Núi thần — Chương 5
Chương 5 / 8 · Bài review Núi thần
Mua sắm cần thiết
“Bây giờ mùa hè của các cậu hết rồi sao?” Đến ngày thứ ba, Hans Castorp hỏi người anh em họ như thế, với giọng mỉa mai ...
Ấy là một cơn trở trời khủng khiếp.
Ngày thứ hai mà người khách trú dưỡng đã sống trọn vẹn trên này là một ngày hè đẹp rực rỡ. Bầu trời xanh thẳm rạng lên trên những ngọn thông nhọn như mũi lao, trong khi làng xóm dưới đáy thung lũng óng ánh gay gắt trong hơi nóng, còn tiếng chuông những con bò, vừa đi lang thang vừa gặm thứ cỏ đồng cỏ ngắn ngủn đã được hâm ấm trên các triền dốc, thì vui tươi, nhàn tản mà làm đầy không khí. Các quý bà đã xuất hiện ngay từ bữa điểm tâm thứ nhất trong những chiếc áo cánh mỏng nhẹ, vài người thậm chí còn mặc tay áo ren thủng, mà kiểu ấy thì không phải ai mặc cũng đẹp như nhau, chẳng hạn Frau Stöhr rõ ràng mặc rất xấu, cánh tay bà quá bệu, trang phục nhẹ thoáng vốn dĩ không hợp với bà. Giới nam nhân của dưỡng đường cũng đã, bằng nhiều cách khác nhau trong diện mạo mình, lưu ý tới thời tiết đẹp. Những áo khoác bóng và những bộ đồ vải lanh đã xuất hiện, còn Joachim Ziemßen thì mặc quần flannel màu ngà với áo khoác xanh, một sự phối hợp khiến dáng vẻ chàng mang hẳn một dấu ấn quân sự. Về phần Settembrini, tuy ông đã nhiều lần bày tỏ ý định thay đồ. “Quỷ thật!” ông nói, khi sau bữa trưa cùng hai anh em họ tản bộ xuống làng, “mặt trời đốt ghê quá! Tôi thấy là mình sẽ phải mặc nhẹ hơn.” Nhưng mặc dầu cách nói ấy thật là chọn lọc, ông vẫn cứ giữ nguyên chiếc áo dạ xù dài với ve áo lớn và cái quần kẻ ô của mình, có lẽ đó là toàn bộ tủ áo quần ông có.
Thế nhưng đến ngày thứ ba thì quả đúng như thể thiên nhiên bị giăng bẫy và mọi trật tự đều bị lật ngược; Hans Castorp không tin vào mắt mình. Sau bữa chính, người ta đã nằm nghỉ được hai mươi phút, thì mặt trời vội vã lẩn đi, mây xấu xí màu nâu than bùn ùn lên qua các sống núi phía đông nam, và một ngọn gió mang thứ khí chất xa lạ, lạnh đến rợn xương, như thể từ những miền băng giá vô danh nào đó mà tới, bỗng quét xuyên thung lũng, lật nhào nhiệt độ và mở ra một chế độ hoàn toàn mới.
“Tuyết đấy,” giọng Joachim nói từ phía sau vách kính.
“Cậu bảo ‘tuyết’ là thế nào?” Hans Castorp hỏi lại. “Cậu chẳng lẽ muốn nói là bây giờ trời sẽ đổ tuyết sao?”
“Chắc chắn,” Joachim đáp. “Thứ gió ấy, bọn mình biết. Hễ nó tới là có đường xe trượt tuyết.”
“Vớ vẩn!” Hans Castorp nói. “Nếu tôi nhớ không lầm thì bây giờ mới đầu tháng Tám.”
Nhưng Joachim đã nói đúng, vì chàng là người đã được khai tâm vào những điều kiện nơi này. Chỉ trong ít phút, giữa những tiếng sét dồn dập lặp đi lặp lại, một trận tuyết lớn đã nổi lên, một cơn bão tuyết dày đặc đến nỗi mọi vật như bị phủ trong hơi trắng, và người ta hầu như không còn trông thấy gì của làng xóm cùng thung lũng nữa.
Tuyết rơi suốt cả buổi chiều. Hệ thống sưởi trung tâm được nhóm lên, và trong khi Joachim dùng đến túi lông của mình, không để việc phục dịch điều dưỡng bị quấy rầy, thì Hans Castorp chạy vào sâu trong phòng, kéo một chiếc ghế lại gần những ống sưởi đã nóng và từ đó, luôn luôn lắc đầu, nhìn ra cảnh hỗn loạn bên ngoài. Sáng hôm sau tuyết không còn rơi nữa; nhưng mặc dầu nhiệt kế ngoài trời chỉ vài độ ấm, tuyết vẫn nằm dày đến một thước chân, đến nỗi trước cặp mắt kinh ngạc của Hans Castorp trải ra một phong cảnh mùa đông hoàn toàn. Người ta lại để cho lò sưởi tắt đi. Nhiệt độ trong phòng là sáu độ trên không.
“Thế là mùa hè của các cậu hết rồi sao?” Hans Castorp hỏi người anh em họ, với một giọng mỉa mai cay đắng ...
“Không thể nói thế được,” Joachim tỉnh táo đáp. “Nếu Chúa muốn, sẽ còn có những ngày hè đẹp. Ngay trong tháng Chín điều ấy vẫn hoàn toàn có thể lắm. Nhưng vấn đề là ở đây các mùa không khác nhau đến thế, cậu hiểu chứ, nói thế nào nhỉ, chúng trộn lẫn vào nhau và không chịu theo lịch. Vào mùa đông mặt trời thường mạnh đến mức người ta toát mồ hôi và cởi áo khoác ra khi đi dạo, còn mùa hè thì, ừ, cậu đã thấy đấy, mùa hè trên này đôi khi là như thế nào rồi. Rồi còn tuyết nữa, nó làm đảo lộn mọi sự. Tuyết rơi vào tháng Giêng, nhưng đến tháng Năm cũng chẳng ít hơn bao nhiêu, và tháng Tám cũng có tuyết, như cậu vừa nhận thấy. Nói chung có thể bảo rằng chẳng có tháng nào trôi qua mà lại không có tuyết, đó là một câu có thể tin chắc được. Tóm lại, có ngày mùa đông, ngày mùa hè, ngày xuân và ngày thu, nhưng những mùa thật sự thì ở trên này chỗ chúng mình thực ra không có.”
“Đúng là một sự lẫn lộn hay ho,” Hans Castorp nói. Chàng đi ủng chụp và áo choàng mùa đông cùng người anh em họ xuống làng để sắm chăn cho liệu pháp nằm nghỉ, vì rõ ràng với thời tiết này chàng sẽ không xoay xở nổi chỉ bằng tấm plaid của mình. Trong chốc lát chàng thậm chí còn cân nhắc xem có nên mua hẳn một túi lông không, nhưng rồi lại thôi, phải nói là gần như giật mình lùi lại trước ý nghĩ ấy.
“Không, không,” chàng nói, “cứ lấy chăn thôi! Xuống dưới kia tôi còn dùng đến chúng được, mà chăn thì ở đâu chẳng có, chuyện ấy chẳng có gì đặc biệt hay làm người ta bồn chồn cả. Nhưng một cái túi lông như thế thì chuyên biệt quá, cậu hiểu cho tôi nhé, nếu tôi sắm một cái túi lông, chính tôi sẽ thấy như thể mình muốn an cư hẳn ở đây và, theo một nghĩa nào đó, đã thuộc về phía các cậu rồi ... Tóm lại, tôi chỉ muốn nói rằng tuyệt đối không đáng để riêng vì mấy tuần ấy mà đi mua một cái túi lông.”
Joachim tán thành, thế là họ mua trong một cửa hiệu đẹp đẽ, hàng hóa phong phú ở Khu Anh quốc hai chiếc chăn lông lạc đà giống như của Joachim, một thứ hàng đặc biệt dài và rộng, mềm mại dễ chịu, màu lông tự nhiên, rồi đặt gửi ngay tới dưỡng đường, tới Dưỡng đường Quốc tế “Berghof”, cửa phòng 34. Ngay chiều nay Hans Castorp đã định dùng chúng lần đầu.
Dĩ nhiên là vào khoảng sau bữa điểm tâm thứ hai, vì ngoài giờ ấy ra thì thời khóa biểu trong ngày không cho cơ hội đi xuống làng. Bây giờ trời mưa, và tuyết trên các con đường đã biến thành một thứ bùn băng bắn tung tóe. Trên đường về họ bắt kịp Settembrini, người cũng đang hướng về dưỡng đường, dưới một chiếc ô, tuy đầu vẫn để trần. Người Ý trông vàng vọt và rõ ràng đang ở trong một tâm trạng u sầu bi cảm. Bằng những lời lẽ thuần khiết, cân xứng, ông than phiền về cái lạnh, cái ướt mà ông đang khổ sở chịu đựng. Giá mà người ta chịu sưởi cho! Nhưng những kẻ cầm quyền khốn kiếp ấy cứ để lò sưởi tắt ngay khi tuyết ngừng rơi, một quy tắc ngu độn, một sự nhạo báng mọi lẽ phải! Và khi Hans Castorp phản đối rằng chàng tưởng một nhiệt độ phòng vừa phải hẳn là thuộc về những nguyên tắc điều dưỡng, có lẽ người ta muốn như thế để ngăn bệnh nhân khỏi được nuông chiều quá mức, thì Settembrini đã đáp lại bằng giọng châm biếm dữ dội nhất. À, phải rồi, những nguyên tắc điều dưỡng. Những nguyên tắc điều dưỡng cao cả và bất khả xâm phạm! Hans Castorp nói về chúng quả thật bằng đúng cái giọng thích đáng, tức là giọng sùng tín và phục tùng. Chỉ có điều thật đáng chú ý, tuy là đáng chú ý theo một nghĩa hoàn toàn đáng mừng, rằng chính những nguyên tắc trong số ấy lại được tôn thờ vô điều kiện, những nguyên tắc hoàn toàn trùng khít với quyền lợi kinh tế của các bậc quyền uy, còn đối với những nguyên tắc nơi ấy sự trùng khít kém hơn thì người ta lại có khuynh hướng nhắm mắt cho qua ... Và trong khi hai anh em họ bật cười, Settembrini chuyển sang nói về người cha quá cố của mình, nhân cái nỗi thèm khát hơi ấm đang dằn vặt ông.
“Cha tôi,” ông nói, chậm rãi và mê mẩn, “ông là một người tinh tế đến thế, mẫn cảm cả nơi thân xác lẫn nơi tâm hồn! Mùa đông ông yêu biết bao căn phòng làm việc nhỏ ấm áp của mình, yêu nó từ đáy lòng, trong ấy bao giờ cũng phải có đủ hai mươi độ Réaumur, nhờ một chiếc lò nhỏ đỏ rực, và khi vào những ngày ẩm lạnh hoặc những ngày ngọn gió Tramontana buốt cắt đang thổi, người ta từ hành lang căn nhà nhỏ bước vào, thì hơi ấm choàng lên vai như một tấm áo dịu dàng, khiến mắt người ta ứa ra những giọt lệ khoan khoái. Căn phòng chất chật những sách và bản thảo, trong đó có những bảo vật lớn, và giữa các kho tàng tinh thần ấy, ông đứng trong chiếc áo ngủ flannel xanh nơi cái bàn hẹp mà chuyên chú vào văn chương, dáng người thanh nhã và nhỏ bé, thấp hơn tôi hẳn một cái đầu, các ông thử hình dung xem! nhưng nơi thái dương lại có những búi tóc xám dày và một cái mũi dài, thật dài và thật thanh ... Một nhà ngữ văn Roman biết bao, thưa các ông! Một trong những người đứng đầu thời ông, một bậc am tường ngôn ngữ của chúng tôi hiếm có, một nhà văn Latin có bút pháp không ai sánh kịp nữa, một _uomo letterato_ đúng như lòng Boccaccio hằng ưa ... Từ xa các học giả đã tìm đến để bàn bạc với ông, người thì từ Haparanda, người khác từ Krakau, họ đến hẳn Padua, thành phố của chúng tôi, để tỏ lòng kính trọng ông, và ông tiếp họ với một vẻ đường bệ thân hòa. Ông còn là một thi sĩ phong nhã, trong những giờ nhàn hạ đã viết truyện bằng thứ văn xuôi Toscana thanh nhã nhất, một bậc thầy của _idioma gentile_,” Settembrini nói, với niềm khoái lạc tột bậc, vừa để cho những âm tiết quê nhà tan chậm trên đầu lưỡi, vừa lắc đầu qua lại. “Khu vườn nhỏ của mình ông vun trồng theo gương Vergil,” ông nói tiếp, “và điều ông nói ra thì lành mạnh và đẹp đẽ. Nhưng trong phòng làm việc ấy nhất định phải ấm, phải thật ấm, nếu không ông sẽ run lên và thậm chí có thể nhỏ nước mắt vì tức giận khi bị để cho lạnh cóng. Thế bây giờ ông thử tưởng tượng xem, ông Kỹ sư, và ông nữa, ông Trung úy, tôi, đứa con của cha tôi, phải chịu đựng thế nào ở cái nơi man rợ đáng nguyền rủa này, nơi thân xác run lên vì lạnh giữa chính mùa hè, và những ấn tượng nhục nhã thì không ngừng tra tấn tâm hồn! Ôi, khắc nghiệt biết bao! Quanh ta là những hạng người nào vậy! Cái ông Hofrat Krokowski nực cười, tên nô bộc của quỷ ấy” - và Settembrini làm như sắp gãy lưỡi ra - “Krokowski, cái cha giải tội trơ tráo ấy, kẻ căm ghét tôi vì phẩm giá con người nơi tôi cấm tôi đem mình hiến cho cái trò nhố nhăng kiểu giáo sĩ của hắn ... Còn ở bàn ăn của tôi nữa ... Thứ bạn đồng bàn nào thế, giữa đám mà tôi bị buộc phải dùng bữa! Bên phải tôi ngồi một tay nấu bia từ Halle, tên hắn là Magnus, với bộ ria trông như một bó cỏ khô. ‘Xin để tôi yên với văn chương!’ hắn nói. ‘Nó cống hiến cái gì? Những nhân cách đẹp đẽ! Tôi làm gì với những nhân cách đẹp đẽ ấy! Tôi là người thực tế, mà trong đời thì những nhân cách đẹp đẽ hầu như chẳng có đâu.’ Đó là quan niệm hắn hình thành về văn chương. Những nhân cách đẹp đẽ ... ôi Mẹ Thiên Chúa! Vợ hắn, ngồi đối diện, thì đang mất đạm, trong khi mỗi lúc một chìm sâu hơn vào cơn trì độn. Thật là một nỗi khổ bẩn thỉu ...”
Không cần trao đổi với nhau, Joachim và Hans Castorp đã đồng một ý về những lời ấy: họ thấy chúng ủy mị và ngấm ngầm kích động một cách khó chịu, dẫu vậy cũng thú vị, thậm chí có tính khai mở, trong cái vẻ phản kháng táo tợn và sắc bén về ngôn từ của chúng. Hans Castorp cười hiền hậu về “bó cỏ khô”, và cả về “những nhân cách đẹp đẽ” nữa, hay đúng hơn là cười về cái cách tuyệt vọng mà khôi hài trong đó Settembrini đã nói tới chúng. Rồi chàng nói:
“Chà, phải, xã hội ở một nơi như thế này hẳn là hơi tạp nhạp một chút. Người ta đâu có thể chọn hàng xóm bàn ăn của mình, chứ nếu không thì còn ra thể thống gì nữa. Ở bàn chúng tôi cũng có một bà như thế ... Frau Stöhr, hẳn ông biết bà ấy chứ? Bà ấy dốt đến chết người, điều đó thì phải nói, và đôi khi người ta không biết nhìn vào đâu cho phải khi bà ta cứ líu lo như vậy. Thêm nữa bà ấy than phiền rất nhiều về nhiệt độ của mình và rằng mình mềm nhũn quá, và đáng buồn thay hình như cũng không phải là một ca thật nhẹ. Thật là kỳ lạ, bệnh mà lại dốt nữa, tôi không biết mình có diễn đạt đúng không, nhưng tôi thấy hết sức đặc biệt khi một người vừa dốt lại vừa bệnh, khi hai thứ ấy đi liền với nhau, đó hẳn là điều buồn bã nhất trên đời. Người ta tuyệt đối không biết nên làm ra bộ mặt nào trước chuyện ấy, bởi với một người bệnh thì dẫu sao người ta cũng muốn tỏ ra nghiêm túc và kính trọng, phải không nào, bệnh tật dẫu sao cũng có gì đó đáng kính, nếu tôi có thể nói thế. Nhưng rồi khi cái sự dốt nát cứ chen vào với ‘Fomulus’ và ‘kosmische Anstalt’ cùng những sai sót đại loại như thế, thì quả thật người ta không còn biết nên khóc hay nên cười nữa, đó là một thế lưỡng nan đối với tình cảm con người và bi thảm đến nỗi tôi không sao nói hết được. Ý tôi là, nó không vần với nhau, nó không hợp với nhau, người ta không quen hình dung chúng đi cùng nhau. Người ta nghĩ một kẻ dốt thì phải khỏe mạnh và tầm thường, còn bệnh tật thì phải làm cho con người trở nên tinh tế, thông minh và đặc biệt. Thường người ta vẫn nghĩ như vậy. Hay là không? Có lẽ tôi nói quá những gì mình có thể chịu trách nhiệm,” chàng kết lại. “Chỉ tại chúng ta ngẫu nhiên nói đến đó thôi ...” Và chàng bắt đầu lúng túng.
Joachim cũng có phần bối rối, còn Settembrini thì im lặng, hàng lông mày nhướng lên, làm ra vẻ như vì lịch sự mà chờ cho câu nói kết thúc. Thực ra ông cố ý để cho Hans Castorp hoàn toàn rối trí xong đã rồi mới đáp:
“Sapristi, ông Kỹ sư, ông đang phô bày ở đây những thiên tư triết học mà tôi quả không ngờ có ở ông! Theo lý thuyết của ông thì hẳn ông kém lành mạnh hơn cái vẻ ông tỏ ra, vì hiển nhiên ông có tinh thần. Nhưng xin ông cho phép tôi nhận xét rằng tôi không thể theo những suy diễn của ông, rằng tôi bác bỏ chúng, vâng, thậm chí còn đứng trước chúng bằng một sự thù nghịch đích thực. Như ông thấy đấy, trong những chuyện tinh thần tôi hơi bất khoan dung, và tôi thà bị chửi là tay pedant còn hơn để yên không công kích những quan điểm đối với tôi xem ra đáng bị công kích đến thế như những quan điểm ông vừa triển khai ...”
“Nhưng, Herr Settembrini ...”
“Xin... cho phép tôi... Tôi biết ngài muốn nói gì. Ngài muốn nói rằng ngài không hề có ý nghiêm trọng đến thế, rằng những quan niệm ngài vừa bênh vực không phải đương nhiên là quan niệm riêng của ngài, mà ngài, nói cho đúng, chỉ nắm lấy một trong những quan niệm khả hữu đang lơ lửng trong không khí để tùy hứng thử mình một phen trong đó. Như thế thật hợp với tuổi ngài, cái tuổi còn chưa có được sự quyết đoán nam nhi và trước mắt vẫn có thể thử nghiệm với đủ mọi lập trường. _Placet experiri_,” ông nói, phát âm mềm chữ _c_ trong “_Placet_” theo lối khẩu âm Ý. “Một châm ngôn hay. Điều duy nhất khiến tôi phải cảnh giác chính là sự kiện thí nghiệm của ngài lại diễn ra đúng theo hướng này. Tôi ngờ rằng ở đây không phải ngẫu nhiên chi phối. Tôi e có một thiên hướng nào đó đang đe dọa tự củng cố thành tính cách, nếu người ta không chống lại nó. Bởi vậy tôi thấy mình có bổn phận phải sửa ngài. Ngài nói rằng bệnh tật đi đôi với ngu độn là điều ảm đạm nhất trên đời. Tôi có thể nhượng bộ ngài điểm ấy. Với tôi nữa, một người bệnh có trí vẫn đáng chịu hơn một kẻ đần độn lao phổi. Nhưng sự phản đối của tôi bắt đầu từ lúc ngài coi bệnh tật liên kết với ngu độn, theo một nghĩa nào đó, như một lỗi phong cách, như một sự lạc vị thẩm mỹ của tự nhiên và một _thế lưỡng nan cho tình cảm con người_, như ngài đã vui lòng diễn đạt. Khi ngài dường như coi bệnh tật là cái gì quá đỗi cao quý và, ngài đã nói thế nào nhỉ, _đáng tôn kính_ đến mức tuyệt nhiên _không thể vần_ với ngu độn. Chính đó cũng là chữ ngài dùng. Vậy thì, không! Bệnh tật hoàn toàn không cao quý, hoàn toàn không đáng tôn kính; chính quan niệm ấy đã là bệnh tật, hoặc dẫn tới bệnh tật. Có lẽ cách chắc chắn nhất để đánh thức nơi ngài lòng ghê sợ đối với nó là bảo ngài rằng nó già nua và xấu xí. Nó bắt nguồn từ những thời đại mê tín và thống hối, khi ý niệm về cái nhân tính đã suy đồi thành một bức biếm họa bị hạ nhục, những thời đại hãi hùng, trong đó sự hài hòa và an khang bị xem là đáng ngờ và có tính ma quỷ, trong khi tật bệnh thời ấy gần như một giấy thông hành lên thiên quốc. Nhưng lý tính và khai sáng đã xua tan những bóng tối từng đè nặng trên linh hồn nhân loại ấy, tuy chưa hoàn toàn; ngay hôm nay chúng vẫn còn giao tranh với chúng; nhưng cuộc giao tranh ấy mang tên lao động, thưa ngài, lao động trần thế, lao động cho mặt đất, cho danh dự và quyền lợi của nhân loại, và được tôi luyện mỗi ngày trong cuộc giao tranh như thế, những sức mạnh kia rốt cuộc sẽ giải phóng con người hoàn toàn và dẫn dắt chàng, trên những nẻo đường tiến bộ và văn minh, hướng tới một thứ ánh sáng ngày một trong hơn, dịu hơn, tinh khiết hơn.”
Sấm sét thật, Hans Castorp bối rối và xấu hổ nghĩ, đúng là một bài aria! Mình đã khơi ra cái đó bằng cách nào nhỉ? Mà nghe hơi khô nữa chứ. Và ông ta cứ luôn mồm nói về lao động là thế nào. Bao giờ ông ta cũng nói tới lao động, mặc dù ở đây thì nó thật chẳng mấy ăn nhập. Và chàng nói:
“Hay lắm, thưa Herr Settembrini. Quả thật đáng nghe cách ông biết nói ra điều ấy. Người ta hầu như không thể... không thể diễn đạt nó dẻo và rõ hơn được nữa, theo ý tôi.”
“Sự quay đầu trở lại,” Settembrini lại tiếp lời, vừa nhấc chiếc ô lên khỏi đầu một người đi ngang qua, “sự quay đầu trở lại trong tinh thần về những quan niệm của những thời đại đen tối, bị hành hạ ấy, xin ngài tin tôi đi, thưa kỹ sư, đó là bệnh tật, một thứ bệnh đã được khoa học khảo cứu quá tường tận, đến nỗi nó có nhiều tên gọi, một từ ngôn ngữ của mỹ học và tâm lý học, một từ ngôn ngữ của chính trị, những thuật ngữ nhà trường không can hệ gì đến vấn đề và ngài có thể rất nên miễn cho mình khỏi biết. Nhưng vì trong đời sống tinh thần mọi sự đều móc nối với nhau và cái này nảy sinh từ cái kia, vì người ta không thể chìa cho quỷ dữ ngón tay út mà không để nó lấy cả bàn tay rồi cả con người theo đó... mà đằng khác, một nguyên tắc lành mạnh thì bao giờ cũng chỉ sinh ra những gì lành mạnh, bất kể người ta đặt nguyên tắc nào ở khởi điểm, cho nên ngài hãy ghi lấy rằng bệnh tật, rất xa với việc là một cái gì cao quý, một cái gì quá đỗi đáng tôn kính để có thể lỡ làng kết hợp với ngu độn, trái lại có nghĩa là _sự hạ nhục_, vâng, một sự hạ nhục đau đớn, xúc phạm đến ý niệm về con người; trong từng trường hợp riêng lẻ, người ta có thể nhẹ tay và săn sóc nó, nhưng về mặt tinh thần mà tôn vinh nó thì là một _sự lầm lạc_... hãy khắc điều ấy vào trí! Một sự lầm lạc, và là khởi đầu của mọi lầm lạc tinh thần. Người đàn bà ngài vừa nhắc tới, tôi xin miễn cho trí nhớ mình khỏi phải nhớ tên bà ta, vậy thì Frau Stöhr, xin cảm ơn rất nhiều, tóm lại, người đàn bà lố bịch ấy, chính trường hợp của bà ta, theo tôi thấy, không phải là cái đẩy tình cảm con người, như ngài nói, vào thế lưỡng nan. Bệnh mà đần, nhân danh Chúa, ấy là cảnh khốn cùng tự thân, sự việc rất đơn giản, chẳng còn gì ngoài lòng thương hại và một cái nhún vai. Thế lưỡng nan, thưa ngài, _bi kịch_ bắt đầu ở nơi tự nhiên đã đủ tàn nhẫn để phá vỡ sự hài hòa của nhân cách, hoặc ngay từ đầu làm cho nó trở nên bất khả, bằng cách gắn một tinh thần cao quý và ham sống với một thân xác không thích hợp cho sự sống. Ngài có biết Leopardi không, thưa kỹ sư, hay ngài, thưa trung úy? Một thi sĩ bất hạnh của đất nước tôi, một con người gù lưng, ốm yếu, với một tâm hồn vốn dĩ lớn lao nhưng bởi nỗi khốn cùng của thân xác mình mà không ngừng bị hạ nhục và kéo tụt xuống những chỗ trũng của mỉa mai, những lời ai oán của nó làm xé lòng người. Hãy nghe đây này!”
Và Settembrini bắt đầu ngâm bằng tiếng Ý, để những âm tiết đẹp đẽ tan ra trên đầu lưỡi, đầu lắc qua lắc lại, thỉnh thoảng nhắm mắt, chẳng bận tâm gì đến việc những người bạn đồng hành của ông không hiểu nổi một lời. Hiển nhiên điều ông nhắm tới là tự thưởng thức trí nhớ và cách phát âm của mình, đồng thời phô diễn chúng trước người nghe. Cuối cùng ông nói:
“Nhưng các ngài không hiểu, các ngài nghe mà không nắm được ý nghĩa đau đớn của nó. Leopardi tàn tật, thưa các ngài, xin hãy cảm cho thật trọn điều này, trước hết đã thiếu vắng tình yêu của đàn bà, và chính điều đó hẳn đặc biệt khiến ông không đủ sức ngăn cho tâm hồn mình khỏi héo quắt. Ánh quang của danh vọng và đức hạnh nhạt phai trước mắt ông, tự nhiên hiện ra với ông là ác độc, mà quả thật nó _là_ ác độc, ngu muội và ác độc, ở điểm này tôi đồng ý với ông ta, và ông tuyệt vọng, thật kinh khủng khi phải nói ra, ông tuyệt vọng đối với khoa học và tiến bộ! Ở đây, thưa kỹ sư, ngài có bi kịch. Ở đây ngài có ‘thế lưỡng nan cho tình cảm con người’ của ngài, chứ không phải ở người đàn bà kia, tôi từ chối bắt trí nhớ mình phải bận tâm đến tên bà ta... Xin đừng nói với tôi về sự ‘tinh thần hóa’ mà bệnh tật có thể sinh ra, vì Chúa, xin đừng thế! Một linh hồn không thân xác cũng phi nhân và khủng khiếp như một thân xác không linh hồn, mà vả lại trường hợp thứ nhất là ngoại lệ hiếm hoi, còn trường hợp thứ hai mới là quy luật. Thông thường chính thân xác là cái mọc trùm lên, giật lấy về mình mọi tầm quan trọng, mọi sự sống, và giải phóng chính mình theo cách ghê tởm nhất. Một con người sống như một kẻ bệnh tật thì _chỉ_ là thân xác, đó là điều phản nhân tính và hạ nhục, trong phần lớn các trường hợp, hắn chẳng khá hơn một cái xác...”
“Buồn cười thật,” Joachim bỗng nói, nghiêng người sang nhìn người anh em họ đang đi bên phía kia của Settembrini. “Mới hôm nọ cậu cũng đã nói điều gì rất giống thế mà.”
“Thế à?” Hans Castorp nói. “Ừ, cũng có thể là điều gì na ná như thế đã từng thoáng qua đầu tớ.”
Settembrini im lặng trong mấy bước. Rồi ông nói:
“Càng tốt, thưa các ngài. Càng tốt nếu quả là như vậy. Hoàn toàn không phải ý định của tôi muốn trình bày với các ngài một thứ triết học độc sáng nào cả, đó không phải phận sự của tôi. Nếu từ phía mình, kỹ sư của chúng ta đã nhận thấy những điều tương ứng, thì điều ấy chỉ xác nhận thêm giả thuyết của tôi rằng về mặt tinh thần anh ta còn là một kẻ tài tử, rằng theo lối của tuổi trẻ có năng khiếu, trước mắt anh ta chỉ đang thử nghiệm với những quan niệm khả hữu mà thôi. Người trẻ tuổi có năng khiếu không phải một tờ giấy trắng, trái lại là một tờ giấy trên đó, như thể bằng mực vô hình, mọi sự đều đã được viết sẵn, điều đúng cũng như điều sai, và công việc của người giáo dưỡng là phát triển dứt khoát cái đúng, còn cái giả dối đang muốn hiện ra thì phải dùng tác động thích đáng mà xóa đi vĩnh viễn. Các ngài có mua sắm gì chăng?” ông hỏi, giọng đã đổi khác, nhẹ hẳn đi...
“Không, chẳng có gì thêm,” Hans Castorp nói, “nghĩa là...”
“Chúng tôi mua cho anh em họ tôi mấy cái chăn,” Joachim thờ ơ đáp.
“Cho liệu pháp nằm nghỉ... Với cái rét chó má này... Tôi cũng phải tham gia mấy tuần ấy mà,” Hans Castorp vừa cười vừa nói, mắt nhìn xuống.
“À, chăn, liệu pháp nằm nghỉ,” Settembrini nói. “Thế, thế, thế. Chà, chà, chà. Quả nhiên: _Placet experiri_!” ông lặp lại với lối phát âm Ý, rồi cáo từ, vì họ đã vào dưỡng đường, được người quản sảnh tập tễnh chào đón, và trong đại sảnh Settembrini rẽ vào các phòng trò chuyện để đọc báo trước bữa ăn, như ông nói. Có vẻ ông định trốn buổi nằm nghỉ thứ hai.
“Lạy Chúa gìn giữ!” Hans Castorp nói khi cùng Joachim đứng trong thang máy. “Đúng thật là một nhà giáo dục, chính hôm nọ ông ta cũng tự nói là mình có cái tạng ấy. Với ông ta phải ghê gớm giữ miệng, đừng nói quá một lời, bằng không sẽ có ngay những bài huấn dụ dài dòng. Nhưng phải công nhận, cách ông ta nói thật đáng nghe, mỗi chữ từ miệng ông ta bật ra tròn trịa và ngon lành đến thế, nghe ông ấy là tôi cứ nghĩ đến những chiếc bánh mì cuộn mới ra lò.”
Joachim cười.
“Tốt hơn hết đừng nói điều đó với ông ấy. Tớ nghĩ hẳn ông ta sẽ thất vọng nếu biết rằng trong lúc nghe huấn dụ cậu lại nghĩ đến bánh mì cuộn.”
“Cậu nghĩ thế à? Ừ, điều ấy lại chưa hẳn đâu. Tớ luôn có cảm tưởng rằng với ông ta không phải chỉ riêng những bài huấn dụ mới là điều hệ trọng, có lẽ chúng còn chỉ đứng hàng thứ hai, mà nhất là cái việc nói năng, cái cách ông ta để cho chữ nghĩa nảy bật và lăn đi... đàn hồi như những quả bóng cao su... và hẳn ông ta cũng chẳng khó chịu gì nếu người ta đặc biệt để ý cả vào điều đó nữa. Magnus chủ lò bia thì dĩ nhiên hơi đần với những ‘nhân vật đẹp’ của ông ta, nhưng Settembrini lẽ ra phải nói cho biết rốt cuộc điều cốt yếu trong văn chương là ở đâu. Tớ không dám hỏi, để khỏi lộ cái dốt của mình, vì tớ cũng chẳng hiểu gì mấy về chuyện đó và cho tới nay còn chưa từng gặp một nhà văn nào. Nhưng nếu cái cốt yếu không nằm ở những nhân vật đẹp, thì rõ ràng nó nằm ở những lời đẹp, đó là cảm tưởng của tớ khi ở cạnh Settembrini. Những từ vựng ông ta dùng mới ghê chứ! Ông ta thản nhiên nói đến ‘đức hạnh’, tớ xin cậu đấy! Cả đời tớ chưa một lần thốt từ ấy ra miệng, mà ngay trong nhà trường chúng ta cũng chỉ toàn nói ‘dũng cảm’ khi trong sách viết là ‘_virtus_’. Bên trong tớ có cái gì đó co thắt lại, tớ phải nói thật thế. Với lại tớ cũng hơi phát bẳn khi ông ta cứ mắng mỏ, mắng cái lạnh, mắng Behrens, mắng cả Frau Magnus vì bà ta mất đạm, nói tóm lại là mắng mọi thứ. Ngay từ đầu tớ đã thấy rõ ông ta là một tay đối lập rồi. Ông ta bổ vào mọi cái hiện tồn, mà chuyện đó bao giờ cũng có cái gì trễ nải, bê bối, tớ không sao nghĩ khác được.”
“Cậu nói thế thôi,” Joachim điềm đạm đáp. “Nhưng rồi trong đó lại cũng có cái gì kiêu hãnh, chẳng hề tạo cảm giác bê bối chút nào, trái lại, ông ta là một con người biết giữ mình, hay biết giữ cho con người nói chung, và điểm ấy tớ thích ở ông ta, theo mắt tớ nó có cái gì đàng hoàng.”
“Cậu nói đúng,” Hans Castorp nói. “Ông ta thậm chí còn có cái gì _nghiêm khắc_, thường làm người ta thấy không thoải mái hẳn đi, vì mình, cứ tạm nói thế nhé, cảm thấy như bị kiểm soát; phải, đó thật không phải một cách nói tồi. Cậu có tin được không, tớ luôn có cảm giác rằng ông ta không tán thành việc tớ mua chăn để nằm, như thể ông ta phản đối điều ấy và trong lòng bực bội vì nó?”
“Không,” Joachim nói, vừa ngạc nhiên vừa chín chắn. “Sao lại có thể thế được chứ. Tớ thật không thể tưởng tượng nổi.” Rồi, chiếc nhiệt kế ngậm trong miệng, tay xách nách mang, chàng đi ra buổi liệu pháp nằm nghỉ, trong khi Hans Castorp lập tức bắt đầu sửa soạn và thay quần áo cho bữa trưa, đằng nào thì cũng chỉ còn non một giờ nữa là tới.
Ngoại đề về cảm thức thời gian
Khi từ bữa ăn trở lên lại, gói chăn đã nằm trong phòng Hans Castorp trên một chiếc ghế, và trong ngày hôm ấy lần đầu tiên chàng đem nó ra dùng; Joachim lão luyện bèn dạy chàng nghệ thuật tự quấn mình vào chăn theo cách mà mọi người trên này đều làm và bất cứ người mới nào cũng phải học ngay. Người ta trải chăn, hết chiếc này đến chiếc kia, lên chiếc ghế nằm, sao cho ở phía chân thừa ra một đoạn khá dài rủ xuống đất. Sau đó người ta ngồi vào và bắt đầu quấn chiếc chăn trong quanh mình: trước hết theo chiều dọc cho tới dưới nách, rồi từ dưới hất phủ lên chân, khi ấy đang ngồi phải cúi người và nắm gập đôi phần đầu chăn ấy, rồi lại từ phía bên kia kéo sang, làm sao cho nếp gấp đôi ở phía chân khớp gọn với mép dọc nếu muốn đạt được độ phẳng và đều tối đa. Sau đó với chiếc chăn ngoài người ta lặp lại đúng hệt thủ pháp ấy; điều khiển nó có phần khó hơn, và Hans Castorp, với tư cách một tay vụng về kiêm người mới nhập cuộc, rên lên không ít trong khi cúi xuống rồi lại duỗi ra tập những động tác mà người ta dạy cho chàng. Joachim nói chỉ có một số rất ít tay kỳ cựu là có thể quẳng _cả hai chiếc chăn cùng một lúc_ quanh người mình chỉ bằng ba động tác chắc gọn; nhưng đó là một kỹ năng hiếm có và đáng ghen tị, đòi hỏi không những tập luyện nhiều năm mà còn cả thiên tư tự nhiên. Chính chữ ấy đã khiến Hans Castorp phải bật cười, trong khi chàng thả người ngã ngửa xuống, lưng đau nhức, còn Joachim, ban đầu chưa hiểu cái gì ở đây buồn cười, nhìn chàng với vẻ không chắc chắn, rồi cũng cười theo.
“Thế,” chàng nói, khi Hans Castorp, không còn ra hình thể gì và tròn lẳn như một ống lăn, với cuộn đệm mềm sau gáy và kiệt sức vì cả đống thể dục ấy, đang nằm trên ghế, “nếu bây giờ có rét âm hai mươi độ thì cậu cũng chẳng việc gì.” Rồi chàng đi ra sau vách kính để tự quấn chăn cho mình.
Hans Castorp thì ngờ lắm chuyện hai mươi độ rét ấy, vì chàng quả thật đang rét, hết cơn rùng mình này đến cơn rùng mình khác chạy dọc người, trong khi chàng nhìn qua những vòm gỗ ra màn ẩm ướt rịn chảy, lất phất mưa ngoài kia, thứ ẩm ướt tưởng như bất cứ lúc nào cũng sắp chuyển lại thành tuyết rơi. Mà lạ chưa, giữa ngần ấy ẩm thấp, má chàng vẫn nóng khô như thể đang ngồi trong một căn phòng sưởi quá lửa. Chàng cũng cảm thấy mình bị mấy bài tập với chăn làm cho mệt nhừ một cách thật nực cười, quả vậy, tập _Ocean steamships_ run lên trong tay chàng mỗi khi chàng giơ nó ra trước mắt. Chàng đâu phải khỏe mạnh gì cho lắm, Hofrat Behrens đã bảo chàng là thiếu máu hoàn toàn kia mà, và hẳn vì thế chàng mới dễ bị rét đến vậy. Tuy nhiên, những cảm giác khó chịu ấy được bù lại bởi sự thoải mái lớn lao trong tư thế nằm của chàng, bởi những phẩm tính khó lòng phân tách và gần như huyền bí của chiếc ghế nằm mà ngay từ lần thử đầu Hans Castorp đã cảm nhận với sự tán thưởng cao nhất, và những phẩm tính ấy lại chứng tỏ mình hết sức tốt đẹp lần này đến lần khác. Là nhờ chất liệu nệm, nhờ độ nghiêng đúng mức của lưng ghế, nhờ tầm cao và bề ngang vừa phải của tay vịn, hay chỉ riêng nhờ độ chắc hợp lý của chiếc gối lăn kê gáy, thì không rõ; chỉ biết rằng không thể chăm lo cho sự dễ chịu của các chi thể đang nghỉ ngơi một cách nhân đạo hơn được nữa so với chiếc ghế nằm tuyệt hảo này. Và vì thế trong lòng Hans Castorp dấy lên một nỗi mãn ý vì trước mặt chàng là hai giờ trống trải và chắc chắn yên ổn, hai giờ của liệu pháp nằm nghỉ chính, được nội quy dưỡng đường thánh hóa, mà tuy chỉ là khách ở trên này, chàng vẫn cảm thấy là một định chế hoàn toàn hợp với mình. Bởi bẩm sinh chàng vốn nhẫn nại, có thể sống khỏe suốt một thời gian dài mà không cần công việc gì, và, như ta còn nhớ, chàng yêu thích quỹ thời giờ nhàn rỗi không bị hoạt động làm cho mê đi, làm tiêu mất và xua tan. Bốn giờ có trà xế với bánh ngọt và mứt; rồi vận động một chút ngoài trời; sau đó lại nghỉ trên ghế; bảy giờ ăn tối, một bữa ăn mà, như những bữa khác nói chung, luôn mang theo vài căng thẳng và vài điều đáng xem đáng đợi; tiếp đó lại ngó vào cái hộp nhìn nổi, cái ống viễn thị vạn hoa và cái trống điện ảnh... Hans Castorp đã nắm được nhịp ngày trong tay rồi, dù nói rằng chàng đã "quen nếp sống", như người ta nói, thì quả vẫn còn quá lời.
