Núi thần — Chương 6

Chương 6 / 8 · Bài review Núi thần

Súp vĩnh cửu và phút sáng tỏ bất chợt

Ở đây sắp xuất hiện một hiện tượng mà chính người kể chuyện cũng nên lấy làm lạ, để độc giả khỏi tự ý lấy làm lạ quá mức. Bởi lẽ, trong khi bản tường trình của chúng ta về ba tuần đầu tiên của quãng Hans Castorp lưu lại nơi những người trên này, tức hai mươi mốt ngày giữa mùa hạ mà theo mọi tiên liệu của con người, chuyến ở lại ấy lẽ ra toàn bộ chỉ nên giới hạn trong từng ấy, đã nuốt mất những khoảng không gian và lượng thời gian mà tầm vóc của chúng quá đỗi phù hợp với chính những mong đợi chỉ nửa thú nhận của chúng ta, thì việc khắc phục ba tuần kế tiếp trong cuộc viếng thăm của chàng ở chốn này hầu như sẽ chẳng đòi hỏi đến ngần ấy dòng, thậm chí ngần ấy lời và khoảnh khắc, như số trang, số tờ in, số giờ và số ngày công mà đoạn trước đã tiêu tốn: thoắt một cái thôi, ta đã thấy trước rồi, ba tuần ấy sẽ bị bỏ lại sau lưng và chôn cất xong xuôi.

Điều đó hẳn có thể khiến người ta ngạc nhiên; vậy mà nó vẫn hợp lẽ và phù hợp với những quy luật của việc kể và nghe kể. Vì hợp lẽ chính là ở chỗ thời gian đối với ta dài hay ngắn, tự trải rộng hay co rút trong trải nghiệm của ta, đúng hệt như đối với nhân vật anh hùng của câu chuyện chúng ta, chàng Hans Castorp trẻ tuổi, kẻ đã bị số mệnh bất ngờ đến thế đặt tay niêm phong lên; và có lẽ cũng hữu ích nếu, xét theo bí mật của thời gian, chuẩn bị cho độc giả đón nhận những điều kỳ lạ và hiện tượng khác hẳn nữa, chứ không chỉ hiện tượng nổi bật ở đây, sẽ xảy đến với chúng ta trong sự đồng hành cùng chàng. Trước mắt, chỉ cần mọi người nhớ lại xem một chuỗi ngày, thậm chí một chuỗi ngày “dài”, trôi qua nhanh đến thế nào khi người ta nằm bệnh trên giường: đó luôn luôn là cùng một ngày lặp lại; nhưng vì nó luôn luôn là cùng một ngày, nên nói đến “sự lặp lại” thực ra không mấy chính xác; đúng hơn phải nói đến sự đồng nhất, đến một hiện tại đứng yên, hoặc đến vĩnh cửu. Người ta mang món súp trưa đến cho anh, như hôm qua người ta đã mang đến và ngày mai người ta sẽ còn mang đến. Và đúng vào cùng khoảnh khắc ấy, có cái gì đó lùa qua người anh, anh không biết bằng cách nào, từ đâu; anh choáng váng trong khi nhìn món súp đang được mang tới, những hình thái của thời gian nhòe đi trước mắt anh, chảy lẫn vào nhau, và cái bày ra với anh như hình thức đích thực của tồn tại là một hiện tại không độ dài, trong đó người ta vĩnh viễn mang súp đến cho anh. Mà đem sự chán ngán ra nói với vĩnh cửu thì lại rất nghịch lý; còn nghịch lý thì ta muốn tránh, nhất là trong cuộc chung đụng với nhân vật anh hùng này.

Vậy là Hans Castorp đã phải nằm liệt giường từ chiều thứ Bảy, bởi Tham tán cung đình Behrens, uy quyền tối thượng trong thế giới đang khép chúng ta lại, đã truyền như thế. Chàng nằm đó, chữ lồng tên mình trên túi ngực áo ngủ, hai tay đan sau đầu, trong chiếc giường trắng tinh tươm của chàng, chiếc giường tử thần của người đàn bà Mỹ và có lẽ còn của lắm kẻ khác nữa, mắt xanh đơn sơ vì cơn cảm mạo mà đục đi, ngước lên trần phòng, ngắm nghía sự lạ lùng của cảnh ngộ đời mình. Tuy nhiên, không nên giả định rằng mắt chàng, nếu không bị cảm mạo, đã nhìn một cách trong sáng, tươi tắn và dứt khoát; bởi trong nội tâm chàng, dẫu cái nội tâm ấy có thể cũng đơn sơ thật đấy, thì mọi sự lại không phải vậy, trái lại quả thực là rất mù mờ, rối ren, mập mờ nửa thành thật và khả nghi. Lúc thì, trong khi chàng nằm như thế, một tràng cười khải hoàn điên dại, dâng lên từ tận sâu bên trong, làm rung chuyển lồng ngực chàng, và tim chàng ngừng thắt, đau nhói vì một niềm vui cùng hy vọng phóng túng chưa từng biết; lúc khác chàng lại tái nhợt vì kinh hoảng và lo âu, và chính đó là những nhịp đập của lương tâm khiến tim chàng gõ vào xương sườn theo một tiết tấu mau, bay chấp chới.

Joachim trong ngày đầu đã để mặc chàng hoàn toàn yên tĩnh và tránh mọi cuộc bàn luận. Chàng ta mấy lần nhẹ bước vào phòng bệnh, gật đầu với người đang nằm và vì lẽ phải phép mà hỏi xem chàng có thiếu gì chăng. Ngoài ra, Joachim càng dễ nhận ra và tôn trọng nỗi e ngại của Hans Castorp trước một cuộc nói cho ra nhẽ, vì chính mình cũng chia sẻ nỗi e ngại ấy, và theo cách nhìn của mình, thậm chí còn thấy mình ở vào một tình thế khó xử hơn cả anh em họ của mình.

Nhưng sáng Chủ nhật, sau khi trở về từ cuộc đi dạo buổi sớm mà như trước đây chàng vẫn một mình thực hiện, Joachim rốt cuộc cũng không hoãn thêm nữa việc bàn với người anh em họ điều cấp thiết nhất lúc này. Chàng đứng bên giường Hans Castorp và vừa thở dài vừa nói:

“Phải, mọi sự đều chẳng giúp được gì, giờ thì phải có những bước đi thôi. Ở nhà người ta đang chờ cậu đấy.”

“Chưa đâu,” Hans Castorp đáp.

“Chưa, nhưng trong mấy ngày tới, thứ Tư hoặc thứ Năm.”

“Ồ,” Hans Castorp nói, “người ta ở nhà vốn cũng chẳng chờ tớ sít sao đến từng ngày như thế. Họ còn bao việc khác phải làm hơn là ngồi đợi tớ và đếm từng ngày cho tới lúc tớ trở về. Khi tớ về thì tớ có mặt, và bác Tienappel nói: ‘Thế là cháu lại về rồi đấy à!’ còn bác James nói: ‘Nào, có vui không.’ Còn nếu tớ không về, thì phải lâu lắm họ mới nhận ra, chuyện ấy cậu cứ yên tâm. Dĩ nhiên rồi cũng phải báo tin cho họ...”

“Cậu hẳn hiểu được,” Joachim nói và lại thở dài, “việc này làm tớ khó chịu đến thế nào! Bây giờ rồi sẽ ra sao đây? Dù sao thì, nói cho đúng, tớ vẫn thấy mình có phần chịu trách nhiệm. Cậu lên đây để thăm tớ, rồi chính tớ lại đưa cậu nhập vào cuộc sống trên này, và giờ thì cậu mắc kẹt ở đây, chẳng ai biết đến bao giờ cậu mới đi được và có thể nhận việc ở xưởng tàu. Cậu phải thấy rằng chuyện ấy khiến tớ cực kỳ khổ tâm.”

“Xin cậu cho tớ nói!” Hans Castorp nói, hai tay vẫn để dưới đầu. “Cậu làm gì mà phải vò đầu bứt tai như thế? Thật vô lý. Tớ lên đây để thăm cậu ư? Cũng có; nhưng rốt cuộc thì trước hết vẫn là để nghỉ dưỡng, theo chỉ định của Heidekind. Thế rồi bây giờ lại lộ ra rằng tớ cần được nghỉ dưỡng hơn cả cái mức mà ông ấy và cả chúng ta từng có thể mơ tới. Tớ đâu phải người đầu tiên tưởng rằng mình chỉ ghé qua chốc lát ở đây, rồi sau đó sự thể lại xoay khác. Cậu thử nghĩ chẳng hạn đến đứa con trai thứ hai của _Tous les deux’_, và xem ở đây cậu ấy lại còn bị số phận đối xử hoàn toàn khác hẳn đến thế nào, tớ không biết cậu ấy còn sống hay không, có khi người ta đã đưa cậu ấy đi ngay giữa một bữa ăn rồi. Việc tớ hơi có bệnh, hẳn nhiên là một sự ngạc nhiên đối với tớ; tớ còn phải làm quen dần với ý nghĩ thấy mình ở đây như một bệnh nhân, thực sự là một người trong các cậu, thay vì như từ trước đến nay, chỉ là một vị khách. Rồi vậy mà, mặt khác, điều ấy lại cũng hầu như chẳng làm tớ ngạc nhiên mấy, bởi thực ra tớ chưa bao giờ cảm thấy mình thật sự ở trong một thể trạng rực rỡ gì cả; mà nếu nghĩ đến chuyện cả cha lẫn mẹ tớ đều chết sớm như thế, thì rốt cuộc cái vẻ rực rỡ ấy biết từ đâu mà ra cho được! Rằng cậu có một vết rạn nho nhỏ, phải không nào, dù bây giờ gần như đã chữa khỏi, thì chuyện ấy chúng ta đều chẳng tự dối mình; vậy nên cũng có thể là trong gia đình ta có hơi cái chất ấy, ít ra Behrens đã buông một lời như vậy. Dù sao đi nữa, từ hôm qua tới giờ tớ nằm đây và nghĩ xem thực ra xưa nay mình vẫn luôn có tâm trạng ra sao và đã đứng trước toàn bộ chuyện ấy như thế nào, trước cuộc đời ấy mà, cậu biết đấy, và những đòi hỏi của nó. Một sự nghiêm cẩn nào đó và một sự không ưa những gì cường tráng, ồn ào vốn vẫn nằm trong bản tính tớ, ta mới nói về chuyện ấy hôm nọ còn gì, và rằng đôi khi tớ gần như đã muốn đi tu, vì có hứng thú với những điều buồn bã và cảm hóa, một tấm vải đen chẳng hạn, cậu biết đấy, có cây thánh giá bạc trên đó hoặc _R. I. P._ ... _Requiescat in pace_ ... đó thực ra là câu đẹp nhất, và hợp lòng tớ hơn nhiều so với ‘Sống lâu muôn tuổi’, vốn chẳng qua ồn ào hơn. Tất cả những điều ấy, tớ nghĩ, hẳn là bởi chính tớ cũng có một vết rạn và ngay từ đầu đã hiểu bệnh tật, giờ đây nhân dịp này mới lộ ra. Nhưng nếu quả thật là như vậy, thì tớ lại còn phải mừng vì đã lên trên này và chịu để người ta khám cho; cậu tuyệt đối không cần phải tự trách mình lấy một chút nào. Vì cậu đã nghe rồi đấy: nếu tớ còn tiếp tục sống như thế dưới miền đồng bằng thêm một thời gian nữa, thì rất có thể chẳng biết đầu đuôi ra sao, cả một thùy phổi của tớ đã hỏng toang đi mất rồi.”

“Không ai biết được điều đó!” Joachim nói. “Chính ở chỗ ấy đấy, rằng hoàn toàn không thể biết được! Người ta bảo là trước đây cậu cũng đã từng có những chỗ như thế mà chẳng ai bận tâm, rồi chúng tự lành lấy, để bây giờ chỉ còn lại vài chỗ đục không đáng kể thôi. Biết đâu cái vết ẩm mà bây giờ người ta cho là cậu có, nếu cậu không tình cờ lên đây với tớ, nó cũng đã diễn biến như thế, người ta không thể biết được!”

“Đúng, biết thì người ta chẳng biết gì cả,” Hans Castorp đáp. “Và bởi vậy người ta cũng không có quyền lấy ngay điều phiền toái nhất ra làm giả định, thí dụ như về thời gian lưu dưỡng của tớ. Cậu bảo chẳng ai biết bao giờ tớ đi được và có thể vào nhận việc ở xưởng tàu, nhưng cậu nói theo chiều bi quan, mà tớ cho thế là vội vã, vì rốt cuộc thì người ta đâu có thể biết được. Behrens chưa nêu ra kỳ hạn nào cả; ông ấy là người điềm tĩnh và không đóng vai thầy đoán số. Vả lại việc chiếu xuyên và chụp ảnh còn chưa hề được tiến hành, chính những cái đó mới làm sáng tỏ tình hình một cách khách quan; và ai biết được có điều gì đáng kể hiện ra không, hay là trước đó tớ đã hết sốt rồi và có thể nói Adieu với các cậu. Tớ chủ trương rằng ta không nên làm um lên trước kỳ hạn và đừng vội kể cho người nhà những câu chuyện hoang đường ghê gớm nhất. Chỉ cần mấy hôm nữa viết thư báo rằng tớ bị cảm lạnh nặng, đang sốt và phải nằm liệt giường, tạm thời chưa thể đi đường, thế là đủ, tớ tự viết cũng được, bằng cây bút máy ở đây, chỉ cần ngồi nhổm dậy một chút thôi. Rồi mọi việc sau đó sẽ tự thu xếp lấy.”

“Được,” Joachim nói, “trước mắt ta có thể làm như thế. Và chuyện kia nữa thì ta cũng còn có thể chờ thêm một chút.”

“Chuyện kia là chuyện nào?”

“Đừng có đãng trí như thế! Cậu chỉ mang theo chiếc va-li buồng tàu chuẩn bị cho ba tuần thôi. Cậu cần đồ vải, đồ lót và quần áo mặc ngoài, cần thêm giày dép. Rốt cuộc, cậu cũng phải cho gửi tiền lên nữa chứ.”

“_Nếu_,” Hans Castorp nói, “_nếu_ tớ cần đến tất cả những thứ đó.”

“Được, cứ chờ xem đã. Nhưng chúng ta nên... không,” Joachim nói và bắt đầu đi đi lại lại trong phòng, “chúng ta không nên tự đánh lừa mình! Tớ ở đây đã quá lâu để không biết tình hình. Nếu Behrens nói rằng ở đó có một chỗ sần, gần như đã thành tiếng rồi... Nhưng dĩ nhiên, ta cứ xem rồi sẽ biết!”

Tạm thời sự việc dừng lại ở đó, và trước mắt những biến thể tám ngày và mười bốn ngày của ngày thường lệ lại giành lấy quyền của chúng, Hans Castorp, ngay trong hoàn cảnh hiện thời của mình, cũng có phần dự vào đó, nếu không phải bằng sự cùng hưởng trực tiếp thì bằng những bản tường thuật mà Joachim kể lại mỗi khi sang thăm, ngồi xuống mép giường chàng chừng mười lăm phút.

Chiếc khay trà mà sáng Chủ nhật người ta mang bữa điểm tâm lên cho chàng được trang điểm bằng một bình hoa nhỏ, và người ta cũng không quên gửi kèm cho chàng thứ bánh ngọt mịn hôm ấy được dọn trong phòng ăn. Về sau, dưới vườn và trên sân hiên bắt đầu nhộn nhịp, và với tiếng trara cùng giọng clarinet the thé, buổi hòa nhạc Chủ nhật hai tuần một lần khai diễn; Joachim tìm đến chỗ anh em họ để nghe buổi trình diễn ấy: chàng đón nhận nó ở ngoài lôgia, bên cánh cửa ban công mở, trong khi Hans Castorp từ trên giường, nửa ngồi dậy, đầu nghiêng sang một bên, với ánh mắt nhòa đi, trìu mến mà thành kính, lắng nghe những hòa âm dồn dập dâng lên, trong lòng không khỏi nhún vai mà nhớ tới những lời lải nhải của Settembrini về “tính khả nghi về mặt chính trị” của âm nhạc.

Ngoài ra, như đã nói, chàng để Joachim thuật lại cho mình nghe mọi hiện tượng và sinh hoạt trong những ngày ấy, hỏi xem ngày Chủ nhật có đem theo những bộ y phục hội hè, những buổi matinée ren đăng ten hay thứ gì tương tự chăng, tuy nhiên trời lạnh quá nên không có matinée ren đăng ten nào cả; rồi lại hỏi xem buổi chiều có những cuộc đi xe dạo nào không, và quả nhiên là có thật: hội “Nửa lá phổi” đã _in corpore_ kéo nhau đi Clavadell; và đến thứ Hai chàng đòi được nghe kể về buổi Conférence của bác sĩ Krokowski, khi Joachim từ đó trở về và trước khi đi vào liệu pháp nằm nghỉ buổi trưa đã ghé sang chỗ chàng. Joachim tỏ ra kiệm lời và không mặn mà tường thuật bài thuyết giảng, cũng như bài trước đó rốt cuộc giữa hai người cũng chẳng được nhắc lại gì thêm. Nhưng Hans Castorp khăng khăng muốn nghe chi tiết. “Tớ nằm đây mà vẫn trả đủ tiền,” chàng nói. “Tớ cũng muốn được hưởng chút gì trong những thứ người ta cung cấp chứ.” Chàng nhớ lại ngày thứ Hai cách đây mười bốn hôm, cuộc đi dạo một mình đã chẳng tốt lành gì cho mình, và nêu ra một phỏng đoán rất quả quyết rằng chính nó đã gây đảo lộn nơi thân thể chàng, làm cho căn bệnh vốn âm thầm hiện hữu bùng phát. “Nhưng người ta ở đây nói năng mới làm sao,” chàng kêu lên; “giới bình dân ấy, sao mà trang nghiêm, long trọng: có lúc nghe như thơ. ‘Thôi, vĩnh biệt nhé và xin cảm tạ!’” chàng nhắc lại, bắt chước đúng giọng của người tiều phu. “Tớ đã nghe câu ấy trong rừng, và suốt đời sẽ không quên. Những cái như thế rồi kết lại với những ấn tượng hay hồi ức khác, cậu biết đấy, và người ta giữ mãi nó trong tai cho đến hết đời. Thế rồi Krokowski lại nói về ‘tình yêu’ nữa à?” chàng hỏi, làm một cái điệu bộ khi nghe đến từ ấy.

“Tất nhiên rồi,” Joachim nói. “Chứ còn nói về gì nữa. Đằng nào đó vẫn là đề tài của ông ấy mà.”

“Thế hôm nay ông ta nói gì về nó?”

“Ồ, chẳng có gì đặc biệt. Chính cậu cũng biết từ bữa trước rồi còn gì, cái lối ông ta diễn đạt ấy.”

“Nhưng ông ta lại đem thứ gì mới ra kể?”

“Cũng chẳng có gì mới hơn... Phải, hôm nay ông ta rót ra toàn hóa học thôi,” Joachim miễn cưỡng kể. Theo lời bác sĩ Krokowski, “chuyện ấy” là một thứ ngộ độc, một sự tự đầu độc của cơ thể, phát sinh do một chất hiện còn chưa biết, phân bố khắp thân thể, bị phân hủy; và những sản phẩm của sự phân hủy ấy tác động gây say lên một vài trung tâm tủy sống, chẳng khác gì trường hợp thường xuyên đưa vào người những chất độc từ bên ngoài như morphin hoặc kokain.

“Rồi thế là má lại hây hây vui vẻ!” Hans Castorp nói. “A, thế mới đáng nghe chứ. Ông ta biết đủ mọi chuyện cơ mà. Ông ta ăn những thứ ấy bằng thìa mất rồi. Cứ chờ xem, một ngày nào đó ông ta sẽ còn khám phá ra cho cậu cái chất chưa biết đang phân bố khắp thân thể ấy, rồi chế ra những chất độc hòa tan tác động gây say lên trung tâm, bấy giờ ông ta sẽ có thể làm người ta chếnh choáng theo một lối đặc biệt. Biết đâu ngày xưa người ta đã từng tiến xa đến mức ấy rồi. Nghe ông ta nói, người ta có thể nghĩ rằng trong những chuyện về bùa yêu và các thứ linh tinh tương tự mà người ta đọc thấy trong sách truyện truyền kỳ quả cũng có điều gì là thật... Cậu đi đấy à?”

“Ừ,” Joachim nói, “tớ nhất thiết còn phải nằm thêm một chút. Từ hôm qua đường nhiệt của tớ tăng lên. Chuyện của cậu cũng làm tớ tổn tâm ít nhiều.”

Đó là ngày Chủ nhật, rồi ngày thứ Hai. Từ chiều đến sáng thành ra ngày thứ ba Hans Castorp lưu lại trong „Remise“, một ngày thường không gì đặc biệt, ngày thứ Ba. Nhưng ấy lại là ngày tròn ba tuần kể từ khi chàng đến trên này, và vì thế chàng cũng thấy cần phải viết thư về nhà, ít nhất báo cho các ông chú một cách sơ lược, tạm thời, về tình hình. Tựa lưng vào Plumeau, chàng viết trên giấy thư của dưỡng đường rằng việc chàng rời nơi này đang bị kéo dài ngoài dự liệu. Chàng đang nằm vì một cơn cảm sốt, mà Hofrat Behrens, vốn có lẽ quá mực tận tâm, xem ra không hoàn toàn coi nhẹ, bởi ông liên hệ nó với toàn bộ thể trạng của chính người viết. Vì ngay từ buổi đầu gặp mặt, vị y sĩ chỉ huy đã nhận thấy chàng thiếu máu khá nặng, và nói chung xem ra từ phía chuyên môn người ta không cho rằng thời hạn chàng, Hans Castorp, tự định ra cho mình để dưỡng sức là thực sự đủ. Chi tiết khác sẽ biên sau sớm nhất có thể. – Thế là được, Hans Castorp nghĩ. Không thừa một lời mà đằng nào cũng đủ cầm cự được một quãng. – Bức thư được giao cho người hầu nhà, anh ta tránh vòng qua thùng thư mà chuyển thẳng nó tới chuyến tàu theo giờ biểu gần nhất.

Tiếp đó, đối với nhà phiêu lưu của chúng ta, nhiều sự dường như đã vào nề nếp, và với tâm trạng đã dịu lại, dù vẫn bị ho và cái nặng đục do sổ mũi hành hạ, chàng sống hết ngày này sang ngày khác trong chờ đợi, trong cái ngày thường lệ bị chia cắt thành nhiều mẩu ngắn, và trong sự đơn điệu cố định của nó thì vừa chẳng ngắn vừa chẳng chán, cái ngày lúc nào cũng như nhau. Buổi sáng, sau một trận gõ cửa dữ dội, viên hộ lý tắm rửa bước vào, một cá thể gân guốc tên Turnherr, tay áo sơ-mi xắn lên, cẳng tay nổi đầy gân xanh, giọng nói sùng sục và nặng nề như bị ngăn trở, kẻ vẫn gọi Hans Castorp, như gọi mọi bệnh nhân, bằng số buồng của chàng và xoa người chàng bằng cồn. Không lâu sau khi hắn đi, Joachim, đã ăn mặc chỉnh tề, hiện ra để chào buổi sáng, hỏi nhiệt độ lúc bảy giờ sáng của người anh em họ và cho biết nhiệt độ của chính mình. Trong khi Joachim xuống dưới ăn điểm tâm, Hans Castorp, tựa Plumeau sau lưng, cũng làm như vậy với một thứ ngon miệng do hoàn cảnh sống mới mẻ tạo nên, chỉ bị quấy rầy rất ít bởi cuộc xông vào bận rộn đầy tính công vụ của các bác sĩ, những người vào giờ ấy đi qua phòng ăn và chạy thoăn thoắt qua các buồng của những người nằm liệt giường và những kẻ hấp hối trong vòng khám của họ. Miệng đầy mứt, chàng cho biết mình đã ngủ „ngon“, nhìn qua miệng tách thấy Hofrat chống hai nắm tay lên mặt chiếc bàn giữa, thoăn thoắt xem bảng nhiệt độ đặt ở đó, rồi bằng giọng kéo dài thản nhiên đáp lời chào buổi sáng của những người rút đi. Rồi chàng châm một điếu thuốc lá, và đã thấy Joachim lại trở về sau vòng công vụ buổi sáng của mình ngay lúc chàng vừa mới nghĩ rằng cậu ấy đã đi. Họ lại tán gẫu đủ chuyện, và quãng thời gian cho tới bữa điểm tâm thứ hai – trong lúc đó Joachim nằm nghỉ theo liệu pháp – ngắn đến mức ngay cả một gã đầu rỗng óc cạn hạng cùng đinh tinh thần cũng không sao chán nổi, – trong khi ấy Hans Castorp vẫn còn thừa sức sống bằng những ấn tượng của ba tuần đầu tiên trên này, còn phải âm thầm nghiền ngẫm hoàn cảnh hiện tại của mình và xem từ đó rồi sẽ thành ra chuyện gì, đến nỗi hầu như chẳng cần đến hai tập dày của một tạp chí minh họa, vốn từ thư viện dưỡng đường mà ra, đang nằm trên chiếc bàn đầu giường.

Điều ấy cũng đúng không kém với quãng thời gian Joachim hoàn tất chuyến đi thứ hai của mình tới Davos Platz, một giờ đồng hồ nhẹ tênh. Rồi cậu lại ghé vào chỗ Hans Castorp, kể chuyện này chuyện nọ mà cậu đã để ý thấy trong khi đi dạo, đứng hoặc ngồi bên giường bệnh một lát trước khi bước vào liệu pháp nằm nghỉ buổi trưa, – mà liệu pháp ấy kéo dài bao lâu? Lại cũng chỉ một giờ thôi! Người ta vừa mới chắp hai tay sau đầu, ngước nhìn trần nhà một chốc và thả theo một ý nghĩ, thì chiếc cồng đã vang rền, gọi những ai không nằm liệt giường và không hấp hối chuẩn bị cho bữa ăn lớn.

Joachim đi rồi, và „xúp trưa“ được mang tới: một cái tên ngây ngô và chỉ có tính tượng trưng làm sao cho thứ thực sự được mang tới ấy! Bởi Hans Castorp đâu có bị đặt vào chế độ ăn dành cho bệnh nhân, – mà sao người ta lại phải đặt chàng vào đó kia chứ? Chế độ ăn bệnh nhân, khẩu phần thanh đạm, hoàn toàn không phải là thứ thích hợp cho tình trạng của chàng. Chàng nằm ở đây và trả đủ giá trọn gói, và cái được mang tới cho chàng trong cõi vĩnh cửu đứng im của giờ khắc này đâu phải là „xúp trưa“, mà là bữa chính sáu món của Berghof, không bớt một li, đầy đủ từ đầu đến cuối, – ngày thường thì thịnh soạn, ngày Chủ nhật thì là một bữa tiệc gala, hưởng lạc và phô trương, do một bếp trưởng được đào luyện theo kiểu châu Âu nấu trong căn bếp khách sạn sang trọng của dưỡng đường. Cô hầu bàn phòng ăn, người có nhiệm vụ chăm nom những bệnh nhân nằm liệt giường, mang nó đến dưới những nắp đậy rỗng mạ niken và trong những chiếc nồi nhỏ ngon mắt; cô đẩy chiếc bàn bệnh nhân vừa được mang tới, cái kỳ công một chân của nghệ thuật giữ thăng bằng ấy, ngang qua giường đặt trước mặt chàng, và Hans Castorp ngồi vào đó mà dùng bữa như con trai bác thợ may trước chiếc bàn con tự dọn cỗ.

Chàng vừa ăn xong thì Joachim cũng trở lại, và cho tới khi cậu đi ra lô-gia của mình và sự tĩnh lặng của liệu pháp nằm nghỉ lớn trùm xuống ngôi nhà „Berghof“, thì thời gian đã thành ra cỡ như hai rưỡi. Có lẽ chưa hẳn; nói cho đúng thì mới chỉ hai giờ mười lăm. Nhưng những mười lăm phút thừa ra ngoài các đơn vị tròn như thế không được tính đến, mà tiện tay bị nuốt chửng ở những nơi có một lối kinh tế thời gian hào phóng ngự trị, chẳng hạn khi đi đường, trong những chuyến xe lửa kéo dài hàng giờ, hay bất cứ khi nào người ta ở trong trạng thái trống rỗng, chờ đợi, khi mọi cố gắng và mọi đời sống đều bị quy về việc đưa cho hết và bỏ lại sau lưng thời gian. Hai giờ mười lăm – kể như hai rưỡi; nhân danh Chúa, thậm chí kể luôn như ba giờ, vì con số ba đã nhập cuộc rồi. Ba mươi phút ấy được hiểu như khúc dạo đầu cho giờ tròn từ ba đến bốn và trong lòng người ta đã gạt bỏ đi: trong những hoàn cảnh như vậy là người ta làm thế. Và bởi vậy, rốt cuộc và thực chất thì thời gian của liệu pháp nằm nghỉ lớn lại cũng chỉ co vào một giờ mà thôi, – hơn nữa ở đoạn cuối còn bị giảm bớt, bị cắt cụt, và có thể nói là bị đặt một dấu lược. Dấu lược ấy là Dr. Krokowski.

Phải, Dr. Krokowski trong vòng khám riêng buổi chiều của mình đã không còn lượn một vòng để tránh Hans Castorp nữa. Nay chàng đã được tính vào số ấy, chàng không còn là một khoảng chen hay một chỗ hẫng nữa, chàng là bệnh nhân, chàng được hỏi han chứ không bị bỏ mặc sang một bên như điều vẫn xảy ra lâu nay, khiến chàng bực một cách thầm kín và nhẹ thôi, nhưng ngày nào cũng lại thấy bực. Chính vào hôm thứ Hai Dr. Krokowski đã lần đầu tiên hiện ra trong phòng, – chúng ta nói „hiện ra“, vì đó mới là chữ đúng cho ấn tượng kỳ quái, thậm chí phần nào rùng rợn, mà khi ấy Hans Castorp đã không sao chống lại được. Chàng đang nằm trong một cơn thiu thiu nửa ngủ hay phần tư ngủ, thì giật mình nhận ra rằng người trợ lý đã có mặt trong phòng, mà không hề đi vào bằng cửa, và đang từ phía bên ngoài bước tới chỗ chàng. Bởi lối đi của ông ta không phải qua hành lang, mà qua các lô-gia phía ngoài, và ông đã bước vào bằng cánh cửa ban công để mở, khiến người ta không tránh khỏi ý nghĩ như thể ông vừa từ không trung mà tới. Dù sao thì lúc ấy ông đã đứng bên giường Hans Castorp, tái sẫm, vai rộng và chắc nịch, dấu lược của giờ khắc ấy, và trong bộ râu chẻ đôi của ông, hàm răng ngả vàng hiện ra với một nụ cười nam tính.

„Có vẻ ông ngạc nhiên khi thấy tôi, Herr Castorp,“ ông đã nói bằng một sự ôn hòa giọng nam trung, chậm rãi, hẳn nhiên có phần kiểu cách, và với một âm r ở vòm miệng nghe lạ xứ, tuy ông không rung nó mà tạo ra bằng một cái chạm duy nhất của đầu lưỡi ngay phía sau răng cửa trên; „nhưng kỳ thực tôi chỉ chu toàn một nghĩa vụ dễ chịu, khi nay tôi cũng đến xem ông có được yên ổn không. Quan hệ của ông với chúng tôi đã bước sang một giai đoạn mới, chỉ sau một đêm, từ một vị khách ông đã trở thành một đồng bạn...“ (Chữ „đồng bạn“ đã khiến Hans Castorp thấy hơi sợ.) „Ai mà ngờ được!“ Dr. Krokowski đã đùa bằng giọng đồng bạn như thế... „Ai mà ngờ được vào cái tối đầu tiên khi tôi có dịp chào ông, và ông đáp lại nhận định sai lầm của tôi – khi ấy đúng là sai lầm – bằng lời tuyên bố rằng ông hoàn toàn khỏe mạnh. Tôi tin là khi ấy tôi có bày tỏ đôi chút hồ nghi, nhưng xin quả quyết, tôi không hề có ý ấy đâu! Tôi không muốn làm ra vẻ mình tinh mắt hơn thực tế; khi ấy tôi đâu có nghĩ tới một vết ẩm nào, tôi nghĩ theo cách khác kia, tổng quát hơn, triết lý hơn, tôi chỉ nói ra mối nghi rằng ‘con người’ và ‘sức khỏe hoàn toàn’ rốt cuộc có phải là hai chữ có thể hiệp vần với nhau hay không. Và ngay hôm nay nữa, ngay sau diễn tiến của cuộc khám xét ông, tôi, theo bản tính của mình, và khác với vị thủ trưởng đáng kính của tôi, vẫn không thể coi cái vết ẩm này“ – ở đây ông khẽ chạm đầu ngón tay vào vai Hans Castorp – „là cái đứng ở tiền cảnh của sự quan tâm. Đối với tôi, đó là một hiện tượng thứ yếu... Cái thuộc cơ thể bao giờ cũng là thứ yếu...“

Hans Castorp đã rụt người lại.

„... Và vì vậy cơn viêm catarrh của ông, theo mắt tôi, chỉ là một hiện tượng hàng thứ ba thôi,“ Dr. Krokowski đã thêm vào hết sức nhẹ nhàng. „Tình hình ấy ra sao rồi? Về phương diện này, sự nằm yên trên giường hẳn sẽ sớm làm phần việc của nó. Hôm nay ông đo được bao nhiêu?“ Và từ đó trở đi, cuộc viếng thăm của người trợ lý mang tính chất của một lần khám kiểm tra vô hại, như nó vẫn luôn giữ trong những ngày và những tuần sau đó: Dr. Krokowski vào khoảng ba giờ bốn mươi lăm, hoặc thậm chí sớm hơn một chút, bước vào từ ban công, chào người đang nằm bằng một vẻ vui tươi nam tính, đặt những câu hỏi y khoa đơn giản nhất, thỉnh thoảng cũng dẫn sang một cuộc tán chuyện ngắn có phần riêng tư hơn, đùa giỡn theo lối đồng bạn, – và nếu tất cả những điều ấy không phải là hoàn toàn không có một thoáng gì đáng ngại, thì rốt cuộc người ta cũng quen luôn cả với cái đáng ngại, miễn là nó còn ở trong giới hạn, và chẳng bao lâu Hans Castorp không còn gì để phản đối sự hiện ra đều đặn của Dr. Krokowski nữa, cái sự hiện ra vốn đã thuộc về ngày thường lệ cố định và đặt dấu lược cho giờ của liệu pháp nằm nghỉ lớn.

Vậy là bốn giờ khi người trợ lý lại bước ra ban công, – nghĩa là chiều đã sâu! Thoắt cái, chưa kịp nghĩ tới, đã là chiều xế, – mà kỳ thực lại lập tức sẫm thêm đến gần như buổi tối: bởi từ lúc uống trà xong, dưới phòng ăn và ở buồng số 34, thì thời gian đã ngả riết sang năm giờ, và cho tới khi Joachim trở về sau vòng công vụ thứ ba của mình và lại ghé vào chỗ người anh em họ, thì cũng đã ngả khá mạnh sang sáu giờ, đến nỗi liệu pháp nằm nghỉ cho tới bữa tối, nếu chỉ cần tính tròn một chút, lại cũng thu vào đúng một giờ, – một đối thủ thời gian có thể đánh bại nhẹ nhàng, nếu trong đầu người ta có ý nghĩ và thêm vào đó lại còn có cả một _orbis pictus_ trên chiếc bàn đầu giường.

Joachim từ biệt để đi ăn tối. Bữa ăn được mang tới. Thung lũng từ lâu đã đầy bóng tối, và trong khi Hans Castorp ăn, căn buồng trắng cứ tối dần lên thấy rõ. Ăn xong, chàng ngồi tựa vào Plumeau, trước chiếc bàn con tự dọn cỗ đã tàn bữa, nhìn vào chạng vạng đang tăng rất nhanh, thứ chạng vạng của hôm nay, khó mà phân biệt được với chạng vạng hôm qua, hôm kia hay của tám ngày trước. Đã là chiều tối, – sau khi mới vừa đây còn là buổi sáng. Cái ngày bị băm vụn ra và được làm cho ngắn bằng artifices ấy đã thật sự vụn nát rồi tiêu tan mất ngay trong tay chàng, như chàng nhận thấy với một vẻ ngạc nhiên vui vui, hoặc lắm cùng là trầm ngâm; bởi nỗi kinh hoàng trước điều đó vẫn còn xa lạ với lứa tuổi của chàng. Chàng chỉ có cảm giác như mình „vẫn còn“ đang nhìn.

Một hôm, hẳn đã mười hoặc mười hai ngày trôi qua từ khi Hans Castorp phải nằm liệt giường, vào đúng giờ ấy, nghĩa là trước khi Joachim trở về sau bữa tối và những giao tiếp ngoài kia, có tiếng gõ cửa buồng, và theo tiếng „mời vào“ hỏi han của Hans Castorp, Lodovico Settembrini hiện ra trên ngưỡng cửa, – đồng thời căn phòng bỗng chốc sáng lòa. Bởi động tác đầu tiên của vị khách, trong khi cửa vẫn còn mở, là bật ngọn đèn trần, thứ ánh sáng ấy phản từ cái trắng của trần nhà và đồ đạc, chớp mắt đã làm căn buồng tràn ngập một vẻ sáng rung rinh.

Người Ý là nhân vật duy nhất trong số các khách điều dưỡng mà trong những ngày ấy Hans Castorp đã đích danh hỏi Joachim về một cách rõ rệt. Dù sao Joachim vẫn kể cho chàng nghe, mỗi khi ngồi mươi phút trên mép giường hay đứng cạnh chàng – mà việc ấy xảy ra đến mười lần một ngày – về những biến cố nho nhỏ và những dao động trong đời sống thường nhật của dưỡng đường, và nếu Hans Castorp có đặt câu hỏi, thì chúng thường thuộc loại chung chung và phi cá nhân hơn. Sự tò mò của kẻ bị cách ly hướng tới việc muốn biết liệu có khách mới nào đến chăng, hoặc trong số những gương mặt quen thuộc có ai đã ra đi không; và dường như điều làm chàng hài lòng là chỉ có chuyện thứ nhất xảy ra. Một „người mới“ đã đến, một chàng trai trẻ có khuôn mặt xanh xao rỗng hõm, và được xếp chỗ ở bàn của Levi da ngà và Frau Iltis, ngay bên phải bàn của hai người anh em họ. Ừ thì, Hans Castorp có thể chờ đến lúc được tận mắt ngó chàng ta. Thế là không ai ra đi cả ư? Joachim ngắn gọn phủ nhận, mắt cụp xuống. Nhưng cậu đã phải trả lời câu hỏi ấy nhiều lần, thật ra cứ cách một ngày lại một lần, mặc dù rốt cuộc, giọng đã có phần thiếu kiên nhẫn, cậu cố cho một câu trả lời dứt khoát rằng theo chỗ cậu biết thì chẳng ai sắp sửa ra đi cả, mà nói chung ở đây người ta đâu có thể cứ nhẹ tênh mà ra đi như thế.

Còn về Settembrini, thì Hans Castorp quả đã đích thân hỏi đến ông ta và muốn nghe xem ông ta „đã nói gì về chuyện ấy“. Về chuyện gì? „Thì chuyện tôi nằm đây và bị coi là ốm ấy.“ Quả thật Settembrini đã có nói, tuy rất ngắn. Ngay trong ngày Hans Castorp biến mất, ông đã đến hỏi Joachim xem vị khách kia ở đâu, và rõ ràng sẵn lòng được nghe rằng Hans Castorp đã đi khỏi. Trước những lời giải thích của Joachim, ông chỉ đáp lại bằng hai chữ Ý: trước hết là „_Ecco_“, rồi đến „_Poveretto_“, nghĩa tiếng Đức là: „thế đấy“ và „cậu bé tội nghiệp“, – người ta chẳng cần hiểu nhiều tiếng Ý hơn hai chàng thanh niên ấy để nắm được ý vị của hai lời thốt ra đó. „Sao lại _poveretto_?“ Hans Castorp đã nói. „Chính ông ta cũng ngồi trên này với đống sách vở toàn chủ nghĩa nhân văn với chính trị của ông ta, nào có thể thúc đẩy được bao nhiêu những lợi ích trần thế của đời sống. Ông ta chớ nên thương hại tôi theo lối bề trên như thế, tôi thế nào cũng xuống miền đồng bằng trước ông ta.“

Giờ thì Herr Settembrini đứng đó trong căn buồng bỗng sáng choang, – Hans Castorp, chống người lên khuỷu tay và quay về phía cửa, nhận ra ông ta giữa những cái chớp mắt và đỏ mặt khi nhận ra ông. Như mọi khi, Settembrini mặc chiếc áo khoác dày với những ve lớn, đi kèm một chiếc cổ bẻ hơi sờn và chiếc quần kẻ ô. Vì ông vừa từ bữa ăn trở về, nên theo thói quen, ông ngậm một que xỉa răng bằng gỗ giữa môi. Khóe miệng ông dưới nét cong đẹp của bộ ria mép căng thành nụ cười quen thuộc, tinh tế, khô khan và phê phán.

„Chào buổi tối, kỹ sư! Có được phép ghé xem ông thế nào không? Nếu có, thì việc ấy cần đến ánh sáng, – xin thứ lỗi cho sự tự tiện của tôi!“ ông nói, đồng thời đưa bàn tay nhỏ lên ngọn đèn trần bằng một cử chỉ lanh lợi. „Ông đang trầm tư, – tôi tuyệt không muốn quấy rầy. Trong trường hợp của ông, khuynh hướng suy tưởng là điều tôi hoàn toàn có thể hiểu được, mà rốt cuộc để chuyện trò thì ông đã có người anh em họ của mình rồi. Ông thấy đấy, tính chất thừa thãi của tôi, tôi ý thức hoàn toàn rõ. Dẫu vậy, người ta sống chen nhau trong một không gian chật hẹp như thế, người ta nảy sinh mối quan tâm từ người với người, mối quan tâm của trí óc, mối quan tâm của trái tim... Đã hơn một tuần hẳn hoi người ta không thấy ông rồi. Thú thật tôi đã bắt đầu tưởng rằng ông đã đi, khi thấy chỗ ngồi của ông dưới phòng ăn bỏ trống. Ngài trung úy đã sửa cho tôi hiểu ra điều khác, hừm, đúng hơn là một điều kém vui hơn, nếu nói thế không thành bất nhã... Tóm lại, ông ra sao? Làm gì cho khuây? Trong người thế nào? Chắc không đến nỗi quá suy sụp chứ?“

“Chính ngài đấy, Herr Settembrini! Thật là tử tế quá. Ha, ha, ‘Refektorium’ ư? Thế là ngài lại vừa đùa một câu rồi. Xin mời ngồi ghế. Ngài chẳng quấy rầy tôi chút nào. Tôi nằm đây và ngẫm nghĩ, - bảo là ngẫm nghĩ thì đã quá lời. Chẳng qua tôi lười chưa buồn bật đèn lên. Xin đa tạ, về chủ quan mà nói thì tôi thấy khỏe gần như bình thường. Chứng sổ mũi của tôi nhờ nằm giường mà gần khỏi, nhưng, như người ta vẫn nghe nói khắp nơi, đó chỉ là một hiện tượng thứ yếu. Chỉ có điều nhiệt độ vẫn chưa như lẽ ra phải thế, khi thì 37,5, khi thì 37,7, mấy ngày nay vẫn chưa thay đổi.”

“Ngài đo đều đặn chứ?”

“Vâng, ngày sáu lần, y như tất cả mọi người trên này. Ha ha, xin lỗi ngài, tôi vẫn còn phải cười về chuyện ngài gọi phòng ăn của chúng tôi là ‘Refektorium’. Người ta nói thế ở tu viện, phải không? Quả ở đây cũng có cái gì đó giống như thế, - tôi thì chưa từng ở tu viện bao giờ, nhưng tôi hình dung nó hẳn na ná như vậy. Mà các ‘quy tắc’ tôi cũng đã thuộc nằm lòng rồi và tuân theo thật nghiêm.”

“Như một tu huynh mộ đạo. Có thể nói thời kỳ tập sự của anh đã chấm dứt, anh đã khấn trọn. Xin chúc mừng anh một cách trọng thể. Anh thậm chí cũng đã nói ‘phòng ăn của chúng tôi’ rồi kia. Nhân đây - mà không hề muốn xúc phạm phẩm giá nam nhi của anh - anh làm tôi gợi nhớ gần như nhiều hơn đến một ni cô trẻ là một nhà sư, - một cô dâu non nớt của Chúa Kitô, vừa mới cạo tóc, với đôi mắt hy sinh to lớn. Trước kia đôi khi tôi từng thấy những con chiên như thế, không bao giờ mà không... không bao giờ mà không có một nỗi cảm khái nào đó. À, phải, phải, ông anh họ của anh đã kể tôi nghe tất cả. Vậy là vào phút chót anh vẫn còn để cho người ta khám cho.”

“Vì tôi có sốt -. Xin ngài nghĩ cho, Herr Settembrini, với một cơn viêm như thế này, ở miền đồng bằng tôi cũng sẽ tìm đến bác sĩ của nhà tôi. Mà ở đây, nơi người ta có thể nói là ngồi ngay tại nguồn, có hai chuyên gia ngay trong nhà, - nếu không thì thật đã kỳ cục...”

“Dĩ nhiên, dĩ nhiên. Và như vậy là anh đã đo nhiệt độ ngay từ trước khi người ta yêu cầu anh. Nhân tiện thì, người ta cũng đã khuyên anh làm thế ngay tức thì. Cái nhiệt kế là Mylendonk dúi cho anh à?”

“Dúi cho ư? Vì có nhu cầu cần dùng, tôi đã mua của cô ấy một cái.”

“Tôi hiểu. Một vụ mua bán hoàn toàn đứng đắn. Thế ông trưởng khoa đã phán cho anh bao nhiêu tháng? ... Lạy Chúa lớn lao, thế mà tôi đã hỏi anh câu ấy một lần rồi! Anh còn nhớ chứ? Hồi ấy anh vừa mới đến. Anh đã trả lời láu lỉnh lắm...”

“Dĩ nhiên tôi còn nhớ chứ, Herr Settembrini. Từ đó đến nay tôi đã trải qua bao điều mới lạ, nhưng chuyện ấy thì hôm nay tôi vẫn nhớ như in. Ngay hồi ấy ngài đã dí dỏm như vậy và biến Hofrat Behrens thành vị phán quan địa ngục... Rhadames... Không, khoan đã, cái ấy là chuyện khác...”

“Rhadamanthys ư? Có thể tôi đã tiện miệng gọi ông ta như thế. Tôi không nhớ hết mọi điều cái đầu tôi thỉnh thoảng lại phụt ra.”

“Rhadamanthys, dĩ nhiên! Minos và Rhadamanthys! Mà hồi ấy ngài cũng kể ngay cho chúng tôi nghe về Carducci nữa...”

“Xin phép nhé, bạn thân mến, _người ấy_ thì ta hãy để sang một bên. _Cái_ tên ấy, vào lúc này, nghe ra trong miệng anh thật quá đỗi xa lạ!”

“Thôi được,” Hans Castorp cười. “Nhưng nhờ ngài mà tôi cũng đã hiểu thêm nhiều điều về ông ấy. Phải, hồi đó tôi hoàn toàn mù tịt và đã đáp ngài rằng tôi đến đây ba tuần, vì ngoài thế ra tôi chẳng biết gì. Vừa mới đó thôi, Kleefeld, để chào đón tôi, đã huýt ngay vào tai tôi cái chuyện Pneumothorax, thế nên tôi hơi luống cuống. Nhưng từ hồi đó tôi cũng đã thấy mình có sốt rồi, bởi không khí trên này đâu chỉ tốt _chống lại_ bệnh tật, nó còn tốt _cho_ bệnh tật nữa, có khi chính nó làm bệnh phát ra, và rốt cuộc điều ấy hẳn lại là cần thiết, nếu muốn có khỏi.”

“Giả thuyết thật quyến rũ. Hofrat Behrens có kể anh nghe về bà người Đức gốc Nga mà năm ngoái, - không: năm kia - chúng tôi đã có ở đây suốt năm tháng không? Chưa à? Lẽ ra ông ta nên kể. Một quý bà khả ái, về gốc gác là Đức - Nga, đã có chồng, một bà mẹ trẻ. Bà từ phương Đông đến đây, thể tạng bạch huyết, thiếu máu, mà hình như cũng có điều gì nghiêm trọng hơn nữa. Vậy đấy, bà sống ở đây được một tháng thì than rằng thấy trong người không ổn. Cứ kiên nhẫn nào! Tháng thứ hai trôi qua, và bà vẫn khăng khăng nói rằng mình chẳng khá hơn mà còn tệ đi. Người ta cho bà biết rằng bà _thế nào_ thì chỉ duy nhất bác sĩ mới có thể thẩm định; còn bà chỉ có thể nói bà _cảm thấy_ ra sao, - mà điều ấy thì chẳng quan trọng mấy. Về lá phổi của bà, người ta hài lòng. Tốt thôi, bà im lặng, bà điều dưỡng và sút cân từng tuần. Sang tháng thứ tư, trong lúc khám, bà ngất xỉu. Behrens giải thích điều ấy chẳng hề hấn gì; với lá phổi của bà, ông hoàn toàn hài lòng. Nhưng đến tháng thứ năm, khi bà không còn đi nổi nữa, bà viết điều ấy cho chồng ở phương Đông, và Behrens nhận được một bức thư của ông ấy, - trên đó đề ‘Riêng’ và ‘Khẩn’ bằng nét chữ đanh gọn, chính mắt tôi đã thấy. Bấy giờ Behrens mới nói, vừa nhún vai, rằng xem ra quả có điều này lộ ra: hiển nhiên bà ấy không hợp với khí hậu trên này. Người đàn bà ấy phát điên lên. Thế sao ông không bảo tôi sớm hơn, bà kêu lên, tôi vẫn luôn cảm thấy như thế, tôi đã hỏng hết cả rồi! ... Ta hãy hy vọng bà đã lại hồi sức bên chồng mình ở phương Đông.”

“Tuyệt quá! Ngài kể chuyện hay thật, Herr Settembrini, từng lời của ngài hầu như có hình có khối. Cả chuyện cô tiểu thư tắm hồ rồi người ta cho cô ấy Stumme Schwester nữa, tôi cũng còn nhiều lần phải âm thầm bật cười. Phải, đủ mọi chuyện đều xảy ra cả. Hẳn là người ta không bao giờ học hết được. Trường hợp của chính tôi, nói cho cùng, vẫn còn hoàn toàn mù mờ. Hofrat quả muốn nói là ở tôi đã tìm thấy một chút gì đó, - những chỗ cũ, nơi trước kia tôi đã từng bệnh mà không hay, chính tôi lúc gõ cũng nghe thấy, và giờ đây hình như đâu đó lại còn nghe ra cả một chỗ mới - à, nhân thể, ‘mới’ nói trong trường hợp này nghe cũng lạ thật. Nhưng cho tới lúc này thì mới chỉ là những cảm nhận thính giác, và sự chắc chắn chẩn đoán đích thực chỉ có được khi tôi lại dậy, rồi việc soi và chụp ảnh được tiến hành. Khi đó chúng ta sẽ biết một cách xác thực.”

“Anh nghĩ vậy ư? - Anh có biết rằng trên tấm kính chụp ảnh lắm khi xuất hiện những vết mà người ta tưởng là hang, trong khi chúng chỉ là bóng; và rằng chính ở chỗ _có_ cái gì đó thì đôi khi nó lại _không hiện vết nào_ hay không? Madonna, tấm kính chụp ảnh! Ở đây từng có một nhà nghiên cứu tiền cổ trẻ tuổi, anh ta sốt; mà vì anh ta sốt, người ta bèn nhìn thấy rõ những hang trên tấm kính chụp ảnh. Thậm chí người ta còn muốn bảo là đã nghe ra chúng nữa kia! Anh ta được chữa như một ca lao phổi, và vì thế mà chết. Cuộc mổ nghiệm cho thấy phổi anh ta chẳng hề có gì cả, và anh ta chết vì một loại cầu khuẩn nào đó.”

“Nào, nghe này, Herr Settembrini, ngài nói đến mổ nghiệm ngay cơ đấy! Với tôi thì hẳn vẫn chưa đến mức ấy đâu.”

“Kỹ sư ạ, anh thật là một gã tinh quái.”

“Còn ngài thì từ đầu đến chân là một nhà phê phán và hoài nghi, phải nói thế! Ngài đến cả khoa học chính xác mà cũng chẳng tin. Thế ở _ngài_ tấm kính có hiện vết không?”

“Có, có hiện.”

“Và ngài quả thực có ốm đôi chút chăng?”

“Vâng, đáng tiếc là tôi khá ốm,” Herr Settembrini đáp và cúi đầu xuống. Một quãng lặng xảy ra, trong đó ông ho khẽ. Hans Castorp từ tư thế nghỉ nhìn người khách vừa bị buộc phải im tiếng. Chàng có cảm tưởng như chỉ với hai câu hỏi hết sức đơn sơ của mình, chàng đã bác bỏ và làm câm lặng đủ mọi thứ, đến cả nền cộng hòa lẫn văn phong đẹp đẽ. Về phần mình, chàng chẳng làm gì để kéo câu chuyện vận hành trở lại.

Một lát sau, Herr Settembrini mỉm cười ngẩng lên trở lại.

“Giờ thì kể tôi nghe đi, kỹ sư,” ông nói, “người nhà anh đón nhận tin ấy ra sao?”

“Ý ngài là tin nào? Việc chuyến đi của tôi bị chậm lại chăng? À, người nhà tôi ấy à, ngài biết đấy, người nhà tôi ở nhà gồm có ba ông chú bác, một ông bác lớn tuổi và hai con trai của ông ấy, mà với họ thì tôi gần như ở vào quan hệ anh em họ. Ngoài ra tôi không còn ai nữa, vì tôi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ từ rất sớm. Đón nhận ra sao ư? Họ còn chưa biết bao nhiêu, cũng chẳng hơn chính tôi là mấy. Ban đầu, khi tôi phải nằm xuống, tôi đã viết cho họ rằng tôi bị cảm nặng và không thể đi đường. Còn hôm qua, vì chuyện này giờ đã kéo dài hơi lâu một chút, tôi lại viết thêm lần nữa và nói Hofrat Behrens do cơn viêm mà chú ý đến tình trạng lồng ngực của tôi, và ông cứ khăng khăng đòi tôi kéo dài thời gian lưu lại cho đến khi làm rõ xong chuyện ấy. Tin ấy hẳn họ đã tiếp nhận với một sự bình thản rất lớn.”

“Còn vị trí của anh? Anh từng nói đến một địa hạt hoạt động thực tiễn mà anh vừa định bước vào.”

“Vâng, với tư cách một người tập sự. Tôi đã xin người ta tạm thời cáo lỗi cho tôi với xưởng tàu. Ngài đừng tưởng vì thế mà ở đấy người ta tuyệt vọng. Không có một người tập sự thì họ cũng xoay xở được bao lâu cũng được.”

“Rất tốt! Xét từ phía ấy thì mọi sự đều đâu vào đấy. Điềm đạm từ đầu đến cuối. Nhìn chung ở xứ anh người ta điềm đạm, phải không? Nhưng cũng đầy nghị lực!”

“Ồ vâng, cũng nghị lực nữa, đúng, rất nghị lực,” Hans Castorp nói. Chàng xét lại từ xa bầu khí sinh hoạt ở quê nhà và thấy người đối thoại đã mô tả đúng. “Điềm đạm và nghị lực, đúng là họ như thế.”

“Nào,” Herr Settembrini tiếp, “nếu anh ở lại lâu hơn, thì hẳn sẽ không tránh khỏi việc trên này chúng tôi được làm quen với ông chú của anh - ý tôi là ông bác lớn tuổi ấy. Không nghi ngờ gì nữa, ông ấy sẽ lên đây thăm nom anh.”

“Không thể nào!” Hans Castorp kêu lên. “Tuyệt đối không đời nào! Có mười con ngựa cũng không kéo nổi ông ấy lên đây! Ông chú tôi mắc chứng trúng phong nặng, ngài biết đó, ông ấy gần như không còn cổ nữa. Không, ông ấy cần một áp suất không khí cho phải lẽ, trên này ông ấy còn chịu tệ hơn cả bà phu nhân từ phương Đông của ngài, ông ấy sẽ lên đủ mọi cơn mất.”

“Điều ấy làm tôi thất vọng. Vậy là bị chứng trúng phong ư? Phlegma với nghị lực thì giúp gì được tôi trong chuyện ấy. - Hẳn ông chú của anh giàu lắm? Và cả anh nữa, anh cũng giàu? Ở nhà anh người ta giàu có.”

Hans Castorp mỉm cười trước lối khái quát hóa đầy văn nhân của Herr Settembrini, rồi lại từ tư thế nghỉ của mình đưa mắt nhìn ra xa, vào cái cõi quê nhà mà chàng đã bị tách khỏi. Chàng hồi tưởng, chàng cố phán đoán một cách vô tư, khoảng cách khích lệ và khiến chàng có khả năng làm điều đó. Chàng đáp:

“Người ta giàu, vâng, - hoặc là không. Mà nếu không, - thì càng tệ. Còn tôi ư? Tôi không phải triệu phú, nhưng phần của tôi đã được bảo đảm, tôi độc lập, tôi có cái để sống. Ta hãy gác tôi sang một bên. Nếu ngài nói: ở dưới kia người ta _phải_ giàu, - thì tôi đã đồng ý với ngài rồi. Vì cứ thử giả như người ta _không_ giàu, hoặc thôi không còn giàu nữa, - thì khốn thay. ‘Người ấy à? Người ấy còn tiền không nhỉ?’ họ hỏi như vậy... Nguyên văn đúng thế và đúng với cái vẻ mặt như thế; tôi đã nghe lắm lần, và tôi nhận ra rằng câu ấy đã in vào tôi. Vậy thì hẳn nó đã khiến tôi thấy kỳ quặc lắm, mặc dầu tôi vốn quen nghe, - bằng không nó đã chẳng in vào tôi đến thế. Hay ngài nghĩ sao? Không, chẳng hạn tôi không tin đời sống bên chúng tôi lại có thể hợp với chính ngài, với tư cách một _homo humanus_; ngay cả với tôi, vốn vẫn là người ở nhà nơi ấy, lắm phen nó cũng đã hiện ra quá quắt, như về sau tôi mới nhận thấy, tuy cá nhân tôi quả chưa từng phải khổ vì chuyện đó. Ai không cho dọn những thứ rượu ngon nhất, đắt nhất trong các bữa tiệc tối của mình thì người ta tuyệt nhiên không đến nhà, và con gái ông ta cứ thế mà ế chồng. Người ta là như vậy đấy. Nằm đây thế này mà nhìn nó từ đằng xa, tôi thấy nó thật quá quắt. Ngài vừa dùng những chữ gì nhỉ, - điềm đạm và? Và nghị lực! Được, nhưng thế nghĩa là gì? Nghĩa là cứng rắn, lạnh lùng. Và cứng rắn, lạnh lùng nghĩa là gì? Nghĩa là tàn nhẫn. Dưới kia là một bầu không khí tàn nhẫn, không khoan nhượng. Nằm như thế này mà nhìn nó từ đằng xa, người ta có thể thấy rợn người vì nó.”

Settembrini lắng nghe chàng và gật đầu. Ông còn tiếp tục như thế ngay cả khi Hans Castorp tạm thời đã kết thúc lời phê bình của mình và không nói thêm nữa. Rồi ông thở ra và nói:

“Tôi không muốn tô hồng những hình thức biểu hiện đặc thù mà sự tàn nhẫn tự nhiên của đời sống mang lấy trong xã hội của anh. Dẫu sao đi nữa, lời trách cứ về sự tàn nhẫn vẫn là một lời trách cứ khá cảm tính. Tại chỗ, hẳn anh sẽ khó mà thốt ra lời ấy, vì sợ tự thấy mình lố bịch. Rất đúng khi anh để lời đó cho những kẻ đào ngũ khỏi đời sống. Nay anh lại thốt ra nó, điều ấy chứng tỏ một mức độ xa lạ nào đó mà tôi không muốn thấy lớn thêm, bởi người nào đã quen buông ra lời ấy thì rất dễ đánh mất đời sống, đánh mất hình thức đời sống mà mình được sinh ra để thuộc về. Anh có biết điều đó nghĩa là gì không, kỹ sư: ‘đánh mất mình đối với đời sống’? Còn tôi, tôi biết, ngày nào trên này tôi cũng nhìn thấy điều ấy. Chậm nhất là sau nửa năm, người trẻ nào lên đây (mà hầu như chỉ toàn người trẻ lên đây thôi) cũng chẳng còn một ý nghĩ nào khác trong đầu ngoài chuyện tán tỉnh và nhiệt độ. Và chậm nhất là sau một năm, người ấy cũng sẽ không bao giờ còn nắm bắt nổi một ý nghĩ nào khác nữa, trái lại sẽ cảm thấy bất cứ ý nghĩ nào khác là ‘tàn nhẫn’ hoặc, nói cho đúng hơn, là sai lầm và thiếu hiểu biết. Anh thích chuyện kể, - tôi có thể đãi anh cả một mẻ. Tôi có thể kể anh nghe về người con trai và người chồng đã ở đây mười một tháng, một người mà tôi quen. Anh ta có lẽ lớn hơn anh một ít, - thậm chí còn lớn hơn đôi chút nữa. Người ta cho anh ta về thử, như một ca đã khá hơn; anh ta trở về nhà, vào vòng tay những người thân yêu; đó không phải là các ông chú, mà là mẹ và vợ. Suốt ngày anh ta nằm với cái nhiệt kế trong miệng và chẳng biết gì khác. ‘Các người không hiểu đâu,’ anh ta nói. ‘Phải sống ở trên ấy mới biết nó phải như thế nào. Ở dưới này thiếu hẳn những khái niệm cơ bản.’ Kết cục là bà mẹ quyết định: ‘Con cứ lên lại đi. Với con thì chẳng còn làm gì được nữa.’ Và anh ta lại lên. Anh ta trở về ‘quê hương’, - anh cũng biết đấy, người ta gọi nơi này là ‘quê hương’ một khi đã từng sống ở đây. Với người vợ trẻ, anh ta đã hoàn toàn xa lạ, vì nàng thiếu những ‘khái niệm cơ bản’, và nàng đành từ bỏ. Nàng hiểu ra rằng ở quê hương anh ta sẽ tìm được một bạn đồng hành có cùng những ‘khái niệm cơ bản’ và sẽ ở lì lại đó.”

Hans Castorp dường như chỉ nghe bằng nửa tai. Chàng vẫn cứ nhìn vào sự sáng rực của đèn nung trong căn phòng trắng, như nhìn vào một cõi xa xăm. Chàng bật cười muộn màng và nói:

“Ông ta gọi nơi ấy là ‘quê hương’ ư? Quả đúng là có phần đa cảm thật, như ông nói. Vâng, chuyện thì ông biết không xiết kể. Tôi vừa còn nghĩ tiếp về điều chúng ta nói khi nãy, về sự cứng rắn và tàn nhẫn; mấy ngày nay tôi cũng đã nhiều lần nghĩ ngợi về chuyện ấy. Ông xem, hẳn người ta phải có một làn da khá dày mới có thể bẩm sinh mà hoàn toàn tán đồng lối suy nghĩ của những người dưới kia ở miền đồng bằng, cùng những câu hỏi như: ‘Thế nó còn tiền không?’ và cái vẻ mặt họ bày ra khi hỏi thế. Thật ra điều ấy chưa bao giờ hoàn toàn tự nhiên đối với tôi, mặc dầu tôi thậm chí cũng chẳng phải là một _homo humanus_; giờ ngẫm lại tôi mới thấy nó vẫn luôn luôn làm tôi lấy làm lạ. Có lẽ bởi cái khuynh hướng vô thức của tôi nghiêng về bệnh tật mà điều ấy không tự nhiên đối với tôi chăng, – chính tôi cũng đã nghe nói đến những vết cũ rồi, mà bây giờ Behrens lại được cho là đã tìm thấy ở tôi một chỗ nhỏ mới. Hẳn nhiên điều ấy đến với tôi như một sự bất ngờ, thế nhưng thực ra tận đáy lòng tôi cũng không lấy làm lạ lắm. Nói cho thật, tôi chưa bao giờ cảm thấy mình khỏe như bàn thạch cả; vả lại, cả cha lẫn mẹ tôi đều mất quá sớm, – tôi mồ côi cả cha lẫn mẹ từ thuở nhỏ kia mà...”

Ông Settembrini vận cả đầu, vai và hai tay vào một cử chỉ thống nhất, khiến câu hỏi “Thế thì sao? Rồi nữa?” hiện lên thật rõ ràng, vui vẻ và lịch thiệp.

“Nhưng ông là nhà văn,” Hans Castorp nói, “– là văn sĩ; hẳn ông phải hiểu những chuyện như thế chứ, và thấy rằng trong những hoàn cảnh ấy người ta khó lòng có một bụng dạ thật rắn rỏi mà thấy sự tàn nhẫn của thiên hạ là hoàn toàn tự nhiên được, – cái hạng người tầm thường ấy, ông biết đấy, cứ đi lại, cười cợt, kiếm tiền, ăn cho no nê... Tôi không biết có phải tôi nói đúng...”

Settembrini cúi mình. “Ý ông muốn nói,” ông giải thích, “rằng sự tiếp xúc sớm sủa và lặp đi lặp lại với cái chết tạo ra một âm hưởng nền trong tâm hồn, khiến con người trở nên dễ bị kích động và nhạy cảm trước những cứng rắn và thô nhám của đời sống trần thế vô tư lự, nói cách khác: trước cái tính hoài nghi trơ tráo của nó.”

“Đúng hệt như thế!” Hans Castorp kêu lên với sự hăng hái chân thành. “Diễn đạt không chê vào đâu được, chính xác đến từng chấm trên chữ i, thưa ông Settembrini! Với cái chết –! Tôi đã biết ngay mà, rằng ông, với tư cách một văn sĩ...”

Settembrini đưa tay về phía chàng, đồng thời nghiêng đầu sang một bên và nhắm mắt lại, – một cử chỉ rất đẹp, rất dịu dàng, vừa để ngăn lại vừa như xin được nghe tiếp. Ông giữ nguyên tư thế ấy trong mấy giây, cả khi Hans Castorp đã im bặt từ lâu và hơi lúng túng chờ đợi những điều sắp được nói ra. Cuối cùng ông lại mở đôi mắt đen – đôi mắt của những người kéo đàn quay – và lên tiếng:

“Xin cho phép. Xin cho phép tôi, thưa kỹ sư, được nói với ông và đặt vào lòng ông điều này: cách duy nhất lành mạnh và cao quý, hơn nữa – tôi muốn đặc biệt thêm vào đây – cũng là cách duy nhất _có tính tôn giáo_ để nhìn cái chết, là lĩnh hội và cảm nhận nó như một thành phần cấu thành, một phần đi kèm, một điều kiện thiêng liêng của sự sống, _chứ không phải_ – điều sẽ trái ngược với lành mạnh, cao quý, hợp lý và tôn giáo – tách nó ra khỏi sự sống trong tinh thần, đặt nó vào thế đối lập với sự sống, thậm chí còn, một cách khả ố, đem nó ra làm con bài chống lại sự sống. Người xưa trang sức những cỗ quách của họ bằng các biểu tượng của sự sống và sự sinh sản, cả những biểu tượng dâm tục nữa, – bởi đối với lòng mộ đạo cổ đại, cái thiêng rất thường là một với cái dâm tục. Những con người ấy biết tôn kính cái chết. Cái chết đáng tôn kính với tư cách chiếc nôi của sự sống, với tư cách dạ con của sự tái sinh. Khi bị nhìn như tách rời khỏi sự sống, nó trở thành ma ảnh, thành bộ mặt nhăn nhở – và thành một cái gì còn tệ hại hơn nữa. Bởi cái chết, với tư cách một quyền lực tinh thần tự lập, là một quyền lực hết sức đồi bại; sức hấp dẫn tội lỗi của nó dĩ nhiên là rất mạnh, nhưng đồng cảm với nó thì cũng dứt khoát có nghĩa là sự lạc lối ghê rợn nhất của tinh thần con người.”

Đến đây ông Settembrini im lặng. Ông dừng lại ở mức khái quát ấy và kết thúc hết sức dứt khoát. Ông nói rất nghiêm túc; ông đã không nói theo lối chuyện trò mua vui, đã khinh không cho người đối thoại cơ hội móc nối và cãi lại, mà đến cuối các luận điểm thì hạ thấp giọng xuống và đặt một dấu chấm hết. Ông ngồi đó, miệng khép lại, hai tay đan nhau đặt trong lòng, một chân mặc chiếc quần kẻ ô gác lên chân kia, chỉ khẽ đung đưa bàn chân lơ lửng trên không, đồng thời nghiêm khắc ngắm nhìn nó.

Thế là Hans Castorp cũng im lặng. Ngồi trong chăn lông, chàng quay đầu về phía tường và gõ nhè nhẹ đầu ngón tay lên tấm chăn chần. Chàng cảm thấy mình bị chỉ bảo, bị uốn nắn, thậm chí bị rầy la, và trong sự im lặng của chàng có rất nhiều vẻ bướng bỉnh trẻ con. Quãng ngưng của cuộc trò chuyện kéo dài khá lâu.

Cuối cùng ông Settembrini lại ngẩng đầu lên và mỉm cười nói:

“Ông còn nhớ chăng, thưa kỹ sư, rằng chúng ta đã từng có một cuộc tranh luận tương tự rồi – có thể nói: cũng chính là cuộc này? Bấy giờ chúng ta đã chuyện trò – tôi tin là trong một buổi đi dạo – về bệnh tật và sự ngu độn, mà ông cho sự kết hợp của chúng là một nghịch lý, bởi ông quá kính nể bệnh tật. Tôi gọi sự kính nể ấy là một nỗi quái gở u tối, thứ làm hoen ố tư tưởng con người; và dường như, khiến tôi thích thú, ông cũng không hoàn toàn khước từ việc cân nhắc sự phản bác của tôi. Chúng ta cũng đã nói về tính trung lập và sự lưỡng lự tinh thần của tuổi trẻ, về quyền tự do lựa chọn của nó, về khuynh hướng muốn thử nghiệm những lập trường khả dĩ, và rằng người ta chưa nên – chưa cần – xem những thử nghiệm như thế là những chọn lựa chung cuộc, hệ trọng đối với đời sống. Ông có muốn,” và ông Settembrini mỉm cười cúi người tới trước trên ghế, hai bàn chân đặt song song trên sàn, hai tay chắp lại giữa hai đầu gối, cái đầu cũng hơi nghiêng về trước, “ông có muốn tiếp tục cho phép tôi,” ông nói, và trong giọng ông có một rung động khe khẽ, “được giúp tay ông đôi chút trong những bài tập và thí nghiệm của ông, và tác động điều chỉnh lên ông khi có nguy cơ của những sự cố định tai hại chăng?”

“Nhưng dĩ nhiên rồi, thưa ông Settembrini!” Hans Castorp vội vàng từ bỏ cái vẻ quay đi vừa lúng túng vừa nửa như bướng bỉnh của mình, thôi gõ lên chăn và quay lại phía vị khách với một vẻ thân thiện bối rối. “Thật ra ông tử tế quá đỗi... Quả thực tôi tự hỏi không biết mình... Tức là, không biết ở tôi có phải là...”

“Hoàn toàn _sine pecunia_,” ông Settembrini trích dẫn, vừa đứng dậy. “Ai lại để mình mang tiếng bủn xỉn chứ.” Họ cùng cười. Người ta nghe cánh cửa kép bên ngoài mở động, và ngay khoảnh khắc sau cánh cửa trong cũng được hạ then. Đó là Joachim trở về sau buổi giao tiếp tối. Vừa trông thấy người Ý, chàng cũng đỏ mặt, như phần mình Hans Castorp lúc nãy đã đỏ mặt: vẻ sạm tối do nắng hun trên khuôn mặt chàng lại thẫm thêm một sắc độ.

“Ồ, anh có khách à,” chàng nói. “Thật dễ chịu cho anh. Em bị giữ chân lại. Họ ép em vào một ván bridge, – ngoài mặt họ gọi thế,” chàng lắc đầu nói, “nhưng rốt cuộc lại là chuyện hoàn toàn khác. Em thắng được năm mark...”

“Miễn là chuyện ấy đừng trở thành một sức quyến rũ tội lỗi đối với cậu,” Hans Castorp nói. “Hm, hm. Trong khi đó ông Settembrini đã giúp anh tiêu khiển thời giờ một cách thật đẹp... mà nói thế thật ra vẫn chưa đúng. Cùng lắm chỉ có thể nói thế về món bridge giả hiệu của các cậu thôi, chứ ông Settembrini đã lấp đầy thời giờ của anh một cách hệ trọng biết bao... Làm người tử tế thì hẳn phải dùng cả tay lẫn chân mà tìm cách thoát khỏi nơi này, – nhất là bây giờ giữa đám các cậu đến bridge giả hiệu cũng đã bắt đầu rồi. Nhưng để còn được nghe ông Settembrini thật nhiều lần nữa, và còn được ông chuyện trò mà giúp tay cho, anh gần như có thể ao ước cứ sốt dai dẳng không biết đến bao giờ mà mắc kẹt lại đây với các cậu... Khéo đến cuối cùng người ta còn phải cắt cho anh một chị y tá câm để anh khỏi ăn gian mất.”

“Tôi xin nhắc lại, thưa kỹ sư, ông là một tay tinh quái đấy,” người Ý nói. Ông cáo từ bằng những nghi thức dễ chịu nhất. Chỉ còn lại một mình với người em họ, Hans Castorp thở dài.

“Thật là một nhà giáo!” chàng nói... “Một nhà giáo nhân văn, điều ấy phải công nhận. Ông ta cứ luôn luôn tác động điều chỉnh lên người ta, lúc thì bằng những câu chuyện, lúc thì bằng hình thức trừu tượng. Và với ông ta, người ta lại nói đến những chuyện mà trước nay chẳng bao giờ nghĩ rằng mình có thể bàn tới, hay thậm chí chỉ là hiểu nổi. Mà nếu tôi gặp ông ta ở dưới miền đồng bằng, thì tôi _hẳn_ cũng đã không hiểu nổi chúng,” chàng thêm vào.

Vào giờ ấy Joachim nán lại với chàng một lúc; chàng hy sinh chừng nửa giờ đến ba phần tư giờ trong liệu pháp nằm nghỉ buổi tối của mình. Đôi khi họ chơi cờ trên mặt bàn ăn của Hans Castorp, – Joachim đã mang một bộ cờ từ dưới kia lên. Về sau chàng tay xách nách mang, ngậm nhiệt kế trong miệng, ra ban công của mình, và Hans Castorp cũng đo nhiệt độ lần cuối, trong khi những điệu nhạc nhẹ từ đâu gần hay xa vẳng lên từ thung lũng đêm. Đến mười giờ thì liệu pháp nằm nghỉ chấm dứt; người ta nghe Joachim; người ta nghe đôi vợ chồng ở bàn người Nga xấu... Và Hans Castorp nằm nghiêng, chờ giấc ngủ tới.

