôi tin mình có thể nói như thế.”

“Ông quý người anh em họ ấy lắm phải không, Hans Castorp?” vị cố vấn cung đình hỏi, đột ngột nắm lấy tay chàng thanh niên và nhìn chàng từ phía dưới lên bằng đôi mắt xanh, hàng mi trắng nhợt, đỏ ngầu và lồi ra của mình...

“Biết nói sao đây, thưa ngài cố vấn cung đình. Một người họ hàng gần gũi đến thế, lại là bạn tốt và bạn đồng hành của tôi trên này.” Hans Castorp nấc lên một tiếng ngắn, rồi nhón một chân lên đầu mũi, xoay gót ra ngoài.

Vị cố vấn cung đình vội buông tay chàng ra.

“Thế thì ông hãy tử tế với cậu ấy trong sáu, tám tuần này,” ông nói. “Cứ phó mình cho cái tính vô hại bẩm sinh của ông đi, đó sẽ là điều cậu ấy thích nhất. Tôi cũng vẫn còn đây, và là để sắp đặt mọi việc theo lối quân tử và dễ chịu nhất có thể.”

“_Larynx_, phải không?” Hans Castorp nói, gật đầu với vị cố vấn cung đình.

“_Laryngea_,” Behrens xác nhận. “Sự tàn phá tiến triển nhanh. Cả niêm mạc khí quản trông cũng đã xấu lắm rồi. Có thể những tiếng quát lệnh khi tại ngũ đã tạo nên ở đó một _locus minoris resistentiae_. Nhưng những chuyển ngả kiểu ấy thì đằng nào ta cũng luôn phải tính đến. Ít hy vọng lắm, cậu bé ạ; thực ra có lẽ là chẳng còn hy vọng nào. Dĩ nhiên mọi cách hữu hiệu, dù đắt đỏ, đều sẽ được thử.”

“Mẹ anh ấy...,” Hans Castorp nói.

“Sau này, sau này. Cũng chưa vội. Ông hãy liệu bằng sự khéo léo và chừng mực sao cho bà cụ dần dần nắm được tình hình. Giờ thì cút về vị trí của ông đi. Cậu ấy nhận ra đấy. Mà hẳn là cậu ấy cũng thấy khó chịu khi biết người ta bàn về mình sau lưng như thế.”

– Hằng ngày Joachim đi quét thuốc. Đó là một mùa thu đẹp, trong chiếc quần flannel trắng với áo khoác xanh, chàng thường từ chỗ điều trị về bàn ăn muộn, tươm tất và đúng dáng nhà binh, chào mọi người ngắn gọn, trong đó gộp cả niềm nở lẫn nam tính, đồng thời xin lỗi vì đến chậm, rồi ngồi xuống trước phần ăn của mình, phần ăn giờ được chuẩn bị riêng cho chàng, vì với thức ăn thông thường, do nguy cơ sặc, chàng không theo nổi: chàng được dùng súp, món băm hầm và cháo nhuyễn. Chẳng mấy chốc những người cùng bàn đã hiểu ra tình thế. Họ đáp lại lời chào của chàng bằng một vẻ lịch thiệp và nồng hậu đặc biệt nhấn mạnh, gọi chàng là “Herr Leutnant”. Khi chàng vắng mặt họ hỏi Hans Castorp, và từ những bàn khác người ta cũng đến hỏi chàng. Frau Stöhr bước tới, hai tay xoắn vào nhau, than van một cách thiếu giáo dưỡng. Nhưng Hans Castorp chỉ đáp cộc lốc, thừa nhận mức nghiêm trọng của biến cố, song vẫn phủ nhận bớt đi phần nào, làm thế vì danh dự, vì cảm thấy chưa được phép coi Joachim như đã mất quá sớm.

Họ đi dạo cùng nhau, ngày ba lần thực hiện cuộc dạo bước theo quy định mà vị cố vấn cung đình lúc này đã hạn định cho Joachim hết sức chặt chẽ, để tránh tiêu hao sức lực vô ích. Hans Castorp đi bên trái người anh em họ của mình, trước kia họ đi thế này hay thế khác tùy lúc, nhưng giờ Hans Castorp phần nhiều giữ bên trái. Họ không nói nhiều, chỉ nói những lời mà một ngày bình thường ở Berghof đặt lên môi họ, ngoài ra không gì nữa. Về cái chủ đề đứng giữa hai người, thì chẳng có gì để nói, nhất là giữa những con người khắt khe lễ độ, những kẻ chỉ trong trường hợp cùng cực mới gọi nhau bằng tên riêng. Tuy nhiên, đôi khi nó vẫn dâng lên bức bách và cuồn cuộn trong lồng ngực dân sự của Hans Castorp, chực trào ra. Nhưng không thể được. Điều vừa sưng phồng lên đầy đau đớn và bão bùng lại lắng xuống, và chàng im bặt.

Joachim đi bên chàng, đầu cúi gằm. Chàng nhìn xuống đất như thể đang ngắm nghía mặt đất. Thật lạ lùng biết bao: chàng đi trên này, tươm tất và chỉnh tề, chào những người đi ngang qua bằng cái kiểu hiệp sĩ của mình, giữ gìn bề ngoài và _bienséance_ như mọi khi, vậy mà lại thuộc về đất. Thì vâng, sớm muộn gì tất cả chúng ta chẳng thuộc về đất. Nhưng thuộc về đất nhanh đến thế, khi còn trẻ như thế và với ý chí vui tươi, tốt lành muốn phục vụ dưới lá cờ, thì thật cay đắng: đối với Hans Castorp đang biết mà bước bên cạnh còn cay đắng và khó hiểu hơn đối với chính con người đã thuộc về đất ấy, cái kẻ mà hiểu biết kín đáo, đàng hoàng kia xét cho cùng mang tính học thuật khá nhiều, đối với chàng ít có tính hiện thực, và căn bản ít là việc của bản thân chàng hơn là việc của người khác. Thật vậy, cái chết của chúng ta phần nhiều là công việc của những người còn sống hơn là của chính ta; bởi vì, chúng ta có biết trưng câu ấy ra hay không thì mặc, lời của bậc hiền triết hóm hỉnh kia dẫu sao vẫn mang đầy đủ giá trị tâm linh: rằng chừng nào ta còn tồn tại thì cái chết chưa hiện hữu, và khi cái chết hiện hữu thì ta không còn hiện hữu; rằng giữa chúng ta và cái chết hoàn toàn không có một quan hệ hiện thực nào cả và nó là một sự vật chẳng dính dáng gì tới ta, cùng lắm chỉ dính dáng tới thế giới và tự nhiên, bởi thế mà mọi sinh linh đều đón nhìn nó với một sự bình thản lớn lao, một sự thờ ơ, vô trách nhiệm và vô tội vị kỷ. Hans Castorp thấy khá nhiều sự vô tội và vô trách nhiệm ấy trong bản tính Joachim trong suốt những tuần này, và hiểu rằng Joachim tuy biết đấy, nhưng vì những mối liên hệ nội tâm của chàng với điều ấy chỉ lỏng lẻo và mang tính lý thuyết, hoặc, chừng nào chúng còn có giá trị thực hành, thì đã được một cảm thức lành mạnh về lễ nghi điều chỉnh và quy định, cảm thức không cho phép bàn tới cái tri thức nọ cũng chẳng hơn gì bao sự khiếm nhã chức năng khác mà đời sống ý thức về chúng và do chúng mà bị quy định, song chúng cũng không ngăn nó giữ được _bienséance_.

Thế là họ đi như vậy, và im lặng về những chuyện thuộc tự nhiên nhưng không xứng với đời sống. Ngay cả những lời than phiền trước kia của Joachim, vốn được thốt ra đầy xúc động và giận dữ về việc lỡ cuộc diễn tập, lỡ cả việc phục vụ quân ngũ ở miền đồng bằng nói chung, cũng đã im đi. Nhưng tại sao thay vào đó, và bất chấp tất cả sự vô tội kia, trong đôi mắt hiền lành của chàng lại thường xuyên trở về nét e dè ảm đạm ấy, cái vẻ bất an mà bà quản viện, nếu còn thử thêm một lần nữa, hẳn có lẽ đã giành được phần thắng? Có phải vì chàng biết mắt mình lồi và má mình hõm? Quả vậy, trong những tuần ấy trông chàng ngày một như thế hơn, còn hơn cả lúc mới từ miền đồng bằng trở về, và nước da nâu trên mặt chàng mỗi ngày một ngả sang thứ vàng sạm như da thuộc. Cứ như thể một hoàn cảnh nào đó đã cho chàng lý do để xấu hổ và tự khinh mình, trong khi Herr Albin lại chẳng nghĩ đến gì ngoài việc tận hưởng những lợi thế vô biên của sự ô nhục. Vậy thì cái nhìn xưa kia cởi mở biết bao của chàng rụt lại và ẩn mình trước cái gì, trước ai? Kỳ lạ thay, nỗi hổ thẹn sinh tồn của tạo vật lẻn vào chỗ ẩn nấp để tàn lụi, tin chắc rằng ngoài kia trong thiên nhiên nó không thể mong đợi một chút kính trọng hay thương xót nào đối với nỗi đau đớn và cái chết của mình, và tin như thế là phải, bởi bầy chim tung cánh hân hoan kia chẳng những không tôn vinh người bạn bệnh tật, mà còn trút lên nó những cú mổ đầy giận dữ và khinh miệt. Nhưng đó là thiên nhiên phàm tục, còn trong lồng ngực Hans Castorp lại dâng lên một niềm thương xót yêu mến rất đỗi con người mỗi khi chàng thấy nỗi hổ thẹn bản năng tối tăm ấy trong mắt Joachim tội nghiệp. Chàng đi bên trái Joachim, cố ý như vậy; và vì giờ Joachim đi đứng cũng đã có phần không vững, nên mỗi khi phải trèo một sườn cỏ nhỏ, chàng lại đỡ, thắng vượt sự khắt khe lễ độ, vòng tay qua người Joachim, vả lại còn quên mất một lúc chưa bỏ tay khỏi vai Joachim ra, cho đến khi Joachim hơi bực bội gạt chàng ra và nói:

“Này cậu, thế là sao. Trông chúng ta đi như thế này cứ như say rượu ấy.”

Nhưng rồi có một khoảnh khắc mà sự mờ đục trong ánh mắt Joachim hiện ra dưới một ánh sáng khác đối với chàng Hans Castorp trẻ tuổi, và đó là khi Joachim đã nhận lệnh phải giữ giường, vào đầu tháng Mười Một, tuyết đã đọng dày. Bấy giờ đối với chàng, ngay cả việc nuốt mấy món băm hầm và cháo nhuyễn cũng đã trở nên quá khó, vì cứ hai miếng thì có một miếng đi lạc vào khí quản. Việc chuyển sang hoàn toàn thức ăn lỏng là điều được chỉ định, đồng thời Behrens cũng kê cho chàng chế độ nằm liệt giường thường trực để tiết kiệm sức lực. Vậy là vào đêm trước khi Joachim phải nằm liệt giường vĩnh viễn, vào tối cuối cùng chàng còn đi lại trên chân mình, Hans đã bắt gặp chàng, bắt gặp chàng đang trò chuyện với Marusja, Marusja cười lắm vô cớ với chiếc khăn cam và bầu ngực bề ngoài nở nang cân đối. Chuyện đó xảy ra sau bữa tối, trong buổi giao tế ban tối, ở đại sảnh. Hans Castorp vừa ở phòng nhạc bước ra để xem Joachim thế nào: và chàng thấy Joachim đứng trước lò sưởi gạch men bên cạnh ghế của Marusja, nàng ngồi trên một chiếc ghế bập bênh, còn Joachim dùng tay trái giữ cho ghế ngả ra sau ở phần lưng, đến nỗi Marusja từ tư thế ngả người, với đôi mắt tròn nâu của mình, ngước nhìn lên mặt chàng, gương mặt mà chàng cúi xuống gần mặt nàng, vừa nói khẽ vừa đứt quãng, trong khi nàng thỉnh thoảng mỉm cười và nhún vai với vẻ kích động pha khinh khỉnh.

Hans Castorp vội lùi lại, không phải là không nhận ra rằng vài thành viên khác trong đám khách cũng đang, như vẫn thường thế, nhìn cảnh ấy bằng con mắt thích thú, Joachim không hề hay biết, hoặc có hay mà không bận tâm. Cảnh tượng ấy: Joachim, hết mình một cách bất chấp trong cuộc chuyện trò với Marusja ngực nở, người đã ngồi cùng một bàn với chàng suốt bao lâu mà chàng chưa từng trao với nàng một lời nào; người mà trước nhân thân và sự hiện hữu của nàng chàng đã, với vẻ nghiêm ngặt, đứng đắn và yêu danh dự, hạ thấp mắt xuống, mặc dù chàng tái đi từng mảng mỗi khi người ta nhắc đến nàng, đã làm Hans Castorp chấn động hơn bất cứ dấu hiệu suy kiệt nào khác mà trong những tuần ấy chàng từng nhận thấy nơi người anh em họ tội nghiệp của mình. “Phải, anh ấy kể như xong rồi!” chàng nghĩ, và lặng lẽ ngồi xuống một chiếc ghế trong phòng nhạc để cho Joachim thời gian hưởng lấy điều mà tối cuối cùng ấy, ngoài đại sảnh kia, chàng còn tự cho phép mình.

Từ đó Joachim thường trực ở tư thế nằm ngang, và Hans Castorp viết thư báo tin ấy cho Luise Ziemßen, viết cho bà trên chiếc ghế nằm tuyệt hảo của mình rằng nay chàng còn phải thêm vào những thông báo lẻ tẻ trước đây của chàng việc Joachim đã phải nằm liệt giường, và rằng tuy Joachim không nói gì, nhưng ước muốn được có mẹ ở bên mình có thể đọc thấy trong mắt chàng, và rằng Hofrat Behrens cũng rõ ràng tán thành cái ước muốn không thốt ra ấy. Điều đó nữa chàng thêm vào vừa dịu dàng vừa rành rẽ. Và vì thế chẳng có gì lạ khi Frau Ziemßen sử dụng những phương tiện giao thông nhanh nhất để đến bên con trai mình: chỉ ba ngày sau khi bức thư báo động đầy tình người ấy được gửi đi, bà đã tới nơi, và Hans Castorp đón bà bằng xe trượt tuyết tại ga “Dorf” giữa cơn tuyết bay mù mịt, đứng trên sân ga, trước khi con tàu nhỏ vào bến, sửa lại nét mặt mình sao cho đừng làm người mẹ quá hoảng sợ ngay tức khắc, nhưng cũng để bà không đọc thấy trong cái nhìn đầu tiên ở đó điều gì sai lạc, vui tươi.

Không biết những cuộc đón chào như thế này ở đây đã từng diễn ra bao nhiêu lần rồi, bao nhiêu lần cái cảnh lao vội về phía nhau ấy, dưới ánh mắt dò hỏi khẩn thiết và âu lo của người vừa bước xuống tàu hướng vào mắt người ra đón mình! Frau Ziemßen gây ấn tượng như thể bà đã đi bộ từ Hamburg lên tận đây. Mặt nóng bừng, bà kéo tay Hans Castorp áp vào ngực mình, rồi, như e dè đưa mắt nhìn quanh, đặt những câu hỏi dồn dập và gần như kín đáo, mà chàng tránh né bằng cách cảm ơn bà đã đến mau như thế, thật là tuyệt biết bao, Joachim hẳn sẽ vui mừng xiết mấy. Vâng, tiếc là lúc này cậu ấy đang phải nằm, là vì chế độ ăn lỏng, mà dĩ nhiên điều đó đâu phải không ảnh hưởng đến thể lực. Nhưng nếu cần thì vẫn còn lắm cách khác, chẳng hạn nuôi ăn nhân tạo. Vả lại, chính bà rồi sẽ tự mình thấy thôi.

Bà đã thấy; và đứng bên bà, Hans Castorp cũng thấy. Cho đến khoảnh khắc ấy, những biến đổi đã diễn ra nơi Joachim trong mấy tuần gần đây đối với chàng thật ra vẫn chưa lấy gì làm rõ rệt, tuổi trẻ vốn chẳng có mấy con mắt cho những chuyện như thế. Nhưng giờ đây, bên cạnh người mẹ từ dưới kia lên, chàng nhìn Joachim như thể bằng chính đôi mắt của bà, như thể đã lâu không gặp, và nhận ra một cách rành rọt, minh bạch điều mà hẳn bà cũng nhận ra, và chắc chắn hơn hết cả ba người, chính Joachim tự biết lấy, ấy là cậu đã là một Moribundus. Cậu cầm tay Frau Ziemßen trong tay mình, bàn tay vàng vọt và gầy quắt hệt như gương mặt cậu; bởi sự gầy mòn ấy, đôi tai, nỗi phiền muộn nhẹ của những năm tháng tươi đẹp nơi cậu, vểnh ra hơn trước và đến một mức méo dạng đáng thương; nhưng ngoài khuyết điểm ấy ra, gương mặt ấy, bất chấp dấu ấn của khổ đau cùng vẻ nghiêm nghị, khắt khe, thậm chí kiêu hãnh mà nó mang, dường như còn được vẻ nam tính làm cho đẹp thêm, mặc dầu đôi môi, với chòm ria đen phía trên, lúc này nom quá đỗi đầy đặn so với hai hõm má sẫm bóng. Hai nếp nhăn đã hằn xuống làn da vàng nhạt trên trán giữa hai mắt, mà tuy nằm sâu trong những hốc xương, vẫn đẹp hơn, lớn hơn bao giờ hết, khiến Hans Castorp có thể lấy đó mà vui. Bởi mọi xao động, vẩn đục và bất định đã biến khỏi đôi mắt ấy từ khi Joachim phải nằm, và trong chiều sâu trầm lặng, tối sẫm của chúng, chỉ còn thấy ánh sáng nọ mà chàng đã nhận ra từ sớm, và dĩ nhiên cả cái “đe dọa” kia nữa. Cậu không mỉm cười trong khi nắm tay mẹ và thì thầm chào bà, chào mừng bà. Ngay lúc bà bước vào, cậu cũng không mỉm cười lấy một khắc; và chính sự bất động, bất biến của nét mặt ấy đã nói lên tất cả.

Luise Ziemßen là một người đàn bà can trường. Bà không tan ra trong nỗi thảm sầu khi nhìn thấy đứa con trai tốt lành của mình. Điềm tĩnh và tự chủ đúng như mái tóc được giữ gọn bởi tấm lưới voan nhỏ bé hầu như không trông thấy kia, vừa đờm tĩnh vừa quả quyết, như người ta vốn vẫn thế ở xứ bà, bà nắm lấy việc săn sóc Joachim; chính cảnh tượng của cậu lại càng kích thích ở bà một tinh thần chiến đấu của người mẹ và làm bà đầy ắp niềm tin rằng, nếu còn gì có thể cứu vãn, thì chỉ sức lực và sự tỉnh táo của bà mới cứu nổi. Chắc chắn không phải vì sự tiện thân của mình, mà chỉ vì ý thức về điều gì xứng đáng và tươm tất, mà mấy ngày sau bà mới bằng lòng cho mời thêm một nữ y tá đến với người bệnh nặng. Đó là Schwester Berta, tên thật là Alfreda Schildknecht, xuất hiện bên giường Joachim với chiếc va-li tay màu đen; nhưng cả ngày lẫn đêm, nghị lực đầy cảnh giác và có phần ghen giữ của Frau Ziemßen cũng chẳng để cho chị ta phải làm mấy việc, thành thử Schwester Berta có thừa thì giờ đứng ngoài hành lang, dây kính kẹp vắt sau tai, tò mò dòm ngó.

Nữ trợ tế Tin Lành ấy là một tâm hồn khô ráo. Khi ở một mình trong phòng với Hans Castorp và người bệnh, mà người bệnh tuyệt nhiên không ngủ, trái lại đang mở mắt nằm ngửa, chị ta vẫn có thể nói:

“Tôi cũng chẳng bao giờ ngờ rằng rồi mình lại còn phải chăm cho đến chết một trong các ông đây nữa.”

Hans Castorp hốt hoảng giơ nắm đấm về phía chị ta với vẻ mặt dữ dằn, nhưng chị ta hầu như chẳng hiểu chàng muốn gì, rất xa lạ, và đúng là có lý, với ý nghĩ rằng có lẽ nên giữ gìn Joachim, lại quá đỗi thiên về thực tế để mà cân nhắc rằng có ai đó, mà nhất là người trong cuộc gần gụi nhất, lại có thể tự dối mình về bản chất và kết cục của trường hợp này. “Nào,” chị ta nói, vừa rót nước hoa Köln lên chiếc khăn tay rồi đưa cho Joachim ngửi, “ông lại hưởng thêm chút nữa đi, Herr Leutnant!” Quả thật, vào thời kỳ ấy, mà đánh lừa Joachim tốt bụng bằng cách nói trắng thành đen thì chẳng có bao nhiêu là hợp lẽ, trừ phi vì mục đích tác động tăng lực, như Frau Ziemßen vẫn nghĩ khi bà dùng giọng mạnh mẽ, xúc động mà nói với cậu về sự bình phục. Bởi có hai điều rõ ràng, không thể không nhận ra: thứ nhất, Joachim đang đi về phía cái chết với ý thức hoàn toàn sáng suốt; và thứ hai, cậu làm điều đó trong sự hòa hợp và bằng lòng với chính mình. Chỉ đến tuần cuối cùng, vào cuối tháng Mười Một, khi chứng suy tim lộ rõ, có những giờ cậu quên mất mình, bị bao phủ bởi một trạng thái mơ hồ đầy hy vọng về tình cảnh của bản thân, và nói đến việc sắp trở lại trung đoàn cùng chuyện tham gia những cuộc đại diễn tập lớn mà cậu tưởng vẫn còn đang diễn ra. Nhưng cũng chính vào thời điểm ấy Hofrat Behrens thôi không còn ban hy vọng cho người nhà nữa, và tuyên bố rằng cái kết chỉ còn là vấn đề của vài giờ đồng hồ.

Một hiện tượng vừa u sầu vừa tất yếu, cái sự tự mê hoặc mình bằng một niềm tin đãng trí ấy ngay cả nơi tâm trí đàn ông, vào lúc mà thật ra quá trình hủy diệt đang tiến sát mục tiêu gây tử vong của nó, một sự tất yếu phi cá nhân, vượt lên trên mọi ý thức riêng lẻ, như cơn cám dỗ của giấc ngủ quấn riết người sắp chết cóng, và như cái đi lòng vòng mãi của kẻ lạc đường. Hans Castorp, kẻ mà nỗi sầu và cơn đau tim không ngăn nổi việc nhìn thẳng hiện tượng ấy với vẻ khách quan, đã gắn vào đó những suy ngẫm vụng về, tuy sắc sảo, trong khi trò chuyện với Naphta và Settembrini, lúc chàng thuật cho họ nghe tình trạng của người bà con mình, và vì đã nhận xét rằng quan niệm thông thường cho sự tin cậy có tính triết học, sự lạc quan đặt nơi điều thiện, là biểu hiện của sức khỏe, còn cái nhìn đen tối cùng sự lên án thế gian lại là dấu hiệu bệnh hoạn, hẳn là sai lầm; bởi nếu không, thì chính trạng thái tận cùng tuyệt vọng kia sao lại có thể sản sinh ra một thứ lạc quan mà sự hồng hào tai hại của nó, so với nó, nỗi u sầu trước đó lại hiện ra như một biểu hiện sống khỏe khoắn, thô mộc, chàng đã bị người sau quở trách. Tạ ơn trời, đồng thời chàng cũng có thể báo cho những người quan tâm rằng Rhadamanthys vẫn chừa chỗ cho hy vọng ngay trong vô vọng, và tiên đoán một cái Exitus êm ái, không đau đớn, bất chấp tuổi trẻ của Joachim.

“Một vụ tim mạch thật là êm đềm, thưa phu nhân quý mến của tôi!” ông nói, trong khi giữ tay Luise Ziemßen trong cả hai bàn tay to như cái xẻng của mình và từ dưới ngước lên nhìn bà bằng đôi mắt xanh lồi ra, ầng ậng nước, đỏ ngầu. “Tôi mừng, mừng vô cùng, rằng nó diễn tiến một cách thân tình như thế, và cậu ấy không phải chờ đến phù thanh môn hay những trò đê tiện khác; như vậy cậu ấy sẽ khỏi được bao nhiêu điều hành hạ. Tim đang suy rất nhanh, phúc cho cậu ấy, phúc cho chúng ta, ta có thể làm bổn phận của mình bằng mũi tiêm long não mà chẳng mấy e rằng sẽ còn gây cho cậu ấy những phiền toái dài dòng. Cuối cùng cậu ấy sẽ ngủ nhiều và mơ những giấc mơ dịu dàng, tôi tin là mình có thể cam đoan thế; còn nếu rốt cuộc cậu ấy lại không hẳn là ngủ, thì sự vượt qua của cậu ấy cũng sẽ rất gọn, không ai nhận thấy, với cậu ấy thì chuyện ấy sẽ gần như chẳng can hệ gì đâu, phu nhân cứ tin tôi. Vả lại, về căn bản thì bao giờ cũng vậy cả. Tôi biết cái chết, tôi là một công chức già của nó rồi, người ta thổi phồng nó quá đáng, xin bà tin tôi! Tôi có thể nói với bà rằng chuyện ấy hầu như chẳng là gì. Bởi những gì trong vài hoàn cảnh nào đó diễn ra _trước đó_, thì ta không thể tính gọn vào cái chết được, đó là một công việc còn sống sờ sờ và có thể dẫn tới sự sống cùng sự bình phục. Còn về cái chết thì chẳng ai trở về mà kể cho bà được điều gì ra hồn, vì người ta không trải nghiệm nó. Chúng ta từ bóng tối mà đến và đi vào bóng tối, ở giữa là những trải nghiệm, nhưng mở đầu và kết thúc, sinh và tử, thì không được chúng ta trải nghiệm, chúng không có tính chất chủ quan, với tư cách là biến cố, chúng hoàn toàn thuộc về lĩnh vực khách quan, đại khái là như vậy.”

Đó là lối Hofrat an ủi người khác. Ta hãy hy vọng rằng nó cũng đem lại cho Frau Ziemßen minh mẫn chút ít khuây dịu; và những lời cam đoan của ông quả cũng ứng nghiệm khá xa. Joachim yếu ớt đã ngủ hàng nhiều giờ trong những ngày cuối ấy, cũng có lẽ đã mơ những gì khiến cậu thấy dễ chịu để mơ, nghĩa là những chuyện quân ngũ miền đồng bằng, cứ thử giả định như vậy; và mỗi khi tỉnh giấc, nếu người ta hỏi cậu cảm thấy thế nào, thì cậu, dẫu nói không còn rõ, vẫn luôn đáp rằng mình thấy khỏe và hạnh phúc, mặc dầu mạch gần như không còn nữa và rốt cuộc ngay cả mũi kim tiêm chích vào cậu cũng hoàn toàn không cảm thấy, thân thể cậu đã mất cảm giác, người ta có thể đốt hay véo cậu, Joachim tốt bụng ấy hẳn cũng chẳng còn bận tâm đến nữa.

Song kể từ khi mẹ cậu đến, nơi cậu vẫn còn diễn ra những biến đổi lớn. Vì việc cạo râu đã trở nên nặng nhọc và suốt tám hay mười ngày cậu đã thôi không cạo nữa, mà râu cậu lại mọc rất khỏe, nên giờ đây gương mặt như bằng sáp với đôi mắt hiền lành ấy hiện ra trong khuôn viền của một bộ râu đen rậm, một bộ râu chiến trận, như người lính ngoài mặt trận hẳn vẫn để vậy, và kỳ thực nó cũng làm cậu đẹp và nam tính hơn, ai nấy đều thấy thế. Phải, Joachim đột nhiên từ một chàng trai biến thành người đàn ông chín chắn bởi bộ râu ấy, và có lẽ không chỉ bởi nó. Cậu sống thật mau, như một chiếc đồng hồ đang xổ hết cót, lao vùn vụt, phóng nước đại qua các bậc tuổi đời mà thời gian vốn không cho phép cậu đạt tới, và trong hai mươi bốn giờ cuối đã trở thành một ông già. Chứng suy tim kéo theo một sự phù nề nơi gương mặt cậu khiến Hans Castorp có ấn tượng rằng sự hấp hối ắt hẳn dù sao cũng là một nỗi nhọc nhằn lớn, tuy Joachim dường như nhờ bao nhiêu chỗ suy giảm và sa sút mà không còn cảm thấy điều ấy; nhưng sự sưng phù này tác động mạnh nhất đến vùng môi, và một sự khô kiệt hay kiệt quệ ở bên trong miệng rõ ràng cùng phối hợp vào đó, đến nỗi lúc nói Joachim líu ríu như một người hết sức già nua, và thực ra cậu còn tỏ ra bực bội thật sự vì sự cản trở ấy: giá mà chỉ thoát được nó thôi, cậu lắp bắp bảo, thì mọi sự sẽ ổn cả, nhưng nó quả là một điều phiền nhiễu chết tiệt.

Cậu định nói thế nào khi bảo rằng rồi “mọi sự sẽ ổn cả”, thì không hoàn toàn rõ; khuynh hướng nước đôi trong tình trạng của cậu hiện ra rất nổi bật, hơn một lần cậu thốt ra những lời hai nghĩa, dường như biết mà cũng như không biết, và có một lần, rõ ràng bị một cảm giác tiêu vong xuyên thấu, cậu vừa lắc đầu vừa với một vẻ hối lỗi nào đó nói rằng: tệ hại đến thế này thì cậu chưa bao giờ lâm vào.

Rồi tính nết cậu trở nên khước từ, nghiêm khắc mà không vồn vã, thậm chí bất nhã; cậu không còn để cho bất cứ hư cấu hay lời tô hồng nào đến gần mình nữa, không đáp lại chúng, nhìn trân trân ra trước mặt với vẻ xa lạ. Đặc biệt là sau khi vị linh mục trẻ mà Luise Ziemßen mời đến, và điều này khiến Hans Castorp tiếc rằng ông ta không mang chiếc cổ xếp hồ cứng, mà chỉ đeo bạch phiến, đã cầu nguyện với cậu, thì thái độ của cậu mang một sắc thái quan phương-công vụ, và cậu chỉ bày tỏ mong muốn dưới hình thức những mệnh lệnh ngắn gọn.

Vào sáu giờ chiều, cậu bắt đầu một cử chỉ kỳ lạ: cậu liên tiếp đưa bàn tay phải, nơi cổ tay đeo chiếc vòng dây xích bằng vàng, lướt trên tấm chăn ở vùng hông; đến lúc đưa tay trở lại thì hơi nhấc nó lên, rồi lại kéo về phía mình trên mặt chăn bằng một động tác cào cấu, gom nhặt, cứ như thể đang thu vén, lượm lấy một thứ gì đó.

Bảy giờ thì cậu chết, Alfreda Schildknecht đang ở ngoài hành lang, chỉ có mẹ và người anh em họ là có mặt. Cậu đã trượt xuống thấp trong giường và ngắn gọn ra lệnh rằng hãy đỡ cậu lên cao hơn. Trong khi Frau Ziemßen, vòng tay qua vai con, làm theo lời ấy, cậu hấp tấp nói rằng mình phải lập tức viết và nộp một đơn xin gia hạn phép, và trong lúc cậu nói, cuộc “vượt qua gọn ghẽ” đã diễn ra, được Hans Castorp dõi theo với lòng thành kính dưới ánh chiếc đèn bàn chụp đỏ. Mắt cậu vỡ ra, sự gắng sức vô thức trên những nét mặt cậu rời bỏ, cái sưng nhọc nhằn nơi đôi môi tan biến đi thấy rõ, một vẻ đẹp được trẻ hóa sớm mà nam tính lan trên khuôn mặt im tiếng của Joachim chúng ta, và thế là xong.

Khi Luise Ziemßen nức nở quay mặt đi, thì chính Hans Castorp là người dùng đầu ngón tay đeo nhẫn khép mắt cho người không còn động đậy, không còn hơi thở kia, rồi nhẹ nhàng đặt hai bàn tay cậu chắp lại trên mặt chăn. Sau đó chàng cũng đứng đó mà khóc, để nước mắt chảy xuống đôi má mình, thứ nước mắt đã đốt rát viên sĩ quan hải quân Anh nọ đến thế, chất ướt trong trẻo ấy, ở khắp thế gian và trong mọi giờ khắc đều tuôn chảy dồi dào mà cay đắng đến mức thung lũng trần gian đã được gọi bằng tên thi vị theo nó; thứ sản phẩm của các tuyến mang vị kiềm mặn mà cơn chấn động thần kinh của nỗi đau xuyên thấu, nỗi đau thể xác cũng như tinh thần, ép ra từ thân thể chúng ta. Chàng biết trong đó còn có cả chất nhầy và chất đạm.

Hofrat đến, do Schwester Berta báo tin. Chưa đầy nửa giờ trước ông còn ở đây và đã tiêm long não; chỉ đúng khoảnh khắc của cuộc vượt qua gọn ghẽ ấy là ông bỏ lỡ. “Vâng, thế là xong với cậu ấy rồi,” ông giản dị nói, vừa rời ống nghe khỏi lồng ngực im lặng của Joachim mà đứng thẳng lên. Rồi ông siết tay hai người thân thích, vừa gật đầu với họ. Sau đó ông còn đứng cùng họ một lúc bên giường, nhìn ngắm khuôn mặt bất động, râu chiến trận của Joachim. “Một cậu trai cừ, một chàng trai cừ khôi,” ông nói qua vai, vừa hất đầu về phía người đang nằm nghỉ. “Muốn cưỡng ép nó, bà biết đấy, dĩ nhiên với cậu ấy thì toàn bộ cái việc phục dịch dưới kia đều là cưỡng ép và bạo hành cả, đang sốt mà vẫn phục dịch, bất kể ra sao cũng cứ làm. Cánh đồng danh dự, hiểu chứ, cái anh chàng bỏ trốn ấy đã chuồn mất ra cánh đồng danh dự của chúng ta. Nhưng danh dự, ấy là cái chết đối với cậu ta, còn cái chết, bà có thể tùy ý đảo ngược lại cũng được, dù sao thì bây giờ cậu ấy đã nói: ‘Habe die Ehre!’ rồi. Cậu bé cừ thật, chàng trai cừ thật.” Rồi ông bỏ đi, cao lêu nghêu và khòm lưng, cái gáy nhô ra.

Việc đưa Joachim về quê nhà đã được quyết định, và nhà Berghof lo liệu mọi điều cần thiết cho việc ấy cũng như mọi thứ xem ra thích đáng và tươm tất, mẹ và người anh em họ hầu như chẳng phải động tay. Ngày hôm sau, trong chiếc sơ mi cổ tay lụa, hoa đặt trên chăn, nằm yên trong thứ ánh sáng tuyết nhạt, Joachim còn đẹp hơn ngay sau lúc vượt qua. Mọi dấu vết của sự gắng sức giờ đã rời khỏi gương mặt cậu; lạnh đi, nó đã định hình lại trong một dáng vẻ tinh khiết và lặng im nhất. Những lọn tóc đen ngắn quăn nhẹ rủ xuống vầng trán vàng nhạt bất động, vầng trán tưởng như được tạo nên từ một chất liệu cao quý mà mong manh, đâu đó giữa sáp và đá cẩm thạch; còn trong bộ râu cũng hơi quăn kia, đôi môi vồng lên đầy đặn và kiêu hãnh. Hẳn một chiếc mũ chiến binh cổ đại sẽ hợp với cái đầu ấy, như mấy người đến từ biệt đều nói.

Frau Stöhr khóc một cách đầy hứng khởi trước hình hài của Joachim ngày trước. “Một anh hùng! Một anh hùng!” bà kêu lên nhiều lần và đòi rằng trong đám tang cậu phải tấu bản “Erotika” của Beethoven.

“Xin bà im đi!” Settembrini đứng bên ghé sang rít lên với bà. Ông cùng với Naphta vào phòng đúng lúc với bà và vô cùng xúc động. Bằng cả hai tay, ông chỉ cho những người có mặt thấy Joachim, như thể kêu gọi họ than khóc. “_Un giovanotto tanto simpàtico, tanto stimàbile!_” ông lặp đi lặp lại.

Naphta không tự kiềm mình được, từ trong dáng điệu trói buộc của mình và không nhìn ông, khe khẽ mà cay độc buông về phía ông:

“Tôi mừng được thấy rằng ngoài tự do và tiến bộ ra, ông cũng còn có cảm quan đối với những điều nghiêm trọng.”

Settembrini đành nuốt trôi lời ấy. Có lẽ ông cảm thấy một sự trội hơn nào đó của vị thế Naphta so với vị thế của mình, do hoàn cảnh nhất thời gây nên; có lẽ chính ưu thế chốc lát của đối thủ ấy là điều ông đã tìm cách bù lại bằng vẻ sôi nổi của nỗi đau mình, và nay khiến ông im tiếng, – ngay cả khi Leo Naphta, lợi dụng những lợi thế phù du của địa vị mình, buông ra một nhận xét sắc lạnh như một lời phán quyết:

“Sai lầm của giới văn sĩ là ở chỗ tin rằng chỉ có trí tuệ mới làm con người nên đứng đắn. Có lẽ điều ngược lại mới đúng. Chỉ ở nơi _không_ có trí tuệ thì mới có sự đứng đắn.”

“À,” Hans Castorp nghĩ, “đấy lại cũng là một câu sấm kiểu Pythia! Chỉ cần mím chặt môi sau khi buông câu ấy ra, là trong chốc lát lập tức có hiệu lực uy hiếp...”

Đến chiều, chiếc quan tài kim loại được đưa tới. Việc chuyển đặt Joachim vào cỗ áo quan bệ vệ này, được trang sức bằng những khoen tròn và đầu sư tử, có một người đi theo nó nhất định muốn được coi là phần việc riêng của mình: một kẻ có dây mơ rễ má với cơ sở mai táng đã được mời đến, mặc đồ đen, khoác một thứ áo trường y ngắn, và đeo nhẫn cưới trên bàn tay bình dân của hắn, nơi cái vòng vàng dường như đã mọc lún vào thịt, bị thịt phủ lấp gần kín. Người ta dễ ngỡ như có mùi tử thi toát ra từ chiếc áo ấy, tuy đó chỉ là thành kiến. Nhưng người đàn ông này để lộ cái tự phụ của kẻ chuyên môn rằng mọi việc hắn làm, có thể nói, đều phải diễn ra sau cánh gà, và chỉ những kết quả đã được sắp đặt theo lối thành kính nghi thức mới nên phô ra trước mắt tang quyến, – điều ấy lại khơi dậy hẳn sự ngờ vực nơi Hans Castorp và tuyệt chẳng hợp ý chàng. Chàng quả có tán thành việc Frau Ziemßen lui ra, nhưng bản thân thì không để cho người ta khéo léo mời đi, trái lại vẫn ở lại và còn xắn tay vào giúp: chàng đỡ lấy thân thể ấy dưới nách và phụ chuyển nó từ trên giường sang quan tài, nơi trên tấm khăn liệm và chiếc gối tua rua, hình hài Joachim được đặt nằm cao và trang nghiêm, giữa những chân đèn cao do nhà Berghof cung cấp.

Nhưng đến hôm sau nữa lại xuất hiện một hiện tượng khiến Hans Castorp quyết lòng trong dạ mà tách mình ra khỏi hình hài kia, và thực sự nhường chỗ cho tay nhà nghề, kẻ gìn giữ lòng thành kính khó ưa ấy. Bởi Joachim, nét mặt từ trước đến nay vốn nghiêm nghị và đoan chính đến thế, nay đã bắt đầu mỉm cười trong chòm râu chiến binh của mình, và Hans Castorp không tự dối mình rằng nụ cười ấy mang sẵn trong nó một khuynh hướng biến dạng – nó làm tim chàng tràn đầy cảm giác vội vã. Vậy thì, nhân danh Chúa, việc sắp đến lúc đem đi quả là điều phải; quan tài sắp được đậy nắp và vặn ốc. Gạt sang bên cái e dè bẩm sinh của nề nếp, Hans Castorp khẽ chạm môi từ biệt lên vầng trán lạnh như đá của Joachim ngày trước của chàng, rồi, bất chấp mọi ngờ vực đối với gã người của mặt trái, ngoan ngoãn cùng Luise Ziemßen bước ra khỏi phòng.

Chúng ta buông màn xuống, lần áp chót. Nhưng trong khi tấm màn ấy ào rơi, hãy cùng Hans Castorp, kẻ ở lại trên cao độ của mình, đưa tâm trí dõi nhìn và lắng nghe xuống thật xa, tới một vườn thập giá ẩm ướt ở miền đồng bằng, nơi một thanh kiếm lóe lên rồi hạ xuống, những khẩu lệnh quất vụt qua không khí, và ba loạt súng, ba nghi lễ danh dự đầy say mê, nổ giòn trên ngôi mộ người lính chằng chịt rễ cây của Joachim Ziemßen.