Tựu trung, cái việc nhập mình vào một nơi chốn xa lạ này có một lẽ thật kỳ lạ, cái sự thích nghi và đổi nếp ấy, dẫu có nhọc nhằn đi nữa, mà người ta gần như tự nguyện gánh lấy chỉ vì bản thân nó, và với chủ ý nhất định rằng vừa hoàn tất xong, hoặc cùng lắm chẳng bao lâu sau đó, lại từ bỏ nó để quay về trạng thái cũ. Người ta chen những điều như vậy vào mạch chính của đời sống như một sự gián đoạn và một đoạn xen, nhằm mục đích "nghỉ dưỡng", nghĩa là một cuộc luyện tập có sức canh tân và đảo lộn lại của cơ thể, cái cơ thể vốn đang lâm vào nguy cơ và đã bắt đầu, trong cái đơn điệu vô phân đoạn của nếp sống, tự nuông chiều mình, mềm nhũn đi và cùn mòn đi. Nhưng sự mềm nhũn và cùn mòn ấy, trong một quy luật kéo dài quá lâu mà không bị gián đoạn, rốt cuộc dựa trên cái gì? Không hẳn là trên sự mệt mỏi và hao mòn thể xác lẫn tinh thần do những đòi hỏi của cuộc sống gây nên đâu, vì đối với cái đó thì chỉ cần nghỉ ngơi đơn giản đã là phương thuốc hồi phục rồi; đúng hơn, đó là một cái gì thuộc về tâm hồn, đó là kinh nghiệm về thời gian, một thứ kinh nghiệm gần gũi và gắn liền với chính cảm thức sự sống đến nỗi cái này không thể suy yếu mà cái kia lại không chịu một tổn hại còm cõi theo cùng. Về bản chất của sự buồn chán, người ta lưu hành nhiều quan niệm sai lạc. Nói chung người ta tin rằng sự thú vị và mới mẻ của nội dung sẽ "đuổi" thời gian đi, nghĩa là làm ngắn nó lại, trong khi tính đơn điệu và sự trống rỗng khiến bước đi của nó nặng nề và đình trệ. Điều đó không hoàn toàn đúng. Quả thật, sự trống rỗng và đơn điệu có thể kéo giãn khoảnh khắc và giờ khắc, làm chúng trở nên "buồn chán", nhưng đối với những khối thời gian lớn, thậm chí lớn nhất, thì chúng lại còn rút ngắn và làm bay biến chúng đi tới mức thành ra hầu như hư vô. Ngược lại, một nội dung phong phú và thú vị hẳn có sức làm ngắn lại và làm cho giờ giấc, thậm chí cả một ngày, trở nên có cánh; nhưng xét trên bình diện lớn, chính nó lại ban cho bước đi của thời gian bề rộng, sức nặng và độ đặc chắc, để cho những năm tháng đầy biến cố trôi qua chậm hơn nhiều những năm nghèo nàn, trống rỗng, nhẹ bẫng kia, những năm bị gió lùa đi trước mặt và bay tuốt mất. Vậy cái mà người ta gọi là buồn chán, thật ra đúng hơn là một sự ngắn lại bệnh hoạn của thời gian do đơn điệu gây nên: những quãng thời gian lớn co tóp lại dưới sự đồng dạng không gián đoạn theo một cách đủ làm tim người kinh hoảng đến chết; nếu một ngày giống mọi ngày, thì mọi ngày đều chỉ như một ngày; và trong sự đồng nhất hoàn toàn, cả một đời người dài nhất cũng sẽ được sống như một đời cực ngắn và vụt trôi đi chẳng hay biết. Sự quen nếp là một sự ngủ thiếp, hoặc ít ra cũng là một sự lịm mệt, của cảm thức thời gian; và nếu những năm tháng tuổi trẻ được sống một cách chậm rãi, còn cuộc đời về sau thì cứ mỗi lúc một hối hả hơn, lao đi nhanh hơn, thì điều đó hẳn cũng phải dựa trên sự quen nếp ấy. Chúng ta biết rõ rằng việc chen vào những sự đổi nếp và tập nếp mới là phương tiện duy nhất để giữ cho đời sống của ta còn nguyên vẹn, để làm mới lại cảm thức thời gian của ta, để đạt được một sự trẻ hóa, cường hóa, làm chậm lại kinh nghiệm về thời gian của ta, và cùng với nó là sự đổi mới của chính cảm thức sống nói chung. Ấy là mục đích của việc đổi chỗ, đổi không khí, của chuyến đi nghỉ tắm, là tính phục hồi của sự thay đổi và của đoạn xen. Những ngày đầu ở một nơi lưu trú mới có bước đi trẻ trung, nghĩa là mạnh và rộng, vào khoảng sáu đến tám ngày gì đó. Rồi, tương ứng với mức độ người ta "quen nếp sống", sự ngắn lại dần dần bắt đầu lộ rõ: ai còn bám vào đời, hay nói đúng hơn, còn muốn bám vào đời, có thể kinh hãi nhận ra ngày tháng lại bắt đầu trở nên nhẹ tênh và _vút qua_; và tuần cuối cùng, giả như của bốn tuần, có một tốc độ và tính chóng qua rờn rợn. Dĩ nhiên, sự tươi mới của cảm thức thời gian sau đó vẫn còn tác động vượt ra ngoài đoạn xen ấy, và khi người ta đã trở về với quy luật cũ, nó lại biểu lộ trở lại: những ngày đầu ở nhà, sau quãng thay đổi, cũng lại được sống như mới, như rộng, như trẻ trung, nhưng chỉ vài ngày ít ỏi mà thôi; bởi người ta nhập trở lại quy luật nhanh hơn là nhập vào sự đình chỉ của nó, và nếu cảm thức thời gian vì tuổi tác mà đã mệt, hoặc, như một dấu hiệu của sự yếu nhược sinh lực bẩm sinh, vốn chưa bao giờ phát triển mạnh, thì nó lại ngủ thiếp đi rất mau, và chỉ sau hai mươi bốn giờ, đã như thể mình chưa từng đi đâu cả, và chuyến đi chỉ là giấc mơ của một đêm.
Những nhận xét này chỉ được xen vào đây vì chàng trai Hans Castorp cũng mang trong đầu điều tương tự khi, sau vài ngày, chàng nói với người anh em họ của mình như sau (và vừa nói vừa nhìn anh bằng đôi mắt đỏ những tia máu):
"Thật khôi hài, và vẫn cứ khôi hài, cái cách thời gian kéo dài ra với người ta vào buổi đầu ở một nơi lạ. Nghĩa là... Dĩ nhiên không thể nào nói rằng em chán, ngược lại, em có thể nói là em vui thú hết sức. Nhưng khi em ngoảnh lại, tức là hồi cố ấy mà, anh hiểu chứ, thì em lại thấy như thể mình đã ở trên này từ biết bao lâu rồi, và ngược trở lại tận chỗ em đến nơi mà chưa hiểu ngay là mình đã tới, còn anh thì vẫn nói: 'Cứ xuống đi nào!' anh còn nhớ chứ? thì chuyện đó đối với em như cả một vĩnh cửu. Điều ấy tuyệt đối chẳng dính dáng gì tới chuyện đo đạc hay nói chung là tới lý trí cả, nó hoàn toàn là vấn đề cảm giác. Tất nhiên sẽ ngớ ngẩn nếu bảo: 'Tôi tưởng mình đã ở đây hai tháng rồi' vì như thế thì vô lý quá. Em chỉ có thể nói: 'Rất lâu'."
"Ừ," Joachim đáp, chiếc nhiệt kế vẫn ngậm trong miệng, "anh cũng được lợi lắm từ chuyện ấy, từ khi em ở đây, anh có thể phần nào bấu víu vào em mà giữ lấy mình." Và Hans Castorp bật cười vì Joachim đã nói điều đó một cách đơn giản đến thế, không kèm lấy một lời giải thích nào.
Chàng thử đàm thoại bằng tiếng Pháp
Không, chàng vẫn tuyệt nhiên chưa hề quen nếp chút nào, cả về phương diện hiểu biết đời sống ở đây trong tất cả tính chất đặc dị của nó, một hiểu biết mà trong ngần ấy ngày ít ỏi chàng không thể nào có được, và, như chàng tự nhủ với mình vậy, lại còn nói hẳn ra với Joachim, tiếc thay ngay cả trong ba tuần chàng cũng sẽ không sao đạt tới; lẫn về phương diện sự thích ứng của cơ thể chàng với những điều kiện khí quyển hết sức đặc thù của "những người trên này", vì sự thích ứng ấy đến với chàng thật khó nhọc, vô cùng khó nhọc, đến nỗi chàng có cảm tưởng nó hoàn toàn không chịu diễn ra.
Ngày thường được phân chia rất rõ ràng và tổ chức rất chu đáo, người ta mau chóng vào nếp và trở nên thuần thục nếu hòa mình vào guồng quay của nó. Nhưng trong khuôn khổ một tuần và những đơn vị thời gian lớn hơn, nó lại chịu những biến thể đều đặn nào đó, những biến thể chỉ dần dần mới xuất hiện, cái này đến lần đầu khi cái kia đã lặp lại mất rồi; mà cả về diện mạo cá biệt hằng ngày của sự vật và những gương mặt nữa, Hans Castorp vẫn còn phải học hỏi từng bước từng bước một, phải nhận ra kỹ hơn những gì chàng mới chỉ nhìn lướt qua, và với sức tiếp nhận của tuổi trẻ, thu nạp vào mình những điều mới.
Chẳng hạn những cái bình phình bụng, cổ ngắn kia, đặt ngoài hành lang trước một vài cánh cửa, thứ mà mắt chàng đã bắt gặp ngay trong tối hôm chàng tới nơi, là những bình chứa ôxy, Joachim giải thích như vậy khi chàng hỏi. Trong đó là ôxy tinh khiết, mỗi bình sáu franc, và thứ khí sinh lực ấy được đưa cho những người hấp hối dùng nhằm kích động lần cuối và níu giữ sức lực của họ lại, họ rít nó qua một ống dẫn. Bởi sau những cánh cửa có đặt những bình ấy là những người hấp hối, hay những _moribundi_, như Hofrat Behrens nói, khi có lần Hans Castorp gặp ông ở tầng một; vị hofrat, mặc áo choàng trắng và đôi má xanh tím, đang lướt dọc hành lang, rồi cả hai cùng đi lên cầu thang.
"Nào, ngài khán giả vô can kia!" Behrens nói. "Thế nào, chúng tôi có được ơn trước cặp mắt soi xét của ngài chăng? Vinh hạnh, vinh hạnh. Vâng, mùa hè của chúng tôi cũng ra trò lắm đấy, không phải hạng xoàng đâu. Tôi cũng đã bỏ ra không ít để đẩy nó lên đôi chút. Nhưng tiếc là ngài lại không muốn trải qua mùa đông với chúng tôi, tôi nghe nói ngài chỉ định ở tám tuần thôi kia mà? À, ba tuần? Thế thì là một chuyến ghé chớp nhoáng rồi, đến nằm đây cũng chẳng bõ công; à, tùy ngài vậy. Nhưng tiếc thật, tiếc là ngài không ở qua mùa đông, bởi vì cái gọi là Hotevoleh ấy," ông nói bằng một lối phát âm pha trò bất khả thi, "cái đám Hotevoleh quốc tế dưới Platz ấy, rốt cuộc chỉ đến vào mùa đông thôi, và ngài phải thấy họ mới được, thế mới ích cho giáo dưỡng của ngài chứ. Cười lăn ra khi bọn cha ấy nhảy chồm chồm trên mấy tấm ván chân của mình. Rồi các quý bà nữa, ôi trời, các quý bà! Sặc sỡ như chim thiên đường ấy, tôi bảo ngài, mà lại hết sức galant... Nhưng bây giờ tôi phải đến chỗ cái Moribundus của tôi đã, phòng hai mươi bảy đây. Giai đoạn cuối, ngài biết đấy. Theo ngả giữa mà đi. Hôm qua với cả hôm nay, cái tay phàm ăn ấy đã tu sạch năm tá bình ôxy rồi. Nhưng đến trưa chắc hắn sẽ _ad penates_ thôi. Nào, Reuter thân mến," ông nói, vừa bước vào, "nếu ta lại bẻ cổ thêm một chai nữa thì sao nào..." Lời ông mất hút sau cánh cửa ông kéo khép lại. Nhưng trong một khoảnh khắc, ở phía trong phòng, Hans Castorp đã nhìn thấy trên gối cái nét nghiêng sáp nến của một chàng trai trẻ có chòm râu cằm mảnh, kẻ vừa chậm rãi đảo hai nhãn cầu rất lớn của mình về phía cửa.
Đó là người hấp hối đầu tiên mà Hans Castorp được thấy trong đời, bởi cha mẹ chàng cũng như ông nội chàng hồi đó đều đã chết như thể sau lưng chàng vậy. Cái đầu của chàng trai nọ, với chòm râu cằm được đẩy chếch lên, nằm trên gối sao mà trang nghiêm đến thế! Ánh nhìn của đôi mắt quá lớn ấy sao mà đầy ý nghĩa, khi anh ta chậm rãi xoay chúng về phía cửa! Hans Castorp, còn đang hoàn toàn chìm trong ấn tượng của cái thoáng nhìn ấy, bất giác thử làm ra cho mình cũng những đôi mắt to, có ý nghĩa và chậm rãi như người hấp hối, trong lúc tiếp tục đi về phía cầu thang, và bằng đôi mắt ấy chàng nhìn một phụ nữ vừa từ sau lưng bước ra khỏi một cánh cửa, rồi vượt qua chàng ở đầu cầu thang. Chàng không nhận ra ngay đó là Madame Chauchat. Nàng mỉm cười khe khẽ trước lối chàng làm mắt như vậy, rồi đưa tay đỡ bím tóc sau gáy và đi xuống cầu thang trước mặt chàng, không tiếng động, mềm dẻo và đầu hơi chồm về phía trước.
* * * * *
Trong những ngày đầu ấy, chàng hầu như không kết giao với ai, và cả về sau rất lâu cũng vẫn thế. Thời khóa biểu, nhìn chung, không thuận lợi mấy cho chuyện đó; hơn nữa, Hans Castorp vốn là người dè dặt, lại tự cảm thấy mình ở trên này chỉ là một vị khách và một "khán giả vô can", như Hofrat Behrens đã nói, nên nhìn chung chàng vui lòng lấy chuyện trò và bầu bạn với Joachim làm đủ. Có điều cô y tá ngoài hành lang cứ nghển cổ nhìn theo họ mãi, cho đến khi Joachim, người trước đó đôi khi đã từng dành cho cô vài câu chuyện phiếm nho nhỏ, đem giới thiệu cô với người anh em họ của mình. Với sợi dây đeo kính kẹp vắt sau tai, cô chẳng những nói năng kiểu cách mà gần như khổ sở, và nếu nhìn kỹ hơn thì người ta có cảm tưởng trí óc cô đã bị tổn thương dưới cực hình của sự buồn chán. Rất khó gỡ mình ra khỏi cô, vì trước khi cuộc trò chuyện chấm dứt, cô để lộ một nỗi sợ gần như bệnh hoạn, và hễ hai chàng trai vừa tỏ ý định đi tiếp là cô bám riết lấy họ bằng lời nói hấp tấp, bằng ánh mắt, cả bằng một nụ cười tuyệt vọng, khiến họ vì thương hại mà lại đứng nán thêm bên cô. Cô thao thao bất tuyệt về papa mình, vốn là luật gia, và về người anh em họ là bác sĩ, rõ ràng là để đặt bản thân dưới một ánh sáng có lợi và chứng tỏ gốc gác từ một tầng lớp xã hội có học. Còn về bệnh nhân của cô sau cánh cửa kia thì đó là con trai một chủ xưởng búp bê ở Coburg, tên là Rotbein, và dạo gần đây bệnh tình của cậu Fritz trẻ đã chuyển xuống ruột. Điều ấy, theo lời cô, hẳn các ngài có thể hình dung, thật là khổ cho tất cả những người có liên quan; nhất là khi người ta xuất thân từ một gia đình hàn lâm và có cái mẫn cảm của các tầng lớp trên, thì lại càng khổ. Mà cũng chẳng được quay lưng đi nơi khác... Mới hôm nọ thôi, các ngài thử đoán xem, cô từ một cuộc đi ra ngoài ngắn ngủi trở về, cô chỉ đi mua có một ít bột đánh răng mà thôi, vậy mà lại thấy bệnh nhân ngồi trên giường, trước mặt là một cốc bia đen đặc sẫm, một cây xúc xích salami, một miếng bánh mì đen thô dày và một quả dưa chuột! Tất cả những món ngon quê nhà ấy là do người thân gửi đến cho anh ta để bồi bổ. Nhưng dĩ nhiên hôm sau anh ta đã nửa sống nửa chết rồi. Chính anh ta đang tự đẩy nhanh cái kết cục của mình. Nhưng sự giải thoát đó, dĩ nhiên, sẽ chỉ có ý nghĩa đối với anh ta thôi, chứ không đối với cô, vì rồi thì _cô_ sẽ lại được phân cho một bệnh nhân khác, ở giai đoạn tiến triển nhiều hay ít, tại đây hoặc ở một dưỡng đường khác, đó là viễn cảnh mở ra trước mắt cô, và ngoài ra thì chẳng có viễn cảnh nào khác.
Vâng, Hans Castorp nói, nghề của cô hẳn là nặng nhọc thật, nhưng theo ông nghĩ, chắc cũng đem lại điều gì làm người ta bằng lòng chứ.
Vâng, cô đáp, có chứ, nghề ấy cũng đem lại điều làm người ta bằng lòng, nhưng rất nặng nhọc.
Thế thì, mọi điều tốt lành cho ngài Rotbein. Và hai người anh em họ định đi.
Nhưng lúc ấy cô lại bám lấy họ bằng lời và bằng mắt, và thật thảm hại khi nhìn thấy cô cố gắng đến thế nào để giữ chân hai chàng trai thêm được đôi chút, đến nỗi sẽ là tàn nhẫn nếu không cho cô thêm một quãng hạn nữa.
"Anh ta ngủ rồi!" cô nói. "Anh ta không cần đến tôi. Thế là tôi bước ra hành lang chốc lát..." Rồi cô bắt đầu than phiền về Hofrat Behrens và cái giọng ông dùng để nói với cô, một cái giọng quá đỗi suồng sã, không hợp với xuất thân của cô. Cô chuộng hẳn ngài Dr. Krokowski hơn nhiều, cô gọi ông là người đầy tâm hồn. Rồi cô lại quay về với papa của mình và người anh em họ. Đầu óc cô không sản ra được gì hơn thế. Vô ích, cô cố níu giữ hai người anh em họ thêm một chút bằng cách bỗng lấy đà nâng giọng lên, gần như sắp kêu to mỗi khi họ định bước đi; cuối cùng họ cũng thoát được khỏi cô mà đi. Nhưng người y tá còn đứng nhìn theo họ thêm một lúc nữa, thân trên chúi ra trước và ánh mắt hút bám, như muốn dùng chính đôi mắt mà kéo họ trở lại với mình. Rồi từ ngực cô bật ra một tiếng thở dài, và cô quay trở vào phòng với bệnh nhân của mình.
Ngoài ra, trong những ngày ấy Hans Castorp chỉ còn làm quen với người đàn bà trắng bệch trong đồ đen kia, người Mễ Tây Cơ mà chàng đã trông thấy ngoài vườn và người ta gọi là “_Tous les deux_”. Quả thật đã xảy ra việc chính chàng cũng được nghe từ miệng bà cái công thức sầu thảm đã trở thành biệt hiệu của bà; nhưng vì đã tự chuẩn bị trước, chàng vẫn giữ được phong thái đĩnh đạc và sau đó có thể hài lòng về mình. Hai người anh em họ gặp bà trước cổng chính, khi họ lên đường đi cuộc dạo bộ sáng theo lệ sau bữa điểm tâm thứ nhất. Cuốn trong một tấm khăn cashmere đen, đầu gối cong cong, bước những bước dài, bồn chồn không ngơi, bà đi đi lại lại ở đó; trên nền tấm mạng đen quấn quanh mái tóc điểm bạc và buộc dưới cằm, gương mặt đã xế chiều của bà ánh lên một màu trắng mờ, với cái miệng lớn héo hắt. Joachim, như thường lệ không đội mũ, cúi chào bà, và bà chậm rãi đáp lễ, trong khi những nếp ngang trên vầng trán hẹp càng hằn sâu lúc nhìn ngắm. Bà dừng lại khi nhận thấy một gương mặt mới, và khẽ gật đầu, chờ hai chàng trai lại gần; bởi rõ ràng bà cho là cần thiết phải nghe xem người lạ có biết số phận của bà hay không, và tiếp nhận lời bày tỏ của chàng về điều ấy. Joachim giới thiệu người em họ. Bà đưa tay cho vị khách từ dưới tấm mantilla, một bàn tay gầy guộc, vàng vọt, gân nổi cao, đeo đầy nhẫn, rồi tiếp tục nhìn chàng, đầu gật gật. Rồi điều ấy xảy ra:
“_Tous les dé, monsieur_”, bà nói. “_Tous les dé vous savez ..._”
“_Je le sais, madame_”, Hans Castorp khẽ đáp. “_Et je le regrette beaucoup._”
Những bọng da nhão dưới đôi mắt đen nhức của bà lớn và nặng đến mức chàng chưa từng thấy ở ai. Từ bà toả ra một mùi hương nhè nhẹ, như đã úa tàn. Trong lòng chàng bỗng dịu lại và trở nên nghiêm trang.
“_Merci_”, bà nói bằng một lối phát âm khò khè, lạ lùng phù hợp với vẻ suy sụp của cả con người bà, và một khoé nơi cái miệng lớn ấy trễ xuống thật bi kịch. Rồi bà rút tay vào dưới tấm mantilla, cúi đầu và lại tiếp tục cuộc đi đi lại lại của mình. Còn Hans Castorp, vừa đi tiếp vừa nói:
“Cậu thấy đấy, việc ấy chẳng làm tôi hề hấn gì, tôi đã xoay xở với bà ấy khá ổn. Mà nói chung tôi nghĩ tôi xoay xở với hạng người như thế cũng khá lắm, bẩm sinh tôi biết cách giao tiếp với họ, cậu chẳng thấy thế sao? Tôi còn tin rằng đại thể tôi hợp với những người buồn hơn là với những người vui, trời biết tại sao, có lẽ vì tôi cũng là trẻ mồ côi và mất cha mẹ quá sớm chăng, nhưng khi người ta nghiêm trang và u sầu, và có cái chết dính líu vào, thì thật ra điều đó không làm tôi nặng lòng, cũng không khiến tôi lúng túng, trái lại tôi cảm thấy mình ở đúng môi trường của mình, mà dẫu sao cũng dễ chịu hơn nhiều so với khi mọi sự diễn ra quá hăng hái xốc nổi, cái đó không hợp với tôi lắm. Hôm nọ tôi nghĩ: đúng là ngớ ngẩn khi các bà ở đây lại ghê sợ cái chết và mọi thứ liên quan đến nó đến thế, đến nỗi người ta phải lo giữ cho họ khỏi thấy, và mang của ăn đàng tới đúng lúc họ đang ăn. Không, chà, thế thật nhảm nhí. Cậu chẳng cũng thích nhìn một cái quan tài sao? Tôi thì thỉnh thoảng rất thích nhìn. Tôi thấy quan tài quả là một món đồ đẹp đẽ, ngay cả khi nó còn trống không, nhưng khi có người nằm trong ấy thì trong mắt tôi nó gần như trở nên long trọng hẳn. Tang lễ có cái gì gây cảm hóa lắm, tôi đã nhiều lần nghĩ rằng, thay vì đi nhà thờ, người ta nên đi dự một đám tang, nếu muốn được cảm hóa đôi chút. Người ta mặc đồ đen tử tế, bỏ mũ xuống, nhìn vào quan tài và giữ vẻ nghiêm trang thành kính, và chẳng ai được phép pha những trò đùa nhạt nhẽo như trong đời thường. Tôi rất thích điều đó, khi cuối cùng họ cũng chịu thành kính lấy một chút. Đôi khi tôi từng tự hỏi liệu mình có nên làm mục sư không, theo một phương diện nào đó, tôi nghĩ nghề ấy hẳn cũng không đến nỗi không hợp với tôi... Hy vọng là trong câu tôi vừa nói tôi không phạm lỗi tiếng Pháp nào chứ?”
“Không”, Joachim nói. “_Je le regrette beaucoup_ thì hoàn toàn đúng rồi.”
Khả nghi về chính trị!
Những biến thể đều đặn của ngày thường bắt đầu xuất hiện: trước hết là một ngày Chủ nhật, hơn nữa lại là một Chủ nhật có nhạc dưỡng đường trên sân hiên, thứ Chủ nhật cứ hai tuần lại đến một lần, tức một dấu mốc của chu kỳ hai tuần mà Hans Castorp đã từ bên ngoài bước vào đúng nửa sau của nó. Chàng đến vào một ngày thứ Ba, và như vậy đây là ngày thứ năm, một ngày mang tính chất mùa xuân sau cơn sụt thời tiết kỳ quái kia và sự tái phát của mùa đông, dịu và tươi, với những cụm mây sạch sẽ trên nền trời xanh nhạt, nắng vừa phải phủ lên sườn núi và thung lũng, những nơi nay lại mang màu xanh mùa hạ đúng phép, vì rốt cuộc lớp tuyết mới kia đã bị định cho số phận tan lút đi rất mau.
Rõ ràng ai nấy đều cố công tôn kính và làm nổi bật ngày Chủ nhật; ban quản lý và khách trú hỗ trợ lẫn nhau trong ý hướng ấy. Ngay từ trà sáng đã có bánh phủ vụn ngọt; trước mỗi chỗ ngồi là một chiếc ly nhỏ cắm vài bông hoa, những bông cẩm chướng núi dại và cả hoa hồng Alps, mà các ông cài lên khuy ve áo (công tố viên Paravant từ Dortmund thậm chí còn mặc một chiếc áo đuôi tôm đen với ghi-lê chấm bi); y phục của các bà mang dấu ấn của một vẻ nhẹ nhõm lễ hội thơm tho; bà Chauchat xuất hiện ở bữa sáng trong một chiếc áo matinée đăng ten buông rủ với tay áo mở, trong bộ đồ ấy, khi cánh cửa kính sầm một tiếng khép lại, trước hết bà đứng chếch mặt ra, tựa hồ duyên dáng trình diện với cả gian phòng, rồi mới lững thững bước về bàn mình; và nó tôn bà đẹp đến mức người láng giềng của Hans Castorp, cô giáo từ Königsberg, tỏ ra say mê hẳn; đến ngay cả đôi vợ chồng man rợ ở cái bàn Nga xấu xí cũng đã lưu tâm đến ngày của Chúa, khi phần nam thay chiếc áo da bằng một thứ áo đi đường ngắn na ná áo đuôi tôm và đôi ủng nỉ bằng giày da, còn _thị_ thì dĩ nhiên hôm nay vẫn đeo cái boa lông bẩn thỉu ấy, song bên dưới lại mặc một chiếc blouse lụa xanh với cổ diềm... Hans Castorp nhíu mày khi trông thấy hai người họ, và đỏ mặt, điều mà ở đây chàng có khuynh hướng lộ ra khá rõ.
Ngay sau bữa điểm tâm thứ hai, nhạc dưỡng đường bắt đầu trên sân hiên; đủ loại kèn đồng và sáo gỗ tụ tập ở đó, chơi luân phiên khi rộn rã, khi khoan thai, gần như cho tới giờ ăn trưa. Trong khi buổi hòa nhạc diễn ra, liệu pháp nằm nghỉ không còn bị buộc chặt chẽ. Tuy vẫn có vài người thưởng thức món ngon cho tai ấy từ ban công của mình, và cả trong nhà hóng ngoài vườn cũng có ba bốn chiếc ghế có người ngồi; nhưng phần đông khách trú ngồi tại những chiếc bàn trắng nhỏ trên bục có mái che, còn đám sinh hoạt nhẹ dạ, những kẻ có lẽ thấy ngồi ghế là quá đỗi đứng đắn, thì chiếm các bậc đá dẫn xuống vườn và ở đó phô bày bao vẻ vui tươi: những bệnh nhân trẻ thuộc cả hai giới, phần lớn Hans Castorp đã biết tên hoặc biết mặt. Hermine Kleefeld cũng ở trong đám ấy, cùng với ông Albin, người chuyền quanh một hộp sô-cô-la lớn hoa lá để ai nấy lấy ăn, còn chính mình thì không ăn mà hút thuốc lá đầu lọc vàng với vẻ mặt của một người cha; rồi chàng trai môi dày của “Hội Nửa Lá Phổi”, cô Levi, gầy mảnh và ngà ngọc như vốn thế, một chàng trai tóc vàng tro mang tên Rasmussen, buông hai tay ở độ ngang ngực như những cái vây từ các khớp lỏng lẻo, bà Salomon từ Amsterdam, một người đàn bà vận đỏ, thân thể phồn thực, cũng gia nhập đám trẻ, vào gáy nâu sẫm của bà, gã người dài ngoẵng tóc đã thưa kia, kẻ có thể chơi nhạc trong _Giấc mộng đêm hè_ và lúc này ngồi phía sau, vòng tay ôm hai đầu gối nhọn, cứ mãi hướng đôi mắt đục ngầu của mình vào đó; một cô tóc đỏ từ Hy Lạp, một cô khác không rõ gốc gác với gương mặt con heo vòi, cậu bé tham ăn đeo cặp kính dày cộp, thêm một cậu trai chừng mười lăm mười sáu tuổi kẹp một chiếc độc nhãn kính và mỗi khi ho lại đưa lên miệng cái móng ngón út dài như muỗng muối của mình, hẳn là một con lừa chính hiệu, cùng nhiều người khác nữa.
Cậu trai với cái móng tay ấy, Joachim khẽ kể, khi mới đến thì chỉ hơi hơi có bệnh thôi, không sốt, và chỉ do cẩn trọng mà cha cậu, một bác sĩ, gửi cậu lên đây, theo phán đoán của Hofrat thì chỉ phải ở chừng ba tháng. Giờ đây, sau ba tháng, cậu đã lên 37,8 đến 38 độ và bệnh ra hẳn. Nhưng cậu lại sống phi lý đến mức đáng ăn tát.
Hai người anh em họ có một chiếc bàn riêng, hơi cách xa những người khác, vì Hans Castorp hút thuốc cùng ly bia đen chàng mang từ bữa sáng ra, và điếu xì gà của chàng đôi lúc cũng thấy ngon miệng đôi chút. Hơi ngây ngất vì bia và vì âm nhạc, thứ nhạc như mọi khi khiến miệng chàng hé ra và đầu chàng nghiêng sang một bên, chàng nhìn quanh cuộc đời tắm nắng vô tư nọ bằng đôi mắt ửng đỏ, mà ý thức không những không làm phiền chàng, trái lại còn đem đến cho toàn thể cảnh tượng một vẻ kỳ dị tăng bội, một sức quyến rũ tinh thần nào đó, rằng tất cả những con người này trong thẳm sâu đều đã bị một sự tan rã khó ngăn cản chộp lấy, và phần lớn trong bọn họ đang ở trong cơn sốt nhẹ... Người ta uống thứ nước chanh nhân tạo sủi tăm ở các bàn nhỏ, và trên bậc thềm lớn có người chụp ảnh. Những người khác đổi tem thư ở đó, và cô tóc đỏ người Hy Lạp ký họa ông Rasmussen trên một cuốn sổ, nhưng rồi lại không chịu cho ông xem bức vẽ, mà cứ cười, để lộ hàm răng to và thưa, quay qua quay lại, khiến ông hồi lâu không sao giằng được cuốn sổ khỏi tay cô. Hermine Kleefeld ngồi trên bậc của mình với đôi mắt chỉ hé nửa, dùng một tờ báo cuộn lại gõ nhịp theo âm nhạc, trong khi để ông Albin cài lên áo blouse cho cô một bó hoa đồng nội nhỏ, còn gã môi dày ngồi dưới chân bà Salomon thì vặn cổ ngước lên tán chuyện với bà, trong lúc tay nghệ sĩ dương cầm tóc thưa cứ từ phía sau nhìn chằm chằm vào gáy bà.
Các bác sĩ đến và hòa vào đám khách dưỡng bệnh, Hofrat Behrens trong áo choàng trắng và bác sĩ Krokowski trong áo choàng đen. Họ đi dọc hàng những chiếc bàn nhỏ, trong khi Hofrat gần như ở bàn nào cũng buông một câu đùa thân tình, để lại sau lưng mình một luồng chuyển động vui vẻ đánh dấu lối đi, rồi họ xuống chỗ đám trẻ, mà thành phần nữ lập tức xúm quanh bác sĩ Krokowski, vừa nhún nhảy vừa liếc mắt xéo, còn Hofrat, để tỏ lòng tôn kính ngày Chủ nhật, đã biểu diễn cho giới đàn ông xem trò khéo với chiếc giày buộc dây của mình: ông đặt cái chân đồ sộ lên một bậc cao hơn, tháo dây, nắm chúng theo một lối riêng bằng một tay, và bằng một sự khéo léo đến thế chỉ với tay ấy mà móc chéo lại được, khiến ai nấy đều lấy làm kinh ngạc và nhiều người thử bắt chước mà vô ích.
Về sau Settembrini cũng xuất hiện trên sân hiên, ông chống gậy đi từ phòng ăn ra, hôm nay vẫn trong chiếc áo dạ và cái quần vàng nhạt của mình, vẻ mặt thanh mảnh, tỉnh táo và phê phán, đưa mắt nhìn quanh rồi tiến lại chiếc bàn của hai người anh em họ, vừa nói “Ah, bravo!” vừa xin phép được ngồi với họ.
“Bia, thuốc lá và âm nhạc,” ông nói. “Thế là Tổ quốc của ông đấy! Tôi thấy ông có cảm quan đối với tâm thế dân tộc, thưa kỹ sư. Ông đang ở đúng trong yếu tố của mình, điều ấy làm tôi vui. Xin cho tôi được dự phần đôi chút vào sự hài hòa trong trạng thái của ông!”
Hans Castorp thu nét mặt lại, thực ra chàng đã làm vậy ngay từ khi vừa trông thấy người Ý. Chàng nói:
“Nhưng ông đến buổi hòa nhạc muộn quá, thưa ông Settembrini, hẳn sắp hết rồi. Ông không thích âm nhạc sao?”
“Không thích khi phải nghe theo lệnh,” Settembrini đáp. “Không thích theo lịch tuần. Không thích khi nó phảng phất mùi hiệu thuốc và từ trên cao được phân phát xuống cho tôi vì những lý do vệ sinh. Tôi còn quý đôi chút tự do của mình, hay ít ra là mẩu tự do và phẩm giá con người còn sót lại cho hạng chúng ta. Trong những cuộc như thế này, tôi chỉ ghé dự, cũng như ông, theo nghĩa rộng, đang ghé dự giữa chúng tôi, tôi đến một khắc đồng hồ rồi lại đi đường mình. Điều đó cho tôi ảo tưởng về tính độc lập... Tôi không nói rằng nó hơn một ảo tưởng, nhưng ông muốn sao đây, nếu nó đem lại cho tôi một niềm thỏa mãn nào đó! Với người em họ của ông thì khác. Với anh ấy, đây là nhiệm vụ. Có đúng không, thưa trung úy, ông xem đó là một phần của nhiệm vụ. Ồ, tôi biết, ông hiểu cái mẹo giữ lấy lòng kiêu hãnh của mình ngay trong nô lệ. Một mẹo gây bối rối. Không phải ai ở châu Âu cũng thạo điều ấy đâu. Âm nhạc ư? Có phải ông vừa hỏi tôi liệu tôi có nhận mình là người yêu âm nhạc không? Chà, nếu ông nói ‘người yêu’ (thực ra Hans Castorp không nhớ mình đã nói đúng như vậy), thì chữ ấy không phải chọn dở, nó có chút phảng phất của một sự khinh suất âu yếm. Được thôi, tôi nhận. Vâng, tôi là một người yêu âm nhạc, mà điều ấy không hề muốn nói rằng tôi đặc biệt kính trọng nó, như tôi kính trọng và yêu quý ngôn từ, kẻ mang tinh thần, công cụ, lưỡi cày sáng chói của tiến bộ... Âm nhạc... nó là cái nửa được phát ngôn, cái khả nghi, cái vô trách nhiệm, cái dửng dưng. Hẳn ông sẽ phản bác tôi rằng nó có thể trong sáng. Nhưng thiên nhiên cũng có thể trong sáng, một con suối nhỏ cũng có thể trong sáng, và điều đó giúp được gì cho ta? Đó không phải thứ trong sáng đích thực, mà là một sự trong sáng mơ màng, vô ngôn và không buộc người ta vào điều gì, một sự trong sáng không hậu quả, vì thế mà nguy hiểm, bởi nó cám dỗ người ta an lòng nơi nó... Cứ để âm nhạc mang cử chỉ của lòng cao thượng. Tốt! Nó sẽ vì thế mà đốt nóng cảm xúc của ta. Nhưng điều cốt yếu là phải đốt nóng lý trí! Âm nhạc bề ngoài dường như chính là vận động, nhưng bất chấp điều đó tôi vẫn ngờ nó có tính chất quietismus. Để tôi đẩy sự việc đến cùng: tôi nuôi một ác cảm có tính chính trị đối với âm nhạc.”
Đến đây Hans Castorp không thể không vỗ đùi kêu lên rằng một điều như thế thì quả đời chàng chưa từng nghe thấy bao giờ.
“Dù vậy cứ thử suy nghĩ về nó đi!” Settembrini mỉm cười nói. “Âm nhạc vô giá như phương tiện khơi dậy hứng khởi sau cùng, như sức mạnh cuốn người ta lên trên và về phía trước, khi nó gặp ở tinh thần một sự chuẩn bị sẵn cho những tác động của nó. Nhưng văn chương phải đi trước nó. Chỉ riêng âm nhạc không đẩy thế giới tiến lên được. Chỉ riêng âm nhạc là nguy hiểm. Riêng với cá nhân ông, thưa kỹ sư, nó tuyệt đối nguy hiểm. Tôi nhận ra điều ấy ngay ở những đường nét trên mặt ông khi tôi bước đến.”
Hans Castorp cười.
“Ôi, mặt mũi tôi thì ông đừng nhìn làm gì, thưa ông Settembrini. Ông không thể tin được không khí trên này của các ông hành tôi đến thế nào đâu. Việc thích nghi khí hậu đối với tôi khó hơn tôi tưởng.”
“Tôi e ông lầm.”
“Không, sao lại thế! Quỷ thần biết đấy, đến giờ tôi vẫn còn mệt và nóng bừng lên đây này.”
“Dầu sao tôi vẫn nghĩ rằng người ta phải biết ơn ban giám đốc về những buổi hòa nhạc,” Joachim chín chắn nói. “Dĩ nhiên ông nhìn sự việc từ một quan điểm cao hơn, thưa ông Settembrini, nói cho đúng, như một văn sĩ, và ở điểm ấy tôi không muốn cãi lại ông. Nhưng tôi vẫn cho rằng ở đây người ta phải biết ơn vì có được đôi chút âm nhạc. Tôi vốn chẳng phải người đặc biệt có nhạc cảm, mà những bản được chơi thì cũng chẳng có gì lớn lao cho lắm, không cổ điển mà cũng chẳng hiện đại, chỉ đơn giản là nhạc kèn đồng. Nhưng dù sao đó vẫn là một sự thay đổi dễ chịu. Nó lấp đầy được vài ba giờ một cách hẳn hoi, ý tôi là: nó chia chúng ra và lấp đầy từng khoảng một, khiến cho rốt cuộc cũng có cái gì đó ở trong ấy, trong khi ở đây, bằng không, người ta cứ phải đánh vật với giờ giấc, ngày tháng, tuần lễ một cách ghê rợn... Ông xem, một tiết mục hòa nhạc giản dị như thế có lẽ kéo dài bảy phút, phải không, và bảy phút ấy là một cái gì riêng biệt, chúng có mở đầu và kết thúc, chúng tách hẳn ra, và theo một nghĩa nào đó được gìn giữ khỏi bị chìm nghỉm đi, bất thần, trong cái nề nếp chùng chình chung chung. Vả lại, bản thân chúng còn được chia nhỏ ra nhiều lần nữa, bởi những mô-típ của bản nhạc, rồi những mô-típ ấy lại chia thành nhịp, thành thử lúc nào cũng có cái gì đang diễn ra và mỗi khoảnh khắc đều có được một ý nghĩa nào đó để bám vào, trong khi còn như ngoài ra... Tôi không biết mình có diễn đạt đúng không...”
“Hoan hô!” Settembrini kêu lên. “Hoan hô, trung úy! Anh đã chỉ ra rất đúng một yếu tố đạo đức không thể chối cãi trong bản chất của âm nhạc, ấy là ở chỗ, bằng một sự đo đếm đầy sức sống hết sức đặc thù, nó ban cho dòng trôi của thời gian sự tỉnh thức, tinh thần và tính quý giá. Âm nhạc đánh thức thời gian, nó đánh thức chúng ta tới sự hưởng thụ tinh vi nhất đối với thời gian, nó đánh thức... theo nghĩa ấy, nó là đạo đức. Nghệ thuật là đạo đức chừng nào nó đánh thức. Nhưng nếu nó làm điều ngược lại thì sao? Nếu nó làm tê mê, ru ngủ, chống lại hoạt động và tiến bộ? Điều đó âm nhạc cũng làm được, chính vì thế nó cũng rất am tường cái hiệu lực của thuốc phiện. Một hiệu lực quỷ quái, thưa các ngài! Thuốc phiện là của quỷ, vì nó tạo ra sự trì độn, sự cố kết, sự bất động, sự đình trệ nô dịch... Có điều gì đó đáng ngờ ở âm nhạc, thưa các ngài. Tôi vẫn giữ ý kiến rằng bản tính của nó là nước đôi. Tôi không đi quá xa đâu nếu tuyên bố nó đáng ngờ về mặt chính trị.”
Ông còn nói tiếp theo lối ấy một hồi nữa, và Hans Castorp cũng lắng nghe, nhưng thật tình không sao theo kịp được, trước hết vì chàng mệt, lại còn vì chàng bị xao lãng bởi những cảnh giao tế đang diễn ra giữa đám trai gái nhẹ dạ ở bên kia trên các bậc thềm. Chàng có nhìn đúng không, hay rốt cuộc là thế nào nhỉ? Cô gái có gương mặt tapir đang bận khâu cho cậu thanh niên đeo một tròng kính một cái khuy ở đai gối chiếc quần thể thao của cậu ta! Và trong lúc ấy, hơi thở cô nặng nhọc, nóng hổi vì hen suyễn, còn _cậu ta_ thì vừa ho khẽ vừa đưa cái móng tay giống hệt chiếc thìa xúc muối lên miệng! Họ đều có bệnh, cả hai, dĩ nhiên là thế, nhưng dù sao chuyện ấy vẫn cho thấy những phong tục giao tiếp thật kỳ quặc giữa đám thanh niên trên này. Ban nhạc đang chơi một điệu polka...
Hippe
Thế là ngày Chủ nhật nổi bật lên như vậy. Buổi chiều của nó, hơn nữa, còn được đánh dấu bởi những chuyến xe dạo do nhiều nhóm khách khác nhau tổ chức: sau bữa trà, mấy cỗ xe song mã ì ạch bò lên khúc đường lượn và dừng trước cổng chính để đón những người thuê xe, phần nhiều là người Nga, mà lại đặc biệt là các bà, các cô người Nga.
“Người Nga lúc nào cũng đi xe dạo chơi,” Joachim nói với Hans Castorp; hai người đứng với nhau trước cổng và nhìn những cuộc khởi hành ấy cho khuây. “Giờ thì họ đi Clavadell, hay ra hồ, hoặc vào thung lũng Flüela, hay tới Klosters, đại khái những nơi ấy là đích đến. Trong thời gian cậu ở đây, chúng ta cũng có thể đi một chuyến, nếu cậu thích. Nhưng tôi nghĩ trước mắt cậu còn đủ việc để làm quen với nếp sống nơi này rồi, chưa cần đến những cuộc rong chơi.”
Hans Castorp tán thành điều đó. Chàng ngậm một điếu thuốc lá và hai tay đút túi quần. Cứ thế chàng nhìn bà lão Nga nhỏ thó, lanh lợi, cùng cô cháu gái cốm yếu cao lêu nghêu của bà và hai người đàn bà khác bước lên một cỗ xe; đó là Marusja và Madame Chauchat. Bà này khoác một áo choàng bụi mỏng, có đai thắt phía sau lưng, nhưng không đội mũ. Bà ngồi cạnh bà lão ở băng sau xe, còn hai cô gái trẻ ngồi các chỗ phía sau. Cả bốn người đều vui vẻ, miệng không ngừng cử động trong thứ ngôn ngữ mềm mại, như thể không xương của họ. Họ vừa nói vừa cười qua tấm chăn xe mà họ phải khó nhọc chia nhau, qua món kẹo Nga mà bà cô lớn mang theo làm của nhấm nháp trong một hộp gỗ lót bông và viền giấy ren, và lúc này đã lấy ra mời rồi... Hans Castorp chăm chú phân biệt giọng nói mơ hồ như bị che kín của bà Chauchat. Như mọi khi, hễ người đàn bà cẩu thả ấy hiện ra trước mắt chàng, thì trong chàng lại càng được xác nhận rõ hơn sự giống nhau mà chàng đã tìm kiếm một dạo, và điều ấy đã lóe sáng với chàng trong mơ... Nhưng tiếng cười của Marusja, quang cảnh đôi mắt nâu tròn của cô, ngây thơ nhìn vượt lên trên chiếc khăn tay che miệng, và bộ ngực đầy cao của cô, bên trong hẳn cũng không phải không bệnh nặng, lại gợi chàng nhớ tới một điều khác nữa, một điều rúng động mà chàng mới trông thấy hôm nọ, và thế là chàng dè dặt liếc ngang sang Joachim, không động đậy đầu. Không, tạ ơn Chúa, mặt Joachim không lốm đốm như lần ấy, và môi chàng lúc này cũng không méo xệch thảm hại đến thế. Nhưng chàng đang nhìn Marusja, lại còn bằng một dáng điệu, một ánh mắt tuyệt đối không thể gọi là quân nhân, trái lại mơ màng và quên mình đến mức người ta buộc phải gọi đích danh là hoàn toàn dân sự. Tuy nhiên, rồi chàng cũng chấn chỉnh lại, ngoái nhanh sang Hans Castorp, khiến người này vừa kịp rời mắt khỏi chàng và đưa chúng lơ đãng lên đâu đó giữa không trung. Chàng cảm thấy tim mình đập thình thịch trong lúc ấy, vô cớ và tự ý làm theo ý riêng, như từ dạo này ở đây nó vẫn thế.
Phần còn lại của ngày Chủ nhật không có gì khác thường, trừ ra có lẽ các bữa ăn; vì đã không thể làm cho chúng phong phú hơn thường lệ bao nhiêu, người ta bèn ít ra cũng tăng thêm độ tinh tế của món ăn. (Bữa trưa có món _Chaud-froid_ gà, trang trí bằng tôm càng và những quả anh đào bổ đôi; món lạnh kèm theo là bánh ngọt đựng trong những chiếc giỏ đan bằng đường kéo sợi, rồi lại còn có cả dứa tươi.) Buổi tối, sau khi uống bia xong, Hans Castorp thấy mình còn rã rời, rét buốt và nặng nhức tứ chi hơn cả những ngày trước, bèn chúc người anh em họ ngủ ngon ngay từ khoảng chín giờ, vội kéo chăn lông lên quá cằm và ngủ thiếp đi như chết.
Song ngay ngày hôm sau, tức ngày thứ Hai đầu tiên mà người khách lưu trú trải qua trên này, đã đem lại một biến thể nữa, cũng tái diễn theo chu kỳ, trong nhịp sống thường nhật: ấy là một trong những buổi thuyết trình mà cứ hai tuần một lần bác sĩ Krokowski lại đọc trong phòng ăn trước toàn thể công chúng của “Berghof” gồm những người đã thành niên, biết tiếng Đức và chưa hấp hối. Theo như Hans Castorp nghe người anh em họ mình kể thì đây là một loạt bài giảng có liên hệ với nhau, một khóa học khoa học phổ thông dưới nhan đề chung: “Tình yêu như một sức mạnh tạo bệnh”. Cuộc giải trí mang tính giáo huấn ấy diễn ra sau bữa điểm tâm thứ hai, và như Joachim lại nói, người ta không được phép, hay ít ra là cực kỳ không thích thấy, tự gạt mình ra ngoài việc ấy; bởi vậy nên việc Settembrini, tuy thạo tiếng Đức hơn bất cứ ai, chẳng những chưa bao giờ dự một buổi nào mà còn buông ra những lời khinh bạc nhất về chúng, bị xem là một sự xấc xược đáng kinh ngạc. Về phần Hans Castorp, trước hết vì phép lịch sự, rồi sau đó cũng vì lòng tò mò không hề che giấu, chàng lập tức quyết định sẽ có mặt. Nhưng trước đó chàng đã làm một điều hoàn toàn sai lầm và khinh suất: chàng nảy ra ý tự mình đi một cuộc dạo bộ dài, và chuyện ấy hại chàng tệ hơn mọi điều chàng có thể ngờ.
“Giờ thì cậu nghe đây!” Đó là những lời đầu tiên của chàng khi Joachim bước vào phòng mình buổi sáng. “Tôi thấy thế này thì không ổn. Lối sống nằm ngang này tôi chán ngấy rồi, máu trong người vì thế mà như ngủ quên cả đi. Với cậu dĩ nhiên là chuyện khác, cậu là bệnh nhân, tôi tuyệt đối không muốn lôi kéo cậu. Nhưng tôi nhất định ngay sau bữa sáng sẽ đi bộ một chuyến ra trò, nếu cậu không phật ý, cứ lang thang vài giờ vô định vào đời. Tôi sẽ nhét vào túi ít đồ ăn sáng, vậy là tôi được tự do. Rồi ta sẽ xem thử lúc về nhà tôi có hóa ra một con người khác không.”
“Được thôi!” Joachim nói, vì thấy người kia nghiêm túc với mong muốn và quyết tâm của mình. “Nhưng đừng làm quá, tôi khuyên cậu thế. Trên này khác ở nhà. Với lại nhớ quay về đúng giờ dự buổi thuyết trình đấy!”
Kỳ thực, không chỉ có những lý do thể xác mới khiến chàng Hans Castorp trẻ tuổi nảy ra dự định ấy. Chàng cảm thấy như đầu óc nóng bừng của mình, cái vị khó chịu hầu như lúc nào cũng có trong miệng, và nhịp tim đập tùy tiện của mình, lỗi ít hơn ở những khó khăn của sự thích nghi với khí hậu, mà nhiều hơn ở những chuyện như lối hành xử của cặp vợ chồng người Nga phòng bên, những câu chuyện của bà Stöhr ốm yếu và ngu ngốc ở bàn ăn, tiếng ho mềm của viên kỵ sĩ ngựa ô mà ngày nào chàng cũng nghe thấy ngoài hành lang, những lời lẽ của ông Albin, những ấn tượng chàng tiếp nhận được từ các tập tục giao tiếp của đám thanh niên đau ốm, nét mặt của Joachim mỗi khi nhìn Marusja, và nhiều điều quan sát tương tự như thế nữa. Chàng nghĩ hẳn sẽ tốt nếu một lần thoát ra khỏi vòng bùa mê của “Berghof”, hít một hơi thật sâu ngoài trời và vận động ra trò, để tối đến, khi đã mệt, thì ít nhất cũng biết vì sao mình mệt. Và thế là, đầy khí thế, chàng chia tay Joachim khi người này sau bữa sáng lên đường đi dạo theo lệ công vụ của mình tới chiếc ghế bên rãnh nước, còn chàng thì vung gậy, bước xuống con đường xe chạy, đi theo lối riêng của mình.
Đó là một buổi sáng mát và nhiều mây, vào khoảng tám giờ rưỡi. Đúng như đã dự tính, Hans Castorp hít thật sâu làn không khí tinh khiết ban mai, bầu khí quyển tươi mát và nhẹ bẫng này, thứ đi vào không chút khó nhọc, không mang mùi ẩm, không có trọng lượng, không có ký ức... Chàng băng qua dòng nước và đường ray khổ hẹp, tới con đường xây cất lưa thưa, lại lập tức bỏ nó mà rẽ vào một lối mòn trên đồng cỏ; lúc đầu đường ấy chỉ chạy một quãng ngắn trên nền phẳng, rồi sau đó chếch lên và khá dốc men lên sườn phải. Việc leo dốc khiến Hans Castorp khoan khoái, lồng ngực chàng nở ra, chàng dùng đầu cong của cây gậy đẩy vành mũ khỏi trán, và khi từ một độ cao nào đó ngoái nhìn lại, thấy xa xa mặt gương của hồ nước mà chàng đã đi ngang qua trên đường đến đây, chàng bắt đầu hát.
Chàng hát những bài mà đúng lúc ấy chàng còn nhớ được, đủ loại ca khúc dân gian ủy mị như vẫn thấy trong các tuyển tập ca khúc sinh viên và thể dục, trong đó có một bài mang những câu như sau:
“Die Barden sollen Lieb und Wein, Doch öfter Tugend preisen” –
ban đầu chàng hát khẽ và ngân nga, rồi hát to, dốc cả sức lực ra. Giọng nam trung của chàng khô cứng, nhưng hôm nay chàng thấy nó đẹp, và việc cất tiếng hát càng lúc càng làm chàng hăng lên. Nếu chàng vào tông quá cao, chàng chuyển sang những âm đầu giọng the thé, và cả những âm ấy nữa đối với chàng cũng hiện ra là đẹp. Nếu trí nhớ phụ chàng, chàng tự xoay xở bằng cách đặt vào giai điệu những âm tiết và từ ngữ vô nghĩa nào đó, rồi với cái miệng tạo hình theo lối ca sĩ chuyên nghiệp và âm r rung khoa trương nơi vòm họng, chàng phóng chúng lên không trung, cuối cùng còn đi tới chỗ cả về lời lẫn về nhạc chỉ còn hoàn toàn ngẫu hứng, thậm chí dùng những động tác tay đậm chất ô-pê-ra để phụ họa cho sự sáng tạo của mình. Vì vừa leo dốc vừa hát thì rất mệt, nên chẳng bao lâu chàng đã hụt hơi, và hơi thở càng lúc càng thiếu. Nhưng vì lý tưởng, vì cái đẹp của tiếng hát, chàng cưỡng lại cơn quẫn bách và giữa những tiếng thở dài dồn dập vẫn dốc nốt phần sức lực cuối cùng, cho đến khi rốt cuộc, trong tình trạng khó thở cực độ, mắt mù đi, trước mắt chỉ còn một màn nhấp nháy màu sắc, mạch đập cuống cuồng, chàng đổ sụp xuống dưới một cây thông lớn, để rồi sau cơn hứng khởi lớn lao ấy bỗng chốc trở thành mồi ngon cho một cơn suy sụp thấu tận, một nỗi khổ sở xác thịt gần như tuyệt vọng.
Khi đứng dậy để tiếp tục cuộc đi bộ, với thần kinh đã phần nào lấy lại được thế quân bình, gáy chàng run lên rất mạnh, đến nỗi ở cái tuổi còn rất trẻ ấy chàng lắc đầu đúng hệt cái cách mà ông Hans Lorenz Castorp già nua ngày trước vẫn từng làm. Bản thân chàng, trước hiện tượng ấy, bỗng tha thiết nhớ đến người ông quá cố của mình, và không hề thấy nó là điều ghê khó chịu, chàng còn thích thú bắt chước cái thế chống cằm khả kính mà cụ già từng dùng để kìm cơn run đầu, cái thế mà thuở bé chàng đã từng rất ưa.
Chàng leo lên cao hơn nữa, theo những khúc ngoặt hình rắn. Tiếng lục lạc bò sữa kéo chàng lại, và chàng cũng tìm thấy cả đàn; chúng đang gặm cỏ gần một căn lều gỗ có mái đè đá. Hai người đàn ông râu ria từ phía đối diện đi tới, vác rìu trên vai, rồi tách nhau ra khi đã đến gần. “Vậy nhé, vĩnh biệt và xin đa tạ!” người này nói với người kia bằng một giọng trầm, vọng trong vòm họng, đặt chiếc rìu sang vai bên kia rồi không theo lối nào cả, rảo bước lạo xạo giữa rừng vân sam mà xuống thung. Trong cảnh cô tịch ấy, câu “Vĩnh biệt và xin đa tạ” đã vang lên thật lạ lùng, chạm tới tâm trí mơ màng của Hans Castorp, vốn đang ngầy ngật vì leo dốc và hát. Chàng khẽ nhắc lại câu ấy, cố bắt chước cái phương ngữ nơi núi non vừa nặng âm họng vừa long trọng-vụng về, rồi còn leo quá căn chòi miền núi thêm một quãng nữa, vì chàng có ý muốn tới được ranh giới cây cối; nhưng sau khi nhìn đồng hồ, chàng từ bỏ ý định ấy.
Chàng theo một con đường mòn rẽ sang trái, hướng về phía làng; đường chạy ngang một quãng rồi bắt đầu đổ xuống. Một khu rừng lá kim thân cao đón lấy chàng, và trong khi đi xuyên qua đó, chàng thậm chí lại còn bắt đầu hát khe khẽ đôi chút, tuy có chừng mực và mặc dầu đầu gối chàng lúc xuống dốc còn run kỳ quặc hơn trước. Nhưng vừa ra khỏi lùm cây, chàng đã sững sờ đứng lại trước một cảnh tượng lộng lẫy đang mở ra trước mắt, một phong cảnh khép kín thân mật, mang vẻ tạo hình vừa thanh bình vừa hùng vĩ.
Trong một lòng suối thoai thoải, lổn nhổn đá, một dòng nước núi từ cao độ bên phải đổ xuống, tung bọt chảy qua những tảng đá xếp thành từng bậc như ruộng thềm, rồi lại hiền hòa hơn mà xuôi tiếp về phía thung lũng, bên trên có một cây cầu nhỏ với lan can mộc mạc bằng gỗ bắc qua, trông thật nên thơ. Mặt đất xanh biếc hoa chuông của một loài cây thân bụi mọc lan khắp nơi. Những cây vân sam trầm mặc, cao lớn, cân đối, đứng riêng lẻ hoặc tụ nhóm trên nền khe núi cũng như men theo sườn cao, và một cây trong số đó, bám rễ chênh chếch trên mái dốc bên dòng suối dữ, vươn xiên và kỳ dị vào trong bức tranh. Một sự biệt lập rì rào ngự trị trên chốn đẹp đẽ, cô liêu ấy. Bên kia dòng suối, Hans Castorp nhận ra một chiếc ghế nghỉ.
Chàng bước qua chiếc cầu gỗ và ngồi xuống, để mặc cho cảnh thác nước, cho lớp bọt bị cuốn trôi kia tiêu khiển mình, lắng tai nghe âm thanh róc rách vừa mục đồng vừa chuyện trò, đơn điệu mà dẫu vậy bên trong vẫn biến hóa; bởi Hans Castorp yêu nước chảy rào rạt chẳng kém gì âm nhạc, thậm chí có lẽ còn hơn. Nhưng chàng vừa mới ngồi cho thật thoải mái thì một cơn chảy máu cam bỗng ập đến dữ dội đến nỗi chàng không sao giữ cho bộ com-lê khỏi bị vấy bẩn hoàn toàn. Máu chảy mạnh, dai dẳng, hành hạ chàng dễ đến nửa giờ đồng hồ, bắt chàng luôn chân chạy qua chạy lại giữa dòng suối và băng ghế, giặt chiếc khăn tay, hít nước vào mũi rồi lại nằm duỗi thẳng trên mặt ghế gỗ, áp chiếc khăn ướt lên mũi. Chàng cứ nằm như thế khi máu cuối cùng cũng cầm lại, nằm yên, hai tay đan sau gáy, đầu gối co lên, mắt nhắm nghiền, tai ngập đầy tiếng nước đổ, không đến nỗi khó chịu, trái lại còn như được vuốt dịu bởi cuộc trích huyết dồi dào ấy, và rơi vào một trạng thái sinh hoạt lạ lùng sa sút; bởi mỗi khi đã thở ra, chàng rất lâu không thấy cần hít thêm luồng không khí mới nào nữa, mà cứ để thân mình bất động, bình thản cho tim đập thêm mấy nhịp liên tiếp, rồi mãi sau mới lười nhác hớp lại một hơi thở nông.
Thế rồi bỗng chốc chàng lại thấy mình bị ném trở về một hoàn cảnh sớm sủa của đời mình, nguyên mẫu của một giấc mơ được nặn theo những ấn tượng mới nhất mà chàng đã nằm mộng cách đây mấy đêm... Nhưng chàng đã bị dời sang cái Khi Ấy và Nơi Ấy mạnh mẽ, trọn vẹn, đến mức xóa bỏ cả không gian lẫn thời gian như thế, khiến người ta hẳn có thể nói rằng trên này, bên con suối đổ kia, chỉ có một thân xác vô tri đang nằm trên ghế, còn Hans Castorp đích thực thì ở mãi tận xa trong một thời gian và một khung cảnh cũ, mà lại ở vào một tình thế, dầu hết sức đơn giản, vẫn táo bạo và làm tim mê say.
Chàng mười ba tuổi, học sinh lớp Untertertia, một cậu bé mặc quần ngắn, đang đứng trong sân trường trò chuyện với một cậu khác, trạc tuổi, thuộc lớp khác, một cuộc chuyện trò mà Hans Castorp đã gần như tùy tiện khơi mào, và tuy vì đối tượng cụ thể, hạn hẹp rõ ràng của nó mà chỉ có thể rất ngắn ngủi, song vẫn làm chàng vui thích đến mức cao nhất. Đó là giờ ra chơi giữa tiết áp chót và tiết cuối, một tiết sử và một tiết vẽ của lớp Hans Castorp. Trong sân, lát gạch clinker đỏ và ngăn cách với phố bằng một bức tường lợp ván mỏng có hai cổng vào, đám học sinh đi đi lại lại thành hàng, tụ thành nhóm, hoặc nửa ngồi nửa tựa vào những gờ tường tráng men của tòa nhà. Tiếng nói chuyện ồn lên hỗn độn. Một thầy giáo đội mũ mềm giám sát đám ấy trong khi đang cắn một chiếc bánh mì kẹp giăm bông.
Cậu bé mà Hans Castorp đang nói chuyện cùng mang họ Hippe, tên là Pribislav. Điều kỳ lạ còn ở chỗ chữ r trong tên ấy lại phải phát âm như sch: thành ra là “Pschibislav”; và cái tên khác thường ấy cũng không đến nỗi trái ngược với diện mạo của cậu, một diện mạo không hoàn toàn tầm thường, mà quả quyết có gì đó ngoại lai. Hippe, con trai một nhà sử học đồng thời là giáo sư trung học, vì thế nổi tiếng là học sinh gương mẫu và đã học trên Hans Castorp một lớp, dẫu hầu như không lớn tuổi hơn chàng, quê ở Mecklenburg, và xét về con người cậu, rõ ràng là sản phẩm của một sự pha trộn chủng tộc cổ xưa, một sự hòa lẫn giữa dòng máu German với Wendisch-Slawisch, hoặc cũng có thể ngược lại. Quả thật cậu tóc vàng, mái tóc cắt rất ngắn sát chiếc sọ tròn. Nhưng đôi mắt cậu, màu lam xám hay xám lam, một màu hơi mơ hồ và hai mặt, màu của một dãy núi xa xăm chẳng hạn, lại có một đường cắt đặc biệt, hẹp và nói đúng ra còn hơi xếch; ngay bên dưới là gò má nhô cao, rõ nét, một cấu trúc khuôn mặt mà trong trường hợp cậu không hề làm xấu đi, trái lại còn khá cuốn hút, nhưng cũng đủ khiến bạn học đặt cho cậu biệt hiệu “gã Kirghiz”. Vả chăng Hippe đã mặc quần dài từ lâu, lại thêm một chiếc áo joppe xanh cài kín cổ, bó eo sau lưng, trên cổ áo thường vương vài mảnh da đầu bong ra.
Sự tình là thế này: từ đã lâu Hans Castorp vẫn dõi sự chú ý của mình vào Pribislav ấy, giữa cả đám đông hỗn độn trong sân trường, những kẻ chàng biết lẫn không biết, chàng đã chọn cậu ra, đem lòng quan tâm đến cậu, dõi theo cậu bằng mắt; phải chăng nên nói: ngưỡng mộ cậu? Dù sao đi nữa, chàng vẫn ngắm cậu với một sự chăm chú đặc biệt, và ngay trên đường đến trường đã háo hức được quan sát cậu trong giao tiếp với bạn cùng lớp, được thấy cậu nói cười và từ xa nhận ra tiếng nói của cậu, một giọng dễ nghe, hơi đục, như có màn che phủ, hơi khàn. Xin thừa nhận rằng chẳng có một lý do thật đầy đủ nào cho mối quan tâm ấy, trừ phi người ta muốn coi cái tên ngoại giáo kia, thành tích học sinh gương mẫu ấy - điều này dĩ nhiên không thể có trọng lượng - hay rốt cuộc là đôi mắt Kirghiz kia như một lý do, đôi mắt mà thỉnh thoảng, trong một cái liếc xéo nào đó vốn không nhằm để nhìn, có thể tối lại theo một cách tan chảy thành vẻ mờ đục ban đêm. Tuy nhiên Hans Castorp rất ít bận tâm đến việc biện minh về mặt tinh thần cho cảm xúc của mình, hay thậm chí nếu cần thì phải gọi tên chúng ra sao. Bởi khó có thể nói đến tình bạn, vì chàng nào có “quen” Hippe. Nhưng thứ nhất, tuyệt không hề có sự bắt buộc nào phải đặt tên cả, vì không ai nghĩ đến chuyện đối tượng ấy rồi sẽ thành lời nói, mà bản thân nó cũng không thích hợp cho điều đó và cũng chẳng đòi hỏi điều đó. Và thứ hai, một cái tên, nếu chưa phải là phê phán, thì dù sao cũng là quy định, nghĩa là xếp đặt vào cái đã biết và đã quen, trong khi Hans Castorp lại thấm nhuần niềm xác tín vô thức rằng một tài sản nội tâm như thế này phải được bảo vệ vĩnh viễn khỏi mọi sự quy định và xếp đặt như vậy.
Nhưng dù có căn cứ tốt hay xấu, thì những cảm xúc xa lạ đến thế với tên gọi và với sự thổ lộ kia vẫn có một sức sống đến mức Hans Castorp đã âm thầm mang chúng trong lòng gần suốt một năm, gần một năm, bởi không thể xác định chính xác khởi đầu của chúng, điều ấy ít nhất cũng nói lên sự trung thành và bền bỉ trong tính cách chàng, nếu người ta nghĩ đến khối lượng thời gian khổng lồ mà một năm có nghĩa ở lứa tuổi ấy. Tiếc thay, những danh xưng chỉ phẩm tính tính cách thường đều hàm chứa một phán đoán đạo đức, theo nghĩa khen ngợi hay chê trách, mặc dầu hết thảy chúng đều có hai mặt của mình. Sự “trung thành” của Hans Castorp, mà nhân tiện nói chàng cũng chẳng lấy đó làm gì tự đắc, nếu nói không phán giá trị, là một sự nặng nề, chậm chạp và bền gan nào đó của tâm tính, một tâm thế cơ bản có tính bảo tồn, khiến đối với chàng những trạng thái và quan hệ sống của lòng gắn bó và sự tiếp diễn càng đáng quý hơn bao nhiêu, khi chúng càng tồn tại lâu bấy nhiêu. Chàng cũng có khuynh hướng tin vào sự kéo dài vô tận của trạng thái, của hoàn cảnh đúng vào lúc mình đang ở trong đó, chính vì vậy mà quý trọng nó và không hề sốt sắng với đổi thay. Thế là chàng đã quen trong tim mình với mối liên hệ âm thầm và xa cách kia đối với Pribislav Hippe, và về căn bản coi nó như một thiết chế bền lâu của đời mình. Chàng yêu những rung động tâm hồn mà nó mang lại, sự căng thẳng không biết hôm nay người kia có đi ngang qua mình, sượt thật sát bên mình, có lẽ có nhìn mình chăng; những sự mãn nguyện câm lặng, dịu dàng mà bí mật của chàng ban tặng cho chàng, và cả những nỗi thất vọng vốn thuộc về câu chuyện ấy, mà lớn nhất là khi Pribislav “vắng mặt”: khi đó sân trường trở nên hoang vắng, ngày sống mất hết hương vị, nhưng niềm hy vọng bị trì hoãn thì vẫn còn.
Chuyện ấy kéo dài một năm, cho đến khi đạt tới đỉnh điểm phiêu lưu kia; rồi lại còn kéo dài thêm một năm nữa, nhờ sự trung thành gìn giữ của Hans Castorp; và sau đó thì chấm dứt, mà chàng cũng chẳng nhận ra sự lỏng đi rồi tan rã của mối dây buộc chàng với Pribislav Hippe hơn là chàng đã nhận ra sự hình thành của nó. Pribislav cũng rời trường và rời thành phố vì cha cậu được điều chuyển; nhưng Hans Castorp hầu như không còn để ý đến điều ấy nữa, chàng đã quên cậu từ trước rồi. Có thể nói hình ảnh “gã Kirghiz” đã lặng lẽ từ trong sương mù bước vào đời chàng, chậm rãi ngày càng có hình có khối hơn, cho tới khoảnh khắc gần gũi và thể xác nhất kia trong sân trường, đã đứng như thế một thời gian ở tiền cảnh, rồi dần dần lại lùi ra sau và tan đi trong sương mù không chút đau đớn của một cuộc từ biệt.
Nhưng khoảnh khắc ấy, tình thế táo bạo và phiêu lưu mà giờ đây Hans Castorp lại thấy mình được đặt trở vào, cuộc chuyện trò, một cuộc chuyện trò có thực với Pribislav Hippe, đã xảy ra như sau. Đến tiết vẽ, và Hans Castorp nhận thấy mình không mang theo bút chì. Bạn cùng lớp nào cũng cần cây bút chì của mình; nhưng trong đám học sinh các lớp khác chàng vẫn có người quen này người quen nọ để có thể hỏi mượn một cây. Tuy nhiên người quen thuộc nhất đối với chàng, chàng nghĩ, lại chính là Pribislav, người gần gũi với chàng nhất là cậu ấy, người mà trong âm thầm chàng đã có bao điều qua lại đến thế; và trong một cơn bốc đồng vui sướng của toàn thể con người mình, chàng quyết định lợi dụng dịp này, chàng gọi đó là một dịp, để hỏi mượn Pribislav một cây bút chì. Rằng đó sẽ là một trò khá kỳ quặc, vì trong thực tế chàng đâu có quen Hippe, điều ấy hoặc là không hề lọt vào ý thức của chàng, hoặc ít nhất chàng cũng chẳng buồn bận tâm, bị làm mù mắt bởi một sự bất chấp kỳ lạ. Và thế là giờ đây, giữa đám đông chen chúc trong sân gạch clinker, chàng thực sự đứng trước mặt Pribislav Hippe và nói với cậu:
“Xin lỗi, cậu có thể cho tôi mượn một cây bút chì không?”
Và Pribislav nhìn chàng bằng đôi mắt Kirghiz từ trên những gò má nhô cao xuống, rồi cất tiếng với giọng khàn dễ nghe ấy, không tỏ vẻ ngạc nhiên, hoặc ít nhất là không để lộ vẻ ngạc nhiên.
“Được thôi,” cậu nói. “Nhưng sau giờ cậu nhất định phải trả lại cho tôi đấy.” Rồi cậu rút cây crayon của mình từ trong túi ra, một cây crayon mạ bạc có cái khoen phải đẩy lên trên thì ruột chì nhuộm đỏ mới trồi ra khỏi ống kim loại. Cậu giải thích cơ cấu đơn giản ấy, trong khi hai cái đầu của họ cùng cúi lại trên nó.
“Nhưng đừng có làm gãy nó nhé!” cậu còn nói thêm.
Cậu nghĩ đi đâu vậy? Cứ như thể Hans Castorp có ý định _không_ trả lại cây bút, hoặc lại còn sơ ý đối xử tệ với nó nữa.
Rồi họ mỉm cười nhìn nhau, và vì chẳng còn gì để nói nữa, nên trước hết họ quay vai, rồi quay lưng lại với nhau mà đi.
Thế là hết. Nhưng Hans Castorp chưa bao giờ trong đời vui sướng hơn là trong tiết vẽ ấy, khi chàng vẽ bằng cây bút chì của Pribislav Hippe, lại còn thêm cả viễn cảnh sau đó sẽ tự tay trao nó lại cho chủ, điều như một khoản tặng thêm thuần túy, tự nhiên và hiển nhiên nảy sinh từ những gì vừa xảy ra trước đó. Chàng còn tự cho phép mình gọt nhọn cây bút đi đôi chút, và trong những mẩu vụn sơn đỏ rơi xuống, chàng giữ lại ba bốn mẩu suốt gần trọn một năm trong một ngăn kéo bên trong của bàn học, không một ai, nếu có trông thấy chúng, lại đoán nổi chúng mang một ý nghĩa hệ trọng đến thế nào. Vả lại, việc hoàn trả diễn ra dưới những hình thức đơn giản nhất, điều này lại hoàn toàn hợp với ý Hans Castorp, thậm chí còn là điều khiến chàng có phần tự phụ một cách đặc biệt, bởi chàng đã trở nên lỳ đi và được nuông chiều qua sự giao tiếp thân mật với Hippe.
“Đây,” chàng nói. “Xin cảm ơn nhiều.”
Còn Pribislav chẳng nói gì hết, chỉ lướt qua kiểm tra lại cơ cấu rồi nhét cây crayon vào túi...
Rồi từ đó họ không bao giờ nói chuyện với nhau nữa, nhưng một lần ấy, nhờ tinh thần dám làm của Hans Castorp, thì điều đó rốt cuộc đã xảy ra...
Chàng mở choàng mắt ra, bối rối trước chiều sâu của cơn xuất thần vừa rồi. “Mình tin là mình đã mơ!” chàng nghĩ. “Phải, đó là Pribislav. Lâu lắm rồi mình không còn nghĩ đến cậu ta nữa. Những mẩu vụn ấy đi đâu rồi nhỉ? Cái bàn học ở dưới kho, tại nhà cậu Tienappel. Chúng hẳn vẫn còn nằm trong cái ngăn nhỏ bên trong, phía trái, phía sau. Mình chưa bao giờ lấy chúng ra. Mình thậm chí còn chẳng ban cho chúng đến từng ấy sự chú ý là đem vứt đi... Đúng hệt Pribislav, như cậu ta bằng xương bằng thịt. Mình không ngờ có ngày còn nhìn lại cậu ta rõ đến thế. Thật kỳ lạ, cậu ta giống nàng biết bao, người ở trên này ấy! Vậy ra chính vì thế mà mình quan tâm đến nàng đến vậy sao? Hay cũng có thể là: chính vì thế mà mình đã quan tâm đến _hắn_ đến vậy? Vớ vẩn! Một thứ vớ vẩn đẹp đẽ. Mà dù sao mình phải đi, và phải đi ngay mới được.” Nhưng chàng vẫn còn nằm đó thêm một lúc, suy ngẫm và hồi tưởng. Rồi chàng ngồi dậy. “Thôi, vĩnh biệt và cảm tạ nhé!” chàng nói, và nước mắt dâng lên nơi mắt trong khi chàng mỉm cười. Nói thế xong chàng định lên đường; nhưng chàng lại ngồi phịch xuống, mũ và gậy cầm trên tay, vì chàng đã phải nhận ra rằng đôi đầu gối của mình không đỡ nổi mình cho lắm. “Ôi chao,” chàng nghĩ, “mình e là thế này không xong rồi! Thế mà đúng mười một giờ mình còn phải có mặt ở phòng ăn nghe bài thuyết trình. Đi dạo trên này có cái thú của nó, nhưng xem chừng cũng có những khó khăn của nó. Phải, phải, nhưng không thể nằm lại đây được. Chỉ là vì nằm lâu nên mình hơi rũ ra thôi; vận động một lúc chắc sẽ khá hơn.” Và chàng lại thử đứng lên; vì chàng đã thật sự gom hết sức mà làm, nên lần này đã được.
Dẫu sao, đó vẫn là một cuộc trở về thảm hại, sau một cuộc xuất hành cao hứng đến thế. Nhiều lần chàng phải ngồi nghỉ dọc đường, vì chàng cảm thấy mặt mình đột nhiên trắng bệch ra, mồ hôi lạnh vã lên trán, và nhịp tim thất thường khiến chàng nghẹt thở. Khốn khổ vật lộn như vậy, chàng lần xuống những khúc ngoặt hình rắn; nhưng khi tới được đáy thung gần khu điều dưỡng, chàng hiểu rõ mồn một rằng quãng đường còn kéo dài tới “Berghof” thì tuyệt đối chàng không thể tự sức mình vượt nốt được, và vì không có tàu điện, cũng chẳng thấy một cỗ xe thuê nào, nên chàng đành xin một người đánh xe đang lùa chiếc xe chở hàng có những thùng rỗng về phía “Làng” cho mình leo lên ngồi nhờ. Ngồi quay lưng vào lưng người đánh xe, hai chân buông thõng khỏi xe, bị những người qua đường nhìn theo với vẻ ngạc nhiên cảm thông, lảo đảo và gật gà trong cơn buồn ngủ lửng lơ dưới những cú xóc của cỗ xe, chàng được chở đi như vậy, xuống xe ở chỗ đường tàu cắt ngang, dúi tiền ra mà không nhìn xem là nhiều hay ít, rồi cắm đầu hối hả chạy lên khúc đường vòng.
“_Dépêchez-vous, monsieur!_” người gác cửa Pháp nói. “_La conférence de M. Krokowski vient de commencer._” Và Hans Castorp ném mũ với gậy vào phòng gửi đồ rồi chen mình vội vã mà thận trọng, lưỡi kẹp giữa hai hàm răng, qua cánh cửa kính chỉ vừa hé mở để vào phòng ăn, nơi giới dưỡng bệnh đang ngồi thành từng hàng trên ghế, còn ở đầu hẹp bên phải, bác sĩ Krokowski mặc áo đuôi tôm đứng sau một chiếc bàn phủ khăn và có đặt một bình nước, đang diễn thuyết...
Phân tích
May sao, ngay gần cửa còn một chỗ góc trống đang mời gọi. Chàng lách ngang tới đó và làm ra vẻ như mình vẫn ngồi ở đây từ đầu đến giờ. Cử tọa, đang dán sự chú ý ban đầu vào môi Tiến sĩ Krokowski, hầu như không để ý đến chàng; như thế thật tốt, bởi chàng nom khủng khiếp. Mặt chàng tái nhợt như vải lanh, còn bộ đồ thì lấm máu, khiến chàng giống một kẻ sát nhân vừa từ hiện trường trở về. Riêng người đàn bà ngồi trước mặt chàng thì quay đầu lại khi chàng ngồi xuống và nheo mắt nhìn xét chàng. Đó là Madame Chauchat; chàng nhận ra nàng với một thứ bực tức nào đó. Nhưng thế này thì thật quỷ quái! Chẳng lẽ chàng không được yên ổn một chút nào sao? Chàng đã tưởng ở đây có thể lặng lẽ ngồi xuống, tới được đích rồi, và nghỉ lấy hơi đôi chút; thế mà ngay trước mũi lại cứ phải có nàng, một sự ngẫu nhiên mà trong hoàn cảnh khác có lẽ chàng đã vui mừng, nhưng lúc này, mệt lử và hụt hơi như chàng đang thế, thì nó có ích gì cho chàng? Nó chỉ đặt thêm gánh nặng mới lên tim chàng và sẽ khiến chàng suốt buổi diễn thuyết phải hồi hộp không yên. Nàng đã nhìn chàng đúng bằng đôi mắt của Pribislav, đã nhìn vào mặt chàng và những vết máu trên áo quần chàng, lại còn khá là bất kể và xấn tới nữa, đúng với cung cách của một người đàn bà quăng sầm cửa. Dáng ngồi nàng thật xấu làm sao! Không như những người đàn bà trong vòng đời quê nhà của Hans Castorp, lưng thẳng, đầu ngoảnh về phía ông khách cùng bàn, trong khi chỉ nhúc nhích ở chót môi mà nói chuyện. Madame Chauchat ngồi rũ xuống, mềm oặt, lưng cong, hai vai thõng về phía trước, và trên hết còn giữ đầu chồm ra, đến nỗi đốt xương nơi gáy trồi lên ở khoảng cổ khoét của chiếc áo cánh trắng. Pribislav cũng đã giữ đầu na ná như thế; nhưng cậu ta từng là một học sinh gương mẫu, sống một đời danh dự (dẫu đó không phải là lý do khiến Hans Castorp mượn cây bút chì của cậu), trong khi thật rành rành rằng cái dáng buông tuồng của Madame Chauchat, lối quăng cửa của nàng, cái nhìn bất kể của nàng đều liên quan đến bệnh tật của nàng, vâng, trong đó bộc lộ sự không câu thúc, những lợi thế chẳng mấy danh giá nhưng quả thật gần như vô hạn mà cậu thanh niên Albin đã từng khoác lác nói tới...
Những ý nghĩ của Hans Castorp rối tung lên khi chàng nhìn cái lưng mềm oặt của Madame Chauchat; chúng thôi không còn là ý nghĩ nữa mà trở thành mộng tưởng, trong đó giọng nam trung kéo lê của Tiến sĩ Krokowski, với âm r mềm mại của ông, vọng vào như từ rất xa. Nhưng sự im lặng trong phòng, sự chú ý sâu thẳm đang mê hoặc tất cả xung quanh, đã tác động lên chàng; nó gần như đánh thức chàng khỏi cơn lơ mơ. Chàng nhìn quanh... Bên cạnh chàng ngồi người nghệ sĩ dương cầm tóc thưa, đầu ngả ra sau, miệng há ra, hai tay khoanh trước ngực mà lắng nghe. Cô giáo, cô Engelhart, ở đằng xa hơn, có đôi mắt hau háu và những mảng ửng đỏ mịn trên cả hai má, một thứ nóng bừng cũng hiện ra trên gương mặt những bà khác mà Hans Castorp để mắt tới, cả trên mặt bà Salomon ở đằng kia, bên cạnh ông Albin, và bà Magnus, vợ nhà nấu bia, chính là người bị mất đạm ấy. Trên gương mặt bà Stöhr, ngồi lùi về sau một chút, hiện lên một vẻ say mê ngu dốt đến nỗi thật đáng buồn, trong khi Levi da ngà, mắt khép hờ, đôi bàn tay xòe phẳng đặt trong lòng, tựa vào thành ghế, hẳn đã giống hệt một người chết nếu ngực nàng không nâng lên hạ xuống mạnh mẽ và đều nhịp đến thế, khiến Hans Castorp trái lại nhớ tới một pho tượng sáp đàn bà mà chàng đã từng thấy trong một nhà trưng bày kỳ vật, trong ngực có gắn máy chạy cơ khí. Nhiều vị khách chụm bàn tay rỗng vào vành tai, hoặc ít ra cũng làm bộ như thế, bằng cách giơ tay lên lưng chừng tới tai, như thể giữa động tác họ đã đông cứng lại vì chăm chú. Công tố viên Paravant, một người đàn ông nước da nâu sạm, nom như có sức lực nguyên sơ, thậm chí còn lấy ngón trỏ lắc lắc một bên tai mình cho nó thính hơn, rồi lại chìa tai ấy ra trước dòng thao thao của Tiến sĩ Krokowski.
Tiến sĩ Krokowski đang nói gì thế nhỉ? Ông đang lần theo mạch tư tưởng nào? Hans Castorp thu góp trí óc mình để theo kịp, điều mà chàng không làm được ngay, bởi chàng không nghe từ đầu, lại còn mải nghĩ về cái lưng mềm oặt của Madame Chauchat nên bỏ lỡ thêm nữa. Vấn đề là một quyền lực... quyền lực ấy... nói gọn lại, đó là quyền lực của tình yêu. Dĩ nhiên rồi! Đề tài đã nằm ngay trong nhan đề chung của cả loạt diễn thuyết, và Tiến sĩ Krokowski còn có thể nói về gì khác nữa, khi ấy vốn chính là địa hạt của ông. Dầu sao, nghe một buổi giảng về tình yêu bỗng cũng có phần kỳ quặc, khi bình thường người ta chỉ nói toàn những chuyện như hộp truyền động trong nghề đóng tàu. Người ta bắt đầu bàn một đề tài gai góc và kín đáo đến thế ra sao, vào một buổi sáng quang đãng, trước mặt cả quý bà lẫn quý ông? Tiến sĩ Krokowski bàn về nó bằng một lối diễn đạt pha trộn, vừa thi vị vừa bác học, khoa học đến tàn nhẫn mà giọng điệu lại ngân rung như hát, điều khiến chàng trai trẻ Hans Castorp cảm thấy hơi bừa bộn, mặc dầu chính đó có lẽ là nguyên do khiến các bà đỏ bừng hai má còn các ông thì lắc lắc tai mình. Đặc biệt, diễn giả luôn dùng từ “tình yêu” theo một nghĩa hơi chao đảo, đến nỗi không bao giờ người ta thật biết phải hiểu ra sao và đó là điều đạo hạnh hay điều đam mê xác thịt, khiến nảy sinh một cảm giác là lạ như say sóng. Trong đời mình Hans Castorp chưa từng nghe từ ấy được phát âm liên tiếp nhiều đến thế như ở đây, hôm nay; vâng, ngẫm kỹ ra, chàng thấy dường như chính chàng cũng chưa từng thốt nó lên hoặc nghe nó từ miệng người khác. Có thể đó là một sự lầm; dẫu sao chàng cũng không thấy sự lặp đi lặp lại quá thường xuyên ấy có lợi gì cho từ nọ. Trái lại, cái từ trơn tuột ngắn ngủi ấy, với phụ âm đầu nơi đầu lưỡi, âm môi và nguyên âm mảnh ở giữa, lâu dần khiến chàng hết sức khó chịu; với chàng nó gợi một hình dung như sữa pha loãng, một thứ gì trắng xanh, nhão nhoét, nhất là nếu đem so với tất cả những điều lực lưỡng mà xét cho cùng Tiến sĩ Krokowski đang trình bày về nó. Vì chí ít điều này đã rõ: người ta có thể nói ra những chuyện rất ghê gớm mà không xua nổi người ta ra khỏi hội trường, nếu biết bắt đầu theo cách ông ta. Ông tuyệt nhiên không chỉ bằng lòng đưa ra ánh sáng, với một thứ nhịp điệu gần như gây say, những điều ai cũng biết nhưng thường vẫn bị phủ im lặng; ông phá hủy các ảo tưởng, ông không khoan nhượng mà dành vinh dự cho nhận thức, ông không chừa một chỗ nào cho niềm tin cảm tính vào phẩm giá của mái đầu bạc và sự trong sạch thiên thần của đứa trẻ mảnh mai. Vả lại, đi với chiếc áo trường, ông còn mặc chiếc cổ áo mềm rủ và đôi dép xăng-đan trên tất len xám, tạo nên một ấn tượng có tính nguyên tắc và duy tâm, dẫu Hans Castorp cũng hơi giật mình vì thế. Dựa vào mấy quyển sách và những tờ giấy rời bày trước mặt trên bàn, lấy mọi thứ thí dụ và giai thoại để chống đỡ các luận đề của mình, thậm chí nhiều lần còn ngâm cả thơ, Tiến sĩ Krokowski nói về những hình thức đáng sợ của tình yêu, những biến thái kỳ quái, đau đớn và rờn rợn trong sự biểu hiện và quyền lực bao trùm của nó. Trong tất cả các xung năng tự nhiên, ông nói, tình yêu là thứ chao đảo nhất và dễ lâm nguy nhất, ngay từ gốc đã nghiêng về sự lạc hướng và lệch lạc tai hại, và điều ấy không có gì đáng kinh ngạc. Bởi xung lực mạnh mẽ này không hề đơn nhất; theo bản tính, nó được cấu thành từ nhiều phần, và quả thật, cho dù nó với tư cách một toàn thể có chính đáng đến đâu đi nữa, thì các thành phần làm nên nó lại toàn là những sự lệch lạc. Nhưng vì người ta, và lại là có lý, tiếp lời Tiến sĩ Krokowski, vì người ta đúng đắn mà từ chối suy ra sự lệch lạc của toàn thể từ sự lệch lạc của các thành phần, nên người ta tất nhiên buộc phải đòi nhận cho từng sự lệch lạc riêng lẻ một phần tính chính đáng của toàn thể, nếu không phải là toàn bộ tính chính đáng ấy. Đó là một đòi hỏi của logic, và ông mong thính giả ghi nhớ chặt điều đó. Chính những lực cản và những yếu tố hiệu chính của tâm hồn, những bản năng đứng đắn và trật tự, suýt nữa ông muốn nói là mang tính thị dân, dưới tác động điều hòa và hạn chế của chúng mà các thành phần lệch lạc ấy tan hòa thành cái toàn thể hữu ích và đúng quy cách, một quá trình khá thường xuyên và đáng mừng, tuy nhiên kết quả của nó (như Tiến sĩ Krokowski thêm vào bằng giọng hơi khinh khỉnh) thì bác sĩ và nhà tư tưởng chẳng cần bận tâm gì thêm. Trái lại, ở trường hợp khác, quá trình ấy không thành, chính cái quá trình đó; nó không muốn và không nên thành; và ai, Tiến sĩ Krokowski hỏi, ai có thể nói rằng biết đâu đây chẳng phải là trường hợp cao quý hơn, đắt giá hơn về phương diện tinh thần? Bởi trong trường hợp ấy, cả hai nhóm lực, cả xung lực yêu đương lẫn những xung lực đối địch kia, trong đó đặc biệt phải kể đến sự e thẹn và nỗi ghê sợ, đều mang một mức căng thẳng và nhiệt tình khác thường, vượt quá khuôn thước thị dân thông thường; và cuộc chiến diễn ra nơi các tầng sâu của tâm hồn giữa chúng ngăn cản việc rào giậu, bảo đảm và thuần hóa những xung năng lầm lạc, việc vốn dẫn tới sự hài hòa thông thường, tới đời sống tình yêu theo đúng phép tắc. Cuộc xung đột giữa những quyền lực của sự trinh khiết và tình yêu ấy, bởi đích thực vấn đề là như vậy, kết thúc ra sao? Nó dường như kết thúc bằng chiến thắng của sự trinh khiết. Nỗi sợ hãi, sự đúng mực, niềm ghê sợ đoan trang, nhu cầu run rẩy về sự thanh sạch, chúng đè nén tình yêu, giam giữ nó trong bóng tối, cùng lắm chỉ cho những đòi hỏi rối ren của nó từng phần, chứ tuyệt nhiên không phải toàn bộ sự đa dạng và sức mạnh của nó, đi vào ý thức và hành động. Nhưng chiến thắng của sự trinh khiết ấy chỉ là chiến thắng bề ngoài, một chiến thắng kiểu Pyrrhus; bởi mệnh lệnh của tình yêu không thể bị bịt miệng, không thể bị cưỡng bức, tình yêu bị đè nén không chết, nó sống, trong bóng tối và nơi sâu kín nhất nó vẫn tiếp tục mưu cầu sự thỏa mãn cho mình, nó phá vỡ lệnh cấm của sự trinh khiết và xuất hiện trở lại, dẫu trong một hình dạng đã biến đổi, không còn nhận ra... Và hình dạng cùng chiếc mặt nạ mà tình yêu không được chấp nhận và bị đè nén kia xuất hiện trở lại là gì? Tiến sĩ Krokowski hỏi vậy, mắt nhìn dọc theo các hàng ghế như thật sự mong câu trả lời từ thính giả. Vâng, giờ thì chính ông cũng còn phải tự mình nói nốt điều đó, sau khi đã nói ra biết bao điều rồi. Không ai ngoài ông biết cả, nhưng hẳn ông cũng sẽ biết luôn điều này, nhìn là thấy. Với đôi mắt rực lửa, vẻ nhợt nhạt như sáp và bộ râu đen, thêm đôi xăng-đan tu sĩ trên tất len xám, dường như chính bản thân ông, ở con người ông, đã tượng trưng cho cuộc chiến giữa sự trinh khiết và đam mê mà ông vừa nói tới. Ít ra đó là ấn tượng của Hans Castorp, trong khi chàng, như mọi người, đợi với sự căng thẳng cao độ câu trả lời cho việc tình yêu không được chấp nhận kia sẽ trở lại dưới hình thức nào. Đàn bà hầu như không dám thở. Công tố viên Paravant lại hấp tấp lắc tai mình thêm một cái nữa, để vào khoảnh khắc quyết định nó được mở ra và dễ tiếp nhận. Bấy giờ Tiến sĩ Krokowski nói: dưới hình thức bệnh tật! Triệu chứng bệnh là sự biểu hiện cải trang của tình yêu, và mọi bệnh tật đều là tình yêu đã biến hình.
Giờ thì người ta đã biết, dẫu hẳn không phải ai cũng đủ sức lĩnh hội trọn vẹn. Một tiếng thở dài đi qua khắp gian phòng, và công tố viên Paravant gật đầu tán thưởng đầy ý vị, trong khi Tiến sĩ Krokowski tiếp tục triển khai luận đề của mình. Về phần Hans Castorp, chàng cúi đầu xuống để ngẫm nghĩ điều vừa nghe và tự dò xét xem mình có hiểu nó chăng. Nhưng vì chưa quen với những mạch suy tưởng ấy, lại thêm tinh lực trí óc sa sút sau cuộc tản bộ chẳng hợp người nọ, chàng dễ dàng bị phân tâm; và quả nhiên lập tức bị phân tâm bởi cái lưng ở trước mặt cùng cánh tay đi kèm với nó, cánh tay ấy đưa lên rồi uốn ngược ra sau để bàn tay, ngay trước mắt Hans Castorp, từ phía dưới đỡ lấy mái tóc tết.
Thật ngột ngạt khi có bàn tay ấy ở ngay trước mắt như thế; người ta buộc phải nhìn nó, dù muốn hay không, phải xét nó trong mọi tì vết và vẻ người phàm bám lấy nó, như thể đang đặt nó dưới kính phóng đại. Không, bàn tay nữ sinh quá đỗi mập mạp ấy, với những móng tay cắt cẩu thả cho xong chuyện, tuyệt nhiên chẳng có gì là quý phái; thậm chí người ta còn không dám chắc các khớp ngoài của những ngón tay ấy có thật sạch sẽ hoàn toàn hay không, còn lớp da cạnh móng thì bị cắn xơ xác, điều ấy không thể có chút nghi ngờ nào. Miệng Hans Castorp méo đi, nhưng mắt chàng vẫn dính chặt vào bàn tay của Madame Chauchat, và một ký ức mơ hồ, không trọn vẹn lướt qua tâm trí chàng về điều Tiến sĩ Krokowski đã nói tới, về những lực cản thị dân chống lại tình yêu... Cánh tay thì đẹp hơn, cánh tay mềm mại uốn ra sau đầu ấy, hầu như không được che phủ, bởi thứ vải ở tay áo còn mỏng hơn vải áo cánh, chỉ là một lớp the mỏng nhất, đến nỗi cánh tay chỉ nhờ đó mà có thêm một vẻ hóa thân phảng phất, và có lẽ nếu hoàn toàn để trần thì lại kém duyên hơn. Nó vừa thon vừa đầy, lại hẳn là mát lạnh, theo mọi phỏng đoán. Đối với nó, không thể nào nói đến bất cứ lực cản thị dân nào cả.
Hans Castorp mơ màng, mắt dán vào cánh tay của Madame Chauchat. Đàn bà ăn mặc mới làm sao chứ! Họ để lộ đây đó nơi gáy và ngực mình, họ làm cánh tay mình trở nên lung linh bằng lớp the trong suốt... Khắp thế gian, họ làm vậy để khơi dậy nơi chúng ta niềm ham muốn khắc khoải. Lạy Chúa, đời sống đẹp biết bao! Nó đẹp chính nhờ những điều hiển nhiên như việc đàn bà ăn mặc quyến rũ; bởi đó vốn là điều hiển nhiên, tập quán ấy lại phổ biến và được thừa nhận đến mức người ta hầu như chẳng nghĩ tới, cứ vô thức mà chấp nhận, chẳng làm om sòm gì cả. Nhưng theo Hans Castorp, người ta vẫn nên nghĩ tới điều ấy trong thâm tâm, để vui hưởng cuộc sống cho phải phép, và nên tự nhắc mình rằng đó là một sự sắp đặt đem hạnh phúc, mà tự đáy lòng gần như mang màu cổ tích. Tất nhiên, đàn bà được phép ăn mặc như cổ tích và đem lại hạnh phúc mà không vì thế phạm vào phép tắc, ấy là vì một mục đích nhất định; vấn đề là thế hệ kế tiếp, là sự sinh sôi của giống người, đúng thế. Nhưng nếu người đàn bà lại đau ốm bên trong, đến nỗi không thích hợp với thiên chức làm mẹ thì sao, lúc đó thì sao? Khi ấy còn có nghĩa gì chăng việc nàng mặc tay áo the để khiến đàn ông tò mò về thân thể nàng, về cái thân thể đau ốm từ bên trong của nàng? Rõ ràng điều đó _không_ có nghĩa gì cả và lẽ ra phải bị coi là trái phép tắc, phải bị ngăn cấm mới đúng. Bởi việc một người đàn ông quan tâm đến một người đàn bà ốm yếu thì quyết hẳn chẳng hợp lý hơn là... à, hơn mối quan tâm thầm lặng thuở nọ của Hans Castorp đối với Pribislav Hippe. Một so sánh ngớ ngẩn, một hồi ức hơi gây bẽ bàng. Nhưng nó đã tự ý hiện ra, không được mời gọi và cũng không do chàng chủ tâm. Vả lại, dòng suy ngắm mơ màng của chàng chấm dứt ở điểm này, chủ yếu bởi sự chú ý của chàng lại bị kéo về phía Tiến sĩ Krokowski, giọng ông bỗng cất cao lên một cách khác thường. Quả thật, ông đứng đó dang rộng hai tay, đầu nghiêng xéo sau cái bàn con của mình, và bất chấp chiếc áo trường, nom gần như Chúa Giê-su trên thập giá!
Thì ra ở đoạn kết bài diễn thuyết của mình, Tiến sĩ Krokowski ra sức cổ động cho sự mổ xẻ tâm hồn và dang tay mời gọi mọi người đến với ông. Hãy đến với tôi, hỡi những ai nhọc nhằn và nặng gánh! ông nói, dĩ nhiên bằng những lời khác. Và ông không để lại chút nghi ngờ nào về niềm tin của mình rằng tất cả, không trừ một ai, đều nhọc nhằn và nặng gánh cả. Ông nói về nỗi khổ kín giấu, về thẹn thùng và u sầu, về tác dụng giải cứu của sự phân tích; ông ca ngợi việc soi rọi cái vô thức, giảng về sự chuyển hóa ngược bệnh tật thành xúc cảm được đưa vào ý thức, khuyên nhủ người ta hãy tin cậy, hứa hẹn sự lành bệnh. Rồi ông buông hai tay xuống, dựng đầu cho thẳng lại, thu gom các tài liệu in đã giúp ông trong bài nói, và vừa kê cả xấp ấy, hệt một ông giáo, bằng tay trái lên vai, ông vừa ngẩng cao đầu mà đi khuất qua hành lang.
Mọi người đều đứng dậy, xê ghế và bắt đầu chậm rãi tiến về cùng lối ra mà vị bác sĩ vừa đi khỏi hội trường. Trông họ như đang từ mọi phía dồn theo ông thành những vòng đồng tâm, chần chừ mà vô ý chí, trong một sự nhất trí mê muội, như đàn nhung nhúc đi sau người thổi sáo bắt chuột. Hans Castorp đứng lại giữa dòng người, tay nắm thành ghế của mình. Mình chỉ đến đây thăm nom thôi, chàng nghĩ; mình khỏe mạnh, tạ ơn Chúa, hoàn toàn không thuộc diện được tính đến, và bài diễn thuyết kế tiếp thì mình sẽ chẳng còn ở đây mà nghe nữa. Chàng nhìn Madame Chauchat đi ra, lén lút, đầu chồm về phía trước. Liệu nàng cũng để cho người ta mổ xẻ tâm hồn chăng? chàng nghĩ, và tim chàng bắt đầu đập mạnh... Trong lúc đó chàng không hề nhận ra Joachim đang len giữa những hàng ghế đi về phía chàng, và giật nảy mình vì thần kinh căng thẳng khi người anh em họ cất tiếng gọi.
“Cậu đến đúng vào phút chót đấy,” Joachim nói. “Cậu đi xa lắm à? Thế nào?”
"Ồ, cũng được," Hans Castorp đáp. "Phải, tôi đã đi khá xa. Nhưng tôi phải thú nhận rằng việc ấy có lợi cho tôi ít hơn tôi đã đợi. Có lẽ còn quá sớm, hoặc nói chung là sai lối. Trước mắt tôi sẽ không làm thế nữa."
Joachim không hỏi bài diễn giảng có làm chàng thích hay không, và Hans Castorp cũng không tỏ ý kiến gì về chuyện ấy. Như thể theo một sự thỏa thuận câm lặng, về sau họ cũng không nhắc đến bài diễn giảng ấy thêm một lời nào.
Ngờ vực và cân nhắc
Vậy là đến thứ Ba, vị anh hùng của chúng ta đã ở với những người trên này được trọn một tuần lễ; và bởi thế, khi từ cuộc dạo bộ buổi sáng trở về, chàng thấy trong phòng hóa đơn đặt sẵn cho mình, tờ hóa đơn tuần đầu tiên, một chứng từ thương mại trình bày sạch sẽ, niêm trong phong bì ánh lục, phần đầu in hình minh họa (trên đó tòa nhà Berghof được vẽ ra một cách hết sức quyến rũ), còn bên lề trái thì điểm thêm một trích đoạn xếp thành cột hẹp lấy từ bản giới thiệu, trong đó cũng có nhắc, bằng hàng chữ giãn cách, đến "sự điều trị tâm lý theo những nguyên tắc tối tân nhất". Bảng kê viết bằng nét chữ hoa mỹ ấy cộng lại thành đúng chừng một trăm tám mươi phrăng, trong đó tiền ăn cùng điều trị y khoa là mười hai, tiền phòng là tám phrăng một ngày; thêm vào đó khoản "phí nhập dưỡng đường" hai mươi phrăng và khử trùng phòng mười phrăng, trong khi những món lặt vặt hơn cho giặt là, bia và thứ rượu vang chàng đã dùng vào bữa tối đầu tiên làm tròn nốt tổng số.
Hans Castorp không thấy có gì phải bắt bẻ khi cùng Joachim kiểm lại phép cộng. "Phải, phần điều trị y khoa thì tôi không dùng đến," chàng nói, "nhưng đó là việc của tôi; nó đã gộp trong giá trọ, và tôi không thể đòi người ta trừ nó ra được, mà có trừ thì cũng trừ làm sao? Ở khoản khử trùng thì họ cắt một món kha khá đấy, vì với mười phrăng H₂CO, hẳn họ không thể nào đã phun hết để xông bà người Mỹ kia được. Nhưng nói chung, tôi phải bảo rằng, xét những gì người ta cung cấp ở đây, tôi thấy rẻ hơn là đắt." Thế là trước bữa điểm tâm thứ hai, họ cùng đến "Văn phòng" để thanh toán món nợ.
"Văn phòng" nằm ở tầng trệt: đi qua bên kia tiền sảnh, men theo hành lang qua chỗ gửi áo mũ và các phòng bếp, phòng soạn món, thì không thể nào lạc cửa được, nhất là vì nó còn có một tấm biển sứ đánh dấu. Ở đó Hans Castorp, với sự thích thú, thu được một cái nhìn nhất định vào trung tâm thương mại của guồng máy dưỡng đường. Đó là một văn phòng nhỏ đúng nghĩa: một cô đánh máy đang làm việc, và ba viên chức nam ngồi cúi trên những bàn giấy, còn trong gian kế bên, một quý ông có phong thái cao hơn, như trưởng phòng hay giám đốc, làm việc ở một chiếc bàn ống trụ đặt riêng, và chỉ ném qua cặp kính độc nhãn một cái nhìn lạnh lùng, khách quan, dò xét vào những khách hàng. Trong lúc người ta phục vụ họ nơi quầy, đổi tờ giấy bạc, thu tiền, viết biên nhận, họ vẫn giữ một dáng điệu nghiêm túc, nhún nhường, im lặng, thậm chí phục tùng, như những người Đức trẻ tuổi đem lòng kính sợ công quyền, công sở mà chuyển sang mọi phòng viết lách và phòng phục vụ; nhưng khi ra ngoài, trên đường đến bữa điểm tâm, rồi sau đó trong ngày, họ lại trò chuyện đôi điều về cơ cấu của viện Berghof, trong đó Joachim, với tư cách người ở lâu và am tường, trả lời các câu hỏi của người em họ.
Hofrat Behrens hoàn toàn không phải là người chủ, người sở hữu dưỡng đường, mặc dầu người ta rất có thể nhận được ấn tượng ấy. Ở trên và sau lưng ông là những thế lực vô hình, chỉ biểu hiện phần nào dưới hình thức của văn phòng kia: một hội đồng giám sát, một công ty cổ phần mà được đứng vào đó hẳn chẳng phải điều gì tệ, vì theo lời xác quyết đáng tin của Joachim, bất chấp lương bác sĩ rất cao và những nguyên tắc kinh doanh rộng rãi nhất, hằng năm nó vẫn có thể chia cho các thành viên một món cổ tức béo bở. Vậy nên vị Hofrat không phải một người độc lập; ông chẳng qua chỉ là một đại diện, một viên chức, một kẻ thân cận của những quyền lực cao hơn, dĩ nhiên là người đầu tiên và cao nhất, linh hồn của toàn bộ cơ sở, có ảnh hưởng quyết định đến cả tổ chức chung, không trừ ban quản trị, mặc dầu với tư cách y sĩ chỉ huy, ông dĩ nhiên đứng trên mọi sự bận tâm đến mặt thương mại của việc điều hành. Sinh ở miền tây bắc nước Đức, như người ta biết, nhiều năm trước ông đã đi vào địa vị này trái với ý định và dự đồ đời mình: được đưa lên đây bởi vợ ông, người mà phần di cốt từ lâu đã được nghĩa trang ở "Dorf" ôm lấy, ngôi nghĩa trang nên thơ của làng Davos kia trên sườn dốc bên phải, lui về phía cửa vào thung lũng. Bà, nếu phán theo những tấm ảnh đặt khắp nơi trong phòng ở công vụ của vị Hofrat, cũng như theo những bức sơn dầu do chính bàn tay tài tử của ông vẽ treo trên tường, hẳn đã là một dáng người rất dịu dàng, tuy mắt hơi lồi và thể chất suy nhược. Sau khi sinh cho ông hai đứa con, một trai một gái, thân thể nhẹ bẫng, bị cơn sốt nung đốt ấy đã được đưa lên những miền này, và chỉ trong ít tháng, sự hao mòn và tiêu kiệt của bà đã hoàn tất. Người ta nói Behrens, vốn tôn thờ bà như thần tượng, bị cú đánh ấy quật ngã nặng đến mức trong một thời gian đã sa vào u uất và kỳ quặc, khiến ngoài phố người ta phải để ý vì những tiếng cười khúc khích, những cử chỉ tay chân và những lời độc thoại của ông. Sau đó ông không trở về vòng đời nguyên thủy của mình nữa, mà ở lại ngay tại chỗ: hẳn cũng vì không muốn rời xa ngôi mộ; nhưng điều quyết định có lẽ là một lý do bớt tình cảm hơn, rằng chính ông cũng đã nhiễm lấy đôi phần, và theo nhận thức khoa học của bản thân thì đơn giản là ông _thuộc về_ nơi đây. Thế là ông đã thành một trong những vị thầy thuốc vốn là bạn đồng bệnh của những kẻ mà họ giám sát cuộc lưu trú; những người không chống lại bệnh tật từ địa vị tự do của sự nguyên vẹn cá nhân, độc lập với bệnh tật, mà tự mình cũng mang dấu vết của nó, một trường hợp đặc biệt, nhưng tuyệt nhiên không phải đơn chiếc, hẳn có cả ưu điểm lẫn điều đáng ngờ của nó. Tình đồng bạn giữa thầy thuốc và bệnh nhân dĩ nhiên là điều đáng hoan nghênh, và nghe cũng có lý rằng chỉ người đau khổ mới có thể làm người dẫn dắt và cứu tinh cho kẻ đau khổ. Nhưng một sự làm chủ tinh thần đích thực đối với một quyền lực liệu có thể có ở kẻ chính mình cũng nằm trong hàng nô lệ của nó chăng? Ai còn bị khuất phục, liệu có thể giải phóng? Người thầy thuốc đau ốm vẫn là một nghịch lý đối với cảm quan chất phác, một hiện tượng đầy vấn đề. Há chẳng phải có thể rằng tri thức tinh thần của ông về bệnh tật, nhờ kinh nghiệm bản thân, không được làm giàu thêm và củng cố về mặt đạo đức cho bằng bị làm vẩn đục và rối loạn? Ông không nhìn thẳng vào bệnh tật trong sự đối nghịch sáng tỏ, ông bị vướng mắc, không đứng hẳn về một phía; và với tất cả sự dè dặt cần thiết, người ta phải hỏi rằng một kẻ thuộc về thế giới bệnh tật ấy rốt cuộc có thể quan tâm đến việc chữa lành hay chỉ đơn thuần là giữ gìn người khác theo cái nghĩa mà một con người khỏe mạnh quan tâm hay không ...
Về những mối ngờ vực và cân nhắc ấy, Hans Castorp cũng có nói ra đôi điều theo cách của mình khi tán gẫu với Joachim về "Berghof" và vị giám đốc y khoa của nó; nhưng Joachim đáp lại rằng người ta nào có biết hôm nay Hofrat Behrens còn là bệnh nhân hay không, rất có thể ông đã bình phục từ lâu rồi. Cái thuở ông bắt đầu hành nghề ở đây đã xa lắm, ông từng làm riêng một thời gian và mau chóng gây tên tuổi như một nhà thính chẩn tinh tường cũng như một tay phẫu thuật phổi chắc tay. Rồi "Berghof" đã thu nạp con người ấy, và từ đó cơ sở này đã gắn chặt với ông gần tròn một thập niên... Phía đằng kia, ở cuối cánh tây bắc, là nơi ở của ông (Dr. Krokowski cũng ngụ không xa đó), và cái bà mệnh phụ quý tộc cổ xưa kia, vị nữ tu viện trưởng mà Settembrini đã nhắc đến với giọng châm chọc và Hans Castorp cho tới nay mới chỉ thoáng thấy, trông nom nếp nhà nhỏ của người góa vợ ấy. Ngoài ra vị Hofrat sống một mình, vì con trai ông đang học ở các đại học trong Đế chế Đức, còn con gái thì đã lấy chồng, cụ thể là lấy một luật sư ở phần nói tiếng Pháp của Thụy Sĩ. Chàng Behrens trẻ thỉnh thoảng về thăm vào kỳ nghỉ, điều này đã từng xảy ra một lần trong thời gian Joachim ở đây; và Joachim bảo khi ấy các bà các cô trong dưỡng đường xúc động hẳn lên, nhiệt độ tăng vọt, ghen tuông dẫn đến cãi cọ và tranh chấp trên các hành lang nằm nghỉ, còn phòng khám riêng đặc biệt của Dr. Krokowski thì đông khách hơn hẳn...
Vị bác sĩ phụ tá được dành cho một căn phòng riêng để khám tư, căn phòng ấy, cũng như phòng khám lớn, phòng thí nghiệm, phòng mổ và phòng xuyên quang, nằm ở tầng hầm sáng sủa của tòa nhà dưỡng đường. Chúng tôi nói là tầng hầm, vì chiếc cầu thang đá dẫn từ tầng trệt xuống đó quả thực gợi lên ý niệm rằng người ta đang đi vào một tầng hầm, nhưng điều ấy hầu như hoàn toàn là một sự đánh lừa. Bởi lẽ, thứ nhất, tầng trệt nằm khá cao; còn thứ hai, toàn bộ tòa nhà Berghof lại được dựng trên sườn đất dốc, bên triền núi, và những gian phòng "hầm" ấy trông ra phía trước, hướng về khu vườn và thung lũng: những hoàn cảnh ấy, có thể nói, đã cắt ngang và thủ tiêu tác dụng cùng ý nghĩa của chiếc cầu thang. Người ta cứ ngỡ mình đang từ mặt đất đi xuống theo những bậc ấy, nhưng ở dưới vẫn lại là mặt đất, hoặc cùng lắm chỉ thấp hơn đôi ba gang chân, một cảm giác khiến Hans Castorp thích thú, khi có lần buổi chiều chàng cùng đi "xuống" cõi ấy với người em họ, kẻ phải để ông quản lý nhà tắm cân cho. Ở đó ngự trị một sự sáng sủa và sạch sẽ kiểu lâm sàng; mọi thứ đều là trắng trên trắng, và những cánh cửa ánh lên dưới lớp sơn véc-ni trắng, kể cả cửa phòng tiếp bệnh của Dr. Krokowski, nơi tấm danh thiếp của vị học giả được ghim bằng một chiếc đinh bấm, và để đến đó người ta còn phải bước xuống thêm hai bậc nữa kể từ mặt hành lang, khiến căn phòng sau cánh cửa kia mang một dáng vẻ như hốc sâu. Cánh cửa ấy ở bên phải cầu thang, cuối hành lang, và Hans Castorp đặc biệt để mắt đến nó trong khi đi đi lại lại chờ Joachim. Chàng cũng thấy một người từ đó bước ra, một quý bà mới đến gần đây, tên tuổi chàng còn chưa biết, một người nhỏ nhắn, thanh tú, với những lọn tóc quăn trên trán và đôi hoa tai vàng. Nàng cúi rạp mình khi bước lên bậc thềm và vén váy, trong khi bàn tay nhỏ đeo nhẫn còn lại ép chiếc khăn lên miệng, và từ phía trên chiếc khăn ấy, trong tư thế cúi gập, nàng nhìn trân vào khoảng không bằng đôi mắt to, nhợt nhạt, hoảng loạn. Rồi nàng hấp tấp đi về phía cầu thang bằng những bước ngắn, làm lớp váy lót sột soạt; bỗng đứng khựng lại như sực nhớ ra điều gì, rồi lại líu ríu bước tiếp và biến mất vào buồng thang, vẫn khom người như thế và không rời chiếc khăn khỏi môi.
Phía sau nàng, khi cánh cửa mở ra, tối hơn hành lang trắng ấy rất nhiều: ánh sáng lâm sàng của những gian dưới này hiển nhiên không lan tới tận bên trong; trong phòng phân tích của Dr. Krokowski, như Hans Castorp nhận thấy, là thứ nửa sáng bị che khuất, một bóng chạng vạng sâu dày.
Chuyện trò bàn ăn
Trong những bữa ăn ở phòng ăn sặc sỡ, điều khiến chàng trai trẻ Hans Castorp đôi chút lúng túng là sau cuộc dạo bộ tự mình liều lĩnh thực hiện kia, chàng bị sót lại chứng run đầu kiểu các ông già, nhất là ngồi vào bàn thì nó gần như đều đặn tái phát, đã phát là không sao ngăn nổi và rất khó che giấu. Ngoài cách đỡ cằm cho ra vẻ đĩnh đạc, vốn không thể giữ mãi, chàng còn tìm ra nhiều phương kế khác để ngụy trang sự yếu đuối ấy, chẳng hạn cố giữ đầu luôn luôn cử động bằng cách chuyện trò sang phải, sang trái, hoặc khi đưa thìa súp lên miệng thì ép chặt cẳng tay trái xuống mặt bàn để tự tạo thế vững vàng; đôi khi vào quãng nghỉ chàng còn chống khuỷu tay lên bàn và tì đầu vào tay, mặc dầu trong mắt chính chàng đó là một thói vô lễ và cùng lắm chỉ có thể được chấp nhận trong một xã hội bệnh nhân ít câu nệ. Nhưng tất cả những điều ấy đều phiền toái, và suýt nữa thì đã làm cho chàng chán ghét hẳn những bữa ăn vốn dĩ chàng rất biết trân trọng, bởi những căng thẳng và những cảnh tượng mà chúng mang lại.
Nhưng sự thật là thế này, và Hans Castorp cũng biết điều ấy rất rõ, rằng hiện tượng đáng xấu hổ mà chàng đang vật lộn chống lại kia không chỉ có nguồn gốc thể xác, không chỉ bắt nguồn từ không khí nơi đây và sự gắng sức của việc thích nghi, mà còn biểu lộ một nỗi kích động bên trong và gắn trực tiếp với chính những căng thẳng cùng những cảnh tượng ấy.
Madame Chauchat hầu như lúc nào cũng đến bàn ăn muộn, và trước khi nàng tới, Hans Castorp cứ ngồi đó mà không sao để yên đôi chân được, vì chàng chờ tiếng cánh cửa kính nện vang, thứ âm thanh lúc nào cũng bất di bất dịch đi kèm với sự xuất hiện của nàng, và chàng biết rằng khi ấy mình sẽ giật nảy lên, sẽ cảm thấy mặt mình lạnh đi, điều quả nhiên lần nào cũng xảy ra. Thoạt đầu, mỗi lần như thế chàng đều phẫn nộ quay phắt đầu lại và dùng ánh mắt giận dữ theo dõi kẻ đi trễ bất cẩn kia về chỗ của nàng ở bàn Nga "tốt", thậm chí đôi khi còn ném theo nàng nửa thành tiếng, qua kẽ răng, một lời mắng nhiếc, một tiếng kêu phẫn uất tỏ ý bất bình. Giờ đây chàng thôi không làm vậy nữa, mà cúi đầu thấp hơn xuống đĩa ăn, có khi đến cắn cả môi, hoặc cố ý và một cách giả tạo quay đầu sang phía bên kia; vì chàng cảm thấy cơn giận dường như không còn thuộc về mình nữa, như thể chàng không còn thật sự tự do để quở trách, mà trái lại còn đồng lõa với điều chướng tai gai mắt ấy, còn phải cùng chịu trách nhiệm về nó trước mặt người khác; nói tóm lại, chàng thấy xấu hổ, mà sẽ không chính xác nếu nói rằng chàng xấu hổ thay cho Frau Chauchat, trái lại, chính bản thân chàng xấu hổ trước mặt mọi người, điều mà, dẫu sao, chàng cũng có thể khỏi phải làm, vì chẳng ai trong phòng buồn để ý tới tật xấu của Frau Chauchat hay nỗi xấu hổ của Hans Castorp vì nó, ngoại trừ có lẽ cô giáo Fräulein Engelhart ngồi bên phải chàng.
Sinh vật còm cõi ấy đã hiểu rằng, nhờ tính mẫn cảm của Hans Castorp đối với việc sập cửa, giữa người hàng xóm trẻ cùng bàn và người đàn bà Nga kia đã nảy sinh một mối liên hệ nào đó có tính cảm xúc; thêm nữa, tính chất của mối liên hệ ấy ra sao thì cũng chẳng mấy quan trọng, miễn là nó quả có tồn tại; và cuối cùng, sự thờ ơ giả vờ của chàng, giả vờ rất vụng vì thiếu cả luyện tập lẫn năng khiếu diễn xuất, không phải là một sự giảm nhẹ, mà là một sự tăng cường, một giai đoạn cao hơn của mối quan hệ ấy. Không hề có đòi hỏi hay hy vọng gì cho chính mình, Fräulein Engelhart cứ luôn miệng buông những lời tán tụng đầy khoái trá và vô vị lợi về Frau Chauchat, mà điều kỳ lạ là Hans Castorp, nếu không phải tức khắc thì về lâu dài, đã nhận ra và nhìn thấu hoàn toàn sự xúi bẩy kích động của cô ta, thậm chí còn thấy ghê tởm, song điều đó lại không khiến chàng kém tự nguyện hơn chút nào trong việc để mặc cho nó tác động và mê hoặc mình.
"Pardauz!" cô gái già nói. "Chính là _nàng_. Chẳng cần ngẩng lên cũng biết là ai vừa bước vào. Kìa, tất nhiên rồi, nàng đang đi đó, và nàng đi mới duyên làm sao, cứ như một con mèo con rón rén đến bát sữa! Giá mà chúng ta đổi chỗ cho nhau được để ông có thể ngắm nàng một cách tự nhiên và thoải mái như tôi. Tôi hiểu chứ, ông đâu phải lúc nào cũng muốn quay đầu nhìn theo nàng, trời biết rồi nếu nàng nhận ra thì rốt cuộc nàng sẽ tưởng tượng những gì... Bây giờ nàng đang chào người của nàng đấy... Ông thật nên nhìn thử một lần, ngắm nàng thích mắt lắm. Khi nàng mỉm cười và nói như lúc này, trên một bên má nàng hiện ra một lúm đồng tiền, nhưng không phải lúc nào cũng có đâu, chỉ khi nào nàng muốn thôi. Phải, đó là một người đàn bà đúng là vàng ngọc, một sinh vật được nuông chiều, bởi thế nàng mới xuề xòa đến vậy. Những hạng người như thế thì người ta buộc phải yêu, muốn hay không muốn, vì nếu họ làm ta bực mình bởi cái vẻ xuề xòa của họ, thì chính nỗi bực mình ấy cũng chỉ càng xui khiến ta quyến luyến họ hơn nữa, thật sung sướng biết bao khi được bực mình mà vẫn cứ phải yêu..."
Cô giáo thì thầm như vậy sau bàn tay che miệng và không để người khác nghe thấy, trong khi sắc ửng mịn như lông tơ trên đôi má gái già của cô nhắc người ta nhớ đến thân nhiệt cao hơn mức bình thường; và những lời lẽ nhục cảm của cô thấm vào Hans Castorp tội nghiệp tận tủy tận máu. Một sự thiếu tự chủ nào đó khiến chàng cần được một người thứ ba xác nhận rằng Madame Chauchat là một người đàn bà mê hoặc; mà ngoài ra, chàng trai còn muốn từ bên ngoài được khích lệ để phó mình cho những cảm xúc mà lý trí và lương tâm chàng dựng lên trước mặt những sức cản đầy quấy rầy.
Nhân tiện mà nói, xét về phương diện thông tin thì những cuộc chuyện trò ấy tỏ ra ít thành quả, vì Fräulein Engelhart, dù hết sức thiện chí, cũng chẳng biết kể gì cụ thể hơn về Frau Chauchat ngoài những điều ai trong dưỡng đường cũng biết; cô không quen bà ấy, thậm chí cũng không thể tự hào rằng có một mối quen biết chung nào với bà ấy, và điều duy nhất giúp cô có chút thế giá trước Hans Castorp là việc cô quê ở Königsberg - tức không đến nỗi quá xa biên giới Nga - và biết lơ mơ vài mẩu tiếng Nga, những ưu thế còm cõi mà Hans Castorp dẫu vậy vẫn sẵn lòng nhìn nhận như một thứ quan hệ cá nhân dây dợ xa xôi với Frau Chauchat.
"Bà ấy không đeo nhẫn," chàng nói, "không có nhẫn cưới, như tôi thấy. Thế là sao? Hẳn bà ấy là người đàn bà có chồng, bà đã nói với tôi thế mà?"
Cô giáo lúng túng, như thể bị dồn vào thế bí và phải tìm lời chống chế, đến mức cô cảm thấy mình có trách nhiệm với Frau Chauchat trước mặt Hans Castorp.
"Ông đừng nên câu nệ chuyện ấy quá," cô nói. "Chắc chắn bà ấy có chồng. Điều ấy không thể nghi ngờ. Việc bà ấy xưng là Madame không chỉ vì muốn có vẻ đĩnh đạc hơn, như các cô ngoại quốc vẫn làm khi đã hơi chín tuổi, mà tất cả chúng tôi đều biết bà ấy thực sự có một người chồng ở đâu đó bên Nga, chuyện ấy cả nơi này đều rõ. Tên nhà của bà ấy vốn là một tên khác, một tên Nga chứ không phải Pháp, loại tên đuôi -anow hay -ukow gì đó; tôi đã từng biết rồi, chỉ lại quên mất; nếu ông muốn, tôi sẽ hỏi cho ra, chắc ở đây có hơn một người biết tên ấy. Nhẫn ư? Không, bà ấy không đeo, điều ấy tôi cũng đã để ý. Lạy Chúa, có lẽ đeo không hợp với bà ấy, có lẽ làm bàn tay bà ấy trông bè ra. Hoặc bà ấy thấy đeo nhẫn cưới, một cái vòng trơn nhẵn như thế, là tiểu thị dân; chỉ còn thiếu mỗi cái giỏ đựng chìa khóa nữa thôi... không, chắc hẳn bà ấy quá phóng khoáng cho chuyện đó... Tôi biết mà, đàn bà Nga ai nấy trong bản tính đều có một cái gì tự do và rộng rãi. Vả lại một chiếc nhẫn như thế còn có cái gì thật đỗi xua đuổi và làm người ta tỉnh nguội, nó là biểu tượng của sự lệ thuộc, tôi muốn nói vậy, nó trực tiếp khiến người đàn bà mang dáng dấp nữ tu, biến họ thành hẳn một bông hoa đừng-đụng-vào-tôi. Tôi chẳng lấy gì làm lạ nếu điều ấy không hợp ý Frau Chauchat... Một người đàn bà duyên dáng đến thế, đang vào độ nở rộ của đời mình... Có lẽ bà ấy cũng chẳng có lý do, cũng chẳng có hứng, phải làm cho bất kỳ ông nào được bà đưa tay cho bắt đều lập tức cảm thấy cái ràng buộc hôn nhân của bà ấy..."
Lạy Chúa, cô giáo đã ra sức biết bao! Hans Castorp hoảng hốt nhìn thẳng vào mặt cô, nhưng cô đón nhận ánh mắt ấy bằng một thứ bối rối gần như hoang dại. Rồi cả hai im lặng một lúc để hồi sức. Hans Castorp ăn và ghìm cái run nơi đầu mình. Cuối cùng chàng nói:
"Thế còn người chồng? Ông ta chẳng ngó ngàng gì đến bà ấy sao? Chưa bao giờ lên trên này thăm bà ấy à? Rốt cuộc ông ta làm nghề gì?"
"Viên chức. Một viên chức hành chính Nga, ở một tỉnh rất xa xôi, Daghestan, ông biết đấy, nó nằm về mãi phía đông, bên kia dãy Kavkaz. Ông ta được điều đến đó. Không, tôi đã nói với ông rồi, trên này chưa từng có ai trông thấy ông ta. Thế mà bà ấy nay đã lại ở đây sang tháng thứ ba rồi."
"Vậy đây không phải lần đầu bà ấy lên đây?"
"Ồ không, đã là lần thứ ba rồi. Và giữa những lần ấy bà ấy lại ở nơi khác, ở những chỗ tương tự. Nói ngược lại thì đúng hơn, thỉnh thoảng _bà ấy_ đi thăm _ông ta_, không thường đâu, mỗi năm một lần, ở lại ít lâu. Có thể nói là họ sống xa nhau, và thỉnh thoảng bà ấy đi thăm ông ta."
"Ấy là vì bà ấy ốm mà..."
"Chắc chắn, bà ấy có bệnh. Nhưng không phải đến _thế_. Không phải ốm nặng đến mức cứ phải sống mãi trong các dưỡng đường và cách biệt chồng như vậy. Hẳn còn có những lý do khác nữa. Ở đây người ta thường cho là có. Có lẽ bà ấy không thích Daghestan bên kia Kavkaz, một miền hoang dã, xa xôi như vậy; rốt cuộc điều ấy cũng không có gì đáng lạ. Nhưng hẳn cũng phải phần nào do người chồng, nếu bà ấy hoàn toàn không thấy hợp khi sống với ông ta. Đúng là ông ta mang một cái tên Pháp, nhưng như thế thì ông ta vẫn cứ là một viên chức Nga, mà đó là một hạng người thô lỗ, ông cứ tin tôi đi. Tôi đã từng thấy một người như thế, với bộ ria quai nón màu sắt và cái mặt đỏ gay... Bọn họ cực kỳ dễ mua chuộc, rồi ai nấy lại còn mê Wutki, thứ rượu mạnh ấy, ông biết mà... Cho phải phép, họ gọi dọn một chút gì ăn, vài cây nấm muối hay một miếng cá tầm, rồi vừa ăn vừa uống - đơn giản là quá độ. Và họ gọi thế là một bữa ăn nhẹ..."
"Bà đổ hết lên đầu ông ta," Hans Castorp nói. "Nhưng ta đâu biết có khi chính tại bà ấy mà họ không sống thuận với nhau. Phải công bằng chứ. Nếu nhìn bà ấy như tôi nhìn, với cái thói tống cửa ấy... tôi không cho bà ấy là thiên thần đâu, xin bà đừng phật ý, tôi không tin bà ấy chút nào. Nhưng bà thì không vô tư, bà ngập đầu trong những thành kiến có lợi cho bà ấy rồi..."
Đôi khi chàng làm như vậy. Với một sự láu lỉnh vốn thật ra xa lạ với bản tính mình, chàng bày ra như thể sự si mê của Fräulein Engelhart đối với Frau Chauchat không mang ý nghĩa mà chàng rất rõ nó thực sự mang, mà như thể đó là một sự kiện riêng biệt, buồn cười, để chàng, Hans Castorp độc lập, có thể từ một khoảng cách lạnh lùng và khôi hài mà chòng ghẹo bà cô già. Và vì chàng chắc rằng người đồng lõa của mình sẽ để cho sự bóp méo trơ tráo ấy được chấp nhận và cam chịu, nên chàng chẳng mạo hiểm gì cả.
"Chào buổi sáng!" chàng nói. "Bà ngủ yên chứ? Tôi hy vọng bà đã mơ thấy cô Minka xinh đẹp của bà?... A, chỉ mới nhắc đến thôi mà bà đã đỏ mặt ngay rồi! Bà mê tít bà ấy mất rồi, chuyện ấy bà chớ có chối!"
Và cô giáo, quả thực đã đỏ mặt, cúi rạp xuống tách trà của mình, thì thào nơi khóe miệng bên trái:
"Ôi không, chao ôi, Herr Castorp! Ông không đẹp chút nào đâu, khi làm tôi bối rối như thế bằng những lời bóng gió của ông. Ai nấy đều nhận ra là chúng ta cứ nhằm vào bà ấy, và rằng ông nói với tôi những điều làm tôi phải đỏ mặt..."
Thật kỳ quặc cái trò hai người láng giềng bàn ăn ấy đang bày ra. Cả hai đều biết rằng họ dối trá hai lần ba lượt, rằng Hans Castorp chỉ vì muốn có cớ nói về Frau Chauchat nên mới đem bà ấy ra trêu cô giáo, nhưng đồng thời lại tìm thấy một khoái thú bệnh hoạn và gián tiếp trong việc ve vãn đùa cợt với bà cô già; còn phía cô ta thì cũng hùa theo, thứ nhất vì những động cơ mai mối, thứ hai cũng vì để vừa lòng chàng trai mà có lẽ thật tình cô đã đâm phải lòng Frau Chauchat đôi chút, và cuối cùng vì cô khốn khổ tận hưởng đôi chút cái việc được chàng trêu chọc và làm cho đỏ mặt. Cả hai đều biết những điều ấy ở chính mình và ở người kia, lại cũng biết rằng mỗi người đều biết điều đó ở chính mình và ở người kia; tất cả đều rối rắm và không sạch sẽ. Nhưng mặc dù Hans Castorp nói chung vẫn ghê tởm những chuyện rối rắm và không sạch sẽ, và trong trường hợp này chàng cũng thấy ghê tởm, chàng vẫn cứ tiếp tục bì bõm trong thứ nguyên tố đục ngầu ấy, tự trấn an rằng chàng chỉ là khách trên này, chẳng bao lâu nữa sẽ lại xuống núi. Với một vẻ khách quan gượng gạo, chàng ra bộ sành sỏi mà phê bình ngoại hình người đàn bà "uể oải" ấy, xác nhận rằng nhìn chính diện thì bà ta rõ ràng trẻ hơn và đẹp hơn khi nhìn nghiêng, rằng hai mắt đặt cách nhau quá xa và dáng điệu còn nhiều điều phải chê, bù lại cánh tay lại đẹp và "mềm mại về đường nét". Và khi nói như thế, chàng cố giấu cái run nơi đầu mình, nhưng rồi chẳng những phải nhận ra rằng cô giáo đã nhận thấy nỗ lực vô ích ấy của chàng, mà còn hết sức chán ghét khi nhận ra rằng chính cô ta cũng đang run đầu. Việc chàng gọi Frau Chauchat là "cô Minka xinh đẹp" cũng chỉ là chính trị và một thứ láu lỉnh gượng gạo mà thôi; vì nhờ thế chàng có thể hỏi tiếp:
"Tôi cứ nói 'Minka', nhưng thực ra bà ấy tên là gì nhỉ. Ý tôi là tên riêng. Si mê bà ấy đến mức không thể chối cãi như bà, hẳn bà nhất định phải biết tên riêng của bà ấy chứ."
Cô giáo nghĩ ngợi.
"Khoan đã, tôi biết mà," cô nói. "Tôi đã từng biết. Có phải là Tatjana không? Không, không phải thế, cũng không phải Natascha. Natascha Chauchat ư? Không, tôi không nghe là thế. À, tôi nhớ ra rồi! Tên bà ấy là Awdotja. Hoặc dẫu sao cũng là một cái tên na ná như thế. Vì chắc chắn không thể là Katjenka hay Ninotschka được. Quả thật là tôi quên mất tiêu rồi. Nhưng nếu điều ấy làm ông quan tâm thì tôi có thể hỏi ra rất dễ dàng."
Quả nhiên, ngay hôm sau cô đã biết tên. Cô thốt ra cái tên ấy trong bữa trưa, đúng lúc cánh cửa kính sầm mạnh vào ổ khóa. Frau Chauchat tên là Clawdia.
Hans Castorp thoạt tiên không hiểu ngay. Chàng bắt người ta nhắc lại cái tên ấy và đánh vần nó, rồi mới nắm bắt được. Sau đó chàng lặp lại nó nhiều lần, vừa nói vừa nhìn sang Frau Chauchat bằng đôi mắt đỏ gân, như thể đem cái tên ấy ướm thử vào bà.
"Clawdia," chàng nói, "vâng, hẳn bà ấy phải mang cái tên như thế, khá khớp đấy." Chàng không che giấu niềm vui về hiểu biết thân mật này, và từ đó chỉ còn nói "Clawdia" mỗi khi muốn nói tới Frau Chauchat. "Clawdia của bà đang vo bánh mì thành viên kìa, tôi vừa thấy đấy. Như thế không đẹp lắm." - "Còn tùy ai làm," cô giáo đáp. "Clawdia thì hợp."
Phải, những bữa ăn trong phòng có bảy chiếc bàn mang một sức quyến rũ lớn lao nhất đối với Hans Castorp. Chàng lấy làm tiếc mỗi khi một bữa chấm dứt, nhưng điều an ủi của chàng là chỉ rất ít lâu sau, trong hai giờ hay hai giờ rưỡi nữa thôi, chàng lại sẽ ngồi ở đây; và khi lại ngồi ở đây rồi, thì như thể chàng chưa từng đứng dậy. Giữa hai lần ấy có gì? Không có gì cả. Một cuộc dạo ngắn tới con suối hoặc sang khu Anh, một chút nghỉ ngơi trên ghế. Đó không phải là một gián đoạn nghiêm trọng, không phải là một chướng ngại đáng phải coi nặng. Khác hẳn nếu ở giữa có công việc, có những lo âu và nhọc nhằn nào đó chen vào, những thứ trong tinh thần không dễ gì trông suốt và bỏ qua. Nhưng đó lại không phải trường hợp của cuộc sống được sắp đặt khôn khéo và dễ chịu ở "Berghof". Mỗi khi rời một bữa ăn chung, Hans Castorp có thể gần như ngay tức khắc hướng niềm chờ đợi sang bữa kế tiếp, với điều kiện rằng "mong chờ" có phải là từ đúng cho cái lối đợi chờ mà chàng hướng tới cuộc lại được cùng ngồi với người đàn bà ốm Clawdia Chauchat hay không, hay nó là một từ quá nhẹ bẫng, quá vui vẻ, ngây ngô và tầm thường. Có thể người đọc chỉ sẵn lòng xem những từ như thế, tức những từ vui vẻ và tầm thường, là thích hợp và được phép dùng để chỉ con người cùng đời sống nội tâm của Hans Castorp; nhưng xin nhắc rằng, với tư cách một thanh niên có lý trí và lương tâm, chàng không thể đơn giản mà "mong chờ" được cái nhìn ngắm và sự gần gũi của Frau Chauchat, và bởi vì ta cần phải biết điều ấy, nên ta xác nhận rằng nếu có ai đưa từ đó ra cho chàng, chàng hẳn sẽ nhún vai mà bác bỏ.
Phải, chàng đã trở nên kiêu kỳ đối với một số phương tiện biểu đạt nào đó - đó là một chi tiết đáng được ghi lại. Chàng đi đi lại lại, trong khi hai má nóng ran một thứ hơi nóng khô, và khe khẽ hát, hát vào trong mình, bởi tình trạng của chàng mang tính âm nhạc và mẫn cảm. Chàng ngân nga một khúc hát con con, chẳng biết đã nghe ở đâu và khi nào, trong một buổi tụ hội hay một buổi hòa nhạc từ thiện nào đó, do một giọng nữ cao mảnh cất lên, và nay bỗng tìm thấy nó ở trong mình - một thứ ngây ngô dịu dàng, mở đầu như sau:
"Biết bao lần, kỳ diệu thay, một lời của em chạm đến tôi,"
và chàng toan thêm:
"lời từ môi em thốt ra và tìm đến trái tim tôi!" -
thì bỗng chàng nhún vai, nói "nực cười", và gạt khúc hát dịu dàng ấy ra xa như một thứ nhạt nhẽo, ủy mị ngớ ngẩn - gạt nó đi với một vẻ u sầu và nghiêm khắc nào đó. Một khúc hát thiết tha như thế, hẳn có thể làm vừa lòng và thỏa mãn một chàng trai nào đó đã, theo một lối chính đáng hơn, yên ổn hơn và có triển vọng hơn, "trao trái tim mình", như người ta vẫn nói, cho một cô ngỗng khỏe mạnh nào đó dưới kia nơi miền đồng bằng, và giờ đây phó mặc cho những cảm xúc chính đáng, có triển vọng, hợp lẽ và về căn bản là vui vẻ của mình. Đối với chàng, và đối với mối "quan hệ" của chàng với Madame Chauchat - chữ "quan hệ" là do chàng dùng, chúng tôi không chịu trách nhiệm về nó - thì một bài thơ nho nhỏ như thế nhất định là không thích hợp; ngồi trong ghế nằm nghỉ, chàng thấy mình bị thúc đẩy phải phán một lời thẩm mỹ: "ngớ ngẩn!" về nó, rồi ngắt ngang ở giữa chừng mà chun mũi, mặc dù chàng cũng chẳng biết đặt vào chỗ ấy một cái gì thích hợp hơn.
Nhưng có một điều đem lại cho chàng sự thỏa mãn, khi chàng nằm và lắng nghe trái tim mình, trái tim thể xác của mình, đang đập gấp và nghe rõ trong sự im lặng - cái im lặng theo đúng nội quy của nhà, ngự trị khắp "Berghof" trong thời gian liệu pháp nằm nghỉ chính và nằm ngủ. Trái tim chàng đập bướng bỉnh và xâm lấn, đúng như nó vẫn gần như thường xuyên làm kể từ khi chàng lên trên này; tuy nhiên dạo gần đây Hans Castorp bớt lấy đó làm chướng hơn hồi những ngày đầu. Giờ đây không thể nói nó tự tiện đập, vô cớ và không dính dáng gì đến linh hồn nữa. Một sự liên hệ như thế đã có, hoặc ít nhất cũng không khó mà thiết lập; người ta có thể rất tự nhiên gán cho hoạt động cơ thể bị kích động ấy một chuyển động tâm tình đủ để biện minh. Hans Castorp chỉ cần nghĩ đến Frau Chauchat - và chàng vẫn nghĩ đến bà - là chàng đã có ngay cảm xúc tương ứng với nhịp tim dồn dập ấy.
Nỗi sợ dâng lên. Về hai người ông và chuyến đi thuyền trong ánh chạng vạng
Thời tiết thật tệ đến buồn cười - về phương diện này Hans Castorp chẳng gặp may mắn gì với kỳ lưu lại ngắn ngủi của mình ở vùng này. Tuyết thì không hẳn rơi, nhưng mưa nặng nề và xấu xí kéo dài nhiều ngày, sương mù dày đặc tràn đầy thung lũng, và những cơn dông thừa thãi đến nực cười - vì trời vốn đã lạnh đến mức trong phòng ăn người ta còn phải đốt lò - cứ trút xuống cùng tiếng vang lăn đi chậm chạp và rề rà.
"Tiếc thật," Joachim nói. "Anh đã nghĩ là chúng ta sẽ mang bữa sáng lên Schatzalp hoặc làm một chuyến gì đó. Nhưng xem ra chuyện ấy không thành. Hy vọng tuần cuối của em sẽ khá hơn."
Nhưng Hans Castorp đáp:
"Thôi cứ mặc. Em chẳng thiết tha gì những cuộc đi đây đi đó. Cuộc đầu tiên của em đã chẳng làm em dễ chịu mấy. Em hồi sức tốt nhất khi cứ sống trôi theo ngày tháng như thế, không cần nhiều thay đổi. Thay đổi là dành cho những người ở lâu năm. Còn em với ba tuần của mình, em cần gì thay đổi."
Đúng là như vậy, chàng cảm thấy mình ngay tại chỗ này đã được lấp đầy và bận bịu. Nếu chàng có nuôi hy vọng nào, thì cả sự thỏa nguyện lẫn nỗi thất vọng đều nở ra cho chàng ở đây, chứ không phải trên một Schatzalp nào đó. Điều làm chàng khổ sở không phải là chán nản; trái lại, chàng bắt đầu e rằng cái kết thúc kỳ lưu lại của mình sẽ hiện ra quá đỗi nhẹ nhõm. Tuần thứ hai đang tiến lên, chẳng bao lâu nữa hai phần ba thời gian của chàng sẽ sống hết, và hễ tuần thứ ba vừa bắt đầu là người ta đã nghĩ đến chiếc va-li. Cái sự tươi tỉnh đầu tiên trong cảm thức thời gian của Hans Castorp từ lâu đã qua rồi; những ngày đã bắt đầu bay vụt đi, và chúng làm thế, mặc dầu từng ngày một riêng lẻ lại giãn ra trong niềm chờ đợi luôn luôn được đổi mới và phồng lên bởi những trải nghiệm lặng thầm, kín giấu... Phải, thời gian là một thứ kỳ bí, quanh nó có một mối lẽ thật khó lòng nói cho rành rọt!
Có cần phải nói rõ hơn những trải nghiệm kín giấu ấy, những trải nghiệm vừa đè nặng vừa nâng bổng những ngày của Hans Castorp chăng? Nhưng ai cũng biết chúng cả, ấy hoàn toàn là những điều thông thường, với cái tính hư vô nhạy cảm của chúng, và trong một trường hợp được đặt để hợp lý hơn và có nhiều triển vọng hơn, một trường hợp mà bài ca nho nhỏ ngớ ngẩn “Sao kỳ lạ biết bao, tôi được chạm đến” có thể áp vào được, thì chúng cũng chẳng thể diễn ra khác hơn.
Không thể nào Madame Chauchat lại không nhận thấy phần nào những sợi chỉ đang căng từ một cái bàn nào đó sang phía bàn nàng; và việc nàng nhận thấy điều ấy, vâng, càng nhiều càng tốt, lại hoàn toàn nằm trong ý định không kiềm chế của Hans Castorp. Ta gọi đó là không kiềm chế, bởi chàng hoàn toàn sáng tỏ về sự phi lý của trường hợp mình. Nhưng kẻ nào đã lâm vào tình cảnh ấy, kẻ mà tình cảnh đã là hoặc bắt đầu thành ra như thế, thì muốn cho phía bên kia biết rõ trạng thái của mình, dẫu trong chuyện ấy chẳng có nghĩa lý hay lý trí gì cả. Con người là thế.
Vậy là, sau khi Frau Chauchat hai ba lần, hoặc ngẫu nhiên hoặc dưới một tác động từ lực nào đó, quay lại phía cái bàn kia trong bữa ăn và lần nào cũng chạm phải ánh mắt Hans Castorp, thì đến lần thứ tư nàng đã có chủ ý nhìn sang và lần này cũng lại gặp ánh mắt chàng. Đến lần thứ năm, tuy nàng không bắt gặp chàng trực tiếp; lúc ấy chàng vừa không ở vào vị trí canh giữ. Nhưng chàng lập tức cảm thấy nàng đang nhìn mình, và liền nhìn đáp lại nàng hăm hở đến nỗi nàng mỉm cười quay đi. Ngờ vực và ngây ngất tràn ngập chàng trước nụ cười ấy. Nếu nàng cho chàng là trẻ con, thì nàng đã lầm. Nhu cầu tinh luyện nơi chàng là rất đáng kể. Đến dịp thứ sáu, khi chàng đoán, cảm, lĩnh hội được tin tức từ bên trong rằng nàng đang nhìn sang, chàng làm bộ như đang chăm chú và hết sức bất bình ngắm một quý bà mặt nổi mụn vừa đến bên bàn chàng để chuyện trò với bà cô cố, chàng kiên gan giữ nguyên vai ấy, hẳn đến hai ba phút, và không chịu nhượng bộ cho đến khi chắc rằng đôi mắt Kirghiz đằng kia đã rời khỏi mình, một trò diễn kỳ quặc mà Frau Chauchat hẳn không những thấu suốt, mà còn _phải_ thấu suốt một cách minh nhiên, để sự tinh tế và tự chủ lớn lao của Hans Castorp khiến nàng phải ngẫm nghĩ... Sự việc đi đến như sau. Trong một quãng ngưng giữa bữa ăn, Frau Chauchat lơ đãng ngoảnh lại và đưa mắt nhìn quanh phòng. Hans Castorp đã ở đúng vị trí: ánh nhìn của họ gặp nhau. Trong khi họ nhìn nhau, người bệnh với ánh mắt dò xét mơ hồ và nhạo báng, Hans Castorp với sự cương quyết bị kích động của mình (chàng thậm chí còn nghiến răng trong khi chịu đựng ánh mắt nàng), thì chiếc khăn ăn của nàng chực tuột khỏi lòng, sắp sửa rơi xuống sàn. Co giật vì bối rối, nàng chộp lấy nó, nhưng một luồng cũng chạy xốc qua chân tay chàng, giật nửa người chàng bật khỏi ghế, và chàng mù quáng muốn lao qua khoảng không tám mét và vòng quanh một chiếc bàn chắn giữa hai người để cứu giúp nàng, cứ như thể chiếc khăn ăn kia mà chạm đến sàn thì sẽ là một tai họa... Ngay trên mặt lát, nàng còn kịp chộp được nó. Nhưng từ dáng khom người của mình, nghiêng chéo xuống đất, tay giữ chiếc khăn ở đầu mép, và với gương mặt sa sầm, rõ ràng bực bội vì cơn hoảng loạn vô lý nhỏ nhặt mà nàng đã khuất phục và, dường như, quy lỗi cho chàng, nàng còn ngoái lại nhìn chàng một lần nữa, nhận ra tư thế chực nhảy lên của chàng, cặp lông mày bị giật dựng lên của chàng, rồi mỉm cười quay đi.
Hans Castorp hân hoan đến gần như phóng túng vì biến cố ấy. Tuy nhiên, cú dội ngược đã không vắng mặt, bởi Madame Chauchat từ đó trọn hai ngày liền, tức trong suốt mười bữa ăn, hoàn toàn không ngoảnh lại phía phòng nữa, thậm chí còn bỏ cả thói lệ, vốn vẫn là nếp của nàng, “trình diện” công chúng khi bước vào. Điều đó thật cay nghiệt. Nhưng vì những sự bỏ qua ấy, không còn nghi ngờ gì nữa, đều có liên quan đến chàng, nên dẫu sao vẫn có một mối liên hệ hiện rõ, cho dù ở dạng phủ định; và chừng ấy hẳn có thể là đủ.
Chàng thấy rõ Joachim hoàn toàn có lý với nhận xét rằng ở đây làm quen quả thật không dễ, trừ với bạn cùng bàn. Bởi trong một giờ ngắn ngủi duy nhất sau bữa tối, cái giờ mà một thứ tính xã giao nào đó vẫn đều đặn diễn ra, nhưng lắm khi co rúm lại chỉ còn hai mươi phút, thì Madame Chauchat không hề ngoại lệ, luôn luôn ngồi với đám người quanh nàng, vị ngài ngực lép, người đàn bà tóc quăn hài hước, bác sĩ Blumenkohl trầm lặng và những chàng trai vai rũ, ở tận phía trong của phòng khách nhỏ, nơi dường như dành riêng cho “bàn Nga tốt bụng”. Hơn nữa, Joachim bao giờ cũng sớm giục ra về để khỏi rút ngắn liệu pháp nằm nghỉ buổi chiều tối, như cậu nói, và có lẽ còn vì những lý do ăn ở điều độ khác mà cậu không nêu ra, nhưng Hans Castorp đoán được và tôn trọng. Chúng ta đã trách chàng là không kiềm chế; nhưng dẫu những ước muốn của chàng lúc này có hướng về đâu đi nữa, điều chàng nhắm tới không phải là một sự quen biết xã giao với Frau Chauchat, và tự đáy lòng chàng lại đồng ý với những hoàn cảnh chống lại việc ấy. Những mối liên hệ căng mơ hồ mà sự nhìn ngắm và theo đuổi của chàng đã dựng nên giữa chàng và người đàn bà Nga ấy thuộc về một bản tính ngoài xã hội, chúng chẳng buộc vào điều gì và cũng không được phép buộc vào điều gì. Bởi một mức độ khá lớn của sự khước từ về mặt xã hội, từ phía chàng, vẫn rất có thể chung sống với những mối liên hệ ấy, và sự thật rằng chàng đem ý nghĩ về “Clawdia” hòa dưới nhịp đập trái tim mình hoàn toàn chưa đủ để làm lung lay ở người cháu nội của Hans Lorenz Castorp niềm xác tín rằng với người đàn bà xa lạ này, kẻ sống xa chồng và không đeo nhẫn cưới trên ngón tay, lang bạt qua đủ mọi dưỡng địa, giữ mình sơ sài, để cánh cửa sập mạnh sau lưng, vo viên ruột bánh mì và hẳn còn gặm cả các ngón tay, rằng, nói cho đúng, trong thực tế, nghĩa là ngoài những mối liên hệ bí mật kia ra, chàng không thể có gì dính dáng với nàng, rằng những vực thẳm sâu hoắm chia lìa sự tồn tại của nàng với sự tồn tại của chàng, và trước bất cứ phê phán nào mà chàng thừa nhận, chàng cũng sẽ không thể đứng cùng nàng. Hans Castorp, một cách sáng suốt, hoàn toàn không có lòng kiêu ngạo cá nhân; nhưng một niềm kiêu hãnh thuộc loại tổng quát hơn, bắt nguồn xa hơn, quả có viết trên vầng trán và quanh đôi mắt nhìn hơi ngái ngủ của chàng, và từ đó nảy sinh cái cảm giác ưu thế mà chàng không thể cũng không muốn gạt bỏ khi nhìn vào con người và bản tính của Frau Chauchat. Điều lạ lùng là chàng ý thức về cái cảm giác ưu thế bao quát ấy đặc biệt sống động, và có lẽ nói chung là lần đầu tiên, vào một hôm chàng nghe Frau Chauchat nói tiếng Đức, nàng đứng giữa phòng sau khi bữa ăn kết thúc, hai tay đút trong túi chiếc áo len, và, như Hans Castorp nhận thấy khi đi ngang qua, đang cố gắng, trong cuộc chuyện trò với một nữ bệnh nhân khác, có lẽ là bạn cùng hành lang nằm nghỉ, dùng tiếng Đức theo một lối thật duyên dáng, tiếng mẹ đẻ của Hans Castorp, như chàng bỗng cảm thấy với một niềm tự hào chưa từng biết, tuy đồng thời không phải là không nghiêng về việc hiến tế chính niềm tự hào ấy cho nỗi ngây ngất mà cái lối vụng về xinh xắn và nói ngọng nói nghịu của nàng đã gây cho chàng.
Tóm lại: Hans Castorp coi mối quan hệ lặng thầm của mình với thành viên cẩu thả nọ của những người trên này như một cuộc phiêu lưu ngày nghỉ, một cuộc phiêu lưu mà trước tòa án của lý trí, tức lương tri lý tính của chính chàng, tuyệt nhiên không thể đòi hỏi được sự chuẩn nhận nào: chủ yếu là vì Frau Chauchat vốn bệnh tật, nhẽo nhoẹt, sốt sắng và bên trong đã bị sâu đục, một tình trạng gắn rất gần với tính khả nghi của toàn bộ sự tồn tại nơi nàng, đồng thời cũng góp phần mạnh mẽ vào những cảm giác dè dặt và giữ khoảng cách của Hans Castorp... Không, việc chủ ý tìm kiếm một sự quen biết thật sự với nàng chưa từng nảy vào đầu chàng, còn về điều kia, thì trong một tuần rưỡi nữa, khi chàng bước vào làm việc ở Tunder & Wilms, hẳn nó sẽ dẫu muốn dẫu không cũng kết thúc không để lại hậu quả.
Tuy vậy, trước mắt thì tình hình nơi chàng đã thành ra thế này: chàng bắt đầu xem những xao động tâm tình, những căng thẳng, thỏa nguyện và thất vọng nảy sinh cho chàng từ những mối liên hệ mong manh với người nữ bệnh nhân kia như chính ý nghĩa và nội dung đích thực của kỳ nghỉ lưu lại của mình, sống trọn theo chúng và để tâm trạng mình tùy thuộc vào sự hưng thịnh của chúng. Hoàn cảnh lại giúp việc nuôi dưỡng chúng một cách ưu ái nhất, bởi người ta sống gần nhau trong một không gian chật hẹp dưới một thời biểu cố định và ràng buộc mọi người, và dẫu Frau Chauchat ở trên một tầng khác, tức tầng một, làm chỗ trú ngụ (nhân đây, như Hans Castorp được cô giáo cho biết, nàng thực hiện liệu pháp nằm nghỉ trong một hành lang nằm nghỉ chung, cụ thể là hành lang trên mái, chính là nơi hôm nọ đại úy Miklosich đã tắt đèn), thì chỉ riêng năm bữa ăn, lại còn thêm mọi lúc mọi nơi khác, từ sáng đến tối, cũng đã tạo nên khả thể, vâng, cả tính tất yếu, của những cuộc gặp gỡ. Và cả điều này nữa, cũng như điều kia, rằng chẳng có mối lo toan hay công việc nhọc nhằn nào che khuất triển vọng, Hans Castorp thấy là thú lắm, dù sự bị nhốt kín như vậy, cùng với cái ngẫu nhiên thuận lợi ấy, đồng thời cũng có một cái gì gây ngột ngạt.
Song chàng còn giúp thêm một chút nữa, đem cả sự tính toán và cái đầu của mình phụng sự cho việc ấy, để cải thiện vận may. Vì Frau Chauchat có thói quen đến bàn trễ, nên chàng cũng chủ ý đến trễ để gặp nàng dọc đường. Chàng chậm chạp trong việc sửa soạn, chưa xong khi Joachim bước vào đón chàng, để ông anh em đi trước và nói mình sẽ theo ngay. Được bản năng của tình trạng mình mách bảo, chàng chờ một khoảnh khắc nào đó mà chàng thấy là đúng, rồi vội vã đi xuống tầng một, ở đó chàng không dùng cầu thang nối tiếp cầu thang đã đưa mình xuống, mà đi dọc hành lang gần đến tận cuối, tới chiếc cầu thang kia, cái cầu thang nằm gần một cánh cửa phòng từ lâu đã quen biết, ấy là cửa phòng số 7. Trên con đường ấy, dọc hành lang, từ cầu thang này sang cầu thang kia, có thể nói mỗi bước chân đều là một cơ may, bởi bất cứ lúc nào cánh cửa nọ cũng có thể mở ra, và quả nó đã mở ra nhiều lần: sầm một tiếng, nó khép lại sau Frau Chauchat, trong khi bản thân nàng bước ra không một tiếng động và lặng lẽ lướt về phía cầu thang... Thế là nàng đi trước chàng và một tay đỡ tóc, hoặc Hans Castorp đi trước nàng và cảm thấy ánh mắt nàng trên lưng mình, trong khi chàng có cảm giác một cơn co giật chạy trong tay chân và một luồng kiến bò trườn dọc sống lưng, nhưng vì muốn làm bộ trước mặt nàng nên lại ra dáng như chẳng hề biết gì về nàng và đang sống cuộc đời riêng của mình trong một nền độc lập cường tráng, chàng dúi tay vào túi áo khoác và lăn vai một cách hoàn toàn thừa thãi, hoặc khạc giọng dữ dội rồi lấy nắm tay đấm lên ngực, tất cả chỉ để bày tỏ sự thản nhiên tự tại của mình.
Hai lần chàng còn đẩy sự tinh quái ấy đi xa hơn nữa. Sau khi đã ngồi vào chỗ ở bàn ăn, chàng bỗng nói với vẻ kinh hãi và bực bội, đồng thời sờ soạng người mình bằng cả hai tay: “Kìa, mình quên khăn tay rồi! Bây giờ lại phải nhọc công lên trên một chuyến nữa.” Và chàng quay trở lại, để chàng và “Clawdia” _gặp nhau_, điều này quả vẫn là một cái gì khác hẳn, nguy hiểm hơn và có những kích thích sắc bén hơn, so với việc nàng đi trước hay đi sau chàng. Lần đầu chàng thực hiện cái mưu mẹo ấy, nàng tuy có dùng mắt đo chàng từ xa, mà lại rất không dè dặt và không chút ngượng ngùng, từ đầu đến chân, nhưng khi đến gần thì lại thờ ơ quay mặt đi và cứ thế đi qua, thành thử kết quả của cuộc chạm mặt ấy không đáng được đánh giá cao. Nhưng lần thứ hai, nàng đã nhìn chàng, và không chỉ từ xa, nàng nhìn chàng suốt, suốt toàn bộ diễn biến, nhìn thẳng và thậm chí hơi tối sầm vào mặt chàng, và khi đi lướt qua còn ngoái đầu lại nhìn chàng nữa, việc ấy xuyên qua tận xương tủy chàng Hans Castorp tội nghiệp. Tuy nhiên, cũng không nên thương hại chàng, vì chàng đâu có muốn khác, và chính chàng đã tự tay bày đặt mọi chuyện. Nhưng cuộc gặp ấy đã nắm lấy chàng một cách dữ dội, trong khi nó diễn ra cũng như, nhất là, về sau; bởi chỉ khi mọi sự đã qua rồi, chàng mới thấy rõ thực sự nó đã là thế nào. Chưa bao giờ chàng có gương mặt Frau Chauchat ở gần mình đến thế, hiện ra trước mình rõ rành trong từng chi tiết đến thế: chàng đã có thể phân biệt những sợi lông tơ ngắn tách ra từ bím tóc vàng của nàng, ánh một chút sắc đỏ kim loại và quấn đơn giản quanh đầu, và giữa gương mặt chàng với gương mặt nàng, trong cái cấu tạo kỳ lạ mà lại từ lâu đã quen thuộc đối với chàng ấy, chỉ cách nhau vài gang tay, một cấu tạo làm vừa ý chàng hơn hết thảy mọi thứ trên đời: một cấu tạo xa lạ và có cá tính (vì dường như chỉ cái gì xa lạ mới có cá tính đối với ta), mang vẻ ngoại lai phương bắc và đầy bí nhiệm, mời gọi được tìm hiểu, bởi những đường nét và tỷ lệ của nó không dễ xác định. Có lẽ điều quyết định là sự nổi bật của phần gò má cao: nó ép lên đôi mắt nằm thấp khác thường, xa nhau khác thường, và đẩy chúng hơi xếch đi, trong khi đồng thời cũng là nguyên nhân của chỗ lõm mềm nơi hai má, mà đến lượt nó, về phần mình và một cách gián tiếp, lại tạo nên vẻ đầy đặn hơi bĩu của đôi môi. Nhưng trên hết là chính đôi mắt kia, những đôi mắt Kirghiz hẹp và, theo Hans Castorp thấy, đúng là mê hoặc tuyệt đối ấy, màu của sơn lam xám hay xám lam nơi những dãy núi xa, và đôi khi, ở một cái liếc xéo nào đó vốn không nhằm để nhìn thấy, có thể tối lại hoàn toàn thành một vẻ đêm sương che mờ theo một cách tan chảy, đôi mắt của Clawdia, đã nhìn chàng từ cự ly gần một cách không dè dặt và hơi tối sầm, và về vị trí, màu sắc, biểu cảm lại giống đôi mắt của Pribislav Hippe một cách nổi bật và đáng kinh hãi đến như vậy! “Giống” thậm chí còn không phải là chữ đúng, đó chính là cùng một đôi mắt; và cả bề ngang của nửa trên khuôn mặt, chiếc mũi hơi tẹt, mọi thứ, trừ làn da trắng ửng đỏ, màu hồng hào khỏe mạnh của đôi má, mà ở Frau Chauchat dĩ nhiên chỉ giả vờ sức khỏe và, như ở tất cả những người trên này, chẳng qua cũng chỉ là sản phẩm bề mặt của liệu pháp nằm nghỉ ngoài trời, mọi thứ đều hoàn toàn giống Pribislav, và chẳng khác nào hồi ấy cậu ta đã nhìn chàng khi hai người lướt qua nhau trong sân trường.
Điều đó thật chấn động theo mọi nghĩa; Hans Castorp mê say cuộc gặp ấy, mà đồng thời lại cảm thấy một cái gì như nỗi sợ đang dâng lên, một sự ngột ngạt cùng loại với cái mà sự bị nhốt kín trong không gian hẹp cùng cái ngẫu nhiên thuận lợi kia gây ra nơi chàng: việc Pribislav đã bị quên lãng từ lâu nay lại gặp chàng trên này trong hình hài Frau Chauchat và nhìn chàng bằng đôi mắt Kirghiz, điều ấy cũng giống như một sự bị nhốt kín với cái gì không thể tránh hoặc không thể trốn thoát, một cái không thể trốn thoát vừa hạnh phúc vừa đáng sợ. Nó đầy hy vọng mà đồng thời cũng rờn rợn, vâng, đe dọa nữa, và một cảm giác cần được giúp đỡ chợt đến với chàng Hans Castorp trẻ tuổi, trong nội tâm chàng diễn ra những chuyển động mơ hồ và bản năng, những chuyển động có thể gọi là một sự ngó quanh, một sự lần mò và tìm kiếm sự giúp đỡ, lời khuyên và chỗ nương tựa; chàng lần lượt nghĩ đến nhiều người khác nhau, những người mà việc nghĩ đến họ có lẽ sẽ là điều hữu ích.
Bên chàng có Joachim, Joachim tốt bụng và ngay thẳng, người mà trong những tháng này đôi mắt đã mang một vẻ buồn đến thế, và đôi khi lại nhún vai một cách hất hủi, dữ dằn đến thế, điều xưa nay chàng tuyệt đối chưa từng làm, Joachim với cái “Heinrich xanh” trong túi, như Frau Stöhr vẫn gọi món dụng cụ ấy: với một bộ mặt bướng bỉnh, trơ tráo đến mức lần nào trông thấy Hans Castorp cũng kinh hãi tận đáy lòng... Vậy là Joachim trung thực ấy vẫn ở đó, quấy rầy và thúc ép Hofrat Behrens để được đi khỏi nơi này và có thể phục vụ trong “miền bằng” hay “miền đồng bằng”, như trên này người ta gọi thế giới của những kẻ mạnh khỏe với một giọng khinh thị nhẹ mà rõ. Để chóng đạt tới mục đích ấy hơn và tiết kiệm thời gian, cái thứ ở đây người ta tiêu xài phung phí đến vậy, trước mắt chàng bèn hết sức tận tâm tuân thủ phận sự dưỡng trị, dĩ nhiên là vì muốn sớm bình phục, nhưng, như Hans Castorp đôi khi cảm thấy, cũng có phần vì chính phận sự dưỡng trị, vì rốt cuộc đó cũng là một thứ bổn phận như mọi bổn phận khác, mà làm tròn bổn phận thì vẫn là làm tròn bổn phận. Bởi thế Joachim tối nào cũng đã vội rời cuộc quần tụ sau một khắc đồng hồ để đi liệu pháp nằm nghỉ, và điều đó là tốt, vì sự chuẩn xác quân nhân của chàng, theo một nghĩa nào đó, đã giúp đỡ cái đầu óc dân sự của Hans Castorp, vốn nếu không hẳn sẽ còn thích kéo dài sự góp mặt trong cuộc giao du ấy thêm nữa, một cách vô ích và vô vọng, vì còn trông chờ salon Nga nhỏ. Nhưng việc Joachim khẩn khoản lo cắt ngắn cuộc quần tụ buổi tối như thế còn có một nguyên do khác, kín đáo hơn, mà Hans Castorp hiểu rất rõ, từ khi chàng đã học được cách hiểu thật chính xác cái lối tái nhợt từng mảng của Joachim và cái kiểu méo xệch đặc biệt thảm hại của miệng chàng trong những lúc nào đó. Bởi trong những buổi quần tụ ấy hầu như lúc nào Marusja cũng có mặt, Marusja lúc nào cũng muốn cười, với viên hồng ngọc nhỏ trên ngón tay đẹp, mùi nước hoa cam và bộ ngực cao, lỗ chỗ; và Hans Castorp hiểu rằng chính hoàn cảnh đó xua Joachim đi, vì nó lôi cuốn chàng quá mức, theo một cách đáng sợ. Có phải Joachim cũng đang “bị nhốt” hay không, thậm chí còn chật chội và ngột ngạt hơn cả chính chàng nữa, bởi Marusja với chiếc khăn tay mùi cam của nàng, lại còn ngồi cùng một bàn ăn với họ năm lần mỗi ngày? Dù sao đi nữa, Joachim cũng phải bận bịu với chính mình quá nhiều, đến nỗi sự có mặt của chàng thực ra không thể giúp đỡ Hans Castorp từ bên trong tâm hồn. Cuộc đào thoát hằng ngày của chàng khỏi đám quần tụ tuy có vẻ đáng trọng, nhưng đối với Hans Castorp thì hoàn toàn không làm yên lòng; lại nữa, trong những khoảnh khắc nào đó chàng còn thấy dường như tấm gương tốt của Joachim về sự trung thành với bổn phận trong việc dưỡng trị, cũng như sự chỉ dẫn thành thạo mà chàng dành cho Hans Castorp về điều ấy, có cái gì đáng ngại.
Hans Castorp mới chưa ở tại chỗ này đủ hai tuần, nhưng đối với chàng dường như đã lâu hơn, và thời khóa biểu của những người trên này, thứ mà Joachim bên cạnh chàng tuân theo với lòng sùng tín bổn phận đến thế, đã bắt đầu mang trong mắt chàng cái dấu ấn bất khả xâm phạm, thiêng liêng và hiển nhiên, đến nỗi cuộc sống dưới miền đồng bằng, nhìn từ đây, gần như hiện ra trước chàng như một cái gì kỳ quặc và lệch lạc. Chàng đã đạt được một sự khéo léo kha khá trong cách xử trí hai tấm chăn dùng cho liệu pháp nằm nghỉ khi trời lạnh, để biến mình thành một gói vuông vức, một xác ướp thực thụ; chỉ còn thiếu một chút là chàng đã theo kịp Joachim trong sự thành thạo chắc chắn và nghệ thuật quấn chúng quanh mình cho đúng phép, và gần như chàng phải lấy làm lạ khi nghĩ rằng dưới miền bằng chẳng ai biết gì đến nghệ thuật và quy cách ấy. Phải, đó thật là kỳ lạ; nhưng đồng thời Hans Castorp lại lấy làm lạ vì chính mình thấy nó kỳ lạ, và sự bất an khiến chàng trong lòng cứ ngó quanh tìm lời khuyên và chỗ dựa lại dâng lên một lần nữa.
Chàng phải nghĩ đến Hofrat Behrens và lời khuyên ông đã cho _sine pecunia_, rằng cứ sống hoàn toàn như các bệnh nhân, thậm chí cũng phải tự đo nhiệt độ nữa, và đến Settembrini, người đã cười ha hả vào khoảng không trước lời khuyên ấy rồi trích dẫn một câu nào đó trong “Zauberflöte”. Phải, chàng thử nghĩ đến cả hai người ấy, để xem điều đó có làm mình khá hơn không. Hofrat Behrens là một người đàn ông tóc bạc, ông có thể là cha của Hans Castorp. Lại nữa, ông là người đứng đầu dưỡng đường, quyền uy cao nhất, mà quyền uy phụ thân chính là điều chàng Hans Castorp trẻ tuổi đang cảm thấy như một nhu cầu day dứt của trái tim. Thế nhưng, khi thử nghĩ như vậy, chàng vẫn không sao tưởng đến vị Hofrat với một niềm tin cậy trẻ thơ được. Ông đã chôn vợ mình tại đây, một nỗi đau từng làm ông hóa ra hơi khác thường trong một thời gian; rồi ông ở lại chốn này, vì nấm mồ ràng buộc ông, và ngoài ra còn vì chính ông cũng đã nhiễm phải một phần. Giờ điều ấy đã qua rồi chăng? Ông đã khỏe mạnh và một lòng minh bạch muốn làm cho người khác khỏe lên để họ sớm trở về miền đồng bằng và đi làm phận sự chăng? Hai má ông lúc nào cũng xanh tím, và nom thực sự cứ như ông đang bị quá nhiệt. Nhưng có thể đó chỉ là một ảo giác, chỉ do không khí gây nên sắc diện ấy: chính Hans Castorp ở đây ngày này qua ngày khác cũng luôn cảm thấy một cơn nóng khô mà vẫn không sốt, ít ra là theo chỗ chàng có thể phán đoán nếu không dùng nhiệt kế. Tuy vậy, khi nghe vị Hofrat nói chuyện, người ta đôi khi lại có thể tin vào cái quá nhiệt ấy; lối ăn nói của ông không được hoàn toàn ổn: nghe thì quả quyết, vui vẻ, thân tình, nhưng trong đó có một cái gì lạ lùng, một cái gì quá khích, nhất là nếu đồng thời xét đến hai má xanh tím, cũng như đôi mắt ướt át nom như thể ông vẫn còn đang khóc thương vợ. Hans Castorp nhớ lại điều Settembrini đã nói về “nỗi u uất” và “thói sa đọa” của vị Hofrat, và việc ông ta đã gọi Behrens là “một tâm hồn rối mù”. Có thể đó chỉ là ác ý và thói ba hoa; tuy nhiên chàng vẫn thấy rằng nghĩ đến Hofrat Behrens chẳng phải là điều gì đặc biệt làm người ta vững dạ.
Nhưng dĩ nhiên vẫn còn chính Settembrini đây, con người đối lập, kẻ ba hoa và “_homo humanus_”, như ông ta tự gọi mình, kẻ đã dùng bao lời lẽ căng phồng mà trách chàng vì đã gọi bệnh tật và ngu độn gộp lại là một mâu thuẫn và một thế lưỡng nan đối với tình cảm con người. Ông ta thì ra sao? Và việc nghĩ đến ông ta có phải là điều bổ ích chăng? Hans Castorp quả có nhớ, trong nhiều giấc mộng sống động quá mức đã làm đầy các đêm của chàng trên này, chàng đã bực bội thế nào trước nụ cười mảnh, khô của người Ý, cái nụ cười se lại dưới đường cong đẹp của bộ ria mép, đã mắng ông ta là tay kéo đàn quay và đã tìm cách đẩy ông ta đi, vì ở đây ông ta gây rối. Nhưng đó là trong mộng, mà Hans Castorp thức thì là một con người khác, ít buông thả hơn con người trong giấc mộng. Khi tỉnh dậy hẳn có thể là chuyện khác, có lẽ chàng làm đúng khi thử trong lòng mình với cái bản tính mới lạ của Settembrini, với tính phản kháng và phê phán của ông ta, mặc dầu nó ủy mị và lắm lời. Chính ông ta đã tự xưng là một nhà giáo dục; hiển nhiên ông ta muốn gây ảnh hưởng; mà Hans Castorp trẻ tuổi lại tha thiết mong được ảnh hưởng, dĩ nhiên điều đó không nhất thiết phải đi xa đến mức để Settembrini quyết định thay mình rằng phải xếp va-li và ra đi trước kỳ hạn, như hôm nọ ông ta đã nghiêm chỉnh đề nghị.
_Placet experiri_, chàng mỉm cười nghĩ bụng, vì chừng ấy tiếng Latin chàng vẫn còn hiểu được, mà không cần phải tự xưng là một _homo humanus_. Thế là chàng để mắt đến Settembrini và vui lòng, không phải không có sự chú ý dò xét, lắng nghe tất cả những gì ông ta đem ra nói trong những lần gặp gỡ tình cờ xảy đến giữa các cuộc đi dạo điều dưỡng theo đúng nhịp ra chiếc ghế băng ở vách núi hoặc xuống “Platz”, hay vào những dịp khác, chẳng hạn khi ăn xong Settembrini đứng dậy đầu tiên rồi trong chiếc quần kẻ ca-rô, ngậm tăm nơi môi, thong thả đi qua gian phòng với bảy chiếc bàn, để trái mọi quy tắc và lệ thường mà ghé sang bàn của hai người anh em. Ông làm thế bằng cách đứng lại trong một tư thế duyên dáng, hai chân bắt chéo, vừa nói chuyện vừa gesticuliere với chiếc tăm. Hoặc cũng có khi ông kéo một chiếc ghế lại, ngồi vào một góc giữa Hans Castorp và cô giáo bên này, hay giữa Hans Castorp và Miß Robinson bên kia, rồi nhìn chín người cùng bàn ăn nốt món tráng miệng mà dường như ông đã từ chối.
“Xin cho phép tôi được bước vào vòng tròn cao quý này,” ông nói, vừa bắt tay hai người anh em vừa bao quát những người còn lại bằng một cái cúi chào. “Tay nấu bia bên kia... chưa kể tới cảnh tượng tuyệt vọng là bà vợ của tay nấu bia ấy. Nhưng ông Magnus kia, vừa mới diễn thuyết một bài về tâm lý các dân tộc. Quý vị có muốn nghe không? ‘Nước Đức thân yêu của chúng ta quả là một trại lính lớn, đúng thế. Nhưng đằng sau đó có biết bao tính chất rắn rỏi, và tôi không đổi cái đằm chắc của chúng ta lấy sự lịch thiệp của thiên hạ đâu. Tất cả sự lịch thiệp ấy giúp gì được tôi, nếu trước sau gì tôi cũng bị lừa?’ Cái giọng ấy đó. Tôi đã tới bờ cạn sức rồi. Rồi lại còn ngồi đối diện tôi một sinh vật tội nghiệp với những đóa hồng nghĩa địa trên hai má, một cô gái già từ Siebenbürgen, suốt không ngừng nói về ‘anh rể’ của cô ta, một con người mà chẳng ai biết gì, mà cũng chẳng ai muốn biết. Tóm lại, tôi chịu hết nổi, tôi đã chuồn thẳng.”
“Ngài đã chộp lấy ngọn cờ mà tháo chạy,” Frau Stöhr nói; “điều ấy thì tôi tưởng tượng ra được.”
“Chính xác!” Settembrini kêu lên. “Ngọn cờ! Tôi thấy ở đây đang thổi một luồng gió khác, không còn nghi ngờ gì nữa, tôi đã tìm đến đúng lò rèn rồi. Thế là tôi chộp lấy ngọn cờ mà tháo chạy... Giá mà người ta biết đặt chữ như bà! Cho phép tôi được hỏi thăm những tiến triển trong sức khỏe của bà, Frau Stöhr?”
Thật khủng khiếp cái lối làm duyên của Frau Stöhr. “Lạy Chúa,” bà nói, “vẫn cứ y như thế thôi, ngài cũng tự biết mà. Người ta đi được hai bước tới trước thì lại lùi ba bước, ngồi đủ năm tháng rồi thì lão già ấy đến cộng thêm cho người ta nửa năm nữa. Ôi, toàn là cực hình của Tantalus. Cứ đẩy mãi đẩy mãi, đến lúc tưởng mình đã lên tới nơi...”
“Ôi, bà tử tế quá! Cuối cùng bà cũng ban cho Tantalus tội nghiệp một chút thay đổi! Bà cho ông ta luân phiên lăn thử tảng đá cẩm thạch trứ danh kia một lần! Đó mới thật là lòng tốt của trái tim. Nhưng này, Madame, quanh bà đang diễn ra những chuyện bí ẩn. Người ta từng nghe kể chuyện phân thân, chuyện thể vía... Trước nay tôi không tin đâu, nhưng điều đang xảy ra nơi bà làm tôi hoang mang...”
“Xem ra ngài muốn lấy tôi ra làm trò tiêu khiển.”
“Hoàn toàn không! Tôi không hề nghĩ thế! Trước hết xin bà làm yên lòng tôi về vài phương diện tối tăm trong sự tồn tại của bà, rồi ta sẽ nói đến chuyện tiêu khiển! Tối qua, quãng từ chín rưỡi đến mười giờ, tôi đi vận động một chút trong vườn, trong khi ấy tôi nhìn dọc các ban-công, ngọn đèn điện nhỏ trên ban-công của bà đang le lói xuyên qua bóng tối. Vậy tức là bà đang nằm liệu pháp nằm nghỉ, đúng với bổn phận, lẽ phải và quy định. ‘Kìa, người bệnh xinh đẹp của chúng ta đang nằm đấy,’ tôi tự nhủ, ‘và trung thành giữ đúng chỉ định để sớm được trở về trong vòng tay ông Stöhr.’ Thế mà chỉ vài phút trước đây, tôi lại nghe gì? Rằng cũng chính vào giờ ấy bà đã bị trông thấy ở _cinematógrafo_ (Herr Settembrini phát âm từ ấy theo lối Ý, với trọng âm ở âm tiết thứ tư) - ở _cinematógrafo_ dưới các mái vòm Kurhaus, rồi sau đó còn ở tiệm bánh ngọt, trước ly rượu ngọt và mấy chiếc baisers nào đó, mà lại...”
Frau Stöhr vặn vai, cười khúc khích vào khăn ăn, lấy khuỷu tay huých Joachim Ziemßen và bác sĩ Blumenkohl trầm lặng vào sườn, chớp mắt một cách láu lỉnh, thân mật giả tạo, và bằng mọi cách để lộ một sự tự đắc ngu ngốc đến đần độn. Buổi tối bà thường đem chiếc đèn bàn đang cháy đặt ra ban-công để đánh lừa sự giám sát, rồi lén lút chuồn đi, xuống Khu phố Anh tìm thú tiêu khiển cho mình. Chồng bà đợi bà ở Cannstatt. Mà vả lại bà cũng không phải là bệnh nhân duy nhất sử dụng mẹo ấy.
“... mà lại,” Settembrini nói tiếp, “bà đã thưởng thức những chiếc baisers ấy trong sự hiện diện của ai? Trong sự hiện diện của Đại úy Miklosich đến từ Bukarest! Người ta cam đoan với tôi rằng ông ấy mặc nịt ngực, nhưng lạy Chúa, ở đây điều ấy đáng kể gì! Tôi van bà, Madame, bà đã ở đâu? Bà là hai người! Hẳn là bà đã ngủ thiếp đi, và trong khi phần trần thế nơi bản thể bà cô đơn thực hiện liệu pháp nằm nghỉ, thì phần tinh thần lại vui thú trong sự bầu bạn của Đại úy Miklosich và với những chiếc baisers của ông ta...”
Frau Stöhr vặn mình và chống cự như một người bị cù.
“Không biết người ta có nên ước điều ngược lại hay không,” Settembrini nói. “Rằng bà đã một mình thưởng thức các chiếc baisers, còn liệu pháp nằm nghỉ thì thực hiện cùng Đại úy Miklosich...”
“Hi, hi, hi...”
“Các vị có biết câu chuyện hôm kia không?” người Ý bất thần hỏi. “Có người đã bị đón đi, bị quỷ bắt đi, hay nói đúng hơn là bị chính thân mẫu của cậu ta đón đi, một bà rất tháo vát, tôi thích bà ấy. Chính là cậu Schneermann trẻ, Anton Schneermann, người ngồi đằng trước kia ở bàn của Mademoiselle Kleefeld, quý vị thấy đấy, chỗ ngồi của cậu ta bỏ trống. Nó sẽ sớm có người khác lấp vào thôi, tôi chẳng lo về việc đó, nhưng Anton thì đã ra đi trên cánh bão, vèo một cái, trước cả khi cậu ta kịp nghĩ. Cậu ta ở đây đã một năm rưỡi, mới mười sáu tuổi; người ta vừa mới cộng thêm cho cậu sáu tháng nữa. Thế rồi chuyện gì xảy ra? Tôi không biết ai đã kín đáo rót vào tai Madame Schneermann một lời, nhưng dù sao bà ta cũng đã đánh hơi được lối ăn ở của cậu con trai cưng mình trong _Baccho et ceteris_. Không báo trước, bà xuất hiện trên sân khấu, một bà hộ pháp, cao hơn tôi ba cái đầu, tóc bạc và nóng nảy, không nói một lời đã giáng cho cậu Anton vài cái tát tai, túm cổ lôi đi và tống lên tàu. ‘Nếu nó phải sa đọa,’ bà nói, ‘thì ở dưới kia nó cũng sa đọa được.’ Thế là về nhà.”
Người ta cười, trong phạm vi còn ngồi nghe thấy được, vì Herr Settembrini kể chuyện rất duyên. Ông tỏ ra nắm rõ các tin tức mới nhất, mặc dù lại tỏ thái độ phê phán, giễu cợt đến thế đối với đời sống cộng đồng của những người trên này. Ông biết mọi chuyện. Ông biết tên tuổi và đại khái cả hoàn cảnh sống của những người mới tới; ông thuật lại rằng hôm qua ở người này hay người kia đã tiến hành một ca cắt bỏ xương sườn, và ông có từ nguồn tin tốt nhất rằng từ mùa thu trở đi sẽ không còn nhận các bệnh nhân có nhiệt độ trên 38,5 độ nữa. Theo lời kể của ông, đêm qua con chó nhỏ của Madame Capatsoulias ở Mytilene đã ngồi lên nút chuông tín hiệu điện trên chiếc tủ đầu giường của bà chủ, gây nên bao nhiêu chạy ngược chạy xuôi và náo động, nhất là vì người ta đã phát hiện Madame Capatsoulias không phải một mình, mà ở cùng Assessors Düstmund đến từ Friedrichshagen. Ngay cả bác sĩ Blumenkohl cũng phải mỉm cười trước câu chuyện ấy, Marusja xinh đẹp suýt nghẹt thở trong chiếc khăn tay màu cam của mình, còn Frau Stöhr thì ré lên lanh lảnh, hai tay ép chặt lấy bầu ngực bên trái.
Nhưng Lodovico Settembrini cũng nói với hai người anh em về chính mình và gốc gác của mình, hoặc là trong những cuộc dạo chơi, hoặc nhân những buổi quần tụ tối, hoặc sau bữa trưa, khi đại đa số bệnh nhân đã rời phòng ăn, còn ba quý ông vẫn ngồi lại một lúc nơi đầu bàn của họ, trong khi các cô hầu bàn dọn dẹp và Hans Castorp hút điếu Maria Mancini, thứ mà sang tuần thứ ba chàng đã bắt đầu lại nếm được ít nhiều vị cay của nó. Chú tâm dò xét, lấy làm ngạc nhiên, nhưng sẵn lòng để mình bị ảnh hưởng, chàng lắng nghe những câu chuyện của người Ý, những câu chuyện mở ra trước mắt chàng một thế giới kỳ dị, hoàn toàn mới lạ.
Settembrini nói về ông nội mình, người ở Milano là luật sư, nhưng trước hết là một nhà ái quốc lớn lao và đã từng là một thứ nhà cổ động chính trị, diễn giả và cây bút cộng tác cho báo chí định kỳ, cũng lại là một người đối lập như người cháu, chỉ có điều ông đã làm chuyện ấy theo một lối rộng lớn và táo bạo hơn. Bởi trong khi Lodovico, như chính ông cay đắng nhận xét, thấy mình bị dồn vào chỗ chỉ còn biết đả kích đời sống và mọi trò mọi vẻ ở dưỡng đường quốc tế Berghof, châm biếm phê phán nó và, nhân danh một tình người đẹp đẽ mà năng động, lên tiếng phản đối nó, thì người kia đã khiến các chính phủ phải khốn đốn, đã mưu chống Áo và Liên minh Thần thánh, những thế lực khi ấy giam giữ tổ quốc bị chia cắt của ông dưới ách nô lệ u tối, và từng là thành viên sốt sắng của vài hội kín trải khắp nước Ý, một Carbonaro, Settembrini đột nhiên hạ thấp giọng mà giải thích, như thể đến bây giờ nhắc tới điều ấy vẫn còn nguy hiểm. Tóm lại, qua lời kể của người cháu, Giuseppe Settembrini hiện ra trước hai người nghe như một con người âm u, cuồng nhiệt và chuyên khuấy động, như một kẻ cầm đầu và một tay âm mưu; và dù hết sức giữ lễ kính trọng, họ vẫn không sao xua khỏi nét mặt một vẻ ác cảm ngờ vực, thậm chí một sự ghê ngại. Dĩ nhiên, tình thế ở đây đặc biệt: điều họ nghe thuộc về rất lâu trước kia, gần cả trăm năm, đó là lịch sử; mà từ lịch sử, nhất là lịch sử xưa, cái bản chất mà ở đây họ đang nghe nói tới, hiện tượng của một lòng can đảm tuyệt vọng vì tự do và một mối căm ghét bạo chúa không thể uốn cong, vốn đã quen thuộc với họ về mặt lý thuyết, tuy họ chưa từng nghĩ sẽ chạm phải nó ở Berghof trong một sự gần gũi trực tiếp đến thế, gần gũi như với một con người. Lại nữa, như họ nghe kể, với tính cách nổi loạn và âm mưu của người ông này còn gắn liền một tình yêu lớn lao đối với tổ quốc, đất nước mà ông muốn thấy thống nhất và tự do; phải, hoạt động lật đổ của ông chính là hoa trái và dòng chảy phát ra từ mối gắn bó đáng trọng ấy; và dẫu sự pha trộn giữa nổi loạn với lòng yêu nước, đối với hai anh em họ, người này cũng như người kia, có vẻ kỳ lạ đến đâu đi nữa, bởi họ vốn quen đồng nhất tình cảm ái quốc với một ý thức giữ gìn trật tự, thì trong thâm tâm họ vẫn phải thừa nhận rằng, trong hoàn cảnh xứ sở ấy và thời đại ấy, nổi loạn có lẽ đồng nghĩa với đức hạnh công dân, còn sự tuân luật một cách trung thành lại đồng nghĩa với sự dửng dưng trì trệ trước công việc chung.
Nhưng ông nội Settembrini không chỉ là một người yêu nước Ý, mà còn là bạn đồng bào và bạn chiến đấu của mọi dân tộc khát tự do. Bởi sau khi một mưu toan bạo động kiêm đảo chính nào đó người ta đã tiến hành ở Turin và trong đó ông có dự phần cả bằng lời lẫn việc thất bại, ông chỉ vừa kịp thoát khỏi bọn tay sai của thân vương Metternich, rồi đã dùng thời gian lưu đày để chiến đấu và đổ máu ở Tây Ban Nha vì hiến pháp và ở Hy Lạp vì nền độc lập của dân tộc Hy Lạp. Cha của Settembrini đã chào đời ở đây, bởi vậy hẳn ông mới trở thành một nhà nhân văn lớn và một người say mê thời cổ đại cổ điển đến thế; mà, nói thêm, ông sinh ra từ một người mẹ mang dòng máu Đức, vì Giuseppe đã cưới cô gái ấy ở Thụy Sĩ và mang nàng theo mình trong những cuộc phiêu lưu sau đó. Về sau, sau mười năm lưu vong xa xứ, ông đã có thể trở về quê hương và hành nghề luật sư tại Milano, nhưng tuyệt nhiên không từ bỏ việc dùng lời nói và ngòi bút, thơ và văn xuôi, kêu gọi dân tộc tiến tới tự do và thiết lập nền cộng hòa thống nhất, phác thảo những cương lĩnh cải biến quốc gia bằng một khí thế say sưa gần như độc đoán, và bằng một văn phong sáng sủa tuyên cáo sự liên hiệp của các dân tộc đã được giải phóng nhằm dựng nên hạnh phúc chung. Một chi tiết mà Settembrini, người cháu, nhắc tới đã gây một ấn tượng đặc biệt nơi chàng Hans Castorp trẻ tuổi: ấy là việc ông nội Giuseppe suốt đời chỉ xuất hiện giữa đồng bào mình trong bộ tang phục màu đen, vì, như ông nói, ông là kẻ để tang cho nước Ý, tổ quốc của ông, đang mòn mỏi trong khốn khổ và nô lệ. Nghe đến đây, Hans Castorp, như trước đó chàng cũng đã mấy lần làm theo lối so sánh, phải nghĩ đến chính ông nội mình, người mà chàng cũng chỉ biết trong y phục đen suốt từ đầu đến cuối; nhưng là trong một ý nghĩa khác hẳn với người ông này: chàng nghĩ tới bộ trang phục cổ lỗ mà qua đó bản thể đích thực của Hans Lorenz Castorp, vốn thuộc về một thời đã qua, tạm thời thích ứng với hiện tại, đồng thời hé lộ sự không thuộc về hiện tại của mình, cho tới khi trong cái chết nó long trọng đi vào hình dạng chân chính và thích hợp của nó (với chiếc cổ bè xếp nếp). Quả thật đó là hai người ông khác nhau đến nổi bật biết bao! Hans Castorp suy nghĩ về điều ấy, trong khi mắt chàng dán trân trân và chàng khẽ lắc đầu một cách dè dặt, sao cho cử chỉ ấy cũng có thể được hiểu là dấu hiệu khâm phục Giuseppe Settembrini, mà cũng có thể là sự ngỡ ngàng và phủ nhận. Chàng cũng hết sức tránh việc phán xét cái xa lạ kia, mà tự buộc mình dừng lại ở sự so sánh và nhận định mà thôi. Chàng thấy cái đầu thanh mảnh của cụ Hans Lorenz trong đại sảnh, trầm ngâm nghiêng xuống vòng tròn vàng nhạt của chiếc bồn rửa tội, món gia bảo đứng yên mà lưu chuyển; miệng tròn lại, vì đôi môi cụ cấu thành âm tiết đầu "Ur", cái âm trầm đục và ngoan đạo gợi nhớ tới những nơi người ta bất giác bước đi với một dáng dấp kính cẩn, đong đưa về phía trước. Và chàng thấy Giuseppe Settembrini, tay ôm lá cờ tam sắc, thanh kiếm cong vung lên, đôi mắt đen ngước về trời như đang thề nguyền, dẫn đầu một đoàn chiến sĩ tự do xông vào đội hình của nền chuyên chế. Cả hai hẳn đều có vẻ đẹp và danh dự riêng của mình, chàng nghĩ thế, lại càng cố giữ lòng công bằng hơn vì chàng có cảm thấy mình, theo một nghĩa cá nhân hay nửa cá nhân, hơi nghiêng về một phía. Bởi ông nội Settembrini đã đấu tranh cho các quyền chính trị, còn ông nội của chính chàng, hay ít nhất là tổ tiên của ông, thì thuở ban đầu vốn đã có mọi quyền trong tay, và bọn cặn bã đã dùng bạo lực cùng lời lẽ để giằng mất chúng khỏi họ suốt bốn thế kỷ... Thế là cả hai người đều luôn vận đồ đen, người ông ở phương bắc và người ông ở phương nam, và cả hai đều làm vậy để đặt giữa mình với hiện tại tồi tệ một khoảng cách nghiêm ngặt. Nhưng người này làm thế từ lòng sùng kính, để tôn vinh quá khứ và cái chết, những thứ mà bản thể ông thuộc về; còn người kia, trái lại, làm thế vì nổi loạn và để tôn vinh một sự tiến bộ đối nghịch với lòng sùng kính. Phải, đó là hai thế giới, hay hai phương trời, Hans Castorp nghĩ, và khi như đứng giữa chúng, trong lúc ông Settembrini kể chuyện, mắt chàng dò xét khi bên này khi bên kia, thì, chàng cho rằng, điều ấy chàng đã từng trải qua một lần rồi. Chàng nhớ lại một chuyến đi thuyền cô độc vào buổi tranh tối tranh sáng trên một hồ nước ở Holstein, vào cuối hạ, vài năm trước. Khi ấy là bảy giờ, mặt trời đã lặn, còn vầng trăng gần tròn đã mọc ở phương đông trên những bờ cây bụi. Trong mười phút, khi Hans Castorp chèo lướt trên mặt nước im lặng, đã ngự trị một sự phối hợp vừa rối trí vừa mơ màng. Về phía tây vẫn là ban ngày sáng rõ, thứ ánh sáng ngày thủy tinh, tỉnh táo, dứt khoát; nhưng hễ quay đầu lại, chàng liền nhìn vào một đêm trăng cũng không kém phần rành rẽ, hết sức ma mị, giăng đầy những làn sương ẩm. Tình thế kỳ lạ ấy có lẽ kéo dài vừa tròn mười lăm phút, trước khi nó được điều hòa theo hướng nghiêng về đêm và trăng; và với một vẻ kinh ngạc vui tươi, đôi mắt vừa lóa vừa bị trêu ngươi của Hans Castorp đã đi từ thứ ánh sáng này và phong cảnh này sang thứ ánh sáng kia và phong cảnh kia, từ ngày sang đêm rồi từ đêm trở lại ngày. Chính điều ấy chàng phải nghĩ tới.
Chàng lại nghĩ tiếp rằng, với lối sống ấy và hoạt động rộng khắp đến thế, luật sư Settembrini hẳn khó lòng trở thành một bậc đại pháp gia. Nhưng nguyên tắc phổ quát của pháp quyền, như người cháu khiến người ta tin được, đã thấm nhuần ông từ thuở ấu thơ cho tới cuối đời; và Hans Castorp, tuy lúc ấy đầu óc không lấy gì làm sắc sảo và về mặt cơ thể đang bị một bữa ăn sáu món ở Berghof chiếm dụng đáng kể, vẫn cố gắng hiểu Settembrini muốn nói gì khi gọi nguyên tắc ấy là “nguồn cội của tự do và tiến bộ”. Trước nay, dưới chữ tiến bộ, Hans Castorp vẫn hiểu đại khái những chuyện như sự phát triển của các thiết bị nâng nhấc trong thế kỷ mười chín; và chàng cũng nhận thấy ông Settembrini hề không xem nhẹ những thứ ấy, mà hiển nhiên ông nội ông ta cũng không vậy. Nhà Ý đã dành cho quê hương của hai người nghe mình một sự tôn vinh lớn lao ở điểm rằng thuốc súng đã được phát minh ở đó, thứ đã biến áo giáp của chế độ phong kiến thành đống sắt vụn, cũng như máy in: vì chính nó đã khiến cho việc truyền bá dân chủ các tư tưởng, nghĩa là việc truyền bá các tư tưởng dân chủ, trở nên khả dĩ. Vậy là, xét ở phương diện này, và trong chừng mực quá khứ là vấn đề, ông ca ngợi nước Đức, dù ông cũng tin rằng công bằng mà nói thì vòng nguyệt quế phải trao cho chính đất nước mình, vì đất nước ấy, vào lúc những dân tộc khác còn lờ mờ ngủ vùi trong mê tín và nô lệ, đã là kẻ đầu tiên phất cao ngọn cờ của khai minh, giáo dưỡng và tự do. Nhưng nếu ông dành nhiều kính trọng cho kỹ thuật và giao thông, tức lĩnh vực lao động riêng của Hans Castorp, như ông đã làm ngay trong lần đầu gặp hai anh em họ bên băng ghế trên sườn dốc, thì dường như điều đó không phải vì bản thân những sức mạnh ấy, mà là vì ý nghĩa của chúng đối với sự hoàn thiện đạo đức của con người, bởi ông vui vẻ tuyên bố gán cho chúng một ý nghĩa như thế. Bằng cách ngày càng khuất phục thiên nhiên, bằng những mối liên kết nó tạo ra, bằng sự mở mang mạng đường sá và điện báo, kỹ thuật, ông nói, chinh phục những khác biệt khí hậu, và qua đó tỏ ra là phương tiện đáng tin cậy nhất để đưa các dân tộc lại gần nhau, thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa họ, khơi mở một sự điều hòa mang tính nhân bản giữa họ, phá tan thành kiến của họ và sau cùng mang lại sự liên hiệp phổ quát của họ. Loài người xuất phát từ bóng tối, sợ hãi và thù hận, nhưng trên một con đường rực sáng nó đang tiến về phía trước và đi lên hướng tới một trạng thái chung cuộc của cảm thông, của sự sáng trong nội tâm, của lòng tốt và hạnh phúc, và trên con đường ấy kỹ thuật là cỗ xe hữu hiệu nhất, ông nói vậy. Nhưng khi nói như thế, trong _một_ lần buông hơi, ông đã gộp lại những phạm trù mà từ trước đến giờ Hans Castorp chỉ quen nghĩ là ở rất xa nhau. Kỹ thuật và đạo lý! chàng nghĩ. Rồi ông ta quả nhiên nói đến Đấng Cứu Thế của Kitô giáo, đấng đã lần đầu mặc khải nguyên lý bình đẳng và hiệp nhất; rồi máy in đã mạnh mẽ thúc đẩy việc truyền bá nguyên lý ấy; và rốt cuộc cuộc cách biến quốc gia lớn lao ở Pháp đã nâng nó lên thành luật. Điều đó tác động lên chàng Hans Castorp trẻ tuổi, nếu không phải vì những lý do rõ rệt thì dù sao cũng bằng một cách hết sức rõ rệt, như một điều hỗn độn; mặc dầu ông Settembrini diễn đạt nó bằng những lời sáng sủa và chắc nịch đến thế. Có một lần, ông này kể, chỉ một lần trong đời, mà lại vào buổi đầu của tuổi trung niên rực rỡ nhất, ông nội ông đã cảm thấy hạnh phúc thật tận tim; và đó là vào thời cuộc Cách mạng Tháng Bảy ở Paris. Khi ấy ông đã công khai và lớn tiếng nói rằng rồi đây toàn thể loài người sẽ đặt ba ngày ấy của Paris bên cạnh sáu ngày sáng thế. Đến đây Hans Castorp không thể không đập tay xuống bàn và kinh ngạc tới tận đáy hồn mình. Ý nghĩ rằng ba ngày hè của năm 1830, trong đó dân Paris đã tự ban cho mình một bản hiến pháp mới, lại phải được đặt bên cạnh sáu ngày mà Đức Chúa Trời đã phân vòm trời khỏi nước và tạo dựng nên những thiên thể vĩnh cửu cùng hoa lá, cây cối, chim chóc, cá và mọi sự sống, đối với chàng quả là quá lắm; và về sau, khi chỉ còn lại riêng với người anh em họ Joachim, chàng còn nói thẳng ra thành lời rằng điều ấy thật là quá lắm, thậm chí hầu như chướng tai.
Nhưng chàng có thiện chí để cho mình bị ảnh hưởng, theo đúng cái nghĩa rằng thử nghiệm là một điều thú vị; vậy nên chàng ghìm cương sự phản đối mà lòng thành kính và gu thẩm mỹ của mình nổi lên chống lại cách Settembrini sắp xếp trật tự sự vật, bởi chàng tự nhủ rằng điều gì đối với mình có vẻ phạm thượng thì có thể gọi là táo bạo, còn điều gì làm mình cảm thấy lố bịch thì ít nhất ở đó và hồi ấy cũng có thể là lòng cao thượng và một sự tràn bờ hào hiệp: chẳng hạn như khi ông nội Settembrini gọi những chiến lũy là “ngai vàng của nhân dân” và tuyên bố rằng cần phải “thánh hiến ngọn giáo của người công dân trên bàn thờ nhân loại”.
Hans Castorp biết vì sao mình lắng nghe ông Settembrini, không phải một cách minh bạch thành lời, nhưng chàng biết. Ở đây có một cái gì như bổn phận, bên cạnh cái vô trách nhiệm ngày nghỉ ấy của người du hành và kẻ tạm trú điều dưỡng, kẻ không làm cho mình chai cứng trước bất kỳ ấn tượng nào và để cho mọi sự đến gần mình, với ý thức rằng ngày mai hoặc ngày kia mình sẽ lại giũ cánh bay đi và trở về trật tự quen thuộc: nghĩa là có một cái gì như mệnh lệnh của lương tâm, và nói cho thật chính xác, chính mệnh lệnh và lời nhắc của một thứ lương tâm không được thanh thản nào đó đã khiến chàng nghe người Ý, khi ngồi vắt chân và rít điếu Maria Mancini, hoặc khi cả ba cùng đi bộ từ Khu Anh quốc ngược lên Berghof.
Theo cách Settembrini sắp đặt và trình bày, có hai nguyên lý đang giao tranh vì thế giới: quyền lực và pháp quyền, chuyên chế và tự do, mê tín và tri thức, nguyên lý cố thủ và nguyên lý của vận động lên men, của tiến bộ. Có thể gọi một bên là nguyên lý châu Á, còn bên kia là nguyên lý châu Âu, vì châu Âu là xứ sở của phản kháng, phê phán và hành động cải biến, trong khi phần đất phương đông hiện thân cho sự bất động và tĩnh tại vô vi. Hoàn toàn không có gì phải nghi ngờ về bên nào rốt cuộc sẽ chiến thắng: ấy là bên của khai minh, của sự hoàn thiện hợp lẽ phải. Vì trên con đường sáng chói của mình, tính người đang cuốn theo ngày một nhiều dân tộc, đang chinh phục ngày một nhiều đất đai ngay trong chính châu Âu và bắt đầu tiến vào châu Á. Nhưng thắng lợi trọn vẹn của nó còn cách xa lắm, và những cố gắng lớn lao, hào hiệp của những người thiện chí, của những người đã tiếp nhận ánh sáng, vẫn còn phải được thực hiện, trước khi chỉ mới tới được cái ngày mà ngay cả ở những nước thuộc lục địa chúng ta, những nước kỳ thực chưa từng có một thế kỷ mười tám cũng chưa từng có một năm 1789, các nền quân chủ và các tôn giáo sẽ cùng nhau sụp đổ. Nhưng ngày ấy sẽ đến, Settembrini nói và mỉm cười tinh quái dưới chòm ria, nó sẽ đến, nếu không bằng đôi chân chim bồ câu thì bằng cánh đại bàng, và sẽ rạng lên như bình minh của tình huynh đệ phổ quát giữa các dân tộc dưới dấu hiệu của lý tính, khoa học và pháp quyền; nó sẽ mang tới liên minh thiêng liêng của nền dân chủ công dân, hình ảnh đối chói sáng với cái liên minh ba lần ô nhục kia của các vương hầu và các nội các, mà ông nội Giuseppe từng là kẻ thù riêng không đội trời chung, nói gọn một lời: nền cộng hòa thế giới. Nhưng để đạt tới mục đích cuối cùng ấy thì trước hết phải đánh trúng nguyên lý châu Á, nguyên lý nô dịch của sự cố thủ, ngay ở trung tâm và mạch sống của sức kháng cự nó, tức là tại Viên. Phải giáng một đòn chí mạng vào Áo và hủy diệt nó, một là để báo thù cho quá khứ, hai là để mở đường cho sự thống trị của pháp quyền và hạnh phúc trên mặt đất.
Khúc quanh cuối cùng ấy và kết luận ấy của những lời tuôn trào êm tai từ Settembrini thì Hans Castorp chẳng còn thấy hứng thú chút nào nữa; nó làm chàng khó chịu, thậm chí chạm vào chàng một cách đau đớn như một sự hằn học cá nhân hoặc dân tộc, mỗi lần nó quay trở lại, chưa kể Joachim Ziemßen, người hễ ông người Ý đi vào luồng ấy là cau mày quay đầu đi và không nghe nữa, đôi khi còn nhắc đến bổn phận điều dưỡng hoặc tìm cách lái câu chuyện sang hướng khác. Hans Castorp cũng không cảm thấy mình buộc phải chú ý đến những điều lạc hướng như thế; hiển nhiên những điều ấy nằm ngoài ranh giới của điều mà một mệnh lệnh lương tâm đã nhắc chàng thử để cho mình bị ảnh hưởng, mà còn nhắc rõ đến nỗi chính chàng, mỗi khi ông Settembrini ngồi xuống cùng họ hoặc nhập vào nhóm họ ngoài trời, lại mời ông phát biểu những ý tưởng của mình.
Những tư tưởng, lý tưởng và khuynh hướng ý chí ấy, Settembrini nhận xét, là gia truyền trong nhà ông. Bởi lẽ cả ba người, ông, cha và cháu, đều đã hiến đời mình cùng sức lực tinh thần của mình cho chúng, mỗi người theo cách riêng: người cha không kém gì cụ Giuseppe, dẫu ông không phải, như cụ, một nhà kích động chính trị và chiến sĩ tự do, mà là một học giả lặng lẽ và thanh nhã, một nhà nhân văn bên bàn viết của mình. Nhưng chủ nghĩa nhân văn là gì? Đó là tình yêu đối với con người, không gì khác, và vì thế nó cũng là chính trị, cũng là sự nổi loạn chống lại mọi thứ bôi bẩn và hạ nhục ý niệm về con người. Người ta đã trách nó là quá coi trọng hình thức; nhưng ngay cả hình thức đẹp, nó cũng chỉ vun bồi vì phẩm giá của con người, trong sự đối lập rực rỡ với thời Trung cổ, cái thời không chỉ chìm đắm trong lòng căm ghét con người và mê tín, mà còn trong một sự vô dạng đáng xấu hổ; và ngay từ thuở đầu, nó đã bênh vực cho sự nghiệp của con người, cho những lợi ích trần thế, đã bảo vệ tự do tư tưởng và niềm vui sống, và từng cho rằng trời xanh cứ để mặc cho chim sẻ là được. Prometheus! Ông ta là nhà nhân văn đầu tiên, và ông ta đồng nhất với Satanas kia, kẻ mà Carducci đã làm thơ thánh ca ca tụng... Ôi, lạy Chúa, hai cậu em lẽ ra phải được nghe lão kẻ thù của Giáo hội ở Bologna ấy đâm chọc và sấm sét chống lại sự đa cảm Cơ Đốc của phái lãng mạn! Chống lại những Thánh ca của Manzoni! Chống lại thứ thi ca bóng tối và ánh trăng của Romanticismo, thứ mà ông đã ví với “nữ tu trời xanh xanh xao Luna”! _Per Bacco_, đó quả là một khoái lạc tuyệt đỉnh! Và lẽ ra hai cậu cũng phải được nghe luôn cả cách ông, Carducci, giảng giải Dante, ông đã ca ngợi Dante như một công dân của đại đô thị, người đã bảo vệ năng lực hành động, năng lực làm đảo lộn và cải biến thế giới, chống lại khổ hạnh và sự phủ nhận thế gian. Bởi lẽ không phải cái bóng mảnh mai bệnh hoạn và huyền giáo của Beatrice mà nhà thơ đã tôn vinh bằng tên gọi “_Donna gentile e pietosa_”; trái lại, đó là tên người vợ của ông, người trong thi phẩm hiện thân cho nguyên lý của nhận thức nơi đời này, của lao động thực tiễn trong cuộc sống...
Thế là giờ đây Hans Castorp cũng đã nghe thêm điều này điều nọ về Dante, lại còn từ một nguồn tốt nhất. Chàng không hoàn toàn tin chắc vào đó, xét tính huênh hoang của kẻ chuyển đạt; nhưng dù sao thì nghe rằng Dante là một thị dân đại đô thành tỉnh táo cũng vẫn đáng nghe lắm. Rồi chàng lại nghe tiếp Settembrini nói về chính mình và giải thích rằng trong con người ông, người cháu Lodovico, những xu hướng của hai bậc tiền bối trực hệ, xu hướng công dân của người ông và xu hướng nhân văn của người cha, nay đã hợp làm một, bởi lẽ ông đã trở thành một người làm văn chương, một nhà văn tự do. Vì văn chương chẳng là gì khác ngoài chính điều ấy: nó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa nhân văn và chính trị, một sự kết hợp diễn ra càng tự nhiên hơn nữa bởi lẽ chính chủ nghĩa nhân văn tự nó đã là chính trị, và chính trị là chủ nghĩa nhân văn... Đến đây Hans Castorp vểnh tai lên và cố công hiểu cho thật rõ; bởi giờ đây chàng có thể hy vọng nhìn ra toàn bộ sự u mê không thể khai hóa của nhà nấu bia Magnussen, và hiểu được văn chương rốt cuộc còn là cái gì khác ngoài “những tính cách đẹp”. Settembrini hỏi liệu hai người nghe ông có từng nghe đến ngài Brunetto, Brunetto Latini, thư ký thành Florence vào khoảng năm 1250, người đã viết một cuốn sách về các đức hạnh và các thói xấu, hay chưa. Chính bậc thầy ấy là người đầu tiên đã trau chuốt cho dân Florence và dạy họ biết nói, cũng như nghệ thuật điều hành nền cộng hòa của mình theo các quy tắc của chính trị. “Thấy chưa, thưa các ông!” Settembrini kêu lên. “Thấy chưa!” Và ông nói về “lời”, về sự sùng bái ngôn từ, về tài hùng biện mà ông gọi là chiến thắng của tính người. Bởi lẽ ngôn từ là danh dự của con người, và chỉ có ngôn từ mới làm cho đời sống trở nên xứng đáng với con người. Không chỉ chủ nghĩa nhân văn, mà nói chung toàn bộ tính người, mọi phẩm giá con người, sự tôn trọng con người và lòng tự trọng của con người đều gắn bó không thể tách rời với ngôn từ, với văn chương (“Cậu thấy chưa,” về sau Hans Castorp nói với em họ, “thấy chưa, trong văn chương cốt ở những lời đẹp đẽ? Tớ đã nhận ra ngay rồi.”), và vì thế chính trị cũng gắn với nó, hay đúng hơn: nảy sinh từ sự liên minh, từ sự hợp nhất giữa tính người và văn chương, bởi lời đẹp sinh ra việc đẹp. “Đất nước các ông,” Settembrini nói, “cách đây hai trăm năm có một nhà thơ, một lão chuyện trò tuyệt diệu, rất coi trọng nét chữ đẹp, vì ông ta cho rằng như thế sẽ dẫn tới văn phong đẹp. Lẽ ra ông ta nên đi xa thêm một chút và nói rằng văn phong đẹp sẽ dẫn tới hành động đẹp.” Viết đẹp gần như cũng đã là nghĩ đẹp, mà từ đó đến hành động đẹp chẳng còn xa mấy. Mọi sự giáo hóa và hoàn thiện đạo đức đều bắt nguồn từ tinh thần của văn chương, tinh thần của danh dự con người này, đồng thời cũng là tinh thần của tính người và của chính trị. Vâng, tất cả những điều ấy chỉ là một, là cùng một sức mạnh và một ý niệm, và có thể gom lại trong _một_ cái tên. Tên ấy là gì? À, cái tên ấy được ghép bằng những âm tiết quen thuộc, nhưng hẳn hai cậu em đây chưa bao giờ thực sự hiểu được ý nghĩa và vẻ uy nghi của chúng, nó là: văn minh! Và khi Settembrini để cho từ ấy rời môi, ông hất bàn tay phải nhỏ nhắn vàng vọt của mình lên như một người nâng cốc chúc tụng.
Tất cả những điều ấy chàng trai trẻ Hans Castorp đều thấy là đáng nghe, tuy không hề ràng buộc gì và có phần đúng hơn chỉ là một thử nghiệm, nhưng trong mọi trường hợp vẫn là đáng nghe; và theo tinh thần ấy chàng cũng tỏ ý với Joachim Ziemßen, người lúc đó lại đang ngậm nhiệt kế trong miệng nên chỉ có thể đáp một cách không rõ ràng, rồi sau đó cũng quá bận đọc con số và ghi vào bảng để có thể phát biểu ý kiến về những quan điểm của Settembrini. Hans Castorp, như chúng ta đã nói, vui vẻ tiếp nhận chúng và mở nội tâm mình ra cho chúng khảo xét: từ đó trước hết có thể thấy rõ con người tỉnh thức khác với con người mộng mị đờ đẫn một cách có lợi biết bao, vì trong cơn mộng Hans Castorp đã không dưới một lần chửi thẳng vào mặt ông Settembrini là một gã kéo đàn thùng và đem hết sức mình xô ông ta ra khỏi chỗ, vì ông ta “quấy rầy ở đây”; còn khi tỉnh thức, chàng lịch sự và chăm chú lắng nghe ông, đồng thời với tinh thần công bằng cố gắng điều hòa và đè nén những sức kháng cự muốn nổi lên trong lòng mình chống lại các huấn thị và trình bày của người thầy. Vì quả thật không thể phủ nhận rằng trong tâm hồn chàng có những sức kháng cự nhất định đang lay động: có những sức kháng cự từ trước vốn đã sẵn có trong đó, từ nguyên thủy và từ bao giờ cũng thế, lại có những sức kháng cự đặc biệt nảy sinh từ tình thế hiện tại, từ những trải nghiệm một phần gián tiếp, một phần giấu kín của chàng với những người trên này.
Con người là gì, và lương tâm của nó dễ tự lừa dối biết bao! Nó tài tình làm sao khi còn có thể nghe ra từ chính tiếng gọi của bổn phận cả sự cho phép dành cho đam mê! Vì ý thức bổn phận, vì lẽ công bằng, vì sự quân bình mà Hans Castorp lắng nghe ông Settembrini và thiện chí cân nhắc những quan điểm của ông về lý trí, nền cộng hòa và văn phong đẹp, sẵn sàng để mình chịu ảnh hưởng bởi chúng. Nhưng chính vì vậy, sau đó chàng lại càng thấy chính đáng hơn khi một lần nữa thả cho suy nghĩ và mộng tưởng của mình tung hoành theo một hướng khác, một hướng _ngược lại_ nữa; phải, để nói thẳng toàn bộ mối ngờ vực của chúng ta, hay toàn bộ nhận thức của chúng ta, thì có lẽ chàng thậm chí chỉ lắng nghe ông Settembrini nhằm _mục đích_ giành lấy từ lương tâm một tờ giấy thông hành, cái thứ mà ban đầu nó đã không muốn cấp cho chàng. Nhưng ở phía bên kia, phía đối lập với lòng ái quốc, phẩm giá con người và nền văn chương đẹp đẽ ấy, nơi mà Hans Castorp nay tưởng như mình lại được phép hướng suy tưởng và nỗ lực tới, thì có gì, hay có ai, đang ở đó? Ở đó có... Clawdia Chauchat, mềm rũ, như gỗ mọt, và mắt Kirghiz; và khi Hans Castorp nghĩ đến nàng (mà thực ra “nghĩ đến” là một cách nói quá mực tiết chế đối với kiểu chàng hướng nội tâm mình về nàng), chàng lại thấy như mình đang ngồi trên chiếc thuyền ở cái hồ Holstein kia, và từ vùng sáng trong như thủy tinh của ban ngày nơi bờ tây, với đôi mắt ngơ ngác và lóa đi, nhìn sang đêm trăng giăng tơ sương của bầu trời phương đông.
Nhiệt kế
Tuần của Hans Castorp ở đây tính từ thứ Ba này đến thứ Ba khác, bởi lẽ chàng đã đến vào một ngày thứ Ba. Việc chàng thanh toán hóa đơn tuần thứ hai ở văn phòng đã lùi lại được vài hôm rồi, hóa đơn tuần khiêm tốn vào khoảng 160 franc, khiêm tốn và rẻ, theo nhận định của chàng, ngay cả nếu người ta hoàn toàn không tính đến những cái vô giá của cuộc lưu trú nơi đây, chính vì chúng không thể định giá, cũng không tính đến một số khoản cung ứng nào đó vốn hẳn có thể tính ra tiền nếu muốn, như chẳng hạn nhạc trị liệu nửa tháng một lần và các bài thuyết trình của bác sĩ Krokowski, mà chỉ duy nhất và hoàn toàn tính đến việc ăn ở thực sự theo kiểu nhà trọ, chỗ nghỉ tiện nghi, và năm bữa ăn đồ sộ quá mức.
“Không nhiều đâu, trái lại còn rẻ, cậu không thể than phiền rằng người ta bắt cậu trả quá mức trên này được,” người khách trọ nói với người cư trú lâu dài. “Vậy là cậu cần chừng 650 franc một tháng cho ăn ở, mà trong đó đã gồm cả điều trị y khoa rồi. Được. Cứ cho là mỗi tháng cậu còn vung thêm ba mươi franc tiền boa, nếu cậu là người tử tế và quý những gương mặt niềm nở. Thành 680 franc. Được. Cậu sẽ bảo tớ rằng còn có chi phí lặt vặt và lệ phí. Người ta còn phải chi cho đồ uống, cho mỹ phẩm, cho xì gà, rồi thỉnh thoảng đi chơi xa, đi xe ngựa nếu muốn, và đây đó lại có hóa đơn thợ giày hay thợ may. Được, nhưng dẫu cộng tất cả vào thì với thiện chí cao nhất cậu cũng chưa nhét nổi tới một nghìn franc mỗi tháng! Chưa tới tám trăm mark! Chưa tới mười nghìn mark một năm. Dù sao cũng không hơn mức ấy. Bằng ấy là cậu sống được.”
“Tính nhẩm khá lắm,” Joachim nói. “Tớ đâu có biết cậu lanh đến thế trong khoản ấy. Mà cậu còn lập ngay cả dự toán cả năm, điều đó tớ thấy thật hào phóng ở cậu, quả là cậu đã học được đôi chút trên này rồi đấy. Vả lại cậu còn tính cao quá. Tớ có hút xì gà đâu, còn quần áo thì hy vọng là ở đây tớ cũng không phải may, xin kiếu!”
“Thế thì lại còn tính cao nữa cơ à,” Hans Castorp nói, hơi bối rối. Nhưng làm sao mà chàng lại tính cả xì gà và quần áo mới cho em họ, thì mặc; còn về tài tính nhẩm mau lẹ của chàng, thì đó chẳng qua chỉ là trò đánh lừa và gây ngộ nhận về thiên bẩm tự nhiên của chàng. Bởi lẽ cũng như trong mọi phương diện khác, ở việc này chàng cũng thiên về chậm chạp và thiếu lửa, và cái nhìn bao quát mau lẹ của chàng trong trường hợp này không phải là một thành tích ứng biến, mà dựa trên sự chuẩn bị, lại còn là sự chuẩn bị _bằng giấy bút_, vì một buổi tối trong giờ liệu pháp nằm nghỉ (bởi rốt cuộc buổi tối giờ đây chàng cũng ra nằm ngoài kia, vì ai ai cũng làm thế) Hans Castorp đã cố ý đứng dậy khỏi chiếc ghế nằm tuyệt hảo của mình để, theo một ý nghĩ bất chợt, vào phòng lấy giấy và bút chì ra tính toán. Nhờ thế chàng đã xác định rằng em họ chàng, hay đúng hơn, nói chung người ta ở đây tất cả mọi khoản cộng lại cần 12.000 franc mỗi năm, và trong bụng đùa vui tự nhủ rằng về phương diện kinh tế, bản thân chàng còn hơn cả đủ sức đương nổi cuộc sống trên này, vì chàng có thể tự xem mình là một người có 18 đến 19 nghìn franc một năm.
Vậy là hóa đơn tuần thứ hai của chàng đã được thanh toán cách đây ba ngày, kèm theo lời cảm ơn và biên nhận, điều ấy có nghĩa rằng chàng đang ở giữa tuần thứ ba, đồng thời theo kế hoạch cũng là tuần cuối cùng của thời gian lưu lại trên này. Chủ nhật tới chàng sẽ còn trải qua ở đây một trong những buổi hòa nhạc trị liệu lặp lại mỗi nửa tháng, và thứ Hai còn dự một trong những bài thuyết trình của bác sĩ Krokowski cũng lặp lại mỗi nửa tháng, chàng tự nhủ với mình và với em họ như vậy; nhưng đến thứ Ba hoặc thứ Tư thì chàng sẽ lên đường và lại để Joachim ở lại đây một mình, tội nghiệp Joachim, người mà Radamanth đã phán cho còn ai biết bao nhiêu tháng nữa, và đôi mắt đen hiền hậu của cậu mỗi lần nhắc đến cuộc ra đi đang nhanh chóng đến gần của Hans Castorp đều phủ một màn buồn bã. Ấy thế, lạy Chúa, cái thời gian nghỉ ấy đã đi đâu mất rồi! Trôi tuột, bay mất, vụt đi, thật không ai còn biết phải nói cho đúng là bằng cách nào. Rốt cuộc đó cũng đã là hai mươi mốt ngày mà họ đã định sống cùng nhau, một dãy dài đằng đẵng, lúc ban đầu không dễ bao quát nổi. Vậy mà giờ đây bỗng chỉ còn lại có ba, bốn ngày nhỏ nhoi, một số dư còn lại cũng hơi đáng kể một chút, tuy quả có nặng thêm bởi hai biến thể định kỳ của ngày thường, nhưng đã tràn đầy những ý nghĩ về hành lý và chia tay. Ba tuần quả thật hầu như chẳng là gì trên này, người ta đã bảo chàng như thế ngay từ đầu. Đơn vị thời gian nhỏ nhất ở đây là tháng, Settembrini đã nói như vậy, và vì kỳ lưu lại của Hans Castorp còn dưới mức ấy nên nó chẳng qua chỉ là một kỳ lưu lại hầu như không đáng kể, một cuộc ghé qua chớp nhoáng, như Hofrat Behrens đã diễn đạt. Có phải chăng thời gian ở đây qua nhanh như chớp là vì sự đốt cháy toàn thân tăng cao? Cái tính mau lẹ ấy của đời sống quả là một niềm an ủi cho Joachim khi nghĩ đến năm tháng còn chờ trước mặt mình, nếu như rốt cuộc chỉ dừng lại ở năm tháng. Nhưng trong suốt ba tuần này, lẽ ra họ phải canh chừng thời gian kỹ hơn một chút, như cái cách người ta làm trong lúc đo, khi bảy phút quy định bỗng trở thành một quãng thời gian quan trọng đến thế... Hans Castorp hết sức thương hại em họ mình, nơi mắt cậu có thể đọc thấy nỗi buồn về việc sắp mất người bạn đồng hành là một con người, quả thực chàng thương hại cậu đến mức cùng cực, khi nghĩ rằng người đáng thương ấy từ nay sẽ còn phải ở lại đây mãi mãi mà không có chàng, trong khi chính chàng thì lại sống dưới miền đồng bằng và làm việc phục vụ kỹ thuật giao thông nối kết các dân tộc: một nỗi thương hại gần như bỏng rát, có những lúc đau buốt nơi ngực, nói tóm lại, sống động đến nỗi đôi khi chàng thực sự ngờ rằng liệu mình có thể tự ép mình để Joachim ở lại trên này một mình hay không. Nỗi thương hại đôi khi thiêu đốt chàng đến thế, và đó hẳn cũng là lý do vì sao chính chàng, về phần mình, ngày càng ít nói đến chuyện ra đi hơn: Joachim là người thỉnh thoảng lại gợi câu chuyện quay về phía ấy; còn Hans Castorp, như chúng ta đã nói, dường như vì lẽ tế nhị và tinh cảm tự nhiên mà không muốn nghĩ đến chuyện đó cho tới tận giờ phút cuối cùng.
“Giờ thì ít ra chúng ta cũng cứ hy vọng,” Joachim nói, “rằng cậu đã được bồi dưỡng lại ở chỗ bọn tớ và sẽ cảm thấy khoan khoái khi xuống dưới.”
“Vâng, thế thì tôi sẽ gửi lời thăm hỏi khắp lượt,” Hans Castorp đáp, “và nói rằng muộn nhất trong năm tháng nữa cậu sẽ theo xuống. Được bồi dưỡng lại ư? Cậu muốn hỏi _tôi_ có được bồi dưỡng lại trong mấy ngày ít ỏi này không chứ gì? Điều đó thì hẳn là phải thế thôi. Một mức hồi phục nào đó thì ngay cả trong một thời gian ngắn như vậy rốt cuộc hẳn cũng đã diễn ra. Có điều, những ấn tượng trên này lại mới mẻ đến thế, mới mẻ trong mọi phương diện, rất kích thích, nhưng cũng làm mệt cả tinh thần lẫn thể xác, tôi chưa có cảm giác mình đã xử trí xong chúng và đã thích nghi hẳn, trong khi đó hẳn lại là điều kiện tiên quyết của mọi sự hồi phục. Maria, tạ ơn Chúa, vẫn là Maria cũ; mấy hôm nay tôi lại thấy hợp vị với nàng. Nhưng thỉnh thoảng khăn tay tôi vẫn đỏ lên khi dùng đến, và cái cơn nóng chết tiệt bốc lên mặt, cùng với nhịp tim vô cớ ấy nữa, xem ra cho đến phút cuối tôi cũng chẳng rũ bỏ nổi. Không, không, nói tôi đã thích nghi thì không ổn lắm, làm sao có thể được sau một thời gian ngắn như thế. Phải cần lâu hơn mới thích nghi nổi với nơi này và mới xử xong những ấn tượng ấy, rồi khi đó sự hồi phục và việc bồi đắp chất đạm mới có thể bắt đầu. Tiếc thật. Tôi nói ‘tiếc thật’ là vì rõ ràng sai lầm ở chỗ tôi đã không dành sẵn thêm thời gian cho kỳ lưu lại này, mà rốt cuộc thì thời gian ấy cũng có đấy thôi. Bây giờ tôi có cảm tưởng như khi về nhà dưới miền đồng bằng, trước hết tôi sẽ phải hồi phục khỏi chính sự nghỉ dưỡng này, và ngủ liền ba tuần, vì đôi lúc tôi thấy mình kiệt quệ đến thế. Mà giờ lại còn bực mình thêm cái chứng viêm long này nữa...”
Quả thật, sự việc dần dần mang dáng dấp như thể Hans Castorp sẽ trở lại miền đồng bằng với một cơn sổ mũi hạng nhất. Chàng đã bị cảm lạnh, có lẽ là trong liệu pháp nằm nghỉ, mà nói cho đúng hơn nữa, trong buổi nằm nghỉ chiều tối, thứ mà từ độ một tuần nay chàng đã tham dự, bất chấp tiết trời ẩm lạnh dầm dề tưởng chừng trước ngày chàng ra đi cũng chẳng buồn khá lên. Nhưng chàng đã được biết rằng ở trên này điều ấy không bị thừa nhận là xấu; thật ra, khái niệm thời tiết xấu ở trên này vốn không mấy có lý do tồn tại, người ta chẳng sợ thời tiết, hầu như cũng chẳng bận tâm đến nó, và với cái tính mềm dẻo ngoan ngoãn của tuổi trẻ, với toàn bộ thiện chí thích nghi với những ý nghĩ và tập quán của môi trường mà mình vừa được đặt vào, Hans Castorp đã bắt đầu thu lấy cho mình sự thản nhiên ấy. Khi mưa trút như dội từ những chiếc vò lớn, thì cũng chớ có tưởng vì thế mà không khí kém khô hơn. Quả thực nó vẫn không kém khô chút nào, bởi người ta vẫn cứ nóng đầu như thường, như ở trong một căn phòng sưởi quá lửa, hay như thể đã uống nhiều rượu. Còn cái lạnh, vốn quả là đáng kể, thì việc trốn vào phòng để tránh nó cũng chẳng có mấy hợp lẽ; bởi vì hễ không có tuyết rơi thì người ta không sưởi, và ngồi trong phòng chẳng hề dễ chịu hơn việc, trong áo bành tô mùa đông và được quấn đúng phép trong hai tấm chăn lông lạc đà dày, nằm ngoài lô-gia ban-công. Trái lại, đúng hơn là ngược hẳn lại: chính cái sau này mới là điều dễ chịu không gì sánh được, xét một cách tuyệt đối, đó là tư thế sống hấp dẫn nhất mà Hans Castorp còn nhớ mình từng được nếm trải, một phán đoán mà chàng không để cho sự thật rằng có một nhà văn kiêm Carbonaro nào đó đã gọi nó, với một hàm ý ác độc kín đáo, là tư thế sống “nằm ngang”, làm cho dao động. Đặc biệt vào buổi tối, chàng thấy nó hấp dẫn biết bao, khi trên chiếc bàn con đặt bên cạnh ngọn đèn nhỏ rọi sáng, và người ta, ấm áp trong chăn, điếu Maria nay lại thấy ngon giữa hai môi, tận hưởng mọi ưu thế khó gọi thành tên của kiểu ghế nằm ở nơi đây, tuy đầu mũi buốt giá và quyển sách - vẫn cứ là _Ocean steamships_ - trong đôi bàn tay cứng cóng, đỏ lựng, nhìn qua những vòm lô-gia xuống thung lũng đang sẫm lại, nơi đây điểm vài cụm đèn thưa thớt, nơi kia ánh sáng tụ thành từng mảng, từ đó hầu như tối nào cũng vậy, và ít nhất suốt một giờ đồng hồ, âm nhạc vọng lên: những thanh âm êm dịu đã được làm cho lắng bớt, du dương quen thuộc; những đoạn trích opera, những mảnh từ _Carmen_, từ _Troubadour_ hay _Freischütz_, rồi những điệu van-xơ chắc tay, mạch lạc, những khúc hành khúc khiến người ta phấn chấn quay đầu qua lại, và những điệu mazurka vui tươi. Mazurka ư? Thật ra nàng tên là Marusja, nàng có viên ruby nhỏ; và ở lô-gia bên cạnh, sau bức vách kính mờ dày cộp, Joachim nằm đó, thi thoảng Hans Castorp đổi với cậu mấy lời thận trọng, hoàn toàn lưu ý đến những kẻ nằm ngang khác. Joachim ở trong lô-gia của mình cũng dễ chịu chẳng kém Hans Castorp, dẫu cậu không có năng khiếu âm nhạc và không biết vui thú với những buổi hòa nhạc tối như chàng. Tội cho cậu; thay vào đó có lẽ cậu đọc cuốn ngữ pháp tiếng Nga của mình. Còn Hans Castorp thì để _Ocean steamships_ nằm trên chăn và lắng nghe âm nhạc với một lòng tham dự thiết tha, nhìn vào chiều sâu trong suốt của cấu trúc âm thanh ấy với vẻ mãn ý, và cảm thấy một niềm khoái thú mật thiết đến thế trước một nguồn giai điệu vừa có cá tính vừa có tâm trạng, đến nỗi xen giữa chừng chàng chỉ còn nhớ tới những phát biểu của Settembrini về âm nhạc với một sự thù nghịch, những phát biểu khó chịu chẳng hạn như câu cho rằng âm nhạc về mặt chính trị là đáng ngờ, điều đó thật tình cũng chẳng khá gì hơn lối nói của cụ Giuseppe về cuộc cách mạng tháng Bảy và sáu ngày sáng thế ...
Như vậy Joachim không được dự phần vào lạc thú âm nhạc, và cái thú vị cay nồng của việc hút thuốc cũng xa lạ với cậu; nhưng ngoài ra thì cậu nằm trong lô-gia của mình cũng yên ổn và êm đềm như thế, được chở che và xoa dịu. Ngày đã hết, lần này thì mọi sự đã hết, người ta yên trí rằng hôm nay sẽ chẳng còn gì xảy ra nữa, sẽ không còn cơn chấn động nào, không còn đòi hỏi nào đặt thêm lên cơ tim nữa. Nhưng đồng thời người ta cũng yên trí rằng _ngày mai_ tất cả những điều ấy, với toàn bộ xác suất nảy sinh từ sự chật hẹp, thuận lợi và đều đặn của hoàn cảnh, sẽ lại diễn ra và bắt đầu lại từ đầu; và sự yên trí kép ấy, sự được chở che kép ấy, thật vô cùng dễ chịu; cùng với âm nhạc và vị cay của điếu Maria vừa tìm lại được, nó biến buổi nằm nghỉ tối đối với Hans Castorp thành một tư thế sống quả là hạnh phúc.
Nhưng tất cả những điều đó rốt cuộc vẫn không ngăn được chuyện người khách lưu trú, tay lính mới mềm yếu kia, đã bị cảm lạnh ra trò trong liệu pháp nằm nghỉ (hay nói cho cùng, ở đâu và như thế nào cũng mặc). Một cơn sổ mũi nặng dường như đang kéo đến, nó đè nặng nơi hốc trán của chàng; cái lưỡi gà trong cổ họng đau rát và trầy xước; không khí không còn đi qua chiếc ống vốn do tự nhiên dành sẵn cho việc ấy như trước nữa, mà lùa qua đó một cách lạnh buốt, tắc nghẽn, liên miên gây nên những cơn ho co thắt; giọng nói của chàng qua một đêm đã mang màu sắc của một giọng trầm đục, như bị các thức uống mạnh thiêu sém; và theo lời chàng, chính trong đêm ấy chàng đã không chợp mắt được chút nào, vì cái khô ngạt nghẽo nơi cuống họng cứ hết lần này đến lần khác làm chàng giật bắn khỏi gối.
“Thật là phiền hết sức,” Joachim nói, “và gần như còn khó xử nữa. Cậu phải biết rằng ở đây người ta không _reçus_ những cơn cảm lạnh; người ta phủ nhận chúng, về mặt chính thức chúng không tồn tại trong cái khô ráo ghê gớm của không khí này, và với tư cách bệnh nhân, người ta sẽ đụng ngay Behrens theo cách chẳng hay ho gì nếu đi báo là mình bị cảm. Nhưng ở cậu thì khác, rốt cuộc cậu có quyền bị như thế. Dẫu sao cũng sẽ tốt nếu ta còn chặn được cơn viêm này; ở miền đồng bằng người ta còn biết vài cách, chứ ở đây thì... tớ ngờ rằng ở đây chẳng ai buồn quan tâm đủ mức đâu. Ở đây tốt hơn hết là đừng đổ bệnh, chẳng ai bận tâm đến chuyện ấy cả. Đó là một bài học cũ rồi, giờ đến cuối cùng cậu cũng lại được biết thêm. Hồi tớ mới đến, ở đây có một bà suốt cả tuần cứ ôm tai than đau, rốt cuộc Behrens mới ngó qua. ‘Bà cứ yên tâm đi,’ ông ta bảo, ‘không phải lao đâu.’ Thế là hết chuyện. Ừ, ta phải xem có thể làm gì được. Sáng mai khi ông quản phòng tắm đến với tớ, tớ sẽ nói với ông ấy. Đó là đường lối chính thức, rồi ông ấy sẽ chuyển đi, để biết đâu người ta cũng sẽ làm gì đó cho cậu.”
Joachim nói vậy; và đường lối chính thức ấy đã chứng tỏ hiệu nghiệm. Ngay sáng thứ Sáu, khi Hans Castorp từ buổi vận động sáng trở về phòng, có tiếng gõ cửa, và thế là chàng có dịp làm quen riêng với cô von Mylendonk hay “Frau Oberin”, như người ta gọi bà; cho đến lúc ấy chàng chỉ mới nhìn thấy người đàn bà hẳn là vô cùng bận rộn ấy từ xa, khi bà từ một phòng bệnh đi ra, băng qua hành lang để bước vào một phòng đối diện, hoặc thoáng thấy bà xuất hiện trong phòng ăn và nghe giọng the thé của bà. Giờ đây thì chuyến viếng thăm của bà nhằm chính chàng; do cơn viêm mũi họng của chàng mà được dẫn tới, bà gõ cứng, ngắn, khô khốc bằng những khớp xương lên cửa phòng chàng rồi bước vào, gần như trước cả khi chàng kịp nói mời vào, trong lúc trên ngưỡng còn ngoái đầu lại một lần nữa để chắc chắn về số phòng.
“Bốn mươi ba,” bà the thé nói, không hề hạ giọng. “Đúng rồi. Này, nhân-sinh, _on me dit, que vous avez pris froid_, _I hear, you have caught a cold_, _Wy, kaschetsja, prostudilisj_, tôi nghe nói ông bị cảm lạnh à? Tôi phải nói với ông bằng tiếng gì đây? Tiếng Đức, tôi thấy rồi. À, vị khách của cậu Ziemßen trẻ, tôi thấy rồi. Tôi phải vào phòng mổ. Có một người sắp bị chloroform mà lại ăn xà lách đậu. Nếu không có mắt ở khắp mọi nơi thì... Còn ông, này nhân-sinh, ông muốn ở trên này mà lại bị cảm lạnh sao?”
Hans Castorp ngẩn người trước lối nói năng ấy ở một bà thuộc dòng dõi quý tộc lâu đời. Trong khi nói, bà như vượt lên ngay trên chính lời mình, vừa bất an vừa lăn đi trong những động tác vòng cung, lượn thành hình quai như ruy-băng, cái đầu với chiếc mũi hếch dò xét ngẩng lên quay qua quay lại như thú dữ trong lồng, còn bàn tay phải đầy tàn nhang, hơi khum lại và ngón cái chĩa lên, lắc lư trước mặt từ cổ tay, như muốn bảo: “Mau, mau, mau! Đừng nghe những gì tôi nói, mà chính ông hãy nói đi để tôi còn đi!” Bà ở vào khoảng ngoài bốn mươi, vóc người còm cõi, không chút đường nét, mặc chiếc váy tạp dề trắng kiểu lâm sàng, thắt đai, trên ngực đeo một cây thập tự bằng hồng lựu thạch. Từ dưới mũ trùm của nữ hộ lý lòi ra chút tóc hoe thưa thớt; đôi mắt xanh nhạt như nước, viêm đỏ, mà ở một bên lại còn thêm một cái lẹo đã phát triển đến mức khá xa, nhìn ngó bất định; mũi hếch; miệng như miệng ếch; lại còn cái môi dưới chìa lệch ra phía trước, thứ bà xén xẻng vận động khi nói. Trong khi đó Hans Castorp nhìn bà bằng tất cả cái lòng nhân hậu khiêm nhường, nhẫn nại và tin cậy vốn là bẩm sinh nơi chàng.
“Thế đây là thứ cảm lạnh gì vậy, hử?” Frau Oberin lại hỏi, cố làm cho mắt mình trở nên sắc như xuyên thấu, nhưng không thành, vì chúng cứ lạc đi. “Chúng tôi không thích những thứ cảm lạnh như thế. Ông hay bị cảm lắm sao? Chẳng phải ông anh em họ của ông cũng hay bị cảm lắm đó ư? Ông bao nhiêu tuổi rồi? Hai mươi bốn? Cái tuổi ấy vốn có chuyện của nó. Thế rồi ông lên tận đây mà lại bị cảm ư? Ở đây ta không nên nói đến ‘cảm lạnh’, thưa nhân-sinh đáng kính, đó là thứ lăng nhăng từ dưới kia. (Từ “lăng nhăng” hiện ra trong miệng bà thật ghê gớm và phiêu lưu, khi bà xén xẻng đưa nó ra bằng môi dưới.) Ông có một cơn viêm đường hô hấp đẹp tuyệt, điều ấy tôi công nhận, người ta nhìn vào mắt là thấy ngay ở ông -” (Và một lần nữa bà lại có cái cố gắng kỳ dị muốn nhìn sâu thẳng vào mắt chàng, mà rốt cuộc vẫn không thật thành công.) “Nhưng viêm thì không do lạnh mà ra, chúng đến từ một sự nhiễm mà người ta đã có lòng tiếp nhận, và vấn đề chỉ là ở chỗ đây là một sự nhiễm vô hại hay một thứ kém vô hại hơn, còn mọi cái khác đều là lăng nhăng. (Lại cái “lăng nhăng” rởn người ấy!) Có thể là ở ông, cái tính dễ tiếp nhận ấy thiên nhiều hơn về phía vô hại,” bà nói, và nhìn chàng bằng cái lẹo đã khá lớn của mình, chàng cũng không biết phải hiểu ra sao. “Đây, ông cầm lấy một chất sát trùng vô hại. Có thể sẽ có ích cho ông đấy.” Và bà lôi từ chiếc túi da đen đeo ở thắt lưng ra một gói nhỏ, đặt lên bàn. Đó là Formamint. “Vả lại, trông ông có vẻ bị kích thích; như thể có sốt ấy. Ông đã đo chưa?”
Chàng lắc đầu.
“Tại sao không?” bà hỏi, để nguyên cái môi dưới xô chéo ra trước ấy lơ lửng trong không trung ...
Chàng câm bặt. Tội nghiệp, chàng còn trẻ quá, chàng vẫn còn giữ cái thói câm bặt của cậu học trò đứng trong ghế, không biết gì và im thin thít.
“Hay là ông hoàn toàn chẳng bao giờ đo nhiệt độ?”
“Có chứ, Frau Oberin. Khi tôi sốt.”
“Này, nhân-sinh, người ta đo trước hết là để xem _có_ sốt hay không. Và bây giờ theo ý ông thì ông không sốt chứ gì?”
“Tôi cũng không rõ lắm, Frau Oberin; tôi không phân biệt thật được. Từ khi lên trên này tôi vẫn hơi nóng bừng mà cũng hơi gai rét.”
“À ha. Thế nhiệt kế của ông đâu?”
“Tôi không có đem theo, Frau Oberin. Để làm gì kia chứ, tôi chỉ đến thăm thôi mà, tôi khỏe mạnh.”
“Lăng nhăng! Ông gọi tôi đến vì ông khỏe mạnh đấy à?”
“Không,” chàng cười một cách lịch sự, “mà vì tôi hơi -”
“- bị cảm. Những thứ cảm như thế này chúng tôi đã gặp nhiều lắm rồi. Đây!” bà nói, lại lục túi, và lấy ra hai chiếc hộp da thuôn dài, một đen, một đỏ, bà cũng đặt chúng lên bàn. “Cái này giá ba phrăng rưỡi, còn cái này giá năm phrăng. Dĩ nhiên mua cái năm thì ông lợi hơn. Đó là thứ dùng cả đời, nếu ông giữ gìn cho tử tế.”
Chàng mỉm cười cầm chiếc hộp đỏ từ trên bàn lên và mở ra. Nằm đó như một món nữ trang, dụng cụ bằng thủy tinh được đặt trong lòng hõm khoét đúng theo dáng nó trên lớp nhung đỏ lót đệm. Những vạch chỉ trọn độ được đánh bằng màu đỏ, những phần mười độ bằng màu đen. Các con số cũng màu đỏ; phần dưới thuôn mảnh chứa đầy thứ thủy ngân óng như gương. Cột thủy ngân đứng thấp, lạnh lùng, thấp hơn xa mức bình thường của nhiệt độ cơ thể.
Hans Castorp biết mình mắc nợ bản thân và thể diện của mình điều gì.
“Tôi lấy cái này,” chàng nói, không buồn đoái hoài đến cái kia. “Cái này, giá năm. Tôi có thể trả bà ngay ...”
“Xong nhé!” Frau Oberin the thé. “Mua thứ quan trọng thì đừng có hà tiện! Không gấp đâu, cứ ghi vào hóa đơn. Đưa đây nào, trước hết ta phải cho nó xuống nhỏ hẳn đã, đuổi nó tụt hẳn xuống - thế.” Và bà lấy nhiệt kế khỏi tay chàng, liên tiếp hất mạnh nó trong không khí, làm cho thủy ngân tụt sâu hơn nữa, xuống dưới cả mức 35. “Rồi nó sẽ lên, rồi thần Mercury sẽ leo trở lại thôi!” bà nói. “Đây, vật mới mua của ông đây! Hẳn ông biết ở chỗ chúng tôi người ta làm thế nào chứ? Kẹp nó dưới chiếc lưỡi đáng kính, trong bảy phút, ngày bốn lần, và nhớ khép chặt cho tốt đôi môi đáng quý quanh nó. Adieu, nhân-sinh! Chúc kết quả tốt đẹp!” Rồi bà ra khỏi phòng.
Hans Castorp, sau khi cúi chào, đứng bên bàn nhìn cánh cửa mà bà đã biến mất qua đó, rồi nhìn dụng cụ bà để lại. “Vậy ra đó là bà Oberin von Mylendonk,” chàng nghĩ. “Settembrini không ưa bà ta, và thật đúng, bà ta cũng có những cái khó chịu của bà ta. Cái lẹo ấy quả không đẹp, tuy vậy hẳn đâu phải lúc nào bà ta cũng có nó. Nhưng vì sao bà ta cứ luôn gọi mình là ‘nhân-sinh’, lại còn với một chữ s ở giữa nữa chứ? Nó có vẻ bụi bặm đàn ông và kỳ quặc. Thế rồi bà ta bán cho mình một cái nhiệt kế, lúc nào bà ta cũng có sẵn vài cái trong túi. Nghe nói trên này thứ ấy ở đâu cũng có, trong mọi cửa hàng, cả ở những chỗ người ta không ngờ tới, Joachim đã bảo thế. Nhưng mình chẳng cần mất công đi mua, tự nó rơi tõm vào lòng mình rồi.” Chàng lấy dụng cụ xinh xắn ra khỏi hộp, ngắm nghía nó, rồi cầm nó đi đi lại lại trong phòng mấy lượt, lòng đầy bứt rứt. Tim chàng đập nhanh và mạnh. Chàng nhìn về phía cửa ban-công đang mở và làm một cử động hướng về phía cửa phòng, do một thôi thúc muốn đi tìm Joachim, nhưng rồi thôi, lại đứng sững bên bàn, đằng hắng để thử cái vẻ đục của giọng mình. Sau đó chàng ho. “Phải xem bây giờ mình có sốt cảm hay không đã,” chàng nói, rồi nhanh chóng đưa nhiệt kế vào miệng, đầu thủy ngân xuống dưới lưỡi, đến nỗi dụng cụ chĩa xéo lên giữa hai môi chàng; chàng khép chặt môi quanh nó để không khí bên ngoài không lọt vào. Rồi chàng nhìn đồng hồ đeo tay: sáu phút sau chín giờ rưỡi. Và chàng bắt đầu đợi cho bảy phút trôi qua.
“Không thừa một giây nào,” chàng nghĩ, “mà cũng không thiếu. Có thể tin cậy ở tôi, cả về phía hơn lẫn phía kém. Người ta không cần đem tôi đổi lấy một Nữ tu Câm, như cái người mà Settembrini đã kể, Ottilie Kneifer.” Và chàng đi quanh trong phòng, lấy lưỡi ghì xuống cái dụng cụ.
Thời gian bò lê, thời hạn tưởng chừng vô tận. Mới chỉ hai phút rưỡi trôi qua khi chàng nhìn kim đồng hồ, đã lo lỡ mất khoảnh khắc ấy. Chàng làm đến nghìn thứ việc, cầm lên đặt xuống đủ thứ đồ vật, bước ra ban công mà không để người anh em họ biết mình có mặt, phóng mắt nhìn quang cảnh, thung lũng cao này, đối với cảm thức của chàng đã từ lâu nguyên sơ thân thuộc trong mọi hình dạng của nó: với những đỉnh nhọn, những đường sống núi và những vách núi; với cánh cảnh trí “Brembühl” án phía bên trái, có sống lưng đổ xiên về phía thị trấn và sườn phủ kín cánh rừng đồng cỏ xù xì; với những khối núi bên phải, mà tên gọi của chúng cũng đã trở nên quen thuộc với chàng; và với bức tường Alteinwand, từ đây trông ra dường như khép thung lũng lại về phía nam, chàng nhìn xuống những lối đi và luống hoa trên bậc sân vườn, hang đá, cây lãnh sam quý, lắng nghe tiếng thì thầm vọng ra từ hành lang nằm nghỉ, nơi người ta đang chữa dưỡng, rồi quay trở vào phòng, đồng thời tìm cách chỉnh lại vị trí của chiếc dụng cụ trong miệng, để lại một lần nữa duỗi cánh tay ra, kéo tay áo khỏi cổ tay và bẻ cẳng tay lên trước mặt. Khó nhọc và gắng gỏi, như thể phải xô, đẩy và đá tống nó đi, chàng mới tống khứ được sáu phút. Nhưng rồi, đang đứng giữa phòng mà thả mình vào cơn mơ màng và để mặc tư tưởng lang thang, chàng không hề hay biết phút cuối cùng còn lại đã lẻn mất nhẹ như chân mèo; một cử động tay mới khiến chàng phát hiện cuộc đào thoát lén lút của nó, và đã hơi muộn, phút thứ tám đã trôi quá một phần ba, khi chàng, với ý nghĩ rằng như thế chẳng hề gì, không ảnh hưởng gì, không có ý nghĩa gì đối với kết quả, giật phắt chiếc nhiệt kế ra khỏi miệng và cúi nhìn nó chằm chằm bằng đôi mắt bối rối.
Chàng không lập tức hiểu được lời khai của nó; ánh lấp lánh của thủy ngân trùng với vệt phản quang trên lớp vỏ thủy tinh tròn dẹt; cột thủy ngân thoắt tưởng đứng tận trên cao, thoắt lại như hoàn toàn không có; chàng đưa dụng cụ sát mắt, xoay qua lật lại mà vẫn chẳng nhận ra gì. Cuối cùng, nhờ một góc xoay may mắn, hình ảnh hiện rõ trước mắt chàng; chàng giữ nguyên nó và vội vàng dùng trí óc mà xử lý. Quả thật, Merkurius đã giãn nở, đã giãn nở mạnh, cột thủy ngân đã dâng lên khá cao, đứng vượt khỏi ranh giới của nhiệt máu bình thường đến mấy vạch phần mười: Hans Castorp có 37,6.
Vào buổi sáng sáng láng, trong khoảng giữa mười giờ và mười rưỡi mà 37,6, thế là quá nhiều, đó là “nhiệt độ”, là cơn sốt do một thứ nhiễm trùng nào đó mà chàng đã tỏ ra sẵn lòng tiếp nhận, và chỉ còn có điều phải hỏi xem đó là thứ nhiễm trùng gì. 37,6, Joachim cũng không có hơn thế, ở đây không ai có hơn thế nếu không là người bệnh nặng hoặc hấp hối phải nằm bệt trên giường, không phải Kleefeld bị tràn khí màng phổi, mà cũng không phải cả Madame Chauchat nữa. Dĩ nhiên, trong trường hợp của chàng thì gọi như vậy hẳn chưa thật đúng, chỉ là cơn sốt cảm, như người ta vẫn gọi ở dưới kia. Nhưng phân biệt rạch ròi, tách bạch cho chính xác, thì điều ấy không dễ; Hans Castorp ngờ rằng nhiệt độ ấy không phải chỉ mới có từ khi chàng bị cảm lạnh, và chàng đành tiếc là đã không hỏi Merkurius từ trước, ngay từ đầu, như vị cố vấn cơ mật đã khuyên chàng. Lời khuyên ấy hoàn toàn hợp lý, điều đó giờ đã lộ rõ, còn Settembrini thì đã hoàn toàn sai khi cười giễu cợt nó đến thế, Settembrini với nền cộng hòa và văn phong mỹ lệ. Hans Castorp khinh bỉ nền cộng hòa và văn phong mỹ lệ, trong khi không ngớt kiểm tra lời chứng của chiếc nhiệt kế, thứ nhiều lần lại biến mất trước mắt chàng vì ánh chói, để rồi nhờ chàng siêng năng xoay trở dụng cụ mà hiện ra trở lại: nó nói 37,6, mà lại vào buổi sớm nhất trong ngày!
Chàng bị kích động dữ dội. Chàng đi đi lại lại mấy lượt trong phòng, chiếc nhiệt kế cầm trong tay, tuy nhiên giữ nó nằm ngang để không gây xáo trộn bởi một chấn động thẳng đứng nào, rồi hết sức cẩn trọng đặt nó xuống mặt bàn rửa mặt và trước hết, khoác paletot, quấn chăn, mà vào liệu pháp nằm nghỉ. Ngồi đó, chàng quấn chăn quanh mình như đã học được, từ hai bên và từ phía dưới, lần lượt từng tấm, với một bàn tay đã khá thành thạo, rồi nằm im, chờ đến giờ ăn sáng lần hai và chờ Joachim bước vào. Đôi khi chàng mỉm cười, và cứ như là chàng đang mỉm cười với ai đó. Đôi khi lồng ngực chàng nhô lên trong một cơn rung bức bối, và khi ấy chàng phải ho từ lồng ngực viêm long của mình.
Joachim thấy chàng vẫn còn nằm đó khi mười một giờ, sau tiếng cồng vang lên, cậu sang phòng gọi chàng đi ăn sáng.
“Sao?” cậu hỏi, ngạc nhiên bước lại bên ghế...
Hans Castorp còn im lặng một lát, mắt nhìn thẳng trước mặt. Rồi chàng đáp:
“Phải, tin mới nhất là tôi có một chút nhiệt độ.”
“Thế nghĩa là sao?” Joachim hỏi. “Cậu thấy trong người sốt à?”
Hans Castorp lại để một lúc mới trả lời, rồi với một vẻ uể oải nào đó, chàng nói như sau:
“Sốt, anh bạn thân mến ạ, thì tôi đã thấy từ lâu rồi, từ suốt bấy lâu nay kia. Nhưng bây giờ không phải chuyện cảm giác chủ quan, mà là một xác định chính xác. Tôi đã tự đo.”
“Cậu tự đo à?! Bằng cái gì?!” Joachim kêu lên kinh hãi.
“Dĩ nhiên là bằng một chiếc nhiệt kế”, Hans Castorp trả lời, không phải không pha giọng châm biếm và nghiêm khắc. “Bà Oberin đã bán cho tôi một cái. Vì sao bà ấy lúc nào cũng gọi người ta là ‘con người ta’, tôi không biết; như thế chẳng đúng mực. Nhưng bà ấy đã vội vàng bán cho tôi một chiếc nhiệt kế rất tốt, và nếu cậu muốn tin cho chắc nó chỉ bao nhiêu, thì nó đang nằm trong kia trên bàn rửa mặt. Chỉ là một sự tăng nhẹ tối thiểu thôi.”
Joachim quay ngoắt đi vào phòng. Khi trở ra, cậu ngập ngừng nói:
“Phải, đây là 37 phẩy 55.”
“Thế thì nó đã hạ đi một chút rồi!” Hans Castorp vội nói. “Lúc nãy là sáu.”
“Dù sao cũng không thể gọi là tối thiểu được vào buổi trước trưa”, Joachim nói. “Đúng là một chuyện hay ho”, cậu nói, và đứng bên chỗ nằm của người anh em họ mình như người ta vẫn đứng trước một “chuyện hay ho” như thế, hai tay chống nạnh, đầu cúi xuống. “Cậu sẽ phải lên giường.”
Hans Castorp đã sẵn câu trả lời.
“Tôi không thấy,” chàng nói, “vì sao tôi lại phải lên giường với 37,6, trong khi cậu và bao nhiêu người khác, những người cũng chẳng ít hơn, trong khi các cậu ở đây ai nấy đều đi lại tự do.”
“Nhưng đó lại là chuyện khác”, Joachim nói. “Ở cậu thì nó cấp tính và vô hại. Cậu bị sốt cảm.”
“Thứ nhất,” Hans Castorp đáp, và bây giờ thậm chí còn chia lời mình ra thành thứ nhất với thứ hai, “tôi không hiểu vì sao với cơn sốt vô hại, giả thử tôi cứ tạm nhận là có thứ như vậy đi, người ta lại phải nằm giường, còn với thứ sốt khác thì không. Và thứ hai, tôi vẫn đã nói với cậu rằng cái cảm kia không làm tôi nóng hơn trước kia vốn đã thế rồi. Tôi giữ lập trường,” chàng kết luận, “rằng 37,6 thì vẫn là 37,6. Các cậu đi lại được với nó, tôi cũng đi lại được.”
“Nhưng tôi đã phải nằm liệt bốn tuần khi mới đến đây,” Joachim cãi lại; “và chỉ khi người ta thấy rằng nhiệt độ không biến mất nhờ nằm giường, tôi mới được phép ngồi dậy.”
Hans Castorp mỉm cười.
“Thế thì sao?” chàng hỏi. “Tôi tưởng ở cậu lại là chuyện khác kia mà? Theo tôi thấy, cậu đang tự mắc vào mâu thuẫn. Trước hết cậu phân biệt, rồi ngay sau đó lại đánh đồng. Thật là nhảm nhí...”
Joachim xoay gót quay đi, và khi cậu quay mặt lại phía người anh em họ, người ta thấy khuôn mặt rám nắng của cậu đã sẫm thêm một cung bậc nữa.
“Không,” cậu nói, “tôi không đánh đồng, cậu đúng là một tay cố vấn rối mù. Tôi chỉ muốn nói là cậu bị cảm rất tệ, nghe ngay ra ở giọng cậu, và cậu nên nằm xuống để rút ngắn quá trình ấy đi, vì tuần sau cậu còn muốn về nhà. Nhưng nếu cậu không muốn, ý tôi là: nếu cậu không muốn nằm xuống, thì cứ mặc thế cũng được. Tôi không ra lệnh cho cậu. Dầu sao bây giờ ta phải đi ăn sáng. Mau lên, quá giờ rồi!”
“Phải. Đi thôi!” Hans Castorp nói và hất chăn khỏi người. Chàng vào phòng, lấy bàn chải lướt qua mái tóc, và trong khi chàng làm như vậy, Joachim lại nhìn chiếc nhiệt kế trên bàn rửa mặt một lần nữa, điều mà Hans Castorp quan sát từ xa. Rồi họ đi, im lặng, và lại ngồi vào chỗ của mình trong phòng ăn, nơi vào giờ này, như mọi khi, ánh lên một màu trắng vì la liệt sữa.
Khi mụ lùn mang bia Kulmbacher đến cho Hans Castorp, chàng nghiêm trang từ chối. Hôm nay chàng thà không uống bia, nói chung là chẳng uống gì cả, không, xin cảm ơn lắm, may ra chỉ một ngụm nước. Việc ấy gây xôn xao. Sao thế? Kiểu mới gì vậy! Vì sao lại không uống bia? Hans Castorp buông gọn: chàng có một chút nhiệt độ. 37,6. Tối thiểu.
Thế là họ đưa ngón trỏ dọa chàng, thật hết sức kỳ quặc. Họ trở nên tinh quái, nghiêng đầu sang một bên, nheo một mắt lại và ngoáy ngón trỏ ở ngang tai, như thể ở một kẻ từng đóng vai ngây thơ giờ đây đang lộ ra những chuyện bạo dạn, cay cợn. “Nào, nào, ông đấy nhé,” cô giáo nói, và lớp lông tơ trên má cô ửng hồng trong khi cô mỉm cười đe. “Nghe được những chuyện sạch sẽ cơ đấy, chuyện nghịch lắm. Cứ đợi đấy, đợi đấy, đợi đấy.” “Chà, chà, chà,” Frau Stöhr cũng nói và giơ cái ngón cụt ngắn ngủn đỏ au của bà ra dọa, giữ nó bên cạnh mũi. “Ngài khách thăm có Tempus kia đấy. Ông thật là, ông đúng là người phải lắm cơ, một anh chàng khoái hoạt!” Ngay cả bà cô cố ở đầu trên của bàn cũng đưa ngón dọa chàng một cách đùa cợt mà láu lỉnh, khi tin ấy truyền đến bà; cô Marusja xinh đẹp, từ trước đến nay hầu như chẳng mấy khi để ý đến chàng, cũng nghiêng người về phía chàng và nhìn chàng bằng đôi mắt nâu tròn vo, chiếc khăn màu cam ép lên môi, trong khi cô dọa; cả bác sĩ Blumenkohl nữa, người được Frau Stöhr kể cho nghe việc ấy, cũng không khỏi nhập vào cử chỉ chung, dẫu dĩ nhiên không nhìn Hans Castorp khi làm vậy; và chỉ có Miß Robinson là vẫn thờ ơ, kín như bưng như mọi khi. Joachim, với vẻ mặt đứng đắn, cứ cúi mắt xuống.
Hans Castorp, được ngần ấy lời trêu chọc vuốt ve, thấy mình phải khiêm tốn chối đi. “Không, không,” chàng nói, “các vị lầm rồi, trường hợp của tôi là thứ vô hại nhất có thể tưởng tượng được; tôi bị cảm, các vị thấy đấy: mắt tôi cứ trào nước, ngực tôi nghẹt cứng, tôi ho suốt nửa đêm, như thế đã đủ khó chịu lắm rồi...” Nhưng họ không nhận những lời phân trần ấy, họ cười và xua tay gạt đi, vừa kêu: “Vâng, vâng, vâng, chuyện vớ vẩn, cớ bào chữa, sốt cảm, chúng tôi biết, chúng tôi biết!” Rồi tất cả nhất tề đòi Hans Castorp phải lập tức đi trình diện để khám. Tin ấy làm họ phấn chấn; trong bảy chiếc bàn thì ở bàn này, suốt bữa điểm tâm, câu chuyện rộn ràng nhất. Đặc biệt Frau Stöhr, với khuôn mặt đỏ bừng, bướng bỉnh nhô lên trên bâu cổ xếp nếp và những vết nẻ nhỏ trên làn da má, đã phô ra một sự hoạt ngôn gần như hoang dại và thao thao về tính thú vị của việc ho, phải, hẳn trong chuyện ấy có một phương diện giải trí và khoái lạc hẳn hoi, khi nơi đáy ngực cơn nhột cứ tăng lên và lớn dần, khiến người ta phải co thắt và dồn ép, với thật sâu xuống tận bên dưới để chiều theo cái kích thích ấy; một trò vui tương tự là hắt hơi, khi cơn ham muốn ấy phồng lên mãnh liệt và trở nên không cưỡng lại nổi, để rồi người ta, với bộ mặt ngây ngất, thở ra hít vào dữ dội mấy lần, buông mình khoan khoái, và trong cơn bùng nổ phúc lành ấy quên bẵng cả thế giới. Mà đôi khi lại còn đến hai, ba lần liên tiếp. Ấy là những khoái thú miễn phí của đời sống, cũng như chẳng hạn việc gãi những chỗ cước vào mùa xuân, khi chúng ngứa ngáy một cách ngọt lịm, gãi cho thật thỏa, thật tàn nhẫn đến bật máu trong cơn điên và khoái cảm, và nếu tình cờ ngẩng lên soi gương lúc ấy, người ta sẽ thấy một bộ mặt quỷ.
Mụ Stöhr vô học đã nói tỉ mỉ đến rùng rợn như thế, cho tới khi bữa ăn xen kẽ ngắn ngủi, tuy khá dồi dào, chấm dứt và hai người anh em họ bắt đầu cuộc đi dạo buổi sáng lần thứ hai, cuộc đi xuống quảng trường Davos. Dọc đường Joachim lặng lẽ thu mình trong ý nghĩ, còn Hans Castorp thì rên rỉ vì cảm và tằng hắng từ lồng ngực khò khè. Trên đường về Joachim nói:
“Tôi đề nghị cậu một việc. Hôm nay là thứ Sáu, ngày mai sau bữa trưa tôi có buổi khám tháng. Không phải khám tổng quát, nhưng Behrens sẽ gõ gõ tôi một chút và bảo Krokowski ghi vài lời. Khi ấy cậu có thể đi cùng và nhân dịp xin ông ấy nghe khám cho cậu qua loa một chút. Thật nực cười, nếu ở nhà thì cậu đã cho gọi Heidekind rồi. Còn ở đây, ngay trong nhà có hai bác sĩ chuyên khoa, thế mà cậu cứ đi đi lại lại không biết mình mắc cái gì, nó nằm sâu đến đâu trong người cậu, và liệu nằm xuống có phải là hơn không.”
“Được,” Hans Castorp nói. “Tùy cậu. Dĩ nhiên, tôi có thể làm thế. Với lại, được dự một cuộc khám bệnh cũng thú vị đối với tôi.”
Họ thỏa thuận như vậy; và khi lên tới trước dưỡng đường, ngẫu nhiên làm sao họ lại chạm mặt chính vị cố vấn cơ mật Behrens và có dịp thuận lợi để ngay tại chỗ trình bày nguyện vọng của mình.
Behrens từ tiền sảnh đi ra, người cao dong dỏng, cổ vống, chiếc mũ cứng đội lùi về phía sau gáy và điếu xì gà ngậm trong miệng, đôi má xanh râu và mắt lồi, đúng vào đà công việc, đang chuẩn bị đi hành nghề tư, thực hiện những cuộc thăm bệnh trong thị trấn, sau khi, như ông giải thích, vừa mới làm việc trong phòng mổ.
“Chúc ngon miệng, các ông!” ông nói. “Lại rong ruổi mãi đấy à? Chuyến ra thế giới lớn chắc hẳn thú lắm nhỉ? Tôi vừa từ một cuộc đấu tay đôi không cân sức giữa dao mổ với cưa xương mà ra, việc lớn đấy, các ông biết chứ, cắt bỏ xương sườn. Hồi trước năm mươi phần trăm còn nằm lại trên bàn của nhà này. Bây giờ bọn tôi đã thạo hơn, nhưng lắm khi vẫn phải cuốn gói sớm _mortis causa_. À, cái anh hôm nay thì còn biết đùa, tạm thời vẫn trụ rất vững... Ghê thật, một cái lồng ngực người đến mức chẳng còn là lồng ngực người nữa. Toàn phần mềm cả, các ông biết đấy, trông không ra dáng, có thể nói là ý niệm đã hơi vẩn đục. Thế còn các ông? Cái quý tình trạng sức khỏe nọ ra sao? Sống hai người chắc là vui nhộn hơn chứ gì, hả, Ziemßen, lão láu cá? Sao ông lại khóc thế kia, ông khách du hí?” ông bỗng quay sang Hans Castorp. “Ở đây cấm khóc công khai đấy nhé. Nhà có lệnh cấm. Không khéo ai cũng bắt chước mất.”
“Đó là tại cơn cảm của tôi, thưa ông cố vấn cơ mật,” Hans Castorp đáp. “Tôi không hiểu làm sao lại có thể như thế, nhưng tôi đã vướng một trận viêm long ghê gớm. Tôi cũng ho nữa, và nó đè lên ngực tôi ra phết.”
“Thế à?” Behrens nói. “Vậy thì ông nên đi hỏi ý kiến một bác sĩ biết điều.”
Hai người cười lên, và Joachim, khép hai gót chân lại, đáp:
“Chúng tôi đang định làm thế, thưa ngài Hofrat. Ngày mai tôi vốn có buổi khám, và chúng tôi muốn hỏi liệu ngài có vui lòng tiện thể khám luôn cho anh em họ tôi một lượt không. Là vì không biết liệu cậu ấy có thể lên đường vào thứ Ba hay không...”
“M. w.!” Behrens nói. “M. w. m. F.! Rất hân hạnh thôi! Lẽ ra từ lâu chúng ta đã nên làm như thế. Đã ở trên này rồi thì việc ấy lúc nào cũng nên tranh thủ. Nhưng dĩ nhiên người ta cũng không muốn tự ép mình lên ai cả. Vậy nhé, ngày mai hai giờ, ngay khi anh từ máng cỏ trở về!”
“Vì thực ra tôi cũng hơi sốt nữa,” Hans Castorp còn nói thêm.
“Cậu nói cái gì kia!” Behrens kêu lên. “Cậu định kể cho tôi chuyện mới mẻ đấy à? Cậu tưởng tôi không có mắt trong đầu sao?” Và ông trỏ ngón tay trỏ đồ sộ vào hai nhãn cầu đầy tia máu, xanh thẫm, phồng mọng và ứa nước của mình. “Thế rốt cuộc là bao nhiêu nào?”
Hans Castorp khiêm nhường đọc con số ấy.
“Buổi sáng à? Hừm, không tệ. Mới mở màn mà đã chẳng đến nỗi vô năng. Thế nhé, ngày mai hai giờ, hai người cùng trình diện! Cho tôi được lấy làm vinh hạnh. Tiếp nhận thức ăn phúc lành!” Và với đôi đầu gối cong cong, hai bàn tay khua như chèo thuyền, ông bắt đầu lụi cụi xuống con dốc, trong khi một vệt khói từ điếu xì gà bay ngược về phía sau.
“Vậy là đúng như ý cậu rồi đấy,” Hans Castorp nói. “Chuyện này thật không thể xảy đến may mắn hơn, và giờ thì tớ đã được báo danh. Hẳn trong việc này ông ấy rồi cũng chẳng làm được gì hơn ngoài việc có thể kê cho tớ chút si-rô cam thảo hay trà ngực, nhưng dẫu sao có được đôi lời khích lệ của bác sĩ vẫn dễ chịu, khi người ta cảm thấy như tớ. Chỉ có điều sao ông ấy cứ luôn luôn nói năng xốc xáo quá mức như thế!” chàng nói. “Thoạt đầu tớ còn thấy thú vị, nhưng lâu dần thì phát chán. ‘Tiếp nhận thức ăn phúc lành’! Đúng là một thứ tiếng lóng bát nháo. Người ta có thể nói: ‘Bữa ăn phúc lành’! bởi ‘bữa ăn’ là một từ có thể nói là thi vị, cũng như ‘miếng bánh hằng ngày’, và đi với ‘phúc lành’ thì khá ổn. Nhưng ‘tiếp nhận thức ăn’ thì đúng là thuần sinh lý, mà lại chúc phúc cho cái ấy thì quả là một lối ăn nói nhạo báng. Tớ cũng không thích thấy ông ấy hút thuốc, điều ấy khiến tớ bất an, vì tớ biết nó không hợp với ông ấy và làm ông ấy u uất. Settembrini đã nói về ông ấy rằng sự vui vẻ của ông ấy là sự gượng ép, và Settembrini là một nhà phê bình, một con người có phán đoán, điều đó phải công nhận cho ông ta. Có lẽ tớ cũng nên phán đoán nhiều hơn và đừng cái gì cũng chấp nhận nguyên trạng, ông ta hoàn toàn có lý. Nhưng đôi khi người ta bắt đầu bằng phán đoán, chê trách và sự phẫn nộ chính đáng, rồi bỗng có một cái gì hoàn toàn khác xen vào, chẳng dính dáng gì đến phán đoán cả, và thế là hết sạch mọi nghiêm khắc đạo đức, còn nền cộng hòa với văn phong đẹp đẽ cũng chỉ thấy nhạt nhẽo...”
Chàng lẩm bẩm những điều không rõ ràng, dường như chính chàng cũng chưa thật minh bạch về điều mình muốn nói. Mà anh em họ của chàng cũng chỉ nhìn chàng nghiêng nghiêng rồi nói “Hẹn gặp lại”, sau đó mỗi người về phòng mình và ra ô ban công.
“Bao nhiêu?” một lúc sau Joachim hỏi khẽ, tuy anh không hề thấy Hans Castorp lại lôi nhiệt kế ra hỏi ý kiến... Và Hans Castorp đáp, bằng một giọng thản nhiên:
“Chẳng có gì mới.”
Quả thật, ngay khi bước vào phòng chàng đã lấy từ trên bàn rửa mặt món sắm nhỏ xinh của buổi sáng, đã giật thẳng đứng cho cột thủy ngân rơi khỏi mốc 37,6, mốc nay đã diễn xong vai trò của nó, rồi y hệt một tay lão luyện, ngậm điếu xì gà bằng thủy tinh trong miệng, chàng nằm vào liệu pháp nằm nghỉ. Nhưng trái với những kỳ vọng quá đỗi bay bổng, và mặc dù chàng đã giữ dụng cụ ấy trọn tám phút dưới lưỡi, Thủy tinh chẳng nở rộng thêm quá mốc 37,6, nghĩa là rốt cuộc vẫn là sốt, tuy không cao hơn mức đã có vào buổi sáng hôm trước. Sau bữa trưa, cột sáng lóng lánh ấy lên 37,7; buổi tối, khi bệnh nhân đã rất mệt sau những kích động và tin tức trong ngày, nó dừng ở 37,5; còn vào sáng sớm hôm sau, nó chỉ còn đúng 37, để rồi gần trưa lại đạt đến độ cao của hôm trước. Giữa những kết quả như thế, bữa chính của ngày hôm sau đã đến, và cùng với lúc kết thúc nó, giờ hẹn cũng xích lại gần.
Về sau Hans Castorp còn nhớ rằng trong bữa ăn ấy Madame Chauchat đã mặc một chiếc áo len vàng óng như vàng kim, có những chiếc cúc lớn và những chiếc túi viền thêu, một chiếc áo mới, ít nhất là mới đối với Hans Castorp, và khi bước vào trễ như mọi khi, nàng đã, theo đúng cách mà Hans Castorp quá đỗi quen thuộc nơi nàng, trong thoáng chốc quay mặt thẳng ra phía phòng ăn. Rồi nàng, như ngày nào cũng năm lần, lướt về chiếc bàn của mình, ngồi xuống bằng những động tác mềm mại và vừa ăn vừa chuyện trò: Hans Castorp, như mỗi ngày, nhưng vẫn với một sự chú ý đặc biệt, đã nhìn thấy đầu nàng lay động khi nói và lại một lần nữa nhận ra độ tròn của gáy nàng, cái dáng lưng buông lơi của nàng, khi chàng nhìn vượt qua sau lưng Settembrini, đang ngồi ở đầu chiếc bàn đặt chéo ngáng giữa, sang phía bàn Nga tốt. Còn Frau Chauchat, phần mình, trong suốt bữa trưa không một lần nào ngoái nhìn ra phòng ăn. Nhưng khi món tráng miệng đã xong và chiếc đồng hồ lớn có dây xích và quả lắc ở đầu hẹp bên phải của phòng ăn, chỗ chiếc bàn Nga xấu đặt, điểm hai tiếng, thì điều ấy, làm Hans Castorp chấn động một cách khó hiểu, rốt cuộc vẫn xảy ra: đúng vào lúc đồng hồ điểm hai tiếng, một và hai, người bệnh duyên dáng kia từ từ quay đầu và hơi cả phần thân trên nữa, rồi ngoái qua vai, nhìn sang phía bàn của Hans Castorp thật rõ ràng và không giấu giếm, mà không chỉ nhìn đại khái về phía bàn của chàng thôi đâu, không, một cách không thể lầm lẫn và hết sức đích thân là nhìn sang _chàng_, với nụ cười nơi đôi môi khép kín và trong đôi mắt Pribislav xẻ hẹp của nàng, như muốn nói: “Nào? Đến giờ rồi. Anh có đi không?” (vì khi chỉ có đôi mắt cất tiếng thì lời nói tự nhiên chuyển sang lối xưng hô thân mật, ngay cả khi cái miệng còn chưa từng nói đến “ông”) và đó là một biến cố đã làm Hans Castorp bối rối và kinh hoàng tận đáy tâm hồn, chàng hầu như không dám tin vào giác quan của mình và sững sờ nhìn trước hết vào gương mặt Frau Chauchat, rồi ngước mắt lên, vượt qua vầng trán và mái tóc nàng mà nhìn vào khoảng không. Chẳng lẽ nàng biết rằng chàng đã hẹn đúng hai giờ đến khám? Trông y hệt như thế. Thế nhưng điều ấy hầu như cũng khó tin chẳng kém gì chuyện nàng lại có thể biết rằng chỉ mới trong phút vừa qua thôi, chàng còn tự hỏi liệu có nên bảo Joachim nói với vị Hofrat rằng cơn cảm đã đỡ rồi và chàng xem cuộc khám là không cần thiết nữa chăng: một ý nghĩ mà mọi ưu điểm, dưới nụ cười dò hỏi kia, quả thật đã héo rũ đi hết và biến thành một thứ tẻ nhạt đáng ghét. Đến giây tiếp theo thì Joachim cũng đã đặt chiếc khăn ăn cuộn của mình xuống bàn, nhướng mày làm hiệu với chàng, cúi đầu chào những người cùng bàn và rời chỗ, thế là Hans Castorp, choáng váng trong lòng tuy bước đi bên ngoài vẫn vững vàng, với cảm giác rằng cái nhìn và nụ cười kia vẫn còn phủ trên mình, liền theo người anh em họ ra khỏi phòng ăn.
Từ sáng hôm qua họ không còn nói thêm gì về dự định cho hôm nay nữa, và cả lúc này đây họ cũng đi trong một sự đồng thuận im lặng. Joachim bước gấp: giờ hẹn đã quá mất rồi, mà Hofrat Behrens thì đòi hỏi đúng giờ. Từ phòng ăn họ đi dọc theo hành lang tầng trệt, qua chỗ “Văn phòng” rồi xuống cầu thang sạch sẽ lát vải dầu bóng loáng, đi “xuống” tầng hầm. Joachim gõ cửa căn phòng, đối diện ngay cầu thang, được nhận ra là lối vào phòng khám nhờ một tấm biển sứ.
“_Vào_ đây!” Behrens gọi, nhấn rất mạnh vào tiếng đầu. Ông đứng giữa phòng, mặc áo choàng, tay phải cầm chiếc ống nghe màu đen, dùng nó gõ vào đùi.
“Nhanh lên, nhanh lên,” ông nói và đưa cặp mắt phồng mọng nhìn lên chiếc đồng hồ treo tường. “_Un poco più presto, Signori!_ Chúng tôi đâu có mặt ở đây hoàn toàn chỉ để hầu hạ quý ngài tôn quý.”
Ngồi ở chiếc bàn đôi trước cửa sổ là bác sĩ Krokowski, tái nhợt trên nền chiếc áo sơ-mi đen bóng, khuỷu tay chống trên mặt bàn, một tay cầm bút, tay kia vuốt râu, trước mặt là giấy tờ, chắc hẳn là hồ sơ bệnh nhân, và ông nhìn những người mới vào với vẻ đờ đẫn của một nhân vật chỉ hiện diện với tư cách phụ tá.
“Nào, đưa đây sổ hạnh kiểm nào!” vị Hofrat đáp lại những lời xin lỗi của Joachim và nhận tờ biểu đồ sốt từ tay anh để xem qua, trong khi bệnh nhân vội vã cởi trần nửa người trên và treo quần áo vừa cởi lên giá mắc cạnh cửa. Không ai đoái hoài gì đến Hans Castorp. Chàng đứng xem một lúc, rồi sau đó ngồi xuống một chiếc ghế bành nhỏ kiểu cổ, có tua ở tay vịn, kê bên cạnh một chiếc bàn con đặt bình nước. Dọc tường là những tủ sách chứa đầy các bộ y thư gáy dày và những tập hồ sơ bó lại. Ngoài ra, về mặt đồ đạc, chỉ còn một chiếc ghế dài phủ vải dầu trắng, có thể quay tay nâng cao hạ thấp, bên trên chiếc gối đầu của nó trải một chiếc khăn giấy.
“Phẩy 7, phẩy 9, phẩy 8,” Behrens nói, vừa giở những tờ bảng tuần mà Joachim đã cần mẫn ghi vào đó kết quả của năm lần đo mỗi ngày. “Vẫn còn hơi ngà ngà đấy, anh bạn Ziemßen ạ, không thể quả quyết rằng từ bữa nọ đến nay anh đã tỉnh táo hơn được bao nhiêu.” (“Bữa nọ” là cách đây bốn tuần.) “Chưa giải độc, chưa giải độc,” ông nói. “À, tất nhiên chuyện ấy đâu thể một sớm một chiều, chúng tôi cũng chẳng biết làm phép.”
Joachim gật đầu và nhún đôi vai trần, mặc dù anh hoàn toàn có thể cãi lại rằng đâu phải chỉ mới từ hôm qua anh mới ở trên này.
“Thế còn những cơn nhói ở rốn phổi bên phải, chỗ tiếng vẫn luôn nghe gắt hơn ấy, ra sao rồi? Đỡ chưa? Nào, lại đây! Ta sẽ lịch sự gõ thử lên anh một chút.” Và việc nghe khám bắt đầu.
Hofrat Behrens đứng dang chân, người ngả về sau, kẹp ống nghe dưới nách, trước hết gõ lên thật cao ở vai phải Joachim, gõ bằng cổ tay, dùng chính ngón giữa đồ sộ của bàn tay phải làm búa và lấy tay trái làm chỗ tì. Sau đó ông hạ xuống dưới bả vai, gõ ở bên sườn phần lưng giữa và dưới, rồi Joachim, vốn đã được luyện thành nếp, giơ cánh tay lên để ông còn gõ cả dưới nách. Xong xuôi, toàn bộ động tác ấy lại lặp sang phía bên trái, và sau khi hoàn tất, vị Hofrat hô “Quay!” để chuyển sang gõ mặt ngực. Ông gõ ngay dưới cổ, ở chỗ xương đòn, gõ trên và dưới ngực, trước bên phải rồi bên trái. Nhưng khi đã gõ chán chê, ông chuyển sang nghe, áp ống nghe, tai tì vào loa, lên ngực và lưng Joachim, khắp những chỗ lúc nãy ông vừa gõ. Trong lúc ấy Joachim phải luân phiên hít thở mạnh và ho gượng, điều dường như làm anh rất mệt, vì anh thở hổn hển và nước mắt ứa ra nơi mắt. Còn Hofrat Behrens thì báo hết cho người phụ tá, về phía chiếc bàn giấy, tất cả những gì ông nghe thấy ở bên trong kia, bằng những lời ngắn gọn, cố định, đến nỗi Hans Castorp không sao không nghĩ tới công việc ở tiệm may, khi người thợ ăn mặc tươm tất đo số cho một bộ đồ, theo đúng thứ tự quen thuộc quàng thước dây đây đó quanh thân mình và tay chân khách hàng, rồi đọc những con số vừa lấy được cho người phụ việc ngồi lom khom chấp bút. “Ngắn,” Hofrat Behrens đọc. “Rút ngắn.” “Phế nang,” ông nói, rồi lại: “Phế nang” (hiển nhiên đó là điều tốt). “Thô,” ông nói và nhăn mặt. “_Rất_ thô.” “Tiếng động.” Và bác sĩ Krokowski ghi lại tất cả, như người làm công chép lấy những con số của tay thợ cắt.
Hans Castorp dõi theo mọi diễn biến ấy với cái đầu nghiêng sang bên, trầm ngâm đắm trong việc ngắm nhìn thân mình của Joachim, nơi những chiếc xương sườn của anh, tạ ơn trời anh còn có đủ xương sườn, mỗi khi thở hổn hển lại nhô lên dưới làn da căng, cao hẳn lên trên cái bụng hóp vào, thân trên thanh mảnh, vàng nâu của một chàng trai với những sợi lông đen ở xương ức và trên những cánh tay vốn dĩ khá rắn rỏi, một cánh tay đeo vòng xích vàng ở cổ tay. Đó là những cánh tay của một người tập thể dục, Hans Castorp nghĩ; bao giờ anh ấy cũng thích thể dục, còn mình thì chẳng mảy may ham, và điều ấy liên quan đến lòng yêu thích binh nghiệp của anh ấy. Bao giờ anh ấy cũng có thiện cảm với thân thể, nhiều hơn mình, hoặc ít ra theo một cách khác; vì mình bao giờ cũng là một kẻ dân sự, điều mình quan tâm hơn là được tắm nước ấm và ăn uống ngon lành, còn anh ấy thì nhắm đến những đòi hỏi và thành tích nam nhi. Mà giờ đây thân thể anh ấy lại được đẩy ra tiền cảnh theo một cách hoàn toàn khác, đã tự làm cho mình thành độc lập và quan trọng, tức là bằng bệnh tật. Anh ấy đang ngà ngà và không chịu giải độc, không chịu trở nên tỉnh táo, dẫu anh Joachim tội nghiệp muốn làm lính ở miền đồng bằng đến mấy đi nữa. Kìa xem, anh ấy lớn lên đúng như sách vở vẫn tả, hệt một Apollo Belvedere, trừ mái tóc. Nhưng bên trong thì anh ấy ốm, còn bên ngoài lại quá nóng vì bệnh; bởi bệnh tật làm con người trở nên thể xác hơn biết bao, nó làm con người hoàn toàn thành ra một thân xác... Và khi nghĩ như vậy, chàng giật mình, vội vã và dò xét ngẩng mắt từ thân trên trần trụi của Joachim lên đôi mắt anh, đôi mắt to, đen và hiền, đang ứa lệ vì thở gượng và ho gượng, và trong lúc được khám đã mang một vẻ buồn bã, nhìn vượt qua người đứng xem mà hướng vào khoảng không.
Trong khi đó Hofrat Behrens đã làm xong.
“Nào, được rồi, Ziemßen,” ông nói. “Mọi sự đều ổn cả, trong chừng mực có thể ổn được. Lần sau” (nghĩa là trong bốn tuần nữa), “thì chắc chắn khắp nơi lại sẽ khá hơn một chút.”
“Ngài Hofrat nghĩ còn bao lâu thì...”
“Anh lại muốn giục giã nữa đấy à? Anh đâu thể đi hành hạ bọn lính của anh trong tình trạng còn ngà ngà thế này được! Bữa nọ tôi đã nói nửa năm rồi, cứ tính từ bữa nọ cũng được, nhưng hãy xem đó là mức tối thiểu. Rốt cuộc sống ở đây cũng được cơ mà, anh cũng phải lịch sự chứ. Dù sao thì chúng tôi đâu phải là Bagno với lại... một mỏ quặng Siberia! Hay anh muốn bảo rằng chúng tôi giống những thứ ấy? Thôi được, Ziemßen! Lui ra! Tiếp theo, ai ở đây còn hứng thú nào!” ông gọi và ngước nhìn lên không. Vừa nói, ông vừa đưa cánh tay ra, chìa chiếc ống nghe sang cho bác sĩ Krokowski, người đứng dậy nhận lấy để làm một cuộc tái kiểm tra nhỏ với tư cách phụ tá cho Joachim.
Hans Castorp cũng bật dậy, mắt dán chặt vào con người của vị Hofrat, kẻ đang đứng dang chân mà dường như há miệng trầm ngâm trong suy nghĩ, và chàng bắt đầu vội vàng sửa soạn sẵn sàng. Chàng hấp tấp quá, lúc kéo chiếc sơ-mi chấm bi qua đầu còn loay hoay mãi chưa thoát ra được. Rồi chàng đứng đó, trắng trẻo, tóc vàng và mảnh dẻ, trước mặt Hofrat Behrens, trông có vẻ được giáo dưỡng theo lối dân sự hơn Joachim Ziemßen.
Nhưng vị Hofrat vẫn để mặc chàng đứng đấy, đầu óc còn đang chìm trong suy tưởng. Bác sĩ Krokowski đã lại ngồi xuống, Joachim cũng đã bắt đầu mặc quần áo, thì Behrens cuối cùng mới quyết định để mắt đến người kia, kẻ cũng còn hứng thú.
“À, vậy ra bây giờ là _cậu_ đấy!” ông nói, dùng bàn tay khổng lồ nắm lấy cánh tay trên của Hans Castorp, đẩy chàng ra xa mình và nhìn chàng chăm chú. Ông không nhìn vào mặt chàng như người ta nhìn một con người, mà nhìn vào thân thể; ông xoay chàng lại như người ta xoay một thân thể, rồi ngắm cả lưng chàng nữa. “Hừm,” ông nói. “Nào, ta thử xem cậu ngân lên thế nào.” Và như khi nãy, ông bắt đầu gõ.
Ông gõ khắp những nơi đã gõ ở Joachim Ziemßen, và nhiều lần quay trở lại một vài chỗ. Khá lâu, ông luân phiên gõ ở phía trên bên trái gần xương đòn và ở chỗ thấp hơn một chút để đối chiếu.
“Ông có nghe ra không?” ông vừa làm vừa hỏi vọng sang phía Tiến sĩ Krokowski... Và Tiến sĩ Krokowski, ngồi cách đó năm bước bên bàn giấy, biểu lộ bằng một cái gật đầu rằng mình có nghe ra: nghiêm trang, ông hạ cằm xuống ngực, đến nỗi bộ râu bị ép bẹp lại và chòm râu nhọn cong hất lên.
“Hít sâu! Ho đi!” vị Hofrat ra lệnh, lúc này đã lại cầm ống nghe lên; và Hans Castorp làm theo một cách nặng nhọc, suốt tám hay mười phút liền, trong khi vị Hofrat nghe phổi chàng. Trong lúc ấy ông không nói một lời nào, chỉ đặt ống nghe chỗ này chỗ kia mà lắng nghe, nhất là nghe đi nghe lại ở những điểm ban nãy khi gõ ông đã dừng lại lâu. Rồi ông kẹp dụng cụ vào nách, chắp tay ra sau lưng và nhìn xuống sàn nhà ở khoảng giữa ông với Hans Castorp.
“Phải, Castorp,” ông nói, và đây là lần đầu tiên ông gọi người thanh niên chỉ bằng họ, “sự thể quả nhiên diễn ra _praeter-propter_ đúng như tôi vẫn nghĩ từ trước. Tôi đã để mắt tới ông, Castorp, giờ thì có thể nói cho ông biết rồi, ngay từ đầu kia, ngay từ lúc tôi lần đầu có cái vinh hạnh không đáng được mà làm quen với ông, và đã khá chắc mà ngờ rằng trong thâm tâm ông là người của chốn này, và rồi ông cũng sẽ nhận ra như thế thôi, như biết bao kẻ đã lên đây cho vui, ngẩng mũi nhìn quanh, rồi đến một ngày được biết rằng điều có lợi cho mình là nên, mà không chỉ là ‘nên’ đâu, xin ông hiểu cho kỹ, ở lại đây một chặng dài hơn đôi chút, không phải với cái dáng tò mò bàng quan nữa.”
Hans Castorp đã tái biến sắc mặt, còn Joachim, đang định cài dây quần, thì đứng sững lại đúng ở tư thế ấy và lắng nghe...
“Ông có một người em họ thật dễ mến, thật đáng cảm tình,” vị Hofrat nói tiếp, vừa nghiêng đầu về phía Joachim vừa đung đưa trên gót và mũi chân, “mà hẳn là rồi đây sẽ sớm có thể nói rằng mình đã từng _bị_ bệnh một lần; nhưng đến khi chúng ta đi được tới đó thì rốt cuộc cậu ấy vẫn sẽ là người đã từng _bị_ bệnh trước ông, vị biểu huynh chính cống của ông, và điều đó _a priori_, như nhà tư tưởng nói, cũng rọi một thứ ánh sáng nào đó lên chính ông, Castorp thân mến...”
“Nhưng anh ấy chỉ là anh em họ ghẻ với tôi thôi, thưa Herr Hofrat.”
“Ủa kìa, ủa kìa. Chẳng lẽ ông lại muốn chối từ ông anh em họ của mình sao. Ghẻ hay không, thì cậu ấy vẫn cứ là bà con máu mủ. Bên nào vậy?”
“Bên mẹ, thưa Herr Hofrat. Anh ấy là con trai của một người chị kế...”
“Thế bà thân mẫu của ông vẫn mạnh giỏi chứ?”
“Không, mẹ tôi mất rồi. Bà qua đời khi tôi còn nhỏ.”
“Ồ, vì sao vậy?”
“Vì một cục máu đông, thưa Herr Hofrat.”
“Cục máu đông à? À, chuyện cũng đã lâu rồi. Còn thân phụ ông?”
“Cha tôi mất vì viêm phổi,” Hans Castorp nói, “và ông nội tôi cũng vậy,” chàng thêm vào.
“Ra thế, cả cụ cũng vậy sao? Thôi, chừng ấy về tổ tiên của ông. Còn như chính ông, thì hẳn xưa nay vẫn khá xanh xao, phải không nào? Nhưng ông không dễ mệt khi lao động thể xác và tinh thần, có phải không? Có à? Và lại hay đánh trống ngực? Mới gần đây thôi? Tốt, thêm vào đó thì hiển nhiên là có một khuynh hướng khá mạnh đối với chứng viêm niêm mạc đường hô hấp. Ông có biết rằng trước kia mình đã từng bị bệnh không?”
“Tôi ư?”
“Phải, tôi đang nói chính ông đấy. Ông có nghe ra sự khác nhau không?” Và vị Hofrat luân phiên gõ ở phía trên bên trái ngực và ở chỗ thấp hơn một chút.
“Ở đây âm nghe đục hơn một chút so với chỗ này,” Hans Castorp nói.
“Rất khá. Ông nên làm chuyên gia mới phải. Vậy tức là có một chỗ đục, mà chỗ đục thì dựa trên những vị trí cũ, nơi vôi hóa đã xảy ra, sẹo hóa, nếu ông muốn nói như vậy. Ông là một bệnh nhân lâu năm, Castorp, nhưng ta cũng đừng trách ai vì ông đã không biết điều đó. Chẩn đoán sớm vốn khó, nhất là đối với các vị đồng nghiệp ở miền đồng bằng. Tôi thậm chí không muốn nói rằng chúng tôi có đôi tai tinh hơn, mặc dầu dĩ nhiên sự rèn luyện chuyên môn cũng có tác dụng phần nào. Nhưng không khí giúp chúng tôi nghe, ông hiểu chứ, thứ không khí loãng, khô trên này.”
“Dĩ nhiên, tất nhiên rồi,” Hans Castorp nói.
“Tốt, Castorp. Và bây giờ thì nghe đây, chàng trai của tôi, giờ tôi xin nói vài lời vàng ngọc. Nếu ở ông không còn gì khác nữa, ông hiểu chứ, và mọi sự chỉ dừng ở những chỗ đục, những vết sẹo trong cái _Äolusschlauch_ của ông ở trong kia, cùng những dị vật đã vôi hóa trong đó, thì tôi sẽ cho ông về với Laren und Penaten của ông và chẳng buồn bận tâm thêm đến ông một li nào nữa, ông hiểu chứ? Nhưng sự tình vốn như thế này, và hơn nữa còn có kết quả khám kia nữa, mà đã một khi ông ở đây với chúng tôi rồi, thì chuyến trở về chẳng đáng công đâu, Hans Castorp, vì chẳng bao lâu nữa ông cũng lại phải lên trình diện thôi.”
Hans Castorp lại cảm thấy máu mình dồn về tim, khiến nó đập thình thịch; còn Joachim vẫn đứng nguyên đó, hai tay đặt nơi những chiếc cúc phía sau, mắt nhìn xuống.
“Vì ngoài những chỗ đục ấy ra,” vị Hofrat nói, “ở phía trên bên trái ông còn có một độ ráp, gần như đã thành ra tiếng cọ rồi, và điều đó hẳn nhiên bắt nguồn từ một chỗ mới, tôi còn chưa muốn nói là một ổ nhuyễn hóa, nhưng nhất định đó là một _vết ẩm_, và nếu ở dưới kia ông cứ tiếp tục sống như thế, người bạn thân mến của tôi, thì chẳng mấy chốc cả thùy phổi của ông sẽ tiêu ma đi đời.”
Hans Castorp đứng bất động, khóe miệng chàng giật lên một cách lạ lùng, và người ta có thể thấy rõ trái tim chàng nảy đập vào lồng sườn. Chàng nhìn sang Joachim, nhưng không gặp được mắt anh, rồi lại nhìn vào gương mặt của vị Hofrat với đôi má xanh, cặp mắt lồi xanh cũng xanh ấy, và chòm ria mép được tỉa kéo lệch về một bên.
“Làm sự xác nhận khách quan,” Behrens nói tiếp, “ở đây ta còn có nhiệt độ của ông nữa: 37,6 vào mười giờ sáng, khá tương ứng với những gì tai nghe được.”
“Tôi chỉ nghĩ rằng,” Hans Castorp nói, “cơn sốt là do chứng viêm niêm mạc của tôi gây ra.”
“Thế còn chứng viêm niêm mạc ấy?” vị Hofrat đáp lại... “Nó từ đâu mà ra? Để tôi kể cho ông nghe một điều, Castorp, và chú ý đấy, theo chỗ tôi biết thì ông có đủ số nếp nhăn não cần thiết kia mà. Vậy nhé, ông cho rằng không khí ở chỗ chúng tôi đây tốt chống lại bệnh, phải không? Điều ấy đúng. Nhưng nó cũng tốt _cho_ bệnh nữa, ông hiểu tôi chứ, trước hết nó thúc đẩy bệnh, nó làm thân thể nổi loạn, nó khiến căn bệnh tiềm phục bộc phát ra, và một sự bộc phát như thế, xin đừng phật ý, chính là chứng viêm niêm mạc của ông. Tôi không biết ở dưới miền thấp ông đã từng sốt chưa, nhưng trên này thì dù sao ngay từ ngày đầu ông đã phát sốt rồi, chứ không phải vì chứng viêm niêm mạc của ông mà sau đó mới sốt lên, đó là ý kiến của tôi.”
“Vâng,” Hans Castorp nói, “vâng, quả thực tôi cũng tin đúng như thế.”
“Có lẽ lập tức ông đã lâng lâng rồi,” vị Hofrat khẳng định thêm. “Đó là những độc chất hòa tan do vi khuẩn tạo ra; chúng tác động gây say lên hệ thần kinh trung ương, ông hiểu chứ, và rồi người ta có đôi má hồng hây hây. Trước mắt, ông đi vào _Klappe_ đi, Castorp; chúng tôi phải xem liệu có thể làm ông tỉnh lại bằng vài tuần nằm giường không đã. Chuyện sau đó rồi sẽ tính. Chúng tôi sẽ chụp cho ông một tấm nội ảnh thật đẹp, ông sẽ thích thú khi được có cái nhìn vào chính con người mình như thế. Nhưng tôi nói ngay cho ông biết: một ca như của ông thì không thể khỏi từ hôm nay sang ngày kia, ở đây chẳng có những thành công quảng cáo hay những phép chữa kỳ diệu nào để phô trương cả. Tôi đã thấy ngay rằng ông hẳn sẽ là một bệnh nhân khá hơn, có tài năng mắc bệnh hơn vị chuẩn tướng kia, người cứ hễ bớt đi vài vạch là lại muốn chuồn ngay. Như thể nằm yên lại chẳng phải là một mệnh lệnh tốt ngang với đứng nghiêm vậy! Yên nghỉ là nghĩa vụ công dân hàng đầu, còn nôn nóng chỉ làm hại mà thôi. Vậy nên xin ông đừng làm tôi thất vọng, Castorp, và đừng khiến sự biết người của tôi thành dối trá! Giờ thì đi nào, vào nhà xe với ông!”
Nói vậy là Hofrat Behrens kết thúc cuộc nói chuyện và ngồi xuống bàn giấy, để với tư cách một người lắm công nhiều việc, dùng quãng nghỉ cho tới lần khám kế tiếp mà giải quyết giấy tờ. Còn Tiến sĩ Krokowski thì đứng dậy khỏi chỗ, bước đến trước Hans Castorp, đầu hơi ngả chéo ra sau, một tay đặt trên vai người thanh niên, miệng cười rắn rỏi đến mức những chiếc răng ngả vàng hiện ra trong bộ râu, rồi ông siết tay phải chàng một cách nồng hậu.