Ban đêm là nửa khó khăn hơn của ngày, bởi Hans Castorp thường hay tỉnh giấc, và chẳng hiếm khi nằm thao thức hàng giờ, hoặc vì nhiệt máu không thật chuẩn mực của chàng khiến chàng tỉnh táo, hoặc vì ham muốn và năng lực ngủ đã bị tổn giảm do lối sống hiện thời hoàn toàn nằm ngang của chàng. Bù lại, những giờ thiếp ngủ được làm sinh động bởi những giấc mơ biến hóa và rất giàu sức sống, mà chàng có thể còn vương theo khi nằm thức. Và nếu chính sự phân chia và sắp xếp nhiều nấc của ban ngày khiến nó trở nên ngắn thú vị, thì về ban đêm, tác động theo cùng một hướng lại chính là tính đơn điệu nhòa chảy của những giờ đang trôi đi. Nhưng một khi buổi sáng đã đến gần, thì việc quan sát căn phòng dần dần xám lại rồi hiện ra, thấy các đồ vật nổi lên và được cởi màn che phủ, thấy ngày ngoài kia bốc cháy trong một thứ ánh rực âm ỉ mù đục hoặc tươi sáng vui vẻ, đều là những điều lý thú; và chưa kịp nghĩ thì khoảnh khắc đã lại đến, khi tiếng gõ chắc nịch của người quản việc tắm loan báo thời khóa biểu trong ngày bắt đầu có hiệu lực.

Hans Castorp không mang theo lịch trong chuyến đi chơi của mình, cho nên về ngày tháng chàng không phải lúc nào cũng nắm thật chính xác. Thỉnh thoảng chàng hỏi người em họ, nhưng về điểm này Joachim cũng không phải lúc nào cũng thật chắc chắn. Dẫu sao, những ngày chủ nhật, nhất là ngày chủ nhật thứ hai, ngày chủ nhật có hòa nhạc theo chu kỳ hai tuần một lần, mà Hans Castorp đã trải qua theo cách ấy, cũng cung cấp đôi chút mốc dựa; và ít ra có một điều chắc chắn, ấy là tháng Chín dần dần đã tiến khá xa, gần tới giữa tháng. Ngoài kia dưới thung lũng, từ khi Hans Castorp chịu nằm liệt giường, cái thời tiết mù đục và lạnh lẽo khi ấy đã nhường chỗ cho những ngày cuối hè tuyệt đẹp, vô số ngày như thế, cả một chuỗi dài, đến nỗi sáng nào Joachim cũng mặc quần trắng bước vào phòng người anh em họ, và Hans Castorp đã không sao nén được một nỗi tiếc nuối chân thành, nỗi tiếc của tâm hồn và của những bắp thịt trẻ trung của chàng, trước việc bỏ lỡ quãng thời gian rực rỡ như vậy. Có lần chàng thậm chí còn khẽ gọi đó là một “điều đáng xấu hổ”, – rồi để tự trấn an, chàng lại thêm rằng dù có được tự do đi lại thì chàng cũng chẳng biết làm gì hơn bây giờ với thời gian ấy, vì theo kinh nghiệm ở đây, sự vận động nhiều là điều bị cấm. Dẫu sao, cánh cửa ban công rộng mở kia cũng vẫn cho chàng được dự phần đôi chút vào ánh ấm áp ngoài ấy.

Nhưng về cuối thời gian ẩn dật bị áp đặt ấy, thời tiết lại đổi. Chỉ sau một đêm, trời đã thành sương mù và lạnh buốt, thung lũng trùm trong cơn tuyết ướt xoáy mù, và hơi khô của hệ thống sưởi bằng hơi nước đầy kín căn phòng. Trời cũng như vậy vào ngày Hans Castorp, trong buổi đi buồng sáng của các bác sĩ, nhắc ông Hofrat rằng hôm nay chàng đã nằm đủ ba tuần, và xin phép được dậy.

“Quái quỷ, ông đã xong rồi à?” Behrens nói. “Để tôi xem nào; quả thật đúng thế. Trời đất, người ta già đi mới nhanh làm sao. Trong khi đó ông cũng chẳng thay đổi bao nhiêu lắm đâu. Gì nào, hôm qua bình thường à? Phải, trừ lần đo sáu giờ chiều. Nào, Castorp, vậy thì tôi cũng không làm khó nữa và sẽ hoàn trả ông về cho xã hội loài người. Đứng dậy mà đi lại đi, ông bạn! Dĩ nhiên trong những giới hạn và chừng mực đã định. Chúng ta sẽ sớm làm chân dung bên trong cho ông. Ghi nhớ nhé!” ông vừa đi ra vừa nói với bác sĩ Krokowski, đồng thời hất ngón tay cái khổng lồ qua vai chỉ về phía Hans Castorp và nhìn viên trợ lý tái nhợt bằng đôi mắt xanh đỏ quạch, ướt nước của mình... Hans Castorp rời khỏi “nhà xe”.

Cổ áo khoác dựng cao và chân đi giày cao su, lần đầu tiên chàng lại cùng người em họ đi đến chiếc ghế bên dòng nước rồi quay về, không quên dọc đường nêu ra câu hỏi không biết ông Hofrat hẳn còn để chàng nằm đến bao lâu nữa, nếu chính chàng không báo là kỳ hạn đã hết. Và Joachim, mắt nhìn sụp xuống, miệng hé ra như muốn thốt một tiếng “ôi” tuyệt vọng, đưa vào không trung một cử chỉ diễn tả cái vô hạn không sao thấy tận.

“Lạy Chúa, tôi thấy!”

Phải một tuần sau, Hans Castorp mới được bà quản viện von Mylendonk cho gọi xuống phòng xuyên quang. Chàng chẳng muốn giục. Trong nhà Berghof người ta đang bận rộn; hiển nhiên các bác sĩ và nhân viên đều đầu tắt mặt tối. Mấy ngày gần đây có khách mới tới: hai sinh viên Nga tóc dày, mặc áo đen cài kín, không hở ra lấy một chút đồ lót; một cặp vợ chồng Hà Lan, được xếp chỗ ở bàn Settembrini; một người México gù lưng, khiến cả bàn ăn kinh hoảng vì những cơn khó thở khủng khiếp: mỗi khi lên cơn, ông ta dùng đôi tay dài siết chặt lấy bất cứ người ngồi bên nào, ông hay bà cũng vậy, ghì cứng như ê-tô, kéo những người hoảng hốt chống cự, vừa kêu cứu, vào tận nỗi kinh hãi của mình. Tóm lại, phòng ăn gần như kín chỗ, mặc dầu mùa đông phải tới tháng Mười mới bắt đầu. Vả lại, mức độ nghiêm trọng trong trường hợp của Hans Castorp, tình trạng bệnh của chàng, cũng hầu như không cho phép chàng đòi hỏi được lưu ý đặc biệt. Chẳng hạn Frau Stöhr, với tất cả sự ngu độn và thất học của bà, hẳn còn bệnh nặng hơn chàng nhiều, chưa nói tới bác sĩ Blumenkohl. Phải là người hoàn toàn không còn chút cảm thức nào về thứ bậc và khoảng cách, mới không xử sự trong trường hợp của Hans Castorp bằng một sự dè dặt khiêm nhường, nhất là vì chính tinh thần của nhà này là như thế. Người bệnh nhẹ chẳng được coi ra gì; chàng đã hơn một lần nghe ra điều đó trong các câu chuyện. Người ta nói về họ với vẻ khinh thị, theo thước đo lưu hành nơi đây, họ bị nhìn bằng nửa con mắt qua vai; mà không chỉ những người bậc cao và rất cao mới thế, cả những người bản thân cũng chỉ là “nhẹ”: dĩ nhiên như vậy họ cũng phơi bày sự khinh thị đối với chính mình, nhưng đồng thời cứu vãn được một lòng tự trọng cao hơn, bằng cách khuất phục trước thước đo ấy. Loài người là vậy. “Ôi, hắn à!” họ có thể nói với nhau, “thực ra hắn có làm sao đâu, đến cái quyền ở đây hắn cũng chỉ vừa vừa thôi. Đến một cái hang lao hắn cũng chẳng có...” Đó là tinh thần ở đây; nó quý tộc theo cái nghĩa riêng của nó, và Hans Castorp chào kính nó bằng lòng tôn trọng bẩm sinh đối với luật lệ và trật tự dưới mọi hình thức. Vẫn có câu: thôn dã mà thuần phong. Kẻ lữ hành tỏ ra ít được giáo dưỡng nếu đem phong tục và giá trị của dân bản xứ ra giễu cợt, mà những phẩm tính làm nên danh dự thì có thứ này thứ nọ. Ngay với chính Joachim, Hans Castorp cũng giữ một sự kính nể và dè dặt nào đó, không hẳn vì người anh em họ đã ở đây lâu hơn và là kẻ dẫn dắt chàng trong thế giới này, mà chủ yếu vì Joachim không còn nghi ngờ gì nữa là người “nặng” hơn. Nhưng vì mọi sự đều như thế, nên cũng dễ hiểu khi người ta có xu hướng làm cho trường hợp của mình ra vẻ đáng kể nhất có thể, và, liên quan đến bản thân, đôi khi còn cường điệu nữa, để được thuộc vào tầng lớp quý tộc ấy hoặc đến gần nó hơn. Cả Hans Castorp, khi được hỏi ở bàn ăn, cũng đôi khi khai thêm vài vạch so với điều chàng thực sự đo được, và chàng không thể nào không thấy được nịnh nọt khi người ta đưa ngón tay doạ chàng như doạ một kẻ chẳng phải vừa. Nhưng ngay cả khi có bày đặt thêm một chút, thì nói cho đúng, chàng vẫn chỉ là một người thuộc hạng mức thấp; vì vậy, kiên nhẫn và dè dặt hẳn là cách xử sự hợp với chàng.

Chàng lại tiếp tục nếp sống của ba tuần đầu tiên, cái đời sống nay đã thành quen thuộc, đều đặn và được quy định chính xác ấy bên Joachim, và mọi việc vận hành trơn tru ngay từ ngày đầu, như thể chưa hề có sự gián đoạn nào. Quả thật, sự gián đoạn ấy đã quá đỗi không đáng kể; chàng lập tức cảm thấy rõ điều đó nhân lần đầu trở lại bàn ăn. Dù Joachim, vốn rất coi trọng những dấu mốc loại ấy và tỏ ra cố ý coi trọng chúng, đã lo đặt vài bông hoa trang sức chỗ ngồi của người vừa sống lại. Nhưng lời chào đón của các bạn cùng bàn thì rất ít tính lễ hội, hầu như chỉ khác không đáng kể so với những lần trước, khi trước đó xa cách không phải ba tuần mà ba giờ: ít vì họ dửng dưng với con người giản dị và dễ mến của chàng, hay vì họ quá bận với chính mình, nghĩa là: với cơ thể thú vị của mình, hơn là vì quãng thời gian ở giữa ấy đã không hề thành ý thức đối với họ. Và Hans Castorp theo họ trong điểm này chẳng hề khó, bởi chính chàng cũng ngồi vào chỗ của mình ở đầu bàn, giữa cô giáo và Miß Robinson, cứ như chậm lắm thì hôm qua chàng còn ngồi ở đây.

Nhưng nếu ngay tại bàn người ta đã chẳng làm om chuyện chàng chấm dứt thời gian ở riêng ấy bao nhiêu, thì ở phần còn lại của phòng ăn người ta sao lại phải làm ầm lên? Ở đó, theo đúng nghĩa đen, chẳng ai buồn để ý đến việc ấy lấy một chút, ngoại trừ duy Settembrini, người sau bữa ăn đã bước lại chào chàng bằng một vẻ thân mật đùa cợt. Dĩ nhiên Hans Castorp còn muốn thêm một ngoại lệ nữa, mà tính xác đáng của nó xin cứ để ngỏ. Trong thâm tâm, chàng quả quyết rằng Clawdia Chauchat đã nhận ra sự xuất hiện trở lại của mình: ngay khi nàng, như thường lệ, bước vào muộn, sau tiếng cánh cửa kính khép lại, đã để ánh nhìn hẹp của mình dừng trên chàng, cái nhìn chàng đã bắt gặp, và vừa mới ngồi xuống, nàng lại còn mỉm cười ngoái qua vai nhìn chàng một lần nữa: mỉm cười như ba tuần trước, trước khi chàng đi khám. Và đó là một cử động công nhiên và bất chấp đến thế, bất chấp đối với chính nàng cũng như đối với toàn thể khách khứa còn lại, khiến chàng không biết phải ngây ngất vì nó hay hiểu đó là một dấu hiệu khinh thị mà nổi giận. Dẫu sao thì tim chàng cũng đã co thắt lại dưới những cái nhìn ấy, những cái nhìn đã phủ nhận và bác bỏ một cách theo mắt chàng là ghê gớm và say sưa cái sự không quen biết nhau về mặt giao tế vẫn tồn tại giữa người đàn bà bệnh và chàng; tim chàng hầu như co thắt đau đớn ngay từ lúc cánh cửa kính lanh canh, bởi chàng đã chờ khoảnh khắc ấy với hơi thở ngắn gấp.

Cũng cần nói thêm rằng những mối liên hệ nội tâm của Hans Castorp với nữ bệnh nhân ở bàn Người Nga tốt, sự dự phần của giác quan và đầu óc khiêm nhường của chàng vào con người tầm vóc trung bình, bước đi mềm lướt, mắt Kyrgyz ấy, nói ngắn, mối phải lòng của chàng (xin cứ dùng chữ ấy, dẫu đó là một chữ của “dưới kia”, một chữ của miền đồng bằng, và có thể gợi ra ý nghĩ như thể câu hát “Sao chạm đến tôi lạ lùng” ở đây bằng cách nào đó lại thích hợp) đã tiến rất xa trong thời gian chàng ở riêng. Hình ảnh nàng lởn vởn trước mắt chàng khi chàng thức sớm ngó vào căn phòng đang chầm chậm vén màn, hoặc buổi tối nhìn vào bóng hoàng hôn đang dày lên (ngay cả vào giờ Settembrini bước vào phòng chàng giữa lúc đèn đột ngột bừng sáng, hình ảnh ấy cũng hiện lên trước mắt chàng cực kỳ rõ rệt, và đó là lý do khiến chàng đỏ mặt khi trông thấy nhà nhân văn); chàng nghĩ đến miệng nàng, gò má nàng, đôi mắt nàng, mà màu sắc, hình dạng, vị trí cứa vào tâm hồn chàng, nghĩ đến tấm lưng buông lơi, thế giữ đầu, đốt sống cổ ở chỗ khoét gáy của chiếc blouse, những cánh tay được lớp voan mỏng nhất làm cho huyền ảo của nàng, trong từng giờ một của ngày bị băm vụn; và nếu ta đã không nói ra rằng đó chính là phương tiện giúp cho các giờ trôi qua đối với chàng nhẹ nhõm đến thế, thì ấy là vì ta đồng cảm với nỗi cắn rứt lương tâm pha trộn vào niềm hạnh phúc đáng sợ của những hình ảnh và ảo thị ấy. Phải, trong đó có cả kinh hãi, cả chấn động, một niềm hy vọng phóng túng vào cõi mơ hồ, vô hạn và hoàn toàn phiêu lưu, có vui mừng và lo sợ, thứ lo sợ vô danh nhưng đôi khi bóp nghẹt trái tim chàng thanh niên ấy, trái tim theo nghĩa đen và nghĩa cơ thể, một cách đột ngột đến nỗi chàng đưa một tay lên vùng trái tim ấy, còn tay kia lên trán, che ngang mắt như một tấm chắn, và thì thầm:

Lạy Chúa tôi!

Vì đằng sau vầng trán ấy có những ý nghĩ hoặc nửa ý nghĩ chính chúng mới ban cho những hình ảnh và ảo thị kia cái vị ngọt ngào quá đỗi của chúng, và chúng liên quan đến sự lơ đãng cùng bất chấp của Madame Chauchat, đến tình trạng đau ốm của nàng, đến sự bệnh tật làm tăng cường và nhấn mạnh cơ thể nàng, đến sự bệnh tật hiện thân hoá bản thể nàng, thứ bệnh mà theo phán quyết y khoa, nay chính Hans Castorp cũng sẽ được dự phần. Sau vầng trán mình, chàng hiểu cái tự do phiêu lưu với đó Frau Chauchat, bằng cái ngoái nhìn và nụ cười, đã gạt phăng sang một bên sự không quen biết nhau về mặt giao tế giữa họ, cứ như thể họ hoàn toàn chẳng phải là những hữu thể xã hội và thậm chí cũng chẳng cần phải _nói chuyện_ với nhau... và chính điều ấy làm chàng kinh hãi: chàng kinh hãi theo cùng một nghĩa như bữa trước trong phòng khám, khi từ phần thân trên của Joachim chàng vội vã ngước mắt tìm lên đôi mắt anh mình, chỉ khác rằng khi ấy lòng thương xót và mối lo là nguyên do của nỗi kinh hãi, còn ở đây thì những điều hoàn toàn khác đang nhập cuộc.

Giờ đây đời sống Berghof, cái đời sống ưu ái và được điều độ khéo léo ấy trên một sân khấu chật hẹp, lại tiếp tục bước đi đều đặn của nó; Hans Castorp, trong khi chờ chụp ảnh bên trong, vẫn tiếp tục chia sẻ nó với Joachim tốt bụng, bằng cách sống từng giờ từng khắc hệt như anh; và sự cận kề này hẳn là tốt cho chàng thanh niên. Bởi tuy đó chỉ là một sự cận kề của những người bệnh, song trong đó có nhiều phẩm giá quân nhân: một phẩm giá dĩ nhiên, mà không tự hay, đã sắp sửa tìm thấy sự thoả mãn ngay trong việc phục vụ liệu trình điều dưỡng, đến nỗi điều ấy, có thể nói, trở thành vật thay thế cho sự hoàn thành bổn phận dưới miền đồng bằng và thành một nghề nghiệp tráo vào; Hans Castorp không ngu đến mức không nhận ra điều ấy khá rõ. Nhưng chàng vẫn cảm thấy tác dụng cương toả, giữ gìn của nó đối với tâm tính dân sự của mình; thậm chí có thể chính sự cận kề ấy, tấm gương của nó và sự giám sát từ nó, đã ngăn chàng khỏi những bước đi lộ liễu và những hành vi mù quáng. Vì chàng thấy rõ anh Joachim tử tế phải chống chọi thế nào với một bầu khí cam quýt nào đó hằng ngày xâm lấn lấy anh, trong đó có đôi mắt nâu tròn, một viên hồng ngọc nhỏ, nhiều cơn buồn cười không mấy có lý do chính đáng và một khuôn ngực bề ngoài rất đẹp đẽ, và sự tỉnh táo cùng lòng danh dự khiến Joachim lánh và trốn ảnh hưởng của bầu khí ấy đã tác động đến Hans Castorp, cũng giữ chính chàng trong một đôi phần kỷ luật và trật tự, ngăn chàng, nói như vậy, khỏi đi “mượn một cây bút chì” của người mắt hẹp kia, điều mà nếu không có sự cận kề mang tính kỷ luật ấy, theo mọi kinh nghiệm, chàng hẳn đã rất sẵn sàng làm.

Joachim không bao giờ nói tới cô Marusja hay cười kia, và vì thế Hans Castorp cũng tự thấy bị cấm không được nói với anh về Clawdia Chauchat. Chàng bù đắp bằng những cuộc trao đổi vụng trộm với cô giáo ngồi bên phải ở bàn ăn, trong đó chàng chọc ghẹo chỗ yếu của cô gái già ấy đối với người đàn bà bệnh mềm dẻo kia đến làm cô đỏ mặt, trong khi bắt chước cái điệu chống cằm và giữ vẻ đường bệ của lão Castorp. Chàng cũng thúc cô dò la thêm những điều mới mẻ và đáng biết về hoàn cảnh riêng của Madame Chauchat, về nguồn gốc, chồng nàng, tuổi tác của nàng, và tính chất bệnh tình của nàng. Liệu nàng có con hay không, chàng muốn biết. Nhưng không, nàng không có. Một người đàn bà như nàng thì biết bắt đầu với con cái làm gì? Có lẽ nàng bị cấm nghiêm ngặt không được có con, mà đằng khác: nếu có thì đó sẽ là thứ con cái gì kia chứ? Hans Castorp đành phải tán thành. Dần dần, có lẽ nay cũng đã quá muộn cho việc ấy rồi, chàng đoán vậy với một vẻ khách quan gượng gạo. Đôi khi, nhìn nghiêng, gương mặt Madame Chauchat đối với chàng đã cơ hồ hơi sắc đi một chút. Liệu nàng đã quá ba mươi chưa? Fräulein Engelhart kịch liệt phản đối. Clawdia mà ba mươi ư? Tệ nhất thì nàng cũng chỉ hai mươi tám. Còn về nét nghiêng, cô cấm người bạn cùng bàn nói như thế. Nét nghiêng của Clawdia mềm mại, trẻ trung và ngọt ngào biết bao, dù dĩ nhiên đó là một nét nghiêng thú vị chứ không phải nét nghiêng của một con ngỗng khoẻ mạnh nào. Và để trừng phạt, Fräulein Engelhart không ngừng lời mà nói thêm rằng cô biết Frau Chauchat thường tiếp khách đàn ông, một người đồng hương ở “Platz” tới thăm: buổi chiều nàng tiếp ông ta trong phòng riêng.

Đòn ấy nhắm thật trúng. Mặt Hans Castorp méo hẳn đi bất chấp mọi cố giữ, và cả những câu như “Ấy ghê chưa” với “Thế mới lạ chứ” mà chàng thử dùng để đón nhận lời tiết lộ kia cũng đều méo mó. Không đủ sức nhún vai cho qua sự tồn tại của người đồng hương ấy, như lúc đầu chàng đã cố làm ra vẻ, chàng cứ trở đi trở lại mãi với y, môi giật giật. Một người trẻ chăng? Trẻ và nom được lắm, theo tất cả những gì cô nghe, cô giáo đáp; bởi chính mắt cô chưa trông thấy nên không thể phán đoán. Có bệnh không? Cùng lắm là bệnh nhẹ! Hans Castorp nói giọng mỉa rằng chàng mong hy vọng trên người ông ta có thể trông thấy nhiều đồ lót hơn ở các đồng hương nơi bàn Người Nga xấu, điều mà Engelhart, vẫn còn mang ý trừng phạt, tuyên bố sẵn lòng bảo đảm. Bấy giờ chàng thừa nhận đây là một việc phải lưu tâm, và nghiêm chỉnh giao cho cô dò cho ra ngọn ngành về người đồng hương ra vào kia. Nhưng thay vì mang tin về chuyện ấy, mấy ngày sau cô lại biết được một điều hoàn toàn mới.

Cô biết rằng Clawdia Chauchat đang được vẽ, được làm chân dung, và hỏi Hans Castorp xem chàng có biết không. Nếu không, chàng vẫn có thể tin chắc, vì cô biết điều ấy từ nguồn đáng tin cậy nhất. Từ lâu nay, nàng vẫn ngồi làm mẫu trong nhà này cho một bức chân dung của mình, mà cho ai? Cho chính Hofrat! Herr Hofrat Behrens, người vì mục đích ấy hầu như ngày nào cũng gặp nàng trong căn hộ riêng của mình.

Tin ấy còn chộp lấy Hans Castorp mạnh hơn tin trước. Từ đó chàng buông ra nhiều câu đùa méo mó về chuyện ấy. Vâng, hẳn nhiên người ta vẫn biết Hofrat vẽ sơn dầu; cô giáo còn muốn gì nữa, chuyện ấy đâu có bị cấm, ai cũng được quyền cả. Vậy là tại ngôi nhà góa bụa của Hofrat sao? Hy vọng ít ra Fräulein von Mylendonk có mặt trong các buổi ngồi mẫu. Cô ấy hẳn không có thời giờ. “Behrens cũng không nên có nhiều thời giờ hơn bà quản viện,” Hans Castorp nghiêm giọng nói. Nhưng tuy như thế tưởng chừng đã nói lời dứt khoát về vụ này, chàng vẫn còn xa mới chịu bỏ qua, trái lại còn kiệt sức trong những câu hỏi về gần xa: về bức hoạ, khổ tranh của nó, và đó là chân dung đầu vai hay chân dung tới gối; cả về giờ của các buổi ngồi mẫu nữa, trong khi Fräulein Engelhart ngay ở đây cũng không thể cung cấp chi tiết, đành hẹn chàng chờ kết quả của những cuộc dò hỏi thêm.

Hans Castorp đo được 37,7 sau khi nhận tin ấy. Còn hơn cả những cuộc viếng thăm mà Frau Chauchat tiếp nhận, những cuộc viếng thăm nàng tự đi thực hiện mới làm chàng đau đớn và bồn chồn. Chính đời sống riêng tư, đời sống của riêng bản thân Frau Chauchat, tự thân nó, và ngay cả chưa kể đến nội dung của nó, đã bắt đầu gây cho chàng đau đớn và bất an, huống hồ khi chàng còn nghe được những điều nước đôi về cái nội dung ấy, thì cả hai lại càng phải gay gắt thêm biết bao! Dĩ nhiên, nói chung ai cũng có thể cho rằng những quan hệ giữa vị khách Nga với người đồng hương nữ kia có tính chất tỉnh táo và vô hại; nhưng đã một thời gian, Hans Castorp lại có khuynh hướng coi sự tỉnh táo và vô hại là chuyện nhảm nhí, cũng như chàng không sao ép mình, cũng không sao tự thuyết phục mình, mà xem việc vẽ sơn dầu như một mối quan hệ giữa một người góa vợ ăn nói xốc nổi và một người đàn bà trẻ mắt hẹp, đi chân êm là một điều gì khác. Thị hiếu mà Hofrat bộc lộ khi chọn người mẫu quá mực tương ứng với chính thị hiếu của chàng, nên chàng không thể nào tin ở sự tỉnh táo nơi đây; mà hình dung về đôi má xanh xám của Hofrat cùng đôi mắt lồi gân đỏ của ông lại cũng chỉ giúp chàng được rất ít theo chiều ấy.

Một điều mắt thấy mà trong những ngày ấy chàng tình cờ tự mình phát giác lại tác động lên chàng theo một lối khác, tuy một lần nữa đây vẫn là sự xác nhận gu thưởng thức của chàng. Ở chiếc bàn kê ngang của bà Salomon và cậu học trò tham ăn đeo kính, bên trái bàn của hai anh em họ, cạnh cửa kính bên, có một bệnh nhân, quê ở Mannheim như Hans Castorp từng nghe nói, chừng ba mươi tuổi, tóc đã thưa, răng sâu và nói năng rụt rè, chính là người đôi khi vẫn ngồi vào đàn piano trong các buổi quây quần buổi tối, mà phần lớn là chơi khúc Hành khúc đám cưới trong “Giấc mộng đêm hè”. Người ta bảo anh ta rất mộ đạo, điều vốn dễ hiểu là không phải hiếm ở những người trên này, Hans Castorp đã nghe nói thế. Chủ nhật nào anh ta cũng xuống “Platz” dự lễ nhà thờ và trong giờ liệu pháp nằm nghỉ thì đọc những sách đạo đức, những cuốn sách có hình chén thánh hoặc cành cọ trên bìa trước. Thế rồi một hôm Hans Castorp nhận thấy rằng người ấy cũng dõi mắt đúng vào chỗ chàng vẫn dõi, bám riết lấy thân hình mềm mại của Madame Chauchat, mà theo một lối vừa nhút nhát vừa xông xáo đến độ như chó con. Một khi đã quan sát ra điều ấy, Hans Castorp không sao thôi được việc nhận ra nó hết lần này đến lần khác. Chàng thấy anh ta buổi tối đứng giữa đám khách trong phòng chơi, mụ mị lạc thần vì ngắm người đàn bà đáng yêu tuy chẳng phải không sứt mẻ kia, đang ngồi trên ghế dài ở tiểu salon đối diện, chuyện trò với Tamara tóc quăn như len (cô gái ưa khôi hài ấy tên là vậy), với bác sĩ Blumenkohl và với những quý ông vai xuôi lưng lõm ở bàn nàng; thấy anh ta quay đi, lúng túng xê dịch, rồi lại chậm chạp ngoảnh đầu qua vai về phía ấy, tròng mắt liếc ngang và môi trên mím lại một cách thảm hại. Chàng thấy anh ta đổi sắc mặt và _không_ ngước lên, rồi rốt cuộc vẫn ngước lên và nhìn hau háu khi cửa kính khép sập lại và bà Chauchat lướt về chỗ ngồi của mình. Và hơn một lần chàng thấy kẻ đáng thương ấy sau bữa ăn đứng phục giữa lối ra và bàn người Nga tốt, để bà Chauchat đi ngang qua mình, và từ khoảng cách sát gần nuốt chửng nàng bằng đôi mắt chan đầy buồn bã đến tận đáy, trong khi nàng chẳng hề để ý đến anh ta.

Vậy là cả phát hiện này nữa cũng khiến chàng Hans Castorp trẻ tuổi khổ sở không ít, tuy cái lòng ham ngắm nghía thảm hại của người Mannheim không thể làm chàng bất an theo cái cách mà sự qua lại riêng tư giữa Clawdia Chauchat với Hofrat Behrens, một người vượt hẳn chàng về tuổi tác, nhân dạng và vị thế trong đời, đã làm. Clawdia chẳng hề bận tâm đến người Mannheim, điều đó hẳn đã không lọt khỏi sự sắc bén nội tâm của Hans Castorp nếu quả có như vậy, cho nên trong trường hợp này, cái chàng cảm thấy trong tâm hồn không phải là mũi nhọn khó chịu của ghen tuông. Nhưng chàng đã nếm đủ mọi cảm giác mà men say và đam mê vốn nếm phải khi bắt gặp chính mình hiện hình trong thế giới bên ngoài, và những cảm giác ấy tạo nên thứ pha trộn kỳ quái nhất giữa ghê tởm và đồng cảm. Không thể dò cho hết và tách bạch cho xong tất cả, nếu chúng ta còn muốn đi tiếp. Dù sao, với hoàn cảnh của chàng, thì như thế cũng đã là quá nhiều một lúc, ngay cả điều mà việc quan sát người Mannheim ấy bắt chàng Hans Castorp đáng thương phải nếm trải.

Tám ngày cho đến buổi chiếu quang của Hans Castorp cứ thế trôi qua. Chàng không biết rằng chúng sẽ trôi qua cho đến tận lúc ấy, nhưng rồi một buổi sáng, trong bữa điểm tâm thứ nhất, khi bà quản viện truyền lệnh cho chàng chiều nay phải có mặt tại phòng chiếu quang (bà ta lại lên lẹo nữa, mà không thể vẫn là cái lẹo cũ ấy được; hiển nhiên thứ tật vô hại nhưng làm xấu mặt này nằm ngay trong tạng người của bà), thì chúng quả đã trôi qua. Hans Castorp sẽ đến đó cùng người anh em họ của mình, nửa giờ trước giờ trà; vì nhân dịp này Joachim cũng lại phải chụp thêm một tấm nội thể, tấm trước hẳn đã phải kể là cũ rồi.

Vì thế hôm nay họ đã rút ngắn giờ liệu pháp nằm nghỉ lớn buổi chiều đi ba mươi phút, đúng nửa giờ tư thì bước “xuống” cầu thang đá tới tầng hầm giả, rồi cùng ngồi trong căn phòng chờ nhỏ ngăn giữa phòng khám và phòng chiếu quang, Joachim, vì chẳng có gì mới chờ đợi mình, thì hoàn toàn bình thản, còn Hans Castorp thì chờ đợi với một vẻ hơi sốt, bởi từ trước tới nay chưa từng có ai nhìn vào bên trong cơ thể hữu cơ của chàng cả. Họ không phải chỉ có một mình: khi hai người bước vào, trong phòng đã có mấy vị khách ngồi đấy, đặt trên gối những tờ báo tranh rách, và cùng chờ với họ: một chàng trai Thụy Điển cao lớn lực lưỡng, ngồi ở bàn ăn của Settembrini, mà người ta nói hồi tới đây vào tháng Tư bệnh nặng đến nỗi người ta hầu như không muốn nhận vào; thế mà nay anh ta đã tăng tám mươi pao và đang chuẩn bị được cho về như một người hoàn toàn khỏi bệnh; ngoài ra còn một người đàn bà ở bàn người Nga xấu, một bà mẹ, bản thân đã còm cõi, đi cùng đứa con trai còn còm cõi hơn nữa, mũi dài và xấu xí, tên là Sascha. Vậy là những người này đã đợi lâu hơn hai anh em họ; rõ ràng trong thứ tự hẹn họ được ưu tiên trước, bên cạnh dường như đã có chậm trễ nảy sinh trong phòng chiếu quang, và thế là viễn cảnh phải uống trà nguội đã hiện ra.

Trong phòng chiếu quang người ta đang bận việc. Có thể nghe tiếng Hofrat đang ra chỉ thị. Đã là ba giờ rưỡi hoặc quá hơn một chút thì cánh cửa mở ra, một trợ lý kỹ thuật làm việc dưới này mở cửa, và trước hết chỉ có chàng trai Thụy Điển lực lưỡng cùng lắm phúc kia được mời vào: rõ ràng người đứng trước anh ta đã được cho ra bằng một lối khác. Từ đó công việc diễn ra nhanh hơn. Chỉ mười phút sau thôi, người ta đã nghe thấy bước chân mạnh mẽ của anh chàng Scandinavia hoàn toàn bình phục ấy, lời quảng cáo biết đi của nơi chốn và dưỡng đường này, rời dọc hành lang, và người mẹ Nga cùng Sascha được gọi vào. Một lần nữa, cũng như khi chàng Thụy Điển bước vào, Hans Castorp nhận thấy trong phòng chiếu quang là nửa tối, nghĩa là một thứ bán sáng nhân tạo, y như ở chiều ngược lại trong phòng phân tích của bác sĩ Krokowski. Cửa sổ bị che kín, ánh sáng ban ngày bị ngăn lại, và vài ngọn đèn điện đang cháy. Nhưng trong lúc Sascha và mẹ nó được cho vào, và Hans Castorp dõi mắt theo họ, thì đồng thời cánh cửa hành lang mở ra, bệnh nhân được hẹn kế tiếp bước vào phòng chờ, đến sớm trong khi ở đây vẫn còn chậm trễ, đó là Madame Chauchat.

Đó là Clawdia Chauchat, đột nhiên có mặt trong căn phòng nhỏ; Hans Castorp nhận ra nàng với đôi mắt mở to, đồng thời cảm thấy máu rút khỏi mặt mình và hàm dưới trễ xuống đến nỗi miệng chàng cơ hồ sắp há ra. Sự xuất hiện của Clawdia diễn ra như một chuyện bên lề, bất thần đến vậy, thoắt một cái nàng đã cùng chia sẻ chỗ chờ chật hẹp với hai anh em họ, trong khi ngay trước đó nàng tuyệt nhiên chưa hề ở đây. Joachim liếc thật nhanh sang Hans Castorp rồi không những cụp mắt xuống mà còn nhặt lại tờ báo tranh từ trên bàn, vốn đã đặt xuống rồi, và giấu mặt sau nó. Hans Castorp không tìm đâu ra nghị lực quyết định để làm theo như thế. Sau cơn tái mét, chàng đỏ bừng lên, và tim chàng nện thình thịch.

Bà Chauchat ngồi xuống gần cửa vào phòng chiếu quang, trên một chiếc ghế bành nhỏ tròn trĩnh với những tay vịn cụt ngủn, gần như chỉ là dấu tích, hơi ngả người ra sau, nhẹ nhàng bắt chéo chân và nhìn vào khoảng không, trong khi đôi mắt Pribislav của nàng, vì ý thức mình đang bị quan sát, bị kéo lệch một cách bồn chồn khỏi hướng nhìn ban đầu nên thành ra hơi lác. Nàng mặc một chiếc áo len trắng và váy xanh, đặt trên lòng một cuốn sách, có vẻ là sách mượn ở thư viện, đồng thời khe khẽ gõ nhịp bằng lòng bàn chân đang đặt trên sàn.

Chỉ sau một phút rưỡi, nàng đã đổi tư thế, đảo mắt nhìn quanh, đứng dậy với vẻ như không biết mình đang ra sao và phải quay về phía nào, rồi bắt đầu cất tiếng. Nàng hỏi điều gì đó, hướng một câu hỏi về phía Joachim, mặc dầu Joachim có vẻ đang chúi vào tờ báo tranh của mình, còn Hans Castorp thì ngồi đấy không làm gì cả, tạo thành lời bằng miệng và phát ra tiếng từ cổ họng trắng ngần của nàng: đó là giọng nói không trầm, nhưng có một chút sắc cạnh, khàn dịu dễ nghe, cái giọng mà Hans Castorp biết, biết từ lâu rồi, và có lần thậm chí còn nghe ở cự ly gần nhất: ngày ấy, khi chính bằng giọng nói này, với riêng chàng, đã có lời rằng: “Được thôi. Nhưng sau giờ học anh nhất định phải trả nó lại cho tôi đấy.” Tuy nhiên hồi đó lời lẽ được thốt ra trôi chảy và quả quyết hơn; còn bây giờ, các từ ngữ ra khỏi môi có phần kéo lê và đứt đoạn, người nói không có quyền tự nhiên đối với chúng, nàng chỉ vay mượn chúng mà thôi, như Hans Castorp đã vài lần từng nghe nàng làm thế, với một cảm giác nào như tự cao, song lại dập dờn quanh nó là một niềm hoan hỉ khiêm nhường. Một tay đút trong túi áo len, tay kia đặt sau gáy, bà Chauchat hỏi:

“Xin hỏi, ông được hẹn vào lúc mấy giờ?”

Và Joachim, sau khi đã ném một cái nhìn thật nhanh sang người anh em họ, đáp, trong khi vẫn ngồi mà kéo hai gót chân sát vào nhau:

“Ba giờ rưỡi.”

Nàng lại nói:

“Tôi là ba giờ bốn lăm. Có chuyện gì vậy? Sắp bốn giờ rồi. Vừa rồi còn có người vào nữa, phải không?”

“Vâng, hai người,” Joachim đáp. “Họ đến lượt trước chúng tôi. Lịch làm việc bị trễ rồi. Hình như toàn bộ đã xê dịch mất nửa giờ.”

“Thật bất tiện!” nàng nói và bồn chồn đưa tay sờ tóc.

“Còn hơn thế,” Joachim đáp. “Chúng tôi cũng đã đợi gần nửa giờ rồi.”

Họ đã nói chuyện với nhau như thế, và Hans Castorp lắng nghe như trong mơ. Việc Joachim nói chuyện với bà Chauchat gần như cũng y hệt như thể chính chàng đã nói chuyện với nàng, tuy dĩ nhiên đồng thời lại là một điều hoàn toàn khác hẳn. Cái “còn hơn thế” làm Hans Castorp phật ý; xét trong hoàn cảnh này, nó nghe vừa xấc xược vừa, ít nhất, điềm nhiên một cách lạ lùng. Nhưng rốt cuộc Joachim có thể nói như thế, hắn nói chuyện với nàng được cơ mà, nói _hẳn_ với nàng được, và có lẽ trước mặt chàng còn hơi lấy làm đắc ý về cái “còn hơn thế” táo bạo ấy nữa, đại khái như chính chàng từng làm bộ làm tịch trước Joachim và Settembrini, khi người ta hỏi chàng định ở lại bao lâu và chàng đã đáp “ba tuần”. Nàng đã hướng lời xưng hô của mình về phía Joachim, mặc dù hắn đang giơ tờ báo lên trước mặt, hẳn vì hắn là người cư ngụ ở đây lâu hơn, đã từ lâu quen mặt nàng hơn; nhưng đồng thời cũng bởi cái lẽ khác kia, rằng một sự giao tiếp trên nền nếp nhã nhặn, một cuộc trao đổi có phát ngôn, trong trường hợp của Joachim là điều thích đáng, vì giữa họ không có gì hoang dã, sâu thẳm, kinh khiếp và bí mật đang ngự trị. Nếu có một ai mắt nâu, đeo nhẫn hồng ngọc và phảng phất nước hoa cam cùng ngồi chờ ở đây với họ, thì đã đến lượt chính chàng, Hans Castorp, phải lên tiếng và nói “còn hơn thế”, độc lập và trong sạch, như cái cách chàng đứng trước cô gái ấy. “Quả vậy, còn hơn cả bất tiện nữa, thưa cô!” chàng hẳn đã nói thế, và có lẽ còn rút khăn tay ra khỏi túi ngực bằng một động tác dứt khoát để xì mũi. “Xin vui lòng nhẫn nại. Chúng tôi cũng chẳng ở trong hoàn cảnh tốt hơn.” Và Joachim hẳn sẽ ngạc nhiên trước sự nhẹ nhõm phóng túng của chàng, tuy có lẽ không thực lòng mong ở vào địa vị chàng. Không, Hans Castorp cũng chẳng ghen với Joachim theo cái cách mà tình thế đang bày ra, mặc dầu chính Joachim là người được phép nói chuyện với bà Chauchat. Chàng tán thành việc nàng đã quay sang hắn; khi làm như vậy nàng đã tính đến hoàn cảnh, và nhờ thế cho thấy nàng ý thức về hoàn cảnh ấy... Tim chàng nện thình thịch.

Sau cách đối đãi điềm nhiên mà bà Chauchat nhận được từ Joachim, và trong đó Hans Castorp thậm chí còn cảm thấy như có chút thù nghịch kín đáo từ phía Joachim tốt bụng đối với người đồng bệnh nhân kia, một thứ thù nghịch khiến chàng, giữa cơn chấn động của mình, vẫn phải mỉm cười, thì “Clawdia” thử đi lại một vòng trong phòng; nhưng chỗ chật quá, nên nàng cũng cầm lấy một cuốn báo tranh trên bàn rồi đem nó trở lại chiếc ghế bành có tay vịn thô sơ kia. Hans Castorp ngồi và nhìn nàng, đồng thời bắt chước điệu chống cằm của ông nội mình, đến nỗi nom thực là giống cụ già một cách lố bịch. Vì bà Chauchat lại bắt chéo chân, nên đầu gối nàng, vâng, cả đường nét thanh mảnh của chân nàng nữa, hiện rõ dưới lớp váy vải xanh. Nàng chỉ cao tầm trung, một chiều cao trong mắt Hans Castorp là vô cùng dễ chịu và đúng đắn, nhưng chân tương đối dài và hông không rộng. Nàng ngồi không phải ngả ra sau, mà chúi về trước, hai cẳng tay bắt chéo tựa lên đùi của chân đang gác lên, lưng cong và vai đổ xuống, đến nỗi các đốt sống nơi gáy nhô hẳn ra, vâng, dưới chiếc áo len ôm sát, gần như còn nhận ra được cả xương sống, còn bộ ngực của nàng, không cao và nở nang như của Marusja mà nhỏ nhắn, thiếu nữ, thì bị ép dồn từ hai bên. Đột nhiên Hans Castorp nhớ ra rằng nàng cũng đang ngồi đây chờ được chiếu quang. Hofrat vẽ nàng; ông ta tái hiện dáng vẻ bên ngoài của nàng bằng dầu và màu trên mặt toan. Nhưng giờ đây trong nửa tối, ông ta sẽ hướng lên nàng những tia sáng phơi bày cho mình thấy phần bên trong cơ thể nàng. Và khi nghĩ đến điều ấy, Hans Castorp quay đầu sang một bên, nét mặt sầm lại một cách đứng đắn, mang một vẻ kín đáo và đoan trang mà chàng thấy thích đáng phải tự khoác lấy trước chính mình khi hình dung như vậy.

Cuộc ngồi chung ba người trong căn phòng chờ nhỏ không kéo dài lâu. Bên trong hẳn người ta cũng chẳng rườm rà gì mấy với Sascha và mẹ nó, người ta đang vội vã để gỡ lại chỗ chậm trễ. Viên kỹ thuật viên mặc blouse trắng lại mở cửa, Joachim đứng dậy, quẳng tờ báo trở lại mặt bàn, và Hans Castorp đi theo hắn ra cửa, tuy không phải là không có một sự ngần ngại trong lòng. Những băn khoăn hiệp sĩ trỗi dậy nơi chàng cùng với cơn cám dỗ vẫn cứ muốn nói với bà Chauchat một lời theo lối nhã nhặn và nhường nàng đi trước; có lẽ còn bằng tiếng Pháp nữa, nếu liệu được; và cuống quýt, chàng lục tìm trong mình từ vựng, cách đặt câu. Nhưng chàng không biết những lịch sự như thế ở đây có phải là lệ thường không, hay thứ tự đã định ra vốn đứng cao hơn hẳn mọi tinh thần hiệp sĩ. Joachim hẳn phải biết điều đó, và vì hắn chẳng hề tỏ ý lùi lại trước mặt người đàn bà hiện diện ở đây, mặc dầu Hans Castorp nhìn hắn với ánh mắt xúc động và khẩn khoản, nên chàng đành đi theo hắn, bước ngang qua bà Chauchat, người chỉ ngẩng lên thoáng chốc khỏi tư thế cúi mình của nàng, và qua cửa vào phòng chiếu quang.

Chàng còn quá choáng váng vì những gì vừa để lại sau lưng, vì những cuộc phiêu lưu của mười phút cuối cùng, đến nỗi khi bước sang phòng chiếu xuyên, sự hiện diện nội tâm của chàng cũng chưa thể lập tức tự đổi thế. Chàng chẳng nhìn thấy gì, hoặc chỉ thấy những nét hết sức khái quát trong thứ bán tối nhân tạo. Chàng còn nghe tiếng nói dịu dàng như có màn che của Frau Chauchat, khi nàng bảo: “Thế là thế nào nhỉ... Vừa mới có người bước vào... Thật bất tiện...”, và âm sắc ấy rờn xuống sống lưng chàng như một kích thích ngọt ngào. Chàng còn thấy đầu gối nàng hiện lên dưới váy vải, thấy nơi gáy cúi của nàng, dưới mái tóc vàng hoe ánh đỏ cắt ngắn, chỗ ấy có vài lọn buông lơi không nhập vào kiểu tóc bện, những đốt xương cổ nhô lên, và một lần nữa cơn rùng mình lại chạy qua người chàng. Chàng thấy Hofrat Behrens, quay lưng lại phía người mới vào, đứng trước một cái tủ hay một kết cấu như giá kệ và ngắm một tấm bản đen sẫm mà ông giơ bằng cánh tay duỗi thẳng lên trước ánh trần lờ mờ. Họ đi ngang qua ông, tiến sâu hơn vào gian phòng, bị người phụ tá vượt lên trước, kẻ đang lo các chuẩn bị cho việc xử lý và giải quyết lượt của họ. Nơi đây có một mùi lạ. Không khí đặc một thứ ozone tù đọng nào đó. Nhô ra giữa những khung cửa sổ bị rèm đen che kín, cái kết cấu kia chia phòng thí nghiệm thành hai nửa không đều nhau. Người ta phân biệt được những khí cụ vật lý, những ống thủy tinh rỗng, những bảng chuyển mạch, những dụng cụ đo dựng đứng, nhưng cũng cả một cái hộp giống máy ảnh đặt trên giá có bánh xe, những tấm dương bản kính gắn thành hàng vào tường, và người ta không biết mình đang ở trong xưởng vẽ của một nhà nhiếp ảnh, một buồng tối, hay một xưởng phát minh, một phù phòng kỹ thuật.

Joachim không chút chần chừ đã bắt đầu để trần phần trên thân mình. Người phụ tá, một người bản xứ trẻ hơn, đậm người, má đỏ, mặc áo choàng trắng, ra hiệu cho Hans Castorp cũng làm như vậy. Mọi việc sẽ rất nhanh, đến lượt chàng ngay tức thì... Trong khi Hans Castorp cởi chiếc áo gi-lê, Behrens từ ngăn nhỏ nơi ông vừa đứng bước sang phần rộng hơn.

“A ha!” ông nói. “Đây đúng là đôi Dioskuren của chúng ta! Castorp và Pollux... Xin vui lòng nén những tiếng than van lại! Cứ đợi đấy, lát nữa chúng tôi sẽ nhìn thấu cả hai cậu. Tôi e là cậu sợ phải phơi mở nội tạng của mình cho chúng tôi xem, Castorp? Cứ yên tâm, mọi việc diễn ra hoàn toàn có tính thẩm mỹ. Nào, cậu đã xem phòng tranh riêng của tôi chưa?” Rồi ông nắm cánh tay Hans Castorp kéo lại trước những hàng kính tối, đằng sau đó ông búng tay bật đèn. Chúng sáng lên, phô ra hình ảnh của mình. Hans Castorp thấy những chi thể: bàn tay, bàn chân, xương bánh chè, đùi và cẳng chân, cánh tay và những phần xương chậu. Nhưng hình thể tròn đầy của những mảnh đoạn kia của thân người chỉ hiện ra mờ ảo, đường nét bảng lảng như sương khói; một làn mù và ánh nhợt nhạt bao bọc lấy cái lõi của chúng, cái bộ xương, vốn nhô ra sáng rõ, tỉ mỉ và quyết liệt.

“Thật là thú vị,” Hans Castorp nói.

“Thú vị thật đấy chứ!” vị Hofrat đáp. “Một bài học trực quan hữu ích cho thanh niên. Giải phẫu bằng ánh sáng, cậu hiểu chứ, chiến công của thời hiện đại. Đây là một cánh tay phụ nữ, cậu nhận ra điều đó ở vẻ xinh xắn của nó. Chính cánh tay như thế ôm lấy người ta trong những cuộc hò hẹn tình tứ, cậu hiểu chứ.” Rồi ông cười, làm cho môi trên với bộ ria mép tỉa ngắn co hếch lên cao hơn về một bên. Những hình ảnh tắt đi. Hans Castorp quay sang bên, về phía bức chụp nội thể của Joachim đang được chuẩn bị.

Việc ấy diễn ra trước cái kết cấu mà lúc đầu vị Hofrat đã đứng ở phía bên kia. Joachim ngồi xuống một thứ ghế thợ giày trước một tấm ván, ép ngực vào đó, đồng thời vòng hai tay ôm lấy nó; và bằng những động tác như nhào nắn, người phụ tá chỉnh lại tư thế cho cậu, ép vai Joachim đổ thêm ra trước, xoa dọc sống lưng cậu. Sau đó anh ta ra sau chiếc máy ảnh, cúi lom khom, dang chân như một nhà nhiếp ảnh nào đó để kiểm tra góc nhìn, tỏ ý hài lòng, rồi lui sang bên nhắc Joachim hít thật sâu và giữ hơi cho tới khi mọi việc xong xuôi. Tấm lưng cong của Joachim nở ra rồi đứng yên. Ngay lúc ấy, người phụ tá đã thực hiện nơi bảng chuyển mạch thao tác cần thiết. Trong hai giây, những sức mạnh khủng khiếp, những dòng điện hàng nghìn vôn, hàng trăm nghìn, Hans Castorp tưởng mình nhớ là thế, đã hoạt động, cái giá phải trả để xuyên thấu vật chất. Bị chế ngự chỉ vừa đủ cho mục đích ấy, những quyền lực kia tìm cách thoát ra bằng những ngả phụ. Các luồng phóng điện nổ chát như súng bắn. Dụng cụ đo lóe nổ xanh lè. Những tia chớp dài nứt lách tách dọc theo tường. Đâu đó một ánh đỏ, như con mắt, nhìn vào phòng vừa tĩnh vừa đe dọa, và một ống nhỏ sau lưng Joachim tràn lên một màu lục. Rồi tất cả lắng xuống; những hiện tượng ánh sáng biến mất, và Joachim thở hắt hơi ra. Thế là xong.

“Tội nhân kế tiếp!” Behrens nói và huých khuỷu tay vào Hans Castorp. “Đừng kiếm cớ mệt mỏi! Cậu sẽ được một bản miễn phí, Castorp. Thế rồi sau này cậu còn có thể chiếu lên tường cho con cháu xem những bí mật trong lồng ngực cậu nữa!”

Joachim đã bước ra; người kỹ thuật viên thay tấm bản. Hofrat Behrens đích thân chỉ dạy người mới cách ngồi và giữ người. “Ôm lấy!” ông nói. “Ôm lấy tấm ván! Muốn tưởng tượng nó là thứ gì khác cũng được! Và ép ngực sát vào cho khá, như thể chuyện đó gắn với một cảm giác hạnh phúc nào vậy! Đúng rồi. Hít vào! Giữ yên!” ông ra lệnh. “Xin cười tươi nào!” Hans Castorp chớp mắt chờ đợi, phổi đầy không khí. Sau lưng chàng, cơn giông bùng ra, nổ lách tách, rền rĩ, đùng đoàng, rồi lắng xuống. Ống kính đã nhìn vào bên trong chàng.

Chàng bước xuống, rối loạn và tê dại vì điều đã xảy đến với mình, mặc dầu sự xuyên thấu ấy hoàn toàn không làm chàng cảm thấy gì. “Khá lắm,” vị Hofrat nói. “Bây giờ chính chúng ta sẽ xem.” Và Joachim, vốn đã thạo việc, đã đi sang vị trí khác, đứng bên một cái giá gần cửa ra vào, sau lưng là cỗ máy dựng lên đồ sộ, ngang tầm lưng máy có thể thấy một bầu thủy tinh đựng nửa nước gắn với ống bốc hơi, trước mặt, ngang ngực, là một màn chắn có khung treo lơ lửng bằng dây cuốn. Bên trái cậu, giữa một đám bảng chuyển mạch và khí cụ, vươn lên một chụp đèn đỏ. Vị Hofrat, cưỡi trên một chiếc ghế đẩu trước tấm màn treo, châm sáng nó. Đèn trần tắt đi, chỉ còn ánh hồng ngọc rọi sáng cảnh tượng. Rồi bậc thầy cũng dập nốt thứ ánh sáng ấy bằng một động tác ngắn, và bóng tối dày đặc nhất bao trùm những người trong phòng thí nghiệm.

“Trước hết mắt phải quen đã,” người ta nghe tiếng vị Hofrat nói trong bóng tối. “Phải làm cho đồng tử nở thật lớn, như mắt mèo, rồi mới thấy được cái ta muốn thấy. Chắc cậu cũng hiểu rằng với đôi mắt ban ngày thông thường của chúng ta thì không thể thấy tử tế được đâu. Phải gạt cái ban ngày sáng choang cùng những hình ảnh vui nhộn của nó ra khỏi đầu trước đã, vì mục đích ấy.”

“Dĩ nhiên,” Hans Castorp nói, đứng sau vai vị Hofrat, và nhắm mắt lại, vì dù mở hay nhắm thì cũng thế cả, đêm tối đen đến vậy. “Trước tiên ta phải rửa mắt bằng bóng tối mới nhìn được những thứ như thế, điều ấy rõ rành rành. Tôi thậm chí còn thấy như vậy là hay và đúng nữa, rằng trước đó ta thu tâm một chút, có thể nói là trong lời cầu nguyện lặng lẽ. Tôi đứng đây, mắt nhắm lại, lòng thấy buồn ngủ một cách dễ chịu. Nhưng nơi này rốt cuộc có mùi gì vậy?”

“Oxygen,” vị Hofrat nói. “Đó là Oxygen đấy, thứ mà cậu đang cảm thấy trong không khí. Sản phẩm khí quyển của cơn giông trong phòng, cậu hiểu tôi chứ... Mở mắt ra!” ông nói. “Bây giờ cuộc triệu gọi bắt đầu đây.” Hans Castorp vội vã tuân lời.

Người ta nghe tiếng gạt một cần máy. Một động cơ bật lên và rú vọt lên cao, nhưng bởi một thao tác khác lại bị chế ngự vào nhịp ổn định. Sàn nhà rung lên đều đều. Đốm đèn đỏ, thuôn dài và dựng đứng, nhìn sang với vẻ đe dọa lặng lẽ. Đâu đó một tia chớp nổ lách tách. Và chậm rãi, trong ánh sáng màu sữa, như một khung cửa đang sáng lên, từ trong bóng tối hiện ra hình vuông nhợt nhạt của màn huỳnh quang, trước đó Hofrat Behrens cưỡi trên chiếc ghế thợ giày của mình, hai đùi dang rộng, hai nắm tay chống xuống, cái mũi tẹt dí sát vào tấm kính, thứ kính cho phép nhìn thấu vào bên trong cơ thể hữu cơ của con người.

“Cậu thấy chứ, chàng trai trẻ?” ông hỏi... Hans Castorp cúi người qua vai ông, nhưng còn ngẩng đầu lên một lần nữa, về phía đôi mắt của Joachim hẳn đang ở đâu đó trong bóng tối, đôi mắt có lẽ vẫn nhìn dịu dàng và buồn bã như bận khám trước kia, rồi hỏi:

“Cậu cho phép chứ?”

“Xin cứ việc, xin cứ việc,” Joachim rộng rãi đáp từ bóng tối của mình. Và giữa cơn địa chấn của mặt đất, giữa tiếng lách tách và ầm ì của những sức mạnh đang hoạt động, Hans Castorp cúi mình dõi nhìn qua ô cửa nhợt nhạt, dõi nhìn xuyên qua bộ xương rỗng của Joachim Ziemßen. Xương ức cùng xương sống chập lại thành một cột sẫm màu bằng sụn. Bộ khung sườn phía trước bị bộ khung của lưng cắt ngang, mà bộ này hiện ra nhợt hơn. Ở phía trên, hai xương quai xanh cong cong tách ra về hai phía, và trong quầng sáng mềm của hình thể thịt da, bộ xương vai và chỗ tiếp vào của xương cánh tay trên của Joachim hiện ra gầy và sắc. Khoang ngực sáng, nhưng người ta còn phân biệt được một mạng mạch, những đốm tối, một mớ quăn đen sẫm.

“Hình ảnh rõ đấy,” vị Hofrat nói. “Đây là cái gầy gò đàng hoàng, cái tuổi trẻ quân nhân. Tôi từng gặp ở đây những cái bụng phệ, không xuyên nổi, hầu như chẳng nhận ra được gì. Trước hết phải phát minh ra những tia nào xuyên qua nổi lớp mỡ như thế đã... Còn trường hợp này là công việc sạch sẽ. Cậu có thấy cơ hoành không?” ông nói và chỉ ngón tay vào cái vòng cung tối đang nâng lên hạ xuống ở phần dưới ô cửa... “Cậu thấy những chỗ gồ lên ở bên trái kia không, những chỗ nhô ấy? Đó là chứng viêm màng phổi nó mắc năm mười lăm tuổi. Hít sâu vào!” ông ra lệnh. “Sâu hơn! Tôi bảo là _sâu_!” Và cơ hoành của Joachim run run nâng cao lên hết mức có thể, ở phần trên của lá phổi có thể nhận ra một sự sáng thêm, nhưng vị Hofrat không hài lòng. “Không đủ!” ông nói. “Cậu thấy các hạch rốn phổi không? Cậu thấy những chỗ dính không? Cậu thấy các hang ở đây không? Chính từ đấy mà chất độc đi ra, làm nó say sẩm.” Nhưng sự chú ý của Hans Castorp lại bị hút vào một vật gì như cái túi, vô định hình, thú vật, sẫm màu hiện ra sau thân giữa, mà phần lớn nằm về bên phải, theo phía người quan sát, thứ đang đều đều nở ra rồi lại co vào, hơi giống một con sứa chèo bơi.

“Cậu có thấy tim nó không?” vị Hofrat hỏi, lại nhấc bàn tay khổng lồ khỏi đùi và chỉ ngón trỏ vào khối đập nhịp đang treo kia... Lạy Chúa, đó là trái tim, trái tim mến chuộng danh dự của Joachim mà Hans Castorp đang thấy!

“Tôi thấy tim cậu!” chàng nói bằng giọng nghẹn lại.

“Xin cứ việc, xin cứ việc,” Joachim lại đáp, và hẳn là ở trên kia trong bóng tối cậu đang mỉm cười cam chịu. Nhưng vị Hofrat truyền cho họ phải im lặng, đừng trao đổi những cảm xúc mềm yếu. Ông chăm chú nghiên cứu các đốm và các đường, cái mớ quăn đen trong khoảng ngực bên trong, trong khi người cùng dõi nhìn với ông cũng không biết chán ngắm hình hài mồ mả và xương cốt tử thi của Joachim, cái giàn khung trụi lủi ấy và cái memento gầy nhẳng như con suốt. Sự thành kính và kinh hãi tràn ngập chàng. “Vâng, vâng, tôi thấy rồi,” chàng nói mấy lần. “Lạy Chúa, tôi thấy!” Chàng từng nghe kể về một người đàn bà, một bà con đã mất từ lâu bên họ Tienappel, bà ấy được phú cho, hoặc bị giáng cho, một thiên bẩm nặng nề mà bà mang trong khiêm nhường, và thiên bẩm ấy là ở chỗ những người sắp chết chẳng bao lâu nữa hiện ra trước mắt bà như những bộ xương. Vậy là giờ đây Hans Castorp nhìn người Joachim tử tế bằng cách ấy, tuy có sự trợ giúp và dưới sự dàn xếp của khoa học vật lý-quang học, thành thử điều đó chẳng có nghĩa lý gì và mọi sự đều diễn ra đúng phép, nhất là chàng đã minh bạch xin được sự đồng ý của Joachim. Dầu vậy, chàng vẫn bỗng hiểu nỗi u uẩn trong số phận của người dì có mắt tiên tri ấy. Bị lay động dữ dội bởi điều mình thấy, hay đúng hơn bởi việc mình đang thấy nó, chàng cảm thấy tâm hồn bị những nghi ngờ bí mật châm chích, rằng những thứ khiến việc này xảy ra liệu có phải là những thứ đúng đắn chăng, những nghi ngờ về tính cho phép của cái nhìn của chàng trong bóng tối rung chuyển và lách tách ấy; và trong lồng ngực chàng, cái khoái cảm giằng xé của sự xoi mói trộn lẫn với những cảm xúc cảm động và sùng kính.

Nhưng chỉ vài phút sau, chính chàng lại đứng giữa cơn giông trên cột nhục hình, trong khi Joachim, thân thể đã lại kín đáo, đang mặc quần áo. Một lần nữa vị Hofrat dõi qua tấm kính màu sữa, lần này vào bên trong Hans Castorp, và từ những lời lẩm bẩm nửa thành tiếng, những tiếng rủa đứt đoạn và những cách nói buột miệng của ông, dường như có thể hiểu rằng kết quả đúng như điều ông chờ đợi. Sau đó ông còn tốt bụng cho phép bệnh nhân nhìn chính bàn tay mình qua màn huỳnh quang, vì chàng đã khẩn khoản xin như thế. Và Hans Castorp thấy cái mà chàng hẳn phải đợi là sẽ thấy, nhưng thực ra con người không được định cho nhìn thấy, và điều mà chính chàng cũng chưa từng nghĩ mình có thể được định cho nhìn thấy: chàng nhìn vào chính ngôi mộ của mình. Chàng thấy công việc mai sau của sự mục rữa được quyền năng ánh sáng làm hiển lộ trước, thấy thịt da mà chàng đang mang bị phân rã, bị tiêu tán, tan thành một làn sương vô nghĩa, và trong đó là bộ xương được tiện nhỏ li ti của bàn tay phải chàng, quanh đốt trên của ngón áp út chiếc nhẫn dấu, di vật người ông để lại cho chàng, đang lơ lửng đen sì và lỏng lẻo: một vật cứng của cõi đất này, thứ con người dùng để trang sức thân xác mình, thân xác được định là sẽ tan chảy khỏi bên dưới nó, để nó được tự do và truyền sang một thớ thịt khác, nơi một thời gian nữa nó lại có thể được mang. Bằng đôi mắt của bà tổ tiên bên họ Tienappel ấy, đôi mắt xuyên thấu và thấy trước, chàng nhìn một phần thân thể quen thuộc của chính mình, và lần đầu tiên trong đời hiểu rằng mình sẽ chết. Vì thế chàng làm một vẻ mặt như vẫn thường làm khi nghe nhạc, khá ngốc, buồn ngủ và sùng đạo, đầu nghiêng về vai, miệng hé mở. Vị Hofrat nói:

“Ma quái đấy chứ, phải không? Phải, không thể phủ nhận là trong đó có một chút chất ma quái.”

Rồi ông ghìm các sức mạnh ấy lại. Sàn nhà yên đi, những hiện tượng ánh sáng tan mất, ô cửa ma thuật lại chìm vào bóng tối. Đèn trần bật sáng. Và trong khi Hans Castorp cũng vội vã chui vào quần áo, Behrens cung cấp cho hai chàng trai vài lời giải thích về những điều ông quan sát được, có kể đến khả năng lĩnh hội ngây ngô của người ngoại đạo nơi họ. Riêng đối với Hans Castorp, thì kết quả quang học đã xác nhận kết quả thính chẩn chính xác đến mức danh dự của khoa học chỉ có thể đòi hỏi đến thế là cùng. Người ta đã thấy được cả những chỗ cũ lẫn chỗ mới, và từ các phế quản có những “dải” ăn khá sâu vào cơ quan ấy, những “dải có nốt”. Hans Castorp sẽ còn có thể tự kiểm tra điều đó trên tấm ảnh dương bản nhỏ mà, như đã nói, chẳng bao lâu nữa sẽ được trao cho chàng. Vậy nên nghỉ ngơi, kiên nhẫn, tự chủ, đo, ăn, nằm, chờ và uống trà. Ông quay lưng lại với họ. Họ đi ra. Hans Castorp, theo sau Joachim, ngoái nhìn qua vai khi bước ra ngoài. Do người kỹ thuật viên cho vào, Frau Chauchat bước vào phòng thí nghiệm.

Tự do

Rốt cuộc chàng trai Hans Castorp cảm thấy việc ấy ra sao? Có phải đại khái như thể bảy tuần mà chàng nay hiển nhiên, không còn một chút hồ nghi nào nữa, đã sống giữa những người trên này, chỉ mới là bảy ngày thôi chăng? Hay trái lại, chàng thấy mình đã sống ở nơi đây lâu hơn thực rất, rất nhiều? Chàng tự hỏi mình như thế, trong lòng cũng như bằng cách đem hỏi Joachim, mà vẫn không thể đi đến một quyết định nào. Có lẽ cả hai đều đúng: quãng thời gian sống trên này, nhìn lại, vừa ngắn một cách không tự nhiên, vừa dài một cách không tự nhiên; chỉ có điều nó thật sự là thế nào thì chàng lại không thấy như vậy, mà nói thế dĩ nhiên còn giả định rằng thời gian nói chung là một cái gì thuộc về tự nhiên, và rằng đem khái niệm thực tại gắn với nó là điều chính đáng.

Dù sao thì tháng Mười cũng đã đứng trước cửa, ngày nào cũng có thể bước vào. Hans Castorp tính ra điều ấy không khó, mà ngoài ra chàng còn được những câu chuyện của các bạn đồng bệnh nhắc cho biết nữa, những câu chuyện chàng nghe được. “Ông có biết là năm ngày nữa lại đến mồng Một không?” chàng nghe Hermine Kleefeld nói với hai chàng trai trong bọn nàng, sinh viên Rasmussen và gã môi trề tên Gänser nọ. Sau bữa ăn chính, người ta còn đứng nấn ná giữa các bàn trong làn hơi thức ăn, chuyện gẫu trước khi đi liệu pháp nằm nghỉ. “Mồng Một tháng Mười, tôi đã thấy trên tờ lịch ở phòng quản trị. Thế là cái mồng Một thứ hai cùng loại mà tôi sống qua ở chốn lạc thú này. Đẹp đẽ làm sao, mùa hè thế là hết, giả như nó đã từng hiện hữu; người ta bị lừa mất nó, cũng như bị lừa mất cuộc đời, xét về toàn thể và nói chung.” Rồi nàng thở dài bằng nửa lá phổi của mình, vừa lắc đầu vừa đưa cặp mắt bị một màn đần độn phủ mờ lên trần nhà. “Vui lên đi, Rasmussen!” nàng nói tiếp và vỗ lên cái vai xuôi xuôi của bạn đồng bạn. “Nói chuyện khôi hài đi chứ!” “Tôi chỉ biết có ít lắm,” Rasmussen đáp, để hai tay buông ngang ngực như hai cái vây; “mà ít ấy lại chẳng muốn chịu chạy ra, lúc nào tôi cũng mệt thế này.” “Chó cũng chẳng muốn,” Gänser nghiến răng nói, “sống như thế này, hay gần như thế này, thêm lâu hơn nữa đâu.” Và họ cười, nhún vai.

Nhưng Settembrini cũng đứng gần đó, chiếc tăm xỉa răng kẹp giữa môi, và lúc đi ra ông nói với Hans Castorp:

“Đừng tin họ, kỹ sư ạ, đừng bao giờ tin họ khi họ than vãn! Ai ai trong bọn ấy cũng thế, không trừ một ai, mặc dầu họ cảm thấy ở đây như ở nhà mình mới chết. Sống một đời buông tuồng, thế mà lại còn đòi được người ta thương hại, tưởng mình có quyền chua chát, mỉa mai, cay độc! ‘Ở chốn lạc thú này!’ Chẳng lẽ đây không phải là một chốn lạc thú sao? Tôi thì cho rằng phải, mà lại còn phải theo cái nghĩa đáng ngờ nhất của từ ấy kia! ‘Bị lừa,’ người đàn bà ấy nói thế; ‘bị lừa mất cuộc đời ở chốn lạc thú này.’ Nhưng cứ thả bà ta xuống miền đồng bằng đi, nếp sinh hoạt của bà ta ở dưới ấy sẽ chẳng để lại chút nghi ngờ nào rằng bà ta chỉ nhắm sao cho sớm nhất có thể lại được lên đây. A, phải, mỉa mai! Hãy coi chừng cái thứ mỉa mai nảy nở trên này, kỹ sư ạ! Nói cho cùng, hãy coi chừng chính cái thái độ tinh thần ấy! Ở đâu nó không phải là một phương tiện hùng biện thẳng thắn và cổ điển, không gây một giây mơ hồ nào cho lương tri lành mạnh, thì ở đó nó biến thành sự buông tuồng, thành một chướng ngại của văn minh, thành một cuộc tình tự ô uế với sự đình trệ, với phi tinh thần, với thói đồi bại. Bởi bầu không khí chúng ta đang sống đây hiển nhiên rất thuận lợi cho thứ cây đầm lầy ấy sinh sôi, tôi có thể hy vọng, hoặc phải lo sợ, rằng ông hiểu tôi.”

Quả thật, lời lẽ của người Ý thuộc hẳn vào loại mà, cách đây mới bảy tuần ở miền đồng bằng, đối với Hans Castorp chỉ là âm thanh suông; còn giờ đây, kỳ lưu trú trên này đã khiến tinh thần chàng trở nên tiếp nhận được ý nghĩa của chúng: tiếp nhận theo nghĩa hiểu biết bằng trí tuệ, chứ không nghiễm nhiên cả theo nghĩa đồng cảm, điều có lẽ còn nói lên nhiều hơn. Bởi lẽ tuy tự đáy lòng chàng vui vì Settembrini, ngay lúc này đây nữa, bất chấp mọi sự đã xảy ra, vẫn tiếp tục nói với chàng như trước, tiếp tục chỉ dạy, cảnh báo và tìm cách gây ảnh hưởng lên chàng, năng lực lĩnh hội của chàng thậm chí đã đi xa tới mức chàng đem chính những lời kia ra xét đoán và, ít ra đến một chừng mực nào đó, giữ lại sự tán đồng của mình. “Kìa xem,” chàng nghĩ, “ông ta nói về mỉa mai gần y như đã nói về âm nhạc, chỉ còn thiếu nước gọi nó là ‘đáng ngờ về mặt chính trị’, tức là kể từ khoảnh khắc nó thôi không còn là một ‘phương tiện giáo huấn thẳng thắn và cổ điển’. Nhưng một sự mỉa mai ‘không gây một giây mơ hồ nào’ ư, lạy Chúa, nếu tôi cũng được quyền góp chuyện thì đó còn là thứ mỉa mai gì nữa? Đó sẽ là khô khan và giọng thầy đồ mất thôi!” Thanh xuân đang tự khai mở mình là thế, vô ơn như thế đấy. Nó nhận quà, rồi quay lại chê bai món quà.

Dù sao thì đem sự chống đối của mình diễn thành lời vẫn sẽ có vẻ quá phiêu lưu đối với chàng. Chàng chỉ giới hạn những phản bác của mình vào phán đoán của Herr Settembrini về Hermine Kleefeld, điều chàng thấy là bất công, hoặc vì những lý do nhất định nào đó mà chàng muốn thấy là bất công.

“Nhưng cô ấy ốm mà!” chàng nói. “Cô ấy quả thật, quả thật là ốm nặng và có đủ mọi lý do để tuyệt vọng! Rốt cuộc ngài muốn gì ở cô ấy?”

“Bệnh tật và tuyệt vọng,” Settembrini nói, “lắm khi cũng chỉ là những hình thức của sự buông tuồng.”

“Thế còn Leopardi,” Hans Castorp nghĩ, “người mà minh nhiên đã tuyệt vọng ngay cả vào khoa học và tiến bộ? Còn chính ông ta, ngài thầy đồ? Ông ta há chẳng cũng bệnh đó sao, và cứ trở lên đây mãi, còn Carducci hẳn sẽ chẳng vui gì với ông ta.” Thành tiếng, chàng nói:

“Ngài nói hay thật. Cô ấy có thể chết bất cứ ngày nào, mà ngài gọi thế là buông tuồng! Chỗ ấy thì ngài phải giải thích kỹ hơn mới được. Nếu ngài bảo tôi: bệnh tật đôi khi là hậu quả của sự buông tuồng, thì điều ấy còn có lý...”

“Rất có lý,” Settembrini xen vào. “Thật tình, hẳn ông sẽ vừa ý nếu tôi dừng ở đó?”

“Hoặc nếu ngài bảo: bệnh tật đôi khi phải làm cái cớ cho sự buông tuồng, thì điều ấy tôi cũng chịu được.”

“_Grazie tanto!_”

“Nhưng bệnh tật là một _hình thức_ của sự buông tuồng ư? Nghĩa là: không phải do buông tuồng mà sinh ra, mà bản thân nó chính là buông tuồng? Thế chẳng phải nghịch lý sao!”

“Ồ, xin ông, kỹ sư ạ, đừng gán ghép cho tôi! Tôi khinh bỉ nghịch lý, tôi căm ghét nó! Xin ông hãy áp dụng cho nghịch lý hết thảy những gì tôi vừa nói với ông về mỉa mai, còn hơn thế nữa kia! Nghịch lý là đóa hoa độc của chủ nghĩa tĩnh tại, là ánh óng ánh của một tinh thần đã mục rữa, là sự buông tuồng lớn nhất trong mọi sự buông tuồng! Ngoài ra, tôi nhận thấy lần nữa rằng ông lại đang bênh vực bệnh tật...”

“Không, điều ngài nói làm tôi thấy hứng thú. Nó thật khiến tôi nhớ đến một số điều Dr. Krokowski thường trình bày trong những buổi thứ Hai của ông ta. Chính ông ấy cũng giải thích bệnh hữu cơ là một hiện tượng thứ phát.”

“Một nhà duy tâm không thật sạch sẽ cho lắm.”

“Ngài có gì chống lại ông ấy?”

“Chính là điều đó.”

“Ngài không ưa sự phân tích sao?”

“Không phải ngày nào cũng thế. Có ngày tôi rất không ưa, có ngày lại rất ưa, cả hai thay phiên nhau, kỹ sư ạ.”

“Tôi phải hiểu thế nào?”

“Phân tích là điều tốt với tư cách công cụ của khai sáng và văn minh, tốt ở chỗ nó làm lung lay những niềm tin ngu xuẩn, tháo gỡ những thành kiến tự nhiên và xói mòn quyền uy, nói cách khác, tốt ở chỗ nó giải phóng, tinh luyện, nhân tính hóa và làm cho kẻ nô lệ chín muồi để bước vào tự do. Nó là điều xấu, rất xấu, ở chỗ nó ngăn trở hành động, làm tổn thương đời sống từ tận rễ, không có năng lực tạo hình cho nó. Phân tích có thể là một việc rất không ngon lành, không ngon lành như cái chết, mà biết đâu thực ra nó vốn thuộc về cái chết; họ hàng với nấm mồ và môn giải phẫu đầy tai tiếng của nó...”

“Gầm khá lắm, sư tử ạ,” Hans Castorp không thể không nghĩ thế, như thường lệ mỗi khi ông Settembrini thốt ra điều gì mang tính sư phạm. Nhưng chàng chỉ nói:

“Hôm nọ chúng tôi đã thực hành giải phẫu bằng ánh sáng ở cái tầng hầm trệt của chúng tôi. Behrens gọi thế, khi ông ta chiếu quang chúng tôi.”

“À, vậy là ông cũng đã trèo qua trạm ấy rồi. Thế rồi sao?”

“Tôi đã nhìn thấy bộ xương của bàn tay mình,” Hans Castorp nói, cố gọi trở lại những cảm giác đã dâng lên trong chàng trước cảnh tượng ấy. “Ngài đã bao giờ để người ta cho ngài xem bộ xương của chính ngài chưa?”

“Chưa, tôi hoàn toàn không quan tâm gì đến bộ xương của mình. Còn kết quả y khoa?”

“Ông ấy đã thấy những dải, những dải có nốt.”

“Tên tay sai của quỷ.”

“Ngài đã gọi Hofrat Behrens như thế một lần rồi. Ngài muốn nói gì?”

“Xin ông cứ tin rằng đó là một danh xưng đã được cân nhắc lựa chọn!”

“Không, ngài bất công đấy, Herr Settembrini! Tôi thừa nhận người ấy có những nhược điểm của mình. Bản thân tôi, về lâu dài, cũng không thấy lối nói năng của ông ta dễ chịu; đôi khi nó có cái gì như thô bạo, nhất là khi người ta nhớ rằng ông ta đã phải chịu nỗi đau lớn là mất vợ ngay trên này. Nhưng rốt cuộc, ông ta vẫn là một con người có công lao và đáng kính biết bao, một ân nhân của nhân loại đau khổ! Hôm nọ tôi gặp ông ta đúng lúc ông ta vừa từ một ca mổ bước ra, một ca cắt bỏ xương sườn, một việc ở đó thật là được ăn cả ngã về không. Điều ấy đã gây ấn tượng mạnh nơi tôi, khi tôi thấy ông ta trở về từ công việc khó nhọc mà hữu ích của mình, thứ công việc ông ta tinh thông đến thế. Ông ta còn nóng bừng cả lên, và để tự thưởng đã châm một điếu xì gà. Tôi đã thấy ghen với ông ta.”

“Thật đẹp lòng khi nghe ông nói thế. Nhưng còn mức án của ông?”

“Ông ấy không ấn định cho tôi một thời hạn cụ thể nào.”

“Thế cũng không tệ. Vậy thì ta đi nằm thôi, kỹ sư ạ. Ta vào vị trí của mình.”

Họ chia tay nhau trước phòng số 34.

“Thế thì ngài lên mái nhà của ngài đi, Herr Settembrini. Nằm như vậy có bạn hẳn vui hơn nằm một mình. Các ngài có chuyện trò với nhau chứ? Những người cùng dưỡng bệnh với ngài có thú vị không?”

“Ôi, toàn là Parthia với Scythia!”

“Ngài muốn nói người Nga?”

“Và cả phụ nữ Nga nữa,” Herr Settembrini nói, khóe miệng ông căng lại. “Adieu, kỹ sư ạ!”

Điều ấy được nói ra đầy ngụ ý, hẳn không còn nghi ngờ gì. Hans Castorp bước vào phòng mình, bối rối. Phải chăng Settembrini biết tình thế của chàng ra sao? Rất có thể ông ta đã theo dõi chàng bằng con mắt giáo dục của mình và lần theo những nẻo đường mắt chàng vẫn đi. Hans Castorp nổi giận với người Ý, và cả với chính mình nữa, vì đã thiếu tự chủ mà khiêu ra cú châm ấy. Vừa lục tìm bộ đồ viết để mang theo xuống buổi liệu pháp nằm nghỉ - vì giờ đây không thể còn chần chừ nữa, bức thư thứ ba gửi về nhà phải được viết - chàng vừa tiếp tục bực bội, lẩm bẩm đủ điều chống lại tên bốc gió và lý sự ấy, kẻ xen vào những việc chẳng dính gì đến mình, trong khi chính ông ta thì lại nghêu ngao tán tỉnh các cô gái ngoài phố, và chàng cảm thấy hoàn toàn không còn tâm trí nào cho công việc viết lách nữa; tên kéo phong cầm ấy, với những lời ám chỉ của mình, thực đã làm hỏng mất tâm trạng cần có cho việc ấy. Nhưng thế nào đi nữa, chàng phải có quần áo mùa đông, tiền bạc, đồ vải, giày dép, nói tắt là mọi thứ mà chàng đã mang theo nếu biết rằng mình không đến đây chỉ trong ba tuần giữa mùa hạ, mà... mà là cho một thời hạn còn chưa xác định, song dẫu sao cũng sẽ kéo sang một quãng của mùa đông, vâng, mà với những khái niệm và tương quan thời gian vốn vẫn như thế nơi Chúng tôi trên này, có lẽ còn nuốt trọn cả chàng vào nữa. Chính điều ấy, ít nhất như một khả năng, cần phải được báo về nhà. Lần này cần phải làm cho ra chuyện, nói cho những người dưới kia biết sự thật trọn vẹn, và không tiếp tục đánh lừa cả mình lẫn họ nữa...”

Trong tinh thần ấy, chàng viết, tuân theo kỹ thuật mà chàng đã mấy lần thấy Joachim thực hành: nằm trên ghế xếp, bút máy trong tay, cặp tài liệu du hành đặt trên hai đầu gối co cao. Chàng viết trên tờ giấy thư của viện, một xấp vẫn để sẵn trong ngăn kéo bàn, gửi James Tienappel, người gần gũi với chàng nhất trong ba ông cậu, và nhờ ông báo lại cho vị lãnh sự. Chàng nói đến một sự cố phiền toái, đến những mối lo ngại đã thành sự thật, đến sự cần thiết, theo lời các bác sĩ, phải sống trên này qua một phần mùa đông, có thể là trọn mùa đông nữa, vì những trường hợp như của chàng lắm khi lại lì lợm hơn những trường hợp khởi đầu rầm rộ hơn, mà ở đây điều cốt yếu là phải can thiệp mạnh mẽ và phòng ngừa dứt khoát từ sớm. Xét dưới góc độ ấy, chàng nói, thì quả cũng là một điều may và một sự sắp đặt thuận lợi khi tình cờ đúng lúc này chàng lên đây và được thúc đẩy đi khám; bởi không thế thì hẳn chàng còn lâu mới biết rõ tình trạng của mình, và rồi về sau có lẽ sẽ bị dạy cho biết bằng một cách đau đớn hơn nhiều. Còn về thời gian dự kiến của đợt dưỡng trị, xin mọi người đừng lấy làm lạ rằng có lẽ chàng sẽ phải ở lì qua mùa đông và hầu như không thể trở lại miền đồng bằng sớm hơn Joachim được. Ở đây, quan niệm về thời gian khác với những gì thông thường vẫn có hiệu lực cho những chuyến nghỉ dưỡng và các kỳ điều dưỡng; tháng, có thể nói thế, là đơn vị thời gian nhỏ nhất, và từng tháng riêng lẻ thì hoàn toàn không đóng vai trò gì...”

Trời se lạnh, chàng viết trong áo paletot, quấn trong một tấm chăn, hai bàn tay ửng đỏ. Đôi khi chàng ngẩng lên khỏi tờ giấy đang dần kín những câu văn hợp lý và thuyết phục, và nhìn ra phong cảnh quen thuộc mà chàng hầu như không còn nhìn thấy nữa: thung lũng dài ấy, với khối đỉnh núi dồn chất nơi cửa ra hôm nay nhợt trắng như thủy tinh, với lòng thung sáng sủa có dân cư, đôi lúc lóe lên trong nắng, và những triền dốc phần thì sần sùi rừng cây, phần thì cỏ bãi, từ đó vọng xuống tiếng chuông bò. Chàng viết ngày một nhẹ tay hơn và không còn hiểu nổi vì sao mình đã sợ bức thư đến thế. Ngay trong khi viết, chính chàng cũng nhận ra rằng không gì có thể sáng rõ hơn những điều chàng trình bày, và ở nhà dĩ nhiên chúng sẽ gặp sự tán thành hoàn toàn. Một chàng trai thuộc giai tầng của chàng, ở vào những điều kiện như chàng, thì làm điều gì đó cho bản thân mình khi điều ấy tỏ ra đáng làm; chàng sử dụng những tiện nghi vốn được chuẩn bị sẵn riêng cho hạng người như chàng. Phải thế mới đúng phép. Nếu chàng đã trở về nhà, thì nghe báo cáo của chàng xong người ta cũng lại gửi chàng lên đây thôi. Chàng xin gửi cho mình những gì mình cần. Và cuối thư, chàng cũng xin được chu cấp đều đặn số tiền cần thiết; với 800 mark mỗi tháng thì mọi khoản đều đủ trang trải.

Chàng ký tên. Thế là xong. Lá thư thứ ba gửi về nhà này khá dài, nó đủ dùng, đủ kéo dài, tuy không theo những quan niệm thời gian ở dưới kia, mà theo những quan niệm đang ngự trị trên này; nó củng cố _tự do_ của Hans Castorp. Đó là từ mà chàng đã dùng, không phải một cách minh nhiên, không phải đến mức ngay trong lòng cũng ghép nên các âm tiết của nó, nhưng chàng cảm thấy ý nghĩa rộng lớn nhất của từ ấy, như chàng đã học được cách cảm thấy trong thời gian lưu lại nơi đây, một ý nghĩa chỉ có rất ít dính dáng đến cái ý nghĩa mà Settembrini gán cho từ đó, và một làn sóng kinh hãi lẫn kích động đã quen thuộc từ trước lại tràn qua người chàng, khiến lồng ngực chàng run lên trong một tiếng thở dài.

Đầu chàng như dồn đầy máu vì viết, hai má bỏng rát. Chàng nhấc ống Merkurius khỏi chiếc bàn đèn nhỏ và đo nhiệt độ, như thể phải chớp lấy một cơ hội. Merkurius lên đến 37,8.

“Thấy chưa?” Hans Castorp nghĩ. Và chàng thêm dòng tái bút: “Bức thư quả đã làm cháu mệt. Cháu đo được 37,8. Cháu thấy hiện thời mình phải giữ hết sức yên tĩnh. Xin mọi người lượng thứ nếu cháu viết thư thưa.” Rồi chàng nằm đó, giơ bàn tay lên phía trời, lòng tay quay ra ngoài, như chàng đã từng giơ nó sau chụp đèn. Nhưng ánh sáng bầu trời không hề chạm tới hình thể sinh mệnh của nó; trái lại, chất liệu của nó còn trở nên sẫm hơn, đục hơn trước sự sáng ấy, và chỉ những đường viền ngoài cùng mới hiện lên, được ánh đỏ xuyên qua. Đó là bàn tay sống mà chàng quen nhìn, quen rửa sạch, quen sử dụng, chứ không phải cái giàn khung xa lạ kia chàng đã trông thấy trong chụp đèn; cái hố giải phẫu mà bữa nọ chàng đã nhìn thấy mở toang, nay lại khép vào rồi.

Những cơn thất thường của thủy ngân

Tháng Mười bắt đầu, như những tháng mới vẫn thường bắt đầu, mà tự nó thì đó là một sự bắt đầu hoàn toàn khiêm tốn và không tiếng động, không điềm triệu, không lửa dấu, nên thật ra là một sự len lỏi âm thầm, rất dễ lọt khỏi sự chú ý nếu sự chú ý ấy không giữ kỷ luật nghiêm ngặt. Trong thực tại, thời gian không có những chỗ khấc; chẳng có giông tố hay tiếng kèn đồng nào lúc mở đầu một tháng mới hay một năm mới, và ngay cả lúc mở đầu một thế kỷ mới thì cũng chỉ có chính loài người chúng ta bắn súng và kéo chuông mà thôi.

Trong trường hợp của Hans Castorp, ngày đầu tháng Mười giống hệt như đúc ngày cuối tháng Chín; nó lạnh lẽo và khó chịu y như thế, và những ngày tiếp theo cũng vậy. Trong liệu pháp nằm nghỉ, người ta cần đến áo khoác mùa đông và cả hai tấm chăn lông lạc đà, không chỉ vào buổi tối mà cả ban ngày; những ngón tay cầm sách ẩm và cứng lại, dù hai má vẫn nóng khô, và Joachim rất muốn đem cái túi lông của mình ra dùng; chỉ vì không muốn nuông chiều bản thân quá sớm mà cậu thôi.

Nhưng vài ngày sau đó, khi tháng đã qua quãng từ đầu đến giữa, mọi sự đổi khác cả, và một mùa hè đến muộn bất thần tràn vào, huy hoàng đến mức khiến người ta phải ngạc nhiên. Hans Castorp vẫn từng nghe ca ngợi tháng Mười ở vùng này, quả không phải vô cớ; suốt chừng hai tuần rưỡi, vẻ vinh hiển của bầu trời ngự trị trên núi và thung, ngày sau còn vượt ngày trước về độ trong xanh rạng ngời, và mặt trời đốt xuống với một sức mạnh đột ngột đến nỗi ai nấy đều thấy mình phải lục lại những thứ y phục mùa hè nhẹ nhất, những chiếc váy muslin và quần vải gai vốn đã bị xếp bỏ, và ngay cả chiếc ô vải buồm lớn không cán chống, được gắn vào tay ghế nằm bằng một cơ cấu khéo léo, một cây cọc đục nhiều lỗ, cũng chỉ che chắn không đủ trước cái rực lửa của thiên thể trong những giờ chính ngọ.

“Hay thật, mình còn được sống qua cái này ở đây,” Hans Castorp nói với người anh em họ. “Đã có lúc chúng ta khổ sở đến thế, mà giờ thì cứ như đã ở sau lưng mùa đông rồi và nay thời tốt đẹp mới tới.” Chàng nói có lý. Chỉ có ít dấu hiệu gợi ra tình hình thực sự, mà những dấu hiệu ấy lại rất kín đáo. Nếu gạt sang một bên mấy cây phong trồng ở dưới “quảng trường”, nơi chúng chỉ vừa đủ cầm hơi sống và từ lâu đã chán nản rụng lá, thì ở đây không có cây rụng lá nào có thể in dấu mùa lên phong cảnh; và chỉ loài tổng quán sủi lưỡng tính, mang lá kim mềm và thay chúng như thay lá, là hiện ra trụi trơ theo lối mùa thu. Còn toàn bộ cây cối khác của vùng, dù vươn cao hay rạp thấp, đều là thứ lá kim thường xanh, vững vàng trước mùa đông, mùa đông kia, bị hạn chế một cách mơ hồ, được phép phân phát những trận bão tuyết của nó lên đây suốt quanh năm; và chỉ một sắc điệu đỏ gỉ, xếp tầng nhiều lớp trên khu rừng, là cho người ta nhận ra năm đang tàn, bất chấp cái nắng hè thiêu đốt của bầu trời. Dĩ nhiên, nhìn kỹ hơn, còn có những bông hoa đồng cỏ, chúng cũng khe khẽ nói vào câu chuyện. Không còn thấy thứ lan tựa lan là địa lan Knabenkraut, cũng không còn thấy cây aquilegia dạng bụi vốn còn tô điểm sườn dốc khi vị khách mới tới, và cả cẩm chướng dại cũng mất rồi. Chỉ còn gentian và những bông colchicum mùa thu cuống thấp là còn thấy, và chúng báo cho hay về một thứ tươi mát nội tại nào đó trong bầu không khí bề ngoài bị nung nóng, một sự lạnh có thể bất thần thấm đến tận xương cốt của người nằm nghỉ, bên ngoài hầu như sém bỏng, như một cơn rùng mình băng giá nơi người đang sốt nóng.

Vậy là, trong thâm tâm, Hans Castorp không giữ cái trật tự mà con người chuyên quản trị thời gian dùng để giám sát dòng chảy của nó, chia cắt, đếm và gọi tên các đơn vị của nó. Chàng đã chẳng để ý tới sự khởi đầu âm thầm của tháng thứ mười; chỉ có cái cảm giác tính động đến chàng, cái nóng cháy của mặt trời với sự tươi lạnh bí mật ở trong và ở dưới nó, một cảm giác với cường độ như vậy là mới đối với chàng và khiến chàng nghĩ tới một so sánh thuộc nghệ thuật ẩm thực: theo một lời chàng nói với Joachim, nó nhắc chàng tới món “_Omelette en surprise_”, có chất đông lạnh nằm dưới lớp bọt trứng nóng. Chàng thường nói những điều như thế, nói mau, trơn tru, bằng một giọng bứt rứt, như một người da thì nóng mà vẫn thấy rét run. Xen vào đó, dĩ nhiên, cũng có lúc chàng lặng thinh, nếu không muốn nói là: thu mình vào trong; bởi sự chú ý của chàng quả có hướng ra ngoài, nhưng chỉ vào một điểm; còn tất cả những gì khác, người cũng như vật, đều nhòe đi trong một làn sương, một làn sương được sinh ra trong bộ óc Hans Castorp, mà Hofrat Behrens và bác sĩ Krokowski hẳn không ngần ngại gọi là sản phẩm của những độc chất hòa tan, như chính kẻ đang bị sương mù ấy bao phủ cũng tự nhủ với mình, mà sự nhận thức đó chẳng hề gây trong chàng năng lực, hay dù chỉ từ xa một ước muốn, thoát khỏi cơn say.

Vì đó là một cơn say chỉ thiết tha với chính nó, và đối với nó, không gì đáng ghét bỏ, đáng kinh sợ hơn là sự tỉnh táo. Nó còn tự bảo toàn được cả trước những ấn tượng có tính dập tắt, nó không cho chúng lọt vào để gìn giữ chính mình. Hans Castorp biết, và trước kia chính chàng đã từng nói ra, rằng bà Chauchat nhìn nghiêng không đẹp, có gì đó hơi sắc, không còn thật trẻ nữa. Kết quả là gì? Chàng tránh không nhìn bà ở góc nghiêng, theo đúng nghĩa đen khép mắt lại nếu tình cờ từ xa hay gần bà hiện ra trước chàng ở dáng ấy, điều đó làm chàng đau đớn. Tại sao? Lý trí của chàng lẽ ra phải hớn hở nắm lấy cơ hội để khẳng định mình chứ! Nhưng còn đòi hỏi gì nữa... Chàng tái mặt vì ngây ngất khi trong những ngày rực rỡ ấy Clawdia lại một lần nữa xuất hiện ở bữa điểm tâm thứ hai trong chiếc áo choàng matinée ren trắng nàng mặc lúc trời ấm, thứ áo khiến nàng duyên dáng lạ lùng, nàng xuất hiện trong đó, đến muộn và sầm cửa, rồi mỉm cười, hai cánh tay hơi nhấc lên lệch nhau, quay mặt ra phía gian phòng như để trình diện. Nhưng chàng ngây ngất không hẳn vì nàng trông đẹp như thế, mà _vì_ đúng là như thế, bởi điều đó làm dày thêm làn sương ngọt ngào trong đầu chàng, cơn say chỉ muốn có chính nó, và chỉ cốt được biện minh và nuôi dưỡng.

Một người phán xét theo nếp nghĩ của Lodovico Settembrini, trước sự thiếu thiện chí như thế, hầu như có thể nói thẳng là bừa bãi, là “một hình thức bừa bãi”. Thỉnh thoảng Hans Castorp nhớ lại những điều có tính văn chương mà ông kia đã phát biểu về “bệnh tật và tuyệt vọng”, những điều chàng đã thấy không sao hiểu nổi, hoặc đã làm ra vẻ là thấy không sao hiểu nổi. Chàng nhìn Clawdia Chauchat, cái lưng mềm nhũn của nàng, tư thế đầu chúi ra trước; chàng luôn luôn thấy nàng đến bàn ăn rất muộn, không lý do, không lời xin lỗi, chỉ vì thiếu trật tự và thiếu nghị lực có giáo dưỡng; cũng chính do cái thiếu hụt cơ bản ấy mà nàng luôn để mặc mọi cánh cửa sập lại sau lưng mỗi khi đi vào hay đi ra, vo những viên bánh mì và thỉnh thoảng cắn nhấm đầu ngón tay bên cạnh, và một linh cảm câm lặng dâng lên trong chàng rằng nếu nàng có bệnh, mà nàng hẳn là có bệnh, bệnh rất nặng, hầu như vô vọng, vì nàng đã phải sống trên này lâu và nhiều lần như thế, thì bệnh của nàng, nếu không hoàn toàn, thì cũng phần lớn, mang bản chất đạo đức, và thật sự, như Settembrini đã nói, không phải là nguyên nhân hay hậu quả của sự “uể oải” của nàng, mà là một với nó, chính là nó. Chàng cũng nhớ tới cử chỉ gạt đi mà nhà nhân văn đã dùng khi nói về “bọn Parthia và Scythia” mà ông phải cùng nằm nghỉ, một cử chỉ khinh miệt và bác bỏ tự nhiên, trực tiếp, không cần giải minh trước nữa, điều mà Hans Castorp từ xưa vốn cũng hiểu rất rõ, từ những ngày chàng còn ngồi bàn ăn rất thẳng lưng, căm ghét chuyện sập cửa từ tận đáy lòng, và chẳng mảy may bị cám dỗ cắn ngón tay, đã đành vì thay vào đó chàng có Maria Mancini, lúc còn lấy làm khó chịu sâu sắc trước những thói vô lễ của bà Chauchat và không sao dứt được cảm giác mình ở địa vị cao hơn khi nghe người đàn bà ngoại quốc mắt híp ấy thử xoay xở bằng chính tiếng mẹ đẻ của chàng.

Những cảm giác kiểu đó, do tình thế nội tâm hiện tại, nay Hans Castorp gần như đã từ bỏ hết; trái lại, điều làm chàng bực mình nhiều hơn lại là chính người Ý kia, vì ông ta ngạo mạn nói về “bọn Parthia và Scythia”, trong khi kỳ thực ông ta thậm chí còn chẳng nhắm vào những người ngồi ở bàn Nga “xấu”, cái bàn nơi những sinh viên tóc dày quá mức và đồ lót như vô hình ngồi đó, tranh cãi không ngớt bằng thứ ngôn ngữ hết sức xa lạ của họ, ngoài thứ ấy ra rõ ràng họ không biết diễn đạt bằng thứ nào khác, và cái tính cách không xương của họ khiến người ta nhớ đến một lồng ngực không xương sườn, như Hofrat Behrens mới tả hôm nọ. Đúng là phong tục tập quán của hạng người ấy có thể dễ dàng gây nơi một nhà nhân văn cảm giác phải giữ khoảng cách. Họ ăn bằng dao và làm bẩn buồng vệ sinh theo một cách không sao tả nổi. Settembrini quả quyết rằng một người trong bọn họ, một sinh viên y khoa các năm trên, đã tỏ ra hoàn toàn chẳng biết gì về tiếng Latin, chẳng hạn không biết _vacuum_ là gì, và theo kinh nghiệm hằng ngày của chính Hans Castorp thì hẳn bà Stöhr không nói dối khi kể ở bàn ăn rằng đôi vợ chồng phòng số 32 đón người tắm bóp buổi sáng, khi ông ta đến để xoa bóp, trong tư thế cả hai cùng nằm trên giường.

Dẫu tất cả những điều ấy có đúng đi nữa, thì sự phân chia hiển nhiên giữa “tốt” và “xấu” vẫn không phải vô cớ mà có, và Hans Castorp tự trấn an rằng chàng chỉ có thể nhún vai trước một tay tuyên truyền cho nền cộng hòa và cho văn phong mỹ lệ nào đó, kẻ vừa kiêu bạc vừa tỉnh táo, nhất là tỉnh táo, dẫu chính ông ta cũng đang sốt và ngà ngà, lại gộp cả hai bàn ăn dưới cái tên Parthia và Scythia. Ý ông ta muốn nói gì, chàng trai Hans Castorp hiểu rất rộng; chàng cũng đã bắt đầu hiểu mối liên hệ giữa bệnh tình của bà Chauchat với sự “uể oải” của nàng kia mà. Nhưng sự thể đúng như một hôm chàng đã nói với Joachim: người ta bắt đầu bằng khó chịu và cảm giác giữ khoảng cách, nhưng bỗng nhiên lại “có cái hoàn toàn khác chen vào”, cái “không dính dáng gì đến phán đoán hết”, và thế là sự nghiêm khắc về tác phong mất hiệu lực, người ta hầu như không còn tiếp nhận nổi những ảnh hưởng giáo dục có tính cộng hòa và hùng biện nữa. Nhưng cái đó là gì, chúng ta hỏi, có lẽ cũng theo tinh thần của chính Lodovico Settembrini, cái chen ngang đáng ngờ ấy là gì mà làm cho phán đoán của con người tê liệt và bị loại bỏ, tước mất quyền phán đoán của con người, hay đúng hơn khiến con người tự mình từ bỏ quyền ấy với một niềm mê đắm điên rồ? Chúng ta không hỏi tên của nó, vì ai ai cũng biết. Chúng ta hỏi về bản chất đạo đức của nó, và thú thật, chúng ta chẳng trông chờ một câu trả lời lấy gì làm cao đẹp. Trong trường hợp Hans Castorp, bản chất ấy biểu hiện đến mức chàng không những thôi không phán đoán nữa mà còn bắt đầu tự mình thử nghiệm với cái hình thể sinh mệnh đã làm chàng say đắm. Chàng thử xem ngồi ở bàn trong tư thế sụp xuống, lưng mềm oặt thì thế nào, và thấy như vậy đem lại một sự thư thái lớn cho các cơ xương chậu. Rồi chàng cũng thử đi qua một cánh cửa mà không cẩn thận khép nó lại sau lưng, cứ để nó tự sập; và điều này cũng tỏ ra vừa tiện vừa thích đáng: nó tương ứng, trong biểu hiện, với cái nhún vai mà Joachim đã từng dùng để đón chàng ngay ở nhà ga bữa nọ, và từ đó về sau chàng đã thấy nhiều đến thế nơi những người trên này.

Nói đơn giản, vậy là người lữ khách của chúng ta nay đã phải lòng Clawdia Chauchat đến tận mang tai, chúng ta lại dùng chính từ ấy một lần nữa, vì tưởng mình đã phòng ngừa khá đầy đủ cái sự hiểu lầm mà nó có thể gây nên rồi. Vậy thì điều cấu thành bản chất sự si tình của chàng không phải là một nỗi buồn dịu dàng êm ấm theo tinh thần khúc hát nhỏ kia. Trái lại, đó là một biến thể khá liều lĩnh và không nơi nương náu của thứ mê hoặc ấy, trộn bằng băng giá và nóng rực như trạng thái của một người sốt, hoặc như một ngày tháng Mười ở những tầng trời cao; và cái còn thiếu chính là một trung giới thuộc về tình cảm có thể gắn kết những thành phần cực đoan của nó. Một mặt, nó hướng đến đầu gối bà Chauchat và đường nét chân nàng, đến tấm lưng nàng, các đốt sống gáy và cánh tay trên của nàng, nơi bộ ngực nhỏ bị ép lại, với một tính trực tiếp khiến chàng trai phải tái nhợt đi và các đường nét trên mặt chàng méo hẳn, nói gọn lại là hướng đến thân thể nàng, cái thân thể uể oải mà tăng cường, cái thân thể vì bệnh tật mà được nhấn đậm ghê gớm và lại một lần nữa bị biến thành thân thể. Nhưng mặt khác, nó lại là một cái gì hết sức thoáng qua và mênh mang, một ý nghĩ, không, một giấc mơ, giấc mơ kinh hãi mà hấp dẫn vô biên của một chàng trai trẻ mà những câu hỏi nhất định, dẫu được đặt ra một cách vô thức, chỉ nhận lại một sự im lặng rỗng không làm câu trả lời. Như mọi người, chúng ta cũng đòi quyền được có những ý nghĩ riêng của mình đối với câu chuyện đang kể ở đây, và chúng ta xin nêu một giả định rằng Hans Castorp hẳn đã chẳng kéo dài thời hạn nguyên thủy dự định cho cuộc lưu lại của chàng nơi những người trên này cho đến cả điểm hiện tại đây, nếu từ những vực sâu của thời gian, linh hồn giản dị của chàng đã từng được ban cho một lời giải đáp nào đó thỏa đáng về ý nghĩa và mục đích của sự phụng sự đời sống.

Ngoài ra, mối si tình ấy còn giáng xuống chàng mọi nỗi đau và ban cho chàng mọi niềm vui mà trạng thái đó, ở đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào, vẫn mang theo. Nỗi đau thì thấu suốt; nó chứa một yếu tố hạ nhục, như mọi nỗi đau, và có nghĩa là một cơn chấn động đối với hệ thần kinh đến mức có thể làm nghẹn hơi và ép ra những giọt nước mắt cay đắng nơi một người đàn ông trưởng thành. Để công bằng với cả những niềm vui nữa, thì chúng thật nhiều, và tuy nảy sinh từ những cớ rất không đáng kể, lại chẳng vì thế mà kém phần mãnh liệt so với khổ đau. Gần như bất cứ khoảnh khắc nào trong ngày ở Berghof cũng có thể sinh ra chúng. Chẳng hạn: đúng lúc sắp bước vào phòng ăn, Hans Castorp nhận ra phía sau mình đối tượng của những giấc mơ. Kết quả đã rõ từ trước và hết sức đơn giản, nhưng trong lòng thì mê ly đến mức cũng có thể khiến người ta rơi lệ. Mắt họ gặp nhau ở cự ly gần, mắt chàng và đôi mắt xám-lục của nàng, với vị trí và đường nét hơi Á châu mà chỉ riêng thế thôi cũng đủ làm tê mê tận tủy chàng. Chàng mất hết hồn vía, nhưng ngay cả trong cơn vô thức ấy, chàng vẫn bước tránh sang bên để nhường nàng qua cửa trước. Với nửa nụ cười và một tiếng “_Merci_” nửa thành tiếng, nàng nhận lấy lời nhã ý của chàng, một lời không hơn gì phép lịch sự, rồi đi qua, đi hẳn vào trong. Chàng đứng trong làn hơi của thân thể nàng lướt qua, ngây dại vì hạnh phúc do cuộc chạm mặt ấy và vì một lời từ miệng nàng, tức tiếng _Merci_, đã trực tiếp và đích thân dành cho chàng. Chàng theo sau nàng, lảo đảo rẽ phải về phía bàn mình, và trong lúc ngồi phịch xuống ghế, chàng còn được thấy rằng “Clawdia” phía bên kia, cũng đang ngồi xuống, ngoái lại nhìn chàng, với một vẻ như đang nghĩ ngợi về cuộc gặp nơi cửa. Ôi cuộc phiêu lưu không thể tin được! Ôi niềm hoan hô, chiến thắng và hớn hở vô biên! Không, cơn say mê thỏa mãn huyễn tưởng ấy Hans Castorp hẳn đã không thể nếm trải chỉ vì cái nhìn của bất cứ con ngỗng non khỏe mạnh nào mà dưới miền đồng bằng chàng có thể, một cách chính đáng hơn, yên ổn hơn và nhiều hy vọng hơn, theo tinh thần bài hát kia, “trao trái tim mình”. Với vẻ phấn chấn lên cơn sốt, chàng chào cô giáo, người đã nhìn thấy hết và đang đỏ ửng phơn phớt, rồi sau đó xông tới Miß Robinson bằng một cuộc đàm thoại tiếng Anh vô nghĩa đến mức cô tiểu thư, vốn không thạo những cơn xuất thần, còn giật lùi lại và nhìn chàng bằng ánh mắt đầy lo ngại.

Lần khác, trong bữa tối, những tia nắng của mặt trời trong đang lặn chiếu lên bàn người Nga tốt. Người ta đã kéo rèm trước các cửa ra hiên và cửa sổ, nhưng ở đâu đó vẫn hở một khe, và qua khe ấy ánh đỏ len đường vào, mát lạnh nhưng lóa mắt, rọi đúng vào đầu Frau Chauchat, đến nỗi nàng, đang nói chuyện với người đồng hương mặt lõm ngồi bên phải, phải giơ tay lên che. Đó là một sự quấy rầy, nhưng không phải nặng nề; chẳng ai bận tâm đến, chính người bị quấy rầy hẳn còn không ý thức rõ bất tiện ấy. Nhưng Hans Castorp nhìn thấy từ đầu bên kia phòng, và chàng nhìn một lúc. Chàng xem xét tình hình, dõi theo đường đi của tia sáng, xác định chỗ nó lọt vào. Đó là ô cửa vòm phía sau bên phải kia, ở góc giữa một cửa ra hiên và bàn người Nga xấu, xa chỗ Frau Chauchat ngồi, và hầu như cách chỗ Hans Castorp cũng đúng ngần ấy. Và chàng quyết định. Không nói một lời, chàng đứng dậy, cầm chiếc khăn ăn trong tay, đi chéo qua phòng giữa các bàn, kéo chồng khít hẳn hai lớp rèm màu kem ở phía sau kia, ngoái nhìn qua vai để chắc rằng ánh chiều đã bị chặn lại và Frau Chauchat được giải thoát, rồi hết sức giữ bình thản mà quay về chỗ. Một chàng trai tinh ý, làm điều cần làm vì nếu không sẽ chẳng ai nghĩ tới mà làm. Rất ít người để ý đến sự can thiệp của chàng, nhưng Frau Chauchat đã cảm thấy ngay sự nhẹ nhõm và ngoái lại; nàng giữ nguyên tư thế ấy cho đến khi Hans Castorp trở về chỗ mình và, trong lúc ngồi xuống, nhìn sang phía nàng, lúc đó nàng mỉm cười cảm ơn, một nụ cười ngạc nhiên thân thiện, nghĩa là nàng đưa đầu ra trước nhiều hơn là cúi xuống. Chàng đáp lại bằng một cái cúi đầu. Trái tim chàng bất động, dường như hoàn toàn không đập. Chỉ về sau, khi mọi sự đã xong, nó mới bắt đầu dồn dập nện lên, và khi ấy chàng mới nhận ra Joachim vẫn lặng lẽ dán mắt vào đĩa mình, đồng thời chàng cũng hiểu rõ sau đó rằng Frau Stöhr đã huých cùi chỏ vào sườn Dr. Blumenkohl và, khắp bàn mình cũng như các bàn khác, lom khom cười mà tìm những ánh mắt đồng lõa...

Chúng tôi đang miêu tả những điều thường nhật; nhưng cái thường nhật trở nên kỳ lạ khi nó lớn lên trên một nền tảng kỳ lạ. Giữa họ có những căng thẳng và những dịu giải lành tính, hoặc nếu không phải giữa họ với nhau (vì Madame Chauchat bị động chạm tới mức nào bởi những điều ấy, ta xin để ngỏ), thì ít ra cũng đối với trí tưởng tượng và tình cảm của Hans Castorp. Sau bữa trưa, trong những ngày đẹp trời ấy, một phần đông người trong đoàn dưỡng bệnh thường ra hiên trước phòng ăn để đứng thành từng nhóm phơi nắng chừng một khắc. Nơi ấy nhộn nhịp, và một bức tranh hiện ra, tương tự như vào những buổi nhạc đồng ngày Chủ nhật cách hai tuần một lần. Đám thanh niên, tuyệt đối nhàn rỗi, quá no nê thịt và bánh ngọt, và ai nấy đều hơi sốt, chuyện trò, tán tỉnh, liếc mắt đưa tình. Frau Salomon từ Amsterdam có thể ngồi nơi lan can, hai đầu gối bị kẹp sít một bên bởi Gänser môi dày, một bên bởi chàng lực sĩ Thụy Điển, người tuy đã hoàn toàn bình phục nhưng vẫn kéo dài thời gian lưu lại thêm ít lâu để dưỡng thêm một đợt nhỏ. Frau Iltis dường như là góa phụ, vì từ dạo gần đây bà được hưởng sự có mặt của một “vị hôn phu”, mà diện mạo đồng thời vừa sầu muộn vừa lép vế, song sự có mặt ấy cũng không ngăn bà đồng thời tiếp nhận những lời ve vãn của đại úy Miklosich, một người đàn ông mũi khoằm, ria mép chuốt sáp, ngực ưỡn và mắt dữ. Ở đó còn có các quý bà của nhà nằm nghỉ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, trong số ấy có những gương mặt mới chỉ từ ngày mùng Một tháng Mười mới xuất hiện, mà Hans Castorp hầu như còn chưa biết gọi tên, xen lẫn với các vị kỵ sĩ hạng Herr Albin; những cậu trai mười bảy tuổi đeo một tròng kính; một chàng Hà Lan trẻ đeo kính, mặt hồng hào, với niềm đam mê đơn tuyến dành cho việc đổi tem; nhiều người Hy Lạp khác nhau, bôi pomade, mắt hạnh, trên bàn ăn thì hay lấn lướt; hai tay ăn diện nhỏ thó luôn dính chặt lấy nhau, bị gọi là “Max và Moritz” và nổi tiếng là những tay phá rào cừ khôi... Người Mexico gù, vì không biết các thứ tiếng đang được dùng ở đây nên gương mặt mang vẻ của một người điếc, liên tục chụp ảnh, vác giá máy một cách lanh lẹ khôi hài từ chỗ này trên sân hiên sang chỗ khác. Cả Hofrat cũng có thể ghé ra để biểu diễn trò buộc dây giày. Nhưng ở đâu đó, gã tín đồ quê Mannheim lại lẻ loi chen vào đám đông, và đôi mắt buồn đến tận đáy của hắn, khiến Hans Castorp ghê tởm, lén lút đi theo những lối nhất định.

Để quay lại những “căng thẳng và dịu giải” kia bằng một ví dụ này hay ví dụ khác, thì trong một dịp như vậy Hans Castorp có thể ngồi trên một chiếc ghế sơn bóng ngoài vườn, bên tường nhà, chuyện trò rôm rả với Joachim, người mà bất chấp sự phản đối, chàng đã ép phải cùng ra đây, trong khi trước mặt chàng, Frau Chauchat đứng ở lan can với những người cùng bàn và hút thuốc lá. Chàng nói cốt cho nàng nghe. Nàng quay lưng về phía chàng... Ta thấy đấy, lần này chúng tôi đang nghĩ đến một trường hợp rất cụ thể. Cuộc trò chuyện với người anh em họ chưa đủ cho vẻ ba hoa làm bộ của chàng, chàng đã cố ý làm quen với một người, với ai? Với Hermine Kleefeld, chàng như tình cờ bắt chuyện với tiểu thư trẻ ấy, tự giới thiệu tên mình và Joachim với nàng, rồi cũng kéo ghế sơn bóng cho nàng ngồi để cả ba có thể bày biện trò diễn cho khá hơn. Chàng hỏi liệu nàng còn nhớ hồi ấy nàng đã làm chàng giật mình ghê gớm đến thế nào không, trong cuộc chạm mặt đầu tiên buổi đi dạo sáng bữa nọ. Vâng, chính _chàng_ là người mà hôm đó nàng đã huýt sáo chào mừng một cách sảng khoái đến vậy! Và nàng đã đạt được mục đích, điều ấy chàng xin tự nguyện thú nhận, chàng đã thấy như bị một cú dùi cui nện vào đầu, nàng cứ hỏi người anh em họ của chàng thì biết. Ha, ha, huýt sáo bằng cái phế mạc nhân tạo để dọa những kẻ đi dạo vô hại! Chàng gọi đó là một trò đùa báng bổ, quả tình và trong cơn phẫn nộ chính đáng chàng gọi đó là một sự lạm dụng tội lỗi... Và trong khi Joachim, ý thức rõ vai trò công cụ của mình, cứ ngồi mắt nhìn xuống, còn cả Kleefeld nữa, từ những cái nhìn mù quáng và lạc hướng của Hans Castorp, cũng dần dần nhận ra với tổn thương riêng cho mình rằng nàng chỉ bị dùng như phương tiện cho một mục đích, thì Hans Castorp làm bộ ngúng nguẩy, làm bộ kiểu cách, gọt giũa lời ăn tiếng nói và trau cho mình một giọng êm, cho đến khi quả thật đạt được điều chàng muốn: Frau Chauchat quay lại phía người đang nói quá ư nổi bật ấy và nhìn thẳng vào mặt chàng, nhưng chỉ trong một khoảnh khắc. Bởi sự việc diễn ra thế này: đôi mắt Pribislav của nàng lướt nhanh xuống thân hình chàng đang ngồi bắt chéo chân, rồi dừng lại một lúc trên chiếc ủng vàng của chàng, với một vẻ dửng dưng cố ý đến nỗi nom hệt như khinh miệt, đúng là khinh miệt, sau đó mới thản nhiên và có lẽ với một nụ cười nơi đáy mắt mà rút lui trở lại.

Một tai ương nặng nề, nặng nề biết bao! Hans Castorp còn nói mê sảng thêm một lát; rồi khi đã thực sự nhìn rõ trong lòng cái nhìn đặt lên chiếc ủng của mình, chàng gần như câm bặt giữa chừng câu nói và chìm xuống trong sầu muộn. Kleefeld, vừa chán vừa giận, bỏ đi chỗ khác. Joachim, giọng không giấu được bực bội, bảo rằng giờ thì hẳn họ có thể đi liệu pháp nằm nghỉ rồi. Và một kẻ gãy gục đáp lại, môi tái nhợt, rằng họ có thể.

Hans Castorp đau đớn khủng khiếp vì chuyện ấy suốt hai ngày; vì trong khoảng đó chẳng xảy ra điều gì có thể làm dịu vết thương bỏng rát của chàng. Cái nhìn ấy là vì sao? Vì cớ gì, nhân danh Đức Chúa Ba Ngôi, nàng lại khinh chàng? Nàng nhìn chàng như nhìn một gã ngố khỏe mạnh từ dưới kia lên, kẻ chỉ có một tính dễ tiếp nhận nghiêng về những gì vô hại chăng? Như nhìn một sự ngây thơ từ miền đồng bằng, nói cho đúng, một gã tầm thường chỉ đi đi lại lại, cười cợt, ăn cho đầy bụng rồi kiếm tiền, một học trò kiểu mẫu của đời sống, kẻ chẳng thạo gì ngoài những lợi thế buồn tẻ của danh dự? Chàng có phải một khách trú ba tuần hời hợt, không được dự phần vào cõi của nàng, hay chẳng phải chàng đã tuyên khấn trên cơ sở một vết ẩm hay sao, chẳng phải chàng đã được xếp vào hàng ngũ và đã thuộc về nơi này, là một người trong Chúng ta trên này, với hơn hai tháng hẳn hoi trên lưng, và chẳng phải Mercurius tối hôm qua lại còn lên đến 37,8 sao?... Nhưng chính đó mới là điều làm nỗi khổ của chàng trở nên trọn vẹn! Mercurius không còn lên nữa! Sự suy sụp khủng khiếp trong những ngày ấy gây nên nơi bản tính Hans Castorp một sự nguội lạnh, tỉnh rượu và rã rời, đến nỗi, để chàng phải tủi nhục cay đắng, nó biểu hiện thành những kết quả đo rất thấp, chỉ vừa nhỉnh hơn mức bình thường; và thật tàn nhẫn đối với chàng khi nhận ra rằng nỗi buồn và sầu khổ của mình chẳng làm được gì hơn ngoài việc cứ ngày một đẩy chàng ra xa thêm nữa khỏi bản thể và cốt cách của Clawdia.

Ngày thứ ba đem lại sự giải thoát dịu nhẹ, mà lại đem đến ngay từ sáng sớm. Đó là một buổi sáng mùa thu tuyệt đẹp, nắng trong và mát lạnh, những đồng cỏ như được chăng một lớp chỉ bạc xám. Mặt trời và vầng trăng hạ huyền cùng đứng trên bầu trời trong trẻo, cao gần ngang nhau. Hai người anh em họ dậy sớm hơn thường lệ, để mừng ngày đẹp mà kéo dài thêm đôi chút cuộc dạo sáng theo quy định, đi xa thêm một đoạn trên con đường rừng, chỗ có chiếc ghế cạnh máng nước. Joachim, mà đường biểu nhiệt lúc ấy cũng vừa cho thấy một đà hạ đáng mừng, đã tán thành cái sự thất thường sảng khoái ấy và không nói không với Hans Castorp. “Chúng ta là những người đã hồi phục rồi,” cậu nói, “đã hết sốt và giải độc, gần như đã chín để trở về miền đồng bằng. Sao lại không thể tung tăng như ngựa non.” Thế là họ đi đầu trần, vì từ khi đã tuyên khấn, nhân danh Chúa, Hans Castorp cũng đã chiều theo thói tục thịnh hành mà bỏ mũ, mặc dù hồi đầu, trước thói quen ấy, chàng đã thấy đời sống và nề nếp của mình vững vàng biết bao, và họ chống gậy bước đi. Nhưng họ còn chưa vượt hết đoạn dốc của con đường đỏ au, mới chỉ tới gần chỗ ngày nọ toán tràn khí đã gặp người mới đến, thì phía trước, cách một quãng, họ thấy Frau Chauchat đang chậm rãi đi lên, Frau Chauchat trong màu trắng, áo len trắng, váy flannel trắng, và cả giày trắng nữa, mái tóc hung được ánh nắng sớm chiếu sáng. Nói chính xác hơn: Hans Castorp đã nhận ra nàng; còn Joachim thì chỉ được báo cho biết tình hình ấy bởi một cảm giác khó chịu bị kéo và giật ở bên cạnh mình, cảm giác gây ra bởi nhịp bước bỗng trở nên hồ hởi thúc tới của bạn đồng hành, sau khi trước đó chàng ta đột ngột ghìm bước và gần như đứng sững lại. Việc bị thúc ép như vậy Joachim thấy vô cùng không thích hợp và bực mình; hơi thở cậu nhanh chóng ngắn lại, và cậu ho. Nhưng điều ấy ít làm bận tâm Hans Castorp đang nhắm đích, kẻ mà các cơ quan trong người dường như làm việc tuyệt hảo; và một khi người anh em họ đã hiểu sự thể, cậu chỉ lặng lẽ cau mày mà theo kịp, vì không thể nào để mặc người kia chạy vượt lên một mình.

Buổi sáng đẹp ấy làm trẻ lại chàng Hans Castorp trẻ tuổi. Hơn nữa, trong cơn suy sụp, những sức mạnh tinh thần của chàng đã âm thầm được nghỉ ngơi, và trong tâm trí chàng sáng lên rành rẽ niềm chắc chắn rằng giờ khắc đã đến, giờ khắc cái bùa mê trói buộc chàng bấy lâu phải bị phá vỡ. Bởi vậy chàng sải bước, kéo theo Joachim đang thở dốc và ngoài chuyện đó ra cũng chẳng hề muốn, và trước khúc quanh của con đường, nơi nó trở nên bằng và chạy men sườn đồi có rừng về phía phải, họ đã gần như bắt kịp Frau Chauchat. Lúc ấy Hans Castorp lại chậm bước xuống, để khỏi thực hiện ý định của mình trong một trạng thái hoang dại vì gắng sức. Và bên kia chỗ quặt của con đường, giữa sườn dốc và vách núi, giữa những cây vân sam màu gỉ sắt, qua cành lá có những vệt nắng đổ xuống, đã xảy ra, xảy ra một cách kỳ diệu, rằng Hans Castorp, đi bên trái Joachim, vượt lên người bệnh duyên dáng ấy, chàng bước ngang qua nàng bằng những bước chân nam tính, và vào đúng khoảnh khắc khi chàng ở chếch bên phải nàng, chàng đã, với một cái cúi đầu trần mũ và một tiếng “Chào buổi sáng” nói nửa giọng, chào nàng một cách _kính cẩn_ (mà tại sao lại: kính cẩn nhỉ), và nhận được lời đáp từ nàng: nàng cảm ơn bằng một cái gật đầu thân thiện, chẳng mấy ngạc nhiên, rồi về phần mình cũng nói chào buổi sáng bằng chính ngôn ngữ của chàng, trong khi mắt nàng mỉm cười, và tất cả điều ấy là một cái gì khác, hoàn toàn và phúc lạc khác hẳn cái nhìn đặt lên chiếc ủng của chàng, đó là một vận may và một sự xoay chuyển của sự việc theo chiều tốt đẹp, theo chiều tốt đẹp nhất, có tính cách chưa từng có và gần như vượt khỏi sức tiếp nhận; đó là sự giải thoát.

Với đôi dép có cánh, lòa đi vì niềm vui phi lý, đang sở hữu lời chào, lời nói, nụ cười ấy, Hans Castorp vội vã đi tới bên cạnh Joachim bị chàng lạm dụng, người lặng lẽ quay mặt khỏi chàng mà nhìn xuống triền dốc. Đó đã là một trò nghịch, một trò khá buông thả, và trong mắt Joachim hẳn còn là một cái gì như phản trắc và xảo trá nữa, điều ấy Hans Castorp biết rất rõ. Không hẳn giống như việc xin một người hoàn toàn xa lạ một cây bút chì, trái lại gần như là bất lịch sự nếu cứ cứng đờ và không có lấy một sự kính ý nào mà đi lướt qua một quý bà đã cùng sống dưới một mái nhà suốt mấy tháng; và mới đây trong phòng chờ Clawdia chẳng đã từng bắt chuyện với hai người hay sao? Vì thế Joachim đành phải im. Nhưng Hans Castorp hiểu rất rõ vì sao Joachim vốn trọng danh dự ấy còn im thêm vì những lẽ khác nữa và cứ đi đầu ngoảnh mặt, trong khi chính chàng, vì trò liều lĩnh đã thành công của mình, lại sung sướng một cách quá quắt và phá phách đến thế. Hẳn không ai có thể hạnh phúc hơn nếu dưới miền đồng bằng, một cách chính đáng hơn, nhiều hy vọng hơn và kỳ thực vui thú hơn, người ấy đã “trao trái tim mình” cho một con ngỗng non khỏe mạnh và được đáp lại thật lớn; không, _hạnh phúc đến thế_ như chàng lúc này, chỉ vì cái ít ỏi mà trong một giờ phút thuận lợi chàng đã cướp lấy và giữ được cho mình, thì người ấy không thể nào có được... Vì vậy một lát sau chàng đập mạnh vào vai người anh em họ và nói:

“Này, cậu làm sao thế? Trời đẹp biết bao! Lát nữa chúng ta xuống Kurhaus đi, chắc người ta sẽ chơi nhạc đấy, nghĩ mà xem! Biết đâu họ sẽ chơi ‘Đây, nép trung thành bên trái tim, bông hoa, xem kìa, từ buổi sớm hôm ấy’ trong ‘Carmen’. Có chuyện gì làm cậu sa sầm vậy?”

“Không có gì,” Joachim nói. “Nhưng cậu trông nóng quá, tớ e cái đà hạ nhiệt của cậu thế là chấm dứt.”

Quả _đã_ hết thật. Sự hạ xuống đáng xấu hổ ấy trong thể trạng của Hans Castorp đã bị vượt qua nhờ lời chào chàng trao đổi với Clawdia Chauchat, và nói cho thật chính xác, chính ý thức về điều đó mới là cái thực sự làm chàng thỏa mãn. Phải, Joachim đã nói đúng: cột thủy ngân lại dâng lên! Nó dâng lên, khi sau cuộc dạo chàng đem nhiệt kế ra xem, tới tròm trèm 38 độ.

Bách khoa thư

Nếu vài lời bóng gió nào đó của ông Settembrini đã làm Hans Castorp bực bội, thì chàng cũng chẳng nên lấy làm lạ, và chẳng có quyền trách nhà nhân văn ấy là cố dò xét với dụng ý giáo huấn. Đến người mù cũng phải nhận ra tình cảnh của chàng: bản thân chàng chẳng làm gì để giấu kín nó, một thứ cao thượng và ngây thơ quý phái nào đó đơn giản đã ngăn chàng biến trái tim mình thành một hang ổ giấu giếm, nhờ thế mà, dù sao đi nữa, và nếu muốn thì cũng có thể nói là có lợi cho chàng, chàng khác hẳn gã si tình tóc thưa từ Mannheim với cái lối lén lút của y. Chúng tôi xin nhắc lại điều đã nói, rằng trạng thái chàng đang ở trong đó vốn, theo lệ thường, bẩm sinh đã mang một sự thôi thúc và cưỡng bách phải tự bộc lộ, một bản năng muốn thú nhận và xưng tội, một nỗi ám mình mù quáng và một cơn khát lấp đầy thế giới bằng chính bản thân mình, lại càng khiến chúng ta, những kẻ tỉnh táo, thấy lạ lùng hơn nữa khi xét rằng rõ ràng việc ấy thiếu biết bao ý nghĩa, lý trí và hy vọng. Thật khó nói rốt cuộc những kẻ như thế làm sao mà tự tố giác mình; có vẻ như họ chẳng thể làm hay bỏ làm điều gì mà không để lộ bản thân, nhất là lại ở trong một xã hội mà có người đầu óc phán đoán đã nhận xét rằng rốt cuộc chỉ có hai chuyện trong đầu, thứ nhất là nhiệt độ và rồi lại nhiệt độ, nghĩa là chẳng hạn câu hỏi bà Tổng lãnh sự Wurmbrandt từ Wien đang dùng ai để bù đắp cho tính trăng hoa của đại úy Miklosich: với chàng lực sĩ Thụy Điển đã hoàn toàn bình phục, hay với công tố viên Paravant từ Dortmund, hay thứ ba là đồng thời với cả hai. Bởi lẽ việc mối ràng buộc từng gắn công tố viên với bà Salomon từ Amsterdam suốt nhiều tháng nay đã được tháo gỡ theo một sự thỏa thuận êm đẹp, và bà Salomon, thuận theo xu hướng của tuổi tác mình, đã quay sang những học kỳ dịu non hơn, đem chàng Gänser môi dày từ bàn Kleefeld nhận vào dưới cánh mình, hay như bà Stöhr diễn đạt theo một thứ văn phong nha môn mà vẫn không phải thiếu hình tượng, là đã “bẻ uốn” cậu ta về phía mình, điều ấy là chắc chắn và ai cũng biết, thành thử công tố viên hẳn đã rảnh tay để vì bà Tổng lãnh sự mà quyết đấu hay điều đình với gã Thụy Điển.

Những vụ việc như thế, đang được đem ra xử trong xã hội Berghof và nhất là giữa đám thanh niên sốt sình sịch, trong đó những cuộc qua lại ngoài ban công, dọc theo lan can và sát những vách kính, hiển nhiên giữ một vai trò đáng kể; những diễn biến ấy là điều người ta nghĩ tới, chúng cấu thành một thành phần chủ yếu của không khí sự sống nơi này, mà ngay cả nói như thế cũng vẫn chưa thật diễn được điều đang lởn vởn trước mắt chúng tôi. Bởi vì Hans Castorp có một cảm giác lạ lùng rằng ở đây, trên một vấn đề căn bản mà ở khắp thế gian người ta vẫn dành cho nó một tầm quan trọng thích đáng, thể hiện cả trong nghiêm túc lẫn bông đùa, lại đè nặng một dấu hiệu về âm điệu, về giá trị và ý nghĩa nặng nề đến thế, và vì nặng nề mà mới mẻ đến thế, đến nỗi chính bản thân sự việc hiện ra dưới một ánh sáng hoàn toàn mới, mà nếu chưa hẳn là kinh khủng thì chí ít cũng đáng sợ vì sự mới lạ ấy. Khi nói ra điều này, nét mặt chúng tôi cũng đổi khác, và chúng tôi ghi nhận rằng nếu từ trước đến nay chúng tôi từng nói về những mối quan hệ ấy bằng một giọng nhẹ nhõm và đùa cợt, thì hẳn cũng vì những lý do bí mật y như những lý do khiến người ta thường làm như vậy, mà không vì thế chứng minh được chút gì cho sự nhẹ nhõm hay tính bông đùa của bản thân câu chuyện; và trong lĩnh vực chúng ta đang đứng đây, điều ấy thực tình lại càng ít đúng hơn bất cứ nơi nào khác. Hans Castorp từng tin rằng chàng hiểu vấn đề căn bản vẫn hay bị đem ra đùa cợt ấy ở mức độ thông thường, và có lẽ đã có lý khi tin như vậy. Giờ đây chàng nhận ra rằng ở miền đồng bằng, kỳ thực chàng chỉ hiểu nó rất ư thiếu sót, nói đúng hơn là vẫn sống trong một sự vô tri chất phác về nó, trong khi ở đây, những kinh nghiệm riêng tư mà bản tính của chúng chúng tôi đã nhiều lần cố gợi ra, và trong những khoảnh khắc nhất định đã ép từ môi chàng bật lên tiếng kêu “Lạy Chúa!”, quả thực đã từ bên trong khiến chàng có khả năng cảm nhận và lĩnh hội cái dấu nhấn tăng cấp của điều chưa từng nghe thấy, của cái phiêu lưu-vô danh mà sự việc ấy, đối với những người trên này, nói chung và đối với từng người một, đều mang lấy. Không phải là ở đây người ta không đùa cợt về nó. Nhưng còn hơn cả dưới kia, ở đây lối ấy mang dấu ấn của sự không thích đáng đối với bản thân đề tài, nó có một cái gì như tiếng răng va lập cập, như hơi thở ngắn gấp, tố giác quá rõ nó chỉ là tấm áo choàng mỏng manh che đậy nỗi khốn quẫn bên dưới, hay đúng hơn, nỗi khốn quẫn không thể nào che nổi. Hans Castorp nhớ lại vẻ tái nhợt loang lổ mà Joachim đã lộ ra khi lần đầu tiên, và cũng là lần duy nhất, chàng đem thân thể của Marusja ra nói theo lối trêu đùa vô tội của miền thấp. Chàng cũng nhớ tới vẻ xanh xám lạnh ngắt đã phủ lên chính gương mặt mình khi chàng che cho bà Chauchat khỏi luồng ánh chiều hắt vào, và rằng trước đó cũng như sau đó, trong nhiều dịp khác nhau, chàng đã bắt gặp vẻ ấy trên không ít khuôn mặt xa lạ: thường là trên hai khuôn mặt cùng một lúc, thí dụ như trên mặt bà Salomon và chàng Gänser trẻ tuổi trong những ngày mà điều bà Stöhr diễn đạt bằng cái thành ngữ kia vừa bắt đầu hình thành giữa họ. Chàng nhớ lại như thế, và hiểu rằng trong những hoàn cảnh như vậy, không những rất khó để không tự “tố giác” mình, mà ngay cả nỗ lực làm thế cũng hầu như chẳng đáng công bao nhiêu. Nói cách khác: có lẽ không chỉ riêng lòng cao thượng và chân thành, mà còn cả một sự được bầu khí quyển nơi đây khích lệ nữa, đã khiến Hans Castorp thấy mình ít bị buộc phải gò ép tình cảm và giấu kín trạng thái của mình.

Giả như không có cái khó khăn mà Joachim đã lập tức nêu ra, cái khó khăn trong việc làm quen với người khác ở đây, một khó khăn mà chủ yếu phải quy về chỗ hai anh em họ, trong xã hội dưỡng bệnh này, nói cho phải, đã tạo thành hẳn một phe, một nhóm thu nhỏ riêng của mình, và rằng Joachim, với tư chất quân nhân, chỉ chăm chăm vào việc chóng bình phục, về nguyên tắc vốn không ưa sự tiếp xúc gần gũi và giao du với những bạn đồng bệnh, thì Hans Castorp hẳn còn có nhiều dịp hơn nữa, và cũng đã nắm lấy nhiều dịp hơn nữa, để đem những cảm xúc cao thượng mà phóng túng của mình phơi bày giữa đám đông. Dầu sao, một tối nọ trong buổi tụ họp ở salon, Joachim cũng có thể bắt gặp chàng đang đứng cùng Hermine Kleefeld, hai vị nam khách cùng bàn với cô là Gänser và Rasmussen, rồi thứ tư là cậu thanh niên độc nhãn kính và móng tay, với đôi mắt không sao giấu được vẻ sáng bất thường, cất giọng xúc động ứng khẩu một bài diễn thuyết về đường nét khuôn mặt vừa riêng biệt vừa dị biệt của bà Chauchat, trong khi những người nghe trao đổi ánh mắt, huých nhau và khúc khích cười.

Điều đó làm Joachim khổ sở; nhưng tác giả của những cuộc vui như thế lại hoàn toàn vô cảm trước sự phơi bày trạng thái của mình, hẳn chàng cho rằng nếu nó cứ bị bỏ mặc, bị che giấu, thì nó đã không được hưởng quyền lợi chính đáng của nó. Chàng có thể tin chắc ở sự thấu hiểu chung dành cho việc ấy. Niềm hả hê ác ý hòa lẫn vào đó, chàng đành chấp nhận. Không chỉ từ bàn của chính mình, mà dần dà cả từ những bàn lân cận khác nữa, người ta ngoái nhìn chàng để khoái trá ngắm vẻ tái đi rồi ửng đỏ của chàng mỗi khi một bữa ăn đã bắt đầu mà cánh cửa kính lại sầm một tiếng khép vào; và có lẽ ngay cả điều đó chàng cũng lấy làm bằng lòng, vì chàng tưởng như cơn say của mình, khi gây chú ý, đã được ban cho một thứ thừa nhận và xác nhận từ bên ngoài, thích hợp để nâng đỡ việc của chàng, khích lệ những hy vọng mơ hồ và phi lý của chàng, và điều ấy thậm chí còn làm chàng sung sướng. Mọi sự đã đi đến mức người ta, theo đúng nghĩa đen, tụ tập lại để nhìn ngắm gã bị mê lòa ấy. Thường là sau bữa ăn trên sân hiên hoặc chiều Chủ nhật trước quầy concierge, nơi các dưỡng khách đến nhận thư, vì vào ngày này thư không được phát lên tận phòng. Nhiều người biết rằng ở đó có một kẻ say mèm và bốc lửa ghê gớm, một kẻ để lộ hết mọi dấu hiệu, và thế là bà Stöhr, cô Engelhart, cô Kleefeld cùng người bạn mặt heo vòi của cô, ông Albin vô phương cứu chữa, chàng trai với móng tay, rồi thành viên nọ kia khác của giới bệnh nhân cứ đứng đó, miệng kéo xệ xuống, khịt qua mũi, nhìn ngắm chàng, kẻ đang mỉm cười lạc lõng và đắm đuối, mang trên má thứ hơi nóng đã chụp lấy chàng ngay từ tối đầu tiên đặt chân tới đây, trong mắt thứ ánh sáng mà chỉ tiếng ho của chàng kỵ sĩ quý tộc thôi cũng đã đủ nhóm lên, cứ nhìn về một hướng nhất định...

Thực ra ông Settembrini đã rất đẹp lòng khi trong những hoàn cảnh như thế vẫn bước tới gần Hans Castorp để kéo chàng vào chuyện trò và hỏi thăm chàng dạo này ra sao; nhưng còn phải ngờ rằng Hans Castorp có biết cảm kích đầy lòng biết ơn cái sự không thành kiến nhân ái nằm trong đó hay không. Có lẽ là ở tiền sảnh, vào chiều Chủ nhật. Trước quầy concierge, khách chen chúc và vươn tay ra lấy thư. Joachim cũng đang ở phía trước đó. Người em họ của anh lùi lại đằng sau và, trong trạng thái đã tả, ra sức giành lấy một cái nhìn của Clawdia Chauchat, lúc ấy đang đứng gần đó với nhóm cùng bàn, đợi cho đám đông trước quầy thưa bớt đi. Đó là một giờ phút khiến các dưỡng khách trộn lẫn vào nhau, một giờ của những cơ hội, vì lẽ đó mà được chàng Hans Castorp trẻ tuổi yêu thích và mong đợi. Tám ngày trước đây, tại quầy phát thư, chàng đã ở rất gần Madame Chauchat, đến nỗi nàng còn khẽ chạm vào chàng và, vừa ngoảnh đầu rất nhanh, nói với chàng: “_Pardon_”, và chàng, nhờ một sự hiện diện tinh thần có phần sốt nóng mà chàng tự lấy làm phúc, đã đủ sức đáp lại:

“_Pas de quoi, madame!_”

Một ân huệ của đời sống mới lạ làm sao, chàng nghĩ, rằng cứ mỗi chiều Chủ nhật người ta lại chắc chắn phát thư ở tiền sảnh! Có thể nói chàng đã tiêu thụ cả tuần chỉ bằng cách chờ cho đúng giờ ấy trở lại sau bảy ngày, mà chờ đợi tức là lao vọt tới phía trước, tức là cảm nhận thời gian và hiện tại không phải như một tặng vật mà chỉ như một chướng ngại, phủ nhận và tiêu diệt giá trị nội tại của chúng, rồi nhảy vọt qua chúng trong tâm trí. Người ta bảo chờ đợi là chán ngắt. Nhưng nó cũng không kém phần, hay đúng hơn chính là, làm thời gian trôi rất nhanh, ở chỗ nó nuốt chửng những khối lượng thời gian mà không sống chúng và tận dụng chúng vì chính bản thân chúng. Có thể nói kẻ chỉ biết chờ chẳng khác nào một tên phàm ăn mà bộ máy tiêu hóa cứ đẩy thức ăn đi hàng loạt, không chịu chuyển hóa lấy giá trị dinh dưỡng hay lợi ích của chúng. Ta còn có thể đi xa hơn mà nói rằng: cũng như thức ăn không tiêu hóa chẳng làm con người ta khỏe hơn, thời gian bị đem ra chờ đợi cũng chẳng làm người ta già đi hơn. Dĩ nhiên, trong thực tế không có sự chờ đợi thuần túy và không pha trộn.

Vậy là tuần lễ đã bị nuốt chửng, và giờ phát thư chiều Chủ nhật lại có hiệu lực trở lại, chẳng khác nào đây vẫn chính là giờ của bảy ngày trước. Nó tiếp tục, một cách kích động đến cùng cực, tạo ra những cơ hội, cất giữ và chìa ra trong từng phút khả năng bước vào những quan hệ giao tiếp xã hội với bà Chauchat, những khả năng mà Hans Castorp để mặc cho chúng bóp nghẹt và xua đuổi trái tim mình, nhưng lại không để chúng bước sang thực tại. Có những lực cản đối nghịch với điều ấy, phần thì thuộc bản chất quân nhân, phần thì thuộc bản chất dân sự: nghĩa là một phần dính dáng đến sự hiện diện của Joachim đáng kính cùng danh dự và bổn phận của chính Hans Castorp, song một phần khác cũng bắt rễ trong cảm giác rằng những quan hệ giao tế với Clawdia Chauchat, những quan hệ _đứng đắn_, nơi người ta xưng “Sie”, cúi chào nhau và nếu có thể thì nói tiếng Pháp, lại không cần thiết, không đáng mong muốn, không phải điều đúng đắn... Chàng đứng đó nhìn nàng vừa nói vừa cười, y hệt Pribislav Hippe thuở nào trên sân trường cũng đã vừa nói vừa cười như thế: miệng nàng há ra khá rộng, còn đôi mắt xám xanh hơi xếch phía trên xương gò má thì nheo lại thành những khe hẹp. Điều ấy hoàn toàn không “đẹp”; nhưng nó là như thế, và trong tình yêu si mê, phán đoán thẩm mỹ của lý trí cũng ít được quyền lên tiếng như phán đoán đạo đức.

“Ngài kỹ sư cũng đang đợi thư từ hay sao?”

Chỉ có một người mới nói như thế, một kẻ chen ngang. Hans Castorp giật mình và quay sang ông Settembrini, người đang mỉm cười đứng trước mặt chàng. Đó là nụ cười thanh nhã và nhân văn mà ngày nọ bên chiếc ghế gần con nước chảy ông đã dùng để chào người mới đến lần đầu tiên, và hệt như khi ấy, Hans Castorp cảm thấy xấu hổ lúc trông thấy nó. Nhưng cho dù trong mộng chàng đã bao lần cố đẩy “gã kéo đàn quay” ấy ra khỏi chỗ vì y “chen ngang ở đây”, thì con người khi tỉnh vẫn tốt hơn con người khi mơ, và Hans Castorp được nhìn lại nụ cười ấy không chỉ với sự xấu hổ và tỉnh ngộ, mà còn với những cảm giác biết ơn đầy nhu cầu. Chàng nói:

“Trời, thư từ gì cơ, thưa ông Settembrini. Tôi nào có phải đại sứ! Biết đâu có một tấm bưu thiếp cho một trong hai chúng tôi. Anh em họ tôi đang tới xem đó.”

“Con quỷ què ở đằng trước kia đã trao cho tôi những mẩu thư tín nhỏ của tôi rồi,” Settembrini nói, vừa đưa tay vào túi sườn chiếc áo dạ không bao giờ rời của ông. “Những chuyện đáng quan tâm, những chuyện có tầm vóc văn chương và xã hội, tôi không phủ nhận. Đó là một công trình bách khoa mà một viện nhân đạo đã đoái hoài mời tôi cộng tác... Tóm lại, một công việc đẹp.” Ông Settembrini ngắt lời. “Nhưng còn công việc của ngài?” ông hỏi. “Tình hình ra sao? Chẳng hạn như tiến trình thích ứng đã tiến được tới đâu? Ngài ở giữa chúng tôi, xét cho cùng, vẫn chưa lâu đến mức câu hỏi ấy thôi còn là chuyện thời sự.”

“Xin cảm ơn, ông Settembrini; việc ấy vẫn khó khăn như trước. Tôi cho là có thể nó sẽ còn khó khăn như thế cho tới ngày cuối cùng. Có những người chẳng bao giờ quen được, anh em họ tôi đã nói với tôi ngay khi tôi tới. Nhưng người ta rồi cũng quen với chuyện mình không quen.”

“Một quá trình rắc rối,” người Ý cười. “Một kiểu nhập tịch thật kỳ quặc. Dĩ nhiên, tuổi trẻ thì chuyện gì cũng làm được. Nó không quen, nhưng nó vẫn đâm rễ.”

“Vả lại rốt cuộc đây đâu phải một hầm mỏ Siberia.”

“Không. Ồ, ngài ưa những so sánh phương Đông. Rất dễ hiểu. Châu Á đang nuốt lấy chúng ta. Nhìn đâu cũng thấy những khuôn mặt Tatar.” Và ông Settembrini kín đáo ngoảnh đầu qua vai. “Thành Cát Tư Hãn,” ông nói, “ánh mắt chó sói thảo nguyên, tuyết và rượu mạnh, roi knute, Schlüsselburg và Ki-tô giáo. Ở ngay tiền sảnh này người ta nên dựng một bàn thờ cho Pallas Athene, theo tinh thần phòng ngự. Ngài xem, phía trước kia có một gã Ivan Ivanovich không đồ trắng đang cãi nhau với công tố viên Paravant. Ai cũng muốn được nhận thư trước người kia. Tôi không biết ai có lý, nhưng theo cảm giác của tôi thì công tố viên đang ở dưới sự che chở của nữ thần. Dẫu ông ta là một con lừa, ít ra ông ta còn hiểu tiếng Latin.”

Hans Castorp cười, điều mà ông Settembrini không bao giờ làm. Người ta hoàn toàn không thể hình dung ông cười thành tiếng một cách rổn rảng; ông không vượt quá nổi cái độ căng mảnh và khô nơi khóe miệng mình. Ông nhìn người thanh niên cười, rồi hỏi:

“Bản chiếu quang của ngài, ngài đã nhận được chưa?”

“Tôi nhận được rồi chứ!” Hans Castorp trịnh trọng xác nhận. “Mới hôm nọ thôi. Đây này.” Và chàng thọc tay vào túi ngực trong.

“A, ngài mang nó trong ví. Gần như một thứ giấy căn cước vậy, một cuốn hộ chiếu hay thẻ hội viên. Rất tốt. Để tôi xem nào!” Và ông Settembrini giơ tấm kính nhỏ viền bằng những dải giấy đen lên trước ánh sáng, kẹp nó giữa ngón cái và ngón trỏ bàn tay trái, một cử chỉ trên này người ta vẫn thấy mãi, rất đỗi thông thường. Gương mặt với đôi mắt hạnh nhân đen của ông hơi nhăn lại thành một vẻ nhăn nhó trong khi ông xem xét bức ảnh tang tóc ấy, mà không để lộ thật rõ rằng điều đó chỉ là để nhìn cho kỹ hơn hay còn vì những lý do khác.

“Vâng, vâng,” rồi ông nói. “Đây, giấy tờ chứng nhận của ông đây, xin đa tạ.” Và ông trao lại tấm kính cho chủ nhân của nó, trao từ chếch bên cạnh, gần như vòng qua chính cánh tay mình, trong khi mặt ngoảnh đi.

“Ông có thấy những sợi ấy không?” Hans Castorp hỏi. “Và cả những nốt nhỏ nữa?”

“Ông biết đấy,” Herr Settembrini chậm rãi đáp, “tôi nghĩ thế nào về giá trị của những sản phẩm ấy. Ông cũng biết rằng những vết và mảng tối ở bên trong kia, phần rất lớn, là hiện tượng sinh lý. Tôi đã thấy hàng trăm tấm ảnh đại để giống như của ông, đến nỗi việc quyết định xem chúng có thực sự là một ‘giấy thông hành’ hay không phần nào được phó mặc cho ý thích của người thẩm định. Tôi nói với tư cách một kẻ ngoại đạo, nhưng dẫu sao cũng là một kẻ ngoại đạo lâu năm.”

“Thế ‘giấy thông hành’ của chính ông trông còn tệ hơn à?”

“Vâng, có phần tệ hơn. Mà nhân tiện, tôi biết rằng cả các bậc thầy và chủ nhân của chúng ta cũng không chỉ căn cứ riêng vào món đồ chơi ấy mà lập chẩn đoán. Và như vậy, ông định ở lại với chúng tôi qua mùa đông ư?”

“Vâng, lạy Chúa... Tôi bắt đầu quen dần với ý nghĩ rằng mãi đến khi cùng người anh em họ của tôi xuống lại dưới kia, tôi mới đi.”

“Nghĩa là ông đang quen dần với việc mình không... Ông diễn đạt thật hóm hỉnh. Tôi mong là ông đã nhận được đồ đạc rồi chứ, quần áo ấm, giày dép chắc chắn?”

“Đủ cả. Mọi thứ đều đâu vào đấy cả, Herr Settembrini. Tôi đã báo cho người nhà, và bà quản gia của chúng tôi đã gửi hết cho tôi bằng bưu kiện khẩn. Giờ thì tôi có thể trụ được.”

“Thế thì tôi yên tâm. Nhưng khoan, ông còn cần một cái bao, một cái bao lông nữa chứ, đầu óc chúng ta để đâu thế này! Cái cuối hạ này là đồ giả trá; chỉ trong một giờ thôi là có thể thành giữa mùa đông khắc nghiệt. Ông sẽ trải qua những tháng lạnh nhất ở đây...”

“Vâng, cái bao nằm nghỉ ấy,” Hans Castorp nói, “hẳn cũng là một món đồ dùng kèm. Tôi cũng đã lướt qua ý nghĩ rằng một hai ngày tới, anh em họ tôi với tôi phải xuống phố mua một cái. Về sau chẳng bao giờ còn cần đến thứ ấy nữa, nhưng rốt cuộc, dùng trong bốn đến sáu tháng thì cũng đáng.”

“Đáng chứ, đáng chứ. Kỹ sư!” Herr Settembrini khẽ nói, vừa bước lại gần người thanh niên hơn. “Ông không biết rằng cái cách ông ném vung những tháng trời ra như thế là ghê gớm lắm sao? Ghê gớm, bởi nó trái tự nhiên và xa lạ với bản tính ông, chỉ dựa vào cái tính quá dễ bảo của tuổi trẻ ông mà thôi. Ôi, cái tính dễ bảo thái quá của tuổi trẻ! Nó là nỗi tuyệt vọng của những nhà giáo dục, vì trước hết nó luôn sẵn sàng chứng tỏ mình trong điều xấu. Đừng nói năng theo cái giọng đang lơ lửng trong không khí nữa, người trẻ tuổi ạ, mà hãy nói năng sao cho xứng với lối sống châu Âu của ông! Trên này, trước hết trong không khí đầy châu Á, đâu phải ngẫu nhiên mà nhan nhản những kiểu người từ xứ Mông Cổ Mạc Tư Khoa! Những con người ấy” - và Herr Settembrini hất cằm chỉ qua vai ra phía sau lưng - “trong thâm tâm ông chớ lấy họ làm chuẩn, chớ để những quan niệm của họ lây nhiễm cho mình; trái lại, hãy đem bản tính của ông, bản tính _cao hơn_ của ông mà chống lại bản tính của họ, và hãy giữ cho thiêng liêng những gì vốn thiêng liêng đối với ông, người con của phương Tây, của phương Tây thần thánh, người con của văn minh, theo bản tính và gốc gác của mình, chẳng hạn như thời gian! Cái sự hào phóng ấy, cái vẻ tráng lệ man rợ ấy trong việc tiêu phí thời gian, đó là phong cách châu Á, điều ấy có lẽ là một lý do khiến con cái phương Đông thấy nơi này hợp ý. Ông chưa từng nhận thấy rằng, khi một người Nga nói ‘bốn giờ’, thì cũng chẳng hơn gì khi hạng chúng ta nói ‘một giờ’ hay sao? Dễ hiểu thôi, cái vẻ thản nhiên của những con người ấy trước thời gian hẳn có liên quan đến sự mênh mang hoang dã của đất nước họ. Nơi nào có nhiều không gian, nơi ấy có nhiều thời gian, người ta vẫn bảo họ là dân tộc có thời gian và biết chờ. Còn chúng ta, người châu Âu, chúng ta không thể thế. Chúng ta có ít thời gian cũng như cái lục địa cao quý và thanh nhã phân khúc của chúng ta có ít không gian vậy; chúng ta buộc phải quản trị chính xác cả cái này lẫn cái kia, phải tận dụng, tận dụng, Kỹ sư ạ! Hãy lấy những đại đô thị của chúng ta làm biểu tượng, những trung tâm và tiêu điểm của văn minh, những nồi nấu hỗn hợp của tư tưởng! Ông có nhận thấy chăng, hễ đất đai ở đó càng đắt đỏ, sự phung phí không gian càng trở nên bất khả, thì cũng đúng với chừng ấy mức độ, thời gian ở đó lại càng hóa quý giá. _Carpe diem!_ Một người thành thị đã hát như thế. Thời gian là tặng vật của các thần, được ban cho con người để con người sử dụng nó, sử dụng nó, Kỹ sư ạ, vào việc phụng sự sự tiến bộ của nhân loại.”

Ngay cả từ cuối cùng ấy, dẫu cái lưỡi Địa Trung Hải của ông có lẽ đã gặp lắm trở ngại đến đâu, Herr Settembrini vẫn phát ra một cách đáng thích, sáng rõ, âm vang đẹp đẽ và, có thể nói, hữu hình. Hans Castorp không đáp lại khác hơn là bằng một cái cúi đầu ngắn, cứng, lúng túng của một cậu học trò tiếp nhận lời dạy dỗ pha trách mắng. Chàng còn có thể đáp gì? Bài huấn thị riêng tư mà Herr Settembrini kín đáo dành cho chàng, lưng quay về toàn thể những vị khách còn lại và gần như hạ giọng thì thầm, mang một tính chất quá nghiêm chỉnh, quá phi giao tế, quá ít dáng vẻ chuyện trò, khiến phép lịch sự không cho phép bày tỏ lấy cả sự tán thành. Người ta đâu đáp một người thầy: “Ngài nói hay lắm.” Quả Hans Castorp trước đây đôi khi cũng từng làm thế, đại để để duy trì cái thế bình đẳng xã giao; nhưng nhà nhân văn chưa bao giờ nói năng theo lối khẩn thiết giáo huấn đến vậy; rốt cuộc chẳng còn gì ngoài việc nhận lấy lời răn, choáng váng như một cậu học trò trước ngần ấy luân lý.

Nhân tiện cũng có thể thấy ở Herr Settembrini rằng hoạt động tư tưởng của ông vẫn tiếp tục tiến triển cả trong im lặng. Ông vẫn đứng rất sát trước mặt Hans Castorp, đến nỗi chàng còn phải hơi ngả người ra sau, và đôi mắt đen của ông hướng vào gương mặt người thanh niên với một nét nhìn cố định, mơ màng đến mù lòa trong suy tưởng.

“Ông đang chịu đau khổ, Kỹ sư ạ!” ông nói tiếp. “Ông đau khổ như một kẻ lạc đường, ai mà lại không thấy điều ấy nơi ông? Nhưng ngay cả thái độ của ông đối với đau khổ cũng phải là một thái độ châu Âu, chứ không phải thái độ của phương Đông, cái phương Đông mềm yếu và dễ nghiêng về bệnh tật nên mới gửi người đến chốn này đông đến thế... Lòng thương xót và sự nhẫn nại vô bờ bến, đó là cách nó đối mặt với đau khổ. Điều ấy không thể, không được là cách của chúng ta, của ông!... Chúng ta đang nói về thư từ của tôi... Đây, ông xem... Hay đúng hơn, lại đây! Không thể ở ngay chỗ này được... Ta lui vào, ta vào gian kia. Tôi sắp tiết lộ với ông những điều mà... Lại đây!” Nói rồi, quay người lại, ông kéo Hans Castorp ra khỏi tiền sảnh, vào căn phòng khách đầu tiên, gần cổng vào nhất, được bài trí làm phòng đọc và viết, lúc này không có khách. Dưới mái vòm sáng màu của nó là những tấm ốp tường bằng gỗ sồi, các tủ sách, một chiếc bàn ở giữa vây quanh bằng ghế, trên mặt đặt những tờ báo đóng khung, và những chỗ ngồi viết dưới các vòm hốc cửa sổ. Herr Settembrini đi tới gần một cửa sổ, Hans Castorp theo sau. Cửa vẫn để mở.

“Những giấy tờ này,” người Ý nói, vừa với một cử động nhanh rút từ túi sườn phồng như chiếc bị ở áo choàng của mình ra một xấp giấy, một phong thư dày đã mở sẵn, rồi để nội dung của nó, mấy thứ ấn phẩm in cùng một lá thư, lướt qua kẽ tay trước mắt Hans Castorp, “những giấy tờ này mang hàng chữ in bằng tiếng Pháp: ‘Liên minh Quốc tế vì sự tổ chức của tiến bộ.’ Người ta gửi chúng cho tôi từ Lugano, nơi có một văn phòng chi nhánh của liên minh. Ông hỏi tôi về nguyên tắc, về mục tiêu của nó ư? Tôi sẽ nói với ông trong hai lời. Liên minh Tổ chức Tiến bộ suy từ thuyết tiến hóa của Darwin ra quan niệm triết học rằng thiên chức sâu kín nhất của nhân loại trong tự nhiên là tự hoàn thiện mình. Từ đó, họ lại suy ra thêm rằng bổn phận của mỗi người, nếu muốn đáp ứng thiên chức tự nhiên của mình, là phải tích cực cộng tác vào sự tiến bộ của nhân loại. Nhiều người đã theo tiếng gọi ấy; số hội viên của họ ở Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ và ngay cả ở Đức cũng rất đáng kể. Chính tôi cũng có vinh dự được ghi tên trong sổ bộ của liên minh. Người ta đã vạch ra một chương trình cải cách quy mô lớn, được xây dựng một cách khoa học, bao gồm mọi khả thể hoàn thiện tức thời của cơ thể người. Vấn đề sức khỏe của giống nòi chúng ta đang được nghiên cứu, mọi phương pháp chống lại sự suy thoái đều được xem xét, cái hiện tượng mà không nghi ngờ gì nữa là một hệ quả đáng buồn đi kèm với tiến trình công nghiệp hóa ngày càng gia tăng. Ngoài ra, liên minh còn xúc tiến việc thành lập các đại học nhân dân, việc vượt thắng đấu tranh giai cấp bằng tất cả những cải thiện xã hội nào được khuyến nghị cho mục đích ấy, và sau cùng là việc thủ tiêu xung đột giữa các dân tộc, thủ tiêu chiến tranh bằng sự phát triển của công pháp quốc tế. Ông thấy đó, những nỗ lực của liên minh thật cao thượng và bao quát. Nhiều tạp chí quốc tế làm chứng cho hoạt động của họ, những tạp chí hàng tháng, bằng ba hoặc bốn ngôn ngữ thế giới, hết sức kích thích tinh thần khi tường thuật về sự phát triển tiến bộ của nền văn minh nhân loại. Nhiều nhóm địa phương đã được thành lập ở các nước khác nhau; thông qua những buổi thảo luận buổi tối và những lễ Chủ nhật, họ dự định tác động theo hướng khai sáng và bồi dưỡng tinh thần nhân danh lý tưởng tiến bộ của loài người. Trên hết, liên minh còn sốt sắng tiếp tay cho các đảng phái tiến bộ chính trị ở mọi nước bằng tư liệu của mình... Ông theo kịp lời tôi chứ, Kỹ sư?”

“Hoàn toàn!” Hans Castorp đáp, gấp gáp và hấp tấp. Với từ ấy, chàng có cảm giác của một người trượt chân nhưng vừa kịp may mắn đứng vững trở lại trên đôi chân mình.

Herr Settembrini có vẻ hài lòng.

“Tôi cho rằng đây là những cái nhìn mới lạ, đáng kinh ngạc đang mở ra trước mắt ông chăng?”

“Vâng, tôi phải thú thật, đây là lần đầu tiên tôi nghe nói về những... những nỗ lực ấy.”

“Phải chi,” Settembrini khẽ kêu lên, “phải chi ông nghe nói đến chuyện này sớm hơn! Nhưng có lẽ giờ đây ông vẫn chưa nghe quá muộn. Nào, những ấn phẩm này... Ông muốn biết chúng bàn về gì... Hãy nghe tiếp! Mùa xuân vừa rồi, một đại hội chính long trọng của liên minh đã được triệu tập tại Barcelona, ông biết đấy, thành phố ấy vẫn hãnh diện về những mối liên hệ đặc biệt với ý niệm tiến bộ chính trị. Đại hội họp suốt một tuần giữa yến tiệc và lễ lạt. Trời đất ơi, tôi đã muốn đi, tôi khát khao da diết được tham dự những cuộc nghị bàn. Nhưng cái gã Hofrat khốn kiếp ấy cấm tôi, dọa rằng sẽ phải chết, và, ông bảo tôi sao đây, tôi sợ chết nên đã không đi. Hẳn ông cũng có thể hình dung, tôi tuyệt vọng đến thế nào trước cú đánh mà sức khỏe bất cập của tôi đã giáng cho tôi. Không gì đau đớn hơn khi cái phần hữu cơ, cái phần thú vật của chúng ta cản trở chúng ta phụng sự lý trí. Bởi thế niềm thỏa mãn của tôi trước bức thư này từ văn phòng Lugano lại càng sống động hơn... Ông tò mò về nội dung của nó chứ? Điều ấy tôi tin lắm! Một vài thông tin sơ lược thôi... ‘Liên minh Tổ chức Tiến bộ’, ghi nhớ chân lý rằng nhiệm vụ của mình là đem lại hạnh phúc cho nhân loại, nói cách khác: chống lại đau khổ của con người bằng lao động xã hội có mục đích và cuối cùng hoàn toàn nhổ tận gốc nó, lại còn ghi nhớ chân lý rằng nhiệm vụ tối cao ấy chỉ có thể được giải quyết với sự trợ giúp của khoa học xã hội học, mà mục tiêu cuối cùng là nhà nước hoàn hảo, vậy nên, tại Barcelona, liên minh đã quyết định biên soạn một bộ sách nhiều tập mang nhan đề ‘Xã hội học về những nỗi khổ’, trong đó những đau khổ của con người sẽ được khảo cứu theo mọi loại lớp và mọi giống thể của chúng trong một hệ thống chính xác và kiệt cùng. Ông sẽ phản đối tôi: các loại lớp, các giống thể, các hệ thống thì có ích gì! Tôi trả lời ông: trật tự và sự phân định là khởi đầu của việc chế ngự, và kẻ thù thực sự ghê gớm chính là cái chưa được nhận biết. Phải đưa loài người ra khỏi những giai đoạn nguyên thủy của sợ hãi và đờ đẫn cam chịu, dẫn dắt họ tới giai đoạn hành động có ý thức mục tiêu. Phải khai sáng cho họ thấy rằng những hậu quả sẽ thành vô hiệu nếu trước hết người ta nhận ra nguyên nhân của chúng rồi thủ tiêu những nguyên nhân ấy, và rằng gần như mọi đau khổ của cá nhân đều là bệnh tật của cơ thể xã hội. Tốt! Đó là ý định của ‘Bệnh lý học xã hội’. Như thế, trong chừng hai mươi tập khổ từ điển, nó sẽ liệt kê và xử lý mọi trường hợp đau khổ của con người mà người ta có thể nghĩ ra, từ những gì riêng tư và thân mật nhất cho đến những xung đột lớn của các tập thể, những nỗi khổ nảy sinh từ thù địch giai cấp và va chạm quốc tế; nói ngắn lại, nó sẽ chỉ ra những nguyên tố hóa học mà từ sự pha trộn và kết hợp muôn hình muôn vẻ của chúng, toàn bộ đau khổ nhân loại được cấu thành, và đồng thời, lấy phẩm giá và hạnh phúc của nhân loại làm chuẩn mực, trong từng trường hợp nó sẽ trao cho nhân loại những phương tiện và biện pháp mà nó cho là thích đáng để loại bỏ nguyên nhân của đau khổ. Những chuyên gia xứng đáng trong giới học giả châu Âu, bác sĩ, nhà kinh tế học và nhà tâm lý học, sẽ chia nhau soạn thảo bộ bách khoa toàn thư về đau khổ này, còn văn phòng tổng biên tập ở Lugano sẽ là chiếc bể gom, nơi các bài viết đổ về. Đôi mắt ông đang hỏi tôi, trong tất cả chuyện này, phần việc nào sẽ rơi vào tôi ư? Xin để tôi nói cho hết! Ngay cả mỹ văn, tác phẩm lớn ấy cũng không muốn bỏ quên, trong chừng mực nó lấy đau khổ của con người làm đối tượng. Bởi vậy một tập riêng đã được dự kiến, tập này, để an ủi và khai thị cho người đang đau khổ, sẽ bao gồm một bản tuyển tập và phân tích ngắn gọn tất cả những kiệt tác của văn học thế giới có liên quan đến từng xung đột cá biệt; và đó chính là nhiệm vụ mà người ta, trong lá thư ông đang thấy đây, đã ủy thác cho kẻ đầy tớ tận tụy nhất của mình.”

“Những điều ngài nói, Herr Settembrini! Cho phép tôi được nhiệt thành chúc mừng ngài! Đó quả là một ủy nhiệm lớn lao, và theo tôi thấy thì thật đúng là dành riêng cho ngài. Tôi chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi liên minh đã nghĩ đến ngài. Và hẳn ngài phải vui biết bao khi nay có thể góp phần vào việc nhổ tận gốc những đau khổ của con người!”

“Đó là một công việc rộng lớn,” Herr Settembrini trầm ngâm nói, “đòi hỏi rất nhiều sự liệu xét và đọc sách. Nhất là,” ông thêm vào, trong khi ánh mắt dường như lạc mất trong sự đa tạp của nhiệm vụ mình, “nhất là quả thật mỹ văn hầu như thường xuyên lấy đau khổ làm đối tượng, và ngay cả những kiệt tác hạng hai, hạng ba cũng bằng cách nào đó liên quan đến nó. Cũng mặc, hay lại càng hay! Dù cho nhiệm vụ có bao quát đến đâu, trong mọi trường hợp, ít ra nó cũng thuộc loại mà khi cần tôi có thể hoàn tất ngay cả trong chốn lưu trú chết tiệt này, mặc dầu tôi không muốn hy vọng rằng mình sẽ bị buộc phải kết thúc nó ở đây. Nhưng điều tương tự,” ông nói tiếp, lại bước gần Hans Castorp hơn và hạ giọng gần như thành thì thầm, “không thể nói về những nghĩa vụ mà tự nhiên đã đặt lên _ông_, Kỹ sư ạ! Đó chính là điều tôi muốn đi đến, điều tôi muốn nhắc ông. Ông biết tôi ngưỡng mộ nghề nghiệp của ông biết bao, nhưng vì đó là một nghề thực hành, không phải một nghề tinh thần, nên khác với tôi, ông chỉ có thể theo đuổi nó ở thế giới dưới kia. Chỉ ở miền đồng bằng ông mới có thể là người châu Âu, chủ động chống lại đau khổ theo cách của mình, thúc đẩy tiến bộ, tận dụng thời gian. Tôi kể với ông về phần việc được giao cho tôi chỉ để nhắc ông nhớ, để đưa ông trở lại với chính mình, để chỉnh lại những quan niệm của ông, những quan niệm hiển nhiên đang bắt đầu rối loạn dưới ảnh hưởng của bầu khí quyển này. Tôi khẩn thiết với ông: hãy giữ lấy mình! Hãy kiêu hãnh và đừng đánh mất mình vào cái xa lạ! Hãy tránh cái đầm lầy này, hòn đảo của Kirke này, nơi ông không đủ là Odysseus để cư ngụ mà không phải trả giá. Ông sẽ đi bằng cả bốn chân, ông đã bắt đầu nghiêng xuống trên hai chi trước của mình rồi, chẳng bao lâu nữa ông sẽ cất tiếng khụt khịt, hãy liệu đấy!”

Nhà nhân văn, trong lúc khẽ khàng răn bảo, đã lắc đầu một cách khẩn thiết. Ông im lặng, mắt cúi xuống, mày chau lại. Không thể nào đáp lại ông bằng lối nửa đùa nửa tránh né như Hans Castorp vẫn quen làm và chính lúc này chàng cũng đã thoáng nghĩ tới như một khả năng. Chàng, cũng vậy, đứng với mí mắt rủ xuống. Rồi chàng nhún vai và cũng khẽ nói:

“Tôi phải làm gì đây?”

“Điều tôi đã nói với anh.”

“Nghĩa là: lên đường về sao?”

Herr Settembrini im lặng.

“Ông muốn nói là tôi phải về nhà sao?”

“Ngay từ tối đầu tiên tôi đã khuyên anh như vậy rồi, kỹ sư ạ.”

“Vâng, nhưng khi ấy tôi còn tự do làm thế, mặc dầu tôi cho là vô lý nếu chỉ vì không khí trên này hành tôi đôi chút mà đã vội buông xuôi. Nhưng từ đó tình thế quả đã đổi khác. Từ đó đã có cuộc khám nghiệm này, sau đó Hofrat Behrens đã nói thẳng với tôi, không úp mở gì cả, rằng chuyến về nhà chẳng bõ, chẳng bao lâu nữa tôi cũng lại phải quay lên, và nếu ở dưới kia tôi còn tiếp tục như thế thì, chỉ trong chớp mắt, cả một thùy phổi của tôi sẽ đi đời.”

“Tôi biết, giờ anh đã có giấy chứng nhận trong túi rồi.”

“Vâng, ông nói vậy với giọng mỉa mai... dĩ nhiên là thứ mỉa mai chân chính, không thể nào gây hiểu lầm lấy một giây, mà là một phương tiện diễn thuyết ngay thẳng và cổ điển, ông thấy đấy, tôi nhớ lời ông nói. Nhưng liệu ông có thể chịu trách nhiệm mà khuyên tôi lên đường về nhà, chỉ căn cứ vào bức ảnh này, vào kết quả soi chiếu và vào chẩn đoán của Hofrat hay không?”

Herr Settembrini ngần ngừ trong chốc lát. Rồi ông đứng thẳng lên, cũng mở mắt ra, dán ánh nhìn rắn và đen của mình vào Hans Castorp, và đáp lại với một giọng nhấn không phải là không có chút màu sắc sân khấu và hiệu quả:

“Có, kỹ sư ạ. Tôi muốn chịu trách nhiệm việc ấy.”

Nhưng lúc này tư thế của Hans Castorp cũng đã trở nên cứng cỏi. Chàng khép hai gót chân lại và cũng nhìn thẳng vào Herr Settembrini. Lần này là một cuộc giáp chiến. Hans Castorp đứng vững như một người đàn ông. Những ảnh hưởng từ gần bên đã “làm chàng mạnh lên”. Ở đây có một nhà giáo dục, còn ngoài kia có một người đàn bà mắt hẹp. Chàng thậm chí cũng không xin lỗi về điều mình nói; chàng không thêm câu: “Xin ông đừng phật ý.” Chàng đáp:

“Thế thì ông dè dặt với bản thân hơn là với người khác! _Chính ông_ đã không đi Barcelona dự đại hội tiến bộ, trái với lệnh cấm của bác sĩ. Ông sợ chết và đã ở lại đây.”

Đến một mức nào đó, tư thế của Herr Settembrini bởi vậy hiển nhiên đã bị phá vỡ. Ông mỉm cười không hẳn là dễ dàng lắm và nói:

“Tôi biết quý một câu đáp trả lanh lẹ, ngay cả khi lô-gích của anh không xa sophisme là mấy. Tôi ghê tởm chuyện phải tranh đua trong một cuộc ganh đua ghê tởm vốn rất thịnh hành ở đây, bằng không tôi sẽ đáp anh rằng tôi đau nặng hơn anh nhiều, tiếc thay quả đúng là đau đến mức tôi chỉ còn kéo lê, bằng một cách giả tạo và hơi có phần tự lừa dối, niềm hy vọng rằng một ngày kia mình còn có thể rời khỏi chốn này để trở về thế giới bên dưới. Vào khoảnh khắc mà việc duy trì niềm hy vọng ấy tỏ ra hoàn toàn không còn đứng đắn nữa, tôi sẽ quay lưng với cơ sở này và thuê một chỗ trọ riêng đâu đó trong thung lũng để sống nốt quãng đời còn lại. Điều đó sẽ buồn bã thật, nhưng vì phạm vi lao động của tôi là phạm vi tự do nhất và tinh thần nhất, nên nó sẽ không cản được tôi phụng sự sự nghiệp của nhân loại cho đến hơi thở cuối cùng và đối mặt với tinh thần của bệnh tật. Tôi đã lưu ý anh về sự khác biệt giữa chúng ta ở phương diện này rồi. Kỹ sư ạ, anh không phải là người có thể giữ vững phần bản ngã cao hơn của mình tại đây, điều ấy tôi đã thấy ngay từ lần gặp đầu tiên. Anh trách tôi đã không đi Barcelona. Tôi phục tùng lệnh cấm để khỏi tự hủy hoại mình quá sớm. Nhưng tôi đã làm như vậy với sự dè dặt mạnh mẽ nhất, với sự phản kháng kiêu hãnh nhất và đau đớn nhất của tinh thần tôi chống lại mệnh lệnh của cái thân xác khốn khổ. Còn sự phản kháng ấy có sống động trong anh hay không, khi anh tuân theo những chỉ dẫn của các thế lực trên này, hay trái lại _chính thân xác_ và cái thiên hướng xấu xa của nó là điều mà anh chỉ quá sẵn lòng vâng theo...”

“Ông có điều gì chống lại thân xác?” Hans Castorp vội ngắt lời, mắt mở lớn nhìn ông bằng đôi mắt xanh mà lòng trắng đã giăng những đường gân đỏ. Chàng xây xẩm vì chính sự táo tợn của mình, và điều ấy hiện rõ trên mặt. “Mình đang nói gì thế này?” chàng nghĩ. “Sắp thành quái đản mất rồi. Nhưng mình đã một lần đứng vào thế đối địch với ông ta, thì chừng nào lâu còn có thể, mình sẽ không để ông ta có tiếng nói cuối cùng. Dĩ nhiên rồi ông ta sẽ có, nhưng việc đó chẳng hề gì, dầu sao mình cũng sẽ có lợi. Mình sẽ chọc tức ông ta.” Chàng nói tiếp ý phản bác của mình:

“Ông là nhà nhân văn kia mà? Sao ông lại có thể nói xấu thân xác như thế được?”

Settembrini mỉm cười, lần này tự nhiên và đầy tự tin.

“‘Ông có điều gì chống lại phân tích?’” ông dẫn lại, đầu nghiêng trên vai. “‘Ông không thiện cảm với phân tích sao?’ Anh sẽ luôn thấy tôi sẵn sàng đáp lời anh, kỹ sư ạ,” ông nói, vừa cúi mình vừa đưa tay chào xuống phía sàn nhà, “nhất là khi những phản bác của anh có tinh thần. Anh đỡ đòn không phải không có vẻ thanh nhã. Nhà nhân văn, vâng, đúng thế, tôi là như vậy. Anh sẽ không bao giờ bắt quả tang tôi có khuynh hướng khổ hạnh đâu. Tôi khẳng định, tôi tôn vinh và yêu thân xác, cũng như tôi khẳng định, tôn vinh và yêu hình thể, cái đẹp, tự do, sự vui tươi và khoái lạc, cũng như tôi đứng về phía ‘thế giới’, về phía những quyền lợi của đời sống để chống lại thứ tình cảm trốn đời, đứng về phía Classicismo để chống lại lãng mạn. Tôi nghĩ lập trường của tôi là hết sức minh bạch. Nhưng có một quyền lực, một nguyên lý, mà sự khẳng định cao nhất, sự kính trọng tối hậu và tình yêu tối hậu của tôi thuộc về, và quyền lực ấy, nguyên lý ấy, là tinh thần. Tôi ghê tởm biết bao khi thấy người ta đem một thứ huyễn ảnh và ma trơi mờ ám dưới ánh trăng nào đó, cái mà người ta gọi là ‘linh hồn’, ra đối lập với thân xác, nhưng trong cặp đối lập giữa thân xác _và tinh thần_ thì thân xác là nguyên lý xấu xa, là nguyên lý ma quỷ, bởi thân xác là tự nhiên, mà tự nhiên, trong sự đối lập của nó với tinh thần, với lý tính, tôi xin nhắc lại điều đó, là xấu xa, huyền bí và xấu xa. ‘Ông là nhà nhân văn!’ Dĩ nhiên tôi là như vậy, vì tôi là bạn của con người như Prometheus đã từng là, là kẻ yêu nhân loại và phẩm giá cao quý của nó. Nhưng phẩm giá ấy lại được quyết định trong tinh thần, trong lý tính, cho nên anh sẽ hoàn toàn uổng công nếu muốn buộc cho tôi tội tối tăm kiểu Cơ Đốc giáo...”

Hans Castorp xua tay gạt đi.

“... anh sẽ,” Settembrini vẫn khăng khăng, “hoàn toàn uổng công nếu nêu ra lời buộc tội ấy, khi lòng kiêu hãnh quý tộc của chủ nghĩa nhân văn học được cách cảm thấy sự ràng buộc của tinh thần vào cái thể xác, vào tự nhiên, một ngày kia, như một sự hạ thấp, như một nỗi nhục. Anh có biết rằng người ta còn truyền lại câu nói của Plotinus vĩ đại rằng ông xấu hổ vì mình có một thân xác không?” Settembrini hỏi, và đòi một câu trả lời nghiêm túc đến mức Hans Castorp buộc phải thú nhận rằng đây là lần đầu tiên chàng nghe thấy điều ấy.

“Porphyrius truyền lại như thế. Một câu nói phi lý, nếu anh muốn. Nhưng cái phi lý, ấy lại là điều đáng trọng về mặt tinh thần, và xét cho cùng, chẳng có gì nghèo nàn hơn sự phản đối nhân danh tính phi lý, ở nơi tinh thần muốn giữ lấy phẩm giá của mình trước tự nhiên, muốn từ chối thoái vị trước nó... Anh đã nghe nói về trận động đất ở Lisbon chưa?”

“Chưa, một trận động đất ư? Ở đây tôi chẳng thấy báo chí gì cả...”

“Anh hiểu lầm tôi rồi. Nhân đây mà nói, thật đáng tiếc, và cũng rất tiêu biểu cho chốn này, rằng ở đây anh lại bỏ lỡ việc đọc báo. Nhưng anh hiểu lầm tôi rồi, biến cố tự nhiên mà tôi nói không phải là chuyện thời sự, nó đã xảy ra vào khoảng một trăm năm mươi năm trước...”

“À ra vậy! Ồ, khoan đã, đúng rồi! Tôi có đọc rằng hồi ấy ban đêm ở Weimar, Goethe trong phòng ngủ đã nói với người hầu của mình rằng...”

“A, không, tôi không muốn nói tới chuyện đó,” Settembrini ngắt lời, nhắm mắt lại và lắc lắc bàn tay nâu nhỏ giữa không trung. “Vả lại anh còn lẫn lộn các tai họa với nhau. Điều anh nghĩ tới là trận động đất ở Messina. Còn tôi muốn nói tới cơn chấn động đã giáng xuống Lisbon vào năm 1755.”

“Xin lỗi ông.”

“Thế đấy, Voltaire đã nổi phẫn nộ chống lại nó.”

“Nghĩa là... thế nào? Ông ấy đã nổi phẫn nộ?”

“Đúng, ông ấy đã nổi loạn. Ông không chấp nhận cái định mệnh và thực tại tàn bạo ấy, ông từ chối thoái vị trước nó. Ông nhân danh tinh thần và lý tính mà phản kháng cái trò ngông cuồng ô nhục ấy của tự nhiên, thứ đã bắt ba phần tư một thành phố phồn thịnh cùng hàng nghìn sinh mạng con người làm vật hy sinh... Anh kinh ngạc ư? Anh mỉm cười ư? Cứ việc kinh ngạc; còn về nụ cười ấy, tôi xin phép được quở trách anh! Lập trường của Voltaire là lập trường của một hậu duệ chân chính của những người Gaulois xưa kia, những kẻ từng bắn tên lên trời... Anh thấy đấy, kỹ sư ạ, đó chính là sự thù nghịch của tinh thần đối với tự nhiên, là niềm ngờ vực kiêu hãnh của nó đối với tự nhiên, là sự kiên trì cao thượng của nó đối với quyền được phê phán tự nhiên và sức mạnh xấu xa, phản lý tính của tự nhiên. Bởi tự nhiên là sức mạnh, mà chấp nhận sức mạnh, cam chịu điều đình với nó, là một điều nô lệ... xin lưu ý, cam chịu điều đình với nó _trong nội tâm_. Nhưng đồng thời ở đó anh cũng có chính cái tính người ấy, cái tính người dứt khoát không sa vào mâu thuẫn nào cả, không phạm phải sự tái phạm vào cái thói khúm núm kiểu Cơ Đốc, khi nó quyết định nhìn thân xác như nguyên lý xấu xa, nguyên lý đối nghịch. Mâu thuẫn mà anh tưởng mình nhìn thấy, xét đến cùng, vẫn luôn chỉ là một. ‘Ông có điều gì chống lại phân tích?’ Không có gì cả... nếu nó là công việc của khai minh, của giải phóng và tiến bộ. Có tất cả... nếu nó mang cái _haut-goût_ ghê tởm của mồ mả. Với thân xác cũng không khác. Người ta phải tôn vinh và bảo vệ nó khi vấn đề là sự giải phóng và vẻ đẹp của nó, là tự do của các giác quan, là hạnh phúc, là khoái lạc. Người ta phải khinh nó, chừng nào với tư cách nguyên lý của sức nặng và sự trì trệ, nó chống lại cuộc vận động hướng về ánh sáng; phải ghê tởm nó, chừng nào nó còn đại diện cho nguyên lý của bệnh tật và cái chết, chừng nào tinh thần riêng của nó là tinh thần của sự lệch lạc, là tinh thần của mục rữa, dâm dục và ô nhục...”

Settembrini, đứng rất gần Hans Castorp, đã nói những lời cuối cùng gần như không ra tiếng và rất mau, cốt cho xong. Sự giải cứu đang đến gần với Hans Castorp: Joachim bước vào phòng đọc, tay cầm hai tấm bưu thiếp; bài diễn thuyết của nhà văn nhân đó ngắt lại, và sự lanh lẹ với đó nét mặt ông chuyển ngay sang vẻ nhẹ nhàng xã giao đã không khỏi gây ấn tượng với người học trò của ông, nếu quả còn có thể gọi Hans Castorp như vậy.

“Ra ông ở đây, trung úy! Hẳn ông đã đi tìm người anh em họ của mình, xin thứ lỗi! Chúng tôi ở đây vừa sa vào một cuộc chuyện trò, mà nếu tôi nhớ không lầm, còn suýt thành một cuộc bất hòa nho nhỏ nữa. Anh em họ của ông không phải là một tay biện luận tồi đâu, mà quả thật là một đối thủ lời lẽ chẳng hề vô hại, khi anh ta muốn thế.”

Humaniora

Hans Castorp và Joachim Ziemßen ngồi trong vườn sau bữa tối, quần trắng áo khoác xanh. Vẫn còn là một trong những ngày tháng Mười được ca tụng ấy, một ngày vừa nóng vừa nhẹ, vừa có vẻ lễ hội lại vừa chan chát, với sắc xanh sẫm phương nam của bầu trời phủ trên thung lũng, nơi những bãi dốc có đường đi ngang dọc và có người ở dưới đáy vẫn còn xanh vui tươi, và từ những sườn núi rậm rạp thô nhám vọng lên tiếng chuông bò, âm thanh bình yên như bằng thiếc, chất phác mà có nhạc tính ấy, lơ lửng trong trẻo và không gì ngăn trở giữa làn không khí im, mỏng, rỗng, làm sâu thêm tâm trạng ngày lễ ngự trị trên những miền cao.

Hai người anh em họ ngồi trên một chiếc ghế dài ở cuối vườn trước một bồn tròn trồng những cây linh sam non. Chỗ ấy nằm ở rìa tây bắc của cái sân cao có hàng rào vây quanh, nhô lên chừng năm mươi thước so với thung lũng, làm nền cho khu đất của Berghof. Họ im lặng. Hans Castorp hút thuốc. Trong lòng chàng bực Joachim, vì sau bữa ăn anh này đã không muốn nán lại tham gia cuộc giao tiếp ngoài hiên, mà lại trái cả ý muốn lẫn ý thích của chàng, ép chàng ra sự yên tĩnh của khu vườn trước khi họ bắt đầu giờ nằm nghỉ. Joachim làm thế là chuyên chế. Nói đúng ra, họ đâu phải cặp sinh đôi Xiêm. Họ vẫn có thể tách nhau ra nếu sở thích đôi bên không còn cùng hướng. Vả lại Hans Castorp đâu có ở đây để bầu bạn với Joachim, mà chính chàng cũng là một bệnh nhân. Chàng giận dỗi theo nghĩa ấy, và chàng có thể chịu đựng được cơn giận dỗi ấy, vì chàng có Maria Mancini. Hai tay đút túi áo khoác bên hông, đôi chân đi giày nâu duỗi ra trước mặt, chàng ngậm giữa môi điếu xì gà dài màu xám mờ vẫn còn ở giai đoạn đầu của sự tiêu thụ, nghĩa là chàng còn chưa gạt lớp tro ở đầu tù của nó, khiến nó hơi chúc xuống, và sau bữa ăn đậm, chàng thưởng thức hương vị của nó, thứ hương vị mà nay chàng đã hoàn toàn giành lại được. Nếu như ngoài điều ấy ra, sự thích nghi của chàng trên này chỉ gồm ở chỗ chàng quen với việc không thể quen được, thì riêng đối với hóa tính của dạ dày, với những dây thần kinh của các niêm mạc khô và dễ chảy máu, rõ ràng sự điều chỉnh rốt cuộc cũng đã hoàn thành: không nhận ra và không thể theo dõi được tiến trình của nó, qua sự trôi đi của những ngày tháng ấy, sáu mươi lăm hay bảy mươi ngày ấy, toàn bộ khoái cảm cơ thể của chàng đối với chất kích thích, hay chất gây tê, có nguồn gốc thực vật được chế tác khéo léo ấy đã phục hồi trở lại. Chàng vui vì khả năng ấy đã trở về. Sự thỏa mãn về tinh thần càng làm tăng khoái cảm thể chất. Trong quãng phải nằm liệt giường, chàng đã dè sẻn dùng kho dự trữ hai trăm điếu mang theo; trong đó vẫn còn ít nhiều tồn lại. Nhưng đồng thời với đồ vải và quần áo mùa đông, chàng cũng cho Schalleen gửi lên thêm năm trăm điếu hàng Bremen ấy nữa để phòng sẵn. Đó là những hộp sơn bóng đẹp đẽ, trang trí bằng một quả địa cầu, vô số huy chương và một tòa nhà triển lãm viền vàng, xung quanh cờ xí bay phần phật.

Khi hai người đang ngồi đó thì, kìa, Hofrat Behrens đi xuyên qua khu vườn mà tới. Hôm nay ông đã dùng bữa trưa trong phòng ăn lớn; ở bàn bà Salomon người ta đã thấy ông chắp đôi bàn tay khổng lồ trước chiếc đĩa của mình. Sau đó hẳn ông còn nấn ná ngoài sân hiên, cất lên những giọng điệu riêng tư, rất có thể lại diễn trò dây buộc ủng cho một ai đó chưa từng được xem. Bây giờ ông thong thả men theo lối sỏi mà lại gần, không mặc áo choàng thầy thuốc, vận chiếc áo đuôi tôm ca-rô ô nhỏ, cái mũ cứng ngả ra sau gáy, miệng cũng ngậm một điếu xì gà, rất đen, từ đó ông rít ra những đám khói lớn, trắng nhờ. Cái đầu của ông, khuôn mặt với hai gò má hừng hực xanh tái, cái mũi tẹt, đôi mắt xanh ươn ướt và chòm râu túm lại ấy, đều nhỏ so với thân hình cao dài, hơi khom và gấp khúc, cũng như so với cỡ bàn tay và bàn chân của ông. Ông bồn chồn; người ta thấy rõ ông giật thót khi nhận ra hai anh em họ, thậm chí còn hơi lúng túng, vì đúng là ông buộc phải đi thẳng về phía họ. Ông chào theo lối thường ngày, vui vẻ và đầy những câu cửa miệng, bằng tiếng: “A đây rồi, a đây rồi, Timotheus!”, cùng những lời chúc lành cho sự trao đổi chất của họ, đồng thời ép họ cứ ngồi nguyên, khi họ định đứng dậy để tỏ kính ý với ông.

“Thôi, thôi, miễn đi. Đừng khách sáo thêm với một kẻ mộc mạc như tôi. Điều ấy hoàn toàn chẳng hợp với tôi, nhất là khi các cậu đều là bệnh nhân cả, người nào cũng như người nào. Các cậu chẳng cần làm chuyện ấy đâu. Tình thế cứ như thế này là ổn.”

Và ông đứng lại trước mặt họ, điếu xì gà kẹp giữa ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay phải khổng lồ.

“Cuốn lá ấy vị ra sao, Castorp? Để tôi xem nào, tôi là tay sành và cũng là kẻ mê món ấy. Tro đẹp đấy: người đẹp nâu nâu này là giống gì vậy?”

“Maria Mancini, _Postre de Banquett_ từ Bremen, thưa ngài Hofrat. Giá rẻ gần như cho không, đúng mười chín pfennig tiền tươi, thế mà lại có một bouquet hiếm thấy ở hạng giá ấy. Sumatra-Havanna, lá bọc Sandblatt, như ngài thấy đấy. Tôi đã rất quen với nàng. Đó là một thứ phối trộn đầy đặn vừa phải và rất cay hương, nhưng đầu lưỡi lại nhẹ. Nàng thích được để tro thật lâu, tôi cùng lắm chỉ gảy đi hai lần. Dĩ nhiên nàng cũng có những tính khí nho nhỏ của mình, nhưng khâu kiểm soát khi chế tạo hẳn phải đặc biệt nghiêm ngặt, vì Maria rất đáng tin ở những đặc tính của mình và cháy hoàn toàn đều. Tôi xin mời ngài một điếu chứ?”

“Cảm ơn, ta thử đổi cho nhau một điếu vậy.” Và mọi người rút bao đựng xì gà ra.

“Con này có dòng giống,” Hofrat nói, vừa đưa nhãn hiệu của mình ra. “Có khí chất, ngài biết đấy, có nhựa có lực. St. Felix-Brasil, xưa nay tôi vẫn chuộng cái tính nết ấy. Một tay giải sầu chính hiệu, ngấm vào như rượu mạnh, và nhất là về cuối nó có cái gì thật bộc liệt. Nên giữ đôi chút dè dặt trong giao thiệp với nàng, không thể châm điếu này tiếp điếu kia được, sức đàn ông cũng không kham nổi. Nhưng thà thỉnh thoảng ăn một miếng ra miếng, còn hơn suốt ngày chỉ toàn hơi nước...”

Họ xoay những món quà vừa trao đổi giữa các ngón tay, với sự sành sỏi đầy khách quan mà xem xét những thân mình thon ấy, với những đường gân xiên song song nơi mép lá cuốn hơi nhô lên và đôi chỗ hé mở, với mạng gân nằm áp trên bề mặt tưởng như đang đập mạch, với những chỗ da hơi lồi lõm và trò chơi của ánh sáng trên các mặt cùng các cạnh, khiến chúng mang một vẻ sống hữu cơ nào đó. Hans Castorp nói thành lời:

“Một điếu xì gà như thế này có sự sống. Nó thật sự thở. Có lần ở nhà tôi nảy ra ý cất Maria trong một hộp sắt kín hơi để tránh ẩm cho nàng. Ngài có tin được không, nàng chết mất. Nàng tiêu đời và chỉ trong vòng mấy tuần đã chết ngắc, toàn những tử thi da thuộc.”

Và họ trao đổi kinh nghiệm về cách tốt nhất để cất giữ xì gà, nhất là hàng nhập. Hofrat ưa hàng nhập; giá có thể, ông chỉ muốn hút những điếu Havana nặng. Chỉ tiếc là ông không chịu được chúng, và hai điếu Henry Clay nhỏ mà có lần, trong một cuộc tụ họp, ông đã quá mến, theo lời ông kể, suýt chút nữa đã đưa ông xuống mồ. “Tôi hút chúng với cà phê,” ông nói, “điếu này tiếp điếu kia, mà chẳng nghĩ ngợi gì mấy. Nhưng hút xong thì trong tôi bỗng dấy lên câu hỏi: rốt cuộc tôi đang thấy trong người thế nào vậy. Hoàn toàn khác hẳn, nói tóm lại là lạ lẫm tận gốc, như chưa bao giờ trong đời. Về được tới nhà đã chẳng phải chuyện nhỏ, mà vừa về tới nơi, tôi lại càng nghĩ rằng quỷ tha ma bắt rồi đây. Chân như nước đá, mồ hôi lạnh toát muốn chỗ nào có chỗ ấy, mặt mũi trắng bệch như vải lanh, tim thì đủ mọi trạng thái, mạch đập, lúc như sợi chỉ, hầu như không bắt thấy, lúc lại cuống cuồng lao phăng phăng, băng đồng vượt suối, ngài hiểu chứ, còn não bộ thì trong một cơn kích động... Tôi tin chắc mình sắp nhảy nốt điệu cuối cùng. Tôi nói: nhảy nốt điệu cuối cùng, vì đó chính là chữ lúc ấy nảy ra trong đầu tôi, và tôi cần đến nó để chỉ đúng tình trạng của mình. Bởi thực ra thì lại vui đáo để, đúng là một cuộc hội hè, mặc dù tôi sợ khủng khiếp, hay nói đúng hơn, tôi hoàn toàn được cấu thành bằng sợ hãi. Nhưng sợ hãi và hội hè vốn đâu loại trừ nhau, điều ấy ai mà chẳng biết. Cậu nhóc sắp lần đầu có một cô gái cũng sợ, mà cô gái cũng sợ, thế mà cả hai chỉ chực tan chảy ra vì vui sướng. À, tôi khi ấy cũng suýt tan chảy, ngực dào dạt, tôi muốn nhảy cho xong điệu. Nhưng Mylendonk đã dùng các biện pháp của bà mà kéo tôi ra khỏi tâm trạng ấy. Chườm đá, chà xát bằng bàn chải, một mũi tiêm long não, và nhờ thế tôi còn được giữ lại cho nhân loại.”

Hans Castorp, ngồi đó trong cương vị một bệnh nhân, ngước nhìn Behrens với một nét mặt chứng tỏ chàng đang suy nghĩ; đôi mắt xanh mọng ứa của ông, trong lúc kể chuyện, đã đầy nước.

“Thỉnh thoảng ông vẫn vẽ đấy chứ, thưa ngài Hofrat,” chàng bỗng nói.

Hofrat làm như bị dội bật lùi lại.

“Ủa? Chàng trai, cậu sao thế?”

“Xin lỗi. Tôi có lần nghe nhắc đến chuyện ấy. Bỗng nhiên tôi nhớ ra thôi.”

“À, thế thì tôi cũng chẳng cần cố chối làm gì nữa. Chúng ta rốt cuộc đều là những kẻ yếu lòng. Vâng, chuyện ấy quả đã từng xảy ra. _Anch’ io sono pittore_, như người Tây Ban Nha nọ vẫn thường nói.”

“Phong cảnh ư?” Hans Castorp hỏi cụt ngủn, bằng một giọng hơi kẻ cả. Hoàn cảnh đã xui khiến chàng dùng cái giọng ấy.

“Bao nhiêu cũng có!” Hofrat đáp, với vẻ khoe khoang lúng túng. “Phong cảnh, tĩnh vật, thú vật, đã là một tay nam nhi thì nhìn chung chẳng ngán gì cả.”

“Nhưng không có chân dung chứ?”

“Thì đôi khi cũng có lẫn vào một bức chân dung đấy. Hay cậu muốn giao cho tôi vẽ chân dung cậu?”

“Ha, ha, không. Nhưng thật là tử tế quá nếu khi có dịp nào đó ngài Hofrat cho chúng tôi xem tranh của ngài.”

Joachim cũng thế, sau khi nhìn người anh em họ với vẻ kinh ngạc, vội vàng cam đoan rằng như vậy thì thật là tử tế quá.

Behrens sung sướng mê mẩn, được ve vuốt đến mức hồ hởi hẳn lên. Ông thậm chí còn đỏ mặt vì khoái chí, và lần này đôi mắt ông tưởng như muốn thật sự trào lệ.

“Sẵn lòng chứ!” ông kêu lên. “Với một khoái lạc lớn nhất! Ngay tức khắc cũng được, nếu các cậu thích! Nào, lại đây, đi với tôi, tôi pha cho chúng ta một ấm cà phê Thổ Nhĩ Kỳ ở chỗ tôi!” Và ông nắm tay hai chàng trai, kéo họ dậy khỏi ghế, rồi khoác tay họ, kẹp giữa hai người, dẫn dọc theo lối sỏi về phía chỗ ở của mình, mà như họ đã biết, nằm ở cánh tây bắc gần đó của tòa nhà Berghof.

“Chính tôi trước đây,” Hans Castorp giải thích, “thỉnh thoảng cũng đã thử sức đôi chút theo hướng ấy.”

“Cậu nói gì cơ. Hẳn hoi bằng sơn dầu chứ?”

“Không, không, tôi chẳng vượt quá được dăm bức màu nước. Khi thì một con tàu, một cảnh biển, trẻ con ấy mà. Nhưng tôi rất thích xem tranh, nên mới đường đột như thế...”

Chính Joachim là người, nhờ lời giải thích ấy, phần nào thấy yên lòng và được soi sáng về tính hiếu kỳ kỳ quặc của người anh em họ; và kỳ thực Hans Castorp cũng viện tới những thử nghiệm nghệ thuật của chính mình là cốt cho Joachim hơn là cho Hofrat. Họ đã tới nơi: phía này không có một cổng vào lộng lẫy, hai bên chăng đèn lồng như ở lối xe chạy bên kia. Vài bậc thềm uốn tròn dẫn lên cánh cửa gỗ sồi, Hofrat mở cửa bằng một chiếc chìa trong chùm khóa lỉnh kỉnh của mình. Bàn tay ông run lên khi làm việc ấy; rõ ràng ông đang bồn chồn. Một gian tiền sảnh dùng làm chỗ treo áo mũ đón họ vào, nơi Behrens treo chiếc mũ cứng lên móc. Bên trong, trên hành lang ngắn, bị ngăn với phần chung của tòa nhà bằng một cánh cửa kính và hai bên là những phòng ốc của căn hộ riêng nhỏ bé, ông gọi cô hầu và dặn dò thức uống. Rồi ông vừa cất những câu nói bông đùa khích lệ, vừa mời khách bước vào, qua một cánh cửa bên phải.

Vài căn phòng bày biện theo lối thị dân tầm thường, nhìn ra phía trước về phía thung lũng, thông với nhau không phải bằng cửa mà chỉ bằng rèm: một phòng ăn “Đức cổ”, một phòng khách kiêm phòng làm việc với bàn viết, phía trên treo một mũ sinh viên và hai thanh kiếm đấu bắt chéo, những tấm thảm len, tủ sách và một bộ đi-văng ghế bành, rồi thêm một buồng hút thuốc bày theo lối “Thổ Nhĩ Kỳ”. Khắp nơi đều treo tranh, tranh của Hofrat, và cặp mắt của những người mới vào, lịch sự và sẵn sàng thán phục, lập tức lướt qua tất cả. Người vợ đã khuất của Hofrat hiện ra nhiều lần: bằng sơn dầu, và cả dưới dạng ảnh đặt trên bàn viết. Đó là một người đàn bà tóc vàng, ăn mặc mỏng nhẹ và buông chảy, có phần huyền bí, hai tay chắp nơi vai trái, mà không phải chắp chặt, chỉ vừa sao cho những đốt trên của các ngón tay khẽ nằm vào nhau; đôi mắt thì hoặc ngước lên trời, hoặc cúi thật thấp và ẩn dưới hàng mi dài chếch ra khỏi mí: chỉ có điều người đã khuất ấy không bao giờ nhìn thẳng vào người xem. Ngoài ra chủ yếu là những mô-típ phong cảnh núi non: núi trong tuyết và trong màu xanh của thông, núi bị khói cao nguyên quấn lượn, và núi với những đường nét khô sắc cắt vào bầu trời xanh thẫm dưới ảnh hưởng của Segantini. Lại còn có những túp lều chăn bò, những con bò sệ bụng đứng và nằm trên bãi cỏ đầy nắng, một con gà đã vặt lông thõng cổ vẹo giữa đám rau trên mặt bàn, những bức hoa, những mẫu người miền núi và nhiều thứ khác nữa; tất cả đều được vẽ bằng một thứ tay ngang khá nhanh bạo, trong những mảng màu quệt bừa táo tợn, thường nom như bị bóp thẳng từ ống lên mặt vải và hẳn đã mất rất lâu mới khô, nhưng giữa những lỗi lầm thô vụng, đôi khi vẫn có hiệu quả.

Ngắm nghía như trong một cuộc triển lãm, họ men dọc theo các bức tường, có chủ nhà đi kèm, thỉnh thoảng nêu tên một mô-típ, nhưng phần lớn im lặng, trong niềm xúc động tự hào của người nghệ sĩ, đang hưởng thú để mắt mình cùng với mắt người lạ dừng trên tác phẩm của mình. Bức chân dung Clawdia Chauchat treo trong phòng khách trên bức tường cạnh cửa sổ; Hans Castorp đã kịp nhận ra nó bằng một cái liếc nhanh ngay từ lúc bước vào, mặc dầu nó chỉ giống xa xa. Có ý, chàng tránh chỗ ấy, giữ những người đi cùng lại trong phòng ăn, nơi chàng làm bộ ngắm một quang cảnh xanh nhìn xuống thung Sergi với những sông băng xanh nhạt ở hậu cảnh; rồi, hoàn toàn theo ý riêng mình, chàng lái mọi người sang buồng Thổ Nhĩ Kỳ trước tiên, nơi chàng cũng rà soát thật kỹ, miệng không ngớt lời khen, sau đó mới xem bức tường phía lối vào của phòng khách, đôi lúc còn thúc Joachim cũng nên lên tiếng tán thưởng. Cuối cùng chàng quay lại và hỏi, với một vẻ sửng sốt chừng mực:

“Kìa, hình như có một khuôn mặt quen?”

“Cậu nhận ra cô ta à?” Behrens hỏi để biết.

“Vâng, ở đây hẳn không thể nào nhầm được. Đó là người đàn bà ở bàn người Nga tốt, cái bà có cái tên Pháp ấy...”

“Đúng rồi, Chauchat đấy. Tôi mừng là cậu thấy giống.”

“Giống như đúc!” Hans Castorp nói dối, không hẳn vì gian dối, cho bằng vì chàng ý thức rằng, giả như mọi việc diễn ra đúng phép tắc, chàng lẽ ra không được phép nhận ra người mẫu chút nào; cũng như Joachim sẽ chẳng bao giờ, bằng sức mình, nhận ra nổi, Joachim tốt bụng và bị đánh lừa, mà giờ đây dĩ nhiên mới thấy ánh sáng, ánh sáng thật sau ánh sáng giả mà Hans Castorp trước đó đã nhóm lên cho chàng. “À ra thế,” Joachim khẽ nói và cam chịu giúp ngắm bức tranh. Người anh em họ của chàng đã biết cách tự đền bù cho việc hai người vắng mặt khỏi cuộc giao du ngoài hiên.

Đó là một chân dung bán thân ở thế nửa nghiêng, nhỏ hơn người thật một chút, cổ áo khoét thấp, có một dải voan quấn quanh vai và ngực, lồng trong một khung rộng màu đen, thoai thoải vào phía trong và trang trí một gờ vàng ở mép toan. Bà Chauchat ở đây trông già hơn đến mười tuổi so với tuổi thật, như thường vẫn xảy ra ở những bức chân dung của tay ngang muốn có tính cách. Toàn bộ khuôn mặt bị cho quá nhiều màu đỏ, cái mũi bị vẽ sai hẳn, màu tóc không trúng, quá rơm, cái miệng méo đi, cái duyên riêng của gương mặt ấy không được nhìn thấy hoặc không được lôi ra, bị bỏ lỡ vì nguyên nhân của nó đã bị làm thô đi, toàn thể là một sản phẩm vụng vẽ khá rõ, với tư cách chân dung thì chỉ có họ hàng xa với đối tượng. Nhưng Hans Castorp chẳng câu nệ gì mấy về độ giống; mối liên hệ của tấm toan này với con người bà Chauchat đối với chàng đã đủ gần rồi, bức tranh _được định_ là bà Chauchat, chính bà đã ngồi làm mẫu trong những phòng này, như vậy là đủ đối với chàng, xúc động chàng nhắc lại:

“Y như bà ấy bằng xương bằng thịt!”

“Đừng nói thế,” Hofrat gạt đi. “Đó là một món việc nặng nề, tôi không dám tự phụ rằng mình đã thật sự xử xong nó, mặc dầu chúng tôi hẳn có đến hai mươi buổi ngồi mẫu, mà làm sao người ta xử xong nổi một cái dung mạo tréo ngoe đến thế. Người ta tưởng hẳn phải dễ chộp lắm, với hai gò má phương bắc của cô ta và đôi mắt như những đường rạch nứt toác trên bánh bột men. Nào có dễ vậy. Chỉnh cho đúng được cái chi tiết thì lại làm hỏng toàn thể. Đúng là một câu đố đánh lừa mắt. Cậu có quen cô ta không? Có lẽ không nên vẽ theo mẫu cô ta, mà phải làm việc theo trí nhớ. Rốt cuộc cậu có quen cô ta chứ?”

“Vâng, không, sơ sơ thôi, như trên này người ta biết nhau ấy mà...”

„À, tôi biết cô ta nhiều về mặt bên trong hơn, dưới da kia, ngài hiểu chứ, qua huyết áp động mạch, độ căng của mô và sự vận hành của bạch huyết, về những cái đó ở cô ta tôi biết khá tường tận, vì những lý do nhất định. Cái bề ngoài mới là thứ gây khó khăn hơn. Ngài đã từng thấy cô ta đi chưa? Cô ta đi thế nào thì mặt cô ta cũng thế ấy. Một kẻ lén lút. Lấy đôi mắt làm thí dụ, tôi không nói đến màu mắt, cái ấy cũng có những trò quỷ của nó; tôi nói đến vị trí, đường nét. Khe mi, ngài bảo, là híp và xếch. Nhưng đó chỉ là ngài tưởng vậy thôi. Cái đánh lừa ngài là epikanthus, tức một biến thể thấy ở một số chủng tộc nhất định, ở chỗ một phần da thừa, do sống mũi bẹt của những người ấy mà ra, từ nếp phủ của mí mắt kéo xuống qua góc trong của mắt. Kéo căng lớp da trên chân mũi lên, là ngài sẽ có một con mắt hoàn toàn giống mắt người như chúng ta. Vậy là một sự ngụy tạo khá cay độc, mà nói cho cùng cũng chẳng vẻ vang gì; bởi xét dưới ánh sáng cho kỹ, epikanthus rốt cuộc là một dạng đình trệ phát triển mang tính thoái tổ.“

„Ra là thế“, Hans Castorp nói. „Tôi không biết điều đó, nhưng từ lâu tôi vẫn quan tâm muốn hiểu những đôi mắt như thế rốt cuộc là thế nào.“

„Lừa phỉnh, đánh lừa“, ông Cố vấn khẳng định. „Cứ đơn giản vẽ nó xếch và híp là ngài hỏng bét. Ngài phải tạo ra cái xếch và cái híp ấy theo đúng cách mà tự nhiên tạo ra chúng, phải dựng ảo giác ở trong lòng ảo giác, có thể nói như vậy, và dĩ nhiên muốn thế thì phải biết rõ về epikanthus. Biết bao giờ cũng chẳng hại gì. Hãy nhìn lớp da này đi, lớp da thân thể ở đây. Theo ngài, nó có cụ thể hiển hiện không, hay cũng không đến nỗi cụ thể hiển hiện lắm?“

„Kinh khủng,“ Hans Castorp nói, „kinh khủng là nó được vẽ hiển hiện đến thế, lớp da ấy. Tôi nghĩ mình chưa từng gặp một chỗ da nào được vẽ khéo đến tương tự như vậy. Cứ như nhìn thấy cả lỗ chân lông.“ Rồi chàng khẽ đưa cạnh bàn tay lướt qua phần ngực áo khoét của bức chân dung, một mảng trắng đến nổi bật trên nền đỏ quá mức của gương mặt, giống như một phần thân thể thường không phơi ra ánh sáng, và vì thế, dù hữu ý hay vô tình, gợi lên một cách xấn xổ ý niệm trần lộ, nói cho cùng là một hiệu quả khá thô.

Tuy vậy, lời khen của Hans Castorp là xác đáng. Màu trắng lấp lánh mờ của bộ ngực non nớt nhưng không gầy gò ấy, tan dần vào lớp voan lam nhạt, có rất nhiều vẻ tự nhiên; hiển nhiên nó được vẽ bằng cảm giác, nhưng bất chấp một thứ ngọt lịm nào đó tỏa ra từ đó, người họa sĩ vẫn đã biết cách ban cho nó một kiểu thực tại khoa học và một độ chính xác sống động. Ông đã tận dụng tính chất hạt của mặt vải để khiến nó, nhất là ở vùng hai xương quai xanh hơi nhô lên thanh mảnh, hiện ra xuyên qua lớp sơn dầu như sự gợn không đều tự nhiên của bề mặt da. Một nốt ruồi nhỏ bên trái, ở chỗ bầu ngực bắt đầu phân đôi, cũng không bị bỏ qua, và giữa hai gò nhô người ta tưởng như thấy thấp thoáng những đường gân xanh nhạt. Dường như dưới cái nhìn của người xem có một rùng mình cực khẽ của sự mẫn cảm lướt qua vẻ trần trụi này; liều mà nói: người ta gần như có thể tưởng tượng mình cảm thấy cả mồ hôi, cả làn hơi sống vô hình của thứ xác thịt ấy, như thể nếu chẳng hạn áp môi lên đó, người ta sẽ không ngửi thấy mùi sơn và véc-ni, mà là mùi của thân thể con người. Với tất cả những điều này, chúng tôi chỉ lặp lại các ấn tượng của Hans Castorp; nhưng nếu chàng đặc biệt sẵn sàng tiếp nhận những ấn tượng như vậy, thì về mặt khách quan vẫn phải xác nhận rằng phần ngực áo hở của Frau Chauchat quả là chỗ hội họa đáng chú ý nhất, hơn xa mọi thứ khác, trong mấy gian phòng này.

Ông Cố vấn Behrens, hai tay đút túi quần, đong đưa trên gót và mũi chân, vừa cùng các vị khách ngắm công việc của mình.

„Mừng lắm, thưa ông đồng nghiệp,“ ông nói, „mừng là điều ấy đối với ngài có sức thuyết phục. Quả đúng là tốt, và chẳng thể nào hại được, nếu người ta cũng biết đôi chút về phía dưới biểu bì và có thể vẽ cùng cả cái không trông thấy được, nói cách khác: nếu người ta còn đứng với tự nhiên trong một quan hệ nào khác ngoài cái quan hệ thuần trữ tình, ta cứ tạm nói thế đi; nếu, chẳng hạn, người ta kiêm luôn bác sĩ, nhà sinh lý học, nhà giải phẫu học, và lại còn có những hiểu biết kín đáo riêng về cả phần Dessous nữa, thì điều ấy có thể có lợi, ngài muốn nói sao thì nói, quả tình nó tạo cho người ta một ưu thế. Cái da thân thể kia có khoa học trong đó, ngài có thể đem kính hiển vi mà xét sự chuẩn xác hữu cơ của nó. Ở đó ngài không chỉ thấy tầng nhầy và tầng sừng của biểu bì, mà phía dưới còn được nghĩ tới cả mô chân bì với những tuyến bã, tuyến mồ hôi, mạch máu và các nhú nhỏ, và phía dưới nữa lại là lớp mỡ dưới da, lớp đệm, ngài hiểu chứ, cái nền tảng mà với vô số tế bào mỡ của nó làm nên những đường nét nữ tính khả ái. Nhưng cái gì được biết cùng và được nghĩ cùng, thì cũng cất tiếng cùng. Nó chảy vào tay ngài và phát huy tác dụng, không ở đó mà theo một cách nào đó vẫn ở đó, và chính điều ấy tạo ra tính hiển hiện.“

Hans Castorp hăng hái bừng bừng trước câu chuyện này, trán chàng ửng đỏ, mắt chàng sáng lên vì nhiệt tình, chàng không biết trước hết phải đáp lại điều gì, bởi chàng có nhiều điều muốn nói. Thứ nhất, chàng định dời bức tranh khỏi bức tường cửa sổ tối sẫm sang một chỗ thuận lợi hơn; thứ hai, chàng nhất quyết muốn bám vào những lời ông Cố vấn nói về bản chất của da, điều đang khiến chàng quan tâm khẩn thiết; nhưng thứ ba, chàng còn muốn thử bày tỏ một ý nghĩ chung và có tính triết học của riêng mình, cũng hết sức hệ trọng đối với chàng. Trong khi đã đặt tay vào bức chân dung để tháo nó xuống, chàng hấp tấp cất lời:

„Phải, phải! Rất hay, điều ấy quan trọng lắm. Tôi muốn nói rằng... tức là, ông Cố vấn vừa nói: ‘Còn trong một quan hệ khác nữa.’ Sẽ là điều tốt nếu ngoài quan hệ trữ tình, tôi nghĩ là ông đã nói thế, ngoài quan hệ nghệ thuật, còn có một quan hệ khác nữa, nếu nói vắn lại người ta còn nắm bắt sự vật từ một góc nhìn khác, chẳng hạn từ góc nhìn y học. Điều ấy đúng một cách lớn lao, xin ông Cố vấn thứ lỗi, ý tôi là sở dĩ nó đúng đến xuất sắc như vậy là vì ở đây thực ra hoàn toàn không phải những quan hệ và những góc nhìn khác biệt về căn bản, mà nói cho thật chính xác thì bao giờ cũng vẫn chỉ là cùng một quan hệ ấy thôi, chỉ là những biến thức của nó, ý tôi là: những sắc độ, vậy tức là: những biến tấu của cùng một mối quan tâm phổ quát ấy, mà ngay cả sự bận tâm nghệ thuật cũng chỉ là một bộ phận và một sự biểu lộ của nó, nếu tôi có thể nói vậy. Vâng, xin thứ lỗi, tôi tháo bức tranh xuống đây, ở đây hoàn toàn chẳng có lấy ánh sáng, ông sẽ thấy, tôi mang nó sang phía đi-văng một chút, biết đâu ở đó nó lại chẳng khác hẳn... Điều tôi muốn nói là: khoa học y học bận tâm đến cái gì? Dĩ nhiên tôi không hiểu gì về nó, nhưng chẳng phải nó bận tâm đến con người sao. Còn luật học, việc lập pháp và xét xử? Cũng là con người. Và ngữ văn học, thứ phần lớn đi liền với việc hành nghề sư phạm? Và thần học, việc chăm sóc linh hồn, chức phận mục tử tinh thần? Tất cả đều là con người, tất cả chỉ là những sắc độ khác nhau của cùng một mối quan tâm quan trọng và... chủ yếu, tức là mối quan tâm đến con người, tóm một lời, đó là những nghề nhân văn, và nếu người ta muốn học chúng, thì trước hết người ta lấy các ngôn ngữ cổ làm cơ sở, phải không nào, để rèn luyện về mặt hình thức, như người ta nói. Có lẽ ông lấy làm lạ vì tôi nói như vậy, vì tôi chỉ là dân thực nghiệp, kỹ thuật. Nhưng mới hôm nọ, trong lúc nằm, tôi đã nghĩ về chuyện đó: quả là tuyệt hảo, một sự sắp đặt tuyệt hảo của đời, khi người ta đặt nền cho mọi loại nghề nhân văn ở phần hình thức, ở ý niệm về hình thức, về hình thức đẹp, ông hiểu chứ, điều ấy mang vào sự việc một cái gì cao quý và dư dật, mà ngoài ra còn một cái gì thuộc về cảm tình và... lễ độ nữa, mối quan tâm nhờ thế gần như đã trở thành một thứ mối bận tâm phong nhã... Nghĩa là rất có thể tôi diễn đạt không thích hợp, nhưng ở đó người ta thấy cái tinh thần và cái đẹp hòa lẫn với nhau ra sao và thực ra từ lâu vốn đã là một, nói cách khác: khoa học và nghệ thuật, và vì vậy sự bận tâm nghệ thuật dứt khoát cũng thuộc vào đó, như thể một phân khoa thứ năm, rằng tự nó nó cũng chẳng là gì khác ngoài một nghề nhân văn, một sắc độ của mối quan tâm nhân văn, bởi lẽ đề tài hay mối bận tâm quan trọng nhất của nó rốt cuộc cũng lại là con người, điều ấy hẳn ông sẽ thừa nhận cho tôi. Quả thực nếu thuở trẻ thỉnh thoảng tôi có thử sức theo hướng này, thì tôi cũng chỉ vẽ tàu bè với nước mà thôi, nhưng cái hấp dẫn nhất trong hội họa, trước mắt tôi, vẫn cứ là chân dung, bởi nó trực tiếp lấy con người làm đối tượng, bởi thế tôi mới hỏi ngay liệu ông Cố vấn có hoạt động trong lĩnh vực ấy nữa chăng... Ở đây, bây giờ, chẳng phải treo thế này sẽ thuận hơn lên đáng kể sao?“

Cả hai, Behrens cũng như Joachim, đều nhìn chàng như thể chính chàng phải lấy làm xấu hổ về những điều mình vừa ứng khẩu thao thao ra đó. Nhưng Hans Castorp quá mải với câu chuyện để mà lúng túng. Chàng áp bức tranh vào bức tường cạnh đi-văng và đòi một câu trả lời xem ở đó có phải ánh sáng khá hơn lên nhiều không. Cùng lúc ấy, cô hầu gái mang vào trên một cái khay nước nóng, một đèn cồn và các tách cà phê. Ông Cố vấn ra hiệu cho cô vào phòng trong và nói:

„Thế thì thực ra ngài không nên quan tâm đến hội họa nhiều đến thế, mà trước hết phải quan tâm đến điêu khắc mới phải... Ừ, ở đó dĩ nhiên sáng hơn. Nếu ngài nghĩ là nó chịu được ngần ấy ánh sáng... Tôi nói là điêu khắc, bởi nghệ thuật ấy, rốt cuộc, xử lý con người nói chung một cách thuần khiết và độc hữu nhất. Nhưng coi chừng kẻo nước sôi cạn mất.“

„Rất đúng, điêu khắc“, Hans Castorp nói, trong khi họ đi sang bên kia, và quên khuấy không treo bức tranh lại hay đặt nó xuống: chàng cứ mang theo, xách nó bên chân sang căn phòng kề bên. „Chắc chắn, một pho Venus Hy Lạp hay một lực sĩ nào đó, ở đó cái nhân văn hẳn hiện ra rõ nhất, xét kỹ thì có lẽ đó mới là điều đúng, là hình thức nghệ thuật đích thực nhân văn.“

„À, còn như cô Chauchat nhỏ bé kia“, ông Cố vấn nhận xét, „thì dẫu sao đó hẳn vẫn là một đối tượng của hội họa hơn, tôi nghĩ Phidias, hay ông kia có cái đuôi tên kiểu Mô-sê ấy, hẳn đã phải chun mũi trước loại nhân dạng của cô ta... Mà ngài làm gì thế, mang mãi cái bức toan ấy theo làm gì vậy?“

„Cảm ơn, trước hết tôi dựng nó đây vào chân ghế tôi, thế là lúc này nó đứng cũng ổn rồi. Nhưng các nhà điêu khắc Hy Lạp lại chẳng mấy bận tâm đến cái đầu, họ cốt ở thân thể, biết đâu chính đó mới là cái nhân văn... Còn điêu khắc nữ thể, vậy tức là mỡ sao?“

„Là mỡ đấy!“ ông Cố vấn nói dứt khoát; ông đã mở một tủ tường có khóa và lấy ra từ đó bộ đồ pha cà phê: một chiếc cối xay Thổ Nhĩ Kỳ hình ống, cái ca nấu cán dài, chiếc đồ đựng đôi dành cho đường và cà phê xay, tất cả đều bằng đồng thau. „Palmitin, Stearin, Oleïn“, ông nói và đổ hạt cà phê từ một hộp thiếc vào cối xay, rồi bắt đầu quay tay quay. „Các ông thấy đấy, tôi tự làm mọi thứ, từ đầu chí cuối, như vậy uống ngon gấp đôi. Thế ngài tưởng là gì? Tưởng là thần thực à?“

„Không, tự tôi cũng đã biết rồi. Chỉ có điều nghe nói ra như vậy thì lạ lắm“, Hans Castorp đáp.

Họ ngồi ở góc giữa cửa ra vào và cửa sổ, quanh một chiếc đôn tre có mặt đồng thau chạm trổ hoa văn phương Đông, trên đó bộ đồ cà phê đã tìm được chỗ bên cạnh các vật dụng hút thuốc: Joachim ngồi cạnh Behrens trên chiếc đi-văng trải đầy gối lụa, còn Hans Castorp trong một chiếc ghế bành kiểu câu lạc bộ có bánh xe, dựa chân dung Frau Chauchat vào đó. Dưới chân họ là một tấm thảm sặc sỡ. Ông Cố vấn xúc cà phê và đường vào chiếc ca cán dài, đổ thêm nước rồi đun thức uống trên ngọn lửa đèn cồn. Chất nước sủi bọt nâu trong những chiếc tách con bụng phình, và khi nhấp thử thì tỏ ra vừa đậm vừa ngọt.

„Của ngài cũng thế thôi“, Behrens nói. „Điêu khắc của ngài, nếu còn có thể nói đến thứ ấy, dĩ nhiên cũng là mỡ, tuy không đến mức như ở đàn bà. Ở hạng chúng ta, thường thì mỡ chỉ chiếm phần hai mươi trọng lượng thân thể, còn ở đàn bà là phần mười sáu. Không có mô tế bào dưới da thì tất cả chúng ta chỉ là những cây nấm nhăn nhúm. Theo năm tháng nó cũng hao đi, rồi thành ra những nếp nhăn xấu xí ai cũng biết. Nó dày và béo nhất ở ngực phụ nữ và ở bụng, ở đùi trên, tóm lại là ở khắp những chỗ có đôi chút đáng kể đối với tim và tay. Cả ở lòng bàn chân nữa, nó cũng béo và dễ nhột.“

Hans Castorp xoay chiếc cối xay cà phê hình ống trong hai bàn tay. Cũng như toàn bộ bộ đồ, nó hẳn có nguồn gốc Ấn Độ hay Ba Tư hơn là Thổ Nhĩ Kỳ: phong cách những nét chạm khắc trên đồng thau, với các mảng bóng nổi lên khỏi nền mờ, cho thấy điều đó. Hans Castorp ngắm nghía các họa tiết mà lúc đầu chưa tài nào hiểu ra được. Đến khi chàng hiểu ra thì chàng bỗng đỏ bừng mặt.

„Vâng, đó là một bộ đồ dành cho các ông độc thân“, Behrens nói. „Bởi vậy tôi mới cất nó trong tủ khóa, ngài hiểu chứ. Nàng tiên bếp núc của tôi có thể làm hỏng mắt vì nó mất. Còn các ngài thì chắc sẽ chẳng hề hấn gì. Tôi được một bệnh nhân tặng cho đấy, một nàng công chúa Ai Cập, người đã ban cho chúng tôi vinh hạnh được lưu lại đây chừng một năm. Ngài thấy đấy, mô-típ ấy lặp lại trên từng món một. Khôi hài chứ hả?“

„Vâng, quả là kỳ lạ“, Hans Castorp đáp. „À không, tất nhiên đối với tôi thì chẳng sao. Thậm chí người ta còn có thể nhìn nó một cách nghiêm trang và long trọng nữa, nếu muốn, mặc dầu rốt cuộc trên một bộ đồ cà phê thì nó không hẳn đúng chỗ lắm. Người xưa nghe đâu đôi khi cũng đặt những thứ như thế trên quan tài của họ. Cái dâm tục và cái thiêng liêng đối với họ, trên một nghĩa nào đó, là một và cùng một điều.“

„À, còn như nàng công chúa ấy“, Behrens nói, „thì theo tôi, nàng thiên về cái trước hơn. Mà tôi còn có những điếu thuốc lá rất đẹp của nàng nữa, thứ đặc biệt hảo hạng, chỉ đem ra trong những dịp thật nhất lưu thôi.“ Và ông lấy từ tủ tường ra chiếc hộp sặc sỡ chói mắt để mời. Joachim khép hai gót chân lại mà từ chối. Hans Castorp đưa tay nhận và châm hút điếu thuốc khác thường ấy, lớn và bè, trang trí hình một tượng Nhân Sư in vàng, quả thật tuyệt diệu.

„Xin ông kể cho chúng tôi nghe thêm đôi điều về da đi“, chàng nài, „nếu ông vui lòng, thưa ông Cố vấn!“ Chàng đã lại cầm lấy chân dung Frau Chauchat, đặt nó lên đầu gối và ngắm nhìn, lưng ngả trong ghế, điếu thuốc giữa môi. „Không hẳn là về lớp mỡ dưới da, chuyện ấy bây giờ ta đã rõ rồi. Mà là về da người nói chung, thứ mà ông biết vẽ giỏi đến thế kia.“

„Về da à? Ngài quan tâm đến sinh lý học sao?“

„Rất! Vâng, điều đó thì từ xưa tới nay tôi vẫn quan tâm ở mức cao nhất. Thân thể con người, đối với cái đó tôi luôn luôn có một cảm quan đặc biệt mạnh. Đôi khi tôi cũng đã tự hỏi liệu mình có lẽ không nên trở thành bác sĩ, theo một nghĩa nào đó, tôi tin là nghề ấy hẳn cũng khá hợp với tôi. Bởi ai quan tâm đến thân thể thì cũng quan tâm đến bệnh tật, mà thậm chí nhất là đến bệnh tật nữa, chẳng phải thế sao? Vả lại chuyện ấy cũng không nói lên bao nhiêu, tôi đã có thể trở thành nhiều thứ khác nhau. Chẳng hạn, tôi cũng đã có thể trở thành một người làm nghề tinh thần.“

„Ồ?“

„Vâng, đôi khi, trong một quãng nào đó, tôi đã thật sự có cảm giác như thể chính ở nghề ấy tôi mới hoàn toàn ở đúng nguyên tố của mình.“

„Thế sao ngài lại thành kỹ sư?“

“Do ngẫu nhiên. Có lẽ chính những hoàn cảnh bên ngoài, nhiều ít thế nào đó, đã nghiêng cán cân về phía ấy.”

“À, về làn da ư? Tôi còn biết kể gì với ngài về cái tầng giác quan của ngài nữa đây. Đó là bộ óc bên ngoài của ngài, hiểu chứ, về mặt phát sinh cá thể nó hoàn toàn cùng một nguồn gốc với bộ máy của những cơ quan gọi là giác quan cao cấp kia ở trong hộp sọ ngài: phải biết rằng hệ thần kinh trung ương chẳng qua chỉ là một sự biến đổi nhẹ của lớp da ngoài mà thôi, và ở những loài vật bậc thấp, thì sự phân biệt giữa trung ương với ngoại vi còn chưa hề có nữa kia, ngài cứ hình dung đi, chúng ngửi và nếm bằng da, nói cho đúng, chúng chỉ có mỗi cảm tính của da thôi, mà nếu thử đặt mình vào đó thì hẳn hòan toàn dễ chịu. Còn ở những sinh vật phân hóa cao độ như ngài và tôi, thì tham vọng của làn da chỉ còn co lại trong tính nhột nhạt, ở đó nó chỉ còn là cơ quan bảo vệ và báo tin, nhưng lại canh chừng ghê gớm trước mọi thứ muốn xáp lại quá gần thân thể, thậm chí nó còn vươn cả những bộ máy xúc giác ra ngoài mình nữa, tức là lông, những sợi lông trên thân thể, vốn chỉ gồm các tế bào da đã sừng hóa, và khiến người ta cảm thấy sự tiếp cận ngay trước khi chính da thịt bị chạm tới. Giữa chúng ta mà nói, thậm chí cũng có thể nghề nghiệp bảo vệ và phòng ngự của làn da không chỉ giới hạn trong phương diện thân xác... Ngài có biết tại sao mình đỏ mặt và tái đi không?”

“Không thật chính xác.”

“Vâng, nói thật thì chính chúng tôi cũng không biết thật chính xác, ít nhất là về chuyện đỏ mặt vì xấu hổ. Sự việc chưa được soi tỏ hoàn toàn, vì cho tới nay vẫn chưa chứng minh được ở các mạch máu có những cơ giãn mà các dây thần kinh vận mạch có thể làm cho hoạt động. Tại sao mào gà trống lại sưng lên, nói hạn như thế, hay người ta còn có thể viện ra những ví dụ phô trương nào khác nữa, ấy là điều, có thể nói, vẫn còn bí nhiệm, nhất là vì ở đây lại là tác động tâm lý. Chúng tôi giả định có những mối liên hệ giữa vỏ đại não và trung tâm mạch máu trong hành não. Và rồi dưới những kích thích nhất định, thí dụ như: ngài xấu hổ đến cùng cực, thì mối liên hệ ấy hoạt động, các dây thần kinh mạch máu hướng lên mặt cũng hoạt động, và thế là những mạch máu ở đó giãn ra, đầy lên, khiến ngài có cái đầu như một con gà tây, sưng phồng máu lên tít cả, đến nỗi chẳng còn trông thấy gì nữa. Trái lại, trong những trường hợp khác, Chúa mới biết điều gì đang chờ ngài, có lẽ là một điều đẹp đẽ nguy hiểm hết sức, thì các mạch máu của da co lại, làn da tái lạnh và hõm xuống, lúc ấy nom ngài như một cái xác chết vì xúc động quá độ, với những hốc mắt màu chì và chiếc mũi trắng nhọn. Nhưng tim thì hệ giao cảm lại khiến cho đánh trống rộn lên hẳn hoi.”

“Thì ra là vậy,” Hans Castorp nói.

“Đại khái vậy. Đó là những phản ứng, hiểu chứ. Nhưng vì mọi phản ứng và phản xạ, tự trong căn nguyên, đều có một mục đích, nên chúng tôi, những nhà sinh lý học, gần như đoán rằng cả những hiện tượng đi kèm các xúc cảm tâm lý ấy nữa, kỳ thực cũng là những phương tiện bảo vệ hữu ích, những phản xạ phòng ngự của cơ thể, giống như nổi da gà. Ngài có biết vì sao mình nổi da gà không?”

“Cũng không được rõ lắm.”

“Ấy là một công việc của các tuyến bã nhờn của da, vốn tiết ra chất nhờn da, một thứ dịch béo có chứa đạm, ngài hiểu chứ, chẳng lấy gì làm ngon lành, nhưng nó giữ cho da mềm mại, để khỏi khô mà nứt nẻ, lại khiến sờ vào thấy dễ chịu, chứ thử nghĩ mà xem, làn da người sẽ ra sao dưới tay chạm tới nếu không có lớp nhờn cholesterol ấy. Những tuyến xức dầu cho da ấy có những cơ hữu cơ nhỏ có thể dựng các tuyến lên, và khi chúng làm thế, thì da ngài sẽ thành như cái bàn nạo, giống hệt cậu bé bị nàng công chúa dội cả xô cá bống lên người; và nếu kích thích mạnh, thì cả các nang lông cũng dựng lên nữa, tóc trên đầu ngài dựng đứng, lông trên thân mình cũng dựng lên như con nhím đang tự vệ, và ngài có thể nói rằng mình đã học biết thế nào là rùng mình kinh hãi.”

“Ồ, tôi,” Hans Castorp nói, “tôi thì đã học điều đó đôi lần rồi. Thậm chí tôi còn dễ rùng mình lắm, trong đủ mọi dịp khác nhau. Điều làm tôi ngạc nhiên chỉ là các tuyến ấy lại dựng lên trong những dịp khác nhau đến thế. Khi ai đó lấy bút nhọn miết lên mặt kính, người ta nổi da gà, mà gặp một bản nhạc đặc biệt đẹp thì cũng đột nhiên nổi da gà, và hồi tôi làm lễ kiên tín, lúc nhận Tiệc Thánh, thì cứ cơn này tiếp cơn khác, cái rờn rợn và tê ran chẳng chịu dứt ra. Thật lạ lùng khi biết bao thứ có thể làm những cơ nhỏ bé ấy chuyển động.”

“Vâng,” Behrens nói, “kích thích là kích thích. Cơ thể cóc cần biết nội dung của kích thích là gì. Cá bống hay Tiệc Thánh thì các tuyến bã cũng cứ dựng lên thôi.”

“Herr Hofrat,” Hans Castorp nói và nhìn bức tranh trên đầu gối mình, “điều tôi còn muốn trở lại. Khi nãy ngài có nói đến những quá trình nội tại, sự vận động của bạch huyết và những thứ tương tự... Chuyện ấy ra sao? Tôi muốn được nghe thêm về nó, chẳng hạn về sự vận động của bạch huyết, nếu ngài có nhã ý, vì nó làm tôi hết sức quan tâm.”

“Tôi tin lắm chứ,” Behrens đáp. “Bạch huyết, ấy là cái tinh vi nhất, kín nhiệm nhất và mảnh mai nhất trong toàn bộ cơ nghiệp thân xác, hẳn đại khái khi hỏi ngài cũng đã mường tượng như thế rồi. Người ta cứ luôn nói tới máu và những bí nhiệm của nó, và gọi nó là một thứ dịch đặc biệt. Nhưng bạch huyết mới thực là dịch của dịch ấy, là tinh chất, hiểu chứ, sữa của máu, một thứ giọt lỏng hết sức diệu nhã, mà nhân tiện nói thêm, sau bữa ăn nhiều mỡ thì quả tình nó trông như sữa thật.” Rồi, trong một tâm trạng phấn khởi và với giọng kể như thành ngữ cửa miệng, ông bắt đầu mô tả việc máu, thứ nước canh mỡ, đạm, sắt, đường và muối đỏ như áo choàng sân khấu, được chuẩn bị nhờ hô hấp và tiêu hóa, bão hòa khí và chất đầy cặn bã thải, bị bơm tim ép qua các mạch máu ở nhiệt độ ba mươi tám độ, và ở khắp cơ thể duy trì sự trao đổi chất, nhiệt sống động vật, nói gọn bằng một lời, là cái sự sống thân yêu, như thế nào; ông nói tiếp rằng máu không đến gần trực tiếp các tế bào, mà áp lực nó mang khiến một thứ chất chiết và nhũ dịch từ nó rịn qua thành mạch và bị ép vào các mô, nhờ đó thấm tới mọi nơi, với tư cách là dịch mô mà lấp đầy mọi khe nhỏ, làm cho mô tế bào đàn hồi giãn ra và căng lên. Ấy là sức căng của mô, là turgor, và chính turgor ấy đến lượt mình lại khiến bạch huyết, sau khi đã dịu dàng tắm rửa các tế bào và trao đổi vật chất với chúng, bị đẩy vào các mạch bạch huyết, _vasa lymphatica_, rồi chảy trở lại vào máu, mỗi ngày chừng một lít rưỡi. Ông mô tả hệ thống ống dẫn và mạch hút của các mạch bạch huyết, nói về ống sữa ngực, nơi thu góp bạch huyết của chân, bụng và ngực, của một cánh tay và một bên đầu, rồi nói về những cơ quan lọc mảnh mai, được hình thành ở nhiều nơi trong các mạch bạch huyết, gọi là các hạch bạch huyết, nằm ở cổ, ở nách, ở các khớp khuỷu tay, ở khoeo chân và ở những nơi thân thể kín nhiệm, dịu mảnh tương tự. “Ở đó có thể xảy ra những chỗ sưng,” Behrens giải thích, “và hẳn chúng ta đã khởi đi từ đó rồi kia mà, những chỗ dày lên của hạch bạch huyết, cứ nói thí dụ: ở khoeo chân và khớp tay, những khối sưng giống phù thũng đây đó, và bao giờ cũng có một nguyên nhân của nó, dẫu chẳng phải là nguyên nhân đẹp đẽ gì cho cam. Trong những trường hợp nhất định, người ta gần như không thể không đi đến mối ngờ vực về sự tắc nghẽn mạch bạch huyết do lao.”

Hans Castorp im lặng. “Vâng,” sau một quãng nghỉ chàng khẽ nói, “đúng thế, hẳn tôi đã có thể trở thành bác sĩ rất khá. Ống sữa ngực... Bạch huyết của chân... Điều ấy làm tôi hết sức quan tâm. Thân thể là gì!” chàng bỗng kêu lên, bùng vỡ dữ dội. “Xác thịt là gì! Tấm thân con người là gì! Nó gồm những gì! Chiều nay xin ngài nói cho chúng tôi biết điều ấy, Herr Hofrat! Xin hãy nói một lần dứt khoát và chính xác, để chúng tôi biết!”

“Nước,” Behrens đáp. “Vậy ra ngài cũng quan tâm đến hóa học hữu cơ nữa? Cái thân người theo lối nhân văn ấy phần lớn là nước, không hơn mà cũng không kém, chẳng có lý do gì phải kích động. Phần chất khô chỉ chiếm hai mươi lăm phần trăm, và trong đó hai mươi phần trăm là lòng trắng trứng gà thông thường, chất protein, nếu ngài muốn nói sang hơn một chút, mà thực ra cũng chỉ được thêm vào chút mỡ với muối, gần như thế là hết.”

“Nhưng lòng trắng trứng gà ấy là cái gì?”

“Đủ thứ nguyên tố cơ bản. Carbon, hydro, nitơ, oxy, lưu huỳnh. Đôi khi cả phosphor nữa. Ngài đang bộc lộ một lòng ham biết hơi quá đà đấy. Một số chất đạm còn kết hợp với hydrat carbon, tức là với đường nho và tinh bột. Về già, thịt trở nên dai, ấy là vì collagen trong mô liên kết tăng lên, thứ keo ấy, hiểu chứ, thành phần quan trọng nhất của xương và sụn. Tôi còn phải kể gì cho ngài nữa đây? Trong huyết tương cơ, chúng ta có một chất đạm là myosinogen, khi chết sẽ đông lại thành fibrin cơ và gây ra sự cứng đờ tử thi.”

“À ra, sự cứng đờ tử thi,” Hans Castorp vui vẻ nói. “Rất hay, rất hay. Rồi đến cuộc tổng phân tích, môn giải phẫu của nấm mồ.”

“À, dĩ nhiên. Mà câu ấy cậu nói hay lắm đấy. Rồi sự việc sẽ trở nên rộng dài. Người ta chảy tan ra, có thể nói thế. Hãy nghĩ đến ngần ấy nước! Và những thành phần khác, nếu không còn sự sống, thì cũng ít bền lắm, chúng bị sự thối rữa phân giải thành những hợp chất đơn giản hơn, thành những chất vô cơ.”

“Thối rữa, phân hủy,” Hans Castorp nói, “ấy là sự cháy, sự kết hợp với oxy, theo như tôi biết.”

“Đúng một cách đáng ngạc nhiên. Oxy hóa.”

“Còn sự sống?”

“Cũng thế. Cũng thế, chàng trai ạ. Cũng là oxy hóa. Sự sống, về cơ bản, cũng chỉ là sự đốt cháy bằng oxy của chất đạm tế bào, từ đó mà ra cái nhiệt sống động vật tuyệt đẹp, thứ mà đôi khi người ta có hơi quá nhiều. Phải, sống là chết, chuyện ấy chẳng có mấy gì để tô hồng, _une destruction organique_, như một gã Pháp nào đó, trong sự khinh khoái bẩm sinh của giống nòi hắn, đã có lần gọi như vậy. Mà nó cũng bốc mùi như thế đấy, đời sống. Nếu nó hiện ra với ta khác đi, thì phán đoán của ta đã bị mua chuộc.”

“Và nếu người ta quan tâm đến sự sống,” Hans Castorp nói, “thì trước hết người ta quan tâm đến cái chết. Chẳng phải thế sao?”

“À, dầu sao ở đó vẫn còn một kiểu khác biệt nào đó. Sự sống là khi, giữa vòng thay đổi của vật chất, hình thể vẫn được giữ nguyên.”

“Giữ nguyên hình thể để làm gì chứ,” Hans Castorp nói.

“Để làm gì ư? Nghe đây, điều cậu nói chẳng nhân văn chút nào cả.”

“Hình thể là ete-pe-tete.”

“Hôm nay cậu quả có cái gì rất muốn xông tới. Thật đúng là một thứ tháo cũi sổ lồng. Nhưng bây giờ thì tôi đuối rồi,” vị Hofrat nói. “Bây giờ tôi sẽ u sầu đây,” ông nói và đặt bàn tay khổng lồ lên mắt. “Ông thấy đấy, nó cứ ập đến với tôi như thế. Thế là tôi vừa uống cà phê với các cậu, mà thấy ngon miệng, rồi bỗng nhiên nó ập đến, khiến tôi hóa ra u sầu. Giờ thì hai cậu hẳn phải thứ lỗi cho tôi. Với tôi đây là một điều đặc biệt và đã làm tôi thích thú đủ mọi cách...”

Hai người anh em họ đã bật đứng dậy. Họ tự trách mình, họ nói thế, đã giữ Herr Hofrat lâu đến vậy... Ông đưa ra những lời quả quyết trấn an ngược lại. Hans Castorp vội vàng mang bức chân dung của bà Chauchat sang phòng bên và treo lại vào chỗ cũ. Để trở về khu ở của mình, họ không còn đi qua khu vườn nữa. Behrens chỉ đường cho họ xuyên qua tòa nhà, hộ tống họ tới tận cánh cửa kính thông sang. Trong tâm trạng bỗng chốc chụp xuống trên mình ông, cái gáy của ông dường như nhô ra mạnh hơn lệ thường, ông chớp chớp đôi mắt lồi, và bộ ria mép vốn xếch lệch vì cái thói mím một bên môi của ông đã mang một vẻ đáng thương.

Trong khi họ đi qua hành lang và cầu thang, Hans Castorp nói:

“Cậu nhận đi, đó là một ý hay của tớ.”

“Dù sao thì cũng là một sự thay đổi,” Joachim đáp. “Và nhân dịp này, hai người đã bày tỏ với nhau về khá nhiều chuyện, điều ấy phải nói nhận như vậy. Với tớ thì thậm chí có phần hơi quá xô bồ. Giờ thì đã đến lúc, trước bữa trà, ít ra chúng ta cũng còn phải vào chế độ nằm nghỉ hai mươi phút. Có lẽ cậu thấy việc tớ cố giữ chuyện ấy là ete-pe-tete, với cái tính tháo cũi sổ lồng dạo gần đây của cậu. Nhưng rốt cuộc cậu cũng chẳng cần đến nó như tớ.”

Khảo cứu

Thế là điều phải đến đã đến, và điều mà mới cách đây chẳng bao lâu Hans Castorp nào dám mơ mình sẽ trải qua ở đây: mùa đông ập xuống, mùa đông nơi này, cái mùa đông Joachim đã biết rồi, vì mùa đông trước vẫn còn đang ở vào thời kỳ thống trị trọn vẹn khi anh tới đây, nhưng Hans Castorp thì hơi sợ nó, mặc dầu chàng biết mình đã được trang bị thật chu đáo cho việc ấy. Người anh em họ tìm cách trấn an chàng.

“Cậu đừng hình dung nó ghê gớm quá,” anh nói, “không đến nỗi Bắc Cực đâu. Người ta ít cảm thấy lạnh vì không khí khô và gió lặng. Nếu quấn bọc kỹ, có thể ngồi ngoài ban công tới tận khuya mà không rét. Đó là câu chuyện nghịch nhiệt ở trên ranh giới sương mù, càng lên cao lại càng ấm, hồi trước người ta chưa biết điều ấy rõ đến thế. Trái lại, trời mưa mới thật là lạnh. Nhưng giờ thì cậu đã có túi nằm nghỉ rồi, mà khi cần kíp người ta cũng sưởi thêm một chút.”

Nói cho cùng, không thể nói đến chuyện bị mùa đông đánh úp hay cưỡng bức gì cả; mùa đông đến thật nhẹ nhàng, thoạt đầu trông cũng chẳng khác mấy nhiều ngày mà chính giữa mùa hạ từng mang tới. Suốt mấy ngày liền gió nam thổi, nắng đè nặng, thung lũng dường như bị rút ngắn và thắt hẹp lại, những phông nền Alps ở cửa ra nằm gần, trần trụi. Rồi mây kéo lên, từ Piz Michel và Tinzenhorn lấn về phía đông bắc, và thung lũng tối sầm. Rồi mưa nặng hạt. Rồi mưa trở nên không còn thuần nữa, xám trắng, tuyết đã pha vào trong đó, và rốt cuộc chỉ còn là tuyết, thung lũng đầy ắp những cơn tuyết bay mù, mà vì tình trạng ấy kéo dài khá lâu, lại thêm nhiệt độ trong lúc đó hạ xuống đáng kể, nên tuyết không tan đi hết được; nó ướt đẫm, nhưng vẫn nằm lại, thung lũng khoác một tấm áo trắng mỏng, ẩm và tả tơi, trên nền ấy lớp rậm xù lá kim ở các sườn núi hiện đen sẫm; trong phòng ăn, những ống sưởi ấm lên nhè nhẹ. Đó là vào đầu tháng Mười Một, quãng lễ Các Đẳng, và chẳng có gì mới. Cả tháng Tám cũng đã từng như thế, và từ lâu người ta đã thôi xem tuyết như đặc quyền của mùa đông. Lúc nào và dưới bất cứ thời tiết nào, dẫu chỉ từ xa, trước mắt người ta cũng vẫn có tuyết, vì trong các khe nứt và vực đá của dãy Rätikon tưởng như án ngữ trước cửa thung lũng luôn luôn ánh lên những vết tích và tàn dư của nó, và những uy nghi núi non xa nhất ở phương nam vẫn luôn từ trong tuyết mà chào sang. Nhưng cả hai sự ấy đều kéo dài: tuyết rơi và sự hạ nhiệt. Trời treo thấp và xám nhợt trên thung lũng, rồi tan ra thành những bông tuyết rơi xuống, lặng lẽ, không ngớt, dồi dào đến quá đáng và hơi gây bất an, và cứ từng giờ một trời lại lạnh thêm. Rồi đến cái sáng Hans Castorp thấy trong phòng mình chỉ còn bảy độ, và sáng hôm sau thì chỉ còn năm. Đó là giá lạnh, và nó vẫn còn trong chừng mực, nhưng nó bám trụ. Ban đêm đã có sương giá, giờ thì ban ngày cũng đóng băng, từ sáng đến tối, trong khi tuyết vẫn rơi tiếp, chỉ ngắt quãng chốc lát, sang ngày thứ tư, thứ năm, rồi ngày thứ bảy. Bấy giờ tuyết tích lại thành những đống lớn, dần dà hóa ra phiền toái. Trên lối công vụ đi tới chiếc ghế băng bên dòng nước, cũng như trên con đường xe xuống thung lũng, người ta đã xúc thành lối đi bộ; nhưng lối ấy hẹp, không thể tránh nhau, gặp nhau là phải bước né sang bờ tuyết và lún đến đầu gối. Một trục lăn tuyết bằng đá, do một con ngựa kéo và một người dắt cương, lăn suốt ngày trên các con đường của khu nghỉ dưỡng dưới kia, còn một cỗ xe trượt tuyết chở khách, màu vàng, dáng dấp cổ lỗ như xe bưu mã miền Franken thuở trước, đằng trước có gắn lưỡi cày tuyết hất những khối trắng sang hai bên, chạy qua lại giữa khu Kurhaus và phần bắc của khu định cư gọi là “Dorf”. Thế giới, cái thế giới chật hẹp, cao và biệt lập của những người trên này, giờ đây hiện ra như được bọc lông và nhồi đệm dày; chẳng có cột hay cọc nào là không đội mũ trắng, các bậc thang lên cổng Berghof biến mất, hóa thành một mặt phẳng nghiêng, những chiếc gối nặng nề, hình thù khôi hài đè trĩu khắp nơi trên cành thông, chỗ này chỗ kia những khối tuyết tuột xuống, tung bụi và trôi đi giữa các thân cây như mây trắng, như sương trắng. Núi non bốn bề phủ tuyết; ở những vùng thấp thì thô ráp, còn những đỉnh nhô lên quá ranh giới cây cối, mỗi ngọn một hình, thì được phủ đậy mềm mại. Trời tối, mặt trời chỉ còn là một vệt sáng nhợt sau màn che. Nhưng tuyết ban cho một thứ ánh sáng gián tiếp và dịu, một độ sáng đục như sữa, rất hợp với cả người lẫn cảnh, tuy dưới những chiếc mũ len trắng hoặc màu, những cái mũi vẫn đỏ ửng.

Trong phòng ăn, trên bảy chiếc bàn, câu chuyện xoay quanh buổi khởi đầu của mùa đông, mùa lớn của miền này. Người ta bảo nhiều du khách và dân thể thao đã tới, làm đông các khách sạn ở “Dorf” và “Platz”. Chiều cao lớp tuyết đổ xuống được ước chừng sáu mươi phân, và chất tuyết thì lý tưởng theo đúng ý người trượt tuyết. Trên đường đua xe trượt bên sườn tây bắc phía kia, từ Schatzalp đổ xuống thung lũng, người ta đang làm việc hăng hái; chỉ mấy ngày nữa là có thể khai trương, với điều kiện gió phơn không phá hỏng tính toán. Người ta háo hức chờ cảnh nhộn nhịp của những kẻ khỏe mạnh, những vị khách từ dưới kia, sắp lại diễn ra nơi đây, chờ những hội thể thao và cuộc đua mà, bất chấp lệnh cấm, người ta vẫn định tới xem bằng cách trốn liệu pháp nằm nghỉ và lẻn đi. Hans Castorp còn nghe nói có một thứ mới, một phát minh từ phương bắc, skikjöring, một cuộc đua trong đó người dự thi đứng trên ván trượt và để ngựa kéo. Chính vì thế mà người ta muốn lẻn đi. Cả chuyện Giáng sinh nữa cũng được nhắc tới.

Giáng sinh ư! Không, Hans Castorp chưa nghĩ tới điều ấy. Chàng đã có thể dễ dàng nói và viết rằng, theo chẩn đoán của bác sĩ, chàng sẽ phải cùng Joachim trải qua mùa đông trên này. Nhưng như giờ đây mới lộ rõ, điều đó đồng thời có nghĩa là chàng sẽ phải sống lễ Giáng sinh ở đây, và điều ấy hẳn nhiên có gì đó đáng sợ đối với lòng người, trước hết là vì, mà cũng không chỉ vì, từ trước tới nay chàng chưa một lần nào trải thời gian ấy ở nơi nào khác ngoài quê nhà, trong lòng gia đình. Thôi thì nhân danh Chúa vậy, giờ đành nhận thế. Chàng đâu còn là trẻ con, Joachim dường như cũng chẳng lấy đó làm điều gì chướng, trái lại cam chịu mà không hề ủy mị, và trên đời này, thử hỏi đã chẳng biết bao nơi, dưới biết bao hoàn cảnh, người ta vẫn từng đón Giáng sinh đó sao!

Dù vậy, chàng vẫn thấy nói đến Giáng sinh trước Chúa nhật đầu Mùa Vọng có phần hấp tấp; dù sao cũng còn hơn sáu tuần nữa mới tới. Nhưng trong phòng ăn, người ta nhảy phắt qua và nuốt gọn sáu tuần ấy, một thủ tục nội tâm mà Hans Castorp vốn cũng đã học biết tự mình vận dụng, tuy chàng chưa quen hành xử nó với một phong cách táo bạo đến vậy như các bạn đồng cư đã ăn chỗ ở đây lâu năm hơn. Những chặng trong vòng quay năm tháng, như lễ Giáng sinh chẳng hạn, đối với họ dường như rất hợp để làm điểm tựa và dụng cụ thể dục, nhờ đó người ta có thể lẹ làng nhào lộn vượt qua những quãng trung gian trống rỗng. Tất cả bọn họ đều có sốt, sự trao đổi chất đều tăng, đời sống thân xác đều được tăng cường và gia tốc, và rốt cuộc có lẽ điều ấy cũng liên quan đến việc họ xua đuổi thời gian vừa nhanh vừa ồ ạt đến thế. Chàng hẳn đã chẳng ngạc nhiên nếu họ xem như Giáng sinh đã qua rồi và lập tức nói sang năm mới cùng mùa hóa trang. Nhưng ở phòng ăn Berghof người ta tuyệt nhiên không phải hạng sống phớt phơ và thiếu đứng đắn đến thế. Tới Giáng sinh thì người ta dừng lại; đó là dịp cho bao nỗi lo toan và nhức đầu. Người ta bàn bạc về món quà chung mà, theo lệ của cơ sở, sẽ được trao cho vị thủ trưởng, Hofrat Behrens, vào đêm thánh, và vì món quà ấy một cuộc quyên góp chung đã được phát động. Năm ngoái người ta đã tặng một chiếc va-li du lịch, theo lời những người đã ở đây hơn một năm truyền lại. Năm nay người ta nói tới một bàn mổ mới, một giá vẽ, một áo lông đi đường, một ghế bập bênh, một ống nghe bằng ngà và theo cách nào đó có “khảm nạm”, còn Settembrini, khi được hỏi, thì tiến cử món quà là một công trình từ điển học được cho là đang thành hình, mang tên “Xã hội học của đau khổ”; nhưng chỉ có mỗi một ông bán sách, mới ngồi vào bàn của bà Kleefeld ít lâu nay, tán thành ông. Vẫn chưa thể đi đến thống nhất. Việc thương lượng với các vị khách Nga gây khó khăn. Cuộc quyên góp bị chia đôi. Nhóm Moskva tuyên bố muốn tự mình biếu quà cho Behrens. Suốt nhiều ngày liền bà Stöhr tỏ ra bồn chồn cực độ về một khoản tiền, mười franc, mà bà đã trót dại ứng trước cho bà Iltis trong đợt quyên góp và người kia “quên” không hoàn lại. Bà ta “quên” đấy, những cách nhấn nhá mà bà Stöhr dồn lên từ ấy có đủ mọi cung bậc, và tất cả đều nhằm bày tỏ một sự không tin sâu sắc nhất vào một thứ quên lãng dường như cứ muốn trơ lì trước mọi ám chỉ và mọi mũi nhắc nhớ tinh tế mà, như bà Stöhr cam đoan, bà đã chẳng hề tiếc. Nhiều lần bà Stöhr đã từ bỏ và tuyên bố biếu luôn cho bà Iltis số tiền người kia còn nợ. “Vậy là tôi trả cho cả tôi lẫn bà ta,” bà nói, “được thôi, nỗi nhục ấy không phải của tôi!” Nhưng rốt cuộc bà đã nghĩ ra một lối thoát, và báo cho cả bàn ăn biết trong tiếng cười rộ: bà lĩnh mười franc ấy từ “ban quản trị” rồi tính vào sổ của bà Iltis, thế là bà con nợ ì ạch kia đã bị lừa cho một vố, và ít nhất vụ này cũng đã được sòng phẳng.

Rồi tuyết ngừng rơi. Từng lúc bầu trời mở ra; những đám mây xanh xám tách khỏi nhau để lọt xuống những cái nhìn của nắng, nhuộm phong cảnh thành một màu xanh biếc nhạt. Sau đó trời quang hẳn. Giá rét trong trẻo ngự trị, vẻ huy hoàng mùa đông tinh sạch, vững bền giữa tháng Mười Một, và toàn cảnh sau những vòm lôgia ban công, những khu rừng phủ phấn, những khe núi được lấp đầy êm mịn, thung lũng trắng nắng dưới bầu trời tỏa lam quang, thật rực rỡ. Nhất là về tối, khi vầng trăng gần tròn xuất hiện, thế giới như hóa phép và trở nên kỳ diệu. Khắp nơi lấp lánh ánh pha lê, óng ánh như kim cương. Những cánh rừng hiện ra rất trắng và rất đen. Những miền trời xa mặt trăng nằm tối lại, thêu sao chi chít. Từ nhà cửa, cây cối, cột điện báo đổ xuống trên mặt tuyết lấp loáng những cái bóng sắc, chuẩn và đậm, dường như thực hơn, quan trọng hơn cả chính sự vật. Chỉ vài giờ sau lúc mặt trời lặn, đã có bảy tám độ giá. Thế giới dường như bị giam vào một sự tinh khiết băng giá, cái nhơ bẩn tự nhiên của nó bị phủ lấp và đông cứng trong giấc mộng của một ma thuật tử vong kỳ ảo.

Hans Castorp ở lại trong lôgia ban công của mình phía trên thung lũng mùa đông bị phù phép cho tới khuya, lâu hơn Joachim rất nhiều; Joachim rút vào lúc mười giờ, hay ít ra cũng không muộn hơn bao nhiêu. Chiếc ghế nằm tuyệt hảo của chàng, với tấm đệm ba khúc và cái gối cổ, được kéo sát lan can gỗ, nơi một dải tuyết đắp thành vệt gối dài; trên chiếc bàn con màu trắng bên cạnh, ngọn đèn điện vẫn sáng và, bên một chồng sách, đặt một cốc sữa béo, phần sữa tối mà người ta mang lên phòng cho mọi cư dân Berghof vào lúc chín giờ, và Hans Castorp rót vào đó một chút cognac để làm cho nó dễ uống hơn. Chàng đã huy động cả mọi phương tiện che chở có thể có chống lại cái lạnh, toàn bộ khí giới. Chui trong chiếc túi lông có cúc mà chàng đã kịp mua ở một cửa hiệu chuyên môn trong khu nghỉ dưỡng, chàng ngập tới tận ngực, và bên ngoài lại quấn theo đúng nghi thức hai tấm chăn lông lạc đà. Ngoài ra, trên bộ đồ mùa đông chàng còn mặc chiếc áo khoác lông ngắn, đầu đội mũ len, chân đi ủng dạ, tay đeo găng lót dày, tuy tất cả những thứ ấy dĩ nhiên vẫn không ngăn nổi các ngón tay tê cứng.

Điều giữ chàng ngoài ấy lâu đến thế, mãi gần nửa đêm rồi quá nửa đêm nữa, khi cặp người Nga tồi tệ ở lôgia bên cạnh đã bỏ đi từ lâu, hẳn cũng là sức mê hoặc của đêm đông, nhất là vì cho tới mười một giờ, trong đó vẫn còn đan dệt tiếng nhạc từ gần và xa vọng lên từ thung lũng, nhưng chủ yếu hơn cả là sự trì trệ và sự hưng động, cả hai cùng lúc và liên kết với nhau: tức sự trì trệ, mệt mỏi chán vận động của thân thể chàng, và sự hưng động bận bịu của tinh thần chàng, thứ tinh thần không chịu yên nghỉ vì một vài cuộc nghiên cứu mới mẻ và lôi cuốn mà người thanh niên đã dấn vào. Thời tiết hành chàng; giá lạnh tác động lên cơ thể chàng như một sức ép mệt nhọc và tiêu hao. Chàng ăn nhiều, tận dụng những bữa ăn đồ sộ ở Berghof, nơi sau món thịt bò quay bày biện lại tiếp đến ngỗng quay, với cái thèm ăn khác thường vốn ở đây là chuyện thường nhật, và như bây giờ cho thấy, vào mùa đông còn hơn cả mùa hè. Đồng thời, chàng bị cơn buồn ngủ chi phối, đến nỗi ban ngày cũng như trong những buổi tối trăng sáng, trên những cuốn sách chàng lật giở, mà chúng tôi sẽ còn nói rõ, chàng thường ngủ gục, rồi sau vài phút vô thức lại tiếp tục việc nghiên cứu của mình. Nói chuyện sôi nổi, mà ở đây chàng ngả vào lối trò chuyện nhanh, không dè giữ, thậm chí táo tợn, hơn hồi còn ở miền thấp, nói chuyện sôi nổi như thế với Joachim trong những quãng đi lại theo lệ giữa tuyết làm chàng kiệt sức ghê gớm; chóng mặt và run rẩy, một cảm giác choáng váng và say sưa ập đến với chàng, đầu chàng nóng bừng. Đường nhiệt của chàng đã nhích lên kể từ khi mùa đông tràn tới, và Hofrat Behrens có buột miệng nói đôi điều về những mũi tiêm mà ông vẫn dùng khi nhiệt độ tăng dai dẳng, những mũi tiêm mà hai phần ba số khách, kể cả Joachim, đều phải đều đặn chịu. Nhưng Hans Castorp nghĩ rằng chính sự tăng cường sản sinh nhiệt trong thân thể chàng hẳn có liên quan đến cái kích động và sự hoạt náo của tinh thần đã giữ chàng, về phần nó, lại trên chiếc ghế nằm giữa đêm giá lấp lánh sâu đến thế. Những gì chàng đọc khiến chàng nghiêng về những lối giải thích như vậy.

Người ta đọc không ít trên những hiên nằm và ban công riêng của dưỡng đường quốc tế Berghof, nhất là những người mới đến và những người chỉ ở ngắn hạn; bởi những kẻ ở đã nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, từ lâu đã học được cách tiêu diệt thời gian cả khi không cần đến sự tiêu khiển và bận rộn của đầu óc, nghĩa là bằng một thứ tài nghệ nội tâm mà đưa thời gian ra sau lưng, vả lại họ còn tuyên bố rằng bám lấy một cuốn sách để làm việc ấy là sự vụng về của phường tập sự. Cùng lắm cứ để một cuốn nằm trên đùi hay trên chiếc bàn con cạnh bên, như thế hoàn toàn đủ để cảm thấy mình đã được trang bị. Thư viện của cơ sở, đa ngữ và giàu sách tranh, chẳng khác nào một kho giải trí mở rộng của phòng đợi nha sĩ, được để cho ai nấy tùy ý sử dụng. Những tập tiểu thuyết từ thư viện cho mượn ở “Platz” vẫn được thay đổi qua lại. Thỉnh thoảng lại xuất hiện một cuốn sách, một tập sách nhỏ nào đó mà người ta tranh nhau, đến nỗi cả những người không còn đọc nữa cũng chỉ với vẻ lãnh đạm giả vờ mới đưa tay xin tới. Vào đúng lúc chúng tôi dừng lại đây, một cuốn sách mỏng in xấu, do Herr Albin mang vào, đang chuyền tay nhau, nhan đề “Nghệ thuật quyến rũ”. Nó được dịch từ tiếng Pháp một cách rất sát chữ, thậm chí cả cú pháp của ngôn ngữ ấy cũng còn được giữ nguyên trong bản dịch, nhờ thế lời văn có thêm nhiều dáng điệu và một vẻ thanh nhã kích thích, đồng thời triển khai triết lý về ái tình xác thịt và nhục lạc trong tinh thần của một thứ ngoại giáo từng trải, thân đời. Bà Stöhr đọc xong rất sớm và thấy nó “ngây ngất”. Bà Magnus, chính là người vẫn mất đạm, hoàn toàn hùa theo. Ông chồng bà, nhà nấu bia, thì về phần mình muốn nói rằng khi đọc đã có chỗ được ích lợi, nhưng lấy làm tiếc vì bà Magnus đã hấp thụ cuốn sách ấy, bởi những thứ như vậy “cưng chiều” phụ nữ và gieo vào đầu họ những ý niệm thiếu mực thước. Lời ấy càng làm lòng khao khát cuốn sách tăng thêm không ít. Giữa hai bà mới tới vào tháng Mười ở hiên nằm phía dưới, bà Redisch, vợ một nhà công nghiệp Ba Lan, và một góa phụ nào đó tên Hessenfeld ở Berlin, mỗi người đều khăng khăng rằng mình đã xin đọc trước người kia, sau bữa tối đã nổ ra một cảnh tượng không những khó chịu mà thực sự gần như bạo lực; Hans Castorp phải nghe nó từ lôgia ban công của mình, và nó kết thúc bằng một cơn thét co giật kiểu cuồng loạn của một trong hai bà, có thể là Redisch mà cũng có thể là Hessenfeld, cùng việc đưa người đàn bà lên cơn điên dữ ấy về phòng. Giới trẻ đã chiếm lấy cuốn chuyên luận ấy sớm hơn lớp người chín tuổi hơn. Họ phần nào cùng nhau nghiên cứu nó sau bữa tối muộn trong những phòng khác nhau. Hans Castorp trông thấy gã thanh niên nọ ở phòng ăn khẽ dùng đầu móng tay trao nó cho một thiếu nữ bệnh nhẹ vừa mới tới, Fränzchen Oberdank, một cô con gái nhà lành tóc vàng rẽ ngôi, chỉ mới gần đây được mẹ đưa lên đây.

Có lẽ vẫn có ngoại lệ, có lẽ có những người lấp đầy những giờ nằm nghỉ bắt buộc bằng một công việc tinh thần nghiêm chỉnh nào đó, một sự học hỏi thật sự có ích nào đó, dù chỉ để nhờ vậy duy trì một mối dây với đời sống miền đồng bằng, hoặc ban cho thời gian một chút sức nặng và chiều sâu, để nó khỏi chỉ là thời gian thuần túy và ngoài ra tuyệt nhiên chẳng là gì hết. Có lẽ, ngoài Herr Settembrini với những nỗ lực trừ khử khổ đau, và Joachim trọng danh dự với những tập bài tập tiếng Nga của cậu, còn người này kẻ nọ cũng giữ thói ấy, nếu không phải trong số những người lui tới phòng ăn, điều quả thật khó tin, thì có lẽ chính trong số những kẻ liệt giường và hấp hối; Hans Castorp có khuynh hướng tin như vậy. Về phần chàng, hồi ấy, khi _Ocean steamships_ không còn nói gì với chàng nữa, chàng cũng cho mang từ nhà lên, cùng với nhu yếu phẩm mùa đông, vài cuốn sách thuộc về nghề nghiệp trọn đời của mình, loại khoa học kỹ sư, kỹ thuật đóng tàu. Nhưng những tập ấy nằm đó, bị bỏ mặc vì những giáo trình khác, thuộc một ngành và một khoa hoàn toàn khác hẳn, mà chàng Hans Castorp trẻ tuổi đã đem lòng thích thú. Đó là những sách về giải phẫu học, sinh lý học và học về sự sống, viết bằng nhiều thứ tiếng, tiếng Đức, tiếng Pháp và tiếng Anh; đến một hôm, người bán sách trong vùng cho gửi chúng lên cho chàng, hẳn nhiên vì chàng đã đặt mua, lại còn tự ý, lặng lẽ, nhân một cuộc đi dạo xuống “Platz” mà chàng thực hiện không có Joachim bên cạnh, bởi cậu ấy vừa được gọi đi tiêm hoặc đi cân. Joachim nhìn những cuốn sách trong tay người anh em họ với vẻ ngạc nhiên. Chúng đắt tiền, như mọi công trình khoa học thường vẫn thế; giá tiền còn ghi ở mặt trong bìa và trên áo bọc. Cậu hỏi sao Hans Castorp, nếu đã muốn đọc thứ ấy, lại không mượn của Hofrat, hẳn ông có sẵn một tuyển lựa tử tế về loại sách này. Nhưng Hans Castorp đáp rằng chàng muốn tự mình sở hữu chúng, đọc một cuốn sách thuộc về mình là một cách đọc hoàn toàn khác; lại nữa, chàng thích lấy bút chì gạch vào và đánh dấu. Hàng giờ liền, Joachim nghe từ lôgia của người anh em họ tiếng dao rọc giấy tách những trang còn dính mép của các tập sách bìa mềm.

Những bộ sách ấy nặng nề, vướng víu; nằm đọc, Hans Castorp đỡ chúng bằng cách tì cạnh dưới vào ngực, vào dạ dày. Bị cấn thật đấy, nhưng chàng chấp nhận; miệng hé mở, chàng để mắt mình lướt xuống những trang sách bác học, được ánh đỏ của chiếc đèn có chụp soi sáng gần như thừa, vì giả thử cần thì dưới ánh trăng mạnh chúng vẫn đọc được, và đầu chàng cúi theo cho tới khi cằm chạm ngực; trong tư thế ấy, trước khi ngẩng mặt lên sang trang kế, người đọc thường dừng lại một lát, hoặc suy nghĩ, hoặc chợp ngủ, hoặc suy nghĩ trong cơn nửa thức nửa ngủ. Chàng dò sâu, chàng đọc, trong khi vầng trăng đi con đường chừng mực của nó trên thung lũng núi cao lấp lánh như pha lê, về vật chất đã được tổ chức, về các thuộc tính của nguyên sinh chất, về chất thể nhạy cảm tự duy trì trong một trạng thái lửng lơ kỳ lạ của tồn tại giữa cấu thành và phân hủy, và về sự tạo hình của nó từ những hình thức nền tảng khởi nguyên mà vẫn luôn luôn hiện diện; chàng đọc với mối thiết tha bức bách về sự sống và bí mật thiêng mà ô uế của nó.

Sự sống là gì? Người ta không biết. Không còn nghi ngờ gì, nó có ý thức về chính mình, ngay khi đã là sự sống; nhưng nó không biết nó là gì. Ý thức, với tư cách năng lực cảm nhận kích thích, hẳn vậy, đã thức dậy tới một mức nào đó ngay ở những bậc hiện hữu thấp nhất, chưa thành hình nhất của nó; không thể nào gắn sự xuất hiện đầu tiên của những tiến trình có ý thức vào một điểm nào đó trong lịch sử chung hay lịch sử cá thể của nó, chẳng hạn quy định ý thức bằng sự hiện diện của một hệ thần kinh. Những dạng động vật thấp nhất không có hệ thần kinh, huống hồ một đại não, thế mà không ai dám phủ nhận ở chúng năng lực cảm nhận kích thích. Lại nữa, người ta còn có thể gây mê chính sự sống, chứ không chỉ những cơ quan riêng biệt tiếp nhận kích thích mà nó có thể tạo thành, không chỉ riêng các dây thần kinh. Có thể tạm thời triệt bỏ tính kích thích của mọi chất thể được phú cho sự sống, trong giới thực vật cũng như trong giới động vật; có thể gây mê trứng và tinh tử bằng chloroform, chloralhydrat hay morphium. Vậy thì ý thức về chính mình đơn giản chỉ là một chức năng của vật chất được tổ chức thành sự sống; và khi tăng cường lên ở một cấp cao hơn, chức năng ấy quay lại chống chính vật mang nó, trở thành một nỗ lực truy cứu và giải thích hiện tượng đã sinh ra nó, một nỗ lực vừa đầy hy vọng vừa vô vọng của sự sống hướng tới tự tri, một cuộc đào xới của tự nhiên vào chính mình, rốt cuộc là vô ích, vì tự nhiên không thể tan vào nhận thức, sự sống không thể, ở tận cùng, rình nghe chính mình.

Sự sống là gì? Không ai biết. Không ai biết điểm tự nhiên nơi nó phát sinh và bùng lên. Từ điểm ấy trở đi, trong lãnh vực của sự sống, không có gì là không qua trung gian, hoặc chỉ qua một trung gian tồi tệ; nhưng bản thân sự sống thì lại hiện ra như một cái gì không qua trung gian. Nếu có thể nói được điều gì về nó, thì chỉ là điều này: nó hẳn phải có một cấu trúc phát triển ở bậc cao đến nỗi trong thế giới vô sinh không hề có gì dù xa xa giống được nó. Giữa con amip chân giả và loài có xương sống, khoảng cách là nhỏ nhặt, không đáng kể, so với khoảng cách giữa biểu hiện đơn giản nhất của sự sống và cái tự nhiên kia, cái thậm chí không đáng để gọi là chết, vì nó là vô cơ. Bởi lẽ cái chết chỉ là sự phủ định hợp logic của sự sống; còn giữa sự sống và tự nhiên vô sinh thì há ra một vực thẳm, mà sự nghiên cứu vẫn hoài công tìm cách bắc cầu. Người ta vất vả dùng những lý thuyết để lấp nó lại, những lý thuyết bị chính vực thẳm ấy nuốt chửng mà chiều sâu và bề rộng của nó chẳng suy suyển mảy may. Để tìm một mắt xích nối liền, người ta đã buông mình vào cái phi lý là giả định một chất sống không cấu trúc, những cơ thể sống không được tổ chức, tự kết tụ trong dung dịch chất đạm như tinh thể trong nước cái, trong khi chính sự phân hóa hữu cơ vẫn đồng thời là điều kiện tiên quyết và là biểu hiện của mọi sự sống, và trong khi chẳng thể nêu ra nổi một sinh vật nào không mang sự tồn tại của mình nhờ sự sinh ra từ cha mẹ. Kết cục của niềm reo mừng khi người ta vớt được thứ bùn nguyên thủy từ những đáy biển sâu tận cùng đã là sự bẽ bàng. Hóa ra người ta đã tưởng các kết tủa thạch cao là nguyên sinh chất. Nhưng vì không muốn phải dừng lại trước một phép lạ, bởi sự sống, vốn được cấu thành từ những chất liệu y như tự nhiên vô cơ và lại phân rã về đúng những chất liệu ấy, nếu xuất hiện không qua trung gian, ắt sẽ là một phép lạ, cho nên dầu vậy người ta vẫn buộc phải tin vào sự tự sinh, nghĩa là vào sự nảy sinh của cái hữu cơ từ cái vô cơ, mà điều ấy kỳ thực cũng lại là một phép lạ. Bởi thế người ta tiếp tục nghĩ ra những bậc trung gian và những bước chuyển tiếp, giả định sự hiện hữu của những sinh vật đứng thấp hơn hết thảy những gì đã biết, mà bản thân chúng lại có những thử nghiệm sự sống còn nguyên sơ hơn nữa của tự nhiên làm tiền thân, những tiền sinh thể mà không ai bao giờ trông thấy, vì chúng còn ở dưới mọi kích thước hiển vi, và trước khi chúng được hình thành như người ta hình dung, hẳn sự tổng hợp các hợp chất đạm đã phải hoàn tất...

Vậy thì sự sống là gì? Nó là nhiệt, là sản phẩm nhiệt của một sự không bền mà vẫn giữ được hình thức, là cơn sốt của vật chất, kèm theo đó là quá trình phân rã và phục hồi không ngừng của những phân tử đạm được cấu tạo phức tạp đến không sao đứng vững, tinh xảo đến không sao duy trì nổi. Nó là sự hiện hữu của cái, kỳ thực, không thể hiện hữu, của cái chỉ nhờ vào tiến trình rối xoắn và sốt nóng ấy của tan rã và tái tạo mà, trong một nỗi nhọc nhằn ngọt ngào đau đớn đến chính xác, giữ thăng bằng trên điểm tồn tại. Nó không phải vật chất, mà cũng không phải tinh thần. Nó là một cái gì ở giữa cả hai, một hiện tượng được vật chất mang đỡ, như cầu vồng trên thác nước và như ngọn lửa. Nhưng tuy không phải vật chất, nó lại cảm tính đến mức khoái lạc và ghê tởm, là sự trơ trẽn của vật chất đã trở nên tự cảm, tự kích, là hình thái dâm uế của tồn tại. Nó là một sự cựa quậy kín đáo, đầy cảm giác trong cái lạnh trinh khiết của vũ trụ, là sự nhơ nhớp lén lút và nhục cảm của việc hút lấy dinh dưỡng rồi bài tiết, là một luồng hơi bài tiết gồm khí carbonic và những chất xấu xa có nguồn gốc, tính chất ẩn giấu. Nó là sự sinh sôi, bung nở và tạo hình, bị giam vào những quy luật tạo thành bẩm sinh và chỉ được khả hữu nhờ một sự quân bình quá mức của chính tính bất định của nó, của một cái gì trương phồng lên từ nước, đạm, muối và mỡ, cái mà người ta gọi là thịt, và cái ấy trở thành hình thể, thành hình tượng cao, thành vẻ đẹp, song đồng thời lại là tổng thể của tính nhục cảm và dục vọng. Bởi hình thể và vẻ đẹp ấy không do tinh thần mang đỡ, như trong các tác phẩm thi ca và âm nhạc; cũng không được mang đỡ bởi một chất liệu trung tính, đã được tinh thần tiêu hóa, một chất liệu khiến tinh thần trở nên cảm tính theo một lối vô tội, như hình thể và vẻ đẹp của tác phẩm tạo hình. Trái lại, chúng được mang đỡ và tạo nên bởi chính chất thể bằng một cách không ai biết đã thức dậy vì nhục lạc, bởi chính vật chất hữu cơ đang mục rữa mà hiện hữu, bởi xác thịt có mùi...

Đối với chàng Hans Castorp trẻ tuổi, đang yên nghỉ trên hơi ấm thân thể được lông thú và len gìn giữ, phía trên thung lũng lấp lánh, trong đêm băng giá được soi sáng bởi ánh của tinh cầu chết, hình ảnh của sự sống đã hiện ra. Nó lơ lửng trước chàng đâu đó trong không gian, xa vời mà vẫn gần gũi với giác quan: thân thể, xác thịt, trắng nhợt mờ đục, tỏa hơi, bốc khói, dính ẩm; làn da, trong tất cả sự ô uế và tì vết của bản tính nó, với những đốm, những nhú gai, những vệt úa vàng, những vết rạn và những miền hạt sần bong vảy, lại phủ lên bởi những dòng và những xoáy mảnh mai của lớp lông tơ sơ khai. Nó đứng dựa, tách khỏi cái lạnh của vô sinh, trong quầng hơi của chính mình, uể oải, đầu như đội một vành bằng cái gì mát lạnh, chất sừng, có sắc tố, một sản phẩm của làn da nó; hai tay khoanh sau gáy, nhìn ra dưới hàng mi khép thấp, từ đôi mắt mà một biến thể của cơ cấu da mí khiến chúng có vẻ xếch lên, hướng tới kẻ ngắm nhìn bằng đôi môi hé, hơi trề ra một chút, tựa trên một chân đến nỗi xương hông chịu lực nhô hẳn lên trong thịt, còn đầu gối của chân buông lơi, hơi cong, với bàn chân chống trên các đầu ngón, thì nép vào mặt trong của chân đang gánh sức nặng. Nó đứng như vậy, xoay nghiêng trong một nụ cười, duyên dáng mà nghiêng tựa, hai khuỷu tay óng ánh chìa về phía trước, trong tính đối xứng song đôi của cấu trúc tứ chi và những dấu ấn của thân thể. Tương ứng với bóng tối nồng nặc của hai hõm nách, trong một tam giác huyền nhiệm là đêm của lòng háng; cũng như đối với đôi mắt là cửa miệng đỏ biểu mô, đối với những bông đỏ của cặp vú là cái rốn kéo dài theo chiều thẳng đứng. Dưới sự thúc đẩy của một cơ quan trung tâm và những dây thần kinh vận động bắt nguồn từ tủy sống, bụng và lồng ngực động đậy; khoang phế-phúc mạc phồng lên rồi co lại; luồng hơi thở, được các niêm mạc của đường hô hấp làm ấm và làm ẩm, bão hòa các chất bài tiết, tuôn ra giữa hai môi, sau khi trong những túi khí của phổi nó đã gắn dưỡng khí của mình với hemoglobin của máu cho sự hô hấp nội tại. Bởi Hans Castorp hiểu rằng thân thể sự sống ấy, trong sự cân xứng bí ẩn của cấu trúc tứ chi được máu nuôi, chằng chịt thần kinh, tĩnh mạch, động mạch, mao mạch, thấm đầy bạch huyết của nó, với bộ giàn bên trong bằng những xương ống chứa tủy mỡ, những xương phiến, xương đốt và xương rễ vốn từ chất nâng đỡ nguyên thủy là mô keo mà trở nên cứng chắc nhờ muối vôi và keo để mang đỡ nó; với những bao khớp và những ổ khớp được bôi trơn trơn nhẫy, những dây chằng và sụn, hơn hai trăm cơ bắp, những cơ quan trung tâm phục vụ sự dinh dưỡng, hô hấp, tiếp nhận và phát truyền kích thích, những màng bảo hộ, những khoang thanh mạc, những tuyến dồi dào tiết xuất, bộ máy ống và khe của bề mặt bên trong phức tạp của nó, vốn qua các lỗ thân thể mà mở ra ngoại giới: cái tôi này là một đơn vị sự sống ở bậc cao, tuyệt nhiên không còn thuộc loài những sinh vật đơn giản nhất kia, vốn thở, hấp thu dinh dưỡng và thậm chí suy nghĩ bằng toàn bộ bề mặt thân thể mình nữa, mà được cấu thành từ vô vàn những tổ chức nhỏ như thế, bắt nguồn từ một tổ chức duy nhất, đã tự nhân lên bằng sự phân chia lặp đi lặp lại, đã tự sắp đặt thành những chức vụ và liên kết khác nhau, tự phân biệt, tự đào luyện riêng biệt và đẩy nảy ra những hình thức vừa là điều kiện vừa là hiệu quả của sự tăng trưởng của chúng.

Vậy thì cái thân thể lơ lửng trước mắt chàng, cá thể đơn lẻ và cái tôi sống ấy, là một sự đa tạp khủng khiếp gồm những cá nhân thở và hấp thu dinh dưỡng, những cá nhân mà do sự sắp đặt hữu cơ và định hình theo mục đích riêng, đã đánh mất ở mức rất cao tính tồn tại ngã tính, tự do và sự trực tiếp của đời sống, đã trở thành các yếu tố giải phẫu đến nỗi chức năng của một số chỉ còn giới hạn ở việc cảm nhận kích thích đối với ánh sáng, âm thanh, tiếp xúc, nhiệt; những số khác chỉ còn biết biến đổi hình dạng bằng sự co rút hoặc sản sinh các dịch tiêu hóa; còn những số khác nữa thì được đào luyện một chiều và thành thạo cho việc bảo vệ, nâng đỡ, chuyển vận các dịch thể hoặc sinh sản. Cũng có những sự nới lỏng của tính đa nguyên hữu cơ được thống nhất vào cái tôi bậc cao ấy, những trường hợp trong đó số đông các cá thể cấp dưới chỉ được gom lại thành đơn vị sống cao hơn theo một lối mong manh và khả nghi. Người đang học kia ngẫm ngợi trước hiện tượng các tập đoàn tế bào; chàng được nghe nói đến những bán-cơ thể sống, những loài tảo mà các tế bào riêng lẻ, chỉ được bọc trong một lớp áo thạch keo, thường nằm cách xa nhau, dẫu sao cũng là những cấu tạo đa bào, song nếu bị tra hỏi hẳn đã không biết phải nói liệu chúng muốn được xem như một khu định cư của những cá thể đơn bào hay như một thực thể thống nhất, và trong lời tự thuật của mình hẳn đã lạ lùng dao động giữa “tôi” và “chúng tôi”. Ở đây tự nhiên cho thấy một bậc trung gian giữa sự liên hợp có tính xã hội rất cao của vô số cá thể nguyên sinh thành mô và cơ quan của một ngã tính cao hơn, và sự tồn tại đơn lẻ tự do của chính những đơn thể ấy: cơ thể đa bào chỉ là một hình thức biểu hiện của tiến trình tuần hoàn trong đó sự sống diễn ra, và tiến trình ấy là một vòng luân chuyển từ sinh sản đến sinh sản. Hành vi thụ tinh, sự hòa hợp tính dục của hai thân tế bào, đứng ở điểm khởi đầu của sự kiến tạo mỗi cá thể đa nguyên, cũng như nó đứng ở điểm khởi đầu của mọi chuỗi thế hệ của những sinh vật nguyên sơ sống riêng lẻ và dẫn trở về chính mình. Bởi hành vi ấy được kéo dài bền bỉ qua nhiều thế hệ không cần tới nó để sinh sôi bằng sự phân chia lặp đi lặp lại, cho tới khi một lúc nào đó những hậu duệ sinh ra vô tính lại thấy mình bị buộc phải tái diễn công việc giao hợp, và vòng tròn khép lại. Như vậy, cộng thể sự sống đa tạp, nảy sinh từ sự dung hợp nhân của hai tế bào cha mẹ, là cuộc chung sống của nhiều thế hệ cá thể tế bào được sinh ra vô tính; sự tăng trưởng của nó là sự nhân lên của chúng, và vòng sinh sản khép lại khi trong bản thân nó đã hình thành những tế bào sinh dục, những yếu tố được đào luyện cho mục đích riêng là sinh sản, và chúng tìm được con đường dẫn tới một sự hòa trộn làm cho sự sống khởi động trở lại.

Tựa một cuốn phôi sinh học dày lên hõm ngực, chàng phiêu lưu trẻ tuổi dõi theo sự phát triển của cơ thể kể từ khoảnh khắc sợi tinh, một trong muôn vàn sợi, mà lại là sợi đến trước, tự thúc mình bằng những động tác quất roi của phần đuôi, chạm mũi đầu vào lớp vỏ keo của noãn cầu và khoan vào gò thụ nhận mà nguyên sinh chất của vỏ trứng uốn phồng ra đón lấy sự gần tới của nó. Không một hình thù quái dị hay trò hề nào có thể tưởng tượng ra mà tự nhiên, trong khi biến cải tiến trình thường hằng ấy, lại không từng nghiêm chỉnh ưng thuận lấy làm thích thú. Có những loài vật ở đó con đực ký sinh trong ruột con cái. Có những loài khác ở đó cánh tay của kẻ gieo giống thò qua yết hầu của kẻ thụ giống vào bên trong để gửi hạt giống của mình tại đó, rồi, sau khi bị cắn đứt và nhổ ra, tự mình chạy mất chỉ bằng những ngón tay, khiến giới khoa học bối rối đến nỗi trong một thời gian dài đã tưởng phải gọi nó, bằng tiếng Hy-La, như một sinh vật độc lập. Hans Castorp nghe các học phái uyên bác của phái Ovist và phái Animalculist cãi cọ nhau; một bên từng khẳng định rằng quả trứng là một con ếch, con chó hay con người tí hon đã hoàn chỉnh sẵn trong chính nó, còn tinh dịch chỉ là kẻ kích động sự lớn lên của nó; trong khi bên kia nhìn thấy nơi sợi tinh, có đầu, tay và chân, một sinh vật đã được tạo sẵn, mà quả trứng chỉ dùng làm nền dinh dưỡng, cho tới khi người ta đi tới chỗ nhất trí dành cho tế bào trứng và tế bào tinh, vốn phát sinh từ những tế bào sinh sản ban đầu không phân biệt được, một công lao ngang nhau. Chàng thấy cơ thể đơn bào của quả trứng đã thụ tinh trên đường biến thành cơ thể đa bào bằng cách phân cắt và phân chia, thấy các thân tế bào ép sát thành một phiến niêm mạc, túi phôi lõm vào mà tạo thành một chiếc chén và một khoang rỗng, nơi công việc hấp thụ thức ăn và tiêu hóa khởi sự. Đó là ấu trùng ruột, nguyên thú, Gastrula, hình thức cơ bản của mọi sự sống động vật, hình thức cơ bản của vẻ đẹp được xác thịt nâng đỡ. Hai lớp biểu mô của nó, lớp ngoài và lớp trong, lá mầm da-cảm giác và lá mầm tuyến ruột, tự bộc lộ như những cơ quan nguyên thủy mà từ đó, bằng những chỗ lồi ra và lõm vào, các tuyến, các mô, các khí quan cảm giác, các phần phụ của cơ thể được hình thành. Một dải của lá mầm ngoài dày lên, gấp lại thành rãnh, khép lại thành ống thần kinh rồi trở thành cột sống, thành não bộ. Và như chất nhầy thai nhi tự củng cố thành mô liên kết sợi và thành sụn, khi những tế bào keo bắt đầu sản sinh chất keo dính thay vì mucin, chàng thấy ở những chỗ nào đó các tế bào mô liên kết hút về phía mình các muối vôi và chất béo từ những dịch thể chảy quanh rồi hóa xương. Phôi người co quắp, cúi gập vào chính mình, có đuôi, chẳng khác gì phôi lợn, với cuống bụng to tướng và các chi ngắn ngủn còn vô định hình, ấu diện gục xuống cái bụng phệ phồng lên, và quá trình thành hình của nó hiện ra trước một nền khoa học có quan niệm chân lý vừa phũ phàng vừa tối tăm như sự lặp lại thoáng qua của một lịch sử phả hệ động vật. Trong một thời gian ngắn, nó có những túi mang như một con cá đuối. Dường như người ta được phép, hoặc bị buộc phải, từ những giai đoạn phát triển mà nó đi qua, suy ra cái diện mạo chẳng mấy nhân văn mà con người hoàn chỉnh từng phô bày trong thời nguyên thủy. Da nó được trang bị những bắp cơ giật động để xua côn trùng và phủ đầy lông, diện tích niêm mạc khứu giác của nó rất lớn, đôi tai chìa ra, linh hoạt, tham dự sinh động vào nét mặt của nó, khéo để hứng âm thanh hơn bây giờ. Thuở ấy, những con mắt của nó, được che chở bởi một mí thứ ba biết chớp, nằm lệch sang hai bên đầu, trừ con mắt thứ ba, mà dấu tích còn lại là tuyến tùng, và từng đủ sức canh chừng tầng không phía trên. Con người đó ngoài ra còn có một ống ruột rất dài, nhiều răng hàm và những túi âm thanh ở thanh quản để gầm rống, đồng thời cũng mang các tuyến sinh dục nam ở phía trong xoang bụng.

Giải phẫu học lột da và phẫu tích trước mắt nhà nghiên cứu của chúng ta các chi thể của thân thể người, cho chàng thấy những bắp cơ, gân và dây chằng bề mặt cũng như những bắp cơ, gân và dây chằng sâu, ở phía sau của chúng: những thứ thuộc về đùi, bàn chân, và nhất là cánh tay, cánh tay trên và cẳng tay; dạy chàng những tên gọi La-tinh mà y học, cái bóng nhạt của tinh thần nhân văn ấy, một cách quý phái và hào hoa hơn, đã dùng để gọi tên và phân biệt chúng; và để cho chàng tiến sâu tới tận bộ xương, sự cấu thành của nó lại cung cấp cho chàng những góc nhìn mới, dưới đó tính thống nhất của mọi cái thuộc về con người, tính khép kín của mọi bộ môn có thể được chiêm xét. Vì ở đây, một cách kỳ lạ nhất, chàng thấy mình được nhắc nhớ tới nghề nghiệp đích thực của mình, hay phải nói là nghề nghiệp trước kia, cái chức phận khoa học mà với tư cách người thuộc về nó, chàng đã tự giới thiệu mình với những người chàng gặp khi vừa lên trên này (ông bác sĩ Krokowski, ông Settembrini). Để học lấy một cái gì đó, mà thật ra là gì cũng chẳng hệ trọng, chàng đã ở các trường đại học mà học đôi điều này nọ về tĩnh học, về những trụ chống có thể uốn, về tải trọng và về kết cấu như một sự khai thác hữu lợi vật liệu cơ học. Hẳn sẽ là trẻ con nếu cho rằng các khoa học kỹ sư đã đem những quy luật cơ học áp dụng vào tự nhiên hữu cơ; nhưng cũng không thể nói rằng chúng được rút ra từ đó. Chúng chỉ đơn giản được lặp lại và xác nhận ở trong đó. Nguyên lý ống rỗng ngự trị trong cấu trúc các xương ống dài theo cách mà với một lượng tối thiểu chính xác chất rắn, những đòi hỏi tĩnh học vẫn được thỏa mãn. Hans Castorp đã học rằng một vật thể, nếu được cấu thành tùy theo những đòi hỏi kéo và nén mà nó phải chịu, chỉ bằng các thanh và dải của một vật liệu khả dụng về mặt cơ học, thì vẫn có thể chịu cùng một tải trọng như một vật thể đặc bằng chính chất liệu ấy. Cũng vậy, trong sự hình thành các xương ống, người ta có thể theo dõi cách mà, song song với việc tạo thành chất đặc ở bề mặt của chúng, những phần bên trong, vì trở nên thừa thãi về mặt cơ học, đã biến thành mô mỡ, tức tủy vàng. Xương đùi là một cần cẩu mà trong sự cấu tạo của nó, tự nhiên hữu cơ, bằng hướng nó trao cho các bè xương, đã vạch ra chính xác đến sợi tóc những đường cong chịu kéo và chịu nén y hệt như những đường mà Hans Castorp, trong phép biểu diễn đồ thị một dụng cụ bị sử dụng theo kiểu ấy, lẽ ra phải ghi vào một cách chuẩn xác. Chàng nhìn điều đó với niềm thích thú, vì chàng thấy mình từ đây đã đứng trong ba mối quan hệ với xương đùi, hay nói chung là với tự nhiên hữu cơ: mối quan hệ trữ tình, mối quan hệ y học và mối quan hệ kỹ thuật, lớn lao đến thế là sự hưng khởi của chàng; và chàng nhận ra rằng ba mối quan hệ ấy trong cái thuộc về con người vốn chỉ là một, chúng là những biến thể của cùng một mối quan tâm cấp thiết, những khoa ban nhân văn...

Dẫu vậy, những thành tựu của nguyên sinh chất vẫn hoàn toàn không thể giải thích được, dường như sự sống bị cấm đoán không được tự hiểu lấy mình. Phần lớn các quá trình sinh hóa không những là chưa biết, mà còn nằm trong bản tính của chúng là lẩn tránh sự nhận thức. Người ta hầu như chẳng biết gì về cấu trúc, về thành phần của đơn vị sự sống mà người ta gọi là “tế bào”. Việc chỉ ra các thành phần của cơ bắp đã chết thì giúp ích gì? Cơ bắp đang sống không thể bị khảo sát bằng hóa học; chỉ riêng những biến đổi gây nên sự co cứng tử thi cũng đã đủ làm cho mọi thí nghiệm trở thành vô nghĩa. Không ai hiểu sự trao đổi chất, không ai hiểu bản chất của chức năng thần kinh. Những vật có vị là nhờ những thuộc tính nào mà có vị? Sự kích thích khác nhau của một số dây thần kinh cảm giác bởi các chất gây mùi nằm ở đâu? Và ngay chính cái khả năng được ngửi thấy nói chung là gì? Mùi đặc thù của súc vật và con người dựa trên sự bay hơi của những chất mà chẳng ai biết gọi tên. Thành phần của thứ dịch tiết mà người ta gọi là mồ hôi vẫn chưa được làm sáng tỏ bao nhiêu. Những tuyến tiết ra nó sản sinh ra các hương chất mà giữa các loài có vú hẳn nhiên đóng một vai trò quan trọng, còn về ý nghĩa của chúng ở con người thì người ta thú nhận là mình không được tường. Ý nghĩa sinh lý của những phần hiển nhiên quan trọng trong thân thể bị bao phủ trong bóng tối. Có thể tạm gác manh tràng sang một bên, thứ vốn là một điều huyền bí, và ở loài thỏ người ta thường thấy nó đầy một thứ chất nhão mà không thể nói nó lại thoát ra bằng cách nào, hoặc tự đổi mới ra sao. Nhưng chất trắng và chất xám của não bộ là chuyện gì, đồi thị thông với thần kinh thị giác là chuyện gì, và những chỗ chất xám cài vào của “cầu não” là chuyện gì? Chất liệu của não và tủy sống dễ phân hủy đến mức không có hy vọng nào người ta sẽ từng dò thấu được cấu trúc của nó. Khi chìm vào giấc ngủ, cái gì làm cho vỏ đại não thôi hoạt động? Cái gì ngăn cản sự tự tiêu hóa của dạ dày, điều mà quả thực đôi khi xảy ra nơi xác chết? Người ta đáp: sự sống; một sức đề kháng riêng của nguyên sinh chất sống, rồi làm như không nhận ra rằng đó là một lối giải thích thần bí. Lý thuyết về một hiện tượng tầm thường đến như cơn sốt lại đầy mâu thuẫn. Sự gia tăng chuyển hóa kéo theo việc sản sinh nhiệt tăng lên. Nhưng tại sao sự thải nhiệt, như vẫn thường, lại không tăng lên để bù lại? Liệu sự tê liệt của sự bài tiết mồ hôi có dựa trên những trạng thái co rút của da chăng? Nhưng những trạng thái như thế chỉ có thể chứng minh được trong cơn rét run sốt, bởi ngoài ra da lại nóng lên kia. “Nhiệt chích” cho thấy hệ thần kinh trung ương là nơi ngự của những nguyên nhân gây ra cả sự gia tăng chuyển hóa lẫn một tình trạng da mà người ta chỉ đành gọi là bất thường, vì người ta không biết xác định nó.

Nhưng tất cả sự không biết ấy có nghĩa lý gì so với nỗi lúng túng mà người ta đứng trước những hiện tượng như trí nhớ, hay thứ trí nhớ rộng hơn và đáng kinh ngạc hơn được gọi là sự di truyền các đặc tính thủ đắc? Sự bất khả nắm bắt lấy dù chỉ là linh cảm về một khả năng giải thích bằng cơ học cho những thành tựu như thế của chất liệu tế bào là hoàn toàn. Sợi tinh, thứ truyền cho trứng vô số những đặc tính loài và cá nhân phức tạp của người cha, chỉ có thể trông thấy dưới kính hiển vi, và cả độ phóng đại mạnh nhất cũng không đủ để làm cho nó hiện ra như bất cứ cái gì khác ngoài một vật thể đồng nhất, cũng không đủ để cho phép xác định nguồn gốc của nó; bởi ở loài vật này nó trông cũng như ở loài vật khác. Đó là những quan hệ tổ chức buộc người ta phải giả định rằng đối với tế bào sự tình cũng chẳng khác gì đối với thân thể cao hơn mà nó xây dựng nên; rằng do đó chính nó cũng đã là một cơ thể bậc trên, mà về phần mình và một lần nữa lại cấu thành từ những thể phân chia sống, những đơn vị sống cá thể. Vậy là người ta tiến từ cái bị cho là nhỏ nhất tới cái lại còn nhỏ hơn nữa, bị bắt buộc phải phân giải cái cơ bản thành những dưới-cơ-bản. Không còn nghi ngờ gì nữa, cũng như giới động vật gồm những loài động vật khác nhau, cũng như cơ thể động vật-người gồm hẳn một vương quốc động vật của các loài tế bào, thì cơ thể của chính tế bào cũng gồm một vương quốc động vật mới và đa dạng của những đơn vị sống sơ đẳng, mà kích thước nằm sâu dưới ngưỡng khả kiến của kính hiển vi, những đơn vị ấy tự mình lớn lên, tự mình, theo quy luật rằng mỗi đơn vị chỉ có thể sinh ra cái giống hệt mình, mà sinh sôi, và theo nguyên tắc phân công lao động cùng nhau phục vụ trật tự sống cao hơn kế tiếp.

Đó là những genen, những bioblasten, những biophoren, và Hans Castorp lấy làm thích thú khi được làm quen đích danh với chúng trong đêm giá rét. Chỉ có điều, trong cơn hưng khởi của mình, chàng tự hỏi nếu ánh sáng lại được cải thiện hơn nữa thì bản tính nguyên tố của chúng sẽ ra sao. Vì chúng mang sự sống, chúng ắt phải có tổ chức, bởi sự sống dựa trên tổ chức; nhưng nếu chúng đã có tổ chức, thì chúng không thể là nguyên tố, bởi một cơ thể có tổ chức không phải là nguyên tố, nó là đa tạp. Chúng là những đơn vị sống nằm dưới đơn vị sống của tế bào mà chúng kiến tạo nên một cách hữu cơ. Nhưng nếu quả đúng như vậy, thì chúng, tuy nhỏ ngoài mọi khái niệm, hẳn cũng phải được “xây nên”, mà lại là được “xây nên” một cách hữu cơ, như một trật tự sự sống; bởi khái niệm về đơn vị sống đồng nhất với khái niệm về một sự cấu thành từ những đơn vị sống nhỏ hơn, thấp hơn, tức là được sắp đặt vào một sự sống cao hơn. Chừng nào sự phân chia còn sinh ra những đơn vị hữu cơ có những thuộc tính của sự sống, nghĩa là có năng lực đồng hóa, tăng trưởng và sinh sản, thì đối với nó không hề có giới hạn nào cả. Chừng nào còn nói tới những đơn vị sống, thì chỉ có thể nói một cách sai lầm tới những đơn vị nguyên tố, bởi khái niệm về đơn vị luôn _ad infinitum_ bao hàm cùng lúc khái niệm về đơn vị thấp hơn, phục tùng hơn, làm công việc cấu thành nên nó, và sự sống nguyên tố, tức một cái gì đã là sự sống mà vẫn còn nguyên tố, thì không hề có.

Nhưng dẫu không có một tồn tại lôgíc, rốt cuộc một cái gì đó như thế vẫn phải có thực bằng cách nào đó, bởi ý niệm về sự tự sinh, nghĩa là về sự nảy sinh của sự sống từ cái không sống, quả không thể gạt bỏ, và cái vực ngăn mà người ta vô ích tìm cách lấp kín trong tự nhiên bên ngoài, tức cái vực ngăn giữa sự sống và sự vô sinh, hẳn phải được lấp đầy hay bắc qua bằng một cách nào đó trong phần bên trong hữu cơ của tự nhiên. Ở một điểm nào đó, sự phân chia ắt phải dẫn tới những “đơn vị” tuy là hợp thành mà vẫn chưa có tổ chức, làm trung gian giữa sự sống và cái không sống, những nhóm phân tử tạo thành chỗ chuyển tiếp giữa trật tự sự sống và hóa học thuần túy. Nhưng vừa chạm tới phân tử hóa học, người ta đã thấy mình ở gần một vực thẳm há miệng còn huyền bí hơn nhiều so với vực ngăn giữa tự nhiên hữu cơ và vô cơ: gần vực ngăn giữa cái vật chất và cái phi vật chất. Vì phân tử lại cấu thành từ nguyên tử, mà nguyên tử thì tuyệt nhiên không còn đủ lớn để có thể được gọi là cực nhỏ nữa. Nó nhỏ đến như vậy, là một sự tụ lại cực nhỏ, sơ khai và quá độ của cái phi-vật-chất, của cái chưa phải vật chất nhưng đã giống vật chất, của năng lượng, đến nỗi người ta buộc phải nghĩ nó hầu như chưa thể, hoặc hầu như không còn thể, là vật chất nữa, mà đúng hơn là một trung gian và một điểm ranh giới giữa cái vật chất và cái phi vật chất. Vấn đề về một sự tự sinh khác, còn bí ẩn và phiêu lưu hơn cả sự tự sinh hữu cơ, bỗng hiện ra: sự tự sinh của vật chất từ cái phi-vật-chất. Quả thật, vực ngăn giữa vật chất và phi vật chất đòi hỏi được lấp đầy cũng khẩn thiết như, thậm chí còn khẩn thiết hơn, vực ngăn giữa tự nhiên hữu cơ và vô cơ. Hẳn phải có một nền hóa học của cái phi vật chất, những hợp chất phi vật chất mà từ đó cái vật chất phát sinh ra, như các cơ thể hữu cơ phát sinh từ những hợp chất vô cơ, và các nguyên tử có thể là những probien và moneren của vật chất, xét theo bản tính thì là vật chất, mà rồi lại vẫn chưa hẳn. Nhưng một khi đã tới chỗ “thậm chí không còn nhỏ nữa”, thước đo liền tuột khỏi tay; “thậm chí không còn nhỏ nữa” khi ấy đã có nghĩa gần như “vô cùng lớn”; và bước đi tới nguyên tử, không cường điệu chút nào, hóa ra là cực kỳ định mệnh. Vì đúng vào khoảnh khắc phân chia và làm nhỏ đến cùng cực cái vật chất, vũ trụ thiên văn bỗng mở toang ra!

Nguyên tử là một hệ vũ trụ chất đầy năng lượng, trong đó những thiên thể lao đi quay quanh một trung tâm tựa mặt trời, và xuyên qua không gian ê-te của nó những sao chổi phóng với tốc độ của năm ánh sáng, bị sức mạnh của thiên thể trung tâm cưỡng bách vào những quỹ đạo lệch tâm. Đó tuyệt nhiên không chỉ là một sự so sánh, cũng như không chỉ là so sánh khi người ta gọi thân thể của những sinh thể đa bào là một “quốc gia tế bào”. Thành thị, quốc gia, cộng đồng xã hội được sắp đặt theo nguyên tắc phân công lao động, không những chỉ có thể đem so với đời sống hữu cơ, mà còn là sự lặp lại của nó. Và như thế, ở nơi sâu kín nhất của tự nhiên, trong một sự phản chiếu rộng lớn nhất, thế giới tinh tú của đại vũ trụ lại hiện ra, với những đàn, những cụm, những nhóm, những hình thù, nhợt đi dưới ánh trăng, lơ lửng trên đầu người môn đồ trùm kín kia phía trên thung lũng lấp lánh giá băng. Có phải là điều cấm kỵ chăng nếu nghĩ rằng vài hành tinh nào đó của hệ mặt trời nguyên tử ấy, của những đạo binh và những dải Ngân Hà những hệ mặt trời đã cấu tạo nên vật chất ấy, nghĩa là một hay một hành tinh khác trong số những thiên thể nội giới ấy, đang ở trong một trạng thái tương ứng với trạng thái đã khiến trái đất trở thành nơi cư ngụ của _sự sống_? Đối với một chàng môn đồ trẻ ở nơi trung tâm hơi ngà ngà, với làn da “bất thường”, kẻ trong lĩnh vực điều cấm nay cũng chẳng còn hoàn toàn thiếu mọi kinh nghiệm, đó không những không phải là một suy tưởng vô lý, mà còn là một suy tưởng tự áp đến gần như xấn xổ, hết sức sáng tỏ, mang dáng dấp của chân lý lô-gích. Sự “nhỏ bé” của những tinh thể nội giới ấy hẳn sẽ là một phản bác hết sức thiếu xác đáng, bởi lẽ cái thước đo của lớn và nhỏ đã thất lạc chậm nhất là từ lúc tính chất vũ trụ của những phần tử vật chất “nhỏ nhất” bộc lộ ra, và những khái niệm bên ngoài với bên trong, dần dà, cũng đã tổn hại đến sự vững chãi của mình. Thế giới của nguyên tử là một cõi ngoài, cũng như rất có thể tinh cầu địa giới mà chúng ta cư ngụ, xét về mặt hữu cơ, lại là một cõi trong sâu thẳm. Chẳng phải sự táo bạo mơ mộng của một nhà nghiên cứu từng nói đến “những loài vật Ngân Hà” đó sao, những quái vật vũ trụ mà thịt, xương và óc được cấu thành từ các hệ mặt trời? Nhưng nếu quả thật là vậy, như Hans Castorp nghĩ, thì ngay vào khoảnh khắc người ta tưởng mình đã tới bờ mép, toàn bộ lại bắt đầu từ đầu! Thì có lẽ trong chỗ sâu kín nhất, lại còn sâu kín hơn nữa, của chính bản tính mình, chàng, chàng Hans Castorp trẻ tuổi, lại nằm đó một lần nữa, rồi một trăm lần nữa, được ủ ấm kỹ càng, trong một lôgia ban công nhìn ra đêm giá vùng núi cao sáng trăng, và với những ngón tay đã cứng đờ cùng khuôn mặt nóng bừng, đang nghiên cứu đời sống của thân thể bằng một mối quan tâm vừa nhân văn vừa y học?

Môn giải phẫu bệnh mà chàng cầm một cuốn chếch vào quầng đỏ của ngọn đèn bàn, đã giảng cho chàng, bằng một văn bản chen đầy hình vẽ minh họa, về bản chất của sự kết hợp tế bào ký sinh và các khối u do nhiễm trùng. Đó là những dạng mô, hơn nữa lại là những dạng mô đặc biệt sum sê, được gây ra bởi sự xâm nhập của những tế bào dị loại vào một cơ thể đã tỏ ra ham tiếp nhận chúng và tạo cho sự phát triển của chúng, theo một cách nào đó, nhưng hẳn phải nói là: theo một cách nào đó khá bê bối, những điều kiện thuận lợi. Không hẳn ở chỗ ký sinh vật rút mất dinh dưỡng của mô bao quanh; mà ở chỗ, trong khi trao đổi chất như mọi tế bào, nó tạo ra những hợp chất hữu cơ hóa ra lại độc hại một cách ghê gớm đối với các tế bào của cơ thể vật chủ, tức là nhất định đưa tới hủy hoại. Người ta đã hiểu cách tách độc tố của vài vi sinh vật ra và biểu hiện chúng ở trạng thái cô đặc, và lấy làm lạ thấy rằng những chất ấy, vốn đơn giản chỉ thuộc vào hàng các hợp chất đạm, khi được đưa vào vòng tuần hoàn của một con vật với liều lượng nhỏ bé đến thế, lại gây nên những triệu chứng ngộ độc nguy hiểm nhất, một sự băng hoại dữ dội. Bản chất bề ngoài của sự mục nát này là sự tăng sinh mô, tức khối u bệnh lý, với tư cách hiệu ứng phản ứng của các tế bào trước kích thích do những trực khuẩn định cư giữa chúng gây ra. Những nốt lớn bằng hạt kê hình thành, cấu tạo từ những tế bào tựa mô niêm mạc, ở giữa hay trong đó các trực khuẩn làm tổ, và trong số ấy có vài tế bào giàu nguyên sinh chất một cách khác thường, khổng lồ và chứa đầy nhiều nhân. Nhưng cuộc khoái lạc ấy chẳng bao lâu đã dẫn tới phá sản, bởi lúc ấy các nhân của những tế bào quái vật bắt đầu teo lại và tan rữa, nguyên sinh chất của chúng bị tiêu vong trong sự đông đặc; những phần mô khác của vùng chung quanh lại bị lôi cuốn bởi kích thích ngoại lai ấy; các quá trình viêm lan ra và làm các mạch máu tiếp cận bị vạ lây; những bạch huyết cầu, bị nơi tai ương kia dẫn dụ, kéo đến; cái chết đông đặc tiếp tục tiến triển; và trong khi ấy, từ lâu rồi các độc tố vi khuẩn hòa tan đã làm các trung khu thần kinh say sưa, cơ thể ở trong cơn sốt cao, với lồng ngực phập phồng, có thể nói, lảo đảo tiến về phía tan rã.

Đó là bệnh lý học, học thuyết về bệnh tật, về sự nhấn mạnh phương diện đau đớn của thân thể, nhưng, _với tư cách là_ sự nhấn mạnh cái thân thể, đồng thời cũng là sự nhấn mạnh khoái lạc, bệnh tật là hình thức dâm đãng của sự sống. Còn sự sống, về phần nó thì sao? Có lẽ nào nó chỉ là một chứng bệnh truyền nhiễm của vật chất, cũng như cái mà người ta có thể gọi là sự tự sinh của vật chất, rốt cuộc, chỉ là bệnh hoạn, là một sự tăng sinh do kích thích của cái phi vật chất? Bước đầu tiên nhất hướng tới cái ác, khoái lạc và cái chết, hẳn phải được xác định ngay ở nơi, do cái nhột nhạo của một sự thẩm nhập vô danh gây nên, diễn ra sự gia tăng mật độ đầu tiên của tinh thần kia, sự tăng sinh phì nhiêu một cách bệnh lý của mô thể nó, thứ vừa là khoái cảm vừa là phòng vệ ấy, tiền đề sơ khởi nhất của cái có thực thể, tạo thành sự chuyển tiếp từ cái phi vật chất sang cái vật chất. Đó là sự sa ngã. Sự tự sinh lần thứ hai, sự ra đời của cái hữu cơ từ cái vô cơ, chỉ còn là một sự đẩy tính thân xác lên thành ý thức theo lối tệ hại hơn nữa, cũng như bệnh hoạn của cơ thể là một sự đẩy thân tính của nó lên trong cơn say sưa và một sự nhấn quá mức vô nề nếp đối với thân tính ấy: sự sống chỉ còn là một bước tiếp theo trên con đường phiêu lưu của tinh thần đã mất phẩm hạnh, là phản xạ nóng bừng vì xấu hổ của thứ vật chất đã được đánh thức đến khả năng cảm thụ, thứ vật chất đã tỏ ra ham tiếp nhận kẻ đánh thức nó...

Sách vở chất đống trên chiếc bàn nhỏ dưới đèn, một cuốn nằm dưới đất, cạnh ghế nằm, trên tấm đệm của lôgia, còn cuốn mà Hans Castorp vừa khảo cứu sau chót thì đang đè trên bụng chàng, ép xuống, làm hơi thở chàng nặng trĩu đi rất nhiều, song từ vỏ não chàng vẫn không có mệnh lệnh nào truyền xuống những bắp cơ phụ trách để gạt nó đi. Chàng đã đọc xuôi xuống hết trang sách, cằm chạm ngực, mí mắt đã sụp xuống trên đôi mắt xanh đơn sơ. Chàng nhìn thấy hình ảnh của sự sống, vóc thân nở hoa của nó, vẻ đẹp được thịt da nâng đỡ. Nàng đã rời hai bàn tay khỏi gáy, và cánh tay nàng mở ra, mà ở mặt trong, nhất là dưới lớp da mỏng nơi khớp khuỷu, các mạch máu, hai nhánh của những tĩnh mạch lớn, hiện lên xanh nhạt, những cánh tay ấy ngọt ngào đến khôn tả. Nàng nghiêng mình về phía chàng, nghiêng xuống phía chàng, phủ lên trên chàng, chàng cảm thấy mùi hương hữu cơ của nàng, cảm thấy cú thúc nhọn của quả tim nàng. Một sự dịu mềm nóng hổi quấn lấy cổ chàng, và trong lúc chàng, tan biến vì khoái lạc và kinh hoàng, đặt hai tay lên mặt ngoài cánh tay trên của nàng, vào chỗ lớp da lấm tấm phủ trên _triceps_ mang một sự mát lạnh khoan khoái, chàng cảm thấy trên môi mình sự mút dính ẩm ướt của nụ hôn nàng.

Điệu múa tử thần

Ít lâu sau Giáng sinh, tay kỵ sĩ qua đời... Nhưng trước đó thì Giáng sinh còn diễn ra đã, hai ngày lễ này, hay nếu kể cả ngày vọng lễ, thì là ba ngày, những ngày mà Hans Castorp đã đón đợi với đôi phần kinh ngại và một nỗi chờ xem lắc đầu, không biết ở đây chúng sẽ mang bộ dạng ra sao, rồi rốt cuộc, với tư cách những ngày tự nhiên có sáng, trưa, chiều và thời tiết ngẫu nhiên ở mức vừa phải, cũng không khác gì những ngày khác cùng loại, đã hiện lên rồi phai tàn: bên ngoài được trang hoàng và đánh dấu đôi chút, trong khoảng thời gian được phân cho mình, chúng đã thực thi quyền thống trị ý thức của chúng trong đầu óc và trái tim con người, rồi, để lại một lớp lắng của những ấn tượng khác thường, trở thành quá khứ gần và xa hơn...

Con trai của viên Hofrat, tên là Knut, lên thăm trong kỳ nghỉ và ở cùng cha tại cánh nhà bên, một thanh niên đẹp trai, song cái gáy của cậu ta cũng đã nhô ra hơi quá. Người ta cảm thấy sự hiện diện của cậu Behrens trẻ trong bầu không khí; các bà các cô bộc lộ tính hay cười, thích chưng diện và dễ bẳn gắt, và trong chuyện trò của họ chỉ xoay quanh những cuộc chạm mặt với Knut ở vườn, trong rừng hoặc khu nhà dưỡng khách. Hơn nữa, chính cậu ta cũng có khách: một số bạn đại học kéo lên thung lũng, sáu bảy sinh viên, trọ trong làng nhưng dùng bữa tại nhà viên Hofrat, rồi hợp thành từng toán cùng bạn học của mình rong ruổi khắp vùng. Hans Castorp tránh họ. Chàng tránh những người trẻ ấy và, nếu cần, cùng Joachim lánh đi để khỏi gặp, chẳng mảy may muốn đụng mặt họ. Những người thuộc về giới trên này bị ngăn cách với những kẻ ca hát, dạo bộ và phe phẩy gậy ấy bởi cả một thế giới; chàng không muốn nghe cũng không muốn biết gì về họ. Thêm nữa, phần lớn trong bọn họ dường như đến từ miền Bắc, biết đâu trong ấy lại có đồng hương, mà Hans Castorp thì ngại đồng hương nhất đời; lắm khi chàng khó chịu nghĩ đến khả năng những người Hamburg nào đó có thể đến “Berghof”, nhất là Behrens từng bảo thành phố ấy vẫn luôn cung cấp cho viện một số lượng đáng kể. Có lẽ có những người như thế trong số các bệnh nhân nặng và sắp chết mà người ta không trông thấy. Chỉ trông thấy một nhà buôn má hóp ngồi ở bàn của Iltis từ mấy tuần nay, và nghe nói ông ta ở Cuxhaven. Nghĩ đến người này, Hans Castorp vui vì ở đây khó mà va chạm với những người không cùng bàn biết bao, và cũng vui vì miền quê gốc của chàng rộng lớn và lắm tầng bậc đến thế. Sự hiện diện dửng dưng của nhà buôn ấy đã làm suy yếu rất nhiều những nỗi lo chàng từng gắn với chuyện người Hamburg xuất hiện trên này.

Đêm vọng lễ vậy là đã đến gần, rồi một ngày kia đứng trước cửa, và sang hôm sau đã thành hiện diện... Hồi ấy vẫn còn hơn sáu tuần nữa mới tới, khi Hans Castorp ngạc nhiên thấy người ta ở đây đã nói đến Giáng sinh: nghĩa là, tính theo toán học, vẫn còn từng ấy thời gian như toàn bộ thời gian lưu lại của chàng theo dự kiến ban đầu, cộng với quãng chàng phải nằm liệt giường. Thế nhưng khi ấy đó vẫn là một khối thời gian lớn lao, nhất là nửa đầu của nó, ít nhất theo điều nay Hans Castorp ngẫm lại, trong khi lượng thời gian ngang bằng ấy bây giờ lại có nghĩa rất ít, gần như chẳng là gì cả: những người trong phòng ăn, giờ đây chàng thấy vậy, đã đúng khi coi nó nhỏ nhặt đến thế. Sáu tuần, tức còn chưa nhiều bằng số ngày của một tuần: mà như thế thì có là gì, nếu xét thêm câu hỏi xa hơn, rằng một tuần là gì, một vòng quay bé nhỏ từ thứ Hai sang Chủ nhật rồi lại thứ Hai là gì. Chỉ cần cứ hỏi mãi về giá trị và ý nghĩa của đơn vị nhỏ hơn kế tiếp, là sẽ hiểu rằng khi cộng dồn lên thì chẳng thể thành ra bao nhiêu, mà tác dụng của sự cộng dồn ấy lại đồng thời cũng là một sự rút ngắn, xóa nhòa, co rút và tiêu hủy rất mạnh. Một ngày là gì, nếu tính chẳng hạn từ khoảnh khắc người ta ngồi vào bữa trưa cho tới khi khoảnh khắc ấy tái hiện sau hai mươi bốn tiếng? Không là gì cả, tuy rành rành là hai mươi bốn tiếng. Nhưng một giờ là gì, nếu người ta trải qua nó trong liệu pháp nằm nghỉ, trên một cuộc dạo bộ hay trong khi ăn, mà như thế thì các khả năng để tiêu dùng đơn vị ấy hầu như cũng đã cạn? Lại cũng chẳng là gì. Nhưng sự cộng dồn của cái không là gì, xét về bản tính, không mấy nghiêm trọng. Sự việc trở nên nghiêm trọng nhất khi người ta đi xuống tới cực vi: bảy lần sáu mươi giây ấy, trong đó người ta giữ chiếc nhiệt kế giữa hai môi để có thể tiếp tục đường biểu nhiệt, lại sống dai và nặng ký lạ thường; chúng giãn ra thành một cõi vĩnh cửu nho nhỏ, tạo nên những lớp lắng chắc đặc bậc nhất trong cuộc vun vút mờ bóng của thời gian lớn...

Ngày lễ hầu như không đủ sức quấy động trật tự sinh hoạt của cư dân Berghof. Một cây thông đẹp dáng đã được dựng lên từ mấy hôm trước ở đầu hẹp phía phải của phòng ăn, gần bàn người Nga xấu, và hương của nó, đôi khi xuyên qua làn hơi của những món ăn phong phú mà chạm tới người dùng bữa, đã gọi dậy một cái gì như sự trầm ngâm trong mắt vài người ở bảy chiếc bàn. Trong bữa tối ngày 24 tháng Mười Hai, cây thông hiện ra được trang hoàng sặc sỡ bằng dây kim tuyến, cầu thủy tinh, những quả thông mạ vàng, những trái táo nhỏ treo trong túi lưới và đủ loại bánh kẹo, còn những ngọn nến sáp màu của nó cháy trong bữa ăn và cả sau đó. Người ta bảo trong phòng của những người nằm liệt giường cũng có những cây nho nhỏ đang cháy; ai nấy đều có cây của mình. Và bưu phẩm gửi gói đã rất dồi dào từ mấy ngày nay. Joachim Ziemßen và Hans Castorp cũng nhận được những bưu kiện từ quê nhà xa xôi và sâu thẳm, những món quà Giáng sinh gói ghém cẩn thận mà họ bày ra trong phòng mình: những món y phục khéo chọn, cà vạt, đồ xa xỉ bằng da và niken, cùng nhiều bánh ngày lễ, hạt khô, táo và marzipan, những món dự trữ mà hai người anh em họ nhìn với ánh mắt ngờ vực, tự hỏi chẳng biết ở đây rồi bao giờ mới đến lúc dùng đến chúng. Hans Castorp biết Schalleen đã chuẩn bị gói quà của mình, và cả, sau khi bàn bạc thực tế với các ông cậu, sắm sửa các tặng vật nữa. Kèm theo có một bức thư của James Tienappel, trên thứ giấy riêng dày cộp, nhưng đánh máy. Trong đó người cậu chuyển lời chúc lễ và chúc bình phục của cụ cậu và của chính mình, đồng thời vì lý do thực tế còn gộp luôn cả lời chúc mừng năm mới sắp tới, y như cách Hans Castorp cũng đã làm khi kịp thời viết thư Giáng sinh cùng bản báo cáo lâm sàng gửi cho ông lãnh sự Tienappel trong tư thế nằm.

Cây thông trong phòng ăn bừng sáng, tí tách, tỏa hương và giữ cho ý thức về giờ khắc ấy tỉnh thức trong đầu óc và trái tim mọi người. Người ta đã sửa soạn y phục; các ông mặc lễ phục, còn nơi các bà các cô người ta thấy những món nữ trang hẳn đã từ các xứ miền đồng bằng tới đây qua bàn tay người chồng yêu dấu. Cả Clawdia Chauchat cũng đã thay chiếc áo len lông cừu thường thấy trên này bằng một chiếc áo đầm phòng khách, nhưng chiếc này lại có chút gì tùy tiện, hay đúng hơn là dân tộc tính: đó là một bộ váy thắt đai màu sáng, có thêu, mang đặc tính nền tảng nông dân Nga, hay chí ít cũng Balkan, có lẽ Bulgaria, đính những hạt kim tuyến vàng nhỏ, mà những nếp xếp của nó đem lại cho dáng nàng một vẻ đầy đặn mềm mại khác thường và hòa hợp tuyệt vời với điều Settembrini ưa gọi là “tướng mạo Tatar” của nàng, đặc biệt là những “ánh lửa sói thảo nguyên” nơi nàng. Bàn người Nga tốt vui vẻ rộn ràng lắm; ở đó trước tiên nút sâm panh bật nổ, rồi thứ rượu ấy hầu như được uống ở mọi bàn. Ở bàn của hai anh em họ, chính bà cô là người gọi nó cho cô cháu gái mình và cho Marusja, rồi bà khoản đãi tất cả mọi người. Thực đơn được chọn lựa kỹ, kết bằng bánh phô mai và kẹo; sau đó có cà phê và rượu mùi, và thỉnh thoảng một cành thông bốc lửa bất ngờ, đòi hỏi phải dập tắt, lại gây nên một cơn hoảng hốt the thé quá đáng. Settembrini, ăn mặc như thường lệ, ngồi một lúc vào cuối bữa tiệc bên bàn của hai anh em họ, vừa xỉa răng vừa trêu bà Stöhr, rồi nói đôi lời về người con trai bác thợ mộc và bậc rabbi của nhân loại, mà hôm nay người ta giả định là ngày sinh của ông. Liệu con người ấy có thực sự từng sống hay không, điều đó còn chưa chắc. Nhưng cái đã ra đời thuở ấy và từ đó tới nay bắt đầu cuộc tiến thắng không gián đoạn của mình, ấy là ý niệm về giá trị của linh hồn cá nhân, đi cùng với ý niệm bình đẳng, nói gọn lại, là nền dân chủ cá nhân chủ nghĩa. Theo nghĩa ấy, ông cạn ly rượu người ta đẩy cho ông. Bà Stöhr cho rằng cách dùng từ của ông “nước đôi và vô tình”. Bà đứng dậy phản đối, và vì đằng nào người ta cũng đã bắt đầu kéo sang các phòng khách chung, nên những người cùng bàn bèn noi gương bà.

Không khí giao du của buổi tối ấy có thêm sức nặng và sinh khí nhờ việc trao quà cho Hofrat, người cùng Knut và Mylendonk sang chơi nửa giờ. Việc ấy diễn ra trong phòng khách có những trò đùa quang học. Món quà riêng của nhóm người Nga là một vật bằng bạc, một chiếc đĩa tròn rất lớn, ở giữa có khắc chữ lồng của người nhận, và sự hoàn toàn vô dụng của nó thì ai cũng thấy ngay. Còn chiếc trường kỷ do các vị khách còn lại góp tặng thì ít ra cũng có thể dùng để nằm, tuy khi ấy vẫn chưa có chăn với gối, mới chỉ bọc vải mà thôi. Nhưng đầu ghế có thể điều chỉnh được, và Behrens thử độ tiện nghi của nó bằng cách, ôm chiếc đĩa vô tích sự dưới nách, ngả dài người lên đó, nhắm mắt lại và bắt đầu ngáy như một xưởng cưa, vừa bảo mình là Fafnir với kho vàng. Tiếng reo cười nổi lên khắp nơi. Bà Chauchat cũng cười lớn trước màn diễn ấy; lúc cười, mắt bà nheo lại và miệng há ra, cả hai đều đúng y như Pribislav Hippe mỗi khi cười, Hans Castorp nhận thấy thế.

Ngay sau khi vị thủ trưởng ra về, người ta ngồi vào các bàn chơi. Nhóm người Nga, như thường lệ, chiếm phòng khách nhỏ. Trong đại sảnh, vài vị khách đứng quanh cây thông Noel, nhìn những đầu nến nhỏ tắt dần trong các ống kim loại bé tí của chúng và nhấm nháp đồ treo trên cây. Bên những chiếc bàn đã bày sẵn cho bữa điểm tâm thứ nhất, lác đác có người ngồi, cách xa nhau, kẻ chống tay tì người theo một kiểu, tất cả im lặng, mà mỗi người im lặng riêng rẽ.

Ngày Giáng sinh thứ nhất ẩm ướt và mù sương. Behrens nói đó là mây, thứ mây mà người ta đang ngồi giữa lòng nó; trên này không có sương mù. Nhưng mây hay sương mặc lòng, cái ẩm ướt thì khó chịu rõ rệt. Lớp tuyết nằm dưới đất tan xốp ở mặt ngoài, trở nên rỗ và dính. Trong lúc tuân theo liệu trình, mặt và tay buốt cứng còn khó chịu hơn nhiều so với lúc rét hanh có nắng.

Ngày ấy nổi bật bởi một cuộc trình diễn âm nhạc vào buổi tối, hẳn hoi là một buổi hòa nhạc với những hàng ghế và chương trình in sẵn, do nhà “Berghof” khoản đãi những người trên này. Đó là một tối ca khúc, do một nữ ca sĩ chuyên nghiệp cư ngụ tại chỗ và có dạy học trình bày; dưới đường khoét ngực của chiếc dạ phục bà đeo hai tấm huy chương sang hai bên, cánh tay thì như hai chiếc que, còn giọng hát, với cái vẻ thiếu âm sắc rất riêng của nó, đem lại một lời giải đáp buồn bã về những lý do khiến bà an cư trên này. Bà hát:

“Tôi mang mối tình của tôi theo mình khắp chốn.”

Người đệm đàn cho bà cũng là người cư ngụ tại chỗ... Bà Chauchat ngồi ở hàng ghế đầu, nhưng lại lợi dụng giờ nghỉ để lui ra, thành thử từ đó Hans Castorp có thể lắng nghe âm nhạc bằng một trái tim yên ổn hơn, vừa nghe hát vừa đọc theo lời ca in trên chương trình. Settembrini ngồi bên chàng một lúc, nhưng rồi cũng biến đi, sau khi buông vài nhận xét cộc và rất hình tượng về thứ _bel canto_ đục mờ của dân cư ngụ tại chỗ, và bày tỏ cái thích thú châm biếm của ông trước việc ngay tối nay nữa người ta vẫn trung thành, thân tình quây quần với chính mình đến thế. Nói thật ra, Hans Castorp cảm thấy nhẹ nhõm khi cả hai đã đi, người đàn bà mắt hí và nhà giáo huấn, để chàng có thể tự do dồn sự chú ý vào những bài hát. Chàng thấy điều ấy thật hay: ở khắp thế giới, và ngay cả trong những hoàn cảnh đặc biệt nhất, người ta vẫn làm âm nhạc, có lẽ ngay cả trong những cuộc thám hiểm địa cực nữa.

Ngày Giáng sinh thứ hai không khác một ngày Chủ nhật bình thường, hay thậm chí chỉ một ngày thường trong tuần, ở chỗ nào hơn ngoài cái ý thức lờ mờ rằng nó hiện diện; và khi nó qua đi, thì lễ Giáng sinh đã nằm về phía quá khứ, hoặc, cũng đúng không kém, lại nằm trong tương lai xa, xa theo năm tháng: từ đây đến lúc nó trở lại trong vòng tuần hoàn còn đúng mười hai tháng nữa, rốt cuộc cũng chỉ nhiều hơn bảy tháng so với quãng thời gian Hans Castorp đã sống trên này.

Nhưng rồi ngay sau Giáng sinh năm ấy, còn trước cả Tết Dương lịch, ông kỵ sĩ quả nhiên qua đời. Hai anh em con chú biết điều đó từ Alfreda Schildknecht, tức chị Berta, người điều dưỡng cho Fritz Rotbein tội nghiệp; chị kể cho họ nghe sự việc kín đáo ấy ngoài hành lang. Hans Castorp lưu tâm đến cái chết ấy một cách đặc biệt, một phần vì những biểu hiện sinh tồn của ông kỵ sĩ đã thuộc vào những ấn tượng đầu tiên chàng nhận được trên này, những ấn tượng, theo chàng nhớ, trước hết đã làm dấy lên nơi làn da mặt chàng cái phản xạ hơi nóng từ đó về sau không chịu rời đi nữa, một phần vì những lý do luân lý, có thể nói: những lý do tinh thần. Chàng giữ Joachim lại khá lâu trong cuộc chuyện trò với cô điều dưỡng, người đón nhận lời thăm hỏi và sự trao đổi với một lòng biết ơn bám víu. Chị nói, quả là một phép lạ khi ông kỵ sĩ còn sống mà trải qua được ngày lễ. Từ lâu ông đã tỏ ra là một tay hào hoa gan lì; nhưng rốt cuộc thì ông còn thở bằng cái gì, chẳng ai hiểu nổi. Dĩ nhiên mấy ngày gần đây ông chỉ còn cầm cự được nhờ những lượng ôxy khổng lồ: riêng hôm qua thôi ông đã dùng bốn mươi bình, mỗi bình sáu franc. Hẳn các ông tự tính được chuyện đó ngốn đến mức nào; mà còn phải nhớ rằng người vợ, trong vòng tay bà ông mới tắt thở, sẽ bị bỏ lại hoàn toàn trắng tay. Joachim không tán thành sự tốn kém ấy. Để làm gì cái sự hành hạ và kéo dài nhân tạo, tốn tiền đến thế, trong một trường hợp hoàn toàn vô vọng? Không trách người ấy đã mù quáng tiêu xài thứ khí sự sống đắt đỏ kia, vì nó đã bị nhét vào tay ông. Trái lại, những người điều trị phải nghĩ cho có lý hơn và, nhân danh Chúa, để ông đi nốt con đường không thể tránh của mình, hoàn toàn chưa nói đến hoàn cảnh, và nhất là lại còn xét đến chính hoàn cảnh ấy. Người sống chẳng phải cũng có quyền của họ đó sao, vân vân. Hans Castorp phản đối gay gắt. Anh em họ của chàng gần như nói năng y hệt Settembrini rồi, chẳng còn kính sợ, dè dặt trước nỗi khổ đau nữa. Rốt cuộc ông kỵ sĩ đã chết, đến đó là hết trò cợt; người ta không còn làm gì hơn để tỏ sự nghiêm trang của mình nữa, và trước một người hấp hối, mọi kính trọng và mọi khoản tôn vinh đều là điều phải có, Hans Castorp khăng khăng như vậy. Chàng chỉ mong rằng rốt cuộc Behrens đã không gào vào ông kỵ sĩ và mắng mỏ một cách bất kính? Schildknecht đáp: không có cớ gì cả. Quả ông kỵ sĩ rốt cuộc còn định hấp tấp thử trốn đi một chút, đã muốn nhảy khỏi giường; nhưng chỉ một lời nhắc nhẹ rằng việc ấy vô ích cũng đủ khiến ông thôi hẳn ý định đó mãi mãi.

Hans Castorp đi nhìn người vừa khuất. Chàng làm thế để thách thức cái hệ thống bưng bít đang ngự trị, vì chàng khinh bỉ cái thói ích kỷ muốn không biết, không thấy, không nghe gì của những người khác, và muốn lấy hành động mà bác bỏ nó. Ở bàn ăn, chàng đã thử đưa cái chết ấy ra làm chuyện nói, nhưng gặp phải sự khước từ nhất loạt và cứng đầu đến thế đối với đề tài ấy khiến chàng vừa xấu hổ vừa phẫn nộ. Bà Stöhr gần như thô lỗ hẳn ra. Bà hỏi chàng nghĩ gì mà lại mở đầu chuyện như thế, và rốt cuộc chàng đã được dạy dỗ theo kiểu nào. Kỷ luật của nhà này che chở rất cẩn mật cho họ, tức toàn thể bệnh nhân, khỏi bị đụng đến bởi những câu chuyện như vậy, thế mà giờ lại có một cậu choai choai đến oang oang nói ra, lại còn đúng lúc món quay và lại nữa ngay trước mặt bác sĩ Blumenkohl, người ngày nào cũng có thể bị cái đó chộp lấy. (Câu này bà ghé tay che miệng mà nói.) Nếu còn tái diễn, bà sẽ khiếu nại cho ra nhẽ. Chính khi ấy mà người bị mắng ấy đã quyết định, và cũng tuyên bố luôn, rằng phần mình chàng sẽ đến viếng người bạn cùng nhà đã mất, lặng lẽ làm một việc tưởng niệm bên giường, để tỏ lòng kính trọng cuối cùng; Joachim nữa, chàng cũng khiến phải làm như vậy.

Nhờ chị Alfreda môi giới, họ vào được phòng tang, nằm ở tầng một, ngay dưới phòng riêng của họ. Bà góa tiếp họ: một phụ nữ tóc vàng nhỏ người, bơ phờ, kiệt quệ vì những đêm thức canh, khăn tay che trước miệng, mũi đỏ, khoác một chiếc áo choàng plaid dày, cổ áo dựng lên, vì trong phòng rất lạnh. Máy sưởi đã tắt, cửa ra ban công mở toang. Hai chàng trai khẽ nói những lời cần thiết, rồi, được một cử động tay mời đến với vẻ đau đớn, đi qua căn phòng đến bên giường; họ đi với những bước chân cung kính nghiêng tới phía trước, không dùng gót ủng, rồi đứng ngắm nơi giường người chết, mỗi người một kiểu: Joachim thì khép mình theo lề lối công vụ, trong một cái cúi nửa người như chào; Hans Castorp thì thả lỏng và chìm đắm, hai tay bắt chéo trước người, đầu nghiêng lên vai, với một vẻ mặt giống như lúc chàng thường nghe nhạc. Đầu ông kỵ sĩ được kê cao, khiến thân thể, cái cơ cấu dài dằng dặc kia và cái vòng sinh thành nhiều lớp của đời sống kia, với phần chân ở cuối giường hơi nâng cao dưới tấm chăn, hiện ra càng phẳng hơn, hầu như phẳng như tấm ván. Một vòng hoa đặt ở vùng đầu gối, và nhành lá cọ nhô ra từ đó chạm vào đôi bàn tay lớn, vàng vọt, xương xẩu đang chắp trên lồng ngực hõm xuống. Cái mặt với hộp sọ hói, chiếc mũi gồ, gò má nhọn và bộ ria mép dày màu hung vàng cũng vàng vọt và xương xẩu như thế; chính độ dày của nó lại càng khoét sâu thêm hai hõm má xám ngoét lởm chởm râu. Hai mắt khép lại bằng một cách thức có phần rắn quá một cách không tự nhiên; bị ép chặt, Hans Castorp phải nghĩ vậy, chứ không phải chỉ khép lại: người ta gọi đó là nghĩa cử yêu thương sau cùng, mặc dầu việc ấy được làm vì những kẻ ở lại nhiều hơn là vì người chết. Lại còn phải làm cho kịp, ngay sau khi chết; bởi nếu sự hình thành myosin trong các cơ đã tiến xa rồi, thì không thể làm được nữa, và người chết cứ thế nằm đó, cứng đờ, mắt trừng mở, còn ý niệm đẹp đẽ về “giấc ngủ” thì tiêu tan.

Với sự hiểu biết chuyên môn, và còn theo hơn một nghĩa, ở đúng trong phần tử của mình, Hans Castorp đứng bên giường, thạo việc mà vẫn thành kính. “Trông ông như đang ngủ,” chàng nói vì nhân đạo, mặc dầu sự khác biệt thì rất lớn. Rồi bằng một giọng trầm thích đáng, chàng bắt đầu trò chuyện với bà góa của ông kỵ sĩ, hỏi han về lịch sử bệnh tật của chồng bà, những ngày và những giây phút cuối cùng của ông, về việc phải thu xếp đưa thi hài về Kärnten; mọi câu hỏi đều cho thấy một sự tham dự và am hiểu vừa thuộc y khoa vừa thuộc đạo đức-tinh thần. Bà góa, với lối nói kéo dài và giọng mũi kiểu Áo của mình, thỉnh thoảng lại nấc lên, thấy đáng chú ý khi những người trẻ tuổi lại sẵn lòng bận tâm đến nỗi buồn của người khác đến thế; Hans Castorp đáp rằng chàng và em họ đều chính là người bệnh, vả lại riêng phần chàng, từ sớm chàng đã từng đứng bên giường hấp hối của những người thân cận, chàng là trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, cái chết đối với chàng, có thể nói, đã quen thuộc từ lâu. Bà hỏi chàng đã chọn nghề gì. Chàng đáp, chàng “đã từng” là kỹ sư. “Đã từng ư?” “Đã từng”, theo nghĩa là nay bệnh tật, và một cuộc lưu lại trên này có giới hạn còn hết sức mơ hồ, đã xen vào giữa, mà đó dẫu sao cũng là một vết cắt đáng kể và có thể là một thứ bước ngoặt đời người, biết đâu được. (Joachim nhìn chàng với một vẻ kinh hoàng dò hỏi.) “Còn ông em họ của cậu?” Ông ấy muốn làm lính dưới miền đồng bằng, anh là một ứng viên sĩ quan. “Ồ,” bà nói, “nghề binh quả cũng là một nghề giữ người ta ở trong sự nghiêm cẩn; một người lính phải tính đến chuyện, trong những trường hợp nào đó, sẽ đến rất gần cái chết, và có lẽ làm phải khi sớm quen với cảnh tượng của nó.” Bà tiễn hai chàng trai đi, vừa cảm tạ vừa điềm đạm thân tình, một phong thái hẳn khiến người ta kính trọng nếu nghĩ đến hoàn cảnh ngột ngạt của bà, và đặc biệt là hóa đơn ôxy rất lớn mà người chồng để lại. Hai anh em con chú trở về tầng của mình. Hans Castorp tỏ ra mãn nguyện về chuyến viếng thăm ấy và cảm thấy tinh thần mình được những ấn tượng vừa nhận kích thích.

“_Requiescat in pace_,” chàng nói. “_Sit tibi terra levis. Requiem aeternam dona ei, Domine._ Cậu thấy đấy, hễ dính đến cái chết, và người ta nói với người chết hay nói về người chết, thì tiếng Latin lại có hiệu lực, đó là ngôn ngữ chính thức trong những trường hợp như thế, và qua đó người ta nhận ra cái chết là một việc đặc biệt biết bao. Nhưng không phải vì một thứ lịch thiệp nhân văn mà người ta nói tiếng Latin để tôn kính nó đâu; thứ tiếng dành cho người chết không phải là Latin giáo dưỡng, cậu hiểu chứ, mà thuộc về một tinh thần hoàn toàn khác, thậm chí có thể nói là đối nghịch hẳn. Đó là Latin linh thiêng, thổ ngữ nhà dòng, Trung cổ, đại loại như một khúc hát trầm đục, đơn điệu, cất lên từ dưới lòng đất; Settembrini hẳn sẽ không thích, nó chẳng dành cho những nhà nhân văn, những người cộng hòa và những tay giáo huấn như thế, nó thuộc về một khuynh hướng tinh thần khác, cái khuynh hướng khác vẫn có ở đời. Tớ nghĩ người ta phải sáng tỏ với chính mình về những khuynh hướng tinh thần khác nhau ấy, hay đúng hơn có lẽ nên gọi là những tâm thế tinh thần; có cái thành kính và cái tự do. Cả hai đều có chỗ hay của chúng, nhưng điều tớ canh cánh trong lòng đối với cái tự do, ý tớ là kiểu Settembrini ấy, chỉ là nó tưởng như mình độc quyền nắm giữ phẩm giá con người, thế là quá lời. Cái kia, theo lối của nó, cũng chứa rất nhiều phẩm giá con người và tạo cớ cho biết bao lễ độ, tác phong chỉnh tề và hình thức cao nhã, thậm chí còn nhiều hơn cái “tự do” kia, mặc dầu chính nó lại đặc biệt để mắt đến sự yếu đuối và mỏng manh của con người, và ý nghĩ về cái chết cùng sự phân hủy giữ một vai trò quan trọng đến thế trong nó. Cậu đã bao giờ xem ở rạp vở “Don Carlos” chưa, và xem ở triều đình Tây Ban Nha sự thể diễn ra ra sao khi vua Philip bước vào, toàn thân đồ đen, đeo Huân chương Đai Tất và Lông Cừu Vàng, rồi chậm rãi nhấc chiếc mũ lên, cái mũ hầu như đã giống những chiếc mũ quả dưa của chúng ta rồi, nhấc nó lên theo lối ấy và nói: “Xin các đại thần che đầu lại,” hay đại loại thế; phải nói là chừng mực đến mức tột độ, ở đó không thể nào nói đến chuyện buông tuồng và thói nết lôi thôi được, trái lại là khác, và rồi hoàng hậu mới nói: “Ở nước Pháp của tôi xưa kia đâu như thế”; dĩ nhiên, bà ấy thấy cái đó quá mực chính xác và rườm rà, bà ấy muốn mọi sự vui vẻ hơn, nhân bản hơn. Nhưng nhân bản nghĩa là gì? Cái gì cũng là nhân bản cả. Cái vẻ sùng kính Chúa theo lối Tây Ban Nha, khiêm cung-trịnh trọng và nghiêm ngặt theo khuôn thước ấy là một dạng rất xứng đáng của tính người, theo tớ nghĩ; và mặt khác, dưới chữ “nhân bản”, người ta có thể che đậy mọi thứ cẩu thả và uể oải, điều này hẳn cậu sẽ đồng ý với tớ.”

“Điều ấy thì tớ đồng ý với cậu,” Joachim nói, “sự uể oải và buông tuồng thì dĩ nhiên tớ cũng không thể chịu được, kỷ luật là điều phải có.”

"Phải, cậu nói thế là theo cách một quân nhân, và tôi nhận rằng ở trong quân ngũ, người ta hiểu những chuyện ấy. Bà góa nói rất đúng khi bảo về nghề của các cậu rằng nó có liên hệ với sự nghiêm trọng ấy, bởi lúc nào các cậu cũng phải tính đến trường hợp nghiêm trọng tột bậc và đến việc có thể phải đụng đầu với cái chết. Các cậu có quân phục, nó gọn ghẽ và tươm tất, cổ áo lại cứng, như thế tạo cho các cậu _bienséance_. Rồi các cậu có tôn ti trật tự và sự phục tùng, lại còn kính lễ nhau một cách nghi thức, điều ấy diễn ra theo tinh thần Tây Ban Nha, từ lòng mộ đạo, và tận đáy lòng tôi cũng thích nó lắm. Chúng ta, những người dân sự, cũng nên có nhiều hơn cái tinh thần ấy trong phong tục và trong cách xử sự của mình, tôi thấy như thế hợp hơn, thấy như thế thích đáng. Theo tôi, thế giới và đời sống vốn có tính chất khiến người ta nói chung nên mặc đồ đen, với một cổ xếp hồ cứng thay cho cổ áo của các cậu, và nghiêm trang, trầm giọng, kiểu cách mà giao tiếp với nhau trong ý nghĩ về cái chết, như thế mới hợp ý tôi, như thế mới có đạo lý. Cậu thấy đấy, đó cũng là một nhầm lẫn và một sự tự phụ nữa của Settembrini, thật cũng hay là nhân nói chuyện tôi lại chạm đến điểm này. Không những ông ta tưởng mình độc quyền nhân phẩm, mà còn tưởng mình độc quyền cả đạo lý nữa, với cái ‘công việc thực tiễn của đời sống’ của ông ta và những lễ Chủ nhật mừng tiến bộ của ông ta (như thể chính vào ngày Chủ nhật người ta lại không nên nghĩ đến điều gì khác ngoài tiến bộ), rồi với việc tiêu diệt có hệ thống mọi nỗi khổ, mà cậu thì chẳng biết gì về chuyện ấy đâu, nhưng ông ta đã kể cho tôi nghe để khai hóa cho tôi, tiêu diệt có hệ thống, bằng một cuốn từ điển. Thế nếu chính điều ấy lại khiến tôi thấy là vô đạo lý, thì sao? Dĩ nhiên tôi không nói với ông ta, vì với cái thổ ngữ đầy sức tạo hình của mình, ông ta sẽ nói cho tôi lún xuống tận nền đất mất: ‘Tôi cảnh báo ngài, kỹ sư!’ Nhưng nghĩ thầm phần mình thì người ta vẫn được phép chứ, - Sire, xin ban cho tự do tư tưởng. Tôi nói cho cậu biết nhé," chàng kết lại. (Hai người đã lên đến phòng Joachim, và Joachim bắt đầu chuẩn bị nằm xuống.) "Tôi sẽ nói cho cậu biết điều tôi đã quyết. Ở đây người ta sống kề cửa với những người đang chết, với những thập tự nặng nề nhất và những nỗi khốn cùng lớn nhất, thế mà không những người ta làm như thể chuyện ấy chẳng dính dáng gì đến mình, mà còn được chở che, được bảo vệ để khỏi hề chạm phải nó và khỏi nhìn thấy gì về nó, rồi người kỵ sĩ quý ngài ấy đây, họ cũng lại sẽ lén lút đưa sang bên đi thôi, trong khi ta ăn bữa xế hay ăn sáng. Tôi thấy thế là vô đạo lý. Cô Stöhr vừa rồi đã nổi đóa lên vì tôi chỉ mới nhắc đến cái chết ấy thôi, chuyện đó đối với tôi thật ngớ ngẩn, và dù cô ta có vô học, có tưởng rằng ‘Khẽ thôi, khẽ thôi, khúc điệu mộ đạo’ là nằm trong ‘Tannhäuser’, như mới dăm bữa trước ở bàn ăn cô ta đã lỡ lời như thế, thì trong chuyện này cô ta vẫn có thể cảm thấy có đạo lý hơn đôi chút, những người khác cũng vậy. Bởi thế tôi đã quyết rằng từ nay sẽ lưu tâm hơn đôi chút đến những ca nặng và những người hấp hối trong nhà này, điều đó sẽ tốt cho tôi, - chính cuộc viếng thăm vừa rồi, theo một nghĩa nào đó, đã làm tôi thấy dễ chịu. Tội nghiệp anh chàng Reuter hồi ấy, ở số 25, người mà trong những ngày đầu tôi đã một lần trông thấy qua khe cửa, hẳn là từ lâu đã _ad penates_ rồi và cũng đã bị lén lút đưa sang bên, - ngay hồi ấy mắt anh ta đã lớn một cách quá đáng. Nhưng bù lại còn có những người khác, nhà lúc nào cũng đầy, chưa bao giờ thiếu người mới đến, và chị Alfreda, hoặc cả bà giám viện, hay thậm chí chính Behrens nữa, hẳn sẽ vui lòng giúp chúng ta tạo nên một mối liên hệ này hay nọ, chuyện đó chắc cũng chẳng khó gì. Cứ giả như một người nào đó sắp chết có sinh nhật, và ta biết được, - điều ấy thì tìm ra được chứ. Tốt thôi, ta gửi cho người ấy - hay cho bà ấy - cho ông hay cho bà, tùy trường hợp - một chậu hoa vào phòng, một chút quan tâm của hai đồng sự vô danh, - lời chúc hồi phục tốt đẹp nhất, - chữ hồi phục thì về mặt lịch sự lúc nào cũng vẫn đúng chỗ. Rồi dĩ nhiên người ấy sẽ biết tên ta, và trong cơn yếu mệt của mình, ông hay bà sẽ nhắn qua cửa một lời chào thân thiện cho chúng ta, rồi biết đâu lại còn mời ta vào phòng đôi phút, và ta sẽ còn trao đổi với người ấy vài lời người với người trước khi người ấy tan đi. Tôi hình dung là như thế đấy. Cậu không đồng ý sao? Dù sao, phần tôi thì tôi đã quyết như vậy rồi."

Joachim thực ra cũng chẳng có mấy điều để phản đối ý định ấy. "Trái với nội quy của nhà này đấy," chàng nói; "bằng cách ấy, nói cho đúng, cậu phá lệ. Nhưng thỉnh thoảng thôi, và nếu cậu đã có lòng muốn thế, thì tôi nghĩ Behrens cũng sẽ cho cậu phép. Cậu cứ có thể viện đến mối quan tâm y học của mình."

"Phải, trong số những điều khác thì cả cái đó nữa," Hans Castorp nói; bởi quả thực những động cơ làm nảy sinh ước muốn ấy nơi chàng là những động cơ chằng chịt. Sự phản kháng đối với lòng vị kỷ đang ngự trị chỉ là một trong số đó. Điều lên tiếng trong đó, nhất là, còn là nhu cầu của tinh thần chàng muốn được coi sự đau đớn và cái chết như những điều nghiêm trọng và đáng kính, - một nhu cầu mà chàng hy vọng sẽ tìm được sự thỏa mãn và sự tăng cường nơi việc đến gần những ca nặng và những người hấp hối, như một đối trọng với vô vàn sự xúc phạm mà bằng không chàng thấy nhu cầu ấy của mình luôn luôn, từng bước một, từng ngày từng giờ, bị phơi ra hứng chịu, và qua đó, một vài phán đoán nào đó của Settembrini lại càng được xác nhận theo cách làm chàng đau. Ví dụ thì nhiều vô kể; nếu người ta hỏi Hans Castorp, có lẽ trước hết chàng sẽ nói đến những kẻ ở dưỡng đường "Berghof" vốn công khai thừa nhận rằng họ hoàn toàn không bệnh, và sống ở đây hoàn toàn tự nguyện, dưới cái cớ chính thức là hơi suy nhược đôi chút, nhưng kỳ thực chỉ vì vui thú riêng và vì lối sống của người bệnh hợp ý họ, như bà góa Hessenfeld đã được nhắc qua khi trước, một người đàn bà hoạt bát mà đam mê là đánh cuộc: bà cược với các ông, cược mọi thứ và vì mọi thứ, cược thời tiết sẽ ra sao, cược món ăn hôm ấy sẽ dọn gì, cược kết quả các cuộc tổng khám và cược xem người ta sẽ được cộng thêm bao nhiêu tháng, cược vào những cỗ xe trượt lòng máng nào đó, xe trượt băng, vào các quán quân trượt băng hay trượt tuyết trong các cuộc tranh tài thể thao, cược vào diễn biến của những mối tình đang chớm nở giữa các vị khách, và vào trăm điều khác nữa, nhiều khi hoàn toàn không đáng kể và chẳng đáng quan tâm, cược sô-cô-la, sâm banh và trứng cá muối, rồi những thứ ấy sau đó được tiêu thụ một cách lễ hội trong nhà hàng, cược tiền, vé xem chiếu bóng, và ngay cả những nụ hôn, để cho và để nhận, - tóm lại, với niềm đam mê ấy, bà đem lại nhiều hồi hộp và sinh khí cho phòng ăn, chỉ có điều là cái trò của bà dĩ nhiên không thể có vẻ gì là thật nghiêm túc trong mắt chàng trai Hans Castorp, thậm chí ngay sự có mặt của bà cũng đã hiện ra với chàng như một sự phương hại đến phẩm giá của một nơi chốn đau khổ.

Bởi vì bảo vệ phẩm giá ấy và giữ vững nó trước chính mình là điều trong thâm tâm chàng vẫn thành tín cố làm, dù điều ấy hẳn đã trở nên khó khăn đến đâu sau một thời gian gần nửa năm sống giữa những con người trên này. Những điều chàng dần dần nhìn thấy trong đời sống và mọi trò mọi vẻ của họ, trong phong tục và quan niệm của họ, chẳng giúp ích bao nhiêu cho thiện chí ấy của chàng. Có hai cậu công tử cò hương kia, mười bảy và mười tám tuổi, được gọi là "Max và Moritz", mà những cuộc lẻn ra ngoài vào buổi tối để đánh bài và chè chén với đám đàn bà đã cho thiên hạ biết bao đề tài đàm tiếu. Mới đây thôi, nghĩa là vào khoảng tám ngày sau Tết Dương lịch (vì phải ghi nhận rằng trong khi chúng ta kể, thời gian theo cách âm thầm tuôn chảy của nó vẫn không ngừng lao đi), tin đã lan ra trong bữa sáng rằng người coi nhà tắm đã bắt gặp cả hai nằm trên giường vào buổi sớm, vẫn mặc những bộ lễ phục nhàu nát. Cả Hans Castorp cũng cười; nhưng nếu chuyện ấy làm thiện chí của chàng phải xấu hổ, thì nó vẫn còn chẳng đáng là bao so với những câu chuyện về luật sư Einhuf ở Jüterbog, một gã ngoài bốn mươi, chòm râu nhọn, hai bàn tay đen lông, từ ít lâu nay ngồi thay chỗ người Thụy Điển đã khỏi bệnh ở bàn Settembrini, và kẻ này không những đêm nào cũng say khướt mới về, mà mới đây còn hoàn toàn không về, trái lại đã bị người ta tìm thấy ngoài bãi cỏ. Hắn bị coi là một tay trăng hoa nguy hiểm, và Frau Stöhr có thể lấy ngón tay chỉ cho người ta cô tiểu thư trẻ kia - dẫu dưới miền đồng bằng đã đính hôn rồi - người mà vào một giờ nhất định nọ, người ta đã thấy bước ra khỏi phòng Einhuf, chỉ khoác một tấm áo lông, bên dưới không mặc gì khác ngoài một chiếc quần lót kiểu cải cách. Chuyện đó thật bê bối, - không chỉ theo nghĩa đạo lý chung, mà còn bê bối và xúc phạm đối với cá nhân Hans Castorp, xét theo chiều hướng những nỗ lực tinh thần của chàng. Lại còn thêm rằng chàng không thể nghĩ đến con người luật sư ấy mà không đồng thời liên hệ đến Fränzchen Oberdank, con bé Fränzchen đầu chải ngôi láng mượt, một cô con gái nhà lành, mới mấy tuần trước đã được mẹ nó, một bà mệnh phụ tỉnh lẻ rất mực đoan trang, đưa lên đây. Khi mới đến và sau cuộc khám đầu tiên, Fränzchen Oberdank được coi là bệnh nhẹ; nhưng rồi, có thể nó đã phạm những điều bất cẩn nào đó, có thể đây là một trường hợp trong đó khí trời ban đầu không phải là tốt _chống lại_ bệnh cho bằng trước hết lại tốt _cho_ chính căn bệnh, hoặc có thể cô bé đã bị cuốn vào những mưu mô và những kích động nào đó có hại cho mình: bốn tuần sau ngày nhập dưỡng đường, đã xảy ra chuyện là, từ một cuộc khám mới bước ra, khi vừa vào phòng ăn, nó quăng cái túi xách tay lên không và cất giọng lanh lảnh reo: "Hoan hô, tôi phải ở lại một năm!!" - trước việc ấy, khắp cả phòng đã nổi lên một tràng cười kiểu Homeros. Nhưng mười bốn ngày sau, tin lại lan đi rằng luật sư Einhuf đã xử sự với Fränzchen Oberdank như một tên đểu cáng. Vả lại, cách nói này là do chúng tôi dùng, hoặc nhiều lắm là do Hans Castorp; bởi những kẻ mang tin có lẽ thấy bản chất của chuyện ấy chẳng mới mẻ gì đến mức phải dùng tới những lời nặng như vậy. Họ còn nhún vai ám chỉ rằng trong những chuyện thế này bao giờ cũng phải có hai người, và hẳn chẳng có gì đã xảy ra trái với ý muốn và lòng ưng thuận của một trong hai phía. Ít nhất thì đó là cách cư xử và tâm thế đạo đức của Frau Stöhr trong vụ việc đang nói.

Karoline Stöhr thật kinh khủng. Nếu có điều gì làm vướng ngại những nỗ lực tinh thần đầy thiện ý của chàng trai Hans Castorp, thì đó chính là sự tồn tại và cái lối tồn tại của người đàn bà này. Chỉ riêng những lỗi văn hóa thường trực của bà cũng đã đủ rồi. Bà nói "a-gô-nhê" thay cho "cơn hấp hối"; dùng chữ "phá sản" khi muốn trách ai đó hỗn xược, và về những hiện tượng thiên văn gây ra nhật thực thì bà phát biểu toàn những điều ngớ ngẩn ghê gớm nhất. Về những khối tuyết nằm chất đống kia, bà bảo đó là "một năng lực đích thực"; và rồi một hôm, bà khiến Herr Settembrini phải kinh ngạc rất lâu bằng lời báo rằng hiện thời bà đang đọc một quyển sách mượn ở thư viện nhà điều dưỡng, có dính dáng đến ông, ấy là quyển "Benedetto Cenelli qua bản dịch của Schiller"! Bà thích những câu đầu môi chót lưỡi khiến chàng Hans Castorp trẻ tuổi phát cáu vì cái vẻ nhạt nhẽo và cái sự tầm thường thời thượng đã bị dùng đến mòn kiệt của chúng, chẳng hạn như: "Đó mới là tột bậc!" hoặc: "Anh không sao ngờ nổi đâu!" Và bởi cái chữ "lóa mắt", thứ mà cái miệng mốt nọ đã dùng trong một thời gian dài thay cho "rực rỡ" hoặc "tuyệt hảo", nay đã tỏ ra hoàn toàn cạn kiệt, nhũn lực, bị đem dùng bừa bãi đến mức đĩ điếm và vì thế lỗi thời, nên bà lao vào tiếng mới nhất, tức chữ "kinh khủng", và từ đó, hoặc nghiêm chỉnh hoặc châm chọc, thứ gì bà cũng thấy là "kinh khủng", từ đường xe trượt, món bột tráng miệng cho đến chính thân nhiệt của bà, điều ấy cũng gây một cảm giác ghê tởm. Thêm vào đó là cái tật ngồi lê đôi mách của bà, vô độ. Bà kể rằng hôm nay Frau Salomon mặc thứ đồ lót đăng ten quý nhất, vì bà ấy được gọi đi khám và thích diện đồ lót thanh nhã trước các bác sĩ, - chuyện đó quả có thật, chính Hans Castorp cũng đã có ấn tượng rằng thủ tục khám bệnh, không kể kết quả ra sao, đem lại khoái thú cho các quý bà, và họ ăn diện một cách làm dáng cho dịp ấy. Nhưng phải nói sao về lời quả quyết của Frau Stöhr rằng bà Redisch ở Posen, người bị nghi lao tủy sống, mỗi tuần một lần phải đi đi lại lại trong phòng trước Hofrat Behrens suốt mười phút, trần truồng hoàn toàn? Sự khó tin của lời khẳng định ấy gần như tương đương với tính chướng của nó, thế mà Frau Stöhr vẫn bênh vực và thề bồi cho nó đến cùng, - tuy thật khó hiểu làm sao một người đàn bà đáng thương như bà lại có thể hao phí nhiều nhiệt tâm, nhiều nhấn mạnh và nhiều tính cãi cho bằng được vào những chuyện như thế, trong khi chính những việc riêng thân thiết nhất của mình lại khiến bà lao đao. Bởi xen vào giữa những lúc ấy là những cơn lo sợ hèn nhát và sụt sùi tìm đến với bà, bắt nguồn từ cái gọi là sự "nhão đi" mỗi ngày một tăng của bà hoặc từ việc đường biểu nhiệt độ đi lên. Bà khóc nức nở bước vào bàn ăn, hai gò má đỏ khô cứng đẫm nước mắt, rồi tru tréo vào khăn tay rằng Behrens muốn đuổi bà về giường, nhưng bà thì muốn biết ông ta đã nói gì sau lưng bà, bà mắc bệnh gì, tình trạng ra sao, bà muốn nhìn thẳng vào sự thật! Một hôm, khiến bà hoảng hốt, bà chợt nhận ra giường mình đặt với phía chân hướng về phía cửa chính, và vì phát hiện ấy mà suýt lên cơn co giật. Người ta không thể lập tức hiểu được cơn giận và nỗi kinh hoàng của bà; riêng Hans Castorp lúc đầu đặc biệt không hiểu ra sao. Thế thì sao? Cớ gì? Tại sao cái giường lại không thể đặt như nó đang đặt? - Nhưng lạy Chúa, chẳng lẽ ông không hiểu thật sao! "_Chân đi trước ...!_" Bà làm ầm lên một cách tuyệt vọng, và tức thì cái giường phải được xoay lại, mặc dù từ đó trở đi, nằm trên gối bà lại nhìn thẳng vào ánh sáng, điều ấy làm hỏng giấc ngủ của bà.

Tất cả những chuyện ấy đều thiếu nghiêm túc; chúng đáp ứng rất ít cho những nhu cầu tinh thần của Hans Castorp. Một biến cố ghê hãi xảy ra vào quãng ấy trong một bữa ăn đã gây một ấn tượng đặc biệt nơi chàng trai. Một bệnh nhân còn mới, thầy giáo Popów, một con người gầy gò và lặng lẽ, ngồi cùng vị hôn thê cũng gầy gò và lặng lẽ của mình ở bàn những người Nga tốt bụng, bỗng ngay giữa lúc bữa ăn đang diễn ra đã lộ ra là người động kinh, bằng việc phát lên một cơn dữ dội thuộc loại ấy, ngã vật xuống sàn với tiếng thét kia, thứ tiếng mà tính chất ma quái và phi nhân của nó đã từng được mô tả biết bao lần, rồi nằm bên cạnh ghế mà giãy đành đạch với tay chân trong những sự vặn xoắn ghê tởm nhất. Điều làm sự việc thêm trầm trọng là món vừa được dọn ra lại là một món cá, nên có lý do để sợ rằng trong cơn xuất thần co giật ấy Popów sẽ bị hại vì một cái xương dăm. Cảnh náo loạn không sao tả xiết. Các quý bà, đứng đầu là Frau Stöhr, nhưng không phải vì thế mà những bà Salomon, Redisch, Hessenfeld, Magnus, Iltis, Levi và bất kể tên họ là gì lại kém phần hơn, đều bị đủ mọi trạng thái xâm chiếm, đến mức vài người gần như bắt chước chính Herr Popów. Tiếng thét của họ chói lói. Người ta không còn thấy gì ngoài những đôi mắt co quắp, những cái miệng há ra và những thân trên vặn vẹo. Có một người riêng lẻ lại chọn cách ngất xỉu lặng lẽ hơn. Những cơn nghẹn thở cũng xảy ra, vì ai nấy đều bị bắt gặp giữa lúc đang nhai nuốt khi sự kiện cuồng loạn ấy nổ ra. Một phần thực khách tìm đường chạy thoát qua những lối ra sẵn có, kể cả qua các cửa mở ra hiên, mặc dù bên ngoài trời rất ẩm và lạnh. Tuy nhiên toàn bộ sự việc lại mang một sắc điệu kỳ dị, và ngoài tính chất kinh hãi của nó còn có cái gì chướng nữa, mà đó là do một mối liên tưởng cưỡng bức đang dồn đến trong đầu mọi người, gắn với buổi diễn thuyết gần đây nhất của bác sĩ Krokowski. Quả vậy, trong những trình bày của mình về tình yêu như một sức mạnh gây bệnh, chính vào thứ Hai tuần trước, nhà phân tâm học đã nói đến bệnh động kinh, thứ bệnh mà trong thời tiền phân tâm loài người khi thì coi là một sự giáng xuống thiêng liêng, thậm chí có tính tiên tri, khi thì coi là quỷ ám, và ông đã dùng những lời lẽ nửa thi vị nửa khoa học không khoan nhượng để gọi chứng ấy là cái tương đương của tình yêu và là cơn cực khoái của bộ não, nói ngắn lại, ông đã khiến nó trở nên đáng ngờ theo một ý nghĩa như thế, đến nỗi thính giả của ông buộc phải hiểu màn trình diễn của thầy giáo Popów, minh họa sống động cho bài giảng kia, như một sự phơi bày thô bạo và một vụ bê bối huyền bí, thành thử trong cuộc bỏ chạy có che đậy của các quý bà, người ta cũng thấy biểu lộ một sự e thẹn nào đó. Chính Hofrat cũng có mặt trong bữa ăn, và chính ông, cùng với Mylendonk và vài bạn đồng bàn trẻ khỏe tay chân, đã khiêng người lên cơn xuất thần kia, xanh tím, sùi bọt mép, cứng đờ và méo mó như thế, ra khỏi phòng ăn vào tiền sảnh, nơi người ta còn thấy các bác sĩ, bà giám viện và đám nhân viên khác loay hoay với kẻ bất tỉnh ấy trong một thời gian khá lâu, rồi sau đó ông ta được khiêng đi trên cáng. Nhưng chỉ rất ít lâu sau, người ta lại thấy Herr Popów, vẻ vui thầm lặng, ngồi cùng vị hôn thê của mình, cũng vui thầm lặng không kém, ở đúng cái bàn những người Nga tốt bụng, và như thể chẳng có gì xảy ra, tiếp tục ăn xong bữa trưa của mình!

Hans Castorp đã chứng kiến biến cố ấy với những dấu hiệu bề ngoài của một nỗi kinh hoàng đầy kính cẩn; nhưng tận đáy lòng, ngay cả chuyện này nữa cũng không gợi ở chàng cảm giác gì là nghiêm trọng, cầu Chúa phù hộ chàng. Popów dĩ nhiên đã có thể nghẹn chết vì miếng cá, nhưng trên thực tế ông ta nào có chết nghẹn, trái lại, giữa cơn hung hăng vô thức cùng vẻ khoái trá ấy, trong chỗ sâu kín nhất hẳn vẫn còn biết giữ ý đôi chút. Giờ đây ông ta ngồi đó tươi tỉnh, ăn nốt bữa và làm như chưa hề cư xử như một gã Berserker, một tên say cuồng loạn trí; hẳn ông ta cũng chẳng còn nhớ gì chuyện ấy nữa. Nhưng ngay cả vẻ bề ngoài của ông ta cũng không thích hợp để củng cố ở Hans Castorp lòng kính sợ trước bệnh tật; theo cách riêng của nó, nó lại còn làm tăng thêm những ấn tượng về một sự phóng túng thiếu nghiêm túc mà chàng, miễn cưỡng thay, phải hứng chịu trên này, và chống lại chúng chàng muốn tìm tới một sự bận tâm gần gũi hơn, trái với nề nếp đang ngự trị, đối với những bệnh nhân nặng và những kẻ hấp hối.

Trên tầng của hai anh em họ, cách phòng họ không xa, có một cô bé còn rất trẻ tên Leila Gerngroß, mà theo lời chị Alfreda thì đang trên đà đi vào cái chết. Trong vòng mười ngày cô đã bị bốn cơn xuất huyết dữ dội, và cha mẹ cô đã lên đây để, nếu còn có thể, đưa con về nhà khi nó vẫn còn sống; nhưng điều ấy dường như không thể làm được: Hofrat phủ nhận khả năng di chuyển của cô bé Gerngroß tội nghiệp. Cô chừng mười sáu, mười bảy tuổi. Hans Castorp thấy đây chính là dịp thích hợp để thực hiện kế hoạch chậu hoa cùng lời chúc bình phục của mình. Dẫu lúc này Leila không phải sinh nhật, và theo sự liệu đoán thông thường của loài người thì cô hẳn cũng sẽ không còn sống tới ngày ấy, vì như Hans Castorp đã dò hỏi được, sinh nhật cô mãi vào mùa xuân; nhưng theo phán đoán của chàng, điều đó không cần phải là trở ngại cho một cử chỉ nhân từ như thế. Trong một cuộc tản bộ buổi trưa về phía nhà điều dưỡng, chàng cùng người anh em họ bước vào một tiệm hoa, nơi chàng hít vào với lồng ngực bồi hồi bầu không khí ẩm mùi đất và ngồn ngộn hương thơm, rồi mua một chậu cẩm tú cầu xinh xắn; chàng dặn gửi nó lên phòng cho cô bé hấp hối mà không nêu tên người tặng, chỉ kèm một tấm thiếp viết: "Của hai người cùng nhà, với những lời chúc bình phục chân thành nhất." Chàng làm việc đó một cách vui sướng, dễ chịu ngây ngất vì hơi cây cỏ, vì hơi ấm dịu của nơi chốn khiến mắt chàng rưng rưng sau cái lạnh bên ngoài, với trái tim đập rộn và một cảm giác phiêu lưu, táo bạo, hữu ích của công việc nhỏ nhoi ấy, công việc mà trong thâm tâm chàng ngầm gán cho một tầm ý nghĩa biểu tượng.

Leila Gerngroß không được chăm sóc riêng, mà trực tiếp dưới sự săn sóc của Fräulein von Mylendonck và các bác sĩ; nhưng chị Alfreda vẫn ra vào bên cô, và báo lại cho hai chàng trai hiệu quả của sự quan tâm ấy. Trong sự thu hẹp vô vọng của tình trạng mình, cô bé đã vui sướng một cách trẻ con trước lời thăm hỏi đến từ những người xa lạ. Chậu cây đặt bên giường cô, cô vuốt ve nó bằng mắt lẫn tay, chăm nom để người ta tưới nước cho nó, và ngay cả giữa những cơn ho tệ hại nhất ập đến, đôi mắt đau đớn của cô vẫn còn bám chặt vào nó. Cha mẹ cô, Thiếu tá hồi hưu Gerngroß và phu nhân, cũng cảm động và vui mừng; và vì họ, chẳng hề quen biết một ai trong nhà, thậm chí không thể thử đoán ra người tặng là ai, nên Schildknecht, như cô thú nhận, đã không nén được mà làm lộ sự ẩn danh, nêu đích danh hai người anh em họ là người biếu. Cô chuyển tới họ lời thỉnh cầu của cả ba người nhà Gerngroß xin được gặp mặt và ngỏ lời cảm tạ, và thế là hai chàng, vào ngày kia sau đó, theo chân nữ chấp sự, rón rén trên đầu ngón chân bước vào căn phòng khổ nạn của Leila.

Người sắp chết là một tạo vật tóc vàng duyên dáng vô cùng, với đôi mắt xanh hoa lưu ly chính xác đến lạ, và dẫu đã mất máu khủng khiếp cùng một nhịp thở chỉ còn diễn ra nhờ phần tàn dư hoàn toàn bất túc của mô phổi còn dùng được, cô vẫn mang một dáng vẻ tuy mảnh mai nhưng thực ra không hề thảm hại. Cô cảm ơn và chuyện trò bằng một giọng hơi thiếu âm sắc, nhưng dễ nghe. Một làn hồng hiện lên trên má cô và nấn ná ở đó. Hans Castorp, sau khi với cha mẹ cô và với chính cô đã giải thích hành động của mình đúng như người ta chờ đợi, và phần nào như thể xin lỗi, thì nói năng khẽ khàng, xúc động, với một sự kính trọng dịu dàng. Chỉ thiếu một chút nữa thôi, mà sự thôi thúc bên trong quả thực đã có sẵn, là chàng sẽ quỳ một gối xuống bên giường; và chàng giữ rất lâu bàn tay Leila trong tay mình, dẫu bàn tay nóng hổi ấy không chỉ ẩm mà hầu như ướt sũng, vì đứa trẻ tiết mồ hôi quá mức; cô liên tục hao đi nhiều nước đến nỗi da thịt hẳn từ lâu đã phải quắt lại và khô rút, nếu như sự tiêu thụ vô cùng tham lam những cốc nước chanh, mà trên chiếc bàn đầu giường của cô cũng có hẳn một bình đầy, không giữ được thế cân bằng xấp xỉ với sự rỉ dịch ấy. Cha mẹ cô, dẫu đau buồn, vẫn duy trì cuộc trò chuyện ngắn ngủi theo phép lịch sự nhân tình bằng những câu hỏi thăm về hoàn cảnh riêng của hai người anh em họ cùng những phương tiện đàm thoại khác. Thiếu tá là một người đàn ông vai rộng, trán thấp, ria mép vểnh, một gã khổng lồ mà sự vô can về mặt cơ thể đối với cái tạng bệnh và tính dễ thụ nhiễm của cô con gái nhỏ hiện rõ đến chói mắt. Rõ ràng thủ phạm phải là vợ ông hơn, một người đàn bà nhỏ thó, mang kiểu thể tạng lao phổi rất dứt khoát, và vì của hồi môn ấy mà lương tâm bà xem ra cũng nặng nề. Quả vậy, khi Leila sau mười phút đã lộ dấu hiệu mệt mỏi, hay đúng hơn là bị kích động quá mức, làn hồng trên má cô đậm thêm, trong khi đôi mắt hoa lưu ly của cô ánh lên một cách đáng ngại, và hai người anh em họ, được chị Alfreda ra hiệu bằng mắt, đứng lên cáo từ, thì bà Gerngroß tiễn họ ra tận cửa và trong lúc ấy buông ra những lời tự kết tội mình khiến Hans Castorp cảm động một cách lạ lùng. Chính từ bà, chỉ từ một mình bà mà ra, bà cam đoan trong sự ăn năn dằn vặt; đứa trẻ tội nghiệp chỉ có thể nhận cái ấy từ bà thôi, chồng bà hoàn toàn không dính dáng gì, không liên can chút nào tới chuyện ấy. Nhưng cả bà nữa, bà có thể quả quyết, cũng chỉ dính vào nó rất thoảng qua, chỉ một chút thôi, bề ngoài thôi, trong một thời gian hết sức ngắn ngủi hồi còn là thiếu nữ. Rồi bà đã thắng được nó, thắng hẳn và hoàn toàn, như người ta đã xác nhận với bà, bởi bà muốn lấy chồng, muốn biết bao được lấy chồng và được sống, và bà đã thành công; bà đã bước vào hôn nhân với người chồng yêu quý, cường tráng như cây lớn của mình trong tình trạng lành hẳn, khỏi hẳn, còn ông ấy thì về phần mình chưa bao giờ dẫu chỉ nghĩ xa xôi đến những chuyện như vậy. Nhưng dẫu ông có trong sạch và mạnh mẽ đến đâu đi nữa, ảnh hưởng của ông rốt cuộc vẫn không ngăn nổi tai họa. Bởi nơi đứa trẻ, cái điều kinh khủng, bị chôn vùi và lãng quên kia, lại hiện ra, và nó không sao vượt qua nổi cái ấy, nó bị hủy diệt bởi cái ấy, trong khi bà, người mẹ, thì đã vượt qua và bước vào một tuổi đời vững vàng; con bé, vật nhỏ bé thân yêu khốn khổ ấy, đang chết, các bác sĩ không còn cho hy vọng nữa, và chỉ một mình bà là có lỗi vì cái tiền sử đời mình.

Hai chàng trai cố an ủi bà, nói mấy lời về khả năng có một chuyển biến may mắn. Nhưng bà thiếu tá chỉ bật khóc nức lên, rồi lại cảm ơn họ một lần nữa về mọi chuyện, về chậu cẩm tú cầu và về việc họ, bằng cuộc viếng thăm của mình, đã làm đứa trẻ khuây khỏa và sung sướng thêm được một chút. Tội nghiệp, nó nằm đó trong đau đớn và cô độc, trong khi những con bé trẻ khác thì vui sống cuộc đời mình và nhảy múa với các chàng trai xinh xắn, vì bệnh tật nào có hề giết chết được niềm ham thích ấy. Họ đã mang đến cho nó một chút nắng, lạy Chúa, có lẽ là chút nắng cuối cùng. Chậu cẩm tú cầu đối với nó chẳng khác nào một thành công nơi vũ hội, còn cuộc chuyện trò với hai chàng trai hào hoa kia thì như một cuộc Flirt nho nhỏ dễ thương, điều ấy bà, mẹ Gerngroß, đã thấy rõ lắm.

Điều này khiến Hans Castorp khó chịu một cách ngượng ngập, nhất là vì bà thiếu tá lại còn phát âm từ "Flirt" ấy không cho đúng, nghĩa là không theo lối Anh, mà với âm i kiểu Đức, điều làm chàng bực bội vô hạn. Hơn nữa chàng đâu phải hạng trai hào hoa, mà đến thăm cô bé Leila là do sự phản kháng đối với tính ích kỷ đang ngự trị và theo một quan niệm vừa y khoa vừa mục đạo. Tóm lại, xét về cách hiểu của bà thiếu tá, chàng có phần bất bình về kết cục cuối cùng của việc ấy; còn ngoài ra thì chàng lại hết sức sinh động và thích thú vì đã thực hiện được công chuyện đó. Đặc biệt có hai ấn tượng của nó còn đọng lại trong tâm hồn và giác quan chàng: những mùi hương đất ẩm của tiệm hoa và độ ướt nơi bàn tay nhỏ của Leila. Và vì một khởi đầu đã được tạo ra, ngay trong ngày hôm ấy chàng lại hẹn với chị Alfreda một cuộc viếng thăm người bệnh Fritz Rotbein do chị chăm nom, kẻ cùng với người chăm sóc mình buồn chán khủng khiếp, mặc dầu, nếu mọi dấu hiệu không đánh lừa, anh ta chỉ còn được dành cho một quãng thời gian rất ngắn nữa thôi.

Joachim tốt bụng chẳng còn cách nào khác, buộc phải theo. Động lực của Hans Castorp và tinh thần xông xáo bác ái của chàng mạnh hơn sự miễn cưỡng của người anh em họ, thứ mà người này cùng lắm chỉ có thể biểu lộ bằng cách im lặng và cúi mắt, bởi ông không biết làm sao biện minh cho nó mà không tỏ ra thiếu tinh thần Kitô giáo. Hans Castorp thấy điều đó rất rõ và tận dụng nó. Chàng cũng hiểu rất rõ cái ý vị nhà binh trong sự ngần ngại ấy. Nhưng nếu chính chàng lại cảm thấy được khích lệ và vui sướng nhờ những cuộc viếng thăm như thế, và nếu chúng xem ra có ích cho chàng, thì chàng buộc phải bước qua sự kháng cự thầm lặng của Joachim. Chàng cùng ông cân nhắc xem có nên gửi hay mang hoa đến cho chàng Fritz Rotbein trẻ tuổi không, mặc dầu Moribundus này là nam giới. Chàng rất muốn làm thế; hoa, theo chàng, là thứ thuộc về việc ấy; màn cẩm tú cầu, tím thẫm và dáng đẹp, đã làm chàng thích thú lạ thường; và thế là chàng quyết định rằng giới tính của Rotbein được tình trạng cuối cùng của anh ta bù trừ mất rồi, và rằng để nhận hoa, anh ta cũng chẳng cần phải đúng sinh nhật, bởi người hấp hối đương nhiên và thường trực đều nên được đối đãi như những đứa trẻ trong ngày sinh nhật. Với tâm thế ấy, chàng cùng người anh em họ lại tìm đến bầu không khí hương thơm ấm mùi đất của tiệm hoa, rồi bước vào chỗ ông Rotbein với một bó hồng, cẩm chướng và levkoien còn tươi nước, thơm ngát, dưới sự dẫn đường của Alfreda Schildknecht, người đã báo trước sự có mặt của hai chàng trai.

Người bệnh nặng, chưa đầy hai mươi tuổi mà trên đầu đã hơi hói và hoa râm, thân thể như sáp và tiều tụy, với hai bàn tay lớn, cái mũi lớn và đôi tai lớn, tỏ ra biết ơn đến phát khóc trước sự khích lệ và khuây khỏa ấy, thật vậy, vì yếu quá nên lúc chào hai vị khách và nhận bó hoa, anh ta có hơi khóc một chút, nhưng rồi, xuất phát từ chính bó hoa ấy, lập tức nói sang, dẫu chỉ bằng giọng gần như thì thầm, chuyện buôn bán hoa ở châu Âu và mức độ phát đạt vẫn còn tăng mãi của nó, chuyện xuất cảng khổng lồ của các nhà trồng hoa ở Nice và Cannes, những toa hàng và bưu kiện mỗi ngày từ các nơi ấy tỏa đi khắp ngả, những chợ bán buôn ở Paris và Berlin cùng việc cung ứng cho nước Nga. Bởi anh ta là một nhà buôn, và trong hướng ấy là mối quan tâm của anh ta, chừng nào anh ta còn sống. Cha anh, nhà sản xuất búp bê ở Coburg, đã gửi anh sang Anh để đào luyện, anh thì thầm như vậy, và chính tại đó anh đã lâm bệnh. Nhưng cơn sốt của anh đã bị coi là thương hàn và được chữa theo hướng ấy, nghĩa là người ta đặt anh vào chế độ súp nước loãng, thành thử anh đã suy sụp ghê gớm. Trên này anh được phép ăn, và anh đã ăn: đổ mồ hôi mà ngồi trên giường, cố sức nuôi lấy thân mình. Chỉ tiếc đã quá muộn, ruột của anh đã bị vạ lây rồi; ở nhà có gửi lên cho anh món lưỡi bò và cá chình cũng vô ích, anh chẳng dung nạp nổi thứ gì nữa. Bây giờ cha anh đang trên đường từ Coburg lên, được Behrens điện gọi. Bởi người ta sắp tiến hành trên anh một can thiệp quyết định, cuộc cắt bỏ xương sườn; đằng nào người ta cũng muốn thử bằng cách ấy, mặc dầu cơ may là cực kỳ mong manh. Rotbein thì thầm về điều này rất tỉnh táo, và cũng nhìn cả vấn đề phẫu thuật hoàn toàn từ phía thương vụ, miễn là anh còn sống thì anh sẽ xem mọi việc dưới góc đó. Mức chi, anh thì thầm, kể cả gây tê tủy sống, đã được ấn định là một nghìn franc, vì gần như toàn bộ lồng ngực đều bị can dự, sáu đến tám xương sườn, và giờ câu hỏi là liệu đó có phải một khoản đầu tư sinh lợi theo cách nào đó hay không. Behrens khuyên anh làm, nhưng mối lợi của ông ta thì quá rõ, trong khi phần của anh xem ra đáng ngờ, và người ta không thể biết liệu anh có khôn ngoan hơn nếu cứ bình thản mà chết cùng với những cái xương sườn của mình hay không.

Khó mà khuyên anh ta. Hai người anh em họ cho rằng khi tính toán, hẳn phải kể đến tay nghề ngoại khoa xuất sắc của Hofrat. Cuối cùng người ta đồng ý để ý kiến của ông Rotbein già, đang trên đường lên, quyết định. Khi từ biệt, Fritz trẻ lại khóc một chút, và tuy điều đó chỉ vì yếu, những giọt nước mắt anh ta rơi vẫn đứng trong một sự tương phản kỳ lạ với lối nghĩ và lối nói khô khan đầy tính thực vụ của anh. Anh xin các ông lặp lại cuộc thăm viếng, và họ sẵn lòng hứa hẹn, nhưng rồi không còn dịp nữa. Vì tối hôm ấy nhà sản xuất búp bê đã tới nơi, nên ngay sáng hôm sau người ta đã tiến hành phẫu thuật, sau đó Fritz trẻ không còn tiếp khách được nữa. Và hai ngày sau, đi ngang cùng Joachim, Hans Castorp thấy người ta đang lục dọn trong phòng Rotbein. Chị Alfreda, với chiếc va-li nhỏ của mình, đã rời Berghof rồi, vì chị được gọi gấp đến với một Moribundus khác ở một cơ sở khác, và chị đến với người ấy trong một tiếng thở dài, sợi dây kính cặp sau vành tai, bởi đó quả là viễn tượng duy nhất đời chị mở ra.

Một căn phòng "bỏ không", một căn phòng vừa trống ra, nơi người ta lục dọn giữa những món đồ đạc chồng đống lên nhau và cánh cửa đôi mở rộng, như người ta vẫn nhận thấy khi đi ngang qua trên đường đến phòng ăn hay ra ngoài trời, là một cảnh tượng nhiều ý nghĩa, nhưng đã quen đến mức hầu như chẳng còn nói với ai mấy điều nữa, nhất là khi bản thân người ta, thuở nọ, cũng từng chiếm lấy một căn phòng vừa mới "trống ra" và bị lục dọn như thế, rồi đã quen thuộc với nó. Đôi khi người ta biết ai đã ở số phòng ấy, điều đó dẫu sao cũng khiến phải nghĩ ngợi: lần này là như vậy, và tám ngày sau cũng vậy, khi đi ngang qua, Hans Castorp lại thấy phòng của cô bé Gerngroß cũng trong tình trạng ấy. Trong trường hợp này, ngay từ cái nhìn đầu tiên, sự hiểu biết của chàng đã kháng cự lại ý nghĩa của sự tất bật đang diễn ra trong kia. Chàng đứng lại nhìn, vừa bần thần vừa sửng sốt, thì đúng lúc Hofrat đi qua.

"Tôi đứng đây nhìn người ta lục dọn," Hans Castorp nói. "Chào ngài Hofrat. Cô bé Leila..."

"À thì..." Behrens đáp và nhún vai. Sau một quãng im lặng, trong đó cử chỉ ấy phát huy hết tác dụng của nó, ông nói thêm:

"Thế là anh còn kịp ve vãn cô bé ấy một cách hẳn hoi trước giờ đóng cổng nhỉ? Tôi thích cái đó ở anh đấy, chuyện anh chịu để mắt một chút đến mấy chú chim phổi rít của tôi trong lồng, trong khi đích thân anh thì còn tương đối khỏe khoắn. Một nét đẹp đấy từ phía anh, này, này, cứ để nguyên như thế đi, rằng đó là một nét khá đẹp trong bức chân dung tính nết của anh. Thỉnh thoảng tôi giới thiệu cho anh thêm đôi chút nhé? Tôi còn đủ thứ chim sẻ đang ngồi đấy, nếu anh thấy hứng thú. Chẳng hạn bây giờ tôi đang ghé qua chỗ cô 'Đầy ứ' của tôi một lát đây. Anh đi cùng chứ? Tôi cứ giới thiệu anh đơn giản như một người đồng bệnh đến chia sẻ."

Hans Castorp nói Hofrat đã nói đúng điều ngay trên đầu lưỡi chàng và đã đề nghị với chàng chính xác điều mà chàng đang định xin ông. Chàng biết ơn nhận lấy lời cho phép ấy và xin đi theo. Nhưng cô "Đầy ứ" là ai vậy, và chàng phải hiểu cái tên đó như thế nào.

“Theo đúng nghĩa đen,” viên cố vấn nói. “Hoàn toàn chính xác, không một chút ẩn dụ. Cứ để chính bà ấy kể cho cậu nghe.” Chỉ mấy bước là họ đã tới phòng của “người bị bơm quá đầy”. Viên cố vấn lọt qua lớp cửa đôi, sau khi ra lệnh cho bạn đồng hành đứng đợi. Từ trong phòng, khi Behrens bước vào, vang ra tiếng cười và tiếng nói sáng, vui, nhưng bị dồn ép vì hụt hơi, rồi lập tức bị chặn lại. Song những âm thanh ấy lại vọng đến tai người khách cùng chia sẻ mối quan tâm, khi mấy phút sau chàng được cho vào, và Behrens giới thiệu chàng với người đàn bà tóc vàng đang nằm trên giường, bà đưa đôi mắt xanh tò mò nhìn chàng; tựa lưng vào gối, bà nằm nửa ngồi, bồn chồn, cười luôn miệng từng chuỗi lanh lảnh, cao vút và bạc trong, trong khi vật lộn để lấy hơi, dường như bị chính cơn bức bối của mình kích động và chọc ngứa. Bà cũng cười cả những lối nói năng của viên cố vấn khi ông giới thiệu vị khách với bà, gọi theo người sắp đi ra biết bao lần nào là Tạm biệt, Xin cảm ơn, Hẹn gặp lại, vừa vẫy tay theo sau lưng ông, vừa thở dài ngân vang, cười lên những chuỗi bạc, chống hai tay vào bộ ngực đang nhấp nhô dưới làn áo cánh bằng vải batiste, và không sao để cho đôi chân nằm yên được. Bà tên là Frau Zimmermann.

Hans Castorp biết bà sơ sơ qua mặt. Trong mấy tuần, bà từng ngồi ở bàn của Salomon và của cậu học trò phàm ăn, và bao giờ cũng cười rất nhiều. Rồi bà biến mất, mà chàng thanh niên chẳng bận tâm thêm về chuyện ấy. Chàng đã nghĩ bà hẳn đã rời đi, nếu như chàng có thành ra một ý kiến nào đó về sự vắng bóng của bà. Giờ đây chàng lại gặp bà ở đây, dưới cái tên “người bị bơm quá đầy”, cái tên mà chàng đang chờ được giải thích.

“Ha ha ha ha,” bà cười lấp lánh, như bị chọc ngứa, bộ ngực phập phồng. “Cái ông Behrens này thật là buồn cười kinh khủng, một người buồn cười tuyệt diệu và thú vị, làm người ta phải cười nghiêng ngả, cười đến phát bệnh. Mời ông ngồi đi, Herr Kasten, Herr Carsten, hay ông tên gì nhỉ, tên ông buồn cười quá, ha, ha, hi, hi, xin lỗi nhé! Ngồi xuống cái ghế kia dưới chân tôi đi, nhưng cho phép tôi được đạp chân, tôi không thể nào... ha...a,” bà thở ra, miệng há mở, rồi lại ngân cười, “tôi tuyệt đối không sao thôi được.”

Bà gần như xinh đẹp, có những đường nét sáng sủa, hơi đậm quá một chút, nhưng dễ chịu, và một chiếc cằm đôi nho nhỏ. Nhưng môi bà ánh xanh, và chóp mũi cũng mang sắc ấy, hẳn nhiên vì thiếu không khí. Đôi tay bà, gầy thanh một cách khả ái, rất hợp với những măng-sét ren nơi áo ngủ, cũng không sao nằm yên được, hệt như đôi chân. Cổ bà mang vẻ thiếu nữ, với những “lọ muối” phía trên hai xương quai xanh mảnh dẻ; cả bộ ngực nữa, dưới lớp vải lanh, bị tiếng cười và cơn khó thở giữ trong một chuyển động bồn chồn, ngắn gấp và vật vã, cũng có vẻ mảnh và trẻ. Hans Castorp quyết định sẽ gửi hay mang đến cho bà những bông hoa đẹp, từ các vườn hoa xuất cảng ở Nice và Cannes, còn đẫm sương và ngào ngạt hương. Hơi lo ngại, chàng hòa theo niềm vui rộn ràng mà hụt hơi, bức bối của Frau Zimmermann.

“Vậy ra ông tới thăm những ca nặng ở đây ư?” bà hỏi. “Thật thú vị và tử tế làm sao, ha, ha, ha, ha! Nhưng ông biết không, tôi đâu có phải ca nặng, nghĩa là thực ra cho tới gần đây tôi đâu phải thế, chẳng hề một chút nào... Cho tới khi dạo nọ xảy ra chuyện ấy... Cứ nghe mà xem, có phải đó là chuyện buồn cười nhất trong cả đời ông...” Rồi trong lúc cố hớp lấy không khí, giữa những tiếng líu lo và rung ngân, bà kể cho chàng nghe chuyện gì đã xảy đến với mình.

Bà đã lên đây với một chút bệnh, dẫu sao cũng là có bệnh, bằng không thì bà đã chẳng tới; có lẽ thậm chí cũng không hẳn là _quá_ nhẹ, nhưng đúng hơn là nhẹ hơn nặng. Phương pháp tràn khí màng phổi nhân tạo, thành tựu của kỹ thuật ngoại khoa còn khá mới mẻ mà đã mau chóng được ưa chuộng rộng rãi, trong trường hợp của bà cũng đã tỏ ra công hiệu rực rỡ. Sự can thiệp thành công hoàn toàn, tình trạng và cảm giác trong người của Frau Zimmermann tiến triển tốt đẹp hơn cả mong đợi, và chồng bà, vì bà đã có chồng, tuy không con cái, có thể chờ bà trở về trong ba tới bốn tháng nữa. Thế rồi, để tiêu khiển, bà làm một chuyến đi Zurich; ngoài lý do tiêu khiển ra, chuyến đi ấy không có nguyên cớ nào khác. Bà cũng đã tiêu khiển thỏa thuê, nhưng trong khi đó cảm thấy cần phải cho mình được bơm thêm, và đã giao việc ấy cho một bác sĩ địa phương ở đó. Một chàng trai trẻ dễ mến, buồn cười, ha ha ha, ha ha ha, nhưng chuyện gì đã xảy ra? Anh ta đã bơm quá đầy cho bà! Chẳng còn cách gọi nào khác, bản thân từ ấy đã nói hết rồi. Anh ta đã tốt quá hóa hại, có lẽ không hiểu thật đúng việc này, và tóm lại: trong tình trạng bị bơm quá đầy, nghĩa là giữa những cơn nghẹt tim và khó thở, ha! hi hi hi, bà trở lại trên này và lập tức bị Behrens, người đã nổi giông bão ghê gớm, tống ngay lên giường. Vì giờ đây bà đã thành bệnh nặng, không phải thật sự là ca quá nặng, nhưng là bị làm hỏng, làm hớ, ha ha ha, sao mặt ông ấy lại làm ra cái vẻ buồn cười đến thế? Và bà cười, vừa cười vừa trỏ ngón tay vào ngay giữa mặt mình, cười vì cái vẻ mặt ấy đến nỗi giờ đây cả trán bà cũng bắt đầu ánh xanh. Nhưng buồn cười nhất, bà nói, vẫn là Behrens với cơn nổi giận và sự thô lỗ của ông ta; ngay từ trước bà đã phải bật cười rồi, khi nhận ra rằng mình bị bơm quá đầy. “Bà đang lơ lửng trong hiểm nguy sinh mạng tuyệt đối,” ông ta đã gào vào bà như thế, không quanh co, không rào đón, đúng là một con gấu, ha ha ha, hi hi hi, xin lỗi ông nhé.

Vẫn còn đáng ngờ là bà cười lanh lảnh như thế trước lời giải thích của viên cố vấn theo nghĩa nào, chỉ vì sự “thô lỗ” của ông và vì bà không tin lời ông, hay là dù có tin, bởi hẳn bà phải tin chứ, nhưng lại thấy chính sự việc ấy, tức là mối hiểm nguy đến tính mạng mà bà đang lơ lửng trên đó, là cực kỳ buồn cười mà thôi. Hans Castorp có cảm tưởng trường hợp sau mới đúng, và rằng quả thật bà chỉ vì tính nông nổi trẻ con cùng cái đầu chim sẻ của mình mà cứ lanh canh, ríu rít, líu lo như thế, điều mà chàng không tán thành. Dẫu vậy, chàng vẫn gửi hoa cho bà, nhưng rồi cũng chẳng gặp lại Frau Zimmermann ham cười nữa. Bởi sau khi còn được giữ dưới bình dưỡng khí thêm ít ngày, bà quả nhiên đã chết trong tay người chồng được gọi bằng điện tín tới; một con ngỗng khổ lớn, như chính viên cố vấn, từ người mà Hans Castorp nghe kể lại chuyện ấy, đã tự mình thêm vào.

Nhưng ngay từ trước đó, tinh thần xông xáo đầy cảm thông của Hans Castorp, với sự giúp đỡ của viên cố vấn và nhân viên điều dưỡng, đã thiết lập thêm những mối quan hệ khác với các bệnh nhân nặng trong nhà, và Joachim buộc phải cùng đi. Chàng phải cùng đi thăm con trai của _Tous les deux_, người thứ hai còn sót lại, sau khi bên phòng người kia từ lâu đã bị lục lọi và hun khói bằng H₂CO. Rồi tới cậu bé Teddy, mới gần đây được đưa lên từ viện giáo dưỡng mang tên “Fridericianum”, nơi tình trạng của cậu đã quá nặng đối với họ. Rồi tới viên chức bảo hiểm Đức-Nga Anton Karlowitsch Ferge, một người chịu đựng hiền lành tốt bụng. Rồi tới Frau von Mallinckrodt, bất hạnh mà lại còn rất điệu đàng, người cũng nhận được hoa như những người kể trên, và thậm chí còn được Hans Castorp, trước mặt Joachim, đút cháo cho ăn đến mấy lần... Dần dà, hai người mang tiếng là những người Samari và những huynh đệ từ tâm. Cả Settembrini nữa, một hôm, đã nói với Hans Castorp theo đúng nghĩa ấy.

“Sapperlot, kỹ sư, tôi nghe nói những điều đáng chú ý về lối xử sự của anh đấy. Anh đã lao mình vào việc từ thiện ư? Anh muốn được công chính hóa bằng những việc lành chăng?”

“Không đáng để nói đâu, Herr Settembrini. Chẳng có gì trong đó đáng ầm ĩ cả. Anh em họ chúng tôi...”

“Nhưng xin anh đừng lôi người anh em họ của anh vào đây nữa! Người ta đang nói tới anh kia, nếu cả hai anh làm cho người ta bàn tán, điều ấy là chắc. Trung úy là một bản tính đáng kính, nhưng đơn giản và tinh thần không bị đe dọa, không gây mấy nỗi bất an cho nhà giáo dục. Anh sẽ không làm tôi tin rằng anh ấy là người dẫn dắt đâu. Người đáng kể hơn, nhưng cũng lâm nguy hơn, là anh. Nếu tôi được phép nói như vậy, anh là một đứa con khiến đời phải lo nghĩ, người ta phải bận lòng về anh. Vả chăng chính anh đã cho phép tôi bận lòng về anh.”

“Dĩ nhiên, Herr Settembrini. Một lần là mãi mãi. Ông thật tử tế. Mà ‘đứa con khiến đời phải lo nghĩ’ nghe hay đấy. Nhà văn mới dễ nghĩ ra ngay những kiểu như thế! Tôi cũng không rõ mình có nên lấy làm hãnh diện về cái danh hiệu ấy không, nhưng nghe thì quả là hay, tôi phải nói vậy. Vâng, và thế là bây giờ tôi cũng hơi qua lại với những ‘đứa con của cái chết’, hẳn đó là điều ông muốn nói. Khi có thời gian, rất tiện thể thôi, mà cũng hầu như chẳng hề phương hại gì đến chế độ điều dưỡng cả, tôi có ghé qua đây đó thăm những người bệnh nặng và nghiêm trọng, ông hiểu chứ, những người không phải lên đây để tiêu khiển rồi sống buông tuồng, mà là để chết.”

“Nhưng đã có lời chép rằng: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết của mình,” người Ý nói.

Hans Castorp giơ hai tay lên và dùng nét mặt để tỏ rằng biết bao điều đã được chép ra, điều này và rồi lại điều kia, khiến khó lòng tìm ra cái gì là đúng để mà tuân theo. Dĩ nhiên tay thổi đàn quay kia đã nêu ra một quan điểm gây trở ngại, điều ấy vốn đã được chờ đợi. Nhưng cho dầu Hans Castorp vẫn như trước sẵn sàng lắng tai nghe ông ta, thấy những lời giảng của ông ta đáng nghe theo cách không cam kết, và thử để mình chịu ảnh hưởng giáo dục, thì chàng vẫn còn xa mới tới mức, vì bất cứ quan điểm sư phạm nào, lại từ bỏ những công việc đối với chàng, bất chấp Mutter Gerngroß và lối nói của bà về “một cuộc tán tỉnh nho nhỏ dễ thương”, bất chấp cả bản tính tỉnh táo của tội nghiệp Rotbein và những tiếng líu lo dại dột của người bị bơm quá đầy, vẫn còn có vẻ, theo một cách không xác định, là hữu ích và mang tầm quan trọng sâu xa.

Người con trai của _Tous-les-deux_ tên là Lauro. Chàng đã nhận được hoa, những đóa violette Nice thơm mùi đất, “từ hai người bạn cùng nhà đầy cảm thông, với lời chúc bình phục tốt đẹp nhất”; và vì sự nặc danh đã trở thành một thể thức thuần túy, ai ai cũng biết những món quà ấy là từ đâu mà ra, nên chính _Tous-les-deux_, người mẹ tái đen từ Mexico, trong một cuộc gặp ngoài hành lang, đã cảm ơn hai anh em họ và, bằng những lời lạo xạo, nhưng chủ yếu bằng một điệu bộ mời mọc nặng trĩu đau buồn, đã mời họ đích thân nhận lời cảm ơn của con trai bà, _de son seul et dernier fils qui allait mourir aussi_. Việc ấy được thực hiện ngay tại chỗ. Lauro hóa ra là một thanh niên đẹp đến kinh ngạc, với đôi mắt rực lửa, một chiếc mũi chim ưng mà hai cánh mũi phập phồng, và đôi môi lộng lẫy, trên đó một hàng ria đen lún phún; nhưng đồng thời lại tỏ ra khoa trương và kịch điệu đến mức những người tới thăm, Hans Castorp thực tình cũng chẳng kém gì Joachim Ziemßen, đều thấy mừng khi cánh cửa phòng bệnh khép lại sau lưng họ. Bởi trong khi _Tous-les-deux_, khoác chiếc khăn cashmere đen, tấm voan đen buộc dưới cằm, trán hẹp hằn ngang những nếp xếp, dưới đôi mắt đen nhánh là những bọng da khổng lồ, đi lại quanh phòng với hai đầu gối cong, buông một khóe miệng lớn trễ xuống trong đau khổ và thỉnh thoảng lại đến gần người ngồi bên giường để lặp lại câu vẹt bi kịch của mình: “_Tous les dé, vous comprenez, messiés ... Premièrement l’un et maintenant l’autre_” thì chàng Lauro đẹp trai cũng lại, bằng tiếng Pháp, tuôn ra những lời lẽ ầm ầm, lạo xạo và ngạo nghễ đến không chịu nổi, đại ý rằng chàng định chết như một anh hùng, _comme héros, à l’espagnol_, giống hệt anh trai mình, _de même que son fier jeune frère Fernando_, người cũng đã chết như một anh hùng Tây Ban Nha; chàng vung tay, giật tung áo sơ mi để phơi bộ ngực vàng ra trước những đòn roi của tử thần, và còn tiếp tục xử sự như thế cho tới khi một cơn ho, đẩy lớp bọt mỏng màu hồng lên môi chàng, bóp nghẹt những lời huênh hoang kiểu Rodomont của chàng và khiến hai anh em họ phải nhón chân đi ra ngoài.

Họ không nói thêm gì về cuộc viếng thăm Lauro, và cả trong lặng lẽ, mỗi người riêng mình, cũng tránh không phán xét cách xử sự của chàng. Nhưng cả hai đều thấy dễ chịu hơn nhiều ở chỗ Anton Karlowitsch Ferge từ Petersburg, người nằm trên giường với bộ ria lớn hiền lành tốt bụng và cả cái yết hầu nhô ra cũng mang một vẻ tốt bụng tương tự, chỉ mới hồi phục chậm chạp và nhọc nhằn sau nỗ lực cho tạo tràn khí màng phổi ở chính mình, việc mà đối với ông Ferge, thiếu điều đã cướp mạng ông ngay tại chỗ. Trong lúc ấy ông đã chịu một cơn choáng dữ dội, cơn choáng màng phổi, vốn được biết đến như một biến cố xen vào trong loại can thiệp thời thượng ấy. Nhưng ở ông, cơn choáng màng phổi đã xuất hiện dưới một hình thức nguy hiểm đặc biệt, thành một sự truỵ sụp hoàn toàn và cơn ngất cực kỳ đáng lo, nói gọn là nghiêm trọng đến mức người ta đã phải ngắt quãng cuộc phẫu thuật và tạm hoãn lại.

Đôi mắt xám tốt bụng của Herr Ferge mở lớn ra, và mặt ông tái nhợt đi mỗi lần ông nhắc tới biến cố ấy, thứ hẳn phải là kinh hoàng đối với ông. “Không gây mê toàn thân, thưa các ông. Phải, hạng người như chúng tôi thì không chịu được, trong trường hợp này điều ấy là cấm kỵ, người ta hiểu và với tư cách một con người có lý trí thì đành chấp nhận sự việc. Nhưng gây tê cục bộ không ăn sâu, thưa các ông, nó chỉ làm cùn phần thịt bên ngoài thôi, người ta vẫn cảm thấy khi mình bị rạch ra, dẫu quả thật chỉ là một sức ép và sự nghiền ép. Tôi nằm đó, mặt bị che lại để khỏi nhìn thấy gì, còn người trợ lý giữ tôi bên phải và bà trưởng điều dưỡng bên trái. Cứ như thể tôi đang bị ép, bị nghiền, ấy là phần thịt bị mở ra rồi bị kẹp kéo ngược lại. Nhưng rồi tôi nghe Herr Hofrat nói: ‘So!’ và ngay trong khoảnh khắc ấy, thưa các ông, ông ấy bắt đầu dùng một dụng cụ cùn, hẳn phải là cùn để khỏi chọc thủng quá sớm, mà dò lên màng sườn của tôi: ông ấy dò để tìm đúng chỗ sẽ đâm xuyên vào và bơm khí vào, và khi ông ấy làm thế, khi ông ấy đưa dụng cụ chạy tới chạy lui trên màng sườn của tôi, thưa các ông, thưa các ông! thì đời tôi coi như xong, tôi coi như hết, tôi lâm vào một trạng thái hoàn toàn không thể tả nổi. Cái màng sườn ấy, thưa các ông, nó không phải để bị chạm vào, nó không được phép và cũng không muốn bị chạm vào, nó là điều cấm kỵ, nó được thịt phủ kín, cách ly và bất khả xâm phạm, một lần là mãi mãi. Vậy mà bây giờ ông ấy đã phơi nó ra và còn dò lên đó. Thưa các ông, tôi buồn nôn. Kinh khủng, kinh khủng, thưa các ông, chưa bao giờ tôi nghĩ rằng trên đời, ngoài địa ngục ra, lại có thể có một cảm giác ghê tởm gấp bảy lần và đê tiện chó má đến thế! Tôi ngất đi, ngất cùng lúc ba cơn, một cơn xanh lá, một cơn nâu và một cơn tím. Hơn nữa, trong cơn ngất ấy còn bốc mùi, cơn choáng màng phổi ập cả vào khứu giác của tôi, thưa các ông, nó nồng mùi lưu huỳnh hydro quá sức, như hẳn địa ngục phải có mùi như thế, và giữa tất cả những điều ấy tôi lại còn nghe thấy chính mình cười, trong khi đang tắt thở, nhưng không phải cười như một con người cười, mà là thứ tiếng cười vô liêm sỉ và ghê tởm nhất mà trong đời tôi từng nghe thấy; bởi cái việc bị dò trên màng sườn ấy, thưa các ông, thì chẳng khác gì bị chọc ngứa theo cái kiểu đê tiện nhất, quá quắt nhất và vô nhân nhất, đúng như thế chứ không khác, với cái nỗi ô nhục và cực hình bị nguyền rủa ấy, và đó là cơn choáng màng phổi, cầu Chúa nhân lành gìn giữ các ông khỏi phải chịu.”

Anton Karlowitsch Ferge thường xuyên, và không sao khác ngoài nỗi kinh hãi tái nhợt, lại quay về cái trải nghiệm "khốn nạn chó má" ấy, và không ít lo sợ phải nếm lại nó. Ngoài ra, ngay từ đầu ông đã tự nhận mình là một con người giản dị, mọi điều "cao siêu" đều hoàn toàn xa lạ với ông, và người ta không nên đặt vào ông những đòi hỏi đặc biệt về tinh thần hay tâm tính, cũng như chính ông chẳng hề đặt những đòi hỏi ấy nơi ai cả. Đã thỏa thuận như vậy rồi, ông kể, không phải không thú vị, về đời sống trước kia của mình, cái đời sống mà bệnh tật đã quẳng ông văng ra khỏi đó: đời sống của một người đi công cán cho một công ty bảo hiểm hỏa hoạn; từ Petersburg, ông đã thực hiện những chuyến ngược xuôi dài dằng dặc khắp nước Nga, đi thăm những nhà máy đã được bảo hiểm và dò xét những xí nghiệp có tình hình kinh tế đáng ngờ; vì theo thống kê, chính ở những ngành công nghiệp đang làm ăn sa sút nhất lại xảy ra nhiều vụ cháy nhà máy nhất. Bởi vậy ông được phái đi, dưới cớ này cớ nọ, để thăm dò một cơ sở sản xuất và báo cáo cho ngân hàng của mình, hầu người ta có thể kịp thời phòng ngừa những tổn thất nặng nề bằng cách tăng cường tái bảo hiểm hoặc chia phần phí bảo hiểm. Ông kể về những chuyến đi mùa đông xuyên đế quốc mênh mông, những cuộc lên đường suốt đêm trong giá rét ghê gớm, nằm trên xe trượt, dưới những tấm chăn da cừu, và việc khi tỉnh giấc ông đã thấy mắt bầy sói cháy rực trên nền tuyết như những vì sao. Lương thực đông cứng, từ súp bắp cải đến bánh mì trắng, ông mang theo trong hòm, để rồi ở các trạm đổi ngựa mới cho tan ra mà dùng, và bánh mì khi ấy vẫn tươi như ngày đầu. Chỉ gay nhất là khi dọc đường bất chợt đổ sang tiết trời tan băng: khi đó món súp bắp cải ông mang theo từng tảng lại chảy loang ra hết.

Ông Ferge kể chuyện theo lối ấy, thỉnh thoảng lại ngắt lời mình bằng một tiếng thở dài, rằng tất cả quả là hay ho đấy, nếu như người ta đừng lại phải thử làm pneumothorax nơi ông thêm một lần nữa. Đó chẳng phải điều gì cao siêu, điều ông trình bày, nhưng thuộc về sự thực và nghe khá được, nhất là đối với Hans Castorp, người thấy có ích khi được nghe về đế quốc Nga và lối sống của nó, về samovar, piroggen, Cossack và những nhà thờ gỗ với quá nhiều chóp hành đến nỗi nom như những cụm nấm. Chàng cũng để ông Ferge kể về con người nơi ấy, về vẻ ngoại lai phương bắc, và vì thế trong mắt chàng lại càng phiêu lưu hơn, về phần pha trộn châu Á trong huyết thống họ, những gò má nhô cao, vị trí đôi mắt kiểu Phần Lan-Mông Cổ, rồi lắng nghe với một mối quan tâm nhân học, thậm chí còn nhờ ông nói cho nghe tiếng Nga nữa, thứ ngôn ngữ phương Đông ấy, nhanh, nhòe, hoang lạ và không xương, thoát ra từ dưới bộ ria tốt bụng, từ cái cổ họng nhô ra cũng tốt bụng của ông Ferge; và Hans Castorp, như tuổi trẻ vẫn vậy, lại càng thấy tất cả những điều ấy làm mình thích thú hơn, bởi đó là một địa hạt bị cấm đoán về mặt sư phạm, nơi chàng mặc sức tung tăng.

Họ thường ghé Anton Karlowitsch Ferge chừng mười lăm phút. Xen vào đó, họ đến thăm cậu bé Teddy ở "Fridericianum", một cậu trai mười bốn tuổi thanh nhã, tóc vàng, mảnh dẻ, có nữ điều dưỡng riêng và mặc bộ pyjama lụa trắng cài dây. Cậu là trẻ mồ côi và giàu có, chính cậu tự kể như vậy. Trong khi chờ một can thiệp phẫu thuật sâu hơn, tức việc cắt bỏ những phần đã mục ruỗng, mà người ta định thử, cậu đôi khi, lúc thấy khỏe hơn, rời giường trong một giờ để, với bộ đồ thể thao xinh xắn của mình, tham gia vào đám giao thiệp ở tầng dưới. Các quý bà thích đùa cợt với cậu, và cậu lắng nghe chuyện trò của họ, chẳng hạn những câu chuyện xoay quanh luật sư Einhuf, cô nàng mặc quần cải cách và Fränzchen Oberdank. Rồi cậu lại nằm xuống. Thế là cậu bé Teddy sống một cách thanh nhã cho qua ngày, để người ta hiểu rằng nơi cuộc đời cậu nay chẳng còn chờ đợi gì khác ngoài đúng cái ấy, cứ thế mãi mà thôi.

Nhưng ở phòng số năm mươi lại nằm bà von Mallinckrodt, tên Natalie, mắt đen và đeo vòng vàng ở tai, điệu đàng, thích chưng diện, mà đồng thời là một Lazarus và một Job bằng nữ giới, bị Thượng đế giáng xuống đủ mọi thứ tật bệnh. Cơ thể bà dường như bị ngập trong độc chất, đến nỗi mọi thứ bệnh tật thay nhau và đồng thời kéo đến hành hạ bà. Bị tổn hại nặng nề là làn da, từng mảng lớn phủ đầy một thứ chàm ngứa ngáy khổ sở, đây đó lại lở loét, cả ở miệng nữa, khiến việc đưa thìa vào cho bà ăn gặp khó khăn. Những chứng viêm nội tạng, nào viêm màng phổi, viêm thận, viêm phổi, viêm màng xương, thậm chí cả viêm não đến mức ngất lịm đi, lần lượt thay nhau xuất hiện nơi bà von Mallinckrodt; còn sự suy tim, do sốt và đau đớn gây nên, đem lại cho bà những cơn sợ hãi lớn, thí dụ khiến bà khi nuốt không đẩy thức ăn xuống được tử tế: nó mắc lại ngay phần trên thực quản. Tóm lại, người đàn bà ấy ở vào một tình cảnh khủng khiếp, lại còn trơ trọi giữa đời; bởi sau khi bỏ chồng con vì một người đàn ông khác, nghĩa là vì một cậu choai nửa trẻ con, thì đến lượt bà lại bị tình nhân bỏ rơi, như chính hai anh em họ được bà cho biết, và giờ đây bà không còn quê hương nương tựa, tuy không phải không có tiền, vì ông chồng vẫn chu cấp cho bà. Bà không phải không có một niềm kiêu hãnh đúng mực khi dựa vào sự tử tế, hay tình si vẫn còn dai dẳng, của ông ta, bởi bà không coi trọng chính mình, trái lại thấy rõ mình chỉ là một con đàn bà nhỏ nhoi vô hạnh và tội lỗi; và trên cơ sở đó, bà chịu đựng tất cả những tai ương kiểu Job của mình với một sự nhẫn nại và bền bỉ đáng kinh ngạc, bằng sức chống cự nguyên sơ của nữ tính giống nòi, thứ sức mạnh thắng lướt sự khốn khổ của thân thể nâu sạm của bà, và còn biến cả dải băng gạc trắng mà vì một lý do khốn khổ nào đó bà phải quấn quanh đầu thành một món phục sức có duyên. Bà luôn thay đổi nữ trang, buổi sáng bắt đầu bằng san hô, tối đến kết thúc bằng ngọc trai. Vui thích trước lẵng hoa Hans Castorp gửi tặng, mà hiển nhiên bà gán cho một ý nghĩa ga lăng hơn là từ thiện, bà cho mời hai chàng trai đến uống trà bên giường, thứ trà bà húp từ một chiếc cốc có vòi, các ngón tay, trừ hai ngón cái, đều đeo kín đến tận khớp bằng opal, thạch anh tím và ngọc lục bảo. Chẳng mấy chốc, trong khi những chiếc vòng vàng trên tai bà đong đưa, bà đã kể với hai anh em họ tất cả câu chuyện của mình: về ông chồng tử tế nhưng buồn tẻ, về những đứa con cũng tử tế nhưng buồn tẻ chẳng kém, giống cha như đúc, những đứa mà bà chưa bao giờ đặc biệt thấy lòng mình ấm lên được, và về cậu chàng nửa trẻ con mà bà đã cùng trốn đi, người mà sự âu yếm thi vị của hắn bà hết sức biết lời ca ngợi. Nhưng họ hàng của hắn đã dùng mưu mẹo lẫn vũ lực để tách hắn khỏi bà, rồi hẳn cậu nhỏ ấy cũng thấy ghê tởm bệnh trạng của bà, khi ấy đang bùng phát dữ dội muôn mặt. Các ông đây có thấy ghê tởm chăng, bà hỏi, với giọng điệu làm duyên; và nữ tính giống nòi của bà đã thắng lướt cả mảng chàm phủ kín nửa khuôn mặt.

Hans Castorp nghĩ khinh khỉnh về cậu nhỏ đã thấy ghê tởm kia, và cũng biểu lộ cảm giác ấy bằng một cái nhún vai. Phần chàng, chàng để cho sự mềm yếu của cậu thi sĩ nửa trẻ con kia trở thành một sự kích thích theo hướng ngược lại, và nhân những lần lui tới lặp đi lặp lại đã nắm lấy dịp làm cho người đàn bà khốn khổ von Mallinckrodt vài việc chăm nom nho nhỏ, những việc không cần học nghề trước, nghĩa là: dịu dàng đút cho bà món cháo trưa khi vừa được dọn tới, cho bà uống từ chiếc cốc có vòi khi miếng ăn mắc lại, hoặc giúp bà trở mình trên giường; vì ngoài mọi nỗi khác, một vết thương giải phẫu còn khiến ngay việc nằm yên cũng trở nên khó nhọc đối với bà. Những sự trợ giúp ấy chàng tập làm khi trên đường ra phòng ăn hoặc lúc từ một cuộc đi dạo trở về ghé qua thăm bà, trong khi bảo Joachim cứ đi trước, chàng chỉ muốn nhanh chóng kiểm tra một chút ca bệnh ở phòng số năm mươi thôi; và chàng cảm thấy trong đó một sự nới rộng sung sướng của bản thể mình, một niềm vui dựa trên cảm giác về tính lợi ích và tầm hệ lụy kín đáo của việc mình làm, lại còn pha lẫn một thứ khoái trá hơi láu lỉnh trước cái dáng dấp Ki-tô giáo không chê vào đâu được của mọi hành vi và công việc ấy, một dáng dấp thật ngoan đạo, hiền lành và đáng khen đến mức, xét từ lập trường quân đội cũng như từ lập trường nhân văn-sư phạm, chẳng ai có thể nghiêm túc phản đối điều gì.

Về Karen Karstedt thì cho đến đây còn chưa nói tới, thế mà Hans Castorp và Joachim lại đặc biệt săn sóc cô. Cô là một bệnh nhân tư ở ngoài dưỡng đường của Hofrat, được chính ông phó thác cho lòng từ thiện của hai anh em họ. Đã bốn năm ở trên này, cô gái không một xu dính túi ấy phải sống lệ thuộc vào những người thân ruột thịt cứng rắn, những kẻ đã từng một lần, vì đằng nào cô cũng phải chết, đem cô rời khỏi đây, rồi chỉ do Hofrat phản đối mà lại gửi cô lên lần nữa. Cô trọ ở "Dorf", trong một nhà trọ rẻ tiền, mới mười chín tuổi và mảnh khảnh, tóc chải mượt bôi dầu, đôi mắt rụt rè như cố giấu một ánh long lanh phù hợp với sắc đỏ hực nơi gò má, và một giọng nói khàn đặc đặc trưng nhưng nghe vẫn dễ mến. Cô ho gần như không ngớt, và tất cả các đầu ngón tay của cô đều dán băng, vì do nhiễm độc mà chúng đã loét hở.

Vậy nên, theo lời cầu cạnh của Hofrat, bởi họ vốn là những chàng trai tốt bụng như thế kia mà, hai người đặc biệt tận tâm với cô. Mở đầu là một lẵng hoa, rồi tiếp đến một cuộc thăm viếng cô Karen tội nghiệp trên chiếc ban công nhỏ của cô ở "Dorf", và sau đó là cuộc này cuộc khác, những chuyến đi chơi đặc biệt của cả ba: xem một cuộc thi trượt băng, một cuộc đua xe trượt lòng máng. Bởi lúc ấy mùa thể thao mùa đông của thung lũng cao chúng ta đã đến hồi rộn ràng nhất, một tuần lễ hội đang được cử hành, các cuộc tổ chức dồn dập nối nhau, những trò vui và cảnh diễn mà cho đến nay hai anh em họ chưa hề dành cho quá một sự chú ý tình cờ thoáng qua. Joachim vốn ghét mọi thứ tiêu khiển trên này. Chàng đâu có đến đây vì những thứ ấy, thực ra hoàn toàn không phải đến đây để sống và dàn hòa với cuộc lưu lại của mình bằng cách làm cho nó trở nên dễ chịu và biến đổi, mà chỉ duy nhất, chỉ hoàn toàn, để giải độc cho mình nhanh nhất có thể, hầu có thể phục vụ ở miền đồng bằng, phục vụ thực sự thay vì cái thứ phục vụ dưỡng bệnh, vốn chỉ là một sự thay thế, và như một sự cướp mất chàng chỉ miễn cưỡng cam chịu nó. Tự mình tham dự vào những thú vui mùa đông là điều bị cấm đối với chàng, còn việc đứng xem như một kẻ hiếu kỳ thì chàng chê. Còn về Hans Castorp, chàng lại cảm thấy mình quá mực, theo một nghĩa quá đỗi nghiêm nhặt và thân mật, là thành viên của Những người trên này, nên không có mắt, cũng chẳng có lòng, cho những hoạt náo của hạng người chỉ nhìn thấy ở thung lũng này một bãi chơi thể thao.

Nhưng sự quan tâm từ thiện đối với cô Karstedt tội nghiệp đã mang lại ở đây một vài thay đổi; Joachim không thể phản đối mà khỏi có vẻ thiếu tinh thần Ki-tô giáo. Họ đón cô bệnh nhân ra khỏi chỗ trọ túng thiếu ở "Dorf" và đưa cô đi trong tiết sương giá rực nắng, nóng hổi ánh mặt trời, qua khu phố Anh mang tên khách sạn d’Angleterre, men giữa những cửa hiệu sang trọng trên đại lộ, nơi chuông xe trượt leng keng, những kẻ hưởng lạc giàu có và những tay sống bám cả ngày từ khắp thế giới, dân ở Kurhaus và các khách sạn lớn khác, đầu trần, trong phục trang thể thao hợp mốt bằng những thứ vải vóc quý và đắt tiền, với những khuôn mặt sạm đồng vì nắng đông và ánh phản chiếu của tuyết, đang dạo bước, rồi xuống sân băng nằm không xa Kurhaus, ở đáy thung lũng, chỗ mùa hè vốn là một bãi cỏ dùng để đá bóng. Âm nhạc vang lên; ban nhạc của khu dưỡng trị đang hòa tấu trên sàn cao của ngôi nhà đình gỗ, ở đầu đường băng dài hình tứ giác, phía sau đó những ngọn núi phủ tuyết đứng sẫm trong màu lam thẫm. Họ mua vé vào cửa, chen qua đám đông ba mặt bao quanh sân băng trên những dãy ghế cao dần, tìm được chỗ và ngồi xem. Những người trượt băng nghệ thuật, trong y phục gọn ghẽ, quần áo thun đen, áo viền dải bện có điểm lông thú, lả lướt, lơ lửng, vẽ hình, nhảy và xoay tít. Một đôi tài nghệ tuyệt luân, nam và nữ, là vận động viên chuyên nghiệp và thi biểu diễn ngoài giải, trình diễn một tiết mục mà trên khắp thế giới chỉ riêng họ làm nổi, gây bùng lên những tràng reo nhịp và tiếng vỗ tay. Trong cuộc tranh giải tốc độ, sáu chàng trai trẻ thuộc nhiều quốc tịch, khom người, hai tay đặt sau lưng, đôi khi đưa khăn tay lên miệng, lao sáu vòng quanh hình tứ giác rộng lớn. Người ta rung chuông xen vào giữa bản nhạc. Thỉnh thoảng đám đông dội lên trong tiếng hò reo cổ vũ và tiếng tán thưởng.

Đó là một cuộc tụ hội đầy màu sắc, giữa đó ba người bệnh, hai anh em họ và cô gái được họ che chở, đưa mắt nhìn quanh. Những người Anh đội mũ kiểu Scotland và có hàm răng trắng đang nói tiếng Pháp với các quý bà tỏa mùi hương nồng nặc, từ đầu đến chân quấn trong len sặc sỡ, mà vài bà trong số ấy còn mặc quần. Những người Mỹ đầu nhỏ, tóc ép mượt, tẩu Shag ngậm nơi miệng, khoác lông thú lộn mặt ráp ra ngoài. Người Nga, râu ria mà lịch lãm, nom giàu có một cách man dã, và những người Hà Lan mang nét lai Mã Lai, ngồi xen giữa đám công chúng Đức và Thụy Sĩ; trong khi đủ hạng người không rõ xứ sở, nói tiếng Pháp, từ Balkan hay vùng Levante, một thế giới phiêu lưu mà Hans Castorp tỏ ra có phần ưa thích, còn Joachim thì bác bỏ là mập mờ và vô tính cách, rải rác khắp nơi. Giữa các lượt thi, trẻ con chen vào tranh tài trong những trò vui nhộn, lảo đảo trên đường băng, một chân đi giày tuyết, chân kia đi giày băng, hoặc bọn con trai đẩy mấy cô bé của mình ngồi trên xẻng chạy trước mặt. Chúng chạy với những ngọn nến đang cháy, và ai mang ngọn lửa của mình đến đích mà còn cháy là thắng; chúng phải vừa chạy vừa trèo qua chướng ngại, hoặc dùng thìa thiếc nhặt khoai tây bỏ vào những bình tưới đặt sẵn. Thế giới lớn reo hò. Người ta chỉ cho nhau thấy những đứa trẻ giàu có nhất, nổi tiếng nhất, duyên dáng nhất: cô con gái nhỏ của một nhà triệu phú Hà Lan, con trai của một hoàng tử Phổ và một cậu bé mười hai tuổi mang tên của một hãng champagne lừng danh khắp thế giới. Cô Karen tội nghiệp cũng reo vui và lại ho luôn trong khi ấy. Cô vỗ tay vì sung sướng bằng những bàn tay có đầu ngón đang loét hở. Cô biết ơn biết bao.

Hai anh em họ còn đưa cô đi xem cả cuộc đua xe trượt lòng máng: đích đến không xa, cả từ "Berghof" lẫn từ chỗ ở của Karen Karstedt, bởi đường trượt, từ Schatzalp đổ xuống, kết thúc ở "Dorf", giữa khu dân cư nơi sườn tây. Tại đó người ta dựng một chòi kiểm soát, nơi mỗi lần một cỗ xe rời điểm xuất phát lại được báo xuống bằng điện thoại. Giữa những bờ chắn tuyết đóng băng, trên những khúc cua ánh lên như kim loại của đường trượt, những cỗ xe thấp sàn, chở đàn ông đàn bà trong len trắng, dải đeo ngực mang đủ màu cờ xứ sở, lần lượt, cách nhau từng quãng khá xa, lao từ trên cao xuống. Người ta thấy những khuôn mặt đỏ gay, căng thẳng, bị tuyết tạt vào. Những cú ngã, những chiếc xe trượt va quệt, lật nhào và hất cả đội ngũ của chúng văng xuống tuyết, đều được công chúng chụp ảnh. Ở đây cũng có nhạc chơi. Khán giả ngồi trên những khán đài nhỏ hoặc chen lấn trên con đường đi hẹp đã được xúc tuyết mở bên cạnh đường trượt. Những cây cầu gỗ mà về sau con đường ấy còn đưa băng qua, vắt ngang phía trên đường đua, và dưới đó thỉnh thoảng một cỗ xe đang thi vun vút lao qua, cũng đầy nghẹt người. Những tử thi của dưỡng đường trên kia cũng đi cùng lối ấy, vun vút dưới các cây cầu, trượt xuống những khúc cua, xuống thung lũng, xuống thung lũng, Hans Castorp nghĩ vậy, và chàng cũng nói ra thành lời.

Vào một buổi chiều, người ta còn đưa Karen Karstedt đến cả rạp chiếu bóng ở “Platz”, vì nàng thích thú hết thảy những trò ấy đến thế. Trong bầu không khí tồi tệ mà cả ba đều cảm thấy khó chịu hẳn về thể xác, bởi họ vốn chỉ quen với thứ tinh khiết nhất, thứ không khí nặng nề đè lên ngực họ và gây ra một màn sương đục trong đầu óc họ, cả một lượng đời sống băm vụn, tiêu khiển và vội vã rung rinh lướt qua trên màn ảnh trước những đôi mắt đau nhức của họ, trong một sự bất an cứ bật lên, giật giật dừng lại rồi vụt tắt, theo một nền nhạc nhỏ biết đem sự phân nhịp của thời gian hiện tại áp vào cuộc tháo chạy của những hiện tượng thuộc quá khứ, và với phương tiện hạn hẹp vẫn biết kéo ra đủ mọi thanh điệu của vẻ long trọng và phô trương, của đam mê, hung bạo và nhục cảm ríu rít. Họ xem một câu chuyện tình ái và giết chóc đầy kích động, câm lặng tuôn ra ở triều đình một bạo chúa phương Đông, những biến cố dồn dập đầy lộng lẫy và trần truồng, đầy cơn hừng hực của bậc quân vương và cơn cuồng nộ tôn giáo của sự phục tùng, đầy tàn nhẫn, dục vọng, khoái lạc chết người và cả một tính trực quan lưu luyến mỗi khi cần phô bày bắp thịt nơi cánh tay đao phủ, nói gọn lại, được chế tạo từ một sự thông thuộc đầy đồng cảm đối với những ham muốn bí mật của nền văn minh quốc tế ngồi xem. Hans Castorp nghĩ bụng rằng Settembrini, với tư cách một con người của phán đoán, hẳn đã phải bác bỏ gay gắt màn trình diễn phản nhân đạo ấy, và bằng một lối mỉa mai ngay thẳng, cổ điển, quất roi vào sự lạm dụng kỹ thuật để làm sống dậy những hình dung khinh miệt con người đến vậy; chàng cũng ghé tai nói nhỏ với người anh em họ đại để như thế. Trái lại, Frau Stöhr, cũng có mặt ở đó và ngồi không xa ba người, thì xem chừng hoàn toàn đắm mình; khuôn mặt đỏ gay, kém giáo dưỡng của bà méo đi trong khoái hưởng.

Kỳ thực, những khuôn mặt nào người ta nhìn vào cũng đều như vậy cả. Nhưng khi hình chập chờn cuối cùng của một chuỗi cảnh vụt tắt, đèn trong rạp sáng lên, và cánh đồng thị kiến đứng trơ ra như một tấm bảng trống trước đám đông, thì đến cả tiếng vỗ tay cũng không thể có. Chẳng có ai ở đó để người ta nhờ tiếng vỗ tay mà cảm tạ, chẳng có ai để người ta gọi ra vì phần trình diễn nghệ thuật của mình. Những diễn viên đã tụ về để cùng chơi vở tuồng mà người ta vừa thưởng thức kia từ lâu đã tan tác bốn phương; người ta chỉ nhìn thấy những bóng hình của sản phẩm do họ tạo ra, hàng triệu bức ảnh và những sự cố định ngắn ngủi nhất mà hành động của họ đã bị thu nhận rồi phân giải vào đó, để rồi có thể tùy ý trả lại cho yếu tố thời gian trong một chuỗi trôi nhanh nhấp nháy. Sự im lặng của đám đông sau ảo ảnh có cái gì bại nhược thần kinh và khả ố. Những bàn tay bất lực nằm đó trước cái không. Người ta dụi mắt, nhìn trân trân ra trước mặt, xấu hổ vì ánh sáng, và đòi quay lại bóng tối để được nhìn nữa, để lại thấy những điều đã có thời của chúng, nay được cấy sang một thời gian mới và tô điểm bằng âm nhạc, lại xảy ra lần nữa.

Gã bạo chúa chết dưới lưỡi dao, với một tiếng gào nơi cái miệng há ra mà người ta không nghe thấy. Rồi người ta xem những hình ảnh từ khắp thế giới: tổng thống nước Cộng hòa Pháp, đội mũ ống cao và đeo dải đại huân chương, ngồi trên chiếc xe Landauer đáp lại một bài diễn từ chào mừng; phó vương Ấn Độ tại lễ cưới của một vị raja; thái tử nước Đức trong sân một doanh trại ở Potsdam. Người ta thấy đời sống và sinh hoạt trong một làng thổ dân ở Neumecklenburg, một trận chọi gà tại Borneo, những người hoang dã trần truồng thổi sáo mũi, cảnh bắt voi rừng, một nghi lễ ở triều đình Xiêm, một con phố lầu xanh tại Nhật Bản, nơi các geisha ngồi sau những song lồng gỗ. Người ta thấy những người Samoyed trùm kín ngồi xe tuần lộc chạy xuyên một hoang địa tuyết ở Bắc Á, những người hành hương Nga cầu nguyện ở Hebron, và cảnh thi hành hình phạt roi gậy trên một phạm nhân Ba Tư. Người ta có mặt giữa tất cả những điều đó; không gian bị tiêu diệt, thời gian bị dời lại phía sau, cái Ở Đó và Khi Ấy biến thành một cái Ở Đây và Bây Giờ lướt qua, huyễn ảo, có âm nhạc vờn quanh. Một phụ nữ Maroc trẻ, mặc lụa sọc, trang sức đầy những dây xích, ghim cài và nhẫn vòng, nửa để trần bộ ngực căng tràn, bỗng được kéo lại gần bằng cỡ người thật. Cánh mũi nàng nở rộng, đôi mắt đầy sự sống thú vật, nét mặt lay động; nàng cười, phô hàm răng trắng, giơ một bàn tay, có những móng sáng màu hơn cả da thịt, che lên mắt như tấm chắn, và vẫy tay kia về phía khán giả. Người ta bối rối nhìn chằm chằm vào khuôn mặt của cái bóng quyến rũ ấy, dường như thấy mà không thấy, hoàn toàn không bị những ánh mắt chạm tới, và tiếng cười cùng cái vẫy tay của nó không hề nhắm vào hiện tại, mà thuộc về cái Ở Đó và Khi Ấy, đến nỗi có đáp lại cũng là vô nghĩa. Điều đó, như đã nói, pha vào khoái cảm một cảm giác bất lực. Rồi bóng ma biến mất. Một thứ sáng trống rỗng phủ lên tấm màn, chữ “Hết” được ném lên đó, chu kỳ trình diễn đã khép lại, và người ta lặng lẽ rời khỏi rạp, trong khi từ bên ngoài một đợt khán giả mới chen vào, khao khát được thưởng thức một lần lặp lại của diễn tiến ấy.

Được Frau Stöhr, người đã nhập bọn với họ, khích lệ, sau đó người ta còn ghé quán cà phê của Kurhaus cho Karen tội nghiệp vui lòng, nàng vì biết ơn mà cứ chắp hai tay lại. Ở đây cũng có nhạc. Một dàn nhạc nhỏ mặc áo đuôi tôm đỏ chơi dưới sự chỉ huy của một tay vĩ cầm trưởng người Czech hay Hungary; tách khỏi toán nhạc, ông đứng giữa các cặp đang nhảy và uốn người bốc lửa mà kéo cây đàn của mình. Quanh các bàn ngự trị một đời sống thời thượng. Những thức uống hiếm lạ được mang đi mang lại. Hai anh em họ gọi nước cam cho mình và cho người được họ bảo trợ để giải nhiệt, vì ở đây nóng và đầy bụi, trong khi Frau Stöhr dùng rượu ngọt mạnh. Vào giờ này, bà nói, sinh hoạt ở đây vẫn chưa thật đúng điệu. Về tối hơn, điệu nhảy còn náo nhiệt hơn nhiều; khi ấy vô số bệnh nhân từ các dưỡng viện khác nhau và những kẻ bệnh tật sống phóng túng từ các khách sạn và ngay trong Kurhaus, còn nhiều hơn bây giờ rất nhiều, sẽ tham dự vào đó, và đã không ít người bệnh nặng nhảy thẳng sang cõi đời đời tại đây, sau khi cạn chén khoái lạc sống và chịu cơn ho ra máu chung cuộc _dulci jubilo_. Điều mà sự thiếu giáo dưỡng lớn lao của Frau Stöhr đã làm với cụm _dulci jubilo_ quả thật khác thường; từ đầu, bà vay mượn trong vốn từ vựng âm nhạc-Ý của chồng mình và đọc thành _dolce_, còn từ sau thì gợi đến Feuerjo, Jubeljahr hay Chúa biết thứ gì, hai anh em họ cùng một lúc chộp lấy những ống hút trong cốc mình ngay khi thứ tiếng Latin ấy được đem ra dùng, nhưng điều đó chẳng làm Stöhr bận tâm. Trái lại, bà tìm cách, bằng lối bóng gió và châm chích, với bộ răng thỏ cứng đầu phơi ra, dò cho ra lẽ mối quan hệ giữa ba người trẻ, mối quan hệ mà đối với bà chỉ thật rõ ở chỗ liên quan đến Karen tội nghiệp, người mà, theo lời Frau Stöhr, với lối sống lơi lả của mình hẳn cũng lấy làm hợp ý khi được cùng lúc hai hiệp sĩ lanh lợi hộ tống. Về phía hai anh em họ thì trường hợp đối với bà kém rõ hơn; nhưng dẫu ngu độn và thiếu giáo dưỡng đến đâu, trực giác đàn bà của bà ta rốt cuộc vẫn giúp bà đạt được đôi chút nhận xét, tuy cũng chỉ là một nửa vời và thô tục. Bởi bà hiểu, và bằng lối châm chọc đã cho hiểu ra, rằng ở đây hiệp sĩ chân chính thực sự là Hans Castorp, còn chàng Ziemßen trẻ chỉ đóng vai phụ trợ, và Hans Castorp, người mà xu hướng nội tâm hướng về Frau Chauchat đã được bà biết rõ, chỉ hộ tống Karstedt khốn khổ như một vật thay thế, vì hiển nhiên chàng không biết làm sao tiến lại gần người đàn bà kia, một nhận xét thật quá xứng với riêng Frau Stöhr, hoàn toàn không có chiều sâu đạo đức, hết sức thiếu sót và chỉ là thứ trực giác phàm tục; vì thế Hans Castorp cũng chỉ đáp lại bằng một cái nhìn mệt mỏi và khinh miệt khi bà ta phơi bày điều ấy ra theo lối bông lơn trơ trẽn. Bởi quả thực, việc giao du với Karen tội nghiệp đối với chàng quả là một loại phương tiện thay thế và phụ trợ mơ hồ mà có ích, cũng như mọi sự dấn thân từ thiện của chàng đều có nghĩa như vậy đối với chàng. Nhưng đồng thời, những việc đạo hạnh ấy cũng lại là mục đích tự thân; và sự thỏa lòng mà chàng cảm thấy khi đút cháo cho Mallinckrodt lao phổi, khi để Herr Ferge thuật cho nghe cơn sốc màng phổi quỷ quái, hay khi nhìn thấy Karen tội nghiệp vì vui sướng và biết ơn mà vỗ hai bàn tay có những đầu ngón băng kín của mình vào nhau, tuy có mang tính chuyển dịch và quan hệ, thì đồng thời cũng vẫn là một sự thỏa lòng trực tiếp và thuần khiết; nó phát sinh từ một tinh thần giáo dưỡng đối lập với tinh thần mà Herr Settembrini đại diện về mặt sư phạm, nhưng theo chàng Hans Castorp trẻ tuổi, cũng đáng để áp vào đó câu _Placet experiri_.

Ngôi nhà nhỏ nơi Karen Karstedt ở nằm không xa dòng nước và đường ray, trên con đường dẫn về “Dorf”, bởi thế hai anh em họ tiện thể ghé đón nàng khi sau bữa điểm tâm muốn đưa nàng theo cuộc dạo bộ công vụ của mình. Cứ đi như vậy về phía Dorf để ra lối tản bộ chính, họ thấy trước mặt ngọn Schiahorn nhỏ, rồi chếch sang phải là ba mũi nhọn mang tên Grünen Türme, lúc này cũng đang nằm dưới lớp tuyết nắng chói lòa, và xa hơn nữa về bên phải là chỏm Dorfberg. Trên sườn núi ấy, vào khoảng một phần tư độ cao, người ta thấy nghĩa trang nằm đó, nghĩa trang của “Dorf”, có tường bao quanh và hiển nhiên có một tầm nhìn đẹp, hẳn là xuống phía hồ, nên cũng đáng được tính tới như đích của một cuộc dạo bộ. Quả vậy, có lần cả ba đã đi lên đó vào một buổi sáng đẹp, và giờ đây ngày nào cũng đẹp cả: lặng gió và chan nắng, xanh thẳm, rét bỏng và trắng lấp lánh. Hai anh em họ, một người mặt đỏ như gạch, người kia rám đồng, đi chỉ với bộ quần áo thường, vì trong cái nắng xối ấy áo khoác sẽ thành vướng víu, chàng Ziemßen trẻ trong đồ thể thao với giày tuyết cao su, Hans Castorp cũng thế, nhưng mặc quần dài, vì chàng không thiên về thể xác đủ để mặc quần ngắn. Đó là vào khoảng giữa đầu và giữa tháng Hai, trong năm mới. Đúng thế, con số của năm đã đổi kể từ khi Hans Castorp lên đây; nay người ta viết một con số khác, con số kế tiếp. Một kim lớn trên chiếc đồng hồ thời gian của thế giới đã rơi thêm một đơn vị: chưa phải là một trong những chiếc lớn nhất, dĩ nhiên không phải chiếc đo thiên niên kỷ, rất ít người đang sống còn được chứng kiến điều ấy; cũng không phải chiếc đánh dấu thế kỷ hay chỉ đơn giản là thập niên, không. Nhưng chiếc kim năm vừa mới rơi xuống, mặc dầu Hans Castorp ở trên này chưa tròn một năm mà mới chỉ hơn nửa năm chút ít, và nay nó đứng yên, theo kiểu những kim phút của một vài chiếc đồng hồ lớn chỉ nhảy năm phút một lần, cho tới khi nó lại nhích tới. Trước lúc ấy, chiếc kim tháng còn phải nhích thêm mười lần nữa, nhiều hơn một đôi lần so với số lần nó đã nhích kể từ khi Hans Castorp ở trên này, còn tháng Hai thì chàng không kể nữa, vì một khi đã bắt đầu thì coi như xong, cũng như một khi đã đổi thì gần như đã tiêu hết rồi.

Thế là cả ba cũng có lần đi dạo tới nghĩa trang trên Dorfberg; để tường thuật được chính xác, cuộc dạo chơi này cũng cần được kể ra. Sự gợi ý ấy là từ Hans Castorp, và Joachim thoạt đầu hẳn có đôi điều băn khoăn vì Karen tội nghiệp, nhưng rồi cũng nhận ra và thừa nhận rằng sẽ là vô ích nếu chơi trò trốn tìm với nàng và, theo tinh thần của Stöhr hèn nhát, sợ sệt giữ nàng tránh xa mọi thứ gợi nhắc đến _exitus_. Karen Karstedt chưa tự ru ngủ mình bằng những sự tự dối của giai đoạn cuối, trái lại nàng biết rõ tình trạng của mình và hiểu cái hoại tử ở những đầu ngón tay mình là thế nào. Nàng cũng biết thêm rằng đám thân thích cứng cỏi của nàng hầu như sẽ chẳng muốn nghe gì đến cái xa xỉ của việc đưa thi hài về quê, mà sau khi _exitus_, người ta sẽ chỉ định cho nàng một chỗ nhỏ khiêm tốn làm nơi cư trú ở trên ấy. Tóm lại, người ta cũng có thể cho rằng điểm đến này về mặt tinh thần hợp với nàng hơn là lắm nơi khác, chẳng hạn điểm xuất phát xe bobsleigh hay rạp chiếu bóng; huống hồ, rốt cuộc, đây cũng chẳng hơn gì một hành vi đồng đội đứng đắn là lên thăm những người trên ấy một lần, giả như người ta không đơn giản coi nghĩa trang là một thắng cảnh và một khu đi dạo trung tính.

Họ đi chậm lên dốc thành hàng một, vì con lối đã xúc tuyết chỉ cho phép đi từng người, bỏ lại sau lưng và dưới chân những biệt thự cuối cùng nằm cao nhất trên sườn, và trong lúc leo họ lại thấy bức tranh phong cảnh quen thuộc, trong vẻ huy hoàng mùa đông của nó, hơi dịch chuyển và mở ra đôi chút theo phối cảnh: nó nới rộng về phía đông bắc, hướng về cửa thung lũng, tầm nhìn chờ đợi xuống mặt hồ mở ra, mặt hồ tròn vành vạnh có rừng bao quanh, nay đông cứng và phủ tuyết, và phía sau bờ xa nhất của nó, những triền núi tưởng như gặp nhau nơi mặt đất, sau lưng chúng những đỉnh núi xa lạ, phủ tuyết, chồng cao lên nhau trên nền trời xanh. Họ đứng trong tuyết trước cổng đá tạo thành lối vào nghĩa trang mà nhìn ngắm, rồi bước vào nơi ấy qua cánh cửa lưới sắt gắn trong cổng đá và chỉ khép hờ.

Ở đây họ cũng thấy những lối đi đã được xúc tuyết, chạy giữa những gò mộ có hàng rào quanh, được đệm tuyết, những chỗ nằm đã được sửa soạn tươm tất và đều đặn ấy, với những cây thập giá bằng đá và kim loại, những bia nhỏ trang trí huy chương và hàng chữ; nhưng chẳng thấy cũng chẳng nghe bóng một con người nào. Sự tĩnh lặng, cách biệt, không bị quấy rầy của nơi này dường như sâu thẳm và kín đáo gợi nhiều ý nghĩa; một thiên thần nhỏ bằng đá hay một vị putto thần đồng, đội chiếc mũ tuyết hơi lệch trên cái đầu con con, đứng đâu đó trong bụi cây và đặt ngón tay lên môi, hẳn có thể được coi như vị thần hộ mệnh của nơi này, nghĩa là vị thần của sự im lặng, và lại là một thứ im lặng mà người ta cảm rất rõ như cái đối lập và trò đối ứng với lời nói, tức một sự nín bặt, chứ tuyệt nhiên không phải trống rỗng vô sự và vô biến cố. Với hai vị khách nam, hẳn đây là một dịp để tháo mũ, nếu họ có đội mũ. Nhưng họ đều để đầu trần, cả Hans Castorp cũng vậy, thành thử họ chỉ bước đi với một tư thế cung kính, dồn sức nặng cơ thể lên mũi bàn chân và như thể cúi chào khe khẽ sang phải sang trái, nối hàng một theo sau Karen Karstedt, người dẫn họ đi.

Nghĩa trang có hình dạng không đều, ban đầu kéo dài như một hình chữ nhật hẹp về phía nam, rồi sau đó lại nở ra, cũng theo dạng chữ nhật, về cả hai bên. Rõ ràng đã nhiều lần việc mở rộng tỏ ra cần thiết và đất canh tác đã được ghép thêm vào. Dẫu vậy, khu vực ấy lúc này dường như lại gần như kín chỗ, dọc tường cũng như trong những phần bên trong ít được chuộng hơn của nó, hầu như không thể nhìn ra hay nói được rằng may ra còn chỗ nào trong ấy để dung thân nữa. Ba người khách từ ngoài đến lặng lẽ đi dạo khá lâu trong những lối mòn hẹp và những khoảng passage giữa các ngôi mộ, thỉnh thoảng dừng lại để đánh vần một cái tên cùng ngày sinh và ngày mất. Những bia đá và thập giá giản dị, ít phô trương. Còn các dòng khắc trên đó thì tên tuổi đến từ khắp gió khắp phương, nghe ra tiếng Anh, tiếng Nga hay chí ít cũng là tiếng Slav nói chung, lại cả tiếng Đức, tiếng Bồ Đào Nha và đủ thứ khác; còn những con số tháng năm thì mang một dấu ấn mong manh, biên độ của chúng nhìn chung nhỏ một cách đáng chú ý, khoảng cách năm tháng giữa sinh và _exitus_ ở đâu cũng chừng hai mươi, chẳng hơn bao nhiêu, hầu như toàn tuổi trẻ chứ không phải đức hạnh cư ngụ trong doanh trại ấy, một dân chúng chưa định hình, từ khắp thế giới tụ lại đây và đã vĩnh viễn đi vào hình thức tồn tại nằm ngang.

Ở đâu đó sâu trong đám chen chúc của những nơi an nghỉ, ở phần bên trong bãi cỏ, về phía giữa, có một khoảng đất phẳng dài đúng một thân người, bằng phiu và chưa có ai nằm, ở giữa hai chỗ đã được đắp thành giường, quanh những tấm bia của chúng treo các vòng hoa bền lâu, và ba vị khách bất giác dừng lại trước nó. Họ đứng đó, cô gái trẻ hơi ở phía trước hai người tháp tùng, và đọc những hàng ghi mảnh mai trên các tấm bia, Hans Castorp thì thả lỏng, hai tay bắt chéo trước mình, miệng hơi há và mắt ngái ngủ, còn chàng Ziemßen trẻ thì khép kín, không những đứng thẳng mà thậm chí còn hơi ngả ra sau, rồi hai anh em họ đồng thời tò mò liếc trộm từ hai bên vào nét mặt Karen Karstedt. Dẫu vậy nàng vẫn nhận ra, và đứng đó, e thẹn và khiêm nhường, đầu hơi nghiêng mà đưa ra trước, mỉm cười kiểu cách với đôi môi chúm lại, đồng thời chớp mắt nhanh liên hồi.

Đêm Walpurgis

Chỉ trong mấy ngày tới thôi là tròn bảy tháng chàng Hans Castorp trẻ ở trên này, trong khi người anh em họ Joachim, vốn đã có năm tháng trên lưng vào lúc chàng kia tới nơi, nay nhìn lại mười hai tháng, tức một năm con con, một năm tròn trĩnh, tròn theo nghĩa vũ trụ, ở chỗ từ khi đầu máy nhỏ khỏe sức ấy bỏ chàng xuống đây, trái đất đã hoàn tất một vòng quay quanh mặt trời và trở về đúng điểm của bấy giờ. Đang là mùa hội hóa trang. Đêm hội trước Mùa Chay đã ở ngay trước cửa, và Hans Castorp bèn hỏi người đã tròn một năm kia xem sự thể khi ấy ra sao.

“Magnifik!” Settembrini đáp, khi hai anh em họ lại một lần nữa gặp ông trong buổi đi bộ vận động ban sáng. “Splendide!” ông đáp. “Vui chẳng khác gì ở Prater, kỹ sư sẽ thấy. Thế là ngay tại đây, theo hàng theo lối, chúng ta hóa thành những tay phong lưu bóng bẩy,” ông nói, rồi lại tiếp tục buông lời bình phẩm bằng cái miệng căng đầy, kèm theo những cử động tay, đầu và vai rất đạt: “Biết sao được, ngay trong _maison de santé_ đôi khi cũng có vũ hội cho bọn điên và đần, như tôi từng đọc thấy, thì tại sao ở đây lại không? Chương trình gồm đủ mọi thứ _danses macabres_, như ngài hẳn có thể hình dung. Chỉ tiếc là một bộ phận nào đó trong số những người dự hội năm ngoái lần này không thể hiện diện, vì cuộc vui đã kết thúc vào lúc 9 giờ rưỡi...”

“Ông muốn nói... À ra thế, tuyệt lắm!” Hans Castorp cười. “Ông thật là tay khôi hài! ‘Vào 9 giờ rưỡi’, cậu nghe chưa? Nghĩa là sớm quá, nên ‘một bộ phận nào đó’ trong số những người năm ngoái chẳng còn có thể dự thêm lấy một giờ, Herr Settembrini muốn nói thế đấy. Ha, ha, rờn rợn thật. Ấy chính là cái phần trong lúc ấy đã vĩnh viễn nói lời _valet_ với ‘xác thịt’ rồi. Cậu hiểu lối chơi chữ của mình chứ? Nhưng chuyện này quả làm tôi háo hức,” chàng nói. “Tôi thấy ở đây chúng ta ăn mừng các ngày lễ đúng như chúng rơi xuống là phải lắm, và theo lối thông thường mà đánh dấu các chặng, những chỗ ngắt ấy, để khỏi thành một sự đơn điệu không chia đốt, như thế sẽ kỳ cục lắm. Ta đã có Giáng sinh và biết rằng Năm mới đã đến, giờ thì lại đến lễ hóa trang. Rồi Chủ nhật Lễ Lá tiến lại gần đây (trên này có bánh vòng không?), Tuần Thánh, Phục sinh và Lễ Ngũ Tuần, tức sáu tuần sau đó, rồi chẳng mấy chốc đã là ngày dài nhất, tiết hạ chí, ngài hiểu chứ, và thế là ngả sang mùa thu...”

“Dừng! dừng! dừng!” Settembrini kêu lên, vừa ngẩng mặt nhìn trời vừa ép hai lòng bàn tay vào hai thái dương. “Im đi! Tôi cấm ngài cứ thế mà thả cương cho mình phóng đi!”

“Xin lỗi, trái lại tôi vẫn đang nói đúng thế đấy chứ... Với lại, rốt cuộc hẳn Behrens rồi cũng sẽ quyết định dùng đến các mũi tiêm để đạt việc giải độc cho tôi, vì tôi cứ luôn luôn ba mươi bảy phẩy bốn, phẩy năm, phẩy sáu, thậm chí phẩy bảy. Chuyện ấy không chịu thay đổi. Tôi quả là, và vẫn cứ là, đứa con khiến đời phải lo nghĩ. Về kỳ hạn dài thì tôi đâu có, Radamanth chưa bao giờ áp cho tôi điều gì dứt khoát, nhưng ông ấy bảo rằng cắt ngắn đợt điều dưỡng trước thời hạn thì vô nghĩa, vì rốt cuộc tôi đã ở trên này lâu đến thế và đã đầu tư vào đây ngần ấy thời gian, có thể nói như vậy. Mà ông ấy có ấn định cho tôi một mốc thì ích gì? Điều ấy cũng chẳng nói lên bao nhiêu, vì nếu chẳng hạn ông ấy bảo: nửa năm thôi, thì đó là tính quá sít sao, người ta phải chuẩn bị tinh thần cho nhiều hơn thế. Cứ nhìn ông anh họ tôi thì rõ, đáng lẽ đầu tháng này là cậu ấy xong rồi, xong theo nghĩa là khỏi hẳn, nhưng lần gần đây nhất Behrens lại cộng thêm cho cậu ấy bốn tháng nữa để hoàn toàn khỏi hẳn, thế thì rồi ta có gì? Thì ta có tiết hạ chí, như tôi đã nói, mà không hề muốn chọc ngài tức, và rồi lại ngả dần về mùa đông. Nhưng trước mắt thì dĩ nhiên trước hết vẫn là lễ hóa trang, ngài nghe đấy, tôi thấy thật tốt đẹp khi trên này chúng ta tuần tự trải qua mọi thứ, đúng như lịch ghi. Frau Stöhr bảo rằng ở quầy trực của gã gác cổng có bán những chiếc kèn trẻ con cơ đấy?”

Điều ấy quả đúng. Ngay từ bữa điểm tâm đầu tiên của thứ Ba hóa trang, cái ngày vừa thoắt một cái đã ở ngay trước mặt người ta trước cả khi người ta kịp nhìn thấy nó từ đằng xa cho rõ, thì ngay từ sáng sớm trong phòng ăn đã vang lên đủ thứ âm thanh của những nhạc cụ thổi đùa nghịch, rè rè và toe toe; đến bữa trưa thì từ bàn của Gänser, Rasmussen và Kleefeld những dải giấy xoắn đã bắt đầu bay sang, và vài người, chẳng hạn Marusja mắt tròn, đội những thứ mũ giấy cũng mua được nơi gã què phía trước trong quầy trực; nhưng đến tối, trong phòng ăn và các phòng chuyện trò đã mở ra một bầu giao du lễ hội mà trong diễn tiến của nó... Chỉ riêng chúng ta, lúc này, mới biết, nhờ tinh thần dám làm của Hans Castorp, cuộc vui hóa trang ấy trong diễn tiến của nó đã dẫn tới đâu. Nhưng ta sẽ không để cái biết ấy lôi mình tiến lên trước, cũng không để nó kéo mình ra khỏi sự chừng mực của mình, mà dành cho thời gian sự tôn kính vốn thuộc về nó, không hấp tấp điều gì, thậm chí có lẽ còn cố ý kéo giãn các biến cố ra, vì ta cùng chia sẻ sự e dè có tính đạo lý của chàng Hans Castorp trẻ tuổi, cái sự e dè đã ngăn lùi sự xuất hiện của những biến cố ấy quá lâu rồi.

Người ta nói chung đã hành hương ra “Platz” vào buổi chiều để xem cảnh sinh hoạt đường phố của mùa hóa trang. Những đám giả trang đã đi lại trên đường, những Pierrot và Harlekin vung vẩy chiếc phách kêu lách cách, còn giữa người đi bộ và những người ngồi trong các cỗ xe trượt tuyết có chuông reo, trang hoàng lộng lẫy, cũng đều giả trang, đã diễn ra những cuộc giao tranh bằng confetti. Trong tâm trạng đã lên rất cao, người ta trở về ngồi vào bảy chiếc bàn để dùng bữa tối, quyết lòng tiếp tục nuôi dưỡng tinh thần công cộng trong một vòng tròn khép kín. Những mũ giấy, đồ khua lách cách và những chiếc kèn toe của gã gác cổng đã bán rất chạy, và công tố viên Paravant mở màn cho một sự cải trang xa hơn nữa bằng cách khoác một chiếc kimono nữ, cài một bím tóc giả mà theo tiếng hô tứ phía là của Tổng lãnh sự phu nhân Wurmbrandt, lại còn dùng sắt uốn kéo bộ ria mép chếch xuống, thành thử trông thật không sai một sợi tóc nào một người Tàu. Ban quản lý cũng không chịu kém. Họ trang hoàng mỗi một trong bảy chiếc bàn bằng một chiếc đèn lồng giấy, một vầng trăng sắc màu với ngọn nến cháy bên trong, đến nỗi khi bước vào phòng, lướt ngang bàn Hans Castorp, Settembrini đã trích dẫn một câu thơ liên quan đến màn chiếu sáng ấy:

“Kìa xem, những ngọn lửa sặc sỡ biết bao! Quả là một hội vui nhộn đang sum vầy.”

ông nói với nụ cười tinh và khô, vừa thong thả đi về chỗ của mình, để rồi ở đó được đón tiếp bằng những viên đạn ném nho nhỏ, những quả cầu vỏ mỏng chứa chất lỏng thơm ngát, đến khi chạm trúng thì vỡ ra và tắm người bị ném trong nước hoa.

Tóm lại, không khí lễ hội ngay từ đầu đã bộc lộ hết sức rõ rệt. Tiếng cười thống trị, những dải giấy xoắn rủ từ đèn chùm xuống đong đưa theo luồng khí, confetti nổi lềnh bềnh trong nước xốt món quay, rồi chẳng bao lâu người ta đã thấy cô lùn tất tả đi ngang với chiếc xô đá đầu tiên, chai champagne đầu tiên; người ta pha rượu sủi với Burgundy, theo hiệu lệnh của luật sư Einhuf, và đến khi, vào khoảng cuối bữa, đèn trần vụt tắt, chỉ còn những chiếc đèn lồng thắp cho phòng ăn bằng một thứ chạng vạng sặc sỡ, như đêm Ý, thì tâm trạng đã hoàn toàn viên mãn, và tại bàn Hans Castorp người ta hết sức tán thưởng khi Settembrini gửi sang một mảnh giấy (ông trao nó cho Marusja ngồi gần ông nhất, cô nàng đội một chiếc mũ jockey bằng giấy lụa xanh lá), trên đó ông viết bằng bút chì:

“Nhưng hãy liệu! Hôm nay ngọn núi điên dại vì ma thuật, Và nếu ma trơi phải chỉ đường cho các vị, Thì các vị đừng quá chấp nhặt từng ly từng tí.”

Bác sĩ Blumenkohl, lúc ấy bệnh lại trở nặng, lẩm bẩm gì đó với cái vẻ mặt, hay đúng hơn là vẻ môi, rất riêng của ông, qua đó người ta có thể đoán được những câu ấy là thơ gì. Về phần mình, Hans Castorp cảm thấy không nên để món nợ đáp trả ấy treo đó, chàng đùa đùa thấy mình có bổn phận phải viết một lời hồi đáp lên mảnh giấy, lời ấy dĩ nhiên chỉ có thể rất mực tầm thường. Chàng thọc tay vào túi tìm bút chì, nhưng không có, mà cũng không xin được của Joachim hay cô giáo. Đôi mắt gân đỏ của chàng quay về phía đông cầu viện, về góc trái phía sau phòng ăn, và người ta thấy cái ý định thoáng qua kia của chàng đã phình ra thành những liên tưởng xa xôi đến thế nào, khiến chàng tái mét và quên bẵng cả dụng ý ban đầu.

Nhưng để tái mặt thì còn có những lý do khác nữa. Frau Chauchat ở đằng kia đã sửa soạn y phục cho lễ hóa trang; nàng mặc một chiếc áo mới, ít nhất là một chiếc mà Hans Castorp chưa từng thấy trên người nàng, làm bằng thứ lụa nhẹ và sẫm, phải, đen hẳn, chỉ đôi khi ánh lên một nét nâu vàng, ở cổ khoét một vành tròn nhỏ xinh như của thiếu nữ, hầu như không sâu đến mức quá phần cổ họng, chỗ bắt đầu của xương đòn, và đằng sau là những đốt sống nơi gáy hơi nhô ra dưới làn tóc lỏng ở sau cổ khi đầu nàng hơi đưa ra trước còn trông thấy được, nhưng lại để trần hai cánh tay của Clawdia tới tận vai, hai cánh tay vừa mảnh mai vừa đầy đặn, lại hẳn là mát lạnh nữa, theo mọi phỏng đoán, và trắng lạ thường trên nền tối óng ả của chiếc áo, nổi bật lên một cách gây chấn động đến nỗi Hans Castorp, nhắm mắt lại, thì thầm vào trong mình: “Lạy Chúa!” Chàng chưa từng thấy lối cắt áo như thế này. Chàng biết những toilette dạ hội, những sự phô bày hợp lễ, thậm chí hợp quy cách, rộng rãi hơn thế này nhiều, mà không hề gây một cảm giác giật gân đến gần như vậy. Sai lầm, trên hết, hóa ra là giả định cũ của Hans Castorp tội nghiệp cho rằng sức quyến rũ, cái sức quyến rũ phi lý của đôi cánh tay ấy, đôi cánh tay mà chàng đã từng làm quen qua một lớp voan mỏng, nếu không có một sự “hiển dung” đầy dự cảm, như chàng đã gọi bấy giờ, có lẽ sẽ tỏ ra kém sâu xa hơn. Sai lầm! Một sự tự đánh lừa mình tai hại! Sự trần truồng trọn vẹn, nhấn mạnh đến tột độ và chói lòa của những chi thể tuyệt diệu ấy thuộc về một cơ thể bệnh hoạn vì nhiễm độc là một biến cố, tỏ ra mạnh hơn nhiều so với sự hiển dung năm ấy, một hiện tượng mà người ta không có câu trả lời nào khác ngoài việc cúi đầu xuống và lặng tiếng lặp lại: “Lạy Chúa!”

Một lúc sau lại có một mảnh giấy nữa, trên đó viết:

“Một cuộc tao ngộ đúng như người ta có thể ao ước. Quả tình, toàn những cô dâu cả! Và đám trai độc thân, từng người một, là những kẻ đầy hy vọng nhất!”

“Hay lắm, hay lắm!” tiếng reo nổi lên. Người ta đã sang món moka, được dọn trong những chiếc bình nhỏ màu nâu đất, hoặc sang rượu mùi, như Frau Stöhr chẳng hạn, người thích nhấm nháp những thứ ngọt có cồn hơn bất cứ gì trên đời. Cuộc tụ họp bắt đầu tan ra, lưu chuyển. Người ta sang thăm nhau, đổi bàn cho nhau. Một phần khách đã rút vào các phòng chuyện trò, trong khi một phần khác còn ngồi lì lại, tiếp tục nâng ly với thứ rượu pha trộn ấy. Bấy giờ Settembrini đích thân đi sang, tay cầm tách cà phê, môi ngậm tăm, rồi ngồi xuống ở góc bàn giữa Hans Castorp và cô giáo, như một người tới dự thính.

“Dãy Harz,” ông nói. “Vùng Schierke và Elend. Tôi có hứa quá lời với ngài đâu, kỹ sư? Cái này thì tôi mới gọi là một phiên hội! Nhưng cứ đợi xem, trò dí dỏm của chúng ta chưa cạn nhanh đến thế đâu, chúng ta vẫn chưa tới cao trào, chứ đừng nói đến hồi kết. Theo mọi điều người ta nghe được, sẽ còn thêm nhiều mặt nạ nữa. Vài nhân vật nào đó đã lui vào trong, điều ấy cho phép trông đợi đủ thứ, ngài sẽ thấy.”

Quả nhiên những cuộc cải trang mới lại xuất hiện: các bà trong trang phục nam, kiểu operetta và khó tin vì những đường nét xòe nở quá đà, khuôn mặt bôi đen thành râu bằng nút bần chai cháy; các ông, ngược lại, vận áo váy đàn bà, vấp cả vào gấu váy của mình, như chàng sinh viên Rasmussen chẳng hạn, trong một bộ toilette đen đính hạt jet, phô ra một khoảng ngực trần nổi mụn, chàng còn lấy chiếc quạt giấy phe phẩy cho mát, cả phía lưng nữa. Một gã ăn mày hiện ra, hai chân vòng kiềng, treo mình vào một chiếc nạng. Có kẻ đã chế từ đồ lót trắng và một chiếc mũ phớt phụ nữ thành một bộ áo Pierrot, mặt phủ phấn đến nỗi đôi mắt mang vẻ không tự nhiên, còn miệng thì bôi sáp môi đỏ như máu. Đó là cậu chàng có chiếc móng tay. Một người Hy Lạp ở chiếc bàn Nga xấu xí, với đôi chân đẹp, diễu qua trong chiếc quần lót len dệt kim màu tím, khoác áo choàng nhỏ, cổ bâu giấy và cầm một cây gậy-kiếm, ra dáng một đại quý tộc Tây Ban Nha hay một hoàng tử cổ tích. Tất cả những hóa trang ấy đều đã được ứng tác vội vã sau khi bữa ăn kết thúc. Frau Stöhr không thể ngồi yên thêm trên ghế nữa. Bà biến mất, để chỉ một lát sau đã quay lại dưới lốt một mụ quét dọn, váy xắn lên và tay áo xắn quá khuỷu, dây mũ giấy buộc dưới cằm, lại còn cầm xô với chổi như vũ khí, bà bắt đầu sử dụng chúng bằng cách chọc cây bàn chải cọ sàn ướt xuống dưới bàn, luồn giữa hai chân những người ngồi.

“Mụ Baubo già đến một mình,”

Settembrini ngâm lên khi thấy bà, còn thêm cả câu vần tiếp theo, rõ ràng và sinh động. Bà nghe thấy, gọi ông là “gà trống Ý” và bảo ông hãy giữ riêng lấy những “trò tục tĩu” của mình, lại còn xưng hô kiểu mày-tao với ông trong tinh thần tự do của lễ cải trang; bởi lối giao tiếp ấy đã được mọi người tiếp nhận ngay từ trong bữa ăn rồi. Ông vừa sửa soạn đáp lại thì tiếng ồn và tiếng cười từ đại sảnh ngắt lời ông và gây xôn xao trong phòng.

Theo sau là những vị khách từ các phòng chuyện trò kéo ra, hai hình thù kỳ quặc tiến vào; hẳn họ vừa mới hoàn tất việc hóa trang. Một người mặc thành nữ trợ tế, nhưng bộ áo dòng đen lại được khâu ngang từ cổ xuống tận gấu bằng những dải băng trắng, những dải ngắn nằm sít nhau và những dải thưa hơn nhô vượt ra khỏi chúng, theo kiểu những vạch chia trên nhiệt kế. Bà đặt ngón trỏ lên cái miệng tái nhợt và tay phải cầm một bảng nhiệt độ. Mặt nạ kia hiện ra xanh trong xanh: môi và lông mày nhuộm xanh, mặt và cổ cũng còn bôi xanh, một chiếc mũ len xanh kéo xệch qua tai, lại mặc một thứ áo liền quần hay áo choàng ngoài bằng vải láng xanh, may một mảnh, thắt dây ở mắt cá và nhồi đệm ở giữa thành một cái bụng tròn. Người ta nhận ra Frau Iltis và Herr Albin. Cả hai đeo trước ngực những tấm biển bìa trên đó viết: “Người chị em câm lặng” và “Heinrich xanh”. Hai người sánh đôi bước một lối lắc lư quanh phòng.

Thế là một trận vỗ tay! Những tiếng gọi lao xao bay loạn. Frau Stöhr, cây chổi kẹp dưới nách, hai tay chống đầu gối, cười sằng sặc, quá thể và thô tục, hết lòng hết dạ, vin vào cái cớ vai mụ quét dọn của mình. Chỉ Settembrini là vẫn không thể bị lôi kéo. Môi ông, dưới hàng ria vẽ cong đẹp, mím lại hết sức mỏng sau khi ông ném một cái liếc ngắn về cặp hóa trang thành công ấy.

Trong số những người theo chân kẻ Xanh và Chị Câm từ các phòng chuyện trò trở lại, có cả Clawdia Chauchat. Cùng với Tamara tóc xù như len và người bạn bàn có lồng ngực lõm nọ, một kẻ tên Buligin, mặc lễ phục buổi tối, nàng trong chiếc áo mới lướt ngang bàn Hans Castorp rồi đi xéo sang phía bàn chàng Gänser trẻ và Kleefeld, nơi nàng đứng lại, hai tay ra sau lưng, mắt hẹp nheo cười và trò chuyện, trong khi các bạn đồng hành của nàng tiếp tục đi theo những bóng ma ngụ ngôn kia và cùng chúng lại rời khỏi phòng. Frau Chauchat cũng điểm thêm cho mình một chiếc mũ hóa trang, nhưng đó thậm chí không phải loại mua sẵn, mà là thứ người ta gấp cho trẻ con, chỉ từ giấy trắng gấp đơn sơ thành chiếc mũ ba góc, vậy mà đội xéo lên lại hợp với nàng tuyệt diệu. Chiếc váy lụa nâu sẫm ánh vàng ấy để hở bàn chân, phần váy được cắt may hơi phồng. Về đôi cánh tay thì ở đây chúng ta không nói thêm nữa. Chúng trần tới tận vai.

“Hãy ngắm kỹ nàng đi!” Hans Castorp nghe Herr Settembrini nói như từ đằng xa, trong khi chàng vẫn dõi mắt theo nàng, người chẳng bao lâu lại bước tiếp, về phía cửa kính, ra khỏi phòng. “Đó là Lilith.”

“Ai cơ?” Hans Castorp hỏi.

Nhà văn lấy làm thích thú. Ông đáp:

“Người đàn bà đầu tiên của Adam. Liệu chừng...”

Ngoài hai người họ ra, ở bàn chỉ còn lại Dr. Blumenkohl ngồi tại chỗ xa của ông. Những người cùng bàn khác, cả Joachim, đều đã dời sang các phòng chuyện trò. Hans Castorp nói:

“Hôm nay anh đầy ắp thi ca với thơ phú. Thế cô Lilli này lại là ai nữa đây? Vậy ra Adam đã lấy vợ hai lần sao? Tôi chẳng hề biết...”

“Truyền thuyết Do Thái kể là như thế. Lilith này đã trở thành một thứ ma quái đêm, nguy hiểm cho đám thanh niên, nhất là bởi mái tóc đẹp của ả.”

“Ối quỷ tha ma bắt! Một con ma đêm có mái tóc đẹp. Loại ấy anh không chịu nổi, phải không? Thế là anh đến và vặn điện sáng lên, có thể nói như vậy, để đưa các chàng trai trẻ về đường ngay nẻo phải, có phải không?” Hans Castorp nói một cách kỳ quái. Chàng đã uống khá nhiều thứ rượu pha kia.

“Nghe đây, kỹ sư, thôi ngay đi!” Settembrini ra lệnh, chân mày cau lại. “Xin anh dùng cách xưng hô vẫn quen ở phương Tây có giáo dưỡng, ngôi thứ ba _pluralis_, nếu tôi được phép yêu cầu! Cái lối anh đang thử đó hoàn toàn không hợp với anh chút nào.”

“Nhưng tại sao? Chúng ta đang mùa carnaval mà! Tối nay người ta chấp nhận điều ấy một cách phổ biến...”

“Phải, vì một sức quyến rũ vô nết nào đó. Cái tiếng ‘anh’ giữa những người xa lạ, nghĩa là giữa những người theo lẽ phải phải gọi nhau là ‘ngài’, là một thứ hoang dã khả ố, một trò đùa với trạng thái nguyên sơ, một trò chơi trụy lạc mà tôi ghê tởm, bởi tự căn bản nó chống lại văn minh và nhân tính đã phát triển, chống lại chúng một cách trơ tráo và không biết xấu hổ. Tôi cũng đã không gọi anh là ‘anh’, anh đừng tưởng thế! Tôi chỉ trích dẫn một đoạn trong kiệt tác của nền văn học dân tộc anh thôi. Nghĩa là tôi đã nói theo lối thi ca...”

“Tôi cũng vậy! Tôi cũng, theo một nghĩa nào đó, nói theo lối thi ca, bởi vì khoảnh khắc này hình như rất thích hợp cho cách nói ấy, nên tôi mới nói như thế. Tôi thật không bảo rằng việc gọi anh là ‘anh’ đối với tôi hoàn toàn tự nhiên và dễ dàng; trái lại, nó đòi hỏi nơi tôi một sự thắng vượt bản thân nào đó, tôi phải tự lấy đà mới làm nổi, nhưng tôi vui lòng lấy đà ấy, tôi lấy đà ấy một cách sung sướng và tự đáy lòng...”

“Tự đáy lòng?”

“Tự đáy lòng, vâng, điều đó anh có thể tin tôi. Chúng ta đã ở cạnh nhau trên này khá lâu rồi, bảy tháng, nếu anh đếm lại; theo hoàn cảnh của chúng ta trên này thì như thế thậm chí còn chưa phải là nhiều lắm, nhưng theo những quan niệm dưới kia, nếu tôi nhớ lại, thì đó vẫn là một quãng thời gian lớn. Thế rồi chúng ta đã cùng nhau sống quãng ấy, vì cuộc đời đã đưa chúng ta gặp nhau ở đây, và hầu như ngày nào cũng gặp nhau, đã cùng nhau có những cuộc chuyện trò lý thú, một phần về những đề mục mà dưới kia hẳn tôi không hiểu lấy một mảy may. Nhưng ở đây thì rất hiểu; ở đây chúng rất quan trọng và gần gụi đối với tôi, đến nỗi mỗi khi chúng ta tranh luận, tôi đều hết sức nhập tâm vào câu chuyện. Hay đúng hơn, khi anh, với tư cách _homo humanus_, giảng giải các sự việc cho tôi; vì lẽ dĩ nhiên, do sự non nớt trước đây của mình, tôi chẳng có mấy gì để góp vào và chỉ luôn thấy những điều anh nói là cực kỳ đáng nghe. Nhờ anh mà tôi đã biết và hiểu được biết bao điều... Chuyện Carducci chỉ là phần nhỏ nhất; còn như chẳng hạn nền cộng hòa liên hệ ra sao với phong cách đẹp, hoặc thời gian liên hệ ra sao với tiến bộ của nhân loại, trong khi nếu không có thời gian thì cũng chẳng thể có tiến bộ của nhân loại, mà thế giới chỉ là một vũng nước tù đọng và một ao lầy thối rữa, nếu không có anh thì tôi biết gì về những điều ấy! Tôi cứ đơn giản gọi anh là ‘anh’, ngoài ra không xưng hô gì thêm nữa với anh, xin lỗi, vì tôi thật không biết phải làm thế nào, tôi không khéo việc ấy. Anh ngồi đó, và tôi chỉ đơn giản gọi anh là ‘anh’, thế là đủ. Anh không phải một con người bất kỳ mang một cái tên nào đó, anh là một người đại diện, Herr Settembrini, một người đại diện ở chốn này và bên cạnh tôi, anh là như thế đấy,” Hans Castorp xác nhận và vỗ bàn tay bẹt xuống khăn trải bàn. “Và bây giờ tôi muốn cảm ơn anh một lần,” chàng nói tiếp, đẩy chiếc cốc thủy tinh đựng champagne và rượu Bourgogne của mình lại gần tách cà phê của Herr Settembrini, như thể muốn cụng chén với ông ngay trên mặt bàn, “vì suốt bảy tháng qua anh đã tử tế để mắt đến tôi, đã giúp tôi, một _mulus_ trẻ tuổi, kẻ mà bao điều mới lạ đã ập vào, trong những bài tập và những thí nghiệm của mình, và đã tìm cách tác động sửa chữa tôi, hoàn toàn _sine pecunia_, khi bằng chuyện kể, khi bằng hình thức trừu tượng. Tôi có cảm giác rất rõ rằng khoảnh khắc đã đến để cảm ơn anh vì điều đó và vì tất cả mọi điều, đồng thời xin anh tha lỗi nếu tôi là một học trò dở, một ‘đứa con đáng lo của cuộc đời’, như anh đã nói. Cách anh nói thế đã làm tôi cảm động biết bao, và mỗi lần nhớ tới, tôi lại cảm động lần nữa. Hẳn tôi cũng đã là một đứa con đáng lo đối với anh và đối với cái mạch sư phạm của anh, cái mạch mà anh đã nhắc tới ngay từ ngày đầu tiên, dĩ nhiên, đó cũng là một trong những mối liên hệ mà anh đã dạy cho tôi, mối liên hệ giữa chủ nghĩa nhân văn và sư phạm; rồi theo thời gian chắc chắn tôi còn có thể nghĩ ra thêm vài mối liên hệ khác nữa. Vậy nên xin hãy tha thứ cho tôi, và đừng nghĩ xấu về tôi! Chúc ngài, Herr Settembrini, sống lâu khỏe mạnh! Tôi cạn chén này để tôn vinh những nỗ lực văn chương của anh trong việc quét sạch những đau khổ của loài người!” Kết lời, chàng ngả người ra sau, uống cạn thứ rượu pha của mình bằng mấy ngụm lớn và đứng dậy. “Bây giờ chúng ta sang bên kia với mọi người thôi.”

“Nghe đây, kỹ sư, cái gì đã xông vào đầu anh thế?” người Ý nói, mắt đầy kinh ngạc, và cũng rời bàn. “Nghe hệt như lời từ biệt...”

“Không, sao lại từ biệt?” Hans Castorp lảng đi. Chàng không chỉ lảng đi theo nghĩa bóng, bằng lời nói, mà cả bằng thân thể nữa, khi chàng uốn phần trên thân mình thành một vòng cung và bám lấy cô giáo Fräulein Engelhart, vừa đúng lúc tới gọi họ. Cố vấn cung đình đang tự tay pha trong phòng đàn một thứ punch hội hóa trang do ban quản lý khoản đãi, cô báo tin. Các ông, cô nói, nên sang ngay nếu còn muốn kịp một ly nữa. Vậy là họ đi sang.

Quả nhiên, trong ấy, bị đám khách vây quanh chìa về phía ông những chiếc ly nhỏ có quai, Hofrat Behrens đứng bên chiếc bàn tròn giữa phòng phủ khăn trắng và dùng một chiếc môi múc thứ đồ uống bốc khói từ một cái thố. Ông cũng đã làm cho diện mạo mình phấn chấn lên theo lối carnaval đôi chút, bằng cách đội lên đầu, cùng với chiếc áo choàng lâm sàng mà hôm nay ông vẫn mặc, vì công việc của ông không bao giờ ngơi nghỉ, một chiếc fez Thổ Nhĩ Kỳ thật, đỏ son, với chùm tua đen đong đưa bên tai, chừng ấy đã đủ làm hóa trang cho ông; hai thứ ấy gộp lại đã đủ đẩy hình dạng vốn đã nổi bật của ông lên tới mức hoàn toàn kỳ quái và phóng túng. Chiếc áo choàng dài màu trắng còn làm tầm vóc vị cố vấn cung đình bị phóng đại thêm; nếu tính cả cái tật cúi cổ, mà trong trí xóa nó đi và dựng thân hình ông lên đủ chiều cao, thì ông hiện ra gần như lớn hơn cả người thật, với cái đầu nhỏ sặc sỡ có một dáng vẻ kỳ dị bậc nhất. Riêng đối với chàng Hans Castorp trẻ tuổi, gương mặt ấy chưa bao giờ có vẻ lạ lùng như hôm nay dưới thứ vật đội đầu ngộ nghĩnh kia: cái bộ mặt mũi tẹt, phẳng và xanh tái vì nóng ấy, trong đó dưới cặp lông mày trắng hoe, đôi mắt xanh ầng ậng nước lồi ra, còn phía trên cái miệng cong như cánh cung, chồm ngược lên trên, là bộ ria sáng màu nhíu lệch. Quay nghiêng tránh làn hơi cuộn lên từ chiếc thố trước mặt, ông để thứ đồ uống nâu ấy, một thứ punch arrak ngọt lịm, chảy thành vòng cung từ chiếc môi vào những cái ly đưa ra, miệng thì không ngừng tuôn ra thứ thổ ngữ pha tạp vui vẻ của mình, đến nỗi những tràng cười rộ quanh bàn đi theo từng lượt rót.

“Herr Urian đang ngồi chễm chệ trên kia,” Settembrini khẽ giải thích, hất tay về phía vị cố vấn cung đình, rồi bị kéo đi khỏi cạnh Hans Castorp. Dr. Krokowski cũng có mặt. Nhỏ người, chắc nịch và rắn rỏi, khoác chiếc sơ-mi bóng đen với hai tay áo buông rỗng lên vai, khiến nó nom như một tấm domino, ông cầm ly ở ngang tầm mắt bằng một bàn tay vặn nghiêng và chuyện trò vui vẻ với một nhóm mặt nạ cải trang khác giới. Âm nhạc nổi lên. Nữ bệnh nhân có khuôn mặt heo vòi, được người Mannheim đệm đàn piano, kéo violon bản Largo của Händel rồi sau đó một bản sonata của Grieg, mang tính cách vừa dân tộc vừa salon. Người ta vỗ tay tán thưởng nhã nhặn, cả ở hai bàn bridge đã bày ra, nơi những kẻ đeo mặt nạ lẫn không đeo mặt nạ ngồi với những chai rượu đặt bên cạnh trong xô đá. Các cửa đều mở; ngoài đại sảnh cũng có khách đứng lại. Một nhóm quanh chiếc bàn tròn đặt bát punch ngắm vị cố vấn cung đình, người đã biến vai trò dẫn đầu thành một trò chơi xã hội. Ông vẽ bằng mắt nhắm kín, đứng mà cúi trên bàn, song đầu lại ngửa về sau để mọi người thấy rằng ông đang nhắm mắt, vẽ lên mặt sau một tấm danh thiếp bằng bút chì, hoàn toàn mò mẫm, một hình thù, đó là đường viền của một chú lợn con mà bàn tay khổng lồ của ông phác ra không cần đến đôi mắt, một chú lợn con nhìn nghiêng, dĩ nhiên hơi đơn giản và mang tính ý niệm hơn là sinh động như thật, nhưng không thể nghi ngờ đó là hình thể cơ bản của một chú lợn con mà ông thu xếp được trong những điều kiện khó khăn như thế. Đó là một trò khéo tay, và ông làm được. Con mắt nhỏ như một khe nằm xấp xỉ đúng chỗ của nó, tuy có hơi chếch về phía mõm quá; cái tai nhọn trên đầu cũng thế, rồi những cái chân nhỏ buông dưới cái bụng tròn tròn kia; và như sự tiếp nối của đường sống lưng cũng tròn nốt, cái đuôi cuộn lại nơi chính mình một cách rất nên thân. Tác phẩm vừa xong, người ta đồng thanh kêu ‘A!’ rồi chen vào thử, bị lòng hiếu thắng thôi thúc, muốn bắt chước bậc thầy. Nhưng có mấy ai ngay cả mở mắt mà vẽ nổi một chú lợn con, huống hồ là nhắm mắt. Những quái thai gì đã ra đời ở đó! Mọi mối liên hệ đều thiếu hẳn. Con mắt rơi ra ngoài cái đầu, những cái chân rơi vào trong bụng phệ, mà bản thân cái bụng ấy lại còn lâu mới khép kín được, còn cái đuôi thì quăn tít ở đâu đó tách riêng, chẳng có chút quan hệ hữu cơ nào với hình thể chính rối mù, như một đường arabesque độc lập. Người ta cười đến muốn vỡ bụng. Nhóm người càng lúc càng đông. Hai bàn bridge xôn xao, và những người chơi cầm nguyên bộ bài xòe quạt trong tay cũng tò mò kéo sang. Người đứng quanh chăm chăm nhìn mí mắt của kẻ đang thử sức, xem liệu có lén chớp mắt hay không, điều mà vài người vì cảm thấy bất lực đã bị cám dỗ làm; họ khúc khích, phì cười chừng nào kẻ ấy còn mắc những sai lầm mù quáng, rồi reo ầm lên khi hắn mở choàng mắt ra nhìn xuống tác phẩm phi lý của mình. Một sự tự tin dối trá thúc từng người bước vào cuộc đua. Tấm danh thiếp, dù khá rộng, cũng nhanh chóng bị lấp kín cả hai mặt, đến nỗi những hình vẽ hỏng chồng chéo lên nhau. Nhưng vị cố vấn cung đình hy sinh từ ví giấy của mình thêm tấm thứ hai, trên đó công tố viên Paravant, sau một hồi ngấm ngầm cân nhắc, thử vẽ chú lợn con _chỉ bằng một nét_, với kết quả là thất bại của ông vượt cả mọi thất bại trước đó: cái đồ trang trí mà ông tạo ra không những chẳng giống một chú lợn con, mà rốt cuộc còn chẳng có lấy nét giống xa xôi nhất với bất cứ vật gì trên đời. Tiếng hò reo, tiếng cười và những lời chúc mừng ầm ĩ! Người ta mang thực đơn từ phòng ăn tới, giờ đây nhiều người, đàn bà lẫn đàn ông, có thể cùng một lúc vẽ, và mỗi đối thủ thi tài đều có người canh chừng lẫn khán giả của riêng mình, mà trong số đó ai nấy lại đều là ứng viên chờ đến lượt cầm chính cây bút chì đang được sử dụng. Có ba cây bút chì, và chúng bị giật lấy khỏi tay nhau. Chúng thuộc về khách dự tiệc. Vị cố vấn cung đình, sau khi đã khởi động trò mới và thấy nó vận hành hết sức trôi chảy, đã biến mất cùng người phụ tá của mình.”

Hans Castorp, giữa đám chen lấn, đứng nhìn qua vai Joachim một người đang vẽ, chống khuỷu tay lên vai ấy, bàn tay xòe cả năm ngón ôm lấy cằm, còn tay kia chống nạnh. Chàng nói và cười. Chàng cũng muốn vẽ, đòi rất to, rồi nhận được cây bút chì, một vật đã ngắn ngủn, chỉ còn cầm được bằng ngón cái và ngón trỏ. Chàng chửi rủa cái mẩu cụt, mặt mù nâng lên trần nhà, chửi ầm và nguyền rủa sự vô dụng của cây bút ấy, trong khi tay lia loạn quăng lên tấm bìa một mớ nhảm nhí xám xịt, cuối cùng còn trượt khỏi cả tấm bìa mà chạm xuống khăn bàn. “Không tính!” chàng kêu lên giữa trận cười rất đúng tội. “Sao mà vẽ được với cái thứ này, quỷ tha nó đi!” Và chàng ném cái mẩu bị buộc tội vào bát punch. “Ai có một cây bút chì ra hồn? Ai cho tôi mượn nào? Tôi phải vẽ lại một lần nữa! Bút chì, bút chì! Ai còn có nữa?” chàng gọi sang hai phía, cánh tay trái vẫn tì lên mặt bàn, còn tay phải lắc cao trên không. Chàng không nhận được cái nào. Bấy giờ chàng quay người đi vào phía trong phòng mà vẫn tiếp tục gọi, đi thẳng đến chỗ Clawdia Chauchat, người, như chàng vẫn biết, đang đứng cách tấm rèm cửa vào phòng khách nhỏ không xa và từ đó mỉm cười nhìn cảnh huyên náo quanh bàn punch.

Phía sau lưng, chàng nghe tiếng gọi, những lời ngoại quốc du dương: “_Eh! Ingegnere! Aspetti! Che cosa fa! Ingegnere! Un po di raggione, sa! Ma è matto questo ragazzo!_” Nhưng chàng lấn át tiếng nói ấy bằng chính giọng mình, và bởi thế người ta thấy Herr Settembrini, một tay dang rộng giơ qua đầu, một cử chỉ quen dùng ở quê hương ông, ý nghĩa khó lòng gói vào một lời nào, và đi kèm với tiếng kéo dài “_Ehh –!_”, rời khỏi cuộc hội hè Fastnacht. Còn Hans Castorp thì đứng trên nền gạch, nhìn ở cự ly gần nhất vào đôi mắt epicanthus xanh lam-xám-lục phía trên gò má nhô cao, và nói:

“Có lẽ _anh_ không có một cây bút chì đấy chứ?”

Chàng tái nhợt đến chết, tái như buổi nọ khi từ cuộc đi dạo một mình chàng trở về cuộc họp, bê bết máu. Sự chi phối của các thần kinh mạch quản lên gương mặt chàng vận hành theo cách khiến làn da đã rút sạch máu trên khuôn mặt trẻ ấy lõm vào, lạnh và nhợt, chiếc mũi hiện nhọn ra, còn vùng dưới mắt thì mang đúng màu chì của một tử thi. Nhưng hệ giao cảm lại khiến tim Hans Castorp dồn nhịp như trống đến mức hoàn toàn không còn nói gì đến hơi thở điều hòa nữa, và những cơn rùng mình chạy dọc con người trẻ tuổi ấy như là tác động của các tuyến bã dưới da trong cơ thể chàng, khi chúng cùng với các nang lông dựng cả lên.

Người đàn bà đội chiếc mũ ba góc bằng giấy nhìn chàng từ đầu đến chân với một nụ cười trong đó không hề nhận ra chút thương hại, chút lo ngại nào trước sự tàn phá của diện mạo chàng. Giới ấy vốn hoàn toàn không biết đến thứ thương hại và lo ngại như vậy trước những nỗi kinh hoàng của đam mê, một yếu tố hiển nhiên là quen thuộc với họ hơn nhiều so với người đàn ông, kẻ tự bản tính vốn dĩ không hề ở nhà trong đó và không bao giờ được chào đón ở đó mà không kèm theo chế giễu và khoái trá trước sự khốn đốn của hắn. Vả lại, dĩ nhiên chàng hẳn cũng chẳng màng gì đến lòng thương hại và nỗi lo ấy.

“Tôi ư?” người bệnh để trần cánh tay đáp lại tiếng “anh” ấy... “Vâng, có lẽ.” Và quả có lẽ trong nụ cười và giọng nói của nàng có chút gì của nỗi kích động nảy sinh khi sau một quan hệ lâu dài mà câm lặng, lời xưng hô đầu tiên rơi xuống, một thứ kích động láu lỉnh âm thầm kéo tất cả những gì đã qua nhập hết vào khoảnh khắc hiện tại. “Anh rất tham vọng... Anh thật... rất... sốt sắng,” nàng tiếp tục, với cách phát âm ngoại lai của mình, âm r ngoại lai và âm e ngoại lai, mở quá mức, để nhạo báng, trong khi giọng nàng hơi che rè, khàn dễ chịu, còn nhấn từ “tham vọng” ở âm tiết thứ hai nữa, khiến nó nghe hoàn toàn như tiếng nước ngoài, rồi lục trong chiếc túi da nhỏ của mình, cúi nhìn vào đó tìm kiếm, và từ dưới chiếc khăn tay mà trước hết nàng vừa lôi ra, rút lên một cây crayon bạc bé tí, mảnh và dễ gãy, một món đồ galant nho nhỏ, hầu như không dùng được cho công việc nghiêm chỉnh. Cây bút chì hồi ấy, cây đầu tiên, đã tiện tay và tử tế hơn nhiều.

“_Voilà_,” nàng nói và đưa cây bút nhỏ ra trước mắt chàng, cầm nó bằng đầu ngón cái và ngón trỏ ở chính đầu nhọn, khe khẽ đung đưa qua lại.

Vì nàng vừa đưa cho chàng lại vừa giữ lại, nên chàng cầm lấy nó mà không thực sự nhận lấy, nghĩa là: giữ bàn tay ngang tầm cây bút chì, sát bên nó, các ngón sẵn sàng chộp lấy, nhưng chưa hẳn đã chộp, và từ hai hốc mắt màu chì của mình lần lượt nhìn vật ấy rồi nhìn vào gương mặt Tatar của Clawdia. Đôi môi không máu của chàng hé mở, và vẫn cứ như thế, chàng không dùng chúng để nói khi cất lời:

“Em thấy chưa, anh đã biết là thể nào em cũng có một cái mà.”

“_Prenez garde, il est un peu fragile_”, nàng nói. “_C’est à visser, tu sais._”

Và khi hai cái đầu cùng cúi xuống trên vật ấy, nàng chỉ cho chàng cơ cấu thông thường của cây bút, từ đó một lõi than chì mảnh như kim, hẳn là cứng, không chịu ra nét, rơi xuống khi người ta vặn mở đầu xoáy.

Họ đứng nghiêng gần sát nhau. Vì mặc lễ phục dạ hội, tối nay chàng đeo cổ cồn cứng và có thể tì cằm lên đó.

“Nhỏ, nhưng là của em,” chàng nói, trán kề trán với nàng, nhìn xuống cây bút bằng đôi môi bất động, thành thử nuốt mất âm môi.

“Ồ, anh còn dí dỏm nữa kia,” nàng đáp với tiếng cười ngắn, vừa đứng thẳng lên vừa trao hẳn cây bút chì cho chàng. (Nhân tiện mà nói, có Chúa mới biết chàng dí dỏm ở chỗ nào, vì hiển nhiên trong đầu chàng chẳng còn một giọt máu.) “Thôi đi nào, mau lên, vẽ đi, vẽ cho khéo, vẽ cho xuất sắc!” Về phần mình, có vẻ như nàng cũng dí dỏm xua chàng đi.

“Không, _em_ vẫn chưa vẽ. _Em_ phải vẽ,” chàng nói, nuốt mất âm m môi của chữ ấy, rồi lùi lại một bước với vẻ lôi kéo.

“Em à?” nàng lại nhắc lại bằng một vẻ ngạc nhiên dường như hướng vào một điều gì khác hơn là vào chính yêu sách của chàng. Mỉm cười trong một cơn bối rối nào đó, nàng còn đứng lại một lát, nhưng rồi bước theo chuyển động lùi lại đầy từ lực của chàng mấy bước về phía bàn punch.

Tuy nhiên, hóa ra cuộc vui ở đó không còn cầm cự được nữa, đã vào những nhịp cuối cùng. Vẫn còn ai đó vẽ, nhưng không còn khán giả nữa. Những tấm thiệp đã đầy những nét nhảm nhí, ai nấy đã thử xong sự bất lực của mình, chiếc bàn gần như bị bỏ mặc, nhất là vì một luồng chuyển hướng đã bắt đầu. Khi người ta nhận ra rằng các bác sĩ đã đi khỏi, khẩu lệnh bỗng dưng là khiêu vũ. Người ta đã bắt đầu kéo cái bàn sang một bên. Người ta đặt lính canh ở cửa phòng viết và phòng đàn, với chỉ thị rằng hễ “ông già”, Krokowski hay bà giám thị trở lại thì phải ra dấu cho cuộc nhảy ngừng ngay. Một chàng trai Slav đặt những ngón tay đầy biểu cảm lên bàn phím chiếc dương cầm gỗ óc chó nhỏ. Những cặp đầu tiên xoay tròn bên trong một vòng ghế bành và ghế tựa không đều, trên đó khán giả đang ngồi.

Hans Castorp vẫy tay từ biệt cái bàn vừa được lướt đi mất với cử chỉ: “Đi đi!” Rồi chàng hất cằm về phía những chỗ ngồi còn trống mà chàng nhận thấy trong gian salon nhỏ, và về góc phòng khuất gió ở bên phải tấm màn cửa. Chàng không nói gì, có lẽ vì tiếng nhạc đối với chàng quá lớn. Chàng kéo một chiếc ghế cho Frau Chauchat tới chỗ trước đó chàng đã ra dấu câm, đó là một chiếc gọi là ghế Triumph, có khung gỗ và bọc nhung; còn cho mình thì chàng chiếm một chiếc ghế mây kêu lách tách, răng rắc, có tay vịn cuộn tròn, rồi ngồi xuống bên nàng, nghiêng người về phía nàng, hai tay đặt trên tay ghế, cây bút chì của nàng ở trong tay, hai bàn chân duỗi sâu xuống dưới ghế. Về phần mình, nàng lún quá sâu trong lớp nhung rủ, đầu gối nâng cao, thế mà vẫn vắt chân nọ lên chân kia và để bàn chân đong đưa trên không; cổ chân nàng, trên mép chiếc giày sơn đen, được làn lụa đen của chiếc tất ôm sát. Trước mặt họ, người khác ngồi, rồi đứng dậy để đi nhảy và nhường chỗ cho những ai đã mệt. Kẻ đến người đi không dứt.

“Em có váy mới,” chàng nói, để được phép ngắm nàng, và nghe nàng đáp:

“Mới ư? Anh rành cả chuyện ăn mặc của em cơ đấy?”

“Anh nói không đúng sao?”

“Đúng chứ. Mới đây em cho may nó ở chỗ Lukaček trong làng. Ông ta làm rất nhiều cho các quý bà trên này. Anh thấy đẹp chứ?”

“Rất đẹp,” chàng nói, lại một lần nữa ôm trọn nàng trong cái nhìn rồi hạ mắt xuống. “Em có muốn nhảy không?” chàng thêm vào.

“Anh muốn ư?” nàng hỏi ngược lại, mỉm cười nhướng mày, và chàng đáp:

“Anh cũng sẽ nhảy đấy, nếu em thích.”

“Thế thì anh kém ngoan hơn em tưởng,” nàng nói, và khi chàng bật cười xòa, nàng thêm: “Ông anh họ của anh đã đi rồi.”

“Vâng, anh ấy là anh họ của anh,” chàng xác nhận một cách thừa thãi. “Anh cũng vừa thấy anh ấy đi rồi. Chắc anh ấy đã nằm xuống.”

“_C’est un jeune homme très étroit, très honnête, très allemand._”

“_Étroit? Honnête?_” chàng nhắc lại. “Anh hiểu tiếng Pháp khá hơn là nói nó. Em muốn nói anh ấy là người câu nệ. Em cho rằng người Đức chúng ta là những kẻ câu nệ chăng, _nous autres allemands_?”

“_Nous causons de votre cousin. Mais c’est vrai_, các anh hơi bourgeois. _Vous aimez l’ordre mieux que la liberté, toute l’Europe le sait._”

“_Aimer ... aimer ... Qu’est-ce que c’est! Ça manque de définition, ce mot-là._ Người này có nó, người kia yêu nó, _comme nous disons proverbialement_,” Hans Castorp quả quyết. “Dạo gần đây,” chàng tiếp tục, “đôi khi anh có nghĩ về tự do. Nghĩa là, anh nghe từ ấy quá thường, và thế là anh nghĩ về nó. _Je te le dirai en français_, điều anh đã nghĩ. _Ce que toute l’Europe nomme la liberté, est peut-être une chose assez pédante et assez bourgeoise en comparaison de notre besoin d’ordre – c’est ça!_”

“_Tiens! C’est amusant. C’est ton cousin à qui tu penses en disant des choses étranges comme ça?_”

“Không, _c’est vraiment une bonne âme_, một bản tính giản dị, không bị đe dọa, _tu sais_. Nhưng anh ấy không bourgeois, anh ấy là quân nhân.”

“Không bị đe dọa?” nàng khó nhọc nhắc lại... “_Tu veux dire: une nature tout à fait ferme, sûre d’elle-même? Mais il est sérieusement malade, ton pauvre cousin._”

“Ai nói thế?”

“Ở đây người ta biết về nhau cả.”

“Hofrat Behrens đã nói với em thế à?”

“_Peut-être en me faisant voir ses tableaux._”

“_C’est-à-dire: en faisant ton portrait!_”

“_Pourquoi pas. Tu l’as trouvé réussi, mon portrait?_”

“_Mais oui, extrêmement. Behrens a très exactement rendu ta peau, oh vraiment très fidèlement. J’aimerais beaucoup être portraitiste, moi aussi, pour avoir l’occasion d’étudier ta peau comme lui._”

“_Parlez allemand, s’il vous plaît!_”

“Ồ, anh nói tiếng Đức, cả khi nói tiếng Pháp nữa. _C’est une sorte d’étude artistique et médicale – en un mot: il s’agit des lettres humaines, tu comprends._ Thế nào, em vẫn không muốn nhảy sao?”

“Ôi không, trẻ con lắm. _En cachette des médecins_. Ngay khi Behrens quay lại, mọi người sẽ nhào cả lên ghế. _Ce sera fort ridicule._”

“Em kính nể ông ta đến thế kia à?”

“Ai cơ?” nàng nói, phát âm ngắn và lạ tai từ để hỏi ấy.

“Behrens.”

“_Mais va donc avec ton Behrens!_ Cũng chật quá để nhảy. _Et puis sur le tapis_ ... Hay ta ngồi xem người ta nhảy đi.”

“Vâng, ta xem vậy,” chàng tán đồng và nhìn qua bên cạnh nàng, với gương mặt nhợt nhạt của mình, với đôi mắt xanh trầm tư của ông nội chàng, vào cảnh nhảy nhót của những bệnh nhân hóa trang ở đây trong gian salon và đằng kia trong phòng viết. Kia kìa nữ tu câm đang nhảy với Blauen Heinrich, còn Frau Salomon, trong vai ông chủ vũ hội, mặc áo đuôi tôm và gi-lê trắng, với ngực áo sơ-mi vồng cao, bộ ria vẽ và chiếc kính độc nhãn, đang xoay trên những chiếc giày gót nhỏ bằng da bóng, vốn hiện ra một cách trái tự nhiên từ dưới ống quần đen nam giới của bà, cùng với Pierrot, kẻ có đôi môi đỏ như máu rực lên trên khuôn mặt bôi trắng và đôi mắt giống mắt một con thỏ bạch tạng. Chàng Hy Lạp trong chiếc áo choàng nhỏ vung cái cân xứng của đôi chân mặc tricot màu tím quanh Rasmussen ngực xẻ sâu và lấp lánh tối màu; vị công tố trong kimono, nữ tổng lãnh sự Wurmbrand và chàng Gänser trẻ thậm chí còn nhảy cả ba, tay choàng ôm lấy nhau; còn về phần Stöhr, nàng nhảy với cây chổi của mình, ép nó vào tim và vuốt ve những sợi chổi như thể đó là mái tóc dựng đứng trên đầu một con người.

“Ta sẽ ngồi xem,” Hans Castorp lặp lại một cách máy móc. Họ nói nhỏ, dưới tiếng đàn piano. “Chúng ta sẽ ngồi đây và nhìn như trong mơ. Đối với anh, chuyện chúng ta ngồi thế này giống như một giấc mơ, em phải biết, – _comme un rêve singulièrement profond, car il faut dormir très profondément pour rêver comme cela ... Je veux dire: C’est un rêve bien connu, rêvé de tout temps, long, éternel, oui, être assis près de toi comme à présent, voilà l’éternité._”

“_Poète!_” nàng nói. “_Bourgeois, humaniste et poète, – voilà l’allemand au complet, comme il faut!_”

“_Je crains, que nous ne soyons pas du tout et nullement comme il faut_,” chàng đáp. “_Sous aucun égard. Nous sommes peut-être des_ những đứa con ưu phiền của đời sống, _tout simplement._”

“_Joli mot. Dis-moi donc ... Il n’aurait pas été fort difficile de rêver ce rêve-là plus tôt. C’est un peu tard, que monsieur se résout d’adresser la parole à son humble servante._”

“_Pourquoi des paroles?_” chàng nói. “_Pourquoi parler? Parler, discourir, c’est une chose bien républicaine, je le concède. Mais je doute, que ce soit poétique au même degré. Un de nos pensionnaires, qui est un peu devenu mon ami, M. Settembrini ..._”

“_Il vient de te lancer quelques paroles._”

“_Eh bien, c’est un grand parleur sans doute, il aime même beaucoup à réciter de beaux vers, – mais est-ce un poète, cet homme-là?_”

“_Je regrette sincèrement de n’avoir jamais eu le plaisir de faire la connaissance de ce chevalier._”

“_Je le crois bien._”

“_Ah! Tu le crois._”

“_Comment? C’était une phrase tout-à-fait indifférente, ce que j’ai dit là. Moi, tu le remarques bien, je ne parle guère le français. Pourtant, avec toi je préfère cette langue à la mienne, car pour moi, parler français, c’est parler sans parler, en quelque manière, – sans responsabilité, ou comme nous parlons en rêve. Tu comprends?_”

“_A peu près._”

“_Ça suffit ... Parler_”, Hans Castorp tiếp tục, “_– pauvre affaire! Dans l’éternité, on ne parle point. Dans l’éternité, tu sais, on fait comme en dessinant un petit cochon: on penche la tête en arrière et on ferme les yeux._”

“_Pas mal, ça! Tu es chez toi dans l’éternité, sans aucun doute, tu la connais à fond. Il faut avouer, que tu es un petit rêveur assez curieux._”

“_Et puis_”, Hans Castorp nói, “_si je t’avais parlé plus tôt, il m’aurait fallu te dire »vous«!_”

“_Eh bien, est-ce que tu as l’intention de me tutoyer pour toujours?_”

“_Mais oui. Je t’ai tutoyée de tout temps et je te tutoierai éternellement._”

“_C’est un peu fort, par exemple. En tout cas tu n’auras pas trop longtemps l’occasion de me dire »tu«. Je vais partir._”

Phải một lúc sau lời ấy mới thấm vào ý thức của chàng. Rồi chàng giật nảy lên, nhìn quanh bấn loạn như kẻ bị quấy giữa giấc ngủ. Cuộc trò chuyện của họ diễn ra khá chậm, vì Hans Castorp nói tiếng Pháp nặng nề, như thể vừa nói vừa do dự suy tưởng. Chiếc đàn piano, vừa im lặng trong chốc lát, lại cất tiếng, lần này dưới tay người Mannheim, kẻ đã thay chỗ chàng trai Slav và mở bản nhạc ra. Fräulein Engelhart ngồi cạnh anh ta và lật trang. Cuộc dạ vũ đã thưa người. Một số đông hơn trong những người nội trú dường như đã chuyển sang tư thế nằm ngang. Trước mặt họ không còn ai ngồi nữa. Trong phòng đọc, người ta đang chơi bài.

“Em làm gì thế?” Hans Castorp hỏi, kinh hoàng...

“Em đi,” nàng lặp lại, dường như mỉm cười ngạc nhiên trước vẻ sững sờ của chàng.

“Không thể nào,” chàng nói. “Chỉ đùa thôi.”

“Hoàn toàn không. Em hoàn toàn nghiêm túc. Em đi.”

“Bao giờ?”

“Ngay mai. _Après dîner._”

Một cuộc sụp đổ toàn diện xảy ra trong chàng. Chàng nói:

“Đi đâu?”

“Đi rất xa.”

“Đến Daghestan ư?”

“_Tu n’es pas mal instruit. Peut-être, pour le moment ..._”

“Thế em đã khỏi hẳn chưa?”

“_Quant à ça ... non._ Nhưng Behrens cho rằng tạm thời ở đây cũng chẳng còn làm gì được nhiều cho em nữa. _C’est pourquoi je vais risquer un petit changement d’air._”

“Vậy là em sẽ trở lại!”

“Còn phải xem. Trước hết là xem khi nào. _Quant à moi, tu sais, j’aime la liberté avant tout et notamment celle de choisir mon domicile. Tu ne comprends guère ce que c’est: être obsédé d’indépendance. C’est de ma race, peut-être._”

“_Et ton mari au Daghestan te l’accorde, – ta liberté?_”

“_C’est la maladie qui me la rend. Me voilà à cet endroit pour la troisième fois. J’ai passé un an ici, cette fois. Possible que je revienne. Mais alors tu seras bien loin depuis longtemps._”

“Em tin thế sao, Clawdia?”

“_Mon prénom aussi! Vraiment tu les prends bien au sérieux les coutumes du carnaval!_”

“Em có biết anh bệnh đến mức nào không?”

“_Oui – non – comme on sait ces choses ici. Tu as une petite tache humide là dedans et un peu de fièvre, n’est-ce pas?_”

“_Trente-sept et huit ou neuf l’après-midi_,” Hans Castorp nói. “Còn em?”

“_Oh, mon cas, tu sais, c’est un peu plus compliqué ... pas tout-à-fait simple._”

“_Il y a quelque chose dans cette branche de lettres humaines dite la médecine_,“ Hans Castorp nói, “_qu’on appelle bouchement tuberculeux des vases de lymphe._”

“_Ah! Tu as mouchardé, mon cher, on le voit bien._”

“_Et toi ..._ Tha lỗi cho anh! Bây giờ để anh hỏi em một điều, hỏi em khẩn thiết và bằng tiếng Đức nhé! Hồi ấy, khi anh từ bàn ăn đi khám, sáu tháng trước... em đã ngoái nhìn theo anh, em còn nhớ không?”

“_Quelle question? Il y a six mois!_”

“Em có biết anh đi đâu không?”

“_Certes, c’était tout-à-fait par hasard ..._”

“Em biết chuyện ấy từ Behrens à?”

“_Toujours ce Behrens!_”

“_Oh, il a représenté ta peau d’une façon tellement exacte ... D’ailleurs, c’est un veuf aux joues ardentes et qui possède un service à café très remarquable ... Je crois bien qu’il connaît ton corps non seulement comme médecin, mais aussi comme adepte d’une autre discipline de lettres humaines._”

“_Tu as décidément raison de dire, que tu parles en rêve, mon ami._”

“_Soit ... Laisse-moi rêver de nouveau après m’avoir réveillé si cruellement par cette cloche d’alarme de ton départ. Sept mois sous tes yeux ... Et à présent, où en réalité j’ai fait ta connaissance, tu me parles de départ!_”

“_Je te répète, que nous aurions pu causer plus tôt._”

“Em đã mong thế ư?”

“_Moi? Tu ne m’échapperas pas, mon petit. Il s’agit de tes intérêts, à toi. Est-ce que tu étais trop timide pour t’approcher d’une femme à qui tu parles en rêve maintenant, ou est-ce qu’il y avait quelqu’un qui t’en a empêché?_”

“_Je te l’ai dit. Je ne voulais pas te dire »vous«._”

“_Farceur. Réponds donc, – ce monsieur beau parleur, cet italien-là qui a quitté la soirée, – qu’est-ce qu’il t’a lancé tantôt?_”

“_Je n’en ai entendu absolument rien. Je me soucie très peu de ce monsieur, quand mes yeux te voient. Mais tu oublies ... il n’aurait pas été si facile du tout de faire ta connaissance dans le monde. Il y avait encore mon cousin avec qui j’étais lié et qui incline très peu à s’amuser ici: Il ne pense à rien qu’à son retour dans les plaines, pour se faire soldat._”

“_Pauvre diable. Il est, en effet, plus malade qu’il ne sait. Ton ami italien du reste ne va pas trop bien non plus._”

“_Il le dit lui-même. Mais mon cousin ... Est-ce vrai? Tu m’effraies._”

“_Fort possible qu’il va mourir, s’il essaye d’être soldat dans les plaines._”

“_Qu’il va mourir. La mort. Terrible mot, n’est-ce pas? Mais c’est étrange, il ne m’impressionne pas tellement aujourd’hui, ce mot. C’était une façon de parler bien conventionnelle, lorsque je disais »Tu m’effraies«. L’idée de la mort ne m’effraie pas. Elle me laisse tranquille. Je n’ai pas pitié – ni de mon bon Joachim ni de moi-même, en entendant qu’il va peut-être mourir. Si c’est vrai, son état ressemble beaucoup au mien et je ne le trouve pas particulièrement imposant. Il est moribond, et moi, je suis amoureux, eh bien! – Tu as parlé à mon cousin à l’atelier de photographie intime, dans l’antichambre, tu te souviens._”

“_Je me souviens un peu._”

“_Donc ce jour-là Behrens a fait ton portrait transparent!_”

“_Mais oui._”

“_Mon dieu. Et l’as-tu sur toi?_”

“_Non, je l’ai dans ma chambre._”

“_Ah, dans ta chambre. Quant au mien, je l’ai toujours dans mon portefeuille. Veux-tu que je te le fasse voir?_”

“_Mille remerciements. Ma curiosité n’est pas invincible. Ce sera un aspect très innocent._”

“_Moi, j’ai vu ton portrait extérieur. J’aimerais beaucoup mieux voir ton portrait intérieur qui est enfermé dans ta chambre ... Laisse-moi demander autre chose! Parfois un monsieur russe qui loge en ville vient te voir. Qui est-ce? Dans quel but vient-il, cet homme?_”

“_Tu es joliment fort en espionnage, je l’avoue. Eh bien, je réponds. Oui, c’est un compatriote souffrant, un ami. J’ai fait sa connaissance à une autre station balnéaire, il y a quelques années déjà. Nos relations? Les voilà: nous prenons notre thé ensemble, nous fumons deux ou trois papiros, et nous bavardons, nous philosophons, nous parlons de l’homme, de Dieu, de la vie, de la morale, de mille choses. Voilà mon compte rendu. Es-tu satisfait?_”

“_De la morale aussi! Et qu’est-ce que vous avez trouvé en fait de morale, par exemple?_”

“_La morale? Cela t’intéresse? Eh bien, il nous semble, qu’il faudrait chercher la morale non dans la vertu, c’est-à-dire dans la raison, la discipline, les bonnes mœurs, l’honnêteté, – mais plutôt dans le contraire, je veux dire: dans le péché, en s’abandonnant au danger, à ce qui est nuisible, à ce qui nous consume. Il nous semble qu’il est plus moral de se perdre et même de se laisser dépérir que de se conserver. Les grands moralistes n’étaient point des vertueux, mais des aventuriers dans le mal, des vicieux, des grands pécheurs qui nous enseignent à nous incliner chrétiennement devant la misère. Tout ça doit te déplaire beaucoup, n’est-ce pas?_”

Chàng im lặng. Chàng vẫn ngồi như lúc đầu, hai bàn chân quấn vào nhau thu sâu dưới chiếc ghế kêu lách tách, người chúi về phía kẻ đang nằm với chiếc mũ giấy ba góc, cây bút chì của nàng giữa các ngón tay, và từ đôi mắt xanh của Hans Lorenz Castorp ngước nhìn lên căn phòng đã thành trống vắng. Khách khứa đã tan cả. Cây dương cầm ở góc chéo đối diện chỉ còn ngân lên khe khẽ, ngắt quãng, do bệnh nhân người Mannheim đánh bằng một tay; bên cạnh ông ta, cô giáo ngồi giở một quyển nhạc đặt trên đầu gối. Khi cuộc trò chuyện giữa Hans Castorp và Clawdia Chauchat lặng đi, người chơi đàn cũng thôi hẳn, đặt luôn bàn tay vừa khẽ chạm trên phím vào lòng, trong khi Fräulein Engelhart vẫn tiếp tục nhìn vào tập nhạc của mình. Bốn con người còn sót lại của cuộc vui đêm hóa trang ngồi bất động. Sự im lặng kéo dài nhiều phút. Chậm chạp, dưới sức nặng của nó, đầu đôi người bên chiếc đàn con cúi thấp dần, thấp dần: đầu người Mannheim xuống phía bàn phím, đầu Fräulein Engelhart xuống quyển nhạc. Cuối cùng, cả hai cùng lúc, như theo một sự ngầm thỏa thuận, cẩn trọng đứng lên, rồi lặng lẽ nhón chân, cố ý tránh ngoái nhìn về góc phòng bên kia vẫn còn có sự sống, đầu rụt xuống, hai tay cứng đờ ép sát thân mình, người Mannheim và cô giáo cùng biến đi qua phòng viết và đọc. “_Tout le monde se retire_”, bà Chauchat nói. “_C’étaient les derniers; il se fait tard. Eh bien, la fête de carnaval est finie._” Rồi nàng giơ tay lên để dùng cả hai bàn tay gỡ chiếc mũ giấy khỏi mái tóc hoe đỏ, bím tóc quấn quanh đầu như một vòng hoa. “_Vous connaissez les conséquences, monsieur._”

Nhưng Hans Castorp nhắm mắt lắc đầu, ngoài ra không hề thay đổi tư thế. Chàng đáp:

“_Jamais, Clawdia. Jamais je te dirai »vous«, jamais de la vie ni de la mort_, nếu có thể nói như vậy, mà hẳn là người ta phải có thể nói như vậy. _Cette forme de s’adresser à une personne, qui est celle de l’Occident cultivé et de la civilisation humanitaire, me semble fort bourgeoise et pédante. Pourquoi, au fond, de la forme? La forme, c’est la pédanterie elle-même! Tout ce que vous avez fixé à l’égard de la morale, toi et ton compatriote souffrant, – tu veux sérieusement que ça me surprenne? Pour quel sot me prends-tu? Dis donc, qu’est-ce que tu penses de moi?_”

“_C’est un sujet qui ne donne pas beaucoup à penser. Tu es un petit bonhomme convenable, de bonne famille, d’une tenue appétissante, disciple docile de ses précepteurs et qui retournera bientôt dans les plaines, pour oublier complètement qu’il a jamais parlé en rêve ici et pour aider à rendre son pays grand et puissant par son travail honnête sur le chantier. Voilà ta photographie intime, faite sans appareil. Tu la trouves exacte, j’espère?_”

“_Il y manque quelques détails que Behrens y a trouvés._”

“_Ah, les médecins en trouvent toujours, ils s’y connaissent ..._”

“_Tu parles comme M. Settembrini. Et ma fièvre? D’où vient-elle?_”

“_Allons donc, c’est un incident sans conséquence qui passera vite._”

“_Non, Clawdia, tu sais bien que ce que tu dis là n’est pas vrai et tu le dis sans conviction, j’en suis sûr. La fièvre de mon corps et le battement de mon cœur harassé et le frissonnement de mes membres, c’est le contraire d’un incident, car ce n’est rien d’autre_ –” và gương mặt tái nhợt với đôi môi run giật của chàng cúi thấp hơn nữa xuống gần mặt nàng – “_rien d’autre que mon amour pour toi, oui, cet amour qui m’a saisi à l’instant, où mes yeux t’ont vue, ou, plutôt, que j’ai reconnu, quand je t’ai reconnue toi, – et c’était lui, évidemment, qui m’a mené à cet endroit ..._”

“_Quelle folie!_”

“_Oh, l’amour n’est rien, s’il n’est pas de la folie, une chose insensée, défendue et une aventure dans le mal. Autrement c’est une banalité agréable, bonne pour en faire de petites chansons paisibles dans les plaines. Mais quant à ce que je t’ai reconnue et que j’ai reconnu mon amour pour toi, – oui, c’est vrai, je t’ai déjà connue, anciennement, toi et tes yeux merveilleusement obliques et ta bouche et ta voix, avec laquelle tu parles, – une fois déjà, lorsque j’étais collégien, je t’ai demandé ton crayon, pour faire enfin ta connaissance mondaine, parce que je t’aimais irraisonnablement, et c’est de là, sans doute, c’est de mon ancien amour pour toi, que ces marques me restent que Behrens a trouvées dans mon corps, et qui indiquent que jadis aussi j’étais malade ..._”

Răng chàng va vào nhau lập cập. Trong khi mê sảng, chàng đã rút một chân ra khỏi dưới chiếc ghế kêu lách tách của mình, và khi đưa chân ấy tới trước, chàng đã chạm đầu gối kia xuống sàn, đến nỗi rốt cuộc chàng quỳ bên cạnh nàng, đầu cúi gập và toàn thân run rẩy. “_Je t’aime_,“ chàng lắp bắp, “_je t’ai aimée de tout temps, car tu es le Toi de ma vie, mon rêve, mon sort, mon envie, mon éternel désir ..._”

“_Allons, allons!_” nàng nói. “_Si tes précepteurs te voyaient ..._”

Nhưng chàng tuyệt vọng lắc đầu, mặt cúi rạp trên tấm thảm, và đáp:

“_Je m’en ficherais, je me fiche de tous ces Carducci et de la République éloquente et du progrès humain dans le temps, car je t’aime!_”

Nàng khẽ đưa tay vuốt mái tóc cắt ngắn nơi sau gáy chàng.

“_Petit bourgeois!_” nàng nói. “_Joli bourgeois à la petite tache humide. Est-ce vrai que tu m’aimes tant?_”

Và ngây ngất vì cái chạm của nàng, giờ quỳ trên cả hai đầu gối, đầu ngửa ra sau và mắt nhắm nghiền, chàng tiếp tục nói:

„_Oh, l’amour, tu sais ... Le corps, l’amour, la mort, ces trois ne font qu’un. Car le corps, c’est la maladie et la volupté, et c’est lui qui fait la mort, oui, ils sont charnels tous deux, l’amour et la mort, et voilà leur terreur et leur grande magie! Mais la mort, tu comprends, c’est d’une part une chose mal famée, impudente qui fait rougir de honte; et d’autre part c’est une puissance très solennelle et très majestueuse, – beaucoup plus haute que la vie riante gagnant de la monnaie et farcissant sa panse, – beaucoup plus vénérable que le progrès qui bavarde par les temps, – parce qu’elle est l’histoire et la noblesse et la piété et l’éternel et le sacré qui nous fait tirer le chapeau et marcher sur la pointe des pieds ... Or, de même, le corps, lui aussi, et l’amour du corps, sont une affaire indécente et fâcheuse, et le corps rougit et pâlit à sa surface par frayeur et honte de lui-même. Mais aussi il est une grande gloire adorable, image miraculeuse de la vie organique, sainte merveille de la forme et de la beauté, et l’amour pour lui, pour le corps humain, c’est de même un intérêt extrêmement humanitaire et une puissance plus éducative que toute la pédagogie du monde! ... Oh, enchantante beauté organique qui ne se compose ni de teinture à l’huile ni de pierre, mais de matière vivante et corruptible, pleine du secret fébrile de la vie et de la pourriture! Regarde la symétrie merveilleuse de l’édifice humain, les épaules et les hanches et les mamelons fleurissants de part et d’autre sur la poitrine, et les côtes arrangées par paires, et le nombril au milieu dans la mollesse du ventre, et le sexe obscur entre les cuisses! Regarde les omoplates se remuer sous la peau soyeuse du dos, et l’échine qui descend vers la luxuriance double et fraîche des fesses, et les grandes branches des vases et des nerfs qui passent du tronc aux rameaux par les aisselles, et comme la structure des bras correspond à celle des jambes. Oh, les douces régions de la jointure intérieure du coude et du jarret avec leur abondance de délicatesses organiques sous leurs coussins de chair! Quelle fête immense de les caresser ces endroits délicieux du corps humain! Fête à mourir sans plainte après! Oui, mon dieu, laisse-moi sentir l’odeur de la peau de ta rotule, sous laquelle l’ingénieuse capsule articulaire sécrète son huile glissante! Laisse-moi toucher dévotement de ma bouche l’Arteria femoralis qui bat au front de ta cuisse et qui se divise plus bas en les deux artères du tibia! Laisse-moi ressentir l’exhalation de tes pores et tâter ton duvet, image humaine d’eau et d’albumine, destinée pour l’anatomie du tombeau, et laisse-moi périr, mes lèvres aux tiennes!_“

Nói xong, chàng không mở mắt; chàng vẫn cứ như thế, đầu ngửa ra sau, hai tay cầm chiếc bút chì bạc duỗi khỏi người, quỳ trên gối mà run rẩy, chao đảo. Nàng nói:

„_Tu es en effet un galant qui sait solliciter d’une manière profonde, à l’allemande._“

Và nàng đội chiếc mũ giấy lên cho chàng.

„_Adieu, mon prince Carnaval! Vous aurez une mauvaise ligne de fièvre ce soir, je vous le prédis._“

Nói vậy, nàng tuột khỏi ghế, lướt trên tấm thảm về phía cửa; nơi khung cửa nàng ngập ngừng, nửa quay về phía sau, giơ một cánh tay trần lên, bàn tay đặt nơi bản lề cửa. Qua vai, nàng khẽ nói:

„_N’oubliez pas de me rendre mon crayon._“

Rồi bước ra ngoài.

In tại Bibliographisches Institut ở Leipzig