Núi thần — Chương 4
Chương 4 / 8 · Bài review Núi thần
Vẻ sa sầm đoan trang
Hans Castorp đã lo mình sẽ ngủ quên mất giờ, vì chàng mệt đến khác thường; nhưng chàng lại dậy sớm hơn mức cần thiết và còn dư dả thì giờ để tuần tự theo đuổi những thói quen buổi sáng của mình, những thói quen hết sức văn minh, trong đó một chiếc chậu cao su cùng một bát gỗ đựng xà phòng oải hương xanh với chiếc bàn chải rơm đi kèm giữ một vai trò chủ yếu, - và đồng thời kết hợp các công việc tẩy rửa, chăm sóc thân thể với công việc khác là mở va-li và sắp đặt đồ đạc. Trong khi đưa chiếc dao cạo mạ bạc lướt trên hai má phủ bọt thơm, chàng nhớ lại những giấc mơ rối rắm của mình và mỉm cười khoan dung, lắc đầu trước ngần ấy điều nhảm nhí, với cái cảm giác ưu thế của con người đang cạo râu dưới ánh sáng ban ngày của lý trí. Quả chàng không hẳn thấy mình đã được nghỉ ngơi thật đầy đủ; nhưng chàng vẫn tươi tỉnh theo buổi sớm non.
Trong lúc lau khô tay, chàng, hai má đã phủ phấn, vận chiếc quần lót _file d’écosse_ và đi đôi dép da safian đỏ, bước ra ban công chạy dọc, chỉ được chia thành từng khoảng phòng riêng biệt bằng những vách kính mờ không nhô hẳn ra đến lan can. Buổi sáng mát và nhiều mây. Những dải sương dài nằm im bất động trước các triền cao hai bên, trong khi những khối mây trắng và xám nặng nề sà xuống dãy núi xa hơn. Ở đây đó lộ ra những mảng, những vệt trời xanh; và mỗi khi một tia nắng lọt vào, xóm nhỏ dưới đáy thung lũng ánh trắng lên giữa những rừng linh sam sẫm màu trên sườn dốc. Ở đâu đó có nhạc sáng, hẳn là từ cùng khách sạn đã có hòa nhạc tối qua. Những hợp âm thánh ca vọng sang trầm đục, rồi sau một quãng ngắt là một khúc hành khúc; và Hans Castorp, người yêu âm nhạc bằng cả tấm lòng, bởi nó tác động lên chàng gần như hệt ly bia đen dùng lúc điểm tâm, nghĩa là làm dịu sâu xa, gây tê mê, dỗ dành người ta ngả vào cơn ngái ngủ, chăm chú lắng nghe với vẻ khoan khoái, đầu nghiêng sang một bên, miệng hé mở, đôi mắt hơi đỏ.
Phía dưới, khúc quanh của con đường uốn mình leo lên dưỡng đường, chính lối mà tối qua chàng đã đi tới. Hoa long đởm cuống ngắn, hình ngôi sao, mọc giữa đám cỏ ẩm trên sườn dốc. Một phần sân bệ được rào lại làm vườn; ở đó có những lối đi rải sỏi, những luống hoa và một hang đá giả dưới chân một cây linh sam quý dáng vóc bề thế. Một nhà hóng lợp tôn, kê đầy ghế nằm nghỉ, mở về phía nam; và bên cạnh dựng một cột cờ sơn nâu đỏ, nơi sợi dây đôi khi tung ra tấm cờ, - một lá cờ kiểu tưởng tượng, xanh lục và trắng, giữa có phù hiệu y thuật, một cây gậy rắn quấn.
Một người đàn bà đi đi lại lại trong vườn, một phụ nhân có vẻ ngoài u tối, phải nói là bi kịch. Mặc toàn màu đen, quanh mái tóc đen xám rối quấn một khăn voan đen, bà bước mãi trên những lối đi với vẻ không yên, nhanh đều, đầu gối cong cong và hai cánh tay cứng đờ buông thõng ra phía trước; trán hằn những nếp ngang, đôi mắt đen như than, bên dưới là những bọng da nhão, nhìn trừng trừng thẳng tới. Gương mặt đang già đi, tái nhợt kiểu phương nam, với cái miệng lớn, tiều tụy, lệch trễ xuống một bên, khiến Hans Castorp nhớ đến chân dung một nữ nghệ sĩ bi kịch lừng danh mà chàng đã từng trông thấy; và thật rờn rợn khi thấy người đàn bà đen trắng bệch ấy, hiển nhiên không hề hay biết, đang bước những bước dài sầu thảm của mình đúng theo nhịp điệu bản hành khúc vọng sang.
Hans Castorp trầm ngâm, cảm thương nhìn xuống bà, và chàng có cảm giác như dáng hình buồn bã ấy làm u ám cả ánh nắng ban mai. Đồng thời, chàng còn tiếp nhận một điều khác nữa, một điều nghe được, những tiếng động từ căn phòng bên trái, phòng của cặp vợ chồng người Nga, theo lời Joachim, vọng sang; mà những tiếng ấy cũng chẳng hợp gì với buổi sáng tươi vui, mát lành này, trái lại dường như bôi bẩn nó bằng một thứ nhơ nhớp dính dáp nào đó. Hans Castorp nhớ ra tối qua chàng đã nghe những âm thanh tương tự, nhưng cơn mệt đã ngăn chàng để ý. Đó là những tiếng vật lộn, khúc khích và thở hổn hển, cái bản tính chướng tai gai mắt của chúng không thể còn bị che giấu lâu trước chàng trai trẻ, mặc dù lúc đầu chàng, do lòng tốt, đã cố diễn giải chúng theo cách vô hại. Người ta cũng có thể đặt cho lòng tốt ấy những tên gọi khác, chẳng hạn cái tên hơi nhạt là sự trong sạch tâm hồn, hoặc cái tên nghiêm trang và đẹp đẽ là đức e lệ, hoặc những tên gọi hạ thấp hơn như sự không muốn biết sự thật và thói rụt cổ né tránh, hay thậm chí là một nỗi sợ hãi thần bí và lòng mộ đạo, - trong cách Hans Castorp đối diện với những tiếng động từ phòng bên có pha lẫn đôi chút của tất cả những điều ấy; và về mặt tướng mạo, điều đó biểu hiện ở một vẻ sa sầm đoan trang trên nét mặt chàng, như thể chàng không được phép và cũng không muốn biết gì về cái mình đang nghe: một vẻ đoan chính không hẳn là độc đáo, nhưng chàng vẫn thường mang lấy trong những dịp nhất định.
Với nét mặt ấy, chàng rút từ ban công vào phòng, để không phải nghe lén lâu hơn nữa những sự việc đối với chàng có vẻ nghiêm trọng, thậm chí chấn động, tuy chúng lại tự bộc lộ qua những tiếng khúc khích. Nhưng ở trong phòng, cuộc quấy động bên kia vách lại càng nghe rõ. Dường như là một cuộc rượt đuổi quanh đồ đạc; một chiếc ghế đổ rầm, người ta túm lấy nhau, có những tiếng bôm bốp và những nụ hôn; và thêm vào đó, giờ đây từ bên ngoài, từ xa, là những âm điệu valse, những câu nhạc êm tai đã mòn của một điệu hát đầu đường, như đệm cho cảnh tượng vô hình ấy. Hans Castorp đứng đó, chiếc khăn trong tay, nghe ngóng trái với sự sáng suốt hơn của mình. Và đột nhiên chàng đỏ bừng dưới lớp phấn, vì điều chàng đã thấy trước rất rõ ràng rốt cuộc đã xảy ra, và cuộc chơi giờ đây không còn nghi ngờ gì nữa, đã chuyển hẳn sang tính chất thú vật. Lạy Chúa, quái quỷ thật! chàng nghĩ, đồng thời quay đi để cố ý làm nốt việc sửa soạn với những cử động gây tiếng động. Thì họ là vợ chồng, nhân danh Chúa, như thế xét cho cùng cũng ổn thôi. Nhưng giữa ban mai sáng choang thế này thì thật quá lắm. Và tớ cứ thấy như thể tối qua họ cũng đã chẳng chịu yên. Dù sao thì họ vẫn là người bệnh, bởi họ ở đây, hoặc ít nhất một trong hai người là bệnh, như thế lẽ ra cũng nên biết giữ gìn đôi chút. Nhưng điều thực sự tai tiếng thì dĩ nhiên, chàng giận dữ nghĩ, là những bức tường mỏng đến thế, khiến người ta nghe rõ mọi chuyện; đó quả là một tình trạng không thể chấp nhận được! Xây cất rẻ tiền, dĩ nhiên, rẻ tiền đến đáng xấu hổ! Không biết lát nữa mình có phải trông thấy họ, hay thậm chí còn bị giới thiệu làm quen với họ không? Thế thì khó xử đến bậc nào. Và ở đây Hans Castorp lấy làm ngạc nhiên, vì chàng nhận thấy sắc đỏ vừa rồi dâng lên đôi má mới cạo sạch của mình không chịu rút đi, hay đúng hơn, cái cảm giác nóng ran đi kèm với nó không chịu tan biến mà cứ bám chặt ở đó; chẳng qua đó lại chính là thứ hơi nóng khô nơi mặt mà tối qua chàng đã khổ sở chịu đựng, đã trút bỏ được trong giấc ngủ, và giờ nhân dịp này lại quay về. Điều ấy không khiến chàng dễ chịu hơn với cặp vợ chồng ở phòng bên; trái lại, mím môi đẩy ra trước, chàng lẩm bẩm một lời hết sức bất lợi cho họ, rồi lại mắc sai lầm là dội nước lên mặt thêm một lần nữa để làm mát, khiến cái khó chịu ấy trầm trọng hẳn lên. Thành thử giọng chàng dao động bẳn gắt khi đáp lời người anh em họ đang gọi vọng và gõ vào vách, và khi Joachim bước vào thì chàng hoàn toàn không gây được ấn tượng của một con người vừa được làm mới lại và vui tươi với buổi sớm.
Bữa điểm tâm
"Chào cậu," Joachim nói. "Vậy là đêm đầu tiên của cậu trên này đấy. Cậu có thấy vừa ý không?"
Anh đã sửa soạn xong để ra ngoài, ăn mặc theo lối thể thao, đi đôi ủng đóng chắc khỏe, và khoác trên tay chiếc ulster, trong túi sườn áo lộ hẳn dáng chiếc chai dẹt. Hôm nay anh cũng không đội mũ.
"Cảm ơn," Hans Castorp đáp, "cũng được. Tớ chưa muốn phán đoán gì thêm. Tớ có mơ hơi rối một chút, rồi căn nhà này lại có cái bất tiện là truyền âm quá rõ, điều ấy hơi phiền. Bà áo đen ngoài vườn kia là ai thế?"
Joachim lập tức biết ngay chàng muốn nói tới ai.
"À, đó là _Tous-les-deux_," anh nói. "Ở đây bọn tớ ai cũng gọi bà ta như thế, vì đó là điều duy nhất người ta nghe được từ miệng bà. Người Mexico, cậu biết đấy, không nói được lấy một lời tiếng Đức, mà tiếng Pháp cũng hầu như không, chỉ đôi mẩu vụn. Bà ta lên đây đã năm tuần để ở bên cậu con trai cả, một trường hợp hoàn toàn vô vọng, giờ chắc sẽ tàn đi rất nhanh, - nó đã lan khắp nơi rồi, có thể nói là độc đã ngấm từ đầu đến chân, đến sau chót thì nom gần như thương hàn, Behrens bảo vậy, - ghê gớm cho tất cả mọi người dính líu, dẫu sao cũng thế. Cách đây mười bốn ngày, người con trai thứ hai lại lên, vì cậu ta còn muốn gặp anh mình lần chót, - mà lại là một chàng trai đẹp như tạc nữa chứ, cũng như người kia, - cả hai đều là những cậu đẹp như tạc, mắt bừng lửa, các bà các cô ở đây mê tít cả lên. Nào, cậu em ở dưới kia chắc cũng đã hơi ho một tí, nhưng ngoài ra vẫn khỏe mạnh tỉnh táo. Thế mà vừa lên đến đây, cậu đoán xem, nó phát sốt, - mà sốt ngay 39,5, sốt rất cao, hiểu không, nằm vật xuống giường, và Behrens bảo nếu còn dậy được thì là nhờ may nhiều hơn khôn. Dẫu sao ông ấy cũng nói rằng cậu ta lên đây là vừa đúng lúc nhất... Ừ, và từ đấy bà mẹ cứ đi đi lại lại như thế, nếu không ngồi bên họ; mà hễ ai bắt chuyện thì bà chỉ nói mỗi câu '_Tous les deux!_' vì ngoài câu ấy ra bà chẳng còn nói được gì, trong lúc này ở đây lại chẳng có ai hiểu tiếng Tây Ban Nha."
"Thì ra là thế với bà ấy," Hans Castorp nói. "Không biết rồi bà có nói thế với tớ nữa không, khi tớ làm quen với bà? Thế thì cũng thật lạ, - ý tớ là vừa buồn cười vừa rờn rợn cùng một lúc," chàng nói; và mắt chàng lại như hôm qua: chúng có vẻ nóng và nặng, như thể chàng đã khóc rất lâu, và trong ấy lại ánh lên thứ lấp lánh mà cơn ho kiểu mới của ông kỵ sĩ đã khêu bùng lên. Nói chung, chàng có cảm tưởng như chỉ đến bây giờ mình mới nối lại được với ngày hôm qua, như thể giờ đây mới thật sự trở lại trong cuộc, điều mà lúc vừa thức dậy hoàn toàn chưa phải vậy. Nhân tiện, chàng tuyên bố rằng mình đã sẵn sàng, vừa nhỏ mấy giọt nước oải hương lên khăn tay, vừa chấm lên trán và vùng dưới mắt. "Nếu cậu thấy tiện, chúng ta có thể _tous les deux_ đi ăn điểm tâm," chàng đùa, với một cảm giác phấn khích gần như phóng túng; Joachim nhìn chàng dịu dàng và mỉm cười một cách kỳ lạ, dường như pha chút u sầu và hơi mỉa mai, - vì sao thì đó là việc của anh.
Sau khi chắc chắn mình đã mang theo thứ để hút, Hans Castorp cầm gậy, áo khoác và mũ, cả chiếc mũ nữa, một cách có phần thách thức, bởi chàng quá mực vững tin vào nếp sống và phong hóa của mình để có thể dễ dàng, chỉ trong vẻn vẹn ba tuần, mà chiều theo những tập quán xa lạ và mới mẻ, - rồi thế là họ đi, đi xuống các cầu thang; và trên những hành lang, Joachim chỉ cửa này cửa nọ, gọi tên những người ở trong, những cái tên Đức xen lẫn đủ thứ âm vang ngoại quốc, đồng thời thêm vào vài nhận xét ngắn về tính nết và mức trầm trọng của bệnh trạng từng người.
Họ cũng gặp những người đã ăn điểm tâm xong trở về, và mỗi khi Joachim chúc ai đó buổi sáng tốt lành, Hans Castorp lại lịch sự nhấc mũ chào. Chàng căng thẳng và bồn chồn như một người trẻ sắp phải ra mắt nhiều người xa lạ, lại còn bị ám ảnh bởi cái cảm giác rất rõ rằng mắt mình đục và mặt mình đỏ, tuy thực ra điều ấy chỉ đúng một phần, vì chàng đúng hơn là tái nhợt.
"Kẻo tớ quên mất!" chàng bỗng nói với một vẻ sốt sắng hơi mù quáng. "Cậu cứ có thể giới thiệu tớ với bà ở ngoài vườn, nếu đúng dịp, tớ không phản đối đâu. Bà ấy cứ việc nói '_tous les deux_' với tớ, điều ấy chẳng hề gì, vì tớ đã được chuẩn bị rồi, hiểu ý nghĩa rồi, và sẽ biết làm cái vẻ mặt thích hợp. Nhưng với cặp vợ chồng người Nga thì tớ không muốn làm quen, cậu nghe chưa? Tớ tuyệt đối không muốn. Họ là những người cực kỳ vô phép, và nếu tớ đã phải ở cạnh họ suốt ba tuần, không cách nào sắp xếp khác được, thì ít nhất tớ cũng không muốn quen biết họ; tớ hoàn toàn có quyền dứt khoát cấm điều ấy..."
"Được thôi," Joachim nói. "Họ đã làm phiền cậu đến thế à? Ừ, theo một nghĩa nào đó thì họ là bọn man rợ, nói gọn là thiếu văn minh, tớ đã nói trước với cậu rồi mà. Hắn lúc nào cũng mặc áo da vào bàn ăn, - sờn mòn, tớ bảo thật đấy; tớ vẫn lấy làm lạ sao Behrens không can thiệp. Còn mụ ấy cũng chẳng phải người sạch sẽ cho lắm, mặc cho cái mũ cắm lông... Vả lại cậu cứ yên tâm, họ ngồi xa lắm, ở cái bàn Nga hạng xoàng, vì ở đây còn có một bàn Nga hạng khá, nơi chỉ những người Nga lịch thiệp hơn mới ngồi, - và hầu như không thể nào cậu lại gặp họ, ngay cả nếu cậu muốn. Nói chung làm quen ở đây không dễ, một phần vì trong số khách có quá nhiều người ngoại quốc; mà bản thân tớ, ngần ấy thời gian ở đây rồi, quen riêng cũng chỉ được vài người thôi."
"Thế trong hai người thì ai bệnh?" Hans Castorp hỏi. "Hắn hay mụ ấy?"
"Hắn, tớ nghĩ thế. Phải, chỉ mình hắn thôi," Joachim đáp, rõ ràng có phần lơ đãng, trong khi hai người cởi đồ ở những giá treo trước phòng ăn. Rồi họ bước vào căn phòng sáng sủa, trần vòm thấp, nơi tiếng nói vo ve, đồ dùng leng keng và các cô hầu bàn chạy qua chạy lại với những bình bốc hơi nóng.
Trong phòng ăn có bảy chiếc bàn, phần lớn đặt dọc, chỉ có hai chiếc đặt ngang. Đó là những bàn lớn, mỗi bàn dành cho mười người, tuy không phải chỗ nào bộ đồ ăn cũng đủ hết. Mới chỉ bước xéo vào phòng vài bước, Hans Castorp đã tới chỗ của mình: chỗ ấy được dọn sẵn cho chàng ở đầu ngắn của chiếc bàn đặt chính giữa phía trước, giữa hai bàn kê ngang. Đứng thẳng sau ghế, Hans Castorp cúi chào cứng cỏi mà nhã nhặn những người cùng bàn, những người mà Joachim trịnh trọng giới thiệu với chàng, nhưng chàng hầu như chẳng nhìn rõ họ, huống hồ tên tuổi của họ có lọt vào ý thức chàng hay không. Chỉ riêng con người và cái tên bà Stöhr là chàng nắm bắt được, cùng sự kiện rằng bà có khuôn mặt đỏ và mái tóc vàng tro bóng mỡ. Người ta hoàn toàn có thể tin bà mắc những lỗi vụng dại về giáo dưỡng, nét mặt bà biểu lộ một vẻ ngu dốt bướng bỉnh đến thế. Rồi chàng ngồi xuống và hài lòng nhận thấy ở đây bữa điểm tâm thứ nhất được người ta đối đãi như một bữa ăn nghiêm chỉnh.
Trên bàn có những hũ mứt và mật ong, những tô cơm sữa và cháo yến mạch, những đĩa trứng bác và thịt nguội; bơ được bày rất hậu, ai đó nhấc chiếc chụp kính lên khỏi một bánh phó mát Thụy Sĩ rịn nước để cắt lấy một miếng, và thêm nữa, giữa bàn còn có một bát hoa quả tươi lẫn khô. Một cô hầu bàn mặc đen trắng hỏi Hans Castorp chàng muốn uống gì: ca cao, cà phê hay trà. Cô nhỏ như một đứa trẻ, với gương mặt dài và già nua, - một người lùn, chàng kinh hãi nhận ra. Chàng nhìn người anh em họ, nhưng vì anh chỉ dửng dưng nhún vai nhướng mày, như muốn nói: "Ừ thì sao nào?" nên chàng đành chấp nhận sự thật, đặc biệt lễ phép xin dùng trà, vì chính một người lùn đã hỏi chàng, rồi bắt đầu ăn cơm sữa với quế và đường, trong khi mắt chàng lướt qua những món khác mà chàng muốn nếm, và lướt qua những vị khách ở cả bảy bàn, các đồng sự và bạn đồng cảnh của Joachim, tất cả đều mang bệnh trong người và đang chuyện trò mà ăn điểm tâm.
Phòng ăn được bài trí theo cái thị hiếu tân thời ấy, một thị hiếu biết đem vào cái giản phác khách quan nhất một chút sắc thái kỳ ảo. Căn phòng không sâu lắm so với chiều dài của nó, và được bao quanh bởi một thứ hành lang đi vòng, nơi đặt các bàn dọn thức ăn, mở ra phía không gian trong có kê bàn bằng những vòm lớn. Những cột trụ, tới nửa thân thì ốp gỗ đánh bóng màu đàn hương, phía trên quét vôi trắng nhẵn như phần trên của tường và trần nhà, có những dải màu sặc sỡ, những hoa văn khuôn mẫu ngây ngô mà vui mắt, tiếp tục chạy dọc theo các đai căng rộng của mái vòm thấp. Vài chùm đèn, dùng điện, bằng đồng vàng sáng bóng, trang trí cho căn phòng; mỗi chùm gồm ba vòng xếp chồng lên nhau, nối với nhau bằng những đường đan thanh nhã, và quanh chiếc vòng thấp nhất là những chụp kính sữa lượn thành vòng như những mặt trăng nhỏ. Có bốn cửa kính, hai cửa ở cạnh ngang phía đối diện mở ra một hiên rộng phía trước, cửa thứ ba ở phía trước bên trái dẫn thẳng vào tiền sảnh, và rồi chính cánh cửa mà Hans Castorp đã bước vào từ một hành lang, vì Joachim đã dẫn chàng xuống bằng một cầu thang khác với tối hôm qua.
Bên phải chàng là một người đàn bà tầm thường mặc đồ đen, nước da mờ mịn và đôi má nóng ửng một cách lặng lẽ, khiến chàng liên tưởng đến một cô thợ may hay một bà thợ may tại gia, hẳn cũng vì bà ta chỉ ăn sáng bằng cà phê với bánh mì bơ, và vì từ xưa chàng vẫn gắn hình dung về một bà thợ may tại gia với cà phê và bánh mì bơ. Bên trái là một cô người Anh, cũng đã đứng tuổi, rất xấu, với những ngón tay gầy guộc lạnh cóng, đang đọc những lá thư từ quê nhà viết bằng nét chữ tròn trịa và uống thứ trà đỏ như máu. Cạnh cô ta là Joachim, rồi đến Frau Stöhr mặc một chiếc áo len kiểu Scotland. Trong khi ăn, bà nắm chặt bàn tay trái gần má, và rõ ràng cố tạo ra một vẻ tao nhã có học mỗi khi nói, bằng cách kéo môi trên ra khỏi cặp răng thỏ dài và hẹp. Một người đàn ông trẻ có ria mép mỏng và nét mặt như thể trong miệng đang ngậm một thứ gì khó nuốt ngồi xuống bên cạnh bà và ăn sáng hoàn toàn im lặng. Anh ta vào khi Hans Castorp đã ngồi rồi, vừa đi vừa hạ cằm xuống ngực một lần để chào, không nhìn ai, rồi ngồi vào chỗ, và bằng chính cách xử sự ấy, dứt khoát từ chối việc để người ta giới thiệu anh với vị khách mới. Có lẽ anh ta bệnh quá nặng, nên không còn tâm trí hay sự kính trọng đối với những cái hình thức như vậy nữa, hoặc nói chung không còn quan tâm đến chung quanh mình. Trong chốc lát, ngồi đối diện chàng là một cô gái trẻ tóc vàng nhạt, gầy đến độ khác thường, đổ một chai sữa chua lên đĩa mình, xúc hết món sữa ấy, rồi lập tức lại bỏ đi.
Câu chuyện ở bàn không sôi nổi. Joachim chuyện trò một cách đúng phép với Frau Stöhr, hỏi thăm tình trạng sức khỏe của bà, và với một niềm lấy làm tiếc rất mực chuẩn mực, được nghe rằng tình hình còn xa mới đáng mong muốn. Bà than phiền về sự “uể oải”. “Tôi uể oải quá!” bà kéo dài giọng mà nói, điệu bộ làm dáng một cách rất vô học. Lúc mới thức dậy bà đã là 37,3, vậy thì đến chiều còn ra sao nữa. Người đàn bà mà chàng tưởng là thợ may tại gia kia cũng thú nhận cùng một nhiệt độ thân thể như vậy, nhưng lại giải thích rằng trái lại bà cảm thấy kích động, bên trong căng thẳng và bồn chồn, cứ như thể có điều gì đặc biệt và quyết định đang chờ đợi mình, trong khi thật ra không hề có chuyện ấy, mà đó chỉ là một sự kích động thể xác không có nguyên nhân tinh thần. Vậy thì hẳn bà không phải là thợ may tại gia, bởi bà nói năng rất đúng mực, gần như kiểu học giả. Dù sao, Hans Castorp vẫn thấy sự kích động ấy, hay chí ít cái cách bộc lộ nó ra, có gì đó không hợp, thậm chí gần như phản cảm ở một sinh vật nhỏ bé và mờ nhạt đến thế. Chàng lần lượt hỏi cô thợ may và Frau Stöhr xem họ đã ở trên này bao lâu rồi, người trước sống trong viện đã năm tháng, người sau bảy tháng; rồi chắp vá vốn tiếng Anh của mình để hỏi người ngồi bên phải xem cô đang uống thứ trà gì đó, thì ra là trà tầm xuân, và nó có ngon không, điều này cô gần như cuống quýt xác nhận; sau đó chàng nhìn vào khắp phòng, nơi người ta ra vào luôn luôn: bữa điểm tâm thứ nhất không phải là một bữa ăn chung ngặt nghèo.
Chàng đã hơi lo sẽ phải hứng chịu những ấn tượng khủng khiếp, nhưng chàng thất vọng: trong phòng ăn mọi sự diễn ra thật vui vẻ phơi phới, người ta không có cảm giác đang ở một nơi chốn của khổ đau. Những người trẻ rám nắng, cả nam lẫn nữ, vừa ngân nga khe khẽ vừa đi vào, nói chuyện với các cô hầu phòng ăn, rồi xông vào bữa điểm tâm bằng một khẩu vị mạnh mẽ. Cũng có những người đứng tuổi hơn, những cặp vợ chồng, cả một gia đình có con cái nói tiếng Nga, lại cả những cậu trai đang tuổi choai choai. Hầu như tất cả phụ nữ đều mặc những chiếc áo bó sát bằng len hoặc lụa, gọi là sweater, màu trắng hoặc màu sắc, có cổ bẻ và túi sườn; và nom thật xinh khi họ đứng chuyện trò, cả hai tay vùi trong những chiếc túi ấy. Ở vài bàn người ta chuyền tay nhau xem ảnh chụp, không nghi ngờ gì là những tấm mới, do chính họ chụp lấy; ở một bàn khác, người ta đổi tem thư. Người ta nói về thời tiết, về chuyện đêm qua ngủ thế nào, và sáng ra đã ngậm nhiệt kế được bao nhiêu. Phần lớn đều vui vẻ, chắc hẳn chẳng vì lý do gì đặc biệt, mà chỉ vì họ không có nỗi lo trực tiếp nào và lại tụ tập đông đủ với nhau. Dĩ nhiên cũng có những người ngồi chống đầu trong tay bên bàn và nhìn chằm chằm vào khoảng không trước mặt. Người ta cứ để mặc họ nhìn chằm chằm như thế và không để ý gì đến họ.
Bỗng nhiên Hans Castorp giật nảy mình vì bực bội và bị xúc phạm. Một cánh cửa vừa sập lại, chính là cánh cửa phía trước bên trái dẫn ngay ra tiền sảnh, có kẻ đã để nó sập lại, thậm chí quăng mạnh cho khóa bật vào luôn, và đó là một thứ tiếng động mà Hans Castorp ghét cay ghét đắng, tự bao giờ vẫn thế. Có lẽ lòng ghét ấy là do giáo dục mà thành, cũng có lẽ do một thứ dị ứng bẩm sinh, nhưng thế nào đi nữa, chàng căm ghét lối đóng cửa dằn mạnh ấy và có thể đánh bất cứ ai dám phạm lỗi ấy ngay trước tai mình. Trong trường hợp này cánh cửa lại còn chèn những ô kính nhỏ, khiến cú chấn động càng thêm dữ dội: vừa chan chát vừa loảng xoảng. Khiếp thật, Hans Castorp giận dữ nghĩ, cái kiểu cẩu thả chết tiệt gì thế này! Nhưng đúng lúc ấy người đàn bà thợ may cất lời với chàng, nên chàng không còn thì giờ xác định kẻ phạm tội là ai. Dẫu vậy, giữa hai hàng lông mày vàng của chàng đã hằn lên những nếp nhăn, và khuôn mặt chàng méo đi một cách khổ sở trong lúc đáp lời bà ta.
Joachim hỏi các bác sĩ đã đi qua chưa. Rồi, có người đáp, lần thứ nhất họ đã ghé rồi, họ rời phòng ăn gần như đúng vào lúc hai anh em họ bước vào. Vậy thì mình cứ đi thôi, đừng đợi nữa, Joachim nói. Trong ngày thể nào cũng sẽ có dịp được giới thiệu. Nhưng ở cửa, họ suýt đâm sầm vào Hofrat Behrens, người đang sải bước thật nhanh vào, theo sau là bác sĩ Krokowski.
“Hốp la, coi chừng đấy, các ngài!” Behrens nói. “Suýt nữa thì những vết chai chân của đôi bên đã gặp chuyện chẳng lành.” Ông nói giọng Hạ Sachsen rất nặng, âm rộng và như nhai chữ. “Thế ra là _ngài_ đây,” ông bảo Hans Castorp, người được Joachim chắp gót đứng nghiêm giới thiệu; “nào, hân hạnh.” Và ông chìa tay cho chàng thanh niên, bàn tay lớn như một cái xẻng. Ông là một người đàn ông xương xẩu, cao hơn bác sĩ Krokowski đến ba cái đầu, tóc đã bạc trắng cả, gáy nhô ra, cặp mắt xanh to, lồi và đỏ ngầu, ngấn nước, một cái mũi hếch, và bộ ria mép cắt ngắn, bị lệch sang một bên do môi trên giật lại một phía. Điều Joachim nói về đôi má của ông quả đúng hoàn toàn, chúng xanh tái; vì thế cái đầu ông hiện ra thật nhiều màu sắc trên nền chiếc áo choàng giải phẫu trắng mà ông mặc, một thứ áo thắt đai dài quá gối, để hở phía dưới chiếc quần sọc và đôi bàn chân khổng lồ đi trong đôi giày buộc dây màu vàng đã hơi sờn. Bác sĩ Krokowski cũng mặc đồ nghề, chỉ có điều áo choàng của ông màu đen, bằng một thứ vải lustre đen, giống như áo sơ mi, cổ tay có chun, làm cái vẻ tái nhợt của ông nổi lên không ít. Ông ta cư xử thuần túy như người phụ tá và không hề tham dự vào màn chào hỏi bằng cách nào cả, tuy nhiên một vẻ căng thẳng phê phán nơi khóe miệng cho thấy ông cảm thấy mối quan hệ dưới quyền của mình là điều quái gở.
“Anh em họ à?” vị Hofrat hỏi, vừa đưa tay chỉ qua chỉ lại giữa hai chàng trai, vừa ngước cặp mắt xanh đỏ ngầu nhìn từ dưới lên... “Thế cậu này cũng định theo nghiệp quân ngũ đấy chứ?” ông nói với Joachim, hất đầu về phía Hans Castorp... “Ấy, trời gìn giữ, không đâu, phải không? Tôi đã nhìn ra ngay rồi,” và giờ đây ông nói trực tiếp với Hans Castorp, “rằng ngài có cái vẻ dân sự, có cái vẻ tiện nghi ấy, chẳng sắt thép lách cách như tay chỉ huy tiểu đội kia. Ngài sẽ là một bệnh nhân tốt hơn hắn, chuyện ấy tôi dám cá đấy. Tôi nhìn ai cũng biết ngay người đó có thể thành ra một bệnh nhân dùng được hay không, bởi chuyện ấy cần có tài, cái gì cũng cần tài cả, mà tên Myrmidon này thì chẳng có lấy một chút tài năng nào. Tập điều lệnh thì tôi không biết, chứ ốm đau thì hoàn toàn không. Ngài có tin được không, cậu ta lúc nào cũng muốn đi khỏi đây? Suốt ngày muốn đi, làm tôi phát bẳn, hành hạ tôi, và không thể chờ nổi để được xuống dưới kia mà tự đày ải mình. Một thứ nhiệt tâm ghê gớm! Đến nửa năm nhỏ xíu mà cũng không chịu biếu chúng tôi. Trong khi ở chỗ chúng tôi đây cơ mà cũng đẹp đẽ lắm chứ, nào chính anh thử nói xem, Ziemßen, có phải ở đây đẹp lắm không! Ông anh em họ của anh rồi sẽ biết đánh giá chúng tôi khá hơn, rồi sẽ tự biết vui thú thôi. Phụ nữ ở đây cũng chẳng thiếu, những quý bà đáng yêu nhất đều có cả. Ít ra thì nhìn bề ngoài, một vài vị nom thật là hữu họa. Nhưng _ngài_ thì nên kiếm thêm chút sắc diện đi nghe, không thì trước các quý bà sẽ lép vế đấy! Cây đời hẳn là xanh biếc vàng tươi thật, nhưng làm màu da mặt thì xanh lại chẳng được ổn lắm đâu. Thiếu máu hoàn toàn, dĩ nhiên rồi,” ông vừa nói vừa thản nhiên bước sát đến Hans Castorp và dùng ngón trỏ với ngón giữa kéo mi dưới của chàng xuống. “Dĩ nhiên là thiếu máu hoàn toàn, như tôi đã nói. Ngài biết không? Việc ngài tạm để mặc cái Hamburg của mình trong một thời gian quả cũng không phải là ngu ngốc gì. Hamburg ấy mà, thật là một cơ sở vô cùng đáng cảm tạ; nhờ thứ khí tượng ẩm ướt vui vẻ của nó, lúc nào cũng cung cấp cho chúng tôi một suất người khá xinh. Nhưng nếu nhân đây tôi được phép cho ngài một lời khuyên không mấy quan trọng, hoàn toàn _sine pecunia_, ngài hiểu chứ, thì trong khi còn ở đây, cứ việc làm tất cả những gì ông anh em họ của ngài làm ấy. Với trường hợp của ngài, chẳng thể làm gì khôn ngoan hơn là sống một thời gian như khi mắc _tuberculosis pulmonum_ nhẹ, rồi bồi thêm chút đạm. Ấy là vì cái chuyện chuyển hóa đạm ở chỗ chúng tôi đây thật kỳ quặc lắm... Mặc dầu sự đốt cháy toàn thân tăng lên, cơ thể vẫn cứ tích đạm... Nào, còn anh, Ziemßen, ngủ ngon chứ? Tốt lắm, phải không? Thế thì lên đường dạo bước đi nào! Nhưng đừng quá nửa giờ! Rồi sau đó nhét điếu xì gà thủy ngân vào mặt! Ghi chép cẩn thận vào, Ziemßen! Vì công vụ đấy! Cho có lương tâm vào! Thứ bảy tôi muốn xem đường biểu diễn! Ông anh em họ của anh cũng bắt đầu đo luôn đi. Đo đạc chẳng bao giờ hại ai cả. Chào nhé, các ngài! Chúc chuyện trò vui vẻ! Chào nhé... chào nhé...” Và bác sĩ Krokowski liền theo ông ra đi; ông ta lướt tiếp, hai tay đong đưa, lòng bàn tay ngoặt hẳn về phía sau, vừa đi vừa hỏi bên phải bên trái rằng mọi người có ngủ “ngon” không, điều này ở đâu cũng được xác nhận.
Trêu chọc. Của đeo đường. Niềm vui bị ngắt quãng
“Người thật dễ mến,” Hans Castorp nói, khi sau màn chào hỏi thân mật với ông gác cổng cà nhắc đang ngồi trong quầy xếp thư, họ bước qua cổng lớn ra ngoài trời. Cổng ấy nằm ở sườn đông nam của tòa nhà quét vôi trắng, phần giữa cao hơn hai cánh bên một tầng và trên cùng là một tháp đồng hồ thấp lợp tôn sắt màu đá phiến. Ra khỏi nhà ở phía này, người ta không hề chạm vào khu vườn rào kín, mà lập tức đã ở ngoài trời, trước mặt là những bãi cỏ núi dốc, điểm những cây vân sam lẻ loi, cao vừa phải, và những bụi thông núi cong queo rạp sát mặt đất. Con đường họ đi, thật ra là con đường duy nhất đáng kể đến, trừ con đường xe chạy đổ xuống thung lũng, đưa họ chếch lên về bên trái, đi ngang mặt sau của dưỡng đường, phía nhà bếp và khu hậu cần, nơi những thùng rác sắt đặt cạnh lan can lối xuống hầm, rồi còn chạy tiếp một quãng khá dài theo đúng hướng ấy, sau đó bẻ ngoặt gắt như đầu gối và dẫn dốc hơn về bên phải, lên sườn đồi thưa cây. Đó là một con đường cứng, màu đỏ nhạt, còn hơi ẩm, bên mép đôi chỗ có những tảng đá nằm đó. Hai anh em họ tuyệt nhiên không phải là những người duy nhất trên lối dạo. Những vị khách vừa ăn sáng xong ngay sau họ bám sát phía sau, và từng nhóm người trên đường quay về đi ngược lại, bước xuống bằng những bước chân nặng nề của người đổ dốc.
“Người thật dễ mến!” Hans Castorp lặp lại. “Ông ấy nói năng lanh lợi ghê, nghe thật thích. Gọi ‘nhiệt kế’ là ‘điếu xì gà thủy ngân’ quả rất tuyệt, mình hiểu ngay tức khắc... Nhưng giờ thì mình châm một điếu thật đây,” chàng vừa nói vừa đứng lại, “mình chịu hết nổi rồi! Từ trưa hôm qua đến giờ mình chưa hút được gì ra hồn cả... Xin lỗi nhé!” Và chàng lấy từ chiếc hộp bọc da ô-tô có gắn chữ lồng bạc một điếu Maria Mancini, một điếu đẹp ở lớp trên cùng, dẹt về một phía như chàng đặc biệt ưa thích, dùng một dụng cụ nhỏ cắt vuông treo ở dây đồng hồ cắt ngọn điếu, bật cái máy châm lửa bỏ túi của mình lên, rồi châm cháy điếu xì gà khá dài, đầu tù, bằng vài hơi rít đầy tận tụy. “Đấy!” chàng nói. “Bây giờ thì, phần mình, ta có thể tiếp tục cuộc dạo bước rồi. Còn cậu, hẳn là chẳng hút vì quá đỗi nhiệt tâm.”
“Mình vốn có bao giờ hút đâu,” Joachim đáp. “Sao lại cứ đúng ở đây thì mình phải hút chứ.”
“Mình không hiểu!” Hans Castorp nói. “Mình không hiểu làm sao một người lại có thể không hút thuốc, vì như thế tức là anh ta tự tước mất, có thể nói vậy, phần hay nhất của đời sống, và dẫu sao cũng là một thú vui hết sức trứ danh! Khi thức dậy, mình thấy vui vì biết rằng trong ngày mình sẽ được hút thuốc, còn khi ăn, mình lại thấy vui vì sắp đến lúc ấy; phải, mình có thể nói rằng thực ra mình ăn chỉ để rồi được hút thuốc, dẫu tất nhiên nói vậy cũng là hơi quá. Nhưng một ngày không có thuốc lá, với mình, sẽ là tột đỉnh của sự nhạt nhẽo, một ngày hoàn toàn trống không và vô vị; và nếu buổi sáng mà mình phải tự nhủ: hôm nay không có gì để hút cả, thì mình tin rằng mình sẽ chẳng có đủ can đảm để dậy nữa, thật đấy, mình sẽ cứ nằm lì ra. Cậu thấy không: chỉ cần có trong tay một điếu xì gà cháy tốt, dĩ nhiên nó không được lọt gió bên cạnh hay rít không thông, điều ấy bực mình ở mức cao nhất, ý mình là, chỉ cần có một điếu xì gà tốt, thì về cơ bản là mình đã yên thân rồi, theo đúng nghĩa đen, sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra với mình nữa cả. Y hệt như khi mình nằm bên bờ biển, thì mình cứ thế nằm bên bờ biển, phải không nào, và chẳng cần gì thêm nữa, chẳng cần làm việc cũng chẳng cần giải trí... Tạ ơn Chúa là cả thế gian đều hút thuốc, theo như mình biết thì chẳng nơi nào là không biết đến nó, cho dù người ta có bị quăng quật đến đâu đi nữa. Ngay cả các nhà thám hiểm vùng cực cũng trang bị cho mình thật dồi dào dự trữ thuốc hút để chịu đựng gian lao, và mỗi lần đọc đến chuyện ấy, mình vẫn thấy có cảm tình một cách đặc biệt. Vì người ta có thể lâm vào cảnh rất tệ, cứ giả như mình lâm vào cảnh khốn cùng đi; nhưng bao lâu mình còn có điếu xì gà của mình, mình sẽ chịu đựng được, điều ấy mình biết rõ, nó sẽ giúp mình vượt qua.”
“Dù sao thì cũng hơi mềm yếu đấy,” Joachim nói, “việc cậu bám chặt lấy nó đến thế. Behrens nói hoàn toàn đúng: cậu là một gã dân sự, dĩ nhiên ông ấy có lẽ nói như một lời khen, nhưng cậu là một gã dân sự hết thuốc chữa, đó mới là chuyện. Vả lại cậu khỏe mạnh và có thể làm điều cậu muốn,” chàng nói, và mắt chàng trở nên mỏi mệt.
“Vâng, khỏe mạnh, trừ chứng thiếu máu,” Hans Castorp nói. “Quả là ông ấy bảo thẳng thừng tôi trông xanh xao. Nhưng cũng đúng, chính tôi cũng nhận ra rằng so với các anh trên này thì nom tôi xanh rớt hẳn đi; ở nhà tôi không để ý đến thế. Mà rồi cũng lại là tử tế ở ông ấy, khi chẳng cần gì cả mà cho tôi lời khuyên, hoàn toàn _sine pecunia_, như chính ông ấy nói. Tôi sẵn lòng tự nhủ sẽ làm theo lời ông ấy, và hoàn toàn sống theo nếp của anh, chứ ở trên này với các anh tôi còn biết làm gì khác nữa, mà có nhân danh Chúa để bồi thêm đạm vào người thì cũng chẳng hại gì, tuy nghe chữ ấy hơi ghê, điều đó hẳn anh cũng phải nhận.”
Joachim vừa đi vừa ho khẽ mấy lần, xem ra con dốc vẫn làm anh mệt. Đến lần thứ ba vừa muốn ho, anh dừng lại, cau mày. “Cứ đi trước đi,” anh nói. Hans Castorp vội bước tiếp và không ngoái lại. Rồi chàng chậm dần, cuối cùng gần như đứng hẳn, vì chàng có cảm tưởng mình hẳn đã bỏ Joachim khá xa. Nhưng chàng không quay đầu nhìn.
Một tốp khách gồm cả nam lẫn nữ đang đi ngược chiều chàng, trên lưng chừng dốc cao kia chàng đã thấy họ men theo con đường bằng phẳng mà đến, giờ họ lội xuống dốc, đi thẳng về phía chàng và cất lên đủ thứ giọng khác nhau. Có sáu bảy người, lẫn lộn các lứa tuổi, vài người còn hết sức trẻ, mấy người đã nhỉnh tuổi hơn đôi chút. Chàng nghiêng đầu nhìn họ, trong khi vẫn nghĩ đến Joachim. Họ để đầu trần và da rám nắng, các bà các cô mặc sweater màu, các ông phần lớn không khoác áo ngoài, đến gậy cũng không cầm, như những người ung dung thò tay trong túi ra khỏi nhà đi vài bước. Vì họ đi xuống dốc, việc ấy không đòi hỏi một nỗ lực gánh chịu nghiêm túc nào, mà chỉ là một sự hãm lại và chống chân vui vẻ để khỏi lao thành chạy rồi vấp ngã, thực ra chẳng qua chỉ là để mặc mình rơi xuống, nên dáng đi của họ có một vẻ phơi phới và liều lĩnh, cái vẻ ấy lan sang nét mặt, sang toàn thể diện mạo của họ, khiến người ta có thể ước được thuộc về họ.
Giờ họ đã tới gần chàng, Hans Castorp nhìn rõ từng khuôn mặt. Không phải ai cũng rám nắng, có hai người đàn bà nổi bật vì vẻ tái nhợt: một người gầy như que củi, mặt trắng ngà; người kia thấp hơn và béo, gương mặt lấm tấm những vết nám gan. Tất cả họ đều nhìn chàng, với một nụ cười chung, trâng tráo. Một cô gái trẻ cao dong dỏng mặc sweater xanh lướt sát ngang Hans Castorp, đến nỗi gần như chạm tay vào chàng; tóc cô chải cẩu thả, đôi mắt dại dột chỉ mở hé. Và trong lúc ấy cô ta huýt sáo... Không, thật điên rồ! Cô ta huýt vào mặt chàng, mà không phải bằng miệng, cô thậm chí chẳng hề chúm môi, trái lại còn ngậm chặt môi lại. Tiếng sáo bật ra từ trong người cô, trong khi cô nhìn chàng bằng cặp mắt dại dột, lim dim khép nửa, một thứ tiếng huýt hết sức khó chịu, thô, sắc mà lại rỗng, kéo dài và đến cuối thì trầm giọng xuống, khiến người ta nhớ đến tiếng kêu của những con lợn cao su ngoài hội chợ, lúc chúng xả luồng hơi đã thổi vào, kêu than rồi xẹp xuống; nó bằng một cách nào đó, không sao hiểu nổi, từ trong ngực cô bật ra; rồi cô đã đi qua cùng cả bọn.
Hans Castorp đứng sững, nhìn trân ra xa. Rồi chàng quay phắt lại và ít ra cũng hiểu được chừng ấy, rằng điều ghê tởm kia hẳn chỉ là một trò đùa, một màn trêu chọc đã dàn sẵn, vì chàng thấy qua đôi vai của bọn người đang đi xa rằng họ cười, và một gã thanh niên thấp đậm, môi dày, hai tay đút túi quần, kéo xộc chiếc áo vét lên theo một cách khá là bất nhã, thậm chí còn không giấu giếm quay hẳn đầu lại nhìn chàng mà cười... Joachim đã đến nơi. Anh chào cả nhóm, theo thói quen hiệp sĩ của mình gần như đứng nghiêm hẳn lại và khép gót cúi chào, rồi với cái nhìn dịu dàng bước đến bên người em họ.
“Sao anh làm cái mặt gì thế?” anh hỏi.
“Cô ta huýt sáo!” Hans Castorp đáp. “Cô ta huýt từ trong bụng ra khi đi ngang qua tôi, anh giải thích cho tôi được không?”
“À,” Joachim nói và cười khẩy. “Không phải từ trong bụng, nhảm nào. Đó là cô Kleefeld, Hermine Kleefeld, cô ta huýt bằng cái pneumothorax.”
“Bằng cái gì?” Hans Castorp hỏi. Chàng cực kỳ kích động, mà không rõ hẳn theo nghĩa nào. Chàng chao đảo giữa cười và khóc khi nói thêm: “Anh không thể đòi tôi hiểu thứ thổ ngữ riêng của các anh được.”
“Thì cứ đi tiếp đi đã!” Joachim nói. “Tôi vẫn có thể giải thích cho anh khi đang đi mà. Anh cứ như mọc rễ ấy! Đó là một chuyện thuộc về giải phẫu, như anh hẳn đoán được, một ca mổ ở trên này người ta làm khá thường. Behrens rất thạo việc ấy... Khi một lá phổi bị tàn phá nặng nề, anh hiểu chứ, còn lá kia thì lành hoặc tương đối lành, thì người ta cho lá bệnh ấy nghỉ việc một thời gian để giữ gìn nó... Nghĩa là: ở đây người ta rạch ra, đâu đó bên sườn này, tôi cũng không rõ chính xác chỗ nào, nhưng Behrens làm việc ấy rất tài. Rồi người ta cho khí vào trong người, nitơ đấy, anh biết rồi, và như vậy làm cho lá phổi đã bã đậu kia ngừng hoạt động. Dĩ nhiên khí ấy không giữ được lâu, độ nửa tháng phải thay lại một lần, người ta như thể được đổ đầy thêm vào, anh cứ hình dung thế. Và nếu việc ấy diễn ra suốt một năm hoặc lâu hơn, mà mọi sự đều tốt đẹp, thì nhờ nghỉ ngơi lá phổi có thể đi đến lành lại. Dĩ nhiên không phải bao giờ cũng vậy, thậm chí hẳn đó còn là một việc liều lĩnh. Nhưng người ta nói cũng đã đạt được những kết quả rất đẹp với pneumothorax. Tất cả những người anh vừa thấy đều có nó cả. Bà Iltis cũng ở trong bọn ấy, bà có vết nám gan đó, và cô Levi, cô gầy nhẳng ấy, anh còn nhớ chứ, cô nằm liệt giường lâu lắm rồi. Họ tụ lại với nhau, bởi một thứ như pneumothorax thì tự nhiên cũng gắn kết con người lại, và họ gọi nhau là ‘Hội Nửa Lá Phổi’, ai cũng biết họ dưới cái tên ấy. Nhưng niềm kiêu hãnh của hội là Hermine Kleefeld, vì cô ta có thể huýt sáo bằng pneumothorax, đó là một thiên phú của cô ta, chứ không phải ai cũng làm được đâu. Cô ta làm thế bằng cách nào thì tôi cũng không nói cho anh được, chính cô ta cũng không thể mô tả cho rõ. Nhưng khi đi nhanh, thì cô ta có thể huýt ra từ trong người mình, và tất nhiên cô ta dùng cái đó để dọa người khác, nhất là những bệnh nhân mới đến. Mà vả chăng tôi còn tin rằng cô ta làm hao nitơ vì việc ấy, bởi cứ tám ngày cô ta lại phải được đổ đầy thêm một lần.”
Bấy giờ Hans Castorp bật cười; sau những lời Joachim nói, sự kích động của chàng đã ngả hẳn về phía vui nhộn, và vừa đi vừa lấy tay che mắt, cúi gập người xuống, đôi vai chàng rung lên vì những tràng cười khúc khích mau và khẽ.
“Họ có đăng bộ hẳn hoi không?” chàng hỏi, và nói năng lúc này không dễ gì nữa; vì nín cười nên giọng chàng nghe như rền rĩ, thút thít. “Họ có điều lệ chứ? Tiếc thật là anh không phải hội viên, chứ như thế họ đã có thể cho tôi vào làm khách danh dự hoặc làm... _Konkneipant_... Anh nên xin Behrens cho anh ngừng hoạt động một phần đi. Có khi anh cũng huýt được, nếu anh chịu khó nhắm vào chuyện ấy, rốt cuộc hẳn là học được chứ... Đây là chuyện buồn cười nhất mà đời tôi từng nghe thấy!” chàng nói, rồi thở dài thật sâu. “Vâng, tha lỗi cho tôi nói thế, nhưng chính họ có vẻ vui lắm mà, những người bạn khí động học của anh ấy! Cách họ đi xuống mới làm sao... Mà nghĩ rằng đó lại là ‘Hội Nửa Lá Phổi’! ‘Tiuuu’, cô ta huýt vào mặt tôi, đúng là một nhân vật điên rồ! Nhưng quả là tinh nghịch hết sức! Sao họ lại tinh nghịch đến thế nhỉ, anh nói cho tôi nghe xem nào?”
Joachim tìm lời đáp. “Trời ạ,” anh nói, “họ _tự do_ như thế... Ý tôi là, họ đều còn trẻ, mà thời gian đối với họ chẳng đóng vai trò gì cả, rồi biết đâu họ lại chết. Vậy thì sao họ phải làm ra những bộ mặt nghiêm trọng. Đôi khi tôi nghĩ: bệnh tật và cái chết kỳ thực không nghiêm trọng, chúng đúng hơn chỉ là một thứ dong chơi; nghiêm túc, nói cho đúng, chỉ có ở cuộc sống dưới kia thôi. Tôi tin là dần dần anh cũng sẽ hiểu điều đó, một khi anh ở trên này lâu hơn.”
“Chắc chắn,” Hans Castorp nói. “Tôi thậm chí còn tin chắc là khác. Tôi đã bắt đầu thấy rất nhiều hứng thú đối với các anh trên này, mà một khi đã có hứng thú, phải không nào, thì sự hiểu biết sẽ tự nó mà đến... Nhưng lạ thật, sao thế nhỉ, nó chẳng còn ngon!” chàng nói và ngắm điếu xì gà của mình. “Suốt từ nãy tôi cứ tự hỏi mình thiếu cái gì, và giờ tôi nhận ra đó là Maria không còn ngon nữa. Tôi cam đoan với anh, nó có vị như bột giấy bồi, cứ như người ta đang đau dạ dày nặng vậy. Thật không sao hiểu nổi! Đúng là tôi đã ăn sáng nhiều một cách khác thường, nhưng đó không thể là nguyên nhân, bởi khi ăn quá no thì thoạt đầu xì gà lại còn ngon đặc biệt ấy chứ. Anh nghĩ có thể là vì tôi ngủ chập chờn quá không? Có lẽ vì thế mà người tôi bị rối loạn. Không, tôi thật tình phải quăng nó đi thôi!” chàng nói sau một lần thử nữa. “Mỗi hơi hút đều là một nỗi thất vọng; tôi cố ép cũng vô ích.” Và sau khi còn chần chừ thêm một lát, chàng ném điếu xì gà xuống sườn dốc, vào đám gỗ thông ẩm. “Anh biết theo chỗ tôi quả quyết thì chuyện ấy liên quan đến cái gì không?” chàng hỏi... “Theo chỗ tôi quả quyết vững chắc thì nó dính với cái cơn nóng bừng ở mặt chết tiệt này, thứ mà từ lúc thức dậy đến giờ tôi lại đã khổ sở vì nó. Quỷ thật, lúc nào tôi cũng có cảm tưởng như mặt mình đang đỏ bừng lên vì xấu hổ... Hồi mới tới anh có bị như thế không?”
“Có,” Joachim nói. “Thoạt đầu tôi cũng thấy hơi lạ lùng. Anh đừng bận tâm! Tôi đã bảo anh rồi đấy, làm quen với đời sống của chúng tôi trên này không dễ đâu. Nhưng rồi anh sẽ lại ổn thôi. Kìa, cái ghế băng đặt đẹp đấy. Ta ngồi xuống một lát rồi về nhà, tôi còn phải đi liệu pháp nằm nghỉ.”
Con đường giờ đã bằng ra. Nó chạy theo hướng về Platz Davos, ở độ khoảng một phần ba lưng chừng sườn núi, và giữa những cây thông cao, thân thon và nghiêng vẹo vì gió, mở ra quang cảnh ngôi làng đang nằm trắng nhạt trong thứ ánh sáng quang hơn. Chiếc ghế băng đóng sơ sài nơi họ ngồi tựa vào vách núi dựng đứng. Bên cạnh họ, nước chảy trong một máng gỗ hở, róc rách và lách tách đổ xuống thung lũng.
Joachim muốn chỉ cho người em họ biết tên những đỉnh Alps đầu đội mây, tưởng chừng như khép kín thung lũng về phía nam, vừa nói vừa lấy đầu gậy leo núi chỉ về phía chúng. Nhưng Hans Castorp chỉ liếc nhìn qua loa; chàng ngồi cúi gập ra trước, lấy cái bọc sắt ở đầu cây gậy thành thị bịt bạc của mình vẽ những hình lên cát, và lại muốn biết chuyện khác.
“Điều tôi muốn hỏi anh là...” chàng bắt đầu... “Vậy ra ca trong phòng tôi vừa mới qua đời đúng lúc tôi đến. Từ khi anh ở trên này đến nay, đã có nhiều ca tử vong chưa?”
“Vài ca thì chắc chắn có,” Joachim đáp. “Nhưng người ta xử trí rất kín đáo, anh hiểu chứ, hầu như chẳng ai biết gì, hoặc chỉ biết về sau, một cách tình cờ thôi; mọi việc diễn ra trong vòng tuyệt mật khi một người chết, vì nể bệnh nhân, và nhất là cũng vì các bà các cô, nếu không họ dễ lên cơn ngất lắm. Nếu ở ngay cạnh anh có người chết, anh cũng chẳng nhận ra đâu. Quan tài được mang đến từ sáng tinh mơ, khi anh còn đang ngủ, và người ấy cũng chỉ được đưa đi vào những giờ như thế, chẳng hạn trong bữa ăn.”
“Hm,” Hans Castorp nói và tiếp tục vẽ. “Vậy là những chuyện như thế diễn ra sau cánh gà.”
“Ừ, có thể nói như thế. Nhưng dạo nọ, giờ thì, để xem nào, có lẽ cũng đến tám tuần rồi...”
“Thế thì anh không thể nói là dạo nọ được,” Hans Castorp nhận xét, khô khan và tỉnh táo.
“Sao? Vậy thì không phải dạo nọ. Anh thật là kỹ. Tôi chỉ đoán con số ấy thôi mà. Vậy thì cách đây một thời gian, đúng là có lần tôi nhìn thấy phía sau cánh gà, hoàn toàn ngẫu nhiên thôi, tôi còn nhớ như mới hôm qua. Đó là khi người ta đem của ăn đàng đến cho cô bé Hujus, một người Công giáo, Barbara Hujus, bí tích cho kẻ hấp hối ấy mà, anh biết đấy, lễ xức dầu lần cuối. Cô ấy vẫn còn đi lại được khi tôi mới tới đây, và có thể vui nhộn ầm ĩ lắm, cứ nghịch ngợm ngốc nghếch, đúng kiểu một cô gái mới lớn. Nhưng rồi bệnh trở nặng rất nhanh, cô không dậy nổi nữa, nằm cách phòng tôi ba buồng, cha mẹ cô lên, và rồi vị linh mục đến. Ông đến vào lúc mọi người đang uống trà, buổi chiều, ngoài hành lang không có một bóng ai. Nhưng thử nghĩ mà xem, tôi lại ngủ quên, tôi đã ngủ thiếp đi trong lượt liệu pháp nằm nghỉ chính và không nghe thấy tiếng cồng, nên trễ mất một khắc giờ. Thế là đúng vào cái lúc quyết định ấy, tôi đã không ở chỗ mọi người đều có mặt, mà như anh nói, lại lọt ra sau cánh gà; và khi tôi đi dọc hành lang, thì họ từ phía đối diện đi tới chỗ tôi, mặc áo ren, có một cây thánh giá đi đầu, một cây thánh giá vàng với đèn lồng, một người nâng nó đi trước như một cây nghi trượng leng keng đi đầu ban nhạc Janitscharen.”
“So sánh ấy không ổn,” Hans Castorp nói, không phải không nghiêm khắc.
“Tôi thấy nó giống thế. Tôi bất giác nghĩ đến điều đó. Nhưng cứ nghe tiếp đi. Vậy là họ đi về phía tôi, bước đều, bước đều, khá gấp, ba người nếu tôi không lầm, đi đầu là người mang thánh giá, sau đó là vị giáo sĩ, trên sống mũi đeo kính, rồi đến một cậu bé cầm lư hương. Vị giáo sĩ ôm của ăn đàng trước ngực, nó đã được che lại, và ông nghiêng đầu một cách hết sức khiêm cung, vì đó là Mình Thánh của họ.”
“Chính bởi thế,” Hans Castorp nói. “Chính vì lẽ ấy mà tôi ngạc nhiên khi anh lại nói đến cây nghi trượng leng keng.”
“Vâng, vâng. Nhưng cứ thử ở vào đó đi, thì đến khi nhớ lại anh cũng chẳng biết mình phải làm ra vẻ mặt gì. Cảnh ấy đúng là đủ để người ta mơ thấy...”
“Theo nghĩa nào?”
“Là thế này. Vậy là tôi tự hỏi trong tình thế ấy mình phải xử sự ra sao. Trên đầu tôi lại không có mũ để cởi xuống...”
“Anh thấy chưa!” Hans Castorp lại nhanh nhảu ngắt lời. “Anh thấy chưa, là người ta phải đội mũ! Dĩ nhiên tôi cũng để ý thấy các anh trên này chẳng ai đội cả. Nhưng phải đội chứ, để còn có thể cởi ra vào những dịp thích đáng. Thế rồi sau đó ra sao?”
“Tôi nép vào tường,” Joachim nói, “giữ tư thế đứng đắn, và hơi cúi chào khi họ đi tới chỗ tôi, đúng ngay trước buồng cô bé Hujus, số hai mươi tám. Tôi tin vị giáo sĩ hài lòng vì tôi chào; ông cảm ơn rất lịch sự và cởi mũ. Nhưng đồng thời họ cũng đã dừng lại rồi, và cậu bé giúp lễ cầm lư hương gõ cửa, rồi bấm chốt mở và nhường cho bề trên của mình bước vào phòng trước. Mà giờ thì anh hãy thử hình dung, và vẽ ra cho mình nỗi kinh hoàng của tôi cùng những cảm giác của tôi! Đúng vào khoảnh khắc vị linh mục đặt chân qua ngưỡng cửa, bên trong ấy bỗng bật lên một tràng tru tréo khủng khiếp, một tiếng thét chói tai, anh chưa từng nghe cái gì như thế đâu, ba bốn lần liên tiếp, rồi sau đó là tiếng gào không hề dứt, không ngắt một nhịp, rõ ràng từ một cái miệng há to phát ra, aaaa, trong đó có một nỗi khổ đau, một cơn kinh hoàng và sự phản kháng đến không sao tả xiết, mà giữa chừng lại còn là một lời van vỉ ghê rợn nữa, rồi bỗng chốc nó trở nên rỗng và đục, như thể đã lún xuống đất và từ dưới hầm sâu vọng lên.”
Hans Castorp giật mạnh người quay hẳn về phía em họ. “Đó là cô Hujus à?” chàng hỏi, phẫn nộ. “Và sao lại là ‘từ dưới hầm’?”
„Cô ta đã chui rúc xuống dưới chăn!“ Joachim nói. „Cứ thử hình dung tâm trạng của mình lúc ấy xem! Vị giáo sĩ đứng sát ngay ngưỡng cửa, nói những lời trấn an, tôi còn thấy rõ ông ta, cứ thò đầu tới phía trước rồi lại rụt về. Người mang thánh giá và cậu giúp lễ vẫn còn đứng giữa khung cửa, chưa thể bước vào. Và qua khoảng giữa hai người ấy, tôi có thể nhìn vào trong phòng. Đấy là một căn phòng y như của cậu với tôi, chiếc giường kê bên trái cửa, sát bức tường bên; phía đầu giường có người đứng, dĩ nhiên là thân quyến, cha mẹ cô ta, và cũng cúi xuống phía giường mà nói năng dỗ dành, người ta chẳng trông thấy gì ngoài một khối vô định hình trong đó, đang van xin, phản kháng một cách khủng khiếp, và đạp chân loạn xạ.“
„Cậu bảo là cô ta đạp chân loạn xạ ấy à?“
„Hết sức lực toàn thân! Nhưng cũng chẳng ích gì cho cô ta, bí tích cuối cùng cô ta vẫn phải lãnh. Cha sở tiến lại gần, và hai người kia cũng bước vào, rồi cửa bị kéo khép lại. Nhưng trước đó tôi còn kịp thấy: đầu cô Hujus hiện ra một giây, mái tóc vàng sáng rối bời, nhìn chòng chọc vị linh mục bằng đôi mắt mở trừng trừng, thứ mắt tái nhợt, hoàn toàn vô sắc, rồi thốt lên Ah và Huh, lại chui tọt xuống dưới tấm khăn trải giường.“
„Vậy mà đến giờ cậu mới kể cho mình?“ Hans Castorp nói sau một quãng lặng. „Mình không hiểu sao ngay tối qua cậu lại không nhắc đến. Nhưng, lạy Chúa, hẳn cô ta còn phải có rất nhiều sức lực mới chống cự như thế được chứ. Chống cự kiểu ấy phải có sức. Không nên cho mời linh mục đến trước khi người ta đã kiệt lắm rồi.“
„Cô ta cũng yếu rồi,“ Joachim đáp. „... Ồ, có lắm chuyện để kể; thật khó mà chọn điều gì trước hết... Cô ta yếu thật, chỉ có nỗi sợ đã cho cô ta nhiều sức đến thế. Cô ta sợ khủng khiếp, vì cảm thấy mình sắp chết. Dù sao cũng chỉ là một cô gái trẻ, rốt cuộc người ta phải lượng thứ cho cô ta. Nhưng đàn ông đôi khi cũng cư xử như vậy, và đó dĩ nhiên là một sự bạc nhược không thể tha thứ. Dẫu sao Behrens biết cách đối phó với họ, ông ấy có đúng cái giọng cho những trường hợp như thế.“
„Giọng gì cơ?“ Hans Castorp hỏi, chân mày nhíu lại.
„Ông ấy bảo: ‘Đừng có làm quá lên như thế!’“ Joachim đáp. „Ít ra mới đây ông ấy đã nói thế với một người, chúng tôi biết chuyện từ bà quản viện, người có mặt ở đó và còn phụ giữ chặt người hấp hối nữa. Đó là một kẻ đến phút chót làm om lên một màn khủng khiếp và nhất định không chịu chết. Thế là Behrens quát ông ta: ‘Xin ông đừng có làm quá lên như thế!’ ông ấy nói, và lập tức bệnh nhân im bặt, rồi chết rất bình tĩnh.“
Hans Castorp vỗ tay lên đùi và ngả người mạnh vào lưng ghế băng, mắt ngước lên trời.
„Này, nghe mà xem, thế thì ghê thật!“ chàng kêu lên. „Xộc tới trước mặt người ta và cứ thế bảo thẳng: ‘Đừng có làm quá lên như thế!’ Với một người sắp chết! Thế thì ghê thật! Một người sắp chết dẫu sao cũng là đáng kính kia mà. Không thể cứ chẳng đầu chẳng cuối mà... Người sắp chết, nói cho đúng, là thiêng liêng, mình vẫn tưởng thế!“
„Mình không phủ nhận điều đó,“ Joachim nói. „Nhưng nếu người ta lại xử sự bạc nhược đến thế...“
„Không!“ Hans Castorp khăng khăng, với một sự dữ dội hoàn toàn không tương xứng với sức kháng cự người ta dành cho chàng. „Mình không để ai cãi cho mình bỏ cái ý rằng một người sắp chết là cái gì cao quý hơn bất cứ thứ du côn nào cứ nhởn nhơ đi lại, cười cợt, kiếm tiền và vỗ béo cái bụng của mình! Không thể thế được...“ giọng chàng rung lên một cách cực kỳ kỳ lạ. „Không thể cứ chẳng đầu chẳng cuối mà đối với người ta như thế...“ Và lời chàng nghẹn lại trong tràng cười chụp lấy và áp đảo chàng, chính cái cười của hôm qua, một trận cười từ đáy ngực trào lên, làm rung chuyển thân thể, vô bờ bến, khép chặt mắt chàng và ép nước mắt trào ra giữa hai mi.
„Suỵt!“ Joachim bỗng thốt. „Im đi!“ chàng thì thầm, kín đáo huých vào sườn người đang cười không ghìm nổi. Hans Castorp ngẩng lên trong nước mắt.
Trên con đường phía trái có một người lạ đi tới, một quý ông nhỏ nhắn, tóc sẫm, với bộ ria mép đen uốn rất đẹp và chiếc quần kẻ ô sáng màu; tới gần, ông ta trao với Joachim một lời chào buổi sáng - lời chào của ông ta chuẩn xác và êm vang - rồi đứng lại trước mặt chàng trong một dáng điệu duyên dáng, hai bàn chân bắt chéo, người tựa vào cây gậy.
Satana
Tuổi ông ta thật khó đoán, hẳn phải vào khoảng giữa ba mươi và bốn mươi, bởi tuy toàn bộ dáng vẻ vẫn có cái gì trẻ trung, mái tóc nơi hai thái dương đã lấm tấm bạc và phía trên lại thưa đi thấy rõ: hai hõm hói ăn sâu vào hai bên ngôi tóc hẹp và thưa, làm vầng trán cao thêm. Bộ quần áo của ông ta, chiếc quần rộng kẻ ô vàng nhạt này và một chiếc áo khoác dài quá mức, lông tơ xù xì, có hai hàng khuy và ve áo rất lớn, thì còn lâu mới dám nhận là thanh lịch; ngay đến chiếc cổ đứng bẻ tròn quanh cổ, vì giặt giũ quá nhiều, cũng đã hơi sờn ở mép, chiếc cà vạt đen đã cũ, còn măng-sét thì dường như ông ta hoàn toàn không đeo, - Hans Castorp nhận ra điều ấy ở cái cách mềm oặt mà ống tay áo thõng quanh cổ tay ông. Tuy vậy chàng vẫn nhận thấy mình đang đứng trước một quý ông; nét mặt trí thức của người lạ, phong thái phóng khoáng, thậm chí đẹp của ông ta không để lại chút hồ nghi nào. Nhưng chính cái pha trộn giữa vẻ xộc xệch và duyên dáng ấy, thêm nữa là đôi mắt đen và bộ ria mép cong mềm, khiến Hans Castorp lập tức nhớ tới vài tay nhạc công ngoại quốc vào dịp Giáng sinh vẫn kéo đàn trong các sân nhà dưới quê, ngước cặp mắt nhung lên cao mà chìa chiếc mũ mềm ra để người ta ném những đồng xu mười pfennig từ cửa sổ xuống cho họ. „Một gã kéo đàn phong cầm!“ chàng nghĩ. Và bởi vậy chàng cũng chẳng lấy làm ngạc nhiên trước cái tên mình sắp được nghe, khi Joachim đứng dậy khỏi ghế băng và, có phần lúng túng, giới thiệu:
„Người anh em họ tôi, Castorp, - ông Settembrini.“
Hans Castorp cũng đứng dậy chào, trên mặt vẫn còn dấu vết của cơn vui quá trớn. Nhưng người Ý lịch thiệp mời cả hai đừng bận lòng rời sự thoải mái của mình và nhã nhặn ép họ ngồi lại, trong khi chính ông vẫn đứng trước mặt họ trong tư thế dễ coi ấy. Ông mỉm cười khi đứng đó ngắm hai người anh em, nhưng nhất là Hans Castorp, và cái chỗ khóe miệng hơi trũng xuống rồi gợn lên, tinh tế mà hơi giễu cợt, dưới bộ ria rậm, đúng nơi nó uốn cong đẹp đẽ đi lên, gây một hiệu lực kỳ lạ; nó, theo một nghĩa nào đó, kêu gọi sự sáng suốt và tỉnh thức của tinh thần, và trong khoảnh khắc đã làm Hans Castorp, đang còn say men cười, phải tỉnh ra, đến nỗi chàng thấy xấu hổ. Settembrini nói:
„Hai ngài quả là vui vẻ, - có lý do, có lý do. Một buổi sáng tuyệt đẹp! Trời xanh, mặt trời mỉm cười -“ và với một động tác nhẹ nhàng mà thành công của cánh tay, ông nâng bàn tay nhỏ, ngả vàng lên phía trời, đồng thời cũng ném lên đó một cái nhìn xếch, vui tươi. „Quả thực người ta có thể quên mất mình đang ở đâu.“
Ông nói mà không hề có giọng ngoại quốc; nhiều lắm, người ta chỉ có thể nhận ra ông là người nước ngoài qua sự chuẩn xác trong cách phát âm. Môi ông nắn từng lời với một khoái cảm nào đó. Nghe ông nói thật thích.
„Và ngài đã có một chuyến đi dễ chịu đến với chúng tôi chứ?“ ông quay sang Hans Castorp... „Người ta đã lĩnh bản án của mình chưa? Ý tôi là: nghi lễ u ám của cuộc khám đầu tiên đã diễn ra chưa?“ - Lẽ ra đến đây ông phải im và đợi, nếu quả thật điều ông muốn là nghe; bởi ông đã đặt câu hỏi, và Hans Castorp đang sửa soạn trả lời. Nhưng người lạ lập tức hỏi tiếp: „Nó có kết thúc êm thấm chăng? Từ cái thú cười của ngài...“ - ông ngừng lại một chốc, trong khi nếp gợn nơi khóe miệng sâu thêm, - „người ta có thể rút ra những kết luận rất khác nhau. Hai vị Minos và Radamanth của chúng ta đã phán cho ngài bao nhiêu tháng?“ - Chữ „phán cho“ trong miệng ông nghe đặc biệt buồn cười. - „Để tôi đoán nhé? Sáu chăng? Hay những chín? Ở đây người ta vốn đâu có hà tiện...“
Hans Castorp bật cười kinh ngạc, đồng thời cố nhớ xem Minos và Radamanth rốt cuộc là những ai. Chàng đáp:
„Nhưng sao lại thế. Không, ngài nhầm rồi, ông Septem-“
„Settembrini,“ người Ý sửa lại, rõ ràng và dứt khoát, đồng thời cúi mình một cách khôi hài.
„Ông Settembrini, - xin lỗi. Không, ngài lầm rồi. Tôi hoàn toàn không có bệnh. Tôi chỉ lên thăm người anh em họ là Ziemßen trong vài tuần, và nhân dịp này cũng muốn nghỉ ngơi đôi chút -“
„Chà, lạ chưa, ngài không thuộc về chúng tôi ư? Ngài khỏe mạnh, chỉ lưu lại đây như một kẻ quan sát, như Odysseus trong cõi bóng âm? Một sự táo bạo biết bao, dám bước xuống vực sâu, nơi người chết ngụ cư một cách hư vô và vô nghĩa -“
„Xuống vực sâu, ông Settembrini ư? Xin ông cho phép tôi phản đối! Tôi đã leo cao gần năm nghìn bộ để lên với các ông kia mà -“
„Ngài chỉ tưởng thế thôi! Xin tin lời tôi, đó là ảo giác,“ người Ý nói, kèm một cử chỉ tay đầy tính quyết đoán. „Chúng ta là những sinh thể đã sa xuống rất sâu, phải thế không, thưa trung úy,“ ông quay sang Joachim, người không phải không vui thích trước cách xưng hô ấy, dẫu cố che giấu điều đó và điềm tĩnh đáp:
„Quả chúng tôi có phần đần đi thật. Nhưng rốt cuộc người ta vẫn có thể tự chấn chỉnh lại.“
„Vâng, điều đó tôi tin ở ngài; ngài là một con người tử tế,“ Settembrini nói. „Sao, sao, sao,“ ông nói ba lần với một âm s sắc, rồi lại quay sang Hans Castorp, và sau đó cũng bấy nhiêu lần ông khẽ tặc lưỡi vào vòm miệng trên. „Xem, xem, xem,“ tiếp đó ông lại nói, cũng ba lần và vẫn với âm s sắc, đồng thời nhìn người mới đến trân trân đến mức mắt ông rơi vào một trạng thái đờ cố định và mù lòa, rồi lại làm cho ánh nhìn sống động trở lại và nói tiếp:
„Vậy ra ngài hoàn toàn tự nguyện lên với chúng tôi, những kẻ sa sút, và muốn ban cho chúng tôi trong một thời gian niềm vui được có mặt ngài. Thật là đẹp. Thế ngài đã tính cho mình một kỳ hạn bao lâu? Tôi hỏi chẳng được thanh nhã lắm. Nhưng tôi vẫn lấy làm muốn biết xem, khi tự mình quyết định chứ không phải Radamanth, thì người ta tự phán cho mình bao lâu!“
„Ba tuần,“ Hans Castorp nói với một vẻ nhẹ nhàng hơi tự mãn, vì chàng nhận ra người ta đang ghen tị với mình.
„_O dio_, ba tuần! Ngài có nghe không, thưa trung úy? Chẳng phải nói: tôi lên đây ba tuần rồi lại đi, gần như có cái gì khiếm nhã đó sao? Thưa ngài, nếu cho phép tôi được chỉ giáo, chúng tôi không biết đến thước đo tuần lễ. Đơn vị thời gian nhỏ nhất của chúng tôi là tháng. Chúng tôi tính theo lối lớn, - đó là một đặc quyền của những bóng âm. Chúng tôi còn có những đặc quyền khác nữa, và tất cả đều cùng một phẩm chất như thế. Xin hỏi, ở dưới, trong đời sống, ngài hành nghề gì - hay nói cho đúng hơn: ngài đang chuẩn bị cho nghề gì? Ngài thấy đấy, chúng tôi không hề trói buộc trí hiếu kỳ của mình. Chúng tôi cũng kể cả sự hiếu kỳ vào số những đặc quyền của mình.“
„Xin cứ tự nhiên,“ Hans Castorp nói. Và chàng cho biết.
„Một kỹ sư đóng tàu! Nhưng thế thì tuyệt lắm!“ Settembrini kêu lên. „Xin ngài tin rằng tôi thấy điều ấy tuyệt lắm, mặc dù khả năng riêng của tôi lại nằm theo một hướng khác.“
„Ông Settembrini là người cầm bút,“ Joachim nói để giải thích, hơi lúng túng. „Ông ấy đã viết bài ai điếu Carducci cho báo Đức, - Carducci ấy, cậu biết đấy.“ Và chàng lại càng lúng túng hơn, vì người anh em họ nhìn chàng sửng sốt như muốn nói: cậu thì biết gì về Carducci? Mình tưởng điều đó cậu biết cũng chẳng hơn gì mình.
„Đúng thế,“ người Ý gật đầu nói. „Tôi đã có vinh dự được kể cho đồng bào ngài nghe về cuộc đời của nhà thơ lớn và người tự do tư tưởng ấy, khi cuộc đời ấy đã khép lại. Tôi có quen ông, có thể tự nhận là học trò ông. Ở Bologna tôi từng ngồi dưới chân ông. Tôi mắc nợ ông tất cả những gì tôi có thể gọi là giáo dưỡng và niềm vui sống. Nhưng ta đang nói về ngài. Một kỹ sư đóng tàu! Ngài có biết rằng trong mắt tôi ngài đang lớn lên trông thấy không? Bỗng nhiên ngài ngồi đó như người đại diện của cả một thế giới lao động và thiên tài thực hành!“
„Nhưng ông Settembrini ơi - tôi thật ra chỉ là sinh viên và mới bắt đầu thôi mà.“
„Dĩ nhiên, và mọi khởi đầu đều khó. Nói chung, mọi công việc xứng đáng với cái tên ấy đều khó, phải không nào?“
„Vâng, quỷ biết điều ấy quá đi chứ!“ Hans Castorp nói, và lời ấy bật ra từ tận đáy lòng chàng.
Settembrini nhanh chóng nhướng cao chân mày.
„Đến cả quỷ ông cũng gọi tới,“ ông nói, „để làm vững thêm điều ấy ư? Satan đích thực ấy ư? Ngài có biết rằng vị thầy lớn của tôi đã từng dâng hẳn cho hắn một bài thánh ca không?“
„Xin phép ông,“ Hans Castorp nói, „dâng cho quỷ ư?“
„Cho chính hắn. Ở quê hương tôi, đôi khi người ta còn hát bài ấy vào những dịp lễ hội. _O salute, o Satana, o Ribellione, o forza vindice della Ragione ..._ Một bài ca tuyệt vời! Nhưng hẳn không phải con quỷ ấy là điều ngài nghĩ tới, bởi hắn vốn rất thân thiết với lao động. Con quỷ mà ngài muốn nói, con quỷ ghét lao động vì sợ nó, hẳn là cái kẻ kia, kẻ mà người ta bảo ngay đến ngón út cũng chớ chìa cho hắn -“
Tất cả những điều ấy tác động lên chàng Hans Castorp tốt bụng một cách khá kỳ quặc. Tiếng Ý thì chàng không hiểu, còn phần còn lại cũng chẳng làm chàng dễ chịu hơn. Nó phảng phất vị đạo giảng ngày Chủ nhật, mặc dù được trình bày bằng một giọng chuyện trò nhẹ nhõm và đùa cợt. Chàng nhìn người anh em họ, kẻ đang cúi mắt xuống, rồi nói:
„Ôi, ông Settembrini, ông hiểu lời tôi sát quá. Cái chuyện quỷ ấy chỉ là một lối nói cửa miệng của tôi thôi, tôi xin cam đoan!“
„Ai đó thì cũng phải có chút tinh anh chứ,“ Settembrini nói, mắt u sầu nhìn vào khoảng không. Nhưng rồi lấy lại sinh khí, lấy lại vẻ vui tươi và duyên dáng mà chuyển giọng, ông nói tiếp:
„Dù sao đi nữa, từ lời ngài, có lẽ tôi cũng có quyền kết luận rằng ở dưới kia ngài đã chọn cho mình một nghề vừa nặng nhọc vừa đáng kính. Lạy Chúa, tôi là một nhà nhân văn, một _homo humanus_, tôi không hiểu gì về những chuyện cơ xảo cả, dẫu lòng kính trọng tôi dành cho ngài là hết sức thành thật. Nhưng tôi vẫn có thể hình dung rằng lý thuyết của ngành ngài đòi hỏi một cái đầu sáng suốt và sắc bén, còn thực hành của nó thì đòi hỏi cả một người đàn ông thực thụ, - có phải thế không?“
“Dĩ nhiên là thế, vâng, về điểm ấy tôi hoàn toàn tán thành với ông,” Hans Castorp đáp, trong khi chàng vô thức cố gắng nói cho có phần lưu loát. “Những đòi hỏi ngày nay thật ghê gớm, người ta không nên hình dung quá rõ chúng gay gắt đến mức nào, không thì quả thật có thể mất hết can đảm. Không, đó chẳng phải chuyện đùa. Mà nếu người ta lại không phải kẻ cường tráng nhất... Tôi ở đây chỉ là khách thôi, nhưng tôi cũng chẳng phải hạng khỏe khoắn gì cho lắm, và hẳn tôi phải nói dối nếu muốn quả quyết rằng công việc rất hợp với mình. Trái lại, nó làm tôi khá kiệt sức, điều ấy thì tôi phải nói. Thực ra tôi chỉ cảm thấy thật khỏe khi chẳng làm gì cả –”
“Chẳng hạn như lúc này?”
“Lúc này ư? Ồ, hiện tôi còn quá mới mẻ ở trên này, ông hẳn hiểu, có phần bối rối.”
“À, bối rối.”
“Vâng, tôi cũng ngủ không được thật yên, rồi bữa điểm tâm thứ nhất quả thật lại quá thịnh soạn... Tôi vốn quen ăn sáng tử tế, nhưng bữa sáng hôm nay xem ra vẫn quá đặc nặng đối với tôi, _too rich_, như người Anh nói. Tóm lại, tôi thấy hơi bứt rứt, mà nhất là điếu xì gà sáng nay của tôi lại không ngon, ông thử nghĩ xem! Điều ấy hầu như không bao giờ xảy ra với tôi, trừ khi tôi ốm thật sự, mà hôm nay nó lại có vị như da thuộc. Tôi đành phải vứt nó đi, cố hút tiếp cũng vô ích. Xin hỏi ông có hút thuốc không? Không ư? Thế thì ông không thể hình dung nổi nỗi bực và thất vọng ấy đối với một người từ thuở trẻ đã đặc biệt thích hút như tôi...”
“Tôi không có kinh nghiệm trong lĩnh vực ấy,” Settembrini đáp, “vả lại với sự thiếu kinh nghiệm ấy tôi cũng không ở vào một bầu bạn tồi. Không ít tinh thần cao quý và tỉnh táo đã ghê tởm thuốc lá. Cả Carducci cũng không ưa nó. Nhưng ở Radamanth của chúng ta, ông sẽ tìm thấy sự thông cảm. Ông ta là người tán thành cái tật ấy của ông.”
“À, nhưng gọi là tật xấu, Herr Settembrini...”
“Sao lại không? Phải gọi sự vật bằng sự thật và sức mạnh. Điều ấy làm đời sống mạnh thêm và nâng cao nó. Chính tôi cũng có những tật xấu.”
“Vậy ra ngài cố vấn Behrens cũng là tay sành xì gà? Một người duyên dáng.”
“Ông thấy vậy ư? À, thế là ông đã quen biết ông ta rồi sao?”
“Vâng, lúc nãy, khi chúng tôi đi ra. Gần như là một cuộc khám bệnh, nhưng _sine pecunia_, ông biết đấy. Ông ấy nhìn là thấy ngay tôi khá thiếu máu. Rồi ông ấy khuyên tôi ở đây cứ sống hệt như anh họ tôi, nằm ngoài ban công thật nhiều, và tôi cũng phải đo nhiệt độ ngay cùng với mọi người, ông ấy nói thế.”
“Thật thế sao?” Settembrini kêu lên... “Tuyệt lắm!” ông ngả người ra sau, cười mà gọi lên khoảng không phía trên. “Trong vở opera của bậc thầy ông có câu thế nào nhỉ? ‘Ta là kẻ bắt chim đây mà, luôn luôn vui vẻ, hê-sa, hốp-sa-sa!’ Tóm lại, chuyện này thật thú vị. Ông sẽ làm theo lời khuyên của ông ta chứ? Hẳn là thế rồi. Sao lại không. Một tay quỷ quái, cái Radamanth ấy! Và quả thật là ‘luôn luôn vui vẻ’, tuy đôi khi có hơi gượng. Ông ta thiên về u sầu. Tật xấu của ông ta không hợp với ông ta đâu, nếu không thì rốt cuộc nó đã chẳng phải là tật xấu nữa; thuốc lá làm ông ta sinh u uất, bởi vậy bà Bề trên đáng kính của chúng ta đã cất giữ kho dự trữ và chỉ phân cho ông ta những khẩu phần nhỏ dùng trong ngày. Nghe nói cũng có khi ông ta không cưỡng nổi cám dỗ mà ăn cắp của bà, rồi sau đó lại sa vào u uất. Tóm lại: một tâm hồn rối ren. Ông cũng đã biết bà Bề trên của chúng ta chưa? Chưa ư? Thế thì đó là một sai lầm! Ông thật không phải khi không tìm cách được làm quen với bà ấy. Thuộc dòng dõi nhà von Mylendonk, thưa ông! Bà khác với nàng Venus Medici ở chỗ, nơi nữ thần có bầu ngực thì bà lại thường mang một cây thánh giá...”
“Ha, ha, tuyệt lắm!” Hans Castorp cười.
“Tên rửa tội của bà là Adriatica.”
“Lại còn thế nữa sao?” Hans Castorp kêu lên... “Nghe này, thật kỳ lạ! von Mylendonk mà lại Adriatica. Nghe cứ như bà hẳn đã chết từ lâu lắm rồi. Thật sự gợi một không khí trung cổ.”
“Thưa ông,” Settembrini đáp, “ở đây có lắm điều ‘gợi không khí trung cổ’, như ông thích diễn đạt. Phần tôi, tôi tin rằng Radamanth của chúng ta hoàn toàn chỉ vì một cảm thức phong cách có tính nghệ sĩ mà đã đặt hóa thạch ấy vào chức nữ tổng giám thị cho cung điện kinh hoàng của ông ta. Bởi lẽ ông ta là nghệ sĩ, điều ấy ông chưa biết sao? Ông ta vẽ sơn dầu. Biết làm sao, điều đó đâu có bị cấm, phải không, ai cũng được tự do... Bà Adriatica nói với bất cứ ai muốn nghe, và cả những người không muốn nghe nữa, rằng một Mylendonk vào giữa thế kỷ mười ba từng là nữ viện trưởng một tu viện ở Bonn bên sông Rhine. Còn chính bà, hẳn cũng không chào đời bao lâu sau mốc ấy...”
“Ha, ha, ha! Nhưng tôi thấy ông thật châm biếm, Herr Settembrini.”
“Châm biếm ư? Ý ông là: cay độc. Vâng, tôi có hơi cay độc một chút,” Settembrini nói. “Nỗi khổ của tôi là bị kết án phải phung phí cái cay độc của mình vào những đối tượng hèn mọn đến thế. Tôi hy vọng ông không phản đối sự cay độc, kỹ sư? Trong mắt tôi, nó là vũ khí chói lọi nhất của lý trí chống lại những quyền lực của bóng tối và cái xấu xí. Sự cay độc, thưa ông, là tinh thần của phê phán, mà phê phán có nghĩa là cội nguồn của tiến bộ và khai sáng.” Và tức thì ông bắt đầu nói về Petrarca, người mà ông gọi là “cha đẻ của thời hiện đại”.
“Nhưng bây giờ chúng ta phải đi liệu pháp nằm nghỉ rồi,” Joachim điềm đạm nói.
Nhà văn đã đi kèm lời mình bằng những cử động tay duyên dáng. Giờ đây ông khép lại màn diễn tay ấy bằng một cử chỉ chỉ về phía Joachim, rồi nói:
“Viên trung úy của chúng ta đang thúc quân vào nhiệm vụ. Vậy thì ta đi thôi. Chúng ta cùng một lối, ‘rẽ phải, con đường vươn lên những bức tường của Dis, đấng hùng cường’. A, Virgil, Virgil! Thưa các ngài, ông ấy là vô song. Dĩ nhiên tôi tin ở tiến bộ. Nhưng Virgil có những định ngữ mà không một người hiện đại nào có...” Và trong khi họ quay bước trở về, ông bắt đầu ngâm những câu thơ Latin bằng lối phát âm Ý; song ông ngắt lời khi một cô gái trẻ nào đó, có vẻ là con cái thị trấn nhỏ này, và tuyệt nhiên cũng chẳng xinh đẹp gì mấy, đi ngược chiều tới gần họ, rồi chuyển sang một nụ cười và tiếng ngân nga kiểu gã si tình. “T, t, t,” ông tặc lưỡi. “Chà, chà, chà! La, la, la! Hỡi con bọ nhỏ ngọt ngào, em có muốn là của anh không? Coi kìa, ‘mắt nàng lấp lánh thứ ánh sáng lúng liếng’,” ông trích dẫn, trời biết từ đâu ra, rồi gửi theo tấm lưng ngượng ngùng của cô gái một cái hôn gió.
Đúng là một tay ba hoa rỗng tuếch, Hans Castorp nghĩ bụng, và chàng vẫn giữ nguyên nhận xét ấy ngay cả khi Settembrini, sau cơn hứng tình tứ, lại quay sang nghị luận. Chủ yếu ông nhằm vào ngài cố vấn Behrens, châm chọc chu vi đôi bàn chân của ông ta và bám lấy tước hiệu của ông ta, cái tước hiệu mà ông ta đã nhận từ tay một vị vương thân mắc lao màng não. Cả vùng này đến nay vẫn còn nói về lối sống tai tiếng của vị vương thân ấy, nhưng Radamanth đã nhắm một mắt, rồi cả hai mắt, đúng là từng tấc một ra dáng một ngài cố vấn. Mà liệu các ngài có biết ông ta chính là người phát minh ra mùa điều dưỡng mùa hè không? Vâng, chính ông ta, không ai khác. Công lao ấy phải được đội vương miện xứng đáng. Trước kia, vào mùa hè, chỉ những kẻ trung thành nhất trong hàng những người trung thành mới chịu nấn ná trong thung lũng này. Thế là “nhà khôi hài của chúng ta”, bằng con mắt sắc sảo không thể mua chuộc, đã nhận ra rằng tình trạng bất cập ấy chẳng qua chỉ là kết quả của một thành kiến. Ông ta đề ra học thuyết rằng, ít nhất trong chừng mực viện của _chính ông ta_ còn được nói tới, việc điều dưỡng mùa hè chẳng những không kém phần đáng khuyến nghị mà thậm chí còn đặc biệt hiệu nghiệm và gần như không thể thiếu. Và ông ta đã biết cách phổ biến định đề ấy vào trong dân chúng, đã viết những bài báo đại chúng về nó rồi tung vào báo chí. Từ đó công việc mùa hè chạy nhộn nhịp chẳng kém mùa đông. “Thiên tài!” Settembrini nói. “Trực-giác!” ông nói. Rồi ông tuôn một mạch qua các dưỡng đường còn lại trong vùng và, bằng một lối tán dương chua cay, ca ngợi tinh thần kiếm chác của các vị chủ nhân. Nào là Giáo sư Kafka... Hằng năm, vào thời điểm hiểm yếu của mùa tuyết tan, khi nhiều bệnh nhân đòi ra đi, Giáo sư Kafka thấy mình buộc phải cấp tốc đi xa đâu đó thêm tám ngày, trong khi hứa rằng khi trở về ông sẽ làm thủ tục xuất viện. Nhưng rồi ông vắng mặt tới sáu tuần, còn những người khốn khổ kia cứ chờ đợi, trong lúc, nói ngoài lề, hóa đơn của họ mỗi lúc một phình ra. Người ta cho mời Kafka tận xuống Fiume, nhưng ông ta không lên đường trước khi đã bảo đảm chắc chắn năm nghìn franc Thụy Sĩ loại tốt, mà chuyện ấy ngốn mất mười bốn ngày. Rồi một ngày sau khi bậc Celebrissimo đến nơi, người bệnh liền qua đời. Còn bác sĩ Salzmann thì, theo Giáo sư Kafka kể, bảo rằng ông này không giữ các ống tiêm của mình đủ sạch và đem đến cho bệnh nhân những nhiễm trùng pha tạp. Ông ta đi bằng cao su, Salzmann nói, để những người chết của ông ta không nghe thấy ông ta, còn ngược lại Kafka lại quả quyết rằng ở chỗ Salzmann, “ân huệ làm vui của cây nho” bị ép vào bệnh nhân với số lượng đến thế, dĩ nhiên cũng để làm tròn hóa đơn của họ, khiến người ta chết như ruồi, mà không phải vì lao phổi, mà vì gan nát do rượu...”
Câu chuyện cứ thế tiếp diễn, và Hans Castorp cười sảng khoái, hiền hậu trước trận lũ báng bổ tuôn ra như thác ấy. Bài thao luận của người Ý nghe kỳ lạ mà dễ chịu trong cái sự thuần khiết và chính xác tuyệt đối, không vướng chút phương ngữ nào của nó. Những lời nói ra khỏi đôi môi linh hoạt của ông đầy đặn, gọn ghẽ và như vừa mới được tạo thành; ông thưởng thức những lối nói, những hình thức học thức mà sắc ngọt lanh lẹ ông vận dụng, thậm chí cả sự biến tố ngữ pháp và sự biến đổi của từ ngữ, với một niềm khoan khoái hiển nhiên, có sức lây lan và làm vui lòng người khác, và dường như tinh thần ông quá sáng láng, quá hiện tiền đến mức không hề lỡ lời lấy một lần.
“Ông nói chuyện thật lạ, Herr Settembrini,” Hans Castorp nói, “thật sinh động, tôi không biết phải gọi là gì nữa.”
“Giàu tạo hình, phải không?” người Ý đáp lại và phe phẩy chiếc khăn tay, mặc dù thật ra trời khá mát. “Hẳn đó là từ ông đang tìm. Ông muốn nói là tôi có một lối nói giàu tạo hình. Nhưng khoan!” ông kêu lên. “Tôi trông thấy gì kia! Những vị thẩm phán địa ngục của chúng ta đang dạo bước đằng đó! Một cảnh tượng làm sao!”
Những người đi dạo đã lại vượt qua khúc ngoặt của con đường. Do lời nói của Settembrini, do độ dốc của mặt đường, hay kỳ thực họ vẫn chưa rời khỏi dưỡng đường xa đến thế như Hans Castorp đã tưởng, bởi lẽ một con đường ta đi lần đầu bao giờ cũng dài hơn hẳn chính con đường ấy khi ta đã quen, thì dù sao cuộc quay về cũng đã diễn ra nhanh đến ngạc nhiên. Settembrini nói đúng, chính là cặp bác sĩ kia đang tiến dọc mặt sau dưỡng đường ở khoảng đất trống bên dưới, đi đầu là ngài cố vấn trong chiếc áo choàng trắng, gáy chồm ra và hai tay cử động như mái chèo; bám theo dấu ông là bác sĩ Krokowski trong chiếc áo khoác ngoài màu đen, đưa mắt nhìn quanh càng tự phụ hơn chính vì lệ thường của bệnh viện buộc ông, trong những chuyến đi công vụ, phải đi phía sau vị trưởng khoa.
“A, Krokowski!” Settembrini kêu lên. “Ông ta đi đằng kia và biết mọi bí mật của các quý bà chúng ta. Xin mời lưu ý tới tính tượng trưng tinh tế trong y phục của ông ta. Ông ta mặc màu đen để ám chỉ rằng lĩnh vực nghiên cứu cốt lõi nhất của ông ta là đêm tối. Trong đầu con người ấy chỉ có một ý nghĩ, và ý nghĩ ấy thì bẩn thỉu. Kỹ sư, sao chúng ta lại chưa hề nói gì về ông ta nhỉ! Ông đã làm quen với ông ta rồi chứ?”
Hans Castorp gật đầu xác nhận.
“Thế nào? Tôi bắt đầu ngờ rằng ông ta cũng vừa mắt ông.”
“Tôi thật không biết nữa, Herr Settembrini. Tôi mới chỉ gặp ông ta lướt qua thôi. Mà tôi cũng không phải người xét đoán mau lẹ. Tôi nhìn người ta và nghĩ: À, ra là anh như thế? Thôi được.”
“Thế là trì độn!” người Ý đáp. “Hãy phán đoán đi! Tự nhiên đã cho ông đôi mắt và trí óc là để làm việc đó. Ông cho là tôi nói cay độc; nhưng nếu tôi có làm thế thì có lẽ cũng không phải là không có chủ tâm sư phạm. Chúng tôi, những người nhân văn chủ nghĩa, ai cũng có một mạch sư phạm... Thưa các ngài, sự liên hệ có tính lịch sử giữa chủ nghĩa nhân văn và sư phạm chứng minh mối liên hệ tâm lý của chúng. Người ta không nên tước khỏi nhà nhân văn chức vụ giáo dưỡng, mà cũng không thể tước được, bởi chỉ nơi ông ta còn lưu truyền ý niệm về phẩm giá và vẻ đẹp của con người. Xưa kia ông ta đã thay chỗ người giáo sĩ, kẻ trong những thời đại u tối và thù nghịch với con người từng dám tự nhận quyền dẫn dắt tuổi trẻ. Từ đó đến nay, thưa các ngài, tuyệt nhiên không hề xuất hiện thêm một kiểu nhà giáo mới nào nữa. Trường trung học cổ điển, cứ gọi tôi là kẻ phản tiến bộ đi, kỹ sư, nhưng về nguyên tắc, _in abstracto_, xin ông hiểu đúng cho tôi, tôi vẫn là người tán thành nó...”
Ngay cả trong thang máy ông vẫn tiếp tục triển khai luận điểm ấy, và chỉ im tiếng khi hai anh em họ ra khỏi thang ở tầng hai. Còn chính ông đi tiếp lên tầng ba, nơi, như Joachim kể, ông ở một căn phòng nhỏ nhìn ra phía sau.
“Chắc ông ấy không có tiền?” Hans Castorp hỏi, vừa theo Joachim đi vào. Chỗ Joachim trông giống hệt chỗ chàng ở bên kia.
“Không,” Joachim nói, “chắc là không có. Hoặc cùng lắm chỉ vừa đủ để trang trải việc ở trên này. Cha ông ta cũng đã là người làm nghề văn chương rồi, cậu biết đấy, mà mình tin là cả ông nội cũng thế.”
“À, thế thì,” Hans Castorp nói. “Nhưng rốt cuộc ông ta có bệnh nặng thật không?”
“Theo như mình biết thì không nguy hiểm, nhưng dai dẳng và cứ tái đi tái lại. Ông ta mắc đã nhiều năm rồi, có dạo đã rời khỏi đây, nhưng chẳng bao lâu lại phải nhập viện trở lại.”
“Tội nghiệp anh chàng! Trong khi ông ta xem ra lại mê công việc đến thế. Đã vậy còn cực kỳ lắm lời, chuyển từ chuyện này sang chuyện khác nhẹ tênh. Vụ cô gái lúc nãy thì ông ta có phần sỗ sàng, làm mình ngượng thay trong chốc lát. Nhưng điều ông ta nói sau đó về phẩm giá con người lại nghe thật tuyệt, cứ như ở một buổi lễ long trọng. Cậu có hay đi lại với ông ta không?”
Sự sắc bén của tư tưởng
Nhưng Joachim giờ chỉ còn có thể đáp lại một cách khó nhọc và lúng búng. Chàng đã lấy từ một cái hộp da đỏ lót nhung đặt trên bàn một chiếc nhiệt kế nhỏ và ngậm đầu dưới có chứa thủy ngân vào miệng. Chàng giữ nó bên trái dưới lưỡi, để cho dụng cụ thủy tinh ấy chìa chếch lên khỏi miệng. Rồi chàng sửa soạn qua loa trong phòng, xỏ giày và mặc một chiếc áo khoác kiểu Litva, lấy từ trên bàn một bảng in cùng với bút chì, rồi thêm một cuốn sách, một cuốn ngữ pháp Nga, vì chàng học tiếng Nga, theo lời chàng, là vì hy vọng nhờ đó có lợi cho binh nghiệp, và với hành trang ấy chàng ra ngoài ban công ngồi xuống ghế nằm, chỉ khẽ phủ tấm chăn lông lạc đà lên chân.
Nó hầu như chẳng cần đến: ngay trong mười lăm phút cuối cùng, tầng mây đã mỏng dần, mỏng dần, và mặt trời phá mây hiện ra, ấm áp và chói lòa như giữa mùa hạ, đến nỗi Joachim phải che đầu bằng một chiếc lọng vải lanh trắng, nhờ một cơ cấu nhỏ, khéo léo mà có thể gắn vào tay ghế và điều chỉnh theo vị trí của mặt trời. Hans Castorp khen phát minh ấy. Chàng muốn chờ kết quả đo xong, trong lúc đó nhìn xem mọi việc được tiến hành ra sao; chàng cũng ngắm cái túi lông thú tựa trong một góc lô-gia ấy nữa (Joachim dùng nó vào những ngày lạnh), rồi chống khuỷu tay lên lan can nhìn xuống khu vườn, nơi nhà nằm nghỉ chung lúc này đã đầy những bệnh nhân duỗi dài người ra, kẻ đọc, người viết, người trò chuyện. Vả lại, chỉ trông thấy được một phần bên trong, chừng năm chiếc ghế.
“Nhưng chuyện này kéo dài bao lâu vậy?” Hans Castorp hỏi và quay lại.
Joachim giơ bảy ngón tay lên.
“Hẳn là phải xong rồi chứ, bảy phút cơ mà!”
Joachim lắc đầu. Một lát sau cậu lấy nhiệt kế ra khỏi miệng, nhìn nó và nói:
“Phải, nếu mình để ý đến nó, đến thời gian ấy, thì nó trôi rất chậm. Tớ còn thích cái việc đo này, ngày bốn lần, bởi khi làm thế người ta mới nhận ra thực ra một phút, hay hẳn bảy phút, là cái gì, giữa lúc ở trên này người ta phải giết cho hết bảy ngày trong tuần một cách khủng khiếp biết bao.”
“Cậu nói ‘thực ra’. ‘Thực ra’ cậu không thể nói thế được,” Hans Castorp đáp. Chàng ngồi vắt một đùi lên lan can, và lòng trắng mắt chàng nổi gân đỏ. “Với thời gian thì nói chung làm gì có cái ‘thực ra’. Nếu nó có vẻ dài, thì nó dài, và nếu nó có vẻ ngắn, thì nó ngắn, nhưng trong thực tại nó dài hay ngắn đến đâu, nào ai biết.” Vốn dĩ chàng hoàn toàn không quen triết lý, thế mà vẫn cảm thấy một thôi thúc muốn làm điều đó.
Joachim phản bác.
“Sao lại thế. Không. Chúng ta đo nó kia mà. Chúng ta có đồng hồ và lịch, và khi một tháng đã hết thì với cậu, với tớ, với tất cả chúng ta, nó đều đã hết.”
“Thế thì nghe đây,” Hans Castorp nói, thậm chí còn giơ ngón trỏ lên bên đôi mắt lờ đờ của mình. “Vậy là một phút dài đúng bằng chừng nó có vẻ dài đối với cậu khi cậu đo nhiệt độ?”
“Một phút dài chừng ấy... nó _kéo dài_ chừng ấy, như kim giây cần để đi hết một vòng.”
“Nhưng đối với cảm giác của chúng ta, nó lại cần những quãng rất khác nhau kia mà! Và trên thực tế... tôi nói là: nếu xét cho thật đúng,” Hans Castorp lặp lại, ấn ngón trỏ mạnh đến nỗi đầu mũi cong hẳn đi, “thì đó là một chuyển động, một chuyển động trong không gian, phải không nào? Khoan, đợi đã! Vậy là chúng ta đo thời gian bằng không gian. Nhưng như thế cũng chẳng khác nào muốn đo không gian bằng thời gian, mà chỉ những kẻ hết sức thiếu khoa học mới làm. Từ Hamburg đến Davos là hai mươi giờ, phải, đi bằng xe lửa. Nhưng đi bộ thì bao lâu? Còn trong ý nghĩ? Chẳng đến một giây!”
“Này,” Joachim nói, “cậu làm sao thế? Tớ tin là trên chỗ bọn tớ này nó bắt đầu tác vào cậu rồi đấy?”
“Im đi! Hôm nay đầu óc tớ sắc lắm. Thời gian là cái gì vậy?” Hans Castorp hỏi và vặn đầu mũi mình sang bên dữ dằn đến nỗi nó trắng bệch, mất cả máu. “Không gian thì chúng ta cảm nhận bằng các cơ quan của mình, bằng thị giác và xúc giác. Được thôi. Nhưng cơ quan nào của chúng ta là cơ quan cảm nhận thời gian? Cậu thử nói nhanh cho tớ xem nào? Đấy, cậu bí rồi. Nhưng làm sao chúng ta có thể đo một cái mà, nói cho chính xác, chúng ta hoàn toàn chẳng biết gì về nó cả, chẳng nói nổi lấy một thuộc tính duy nhất! Chúng ta nói: thời gian trôi đi. Được, cứ cho nó trôi đi. Nhưng để đo được nó... khoan đã! Muốn đo được thì nó hẳn phải trôi _đều đặn_, mà có chỗ nào viết rằng nó làm như thế đâu? Đối với ý thức của chúng ta thì nó không làm thế; chúng ta chỉ giả định như vậy cho có trật tự mà thôi, và những đơn vị đo của chúng ta chẳng qua chỉ là quy ước, cho phép tớ nói thế...”
“Được,” Joachim nói, “thế thì hẳn chuyện trên nhiệt kế của tớ thừa ra bốn vạch cũng chỉ là quy ước thôi! Nhưng chính vì năm cái vạch này mà tớ phải nằm ườn ra đây và không thể làm nhiệm vụ, ấy là một sự thật khả ố!”
“Cậu 37,5 à?”
“Lại xuống rồi.” Joachim ghi vào bảng theo dõi của mình. “Tối qua gần 38, là tại cậu đến đấy. Ai có khách đến thăm cũng tăng nhiệt. Nhưng dẫu sao cũng là một điều dễ chịu lắm.”
“Giờ thì tớ cũng đi đây,” Hans Castorp nói. “Trong đầu tớ còn một đống ý nghĩ về thời gian, có thể nói là hẳn thành cả một phức hợp rồi. Nhưng lúc này tớ không muốn làm cậu kích động thêm, vì đằng nào cậu cũng đã thừa quá nhiều vạch. Tớ sẽ nhớ hết cả, và sau này chúng ta có thể trở lại chuyện ấy, có lẽ sau bữa ăn sáng. Đến giờ ăn sáng thì cậu gọi tớ nhé. Giờ tớ cũng đi nằm nghỉ đây, dẫu sao nó cũng chẳng đau đớn gì, tạ ơn Chúa.” Nói rồi chàng đi qua tấm vách kính sang ô riêng của mình, nơi cũng đã bày sẵn một ghế nằm và một cái bàn nhỏ, lấy cuốn „_Ocean steamships_“ cùng tấm chăn mềm đẹp của chàng, ca-rô đỏ sẫm và xanh lục, từ căn phòng được thu dọn ngăn nắp sạch sẽ, rồi ngồi xuống.
Chẳng bao lâu chàng cũng phải giương chiếc lọng lên; cứ hễ nằm xuống là cái nắng cháy da trở nên không chịu nổi. Nhưng nằm thì quả là dễ chịu khác thường, điều ấy Hans Castorp nhận ra ngay với niềm thích thú; chàng không nhớ đã từng gặp một chiếc ghế nằm nào êm ái đến thế. Cái khung, hơi cổ lỗ một chút về hình thức, song đó chỉ là một sự kiểu cách của thị hiếu thôi, bởi chiếc ghế hiển nhiên còn mới, được làm bằng gỗ đánh bóng màu nâu đỏ; còn tấm nệm có bọc thứ vải mềm như vải in hoa, thật ra ghép từ ba đệm dày, chạy từ chỗ gác chân lên quá cả tựa lưng. Ngoài ra, bằng một sợi dây người ta còn buộc vào đó một chiếc gối cổ, không quá cứng mà cũng không quá mềm, bọc vải lanh thêu, đem lại một tác dụng đặc biệt dễ chịu. Hans Castorp tì một cánh tay lên mặt nhẵn rộng của tay ghế, lim dim mắt mà nghỉ, không cần dùng đến „_Ocean steamships_“ để giải khuây. Nhìn qua những vòm lô-gia, phong cảnh cứng cỏi và khắc khổ bên ngoài, nhưng rực nắng sáng bừng, hiện lên như một bức họa, như đã được đóng khung. Hans Castorp trầm ngâm ngắm nó. Bỗng chàng nhớ ra một điều và nói to trong tĩnh lặng:
“Người hầu bàn cho chúng ta trong bữa sáng đầu tiên là một cô lùn đấy thôi.”
“Suỵt,” Joachim lên tiếng. “Khẽ thôi chứ. Ừ, một cô lùn. Rồi sao?”
“Không gì cả. Bọn mình vẫn chưa hề nói với nhau về chuyện ấy.”
Rồi chàng lại tiếp tục mơ màng. Khi chàng nằm xuống thì đã mười giờ rồi. Một giờ trôi qua. Đó là một giờ bình thường, không dài, không ngắn. Khi nó trôi xong, một tiếng cồng vang qua nhà và vườn, trước xa, rồi gần, rồi lại xa.
“Ăn sáng,” Joachim nói, và người ta nghe thấy cậu đứng dậy.
Hans Castorp cũng chấm dứt liệu pháp nằm nghỉ lần này và vào phòng sửa soạn qua loa một chút. Hai người anh em họ gặp nhau ngoài hành lang và cùng đi xuống. Hans Castorp nói:
“Quả thật nằm tuyệt lắm. Những chiếc ghế ấy là ghế gì thế? Nếu ở đây có bán thì tớ sẽ mang một chiếc về Hamburg, nằm trên đó cứ như ở trên thiên đường. Hay cậu nghĩ rằng Behrens đã cho làm riêng chúng theo đúng chỉ dẫn của ông ta?”
Joachim không biết. Họ cởi áo ngoài rồi bước vào phòng ăn lần thứ hai, nơi bữa ăn đã lại diễn ra sôi nổi.
Cả phòng ánh lên một màu trắng vì sữa: ở mỗi chỗ ngồi đều có một chiếc cốc lớn, chắc đến nửa lít.
“Không,” Hans Castorp nói, sau khi lại ngồi vào đầu bàn của mình giữa cô thợ may và người đàn bà Anh, ngoan ngoãn mở khăn ăn ra, mặc dầu bụng chàng còn nặng trĩu vì bữa sáng đầu tiên. “Không,” chàng nói, “Chúa phù hộ tôi, sữa thì tôi tuyệt nhiên không uống nổi, mà lúc này lại càng không. Chẳng hay ở đây có Porter không?” Và với câu hỏi ấy, trước hết chàng quay sang cô lùn một cách lịch thiệp và dịu dàng. Tiếc rằng không có. Nhưng cô hứa sẽ mang bia Kulmbacher tới, và quả nhiên đã mang tới. Thứ ấy đặc, đen, bọt nâu, thay Porter rất xứng. Hans Castorp khát khô cả người, bèn uống nó từ một chiếc cốc cao nửa lít. Chàng ăn kèm những lát thịt nguội đặt trên bánh mì nướng. Lại có sẵn cháo yến mạch và lại có rất nhiều bơ cùng trái cây. Ít ra chàng còn để mắt nhìn chúng, vì chàng không đủ sức đưa những thứ ấy vào người. Chàng cũng quan sát đám thực khách; khối đông bắt đầu tách ra đối với chàng, từng cá nhân hiện dần lên.
Bàn của chính chàng đã đủ người, trừ chỗ đầu bàn đối diện chàng, mà người ta cho chàng biết đó là chỗ bác sĩ. Bởi các bác sĩ, nếu thời giờ của họ cho phép dù chỉ một chút, cũng dự những bữa ăn chung và đổi bàn với nhau; ở mỗi bàn đều chừa sẵn một chỗ như thế ở đầu bàn. Lúc này không có ai trong hai vị có mặt; người ta bảo họ đang làm phẫu thuật. Lại thấy chàng trai trẻ để ria mép bước vào, hạ cằm xuống ngực một cái rồi ngồi xuống với vẻ mặt khép kín, lo âu. Cô tóc vàng nhợt, gầy gò vẫn ngồi ở chỗ mình và xúc sữa chua, như thể đó là món ăn duy nhất của cô. Bên cạnh cô hôm nay là một bà lão nhỏ thó, lanh lợi, đang thao thao bằng tiếng Nga với chàng trai lặng lẽ kia; anh ta lo lắng nhìn bà và chẳng đáp gì ngoài cái gật đầu, đồng thời làm cái vẻ như thể đang ngậm trong miệng một thứ gì khó nuốt. Đối diện anh ta, ở phía bên kia bà lão, còn có một cô gái trẻ khác ngồi đó; cô xinh xắn, sắc mặt hồng hào, ngực cao, tóc màu hạt dẻ xếp thành những làn gợn dễ nhìn, đôi mắt nâu tròn, trẻ thơ, và một hột ruby nhỏ trên bàn tay đẹp. Cô cười nhiều và cũng nói tiếng Nga, chỉ tiếng Nga mà thôi. Chàng nghe biết tên cô là Marusja. Ngoài ra, chàng còn để ý thấy Joachim, mỗi khi cô cười và nói, lại sa sầm mặt mà cụp mắt xuống.
Settembrini xuất hiện từ cửa bên và vừa vuốt xoắn ria mép vừa bước đến chỗ mình, ở cuối chiếc bàn đặt chéo phía trước bàn của Hans Castorp. Các bạn cùng bàn của ông phá lên cười vang khi ông ngồi xuống; chắc hẳn ông vừa buông một câu hiểm. Hans Castorp cũng nhận ra lại những thành viên của “Hội Nửa Lá Phổi”. Hermine Kleefeld với cặp mắt đờ dại lừ lừ tiến đến bàn mình ở đằng kia, trước một cửa hiên, và chào chàng trai môi dày lúc nãy đã kéo vạt áo khoác lên một cách hết sức vô duyên. Levi màu ngà ngồi cạnh Iltis béo mập đầy đốm gan, giữa những người xa lạ ở chiếc bàn kê ngang phía bên phải Hans Castorp.
“Kìa hàng xóm của cậu đấy,” Joachim khẽ nói với người em họ, đoạn nghiêng người về phía trước... Hai người ấy đi sượt sát Hans Castorp đến chiếc bàn cuối cùng bên phải, tức cái “bàn Nga tồi”, nơi đã có sẵn một gia đình với một thằng bé xấu xí đang ngấu nghiến những đống Porridge to tướng. Người đàn ông dáng vóc mảnh khảnh, má xám và hõm sâu. Ông ta mặc một chiếc áo khoác da nâu, dưới chân đi đôi ủng dạ thô kệch có khóa cài. Người vợ, cũng nhỏ bé thanh mảnh, đội chiếc mũ lông rung rinh, lóc cóc bước trên đôi ủng da Juchten bé tí gót cao; quanh cổ bà quàng một dải boa lông chim bẩn thỉu. Hans Castorp nhìn hai người ấy với một sự bất chấp mà thường ngày vốn xa lạ với chàng và chính chàng cũng cảm thấy là tàn nhẫn; nhưng chính cái vẻ tàn nhẫn ấy lại bỗng đem đến cho chàng một thứ khoái cảm nào đó. Mắt chàng vừa đờ đẫn vừa xoi mói. Đúng lúc ấy, cánh cửa kính bên trái sập lại, vang rền và loảng xoảng như trong bữa sáng đầu tiên, chàng không giật nảy mình như sáng nay nữa mà chỉ nhăn mặt lười nhác; và khi muốn quay đầu về phía ấy, chàng nhận ra điều đó quá nặng nề đối với mình và không đáng bõ công. Bởi vậy, lần này nữa chàng lại không xác định được ai là kẻ xử sự cẩu thả với cánh cửa đến thế.
Sự thể là ở chỗ thứ bia bữa sáng, vốn ngày thường chỉ có tác dụng làm mụ mị vừa phải đối với cơ địa chàng, hôm nay đã làm chàng trai tê dại và rã liệt hoàn toàn, gây nên những hậu quả như thể chàng vừa bị ai giáng cho một cú vào trán. Mi mắt chàng nặng như chì; cái lưỡi không chịu vâng theo ý nghĩ đơn giản, khi vì lịch sự chàng cố chuyện trò với người đàn bà Anh; ngay cả việc đổi hướng nhìn cũng đòi hỏi một sự thắng mình lớn lao, mà lại còn thêm cái bỏng nắng ghê gớm trên mặt đã hoàn toàn đạt lại mức độ của hôm qua: đôi má chàng dường như sưng phồng vì nóng, chàng thở nặng nhọc, tim đập như một cái búa quấn vải, và nếu giữa bao nhiêu điều ấy chàng không lấy làm khổ sở lắm, thì chỉ vì đầu óc chàng đang ở trong một trạng thái như thể đã hít vào hai ba hơi chloroform. Chàng chỉ nhận ra một cách mơ hồ như trong mộng rằng rốt cuộc bác sĩ Krokowski cũng đến dự bữa ăn sáng và ngồi vào bàn của chàng, đối diện chàng, mặc dầu trong khi trò chuyện bằng tiếng Nga với các bà ngồi bên phải mình, vị bác sĩ ấy nhiều lần chăm chú nhìn chàng; còn những cô gái trẻ, tức cả Marusja hồng hào lẫn cô gái gầy ăn sữa chua, đều ngoan ngoãn và e thẹn cụp mắt xuống trước ông. Dẫu sao, Hans Castorp cũng giữ mình rất đúng mực, điều ấy tự nhiên là thế; vì cái lưỡi tỏ ra bất tuân nên chàng thà im lặng, và thậm chí còn sử dụng dao nĩa với một vẻ đoan chính đặc biệt. Khi người anh em họ gật đầu ra hiệu và đứng lên, chàng cũng đứng dậy, cúi chào các bạn cùng bàn một cách mù mờ rồi bước những bước quả quyết theo Joachim ra ngoài.
“Bao giờ lại đến giờ nằm nghỉ nữa?” chàng hỏi khi họ ra khỏi tòa nhà. “Theo chỗ tôi thấy, đó là cái hay nhất ở đây. Giá mà tôi đã lại được nằm trên chiếc ghế tuyệt hảo của tôi. Ta có đi dạo xa không?”
Thừa một lời
“Không,” Joachim nói, “tớ đâu có được phép đi xa. Giờ này lúc nào tớ cũng đi xuống một quãng, xuyên qua làng và đến tận Davos-Platz, nếu có thời giờ. Người ta xem cửa hiệu, ngó người qua lại và mua thứ mình cần. Trước bữa trưa còn nằm thêm một giờ nữa, rồi lại nằm tiếp đến bốn giờ, cậu cứ hoàn toàn yên tâm.”
Họ đi dưới nắng xuống con đường vào nhà, băng qua dòng nước và đường ray hẹp, trước mắt là những khối núi ở sườn phải của thung lũng: “Kleine Schiahorn”, “Grünen Türme” và “Dorfberg”, những cái tên Joachim vừa đi vừa chỉ ra. Đằng kia, ở một độ cao vừa phải, là nghĩa trang có tường bao của Davos-Dorf; Joachim cũng lấy gậy chỉ về phía ấy. Rồi họ ra tới con đường chính, chạy dọc theo sườn đồi phân tầng, cao hơn đáy thung lũng đến một tầng nhà.
Kỳ thực, khó mà còn có thể nói đến một ngôi làng; dẫu sao thì ngoài cái tên ra, chẳng còn gì của nó nữa. Khu dưỡng bệnh đã nuốt trọn nó, khi cứ mãi vươn dài về phía cửa thung lũng, và phần của toàn khu cư trú mang tên „Dorf“ đã chuyển sang phần gọi là „Davos Platz“ một cách không ai nhận thấy, không chút ranh giới. Khách sạn và nhà trọ, tất cả đều được trang bị dồi dào những hiên có mái, ban-công và nhà nằm nghỉ, lại thêm những ngôi nhà tư nhỏ cho thuê phòng, nằm hai bên đường; đây đó chen vào những công trình mới; đôi khi nhà cửa cũng thưa ra, và con đường mở tầm mắt ra những bãi cỏ thoáng rộng của lòng thung lũng ...
Hans Castorp, trong nỗi thèm khát cái kích thích quen thuộc, yêu dấu của đời sống, lại châm một điếu xì gà, và có lẽ nhờ cốc bia khi nãy mà, với một sự mãn nguyện không sao tả xiết, chàng quả thật còn cảm thấy lẩn khuất đây đó chút ít mùi hương từng mong ngóng: dĩ nhiên chỉ hiếm hoi và nhạt yếu thôi, – phải gắng một cách gần như căng thẳng thần kinh mới đón được một thoáng lạc thú, trong khi cái vị da thuộc ghê tởm vẫn lấn át xa xa. Không sao cam chịu nổi sự bất lực của mình, chàng vật lộn một lúc với cái thú vui cứ hoặc khước từ chàng, hoặc chỉ từ xa xa cho chàng thấy một dấu hiệu mơ hồ đầy nhạo báng, rồi rốt cuộc mệt mỏi và ghê tởm, chàng ném phăng điếu xì gà đi. Dẫu đầu óc còn choáng váng, chàng vẫn cảm thấy bổn phận lịch thiệp là phải chuyện trò, và vì thế cố nhớ lại những điều xuất sắc mà trước đó chàng từng định nói về „thời gian“. Nhưng hóa ra chàng đã quên sạch không sót một mảy may toàn bộ „phức hợp“ ấy, và trong đầu tuyệt không còn cư ngụ lấy một ý nghĩ nhỏ nhất nào về thời gian nữa. Bù lại, chàng bắt đầu nói đến những chuyện thuộc thân xác, mà lại nói theo một lối khá kỳ quặc.
„Thế khi nào cậu lại đo nhiệt độ?“ chàng hỏi. „Sau bữa ăn à? Ừ, thế là đúng đấy. Khi ấy cơ thể đang hoạt động hết công suất, hẳn phải lộ ra chứ. Cái chuyện Behrens đòi tôi cũng phải đo, ấy hẳn chỉ là đùa thôi, nghe này, – Settembrini chẳng cũng cười phá lên đó sao, chứ hoàn toàn chẳng có nghĩa lý gì cả. Tôi đến một cái nhiệt kế cũng không có.“
„Ờ,“ Joachim nói, „thế lại là chuyện dễ nhất. Cậu chỉ việc đi mua một cái. Ở đây chỗ nào cũng có nhiệt kế bán, gần như cửa hàng nào cũng có.“
„Nhưng để làm gì kia chứ! Không, liệu pháp nằm nghỉ thì tôi thấy được đấy, cái đó tôi sẵn lòng tham gia, nhưng còn đo nhiệt độ thì với một người khách quan sát như tôi, thế là quá lắm, chuyện ấy tôi xin cứ để mặc cho các cậu trên này. Giá tôi chỉ biết được,“ Hans Castorp nói tiếp, đồng thời đưa cả hai tay lên ngực như một kẻ đang yêu, „vì sao suốt cả thời gian tôi cứ đánh trống ngực thế này, – nó thật đáng bất an, tôi đã nghĩ đến điều đó từ lâu rồi. Cậu thấy đấy, người ta đánh trống ngực khi sắp có một niềm vui đặc biệt nào đó, hoặc khi người ta lo sợ, tóm lại là trong những xúc động tâm tình, phải không? Nhưng nếu trái tim tự nó cứ đập thình thịch, vô cớ, vô nghĩa, và nói như thế, hoàn toàn theo ý riêng của nó, thì tôi thấy chuyện ấy quả thật rờn rợn, cậu hiểu cho, bởi như thế chẳng khác nào thân xác đi con đường riêng của nó và không còn liên hệ gì với tâm hồn nữa, đại khái như một xác chết, mà thật ra cũng đâu có chết thật – chuyện ấy vốn không hề có –, trái lại còn sống một đời sống hết sức linh hoạt, nhưng là đời sống của riêng nó: tóc và móng của nó vẫn còn mọc lên, và ngoài ra, theo điều người ta bảo tôi, thì về mặt vật lý và hóa học, trong đó còn ngự trị một sự vận hành hết sức rộn ràng ...“
„Toàn là những lối nói gì vậy,“ Joachim vừa điềm tĩnh vừa trách móc nói. „Một sự vận hành rộn ràng!“ Và có lẽ như thế, cậu kín đáo trả đũa đôi chút lời quở trách đã lĩnh hồi sáng nay vì chữ „Schellenbaum“.
„Nhưng đúng là thế mà! Nó _là_ một sự vận hành rất rộn ràng! Sao cậu lại khó chịu vì điều đó?“ Hans Castorp hỏi. „Vả lại, tôi chỉ nhắc qua thôi. Tôi chẳng định nói gì hơn ngoài điều này: thật rờn rợn và hành hạ biết bao khi thân xác sống theo ý riêng của nó, không dính dáng gì đến tâm hồn, rồi còn làm ra vẻ hệ trọng, như trong cơn đánh trống ngực vô cớ ấy. Gần như người ta phải đi tìm cho nó một ý nghĩa, một xúc động tâm tình nào ăn khớp với nó, một cảm giác vui mừng hay lo sợ nào đó, để nhờ vậy mà, nói như thế, nó được biện minh, – ít nhất với tôi là thế, tôi chỉ có thể nói về bản thân mình thôi.“
„Phải, phải,“ Joachim nói, thở dài, „đại khái cũng giống như khi người ta bị sốt – khi ấy trong thân thể cũng ngự trị một ‘sự vận hành rộn ràng’ đặc biệt, dùng lối nói của cậu, và khi ấy quả cũng có thể là người ta vô tình ngó quanh tìm một xúc động tâm tình nào đó, như cậu nói, để nhờ đó mà sự vận hành kia có được đôi chút ý nghĩa hợp lý ... Nhưng chúng ta lại đang nói toàn những chuyện khó chịu,“ cậu nói bằng giọng run run rồi ngắt lời; Hans Castorp bèn chỉ nhún vai, mà lại đúng theo cái kiểu tối qua chàng đã thấy lần đầu nơi Joachim.
Họ đi một quãng trong im lặng. Rồi Joachim hỏi:
„Thế nào, cậu thấy người ở đây ra sao? Tôi muốn nói những người ngồi cùng bàn với bọn mình ấy?“
Hans Castorp làm một vẻ mặt dửng dưng dò xét.
„Chà,“ chàng nói, „đối với tôi họ có vẻ không mấy thú vị. Tôi nghĩ ở những bàn khác có lẽ có những người thú vị hơn, nhưng biết đâu chỉ là mình tưởng thế. Bà Stöhr nên đi gội đầu, tóc bà ta nhờn quá. Còn cô Mazurka kia, hay cô ấy tên gì đó, tôi thấy có phần ngớ ngẩn. Cứ cười rinh rích mãi đến phải nhét khăn tay vào miệng.“
Joachim cười phá lên vì cái trò làm sai tên ấy.
„‘Mazurka’ thì tuyệt lắm!“ cậu kêu lên. „Cô ấy tên là Marusja, nếu cậu cho phép, – nghĩa cũng như Marie. Ừ, quả cô ấy vui quá trớn thật,“ cậu nói. „Mà như thế thì cô ấy càng có đủ lý do để điềm đạm hơn mới phải, vì cô ấy bệnh chẳng nhẹ chút nào đâu.“
„Thật không ai nghĩ thế được,“ Hans Castorp nói. „Cô ấy trông khỏe quá mà. Riêng về bệnh ngực thì lại càng không ai tưởng cô ấy mắc.“ Và chàng định trao đổi với người anh em họ một cái nhìn láu lỉnh, nhưng nhận ra khuôn mặt sạm nắng của Joachim hiện lên một thứ sắc loang lổ mà những khuôn mặt rám nắng thường mang lấy khi máu rút khỏi đó, và miệng cậu bị kéo lệch theo một lối thảm hại hết sức kỳ lạ, – thành một vẻ khiến chàng Hans Castorp trẻ tuổi cảm thấy một nỗi kinh hãi mơ hồ, làm chàng lập tức đổi đề tài và hỏi sang những người khác, đồng thời cố quên thật nhanh Marusja cùng nét mặt của Joachim; mà điều đó chàng làm được hoàn toàn.
Người đàn bà Anh uống trà tầm xuân tên là Miß Robinson. Cô thợ may không phải là thợ may, mà là giáo viên một trường nữ trung học công lập ở Königsberg, và đó là lý do vì sao cô diễn đạt đúng đắn đến thế. Cô tên là Fräulein Engelhart. Còn về bà lão vui tính, thì ngay cả Joachim cũng không biết bà tên gì, mặc dù cậu đã ở trên này lâu đến vậy. Dù sao, bà là bà cô lớn của cô gái trẻ ăn sữa chua, người vẫn luôn sống cùng bà trong dưỡng đường. Nhưng người đau nặng nhất trong số những người ngồi bàn là bác sĩ Blumenkohl, Leo Blumenkohl đến từ Odessa, – người thanh niên để ria mép, với vẻ mặt khép kín đầy lo âu ấy. Anh ta đã ở trên này ngót nghét nhiều năm trời rồi ...
Giờ đây họ đang đi trên vỉa hè kiểu thành phố, – con phố chính của một nơi hẹn gặp quốc tế, điều ấy ai cũng thấy rõ. Những khách dưỡng bệnh dạo chơi đi ngang qua họ, phần nhiều là người trẻ tuổi, các quý ông trong đồ thể thao và không đội mũ, các quý bà, cũng không đội mũ và mặc váy trắng. Người ta nghe thấy tiếng Nga và tiếng Anh. Hai bên là những cửa hiệu với các tủ kính xinh xắn nối tiếp nhau, và Hans Castorp, người mà tính hiếu kỳ đang vật lộn dữ dội với cơn mệt rã rời như thiêu đốt, cố ép mắt mình phải nhìn, còn đứng rất lâu trước một cửa hàng đồ nam để nhận ra rằng cách bày biện ở đó hoàn toàn theo kịp thời thượng.
Rồi đến một nhà tròn với hành lang có mái, nơi một ban nhạc đang hòa tấu. Đây là Kurhaus. Trên vài sân quần vợt, các trận đấu đang diễn ra. Những chàng trai chân dài, cạo nhẵn mặt, mặc quần flannel là phẳng sắc như dao, đi giày đế cao su và để trần cẳng tay, thi đấu với những cô gái rám nắng, áo trắng, các cô chạy đà rồi vươn người dựng đứng lên trong nắng để đập quả bóng trắng như phấn đang ở tít cao trong không trung. Một lớp bụi như bột mì phủ nhẹ trên những sân thể thao được chăm nom kỹ lưỡng. Hai người anh em ngồi xuống một ghế trống để xem và phê bình cuộc chơi.
„Ở đây cậu chắc không chơi chứ?“ Hans Castorp hỏi.
„Tôi không được phép mà,“ Joachim đáp. „Bọn tôi phải nằm, cứ nằm mãi ... Settembrini lúc nào cũng bảo bọn tôi sống theo chiều ngang, – chúng tôi là những kẻ nằm ngang, ông ta bảo thế, đó là một trò bông đùa lười nhác của ông ta. – Những người đang chơi kia là người khỏe mạnh, hoặc họ chơi trái lệnh. Với lại họ cũng chẳng chơi nghiêm chỉnh gì lắm, – chủ yếu là vì bộ đồ thôi ... Còn chuyện bị cấm ấy, ở đây người ta còn chơi những thứ bị cấm khác nữa, như poker, cậu hiểu không, và ở khách sạn này khách sạn nọ còn có cả _petits chevaux_, – còn bên chỗ bọn tôi thì dính vào là bị đuổi, người ta bảo đó là thứ tai hại nhất đời. Nhưng vẫn có người sau khi điểm danh buổi tối xong còn chạy xuống dưới mà đặt cửa. Vị vương công nhờ đó Behrens có được tước vị, nghe nói, cũng vẫn thường làm thế.“
Hans Castorp hầu như chẳng nghe gì cả. Miệng chàng há ra, vì chàng không sao thở được dễ dàng bằng mũi, mặc dù chẳng hề bị sổ mũi. Tim chàng gõ búa lệch nhịp với tiếng nhạc, điều ấy chàng mơ hồ cảm thấy như một cực hình. Và trong cảm giác rối loạn cùng xung khắc ấy, chàng bắt đầu thiếp đi, đúng lúc Joachim giục về.
Họ trở về gần như trong im lặng. Hans Castorp thậm chí còn vấp mấy lần ngay trên con đường bằng phẳng, rồi lắc đầu, mỉm cười buồn bã về chuyện đó. Người tập tễnh chở họ bằng thang máy lên tầng của mình. Họ chia tay nhau trước số ba mươi tư bằng một câu „Hẹn gặp lại“ ngắn ngủi. Hans Castorp đi xuyên qua phòng mình ra ban-công, ở đó chàng cứ nguyên như thế mà đổ vật xuống ghế nằm, rồi không hề chỉnh lại tư thế đã chọn lấy một lần nào, chìm vào một cơn thiêm thiếp nặng nề, bị nhịp tim đập dồn dập làm cho nhức nhối khuấy động.
Dĩ nhiên, một đàn bà!
Việc ấy kéo dài bao lâu, chàng không biết. Khi thời điểm đến, chiếc cồng vang lên. Nhưng nó chưa gọi ngay vào bữa ăn, chỉ nhắc người ta sửa soạn thôi, như Hans Castorp biết, và thế là chàng cứ nằm thêm, cho tới khi tiếng ngân kim loại ấy lại dâng lên lần thứ hai rồi lùi xa. Khi Joachim đi qua phòng để gọi chàng, Hans Castorp muốn thay đồ, nhưng lần này Joachim không cho nữa. Cậu ghét và khinh sự không đúng giờ. Làm sao người ta có thể tiến triển và bình phục để còn đi phục vụ được, cậu nói, nếu đến cả việc theo kịp giờ ăn mà còn uể oải không làm nổi. Dĩ nhiên cậu nói có lý, và Hans Castorp chỉ còn biết chỉ ra rằng chàng đâu có ốm, chỉ là buồn ngủ đến mức ghê gớm mà thôi. Chàng chỉ rửa tay thật nhanh; rồi họ cùng đi xuống phòng ăn, lần thứ ba.
Khách tràn vào từ cả hai lối cửa. Cả từ những cánh cửa hiên đằng kia đang mở, họ cũng đi vào, và chẳng mấy chốc tất cả đã ngồi vào bảy chiếc bàn, như thể họ chưa hề đứng dậy khỏi đó. Ít ra thì đó là ấn tượng của Hans Castorp, – dĩ nhiên là một ấn tượng hoàn toàn mộng mị và trái lẽ thường, nhưng cái đầu còn mờ sương của chàng trong chốc lát không sao chống lại được, thậm chí chàng còn thấy nó có một sức quyến rũ nào đó; bởi trong suốt bữa ăn, chàng đã nhiều lần cố gọi nó trở lại trong trí, và thành công với một sự tự đánh lừa hoàn toàn. Bà lão vui tính lại dùng thứ ngôn ngữ nhòe mờ của mình mà thao thao với bác sĩ Blumenkohl ngồi chéo đối diện, người lắng nghe bà với vẻ mặt lo lắng. Người cháu gái gầy guộc của bà rốt cuộc cũng ăn một thứ khác ngoài sữa chua, ấy là món _Crème d’orge_ sền sệt mà các cô hầu bàn đã dọn ra trong đĩa; nhưng cô chỉ ăn vài thìa rồi bỏ đó. Cô Marusja xinh xắn nhét chiếc khăn tay nhỏ tỏa hương cam của mình vào miệng để chặn tiếng cười rúc rích. Miß Robinson đọc lại những bức thư nét chữ tròn trịa mà chính sáng nay cô đã đọc rồi. Rõ ràng cô không biết một lời tiếng Đức nào và cũng không muốn biết. Joachim, với phong thái hiệp sĩ, nói với cô bằng tiếng Anh mấy câu về thời tiết, cô vừa nhai vừa đáp lại bằng những tiếng cụt ngủn, rồi lại rơi vào im lặng. Còn bà Stöhr trong chiếc áo len Scotland của bà thì sáng nay đã được khám và nay đang kể lại chuyện đó, vừa đỏm dáng theo một lối kém giáo dưỡng vừa kéo môi trên lộ khỏi cặp răng thỏ. Bên phải phía trên, bà than, bà có tiếng động, ngoài ra dưới nách trái vẫn còn nghe cụt tiếng lắm, và năm tháng nữa, „ông già“ đã nói thế, bà còn phải ở lại. Trong sự thiếu học của mình, bà Stöhr gọi Hofrat Behrens là „ông già“. Vả lại, bà còn tỏ ra phẫn nộ vì hôm nay „ông già“ lại không ngồi ở bàn bà. Theo cái „tournee“ của bà (hẳn bà muốn nói „turnus“), thì trưa nay đến lượt bàn của bà, trong khi „ông già“ lại ngồi ở chiếc bàn bên trái – (quả thực Hofrat Behrens ngồi ở đó và chắp hai bàn tay khổng lồ trước chiếc đĩa của mình). Nhưng dĩ nhiên, ở đó lại có chỗ của bà Salomon béo tốt từ Bruxelles, người ngày nào trong tuần cũng mặc áo cổ khoét sâu đến ăn, và hiển nhiên „ông già“ thích điều đó, mặc dù bà Stöhr thì không sao hiểu nổi, vì mỗi lần khám bệnh ông ta chẳng phải đã thấy tha hồ ở bà Salomon rồi sao. Về sau, bà kể bằng giọng thì thầm kích động rằng tối qua ở nhà nằm nghỉ chung phía trên – tức cái nhà ở trên mái ấy – đèn đã bị tắt, mà là để phục vụ những mục đích bà Stöhr gọi là „minh bạch“. „Ông già“ đã nhận ra và nổi giông nổi gió đến nỗi cả viện đều nghe thấy. Nhưng tất nhiên ông ta vẫn không tìm ra thủ phạm, trong khi người ta đâu cần học đại học mới đoán được rằng dĩ nhiên chính cái ông đại úy Miklosich ở Bukarest ấy chứ ai, một kẻ mà khi ở cạnh phụ nữ thì có thế nào cũng vẫn chưa đủ tối đối với y, – một con người không có lấy chút giáo dưỡng nào, mặc dù y có mang corset, và về bản chất thì đơn giản chỉ là một loài thú săn mồi, – phải, một loài thú săn mồi, bà Stöhr nhắc lại bằng giọng nghẹn lại, mồ hôi vã ra trên trán và môi trên. Bà Generalkonsul Wurmbrand ở Wien có quan hệ gì với y, điều đó thì Dorf lẫn Platz đều biết, – hầu như không còn có thể nói đến những quan hệ _bí ẩn_ nữa. Bởi chẳng những đôi khi ngay từ buổi sáng viên đại úy ấy đã đến phòng bà tổng lãnh sự phu nhân khi bà còn nằm trên giường, rồi ở đó chứng kiến toàn bộ cuộc sửa soạn toilette của bà, mà còn nữa, vào thứ Ba tuần trước y chỉ _rời khỏi_ phòng bà Wurmbrand lúc bốn giờ sáng, – chính cô y tá của cậu Franz trẻ ở phòng mười chín, người mà vụ tràn khí màng phổi mới đây đã thất bại, đã bắt gặp y trong tình trạng ấy, và vì xấu hổ mà đi nhầm cửa mình tìm, thành ra bỗng thấy mình đứng trong phòng của công tố viên Paravant từ Dortmund ... Rốt cuộc bà Stöhr còn thao thao khá lâu về một „cơ sở vũ trụ“ nằm dưới thị trấn, nơi bà mua nước súc răng, – Joachim cúi nhìn chằm chằm xuống đĩa của mình ...
Bữa trưa vừa được chế biến hết sức tài tình, vừa phong phú đến mức cao nhất. Tính cả món súp bổ dưỡng, bữa ăn có không dưới sáu món. Sau cá là một món thịt thịnh soạn với đồ ăn kèm, rồi đến một đĩa rau riêng, tiếp nữa là gia cầm quay, một món ngọt bằng bột không kém phần ngon lành so với món tối hôm qua, và sau cùng là pho mát cùng hoa quả. Mỗi đĩa đều được mời hai lượt, mà không hề uổng công. Người ta xới đầy đĩa và ăn ở cả bảy bàn, một thứ khẩu vị sư tử ngự trị dưới mái vòm, một cơn đói cồn cào mà ngắm nhìn hẳn cũng là thú, nếu đồng thời nó không gây một ấn tượng nào đó vừa rờn rợn, thậm chí ghê tởm. Không chỉ những kẻ vui nhộn mới bộc lộ nó, những người vừa chuyện trò vừa ném viên bánh mì vào nhau, không, cả những kẻ lặng lẽ và u ám nữa, những người trong quãng ngắt lại chống đầu lên tay mà nhìn trân trân. Một cậu con trai còn nửa trẻ nửa lớn ở bàn bên trái, xét tuổi thì là một học sinh, tay áo quá cộc và cặp kính tròn dày cộp, cắt tất cả những gì cậu chất lên đĩa trước cho thành một thứ hồ nhão lẫn lộn; rồi cúi xuống đó mà nuốt, thỉnh thoảng lại luồn khăn ăn ra sau kính để lau mắt, khiến người ta không biết nơi ấy cần lau khô cái gì, mồ hôi hay nước mắt.
Trong bữa ăn lớn ấy xảy ra hai sự cố, và cả hai đều thu hút sự chú ý của Hans Castorp, chừng nào tình trạng của chàng còn cho phép. Trước hết là cánh cửa kính lại sập đánh uỳnh, lúc đang ăn cá. Hans Castorp giật mình vì bực tức, rồi hăng hái phẫn nộ tự nhủ rằng kỳ này chàng nhất định phải xác định cho ra thủ phạm. Chàng không chỉ nghĩ thế, mà còn mấp máy môi nói ra nữa, nghiêm trọng đến vậy đấy. Ta phải biết cho bằng được! chàng thì thầm với một vẻ quá đỗi nồng nhiệt, đến nỗi cả Miß Robinson lẫn cô giáo đều ngạc nhiên nhìn chàng. Đồng thời chàng vặn hẳn nửa người trên sang trái và trợn to đôi mắt đỏ ngầu.
Người đi ngang qua phòng ăn là một bà, một phụ nữ, hay đúng hơn có lẽ là một thiếu nữ, vóc chỉ tầm trung, mặc áo len trắng và váy màu, tóc vàng hoe ánh đỏ được vấn đơn sơ thành bím quanh đầu. Hans Castorp chỉ nhìn thấy rất ít nghiêng mặt nàng, hầu như chẳng thấy gì. Nàng đi không một tiếng động, điều ấy đối chọi kỳ lạ với tiếng ồn của màn xuất hiện ban nãy, đi một cách lén lút rất riêng và hơi chúi đầu về phía trước đến chiếc bàn tận cùng bên trái, chiếc bàn đặt vuông góc với cửa hiên, tức là chiếc “bàn người Nga tốt”, một tay giữ trong túi áo khoác len bó sát, tay kia đưa ra sau gáy, vừa đỡ vừa sửa tóc. Hans Castorp nhìn bàn tay ấy, chàng rất có cảm quan và một sự chăm chú phê phán đối với đôi tay, và khi làm quen người mới vẫn quen trước hết dồn ánh mắt vào bộ phận đó. Đó không hẳn là một bàn tay đài các, cái bàn tay đang đỡ tóc kia, không được săn sóc và tinh luyện như những bàn tay đàn bà trong giới giao tế của chàng Hans Castorp trẻ tuổi thường vẫn thế. Khá bè và ngón ngắn, nó có cái gì nguyên sơ và trẻ con, cái gì như bàn tay một nữ sinh; rõ ràng móng tay nó không biết đến chuyện làm móng, chúng chỉ được cắt ngắn giản đơn, cũng hệt như ở một nữ sinh, còn hai bên thì da dường như hơi sần, gần như thể ở đây vẫn nuôi một cái tật nho nhỏ là cắn móng. Dẫu sao Hans Castorp nhận ra điều ấy cũng bằng linh cảm nhiều hơn là bằng mắt thấy thật sự, khoảng cách vẫn còn quá xa. Người đến muộn gật đầu chào bạn đồng bàn, rồi khi ngồi xuống, vào mặt trong của bàn, lưng quay về phía phòng ăn, cạnh bác sĩ Krokowski, người ngồi chủ tọa ở đó, nàng vẫn để tay trên tóc, ngoảnh đầu nhìn qua vai mà đưa mắt bao quát cử tọa, và Hans Castorp thoáng nhận thấy nàng có gò má rộng và đôi mắt hẹp... Một ký ức mơ hồ về một điều gì đó và một người nào đó khẽ, rất khẽ và rất thoáng, chạm qua chàng khi chàng thấy thế...
Dĩ nhiên, một ả đàn bà! Hans Castorp nghĩ bụng, rồi lại còn lẩm bẩm hẳn ra trước mặt, đến nỗi cô giáo, Fräulein Engelhart, hiểu được chàng nói gì. Cô gái già còm cõi mỉm cười cảm động.
“Đó là Madame Chauchat,” cô nói. “Bà ấy thật lơi lả. Một người đàn bà mê hồn.” Và trong khi nói, sắc hồng mịn như tơ trên gò má Fräulein Engelhart lại đậm thêm một độ, điều vốn luôn luôn xảy ra hễ cô vừa mở miệng.
“Người Pháp à?” Hans Castorp hỏi, giọng nghiêm khắc.
“Không, bà ấy là người Nga,” cô Engelhart đáp. “Có lẽ ông chồng là người Pháp hoặc gốc Pháp, điều ấy tôi không biết chắc.”
Hans Castorp vẫn còn bực bội hỏi xem có phải _ông ta_ là người ngồi kia không, đồng thời chỉ sang một quý ông vai sụ bên chiếc bàn người Nga tốt.
Ồ không, cô giáo đáp, ông ta không có ở đây. Nói cho đúng, ông ta chưa từng đến đây, hoàn toàn xa lạ ở chỗ này.
“Bà ta phải đóng cửa cho đàng hoàng chứ!” Hans Castorp nói. “Lúc nào bà ta cũng để nó sập cái rầm. Thật là một thói vô duyên.”
Và vì cô giáo nhận lời quở ấy với một nụ cười khiêm nhũn, như thể chính mình là kẻ có lỗi, nên người ta không nói thêm gì nữa về Madame Chauchat. –
Sự việc thứ hai là bác sĩ Blumenkohl tạm thời rời khỏi phòng ăn, ngoài ra cũng chẳng có gì hơn. Bỗng nhiên vẻ hơi ghê tởm kín đáo trên mặt ông tăng đậm lên, ông nhìn vào một điểm nào đó với vẻ lo âu hơn thường lệ, rồi cử động khiêm nhã đẩy ghế lùi ra sau và đi ra ngoài. Nhưng chính ở đây sự thất học lớn lao của Frau Stöhr mới phơi bày trọn vẹn dưới ánh sáng, bởi có lẽ vì một sự hả hê thô tục rằng mình ít bệnh hơn Blumenkohl, bà ta đã tiễn bước ông bằng những lời bình phẩm nửa thương hại nửa khinh bỉ. “Tội nghiệp ông ấy!” bà nói. “Ông ấy sắp thổi hơi cuối cùng qua cái lỗ chót rồi. Lại phải đi bàn bạc với Heinrich xanh nữa đấy.” Không một chút gượng nào, với vẻ mặt ngang ngạnh vô tri, bà đã thốt ra cái tên gọi quái dị “Heinrich xanh”, và Hans Castorp khi nghe thế bỗng cảm thấy pha lẫn kinh hãi với buồn cười. Dẫu sao, chỉ vài phút sau, bác sĩ Blumenkohl trở lại với đúng cái dáng khiêm nhã như khi ông đi ra, ngồi vào chỗ cũ và tiếp tục ăn. Ông cũng ăn rất nhiều, mỗi món hai lượt, lặng thinh và với vẻ mặt khép kín lo âu.
Rồi bữa trưa kết thúc: nhờ sự phục vụ lanh lẹ, mà nhất là cô lùn kia thật là một sinh vật chân đi nhanh kỳ lạ, nên bữa ăn chỉ kéo dài vừa tròn hơn một giờ. Hans Castorp, thở nặng nhọc và không thật biết mình đã lên đến đây bằng cách nào, lại nằm trên chiếc ghế tuyệt hảo trong lô-gia ban công của mình, bởi sau bữa ăn là liệu pháp nằm nghỉ cho đến giờ trà, hơn nữa còn là buổi quan trọng nhất trong ngày và phải giữ hết sức nghiêm ngặt. Giữa những vách kính đục ngăn chàng một bên với Joachim, một bên với đôi vợ chồng người Nga, chàng nằm đó mà mơ màng, tim đập thình thịch, há miệng hớp không khí. Khi dùng khăn tay, chàng thấy nó ửng đỏ vì máu, nhưng chàng không còn sức đâu mà nghĩ ngợi về chuyện ấy, mặc dù vốn dĩ chàng cũng hơi lo lắng cho mình và bẩm sinh có phần dễ nghiêng về những ám tưởng bệnh hoạn. Chàng lại châm một điếu Maria Mancini, và lần này hút cho hết, mặc nó có ra sao thì ra. Choáng váng, nghẹn ngực và mơ màng, chàng nghĩ ngợi về cái mức độ kỳ quặc của những gì đang xảy đến cho mình trên này. Hai ba lần lồng ngực chàng rung lên vì cười thầm trước cái tên gọi rùng rợn mà Frau Stöhr, trong sự thất học của bà ta, đã dùng đến.
Herr Albin
Dưới vườn, tấm cờ hiệu huyễn tưởng mang cây trượng rắn đôi khi lại nhô lên trong làn gió nhẹ. Trời một lần nữa đã phủ kín đều khắp. Mặt trời biến mất, và tức thì cái lạnh gần như chẳng còn hiếu khách nữa. Gian nằm nghỉ chung dường như chật kín người; dưới đó rộn lên tiếng chuyện trò và khúc khích cười.
“Herr Albin, tôi van ông, cất con dao đi, bỏ nó vào túi đi, thế nào cũng xảy ra tai nạn mất!” một giọng đàn bà cao và run run kêu lên. Và:
“Herr Albin quý hóa, nhân danh Chúa, xin ông thương lấy thần kinh của chúng tôi mà đem cái đồ giết người khủng khiếp ấy khuất khỏi mắt chúng tôi đi!” một giọng thứ hai chen vào, rồi một chàng trai đầu vàng, miệng ngậm điếu thuốc lá, ngồi nghiêng trên chiếc ghế nằm hàng đầu, đáp lại bằng giọng xấc xược:
“Tôi chẳng đời nào làm thế! Các bà hẳn cũng phải cho phép tôi đùa một chút với con dao của tôi chứ! À vâng, dĩ nhiên, đây là một con dao đặc biệt sắc. Tôi mua nó ở Calcutta của một nhà ảo thuật mù... Ông ta nuốt được nó, và ngay sau đó thằng boy của ông ta đào nó lên khỏi mặt đất cách ông ta năm mươi bước... Các bà có muốn xem không? Nó còn sắc hơn dao cạo nhiều. Chỉ cần chạm vào lưỡi thôi, nó đi vào da thịt như đi qua bơ. Chờ đấy, tôi cho các bà xem gần hơn...” Và Herr Albin đứng dậy. Một tràng thét rít nổi lên. “Không, bây giờ tôi đi lấy súng lục của tôi!” Herr Albin nói. “Thứ ấy sẽ làm các bà thích thú hơn. Một món quỷ quái nho nhỏ. Sức xuyên phá thì...” Tôi đi lấy trong phòng ra.”
“Herr Albin, Herr Albin, xin đừng làm thế!” nhiều giọng cùng ré lên. Nhưng Herr Albin đã bước ra khỏi gian nằm nghỉ để về phòng mình rồi, rất trẻ người non dạ và lêu nghêu, với khuôn mặt trẻ con hồng hào và hai vệt tóc mai nhỏ bên tai.
“Herr Albin,” một bà gọi với theo sau lưng, “ông thà đi lấy áo choàng mặc vào còn hơn, xin ông làm vì tôi! Sáu tuần liền ông nằm với chứng viêm phổi, thế mà bây giờ lại ngồi đây không áo khoác ngoài, đến cả chăn cũng không đắp, còn hút thuốc lá nữa! Ấy là thử thách Chúa đấy, Herr Albin, tôi xin thề danh dự!”
Nhưng ông ta chỉ cười nhạo báng lúc bỏ đi, và chỉ mấy phút sau đã trở lại với khẩu súng lục. Thế là họ lại thét rú còn ngớ ngẩn hơn trước, và người ta nghe thấy mấy người toan nhảy khỏi ghế, vướng vào chăn rồi ngã nhào.
“Các bà xem nó nhỏ và bóng đến thế nào,” Herr Albin nói, “nhưng nếu tôi bóp ở đây thì nó cắn đấy...” Lại một tràng rú thét mới. “Dĩ nhiên nó nạp đạn đầy đủ,” Herr Albin nói tiếp. “Trong cái ổ quay này có sáu viên đạn, mỗi phát bắn thì nó quay tiến thêm một lỗ...” “Vả lại tôi đâu có giữ món này để chơi,” ông ta nói, thấy hiệu quả bắt đầu nhạt đi, bèn trượt khẩu súng lục vào túi ngực rồi lại ngồi xuống ghế, bắt chéo chân, châm một điếu thuốc mới. “Hoàn toàn không phải để chơi,” ông lặp lại và mím môi.
“Thế để làm gì? Để làm gì cơ?” những giọng run rẩy vì linh cảm hỏi. “Khủng khiếp quá!” bỗng một giọng riêng lẻ kêu lên, và Herr Albin gật đầu.
“Tôi thấy các bà bắt đầu hiểu rồi đấy,” ông nói. “Quả thật, tôi giữ nó là để làm việc ấy,” ông nói tiếp một cách thản nhiên, sau khi, bất chấp cơn viêm phổi vừa qua, đã rít vào một hơi khói lớn rồi lại phả ra. “Tôi để nó sẵn cho cái ngày mà mớ nhì nhằng này ở đây làm tôi chán quá mức và khi tôi sẽ có vinh hạnh được kính cẩn cáo từ. Việc ấy khá đơn giản thôi... Tôi đã dành một ít công nghiên cứu cho nó và đã hoàn toàn rõ ràng với chính mình xem nên xoay xở thế nào là tốt nhất.” (Đến chữ “xoay xở” thì một tiếng thét bật lên.) “Vùng tim thì loại đi... chỗ chĩa vào ở đó đối với tôi không được tiện lắm... Vả lại, tôi thích dập tắt ý thức ngay tại chỗ hơn, tức là bằng cách đưa một vật thể lạ be bé xinh xinh như thế này vào cái cơ quan thú vị kia...” Và Herr Albin lấy ngón trỏ chỉ vào cái đầu vàng cắt sát của mình. “Phải bắt đầu ở đây...” Herr Albin lại rút khẩu súng lục mạ niken ra khỏi túi và gõ nòng súng vào thái dương, “ở đây, phía trên động mạch... Ngay cả không cần gương thì cũng vẫn trơn tru như thường...”
Một loạt phản đối van lơn từ nhiều giọng cùng nổi lên, trong đó thậm chí còn xen cả tiếng nức nở dữ dội.
“Herr Albin, Herr Albin, cất súng lục đi, đưa khẩu súng lục khỏi thái dương ông đi, trông không chịu nổi! Herr Albin, ông còn trẻ, ông sẽ khỏi bệnh, ông sẽ trở lại với cuộc đời và được mọi người yêu mến, tôi xin thề danh dự! Ông chỉ cần mặc áo khoác vào, nằm xuống, đắp chăn lên, dưỡng trị đi! Đừng lại đuổi người hộ lý đi nữa khi ông ta đến để xoa cồn cho ông! Bỏ hút thuốc lá đi, Herr Albin, ông có nghe không, chúng tôi van ông vì sinh mạng của ông, sinh mạng trẻ trung, quý giá của ông!”
Nhưng Herr Albin thì không hề lay chuyển.
“Không, không,” ông nói, “xin cứ mặc tôi, thế là tốt, tôi cảm ơn các bà. Tôi chưa bao giờ từ chối một quý bà điều gì, nhưng các bà sẽ thấy rằng chống gậy vào bánh xe số mệnh là vô ích. Tôi đã ở đây sang năm thứ ba... tôi chán ngấy rồi và không chơi nữa, các bà có trách tôi được không? Không thể chữa khỏi, thưa các bà, cứ nhìn tôi ngồi đây mà xem, tôi là hạng không thể chữa khỏi, đến chính Hofrat đây cũng hầu như không còn vì danh dự và xấu hổ mà giấu giếm điều ấy nữa. Hãy dành cho tôi chút ít sự không ràng buộc nảy sinh từ sự thật đó! Chẳng khác nào hồi còn học Gymnasium, khi người ta đã quyết định rằng mình phải lưu ban, thế là không còn bị gọi trả bài nữa và cũng chẳng còn gì phải làm. Nay thì tôi đã dứt khoát lại đạt tới cái trạng thái hạnh phúc ấy. Tôi chẳng còn phải làm gì nữa, người ta không còn tính đến tôi nữa, tôi cười vào toàn bộ trò ấy. Muốn ăn sô-cô-la không? Xin cứ tự nhiên! Không, các bà đâu có cướp của tôi, trong phòng tôi có vô khối sô-cô-la. Tám hộp kẹo, năm thanh Gala-Peter và bốn pao sô-cô-la Lind tôi để trên kia, tất cả số ấy là do các quý bà trong dưỡng đường gửi đến cho tôi trong thời gian tôi bị viêm phổi...”
Từ đâu đó một giọng nam trầm ra lệnh im lặng. Herr Albin cười bật ngắn một tiếng, một tiếng cười đứt đoạn phập phồng. Rồi gian nằm nghỉ bỗng yên hẳn đi, yên đến mức như thể một giấc mộng hay một bóng ma vừa tan biến; và những lời vừa nói nghe vang lại trong tĩnh lặng một cách kỳ lạ. Hans Castorp lắng nghe chúng cho đến khi chúng tắt hẳn, và tuy chàng mơ hồ thấy Herr Albin là một gã hợm, chàng vẫn không sao ngăn được một nỗi ghen tị nào đó đối với ông ta. Đặc biệt là cái so sánh rút từ đời học sinh kia đã gây ấn tượng nơi chàng, bởi chính chàng cũng từng bị lưu ban ở lớp Untersekunda, và chàng vẫn còn nhớ rất rõ cái trạng thái có phần nhục nhã nhưng cũng khôi hài, dễ chịu trong sự buông thả, mà chàng từng hưởng khi đến quý thứ tư đã bỏ cuộc đua và có thể cười “vào toàn bộ sự thể”. Vì những suy tưởng của chàng tù mù và rối rắm, nên khó mà xác định cho rõ được. Chủ yếu có lẽ chàng thấy rằng danh dự có những lợi thế đáng kể, nhưng ô nhục cũng chẳng kém, thậm chí những lợi thế của cái sau còn gần như vô hạn. Và khi thử đặt mình vào hoàn cảnh của Herr Albin, hình dung xem sẽ ra sao nếu rốt cuộc người ta được trút bỏ hẳn áp lực của danh dự mà vĩnh viễn hưởng những lợi thế không đáy của ô nhục, thì chàng trai trẻ bỗng kinh hãi vì một cảm giác ngọt ngào man dại làm trái tim chàng nhất thời đập còn gấp hơn nữa.
Satana đưa ra những lời đề nghị tổn hại danh dự
Về sau chàng mất ý thức. Theo chiếc đồng hồ quả quýt của mình thì khi cuộc trò chuyện phía sau bức vách kính bên trái đánh thức chàng, đã là ba giờ rưỡi: Dr. Krokowski, vào giờ ấy đi một vòng mà không có vị Hofrat, đang nói tiếng Nga ở đó với cặp vợ chồng thô lỗ kia, hình như hỏi thăm tình trạng người chồng và bảo đưa bảng nhiệt độ cho ông xem. Nhưng rồi ông không đi tiếp qua các lô-gia ban-công, mà vòng tránh khoang của Hans Castorp, trở ra hành lang và vào chỗ Joachim bằng cửa phòng. Việc người ta làm như thế, tức là vẽ hẳn một vòng cung quanh chàng và bỏ chàng nằm đấy, rốt cuộc vẫn khiến Hans Castorp cảm thấy bị tổn thương đôi chút, mặc dầu chàng tuyệt nhiên chẳng hề khao khát một cuộc gặp riêng bốn mắt với Dr. Krokowski. Dĩ nhiên, chàng vẫn là người khỏe mạnh và không được kể đến, vì ở những người trên này, chàng nghĩ, mọi sự là như thế: ai có cái vinh hạnh được khỏe mạnh thì không được tính đến và cũng chẳng ai hỏi han, mà điều ấy làm chàng Castorp trẻ tuổi bực bội.
Sau khi nán lại chỗ Joachim chừng hai ba phút, Dr. Krokowski đi dọc ban-công tiếp, và Hans Castorp nghe người anh em họ nói rằng bây giờ có thể dậy, sửa soạn cho bữa xế. "Được," chàng nói và đứng lên. Nhưng vì nằm quá lâu nên chàng thấy choáng váng ghê gớm, còn giấc ngủ lơ mơ chẳng đem lại chút sảng khoái nào lại khiến mặt chàng một lần nữa nóng bừng lên đau đớn, trong khi ngoài ra chàng còn có khuynh hướng ớn lạnh, có lẽ vì chàng đã không đắp cho đủ ấm.
Chàng rửa mắt và tay, sửa lại tóc tai và quần áo, rồi gặp Joachim ngoài hành lang.
"Cậu có nghe cái ông Albin ấy không?" chàng hỏi, khi hai người đi xuống cầu thang...
"Dĩ nhiên," Joachim nói. "Hạng người ấy phải bị kỷ luật mới được. Hắn làm náo loạn cả giờ nghỉ trưa bằng những chuyện ba hoa của mình, kích động các bà các cô đến nỗi làm họ thụt lùi mất hàng tuần. Một sự bất phục tùng trắng trợn. Nhưng ai lại muốn đi làm kẻ mách lẻo chứ. Vả lại, phần đông vẫn thích những lời lẽ như thế để mua vui."
"Cậu có cho là có thể không," Hans Castorp hỏi, "rằng hắn nói thật về cái 'vụ gọn ghẽ' ấy, như chính hắn gọi, và sẽ tự đưa một dị vật vào người?"
"À, cũng có thể đấy," Joachim đáp, "không phải là hoàn toàn không thể. Những chuyện như thế vẫn xảy ra trên này. Hai tháng trước khi tớ tới, có một sinh viên đã ở đây từ lâu, sau một cuộc khám tổng quát, sang tận khu rừng bên kia mà treo cổ. Hồi những ngày đầu của tớ, người ta còn nhắc đến chuyện ấy nhiều lắm."
Hans Castorp ngáp một cái đầy bứt rứt.
"Phải nói là tớ không thấy dễ chịu ở chỗ các cậu chút nào," chàng tuyên bố, "điều ấy tớ không thể nói khác được. Tớ cho là hoàn toàn có thể là tớ không ở lại nổi đâu, cậu ạ, là tớ sẽ phải đi, cậu có còn giận tớ vì chuyện ấy không?"
"Đi ư? Cậu nghĩ gì thế!" Joachim kêu lên. "Nhảm nhí. Trong khi cậu mới đến có một ngày. Mới ngày đầu mà cậu đã muốn phán đoán thế nào được!"
"Trời đất, vẫn còn là ngày đầu tiên kia à? Tớ thấy cứ như mình đã ở với các cậu trên này từ lâu rồi - lâu lắm rồi."
"Thôi, đừng lại bắt đầu triết lý vẩn vơ về thời gian nữa!" Joachim nói. "Sáng nay cậu đã làm tớ rối tinh cả lên."
"Không, cứ yên tâm, tớ quên hết rồi," Hans Castorp đáp. "Toàn bộ cái mớ ấy. Bây giờ đầu óc tớ cũng chẳng còn sắc sảo gì nữa, chuyện đó qua rồi... Thế là bây giờ có trà."
"Ừ, rồi sau đó chúng ta lại đi ra chỗ cái ghế băng hồi sáng."
"Nhân danh Chúa, cứ thế vậy. Nhưng mong là chúng ta sẽ không lại gặp Settembrini. Hôm nay tớ không còn sức dự vào một cuộc đàm đạo bác học nào nữa đâu, tớ nói trước cho cậu biết."
Trong phòng ăn, người ta rót đủ mọi thứ đồ uống có thể nghĩ tới vào giờ ấy. Miß Robinson lại uống thứ trà tầm xuân đỏ như máu của cô, trong khi cô chắt ngồi xúc sữa chua. Ngoài ra còn có sữa, trà, cà phê, sô-cô-la, thậm chí cả nước dùng thịt, và khắp nơi các vị khách, sau bữa trưa thịnh soạn đã nằm nghỉ suốt hai giờ, đều đang hăng hái phết bơ lên những lát bánh nho khô thật dày.
Hans Castorp gọi trà và nhúng bánh quy khô vào đó. Chàng cũng nếm thử ít mứt. Chiếc bánh nho khô chàng ngắm nghía rất kỹ, nhưng chỉ nghĩ đến việc ăn nó thôi là chàng đã rùng mình theo đúng nghĩa đen. Chàng lại ngồi vào chỗ của mình trong căn phòng với mái vòm sặc sỡ ngây ngô ấy, với bảy chiếc bàn, lần thứ tư. Và ít lâu sau, vào lúc bảy giờ, chàng lại ngồi đó lần thứ năm, vì đó là bữa tối. Khoảng thời gian chen giữa hai lần ấy, ngắn ngủi và vô nghĩa, được lấp đầy bằng một cuộc dạo tới cái ghế băng kia sát sườn núi, bên dòng nước nhỏ - con đường lúc này đông đặc bệnh nhân, thành thử hai anh em họ phải luôn miệng chào hỏi - và một lần liệu pháp nằm nghỉ nữa ngoài ban-công, kéo dài một tiếng rưỡi thoảng qua và rỗng không. Trong suốt thời gian ấy Hans Castorp rét run dữ dội.
Đến bữa tối, chàng cẩn thận thay quần áo, rồi ngồi giữa Miß Robinson và cô giáo ăn súp Julienne, thịt nướng lò và thịt quay cùng đồ ăn kèm, hai miếng bánh gatô trong đó có đủ mọi thứ: bột hạnh nhân, kem bơ, sô-cô-la, mứt quả và marzipan, rồi cả pho mát rất ngon ăn với bánh Pumpernickel. Chàng lại gọi thêm một chai Kulmbacher. Nhưng khi mới uống cạn một nửa chiếc ly cao của mình, chàng đã nhận ra rõ ràng và dứt khoát rằng chàng phải lên giường. Trong đầu chàng rền rĩ, hai mí mắt nặng như chì, tim đập như một chiếc trống nhỏ, và để tăng thêm nỗi khổ sở, chàng tưởng như cô Marusja xinh đẹp kia, đang cúi người về phía trước, giấu mặt trong bàn tay đeo chiếc hồng ngọc nhỏ, đang cười nhạo _chàng_, mặc dầu chàng đã cố sức hết mực để không hề cho ai một cớ nào làm vậy. Từ một nơi xa xăm nào đó, chàng nghe Frau Stöhr kể lể hay quả quyết điều gì, mà đối với chàng nghe ra là chuyện điên rồ đến nỗi chàng đâm ra hoang mang không biết tai mình còn nghe đúng nữa không, hay là những lời của Frau Stöhr đã hóa thành nhảm nhí ngay trong đầu chàng. Bà tuyên bố rằng bà biết làm hai mươi tám thứ xốt cá khác nhau, bà dám đứng ra cam đoan như thế, mặc dầu chính chồng bà đã từng ngăn bà đừng nói ra. "Đừng nói đến chuyện ấy!" ông ta đã bảo. "Chẳng ai tin cô đâu, mà nếu có tin thì người ta cũng sẽ cho là nực cười!" Thế mà hôm nay bà vẫn muốn nói ra một lần, công khai thú nhận rằng có đúng hai mươi tám thứ xốt cá bà có thể làm. Điều đó đối với Hans Castorp tội nghiệp nghe thật khủng khiếp; chàng giật mình, đưa tay lên trán, và hoàn toàn quên bẵng việc nhai nốt rồi nuốt xuống miếng Pumpernickel phết Chester mà chàng đang ngậm trong miệng. Mãi đến lúc người ta rời bàn, miếng ấy vẫn còn ở trong miệng chàng.
Người ta đi ra bằng cánh cửa kính bên trái, cánh cửa tai hại lúc nào cũng sập lại ấy, dẫn thẳng vào đại sảnh phía trước. Hầu như mọi thực khách đều đi lối đó, vì hóa ra vào giờ sau bữa tối, trong đại sảnh và những phòng khách liền kề vẫn diễn ra một dạng giao du nào đó. Phần đông bệnh nhân đứng thành từng nhóm nhỏ chuyện trò. Trên hai chiếc bàn gấp phủ nỉ xanh, người ta đang mải miết chơi; một bàn Domino, bàn kia Bridge, và ở đó chỉ toàn người trẻ tuổi, trong số ấy có Herr Albin và Hermine Kleefeld. Ngoài ra trong phòng khách thứ nhất còn có mấy món đồ tiêu khiển thị giác khá vui: một hộp kính lập thể, qua hai tròng kính của nó người ta nhìn thấy những bức ảnh bày bên trong, chẳng hạn một anh chèo thuyền gondola ở Venezia, hiện ra với một thể chất cứng đờ và không máu; thứ hai là một chiếc kính vạn hoa hình ống viễn vọng, người ta áp một mắt vào thấu kính để chỉ cần xoay rất nhẹ một bánh xe là đã thấy hiện lên những ngôi sao và hoa văn nhiều màu biến ảo như phép thuật; và cuối cùng là một trống quay, trong đó người ta đặt những dải phim điện ảnh, rồi nhìn nghiêng qua các khe hở mà xem được một bác phó xay đang đánh nhau với một anh quét ống khói, một ông giáo đang trị phạt một cậu bé, một người làm xiếc dây đang nhảy bật lên, và một đôi trai gái nhà quê múa điệu Ländler. Hans Castorp, hai bàn tay lạnh đặt trên đầu gối, nhìn thật lâu vào từng chiếc máy một. Chàng cũng dừng lại một lát bên bàn Bridge, nơi Herr Albin bất trị, với hai khóe miệng xệ xuống và những cử chỉ phớt đời rất thạo đời, đang chia bài. Trong một góc, Dr. Krokowski ngồi đó, đắm trong một cuộc chuyện trò tươi tỉnh và thân mật với một nửa vòng cung các bà, các cô, trong đó có Frau Stöhr, Frau Iltis và Fräulein Levi. Những người ngồi ở Bàn Người Nga Tốt Bụng đã rút vào phòng khách nhỏ kế bên, chỉ ngăn với phòng chơi bằng những tấm rèm cửa, và lập thành ở đó một nhóm thân mật. Ngoài Madame Chauchat ra còn có: một ông râu vàng, mềm nhũn, lồng ngực hõm xuống và hai nhãn cầu lồi ra; một cô gái tóc nâu sẫm, thuộc kiểu người độc đáo và có duyên khôi hài, đeo khuyên tai vàng và mái tóc len xù rối; lại thêm Dr. Blumenkohl nhập bọn với họ, và còn hai chàng trai vai xuôi nữa. Madame Chauchat mặc một chiếc váy xanh với cổ ren trắng. Nàng ngồi trên chiếc ghế dài phía sau bàn tròn, ở tận nền sâu căn phòng nhỏ, quay mặt về phía phòng chơi, như trung tâm của cả nhóm. Hans Castorp, người không thể nhìn người đàn bà vô ý tứ ấy mà không có phần bất bình, nghĩ bụng: cô ta gợi cho mình nhớ đến một cái gì đó, nhưng là cái gì thì mình không sao nói được... Một người cao lêu nghêu chừng ba mươi tuổi, tóc đã thưa, ngồi ở cây dương cầm nâu nhỏ chơi liền ba lần khúc hành khúc đám cưới trong _Giấc mộng đêm hè_; rồi khi mấy bà mấy cô xin ông ta chơi nữa, ông lại bắt đầu bản nhạc du dương ấy lần thứ tư, sau khi lần lượt nhìn sâu và lặng lẽ vào mắt từng người một.
"Xin phép được hỏi thăm ngài thấy trong người thế nào, kỹ sư?" Settembrini hỏi; hai tay đút túi quần, ông đi dạo giữa đám khách và giờ đây bước tới trước mặt Hans Castorp... Ông vẫn mặc chiếc áo khoác xám phơn phớt lông và chiếc quần sáng màu kẻ ô. Ông mỉm cười khi lên tiếng, và một lần nữa, trước khóe môi cong lên tinh vi và mỉa mai dưới vành ria mép đen kia, Hans Castorp lại cảm thấy một cái gì như sự tỉnh rượu. Còn ngoài ra, chàng nhìn người Ý bằng ánh mắt khá đần độn, miệng nhão ra và đôi mắt vằn đỏ.
"À, là ông đấy," chàng nói. "Ngài từ cuộc dạo buổi sáng, người mà chúng tôi đã gặp ở trên cái ghế băng kia... bên dòng nước ấy... Dĩ nhiên, tôi nhận ra ngài ngay lập tức. Ngài có tin được không," chàng nói tiếp, mặc dầu hẳn chàng cũng nhận thấy là mình không nên nói ra, "rằng trong khoảnh khắc đầu tiên tôi đã tưởng ngài là một người kéo đàn quay không?... Dĩ nhiên đó hoàn toàn là chuyện nhảm nhí," chàng nói thêm, khi thấy ánh mắt của Settembrini mang một vẻ dò xét lạnh lùng, "tóm lại là một sự ngu xuẩn khủng khiếp! Thậm chí tôi _cũng_ hoàn toàn không sao hiểu nổi làm thế nào trên đời tôi lại..."
"Đừng bận tâm, không có gì đáng kể cả," Settembrini đáp, sau khi im lặng nhìn chàng trai thêm một lát nữa. "Vậy thì ngài đã trải ngày của mình ra sao, ngày đầu tiên của kỳ lưu lại nơi chốn vui thú này?"
"Xin đa tạ. Hoàn toàn đúng phép tắc," Hans Castorp trả lời. "Chủ yếu là theo 'lối nằm ngang', như hình như ngài vẫn thích gọi thế."
Settembrini mỉm cười.
"Có thể thỉnh thoảng tôi đã diễn đạt như thế," ông nói. "Thế nào, và ngài thấy lối sống ấy thú vị chứ?"
"Thú vị mà cũng buồn chán, tùy ngài muốn gọi thế nào," Hans Castorp đáp. "Đôi khi khó phân biệt lắm, ngài biết đấy. Tôi hoàn toàn không chán, vì trên này ở chỗ các ngài sự thể vẫn diễn ra quá đỗi rộn ràng. Người ta được nghe thấy và trông thấy biết bao điều mới lạ và kỳ quặc... Thế nhưng mặt khác tôi lại có cảm giác như không chỉ mới một ngày, mà đã ở đây một thời gian khá lâu rồi, - thậm chí như thể chính trên này tôi đã già dặn hơn và khôn ngoan hơn, tôi thấy như vậy đấy."
"Khôn ngoan hơn nữa ư?" Settembrini nói, nhướng mày lên. "Xin ngài cho phép tôi hỏi: thực ra ngài bao nhiêu tuổi?"
Nhưng này, Hans Castorp không biết! Trong khoảnh khắc ấy chàng không biết mình bao nhiêu tuổi, mặc dầu đã cố sức dữ dội, thậm chí tuyệt vọng, để nhớ ra. Để câu giờ, chàng xin ông lặp lại câu hỏi, rồi nói:
"... Tôi... bao nhiêu tuổi ư? Dĩ nhiên tôi đang ở tuổi hai mươi tư. Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ hai mươi tư tuổi. Xin thứ lỗi, tôi mệt quá!" chàng nói. "Mà mệt vẫn chưa diễn đúng tình trạng của tôi. Ngài có biết cái lúc người ta nằm mơ, biết là mình đang mơ, cố thức dậy mà không sao tỉnh nổi không? Tôi thấy đúng hệt như thế. Nhất định tôi phải sốt, chứ tôi không thể giải thích bằng cách nào khác được. Ngài có tin nổi là chân tôi lạnh tới tận đầu gối không? Nếu người ta có thể nói thế, vì đầu gối thì dĩ nhiên đâu còn là bàn chân nữa, - xin lỗi, tôi rối trí đến cực điểm, mà rốt cuộc điều đó cũng chẳng có gì lạ, khi mới sáng sớm người ta đã bị cái... bị cái chứng tràn khí màng phổi ấy quở cho một trận, rồi sau đó lại còn phải nghe những lời lẽ của ông Albin nọ, đã thế lại còn trong tư thế nằm ngang. Thật tình, tôi cứ có cảm giác như không còn dám tin hẳn vào năm giác quan của mình nữa, và tôi phải nói rằng điều ấy còn làm tôi ngượng hơn cả mặt nóng và chân lạnh. Xin ngài nói thẳng cho tôi biết: ngài có cho là có thể Frau Stöhr biết làm hai mươi tám thứ xốt cá không? Tôi không hỏi liệu bà ấy có thực sự làm được hay không - điều đó tôi cho là không thể - mà chỉ hỏi liệu vừa nãy ở bàn ăn bà ấy có thực đã quả quyết như thế không, hay chỉ là tôi tưởng thế thôi, - chỉ điều ấy tôi muốn biết."
Settembrini nhìn chàng. Hình như ông đã chẳng lắng nghe. Đôi mắt ông lại "dán chặt vào một chỗ", rơi vào một sự chăm chú cố định và mù lòa, và cũng như sáng nay, ông nói ba lần "vậy, vậy, vậy" và "xem, xem, xem" - với giọng mỉa mai trầm ngâm và phụ âm s sắc lẹm.
"Ngài bảo là hai mươi tư?" rồi ông hỏi...
"Không, hai mươi tám!" Hans Castorp nói. "Hai mươi tám thứ xốt cá! Không phải xốt nói chung, mà là xốt cá hẳn hoi, đó mới là điều quái dị."
"Kỹ sư!" Settembrini vừa giận dữ vừa răn bảo. "Hãy tự chấn chỉnh lại và để cho tôi yên với cái trò nhảm nhí bê tha ấy! Tôi không biết gì về chuyện đó, và cũng không muốn biết gì hết. - Ngài bảo là đang ở tuổi hai mươi tư ư? Hừm... xin cho phép tôi thêm một câu hỏi nữa, hay một lời đề nghị hoàn toàn không dám áp đặt, nếu ngài muốn gọi thế. Vì sự lưu lại đây có vẻ không hợp với ngài, vì xét về thể xác và, nếu tôi không hoàn toàn lầm, cả về tinh thần nữa, ngài đều không thấy dễ chịu ở giữa chúng tôi, - vậy thì sẽ ra sao nếu ngài từ bỏ việc già đi ở đây, tóm lại, nếu ngay tối nay ngài lại thu xếp hành lý, và sáng mai lên những chuyến tàu tốc hành đúng biểu mà đi quách đi?"
"Ngài muốn nói là tôi nên đi ư?" Hans Castorp hỏi... "Trong khi tôi vừa mới đến? Nhưng không, làm sao tôi có thể phán đoán được chỉ sau ngày đầu tiên!"
Tình cờ khi nói những lời ấy chàng nhìn sang phòng bên và thấy Frau Chauchat ở chính diện, với đôi mắt hẹp và gò má rộng. Rốt cuộc, chàng nghĩ, rốt cuộc cô ta gợi cho mình nhớ đến cái gì và đến ai trên đời này nhỉ. Nhưng cái đầu mệt mỏi của chàng, mặc dầu đã có đôi chút cố gắng, vẫn không biết trả lời câu hỏi ấy.
“Dĩ nhiên chuyện thích nghi với khí hậu trên này, ở chỗ các ông, đối với tôi không hẳn là dễ dàng gì,” chàng nói tiếp, “điều ấy vốn đã có thể thấy trước, và vì thế mà lập tức buông súng giữa đồng chỉ vì có lẽ vài ngày tôi sẽ hơi mê man và nóng sốt một chút, thì hẳn tôi phải lấy làm hổ thẹn, thậm chí sẽ thấy mình hèn nhát, mà hơn nữa còn trái mọi lẽ phải, – không, chính ông thử nói xem...”
Chàng bỗng nói hết sức khẩn khoản, hai vai cử động kích động, và dường như muốn buộc người Ý phải chính thức rút lại đề nghị ấy.
“Tôi kính chào lý trí,” Settembrini đáp. “Vả lại, tôi cũng kính chào cả lòng can đảm. Điều ông nói nghe cũng được đấy, khó mà nêu ra lời phản bác nào xác đáng. Vả chăng, quả tôi đã từng quan sát những trường hợp thích nghi khí hậu rất đẹp. Năm ngoái có cô Kneifer, Ottilie Kneifer, đích thực con nhà gia thế, con gái một viên chức cao cấp của nhà nước. Cô ở đây độ một năm rưỡi và đã quen thuộc tuyệt hảo đến nỗi, khi sức khỏe đã hoàn toàn phục hồi – vì chuyện ấy vẫn có, thỉnh thoảng người ta khỏi bệnh trên này mà – thì ngay cả lúc ấy cô cũng nhất định không chịu đi, bất cứ giá nào. Cô tận đáy lòng van nài ngài Hofrat cho được ở lại, rằng cô không thể và cũng chẳng muốn về nhà, nơi đây mới là nhà của cô, nơi đây cô mới hạnh phúc; nhưng vì lúc ấy khách kéo đến quá đông và người ta cần đến căn phòng của cô, nên lời van xin ấy uổng công, và người ta kiên quyết cho cô xuất viện như một người khỏe mạnh. Ottilie lên cơn sốt cao, cô làm cho đường biểu đồ của mình vọt hẳn lên. Nhưng người ta đã lật tẩy cô bằng cách đổi chiếc nhiệt kế thường dùng của cô lấy một ‘người chị em câm’, – ông chưa biết đó là gì đâu, ấy là một chiếc nhiệt kế không có số, bác sĩ kiểm tra nó bằng cách áp một thước đo vào, rồi tự tay vẽ đường biểu đồ. Ottilie, thưa ông, là 36,9; Ottilie không hề sốt. Thế là cô đi tắm hồ, – hồi ấy là đầu tháng Năm, đêm còn có sương giá, nước hồ không đến nỗi lạnh như băng, nói cho đúng ra thì nó cao hơn không độ vài độ. Cô ở trong nước khá lâu, cốt để nhiễm lấy cái này cái nọ, – nhưng kết quả ư? Cô vẫn khỏe, và cứ khỏe. Cô ra đi trong đau đớn và tuyệt vọng, không nghe lọt những lời an ủi của cha mẹ. ‘Tôi xuống dưới đó làm gì?’ cô lặp đi lặp lại. ‘Nơi đây mới là quê hương của tôi!’ Tôi không biết rồi cô ra sao... Nhưng hình như ông chẳng nghe tôi nói, kỹ sư ạ? Nếu tôi không lầm, đứng trên đôi chân mình lúc này cũng đã khiến ông vất vả lắm rồi. Trung úy, anh em họ của anh đây!” ông quay sang Joachim, vừa lúc cậu bước tới. “Hãy đưa cậu ấy lên giường! Cậu ấy kết hợp cả lý trí lẫn can đảm, nhưng tối nay thì hơi suy sụp một chút.”
“Không, thật đấy, tôi hiểu cả rồi mà!” Hans Castorp quả quyết. “Vậy ra ‘người chị em câm’ chỉ là một cột thủy ngân, hoàn toàn không có số chia, – ông thấy đấy, tôi lĩnh hội thật trọn vẹn mà!” Nhưng rồi rốt cuộc chàng vẫn cùng Joachim đi thang máy lên trên, với mấy bệnh nhân khác nữa, – cuộc quây quần hôm ấy đã chấm dứt, người ta tản ra, tìm đến các hành lang có mái và các lôgia để làm liệu pháp nằm nghỉ buổi tối. Hans Castorp theo Joachim vào phòng cậu. Sàn hành lang trải thảm xơ dừa gợn những làn sóng êm dưới chân chàng, nhưng chàng không thấy điều đó có gì khó chịu lắm. Chàng ngồi xuống chiếc ghế bành lớn bọc vải hoa của Joachim – trong phòng chàng cũng có một chiếc như thế – rồi châm một điếu Maria Mancini. Nó có vị hồ dán, vị than đá và đủ thứ khác, chỉ không có cái vị đáng lẽ phải có; nhưng chàng vẫn cứ hút tiếp, vừa hút vừa nhìn Joachim sửa soạn cho liệu pháp nằm nghỉ, khoác chiếc áo mặc ở nhà kiểu Litva lên người, trùm bên ngoài một chiếc paletot cũ hơn, rồi cầm đèn đầu giường và cuốn sách bài tập tiếng Nga đi ra ban công, ở đó cậu bật ngọn đèn lên và, miệng ngậm nhiệt kế, bắt đầu với một sự thuần thục đáng kinh ngạc tự quấn mình vào hai tấm chăn lông lạc đà lớn đã trải trên ghế nằm. Hans Castorp nhìn với lòng thán phục chân thành xem cậu thao tác khéo léo đến thế nào. Cậu vén các tấm chăn, hết tấm này đến tấm kia, trước hết từ bên trái dọc theo thân mình lên tới nách, rồi từ dưới trùm qua bàn chân, sau cùng từ bên phải, sao cho rốt cuộc cậu thành một gói bọc thật đều đặn và phẳng phiu, chỉ còn đầu, vai và hai cánh tay là nhô ra bên ngoài.
“Cậu làm khéo thật đấy,” Hans Castorp nói.
“Là do quen thôi,” Joachim đáp, vừa nói vừa giữ chặt chiếc nhiệt kế giữa hai hàm răng. “Rồi cậu cũng học được. Ngày mai nhất định chúng ta phải kiếm cho cậu mấy tấm chăn. Xuống dưới rồi cậu cũng lại cần đến chúng, mà trên này chỗ bọn tớ thì chúng không thể thiếu được, nhất là vì cậu đâu có túi lông.”
“Nhưng ban đêm tớ sẽ không nằm ngoài ban công đâu,” Hans Castorp tuyên bố. “Chuyện ấy tớ không làm, tớ nói ngay với cậu như thế. Như thế đối với tớ kỳ quặc quá. Cái gì cũng có giới hạn của nó. Với lại, rốt cuộc tớ cũng phải có cách nào đó để cho thấy rằng tớ chỉ là khách đến thăm các cậu trên này thôi chứ. Tớ còn ngồi đây một lúc và hút nốt điếu xì gà, đúng như lẽ phải. Nó dở tệ, nhưng tớ biết nó là điếu ngon, và như thế hôm nay cũng phải đủ cho tớ rồi. Bây giờ đã gần chín giờ, – mà thật ra, tiếc thay, còn chưa đến chín nữa kia. Nhưng đến chín rưỡi thì cũng đã đến mức người ta có thể đi ngủ một cách tàm tạm bình thường được rồi.”
Một cơn rùng mình ớn lạnh chạy dọc người chàng, – một cơn rồi mấy cơn liên tiếp rất nhanh. Hans Castorp bật dậy và chạy đến chiếc nhiệt kế treo tường, như thể cần phải bắt quả tang nó _in flagranti_. Theo thang Réaumur, trong phòng là chín độ. Chàng sờ vào các ống sưởi và thấy chúng chết ngắt, lạnh tanh. Chàng lẩm bẩm điều gì đó lộn xộn, đại ý rằng dẫu đang là tháng Tám đi nữa, thì chuyện không sưởi ấm vẫn là một điều đáng xấu hổ, bởi điều cốt yếu đâu phải cái tên tháng mà người ta tình cờ đang viết, mà là nhiệt độ đang ngự trị, và nhiệt độ ấy thì khiến chàng rét cóng như một con chó. Nhưng mặt chàng lại bỏng rát. Chàng ngồi xuống lần nữa, rồi lại đứng lên, lẩm bẩm xin phép được dùng chăn giường của Joachim và, vẫn ngồi trên ghế, phủ nó lên nửa thân dưới. Chàng ngồi đó như thế, nóng bừng mà vẫn ớn lạnh, và tự hành hạ mình với điếu xì gà có mùi vị ghê tởm. Một cảm giác khốn khổ lớn lao trùm lấy chàng; chàng có cảm tưởng như trong đời mình chưa bao giờ tệ hại đến thế. “Thật là khốn khổ!” chàng lẩm bẩm. Nhưng xen vào đó, bỗng có lúc một cảm giác vui sướng và hy vọng lạ lùng đến vô độ chạm đến chàng, và một khi đã cảm thấy nó, chàng chỉ còn ngồi đó để chờ xem biết đâu nó lại trở về. Nhưng nó không trở lại; chỉ có nỗi khốn khổ còn ở lại. Và rốt cuộc chàng đứng lên, ném chiếc chăn của Joachim trở lại giường, méo miệng lẩm bẩm những câu như “Chúc ngủ ngon!” và “Đừng có chết cóng đấy nhé!” rồi “Sáng ăn điểm tâm cậu lại đón tớ chứ” và lảo đảo băng qua hành lang trở về phòng mình.
Trong lúc cởi quần áo, chàng khe khẽ hát, nhưng không phải vì vui vẻ gì. Một cách máy móc và không thật có chủ ý, chàng làm những động tác nhỏ và những bổn phận văn minh của việc sửa soạn ban đêm, rót thứ nước súc miệng đỏ nhạt từ chiếc lọ du hành vào cốc và kín đáo súc họng, rửa tay bằng thỏi xà phòng violet tốt và dịu của mình, rồi mặc chiếc áo ngủ dài bằng vải batist, trên túi ngực có thêu hai chữ H C. Sau đó chàng lên giường và tắt đèn, thả cái đầu nóng bừng, mê loạn của mình rơi xuống chiếc gối lúc lâm chung của bà người Mỹ.
Chàng đã quả quyết chờ rằng mình sẽ lập tức chìm vào giấc ngủ, nhưng điều ấy hóa ra lầm; mí mắt vừa rồi chàng còn hầu như không sao giữ mở nổi – giờ đây nhất quyết không chịu khép lại, mà hễ chàng hạ xuống là chúng lại co giật bất an mở bừng ra. Chàng tự nhủ rằng còn chưa đến giờ ngủ quen của mình, lại nữa ban ngày chắc chàng đã nằm quá nhiều. Ngoài trời hình như cũng có ai đang đập thảm, – điều ấy dĩ nhiên ít có thể xảy ra và quả thật hoàn toàn không phải thế; trái lại, hóa ra đó là nhịp tim của chính chàng, nhịp đập mà chàng nghe thấy ở ngoài thân mình, xa mãi ngoài trời, y hệt như thể ở ngoài kia có người đang lấy một chiếc roi đập thảm đan bằng mây mà quật lên một tấm thảm.
Trong phòng vẫn chưa tối hẳn; ánh đèn nhỏ ngoài các lôgia, chỗ Joachim và chỗ cặp vợ chồng ngồi bàn Nga xấu, chiếu vào qua cánh cửa ban công để ngỏ. Và trong khi Hans Castorp nằm ngửa, chớp mắt liên hồi, thì bỗng một ấn tượng, một ấn tượng riêng lẻ của cả ngày ấy, một quan sát mà chàng đã lập tức tìm cách quên đi vì hoảng hốt và vì một sự tế nhị nào đó, lại hiện về với chàng. Đó là nét mặt Joachim đã mang khi người ta nói đến Marusja và những đặc tính thân thể của cô, – cái méo lệch miệng rất riêng, đầy vẻ khổ sở ấy, cùng với sự tái nhợt loang lổ trên đôi má rám nắng của cậu. Hans Castorp hiểu, và nhìn thấu cái điều ấy có nghĩa là gì, hiểu và nhìn thấu nó theo một cách mới mẻ, thấu đáo và thân mật đến mức cái roi đập thảm ngoài kia tăng gấp đôi những nhát quật của nó cả về tốc độ lẫn sức mạnh, và gần như át cả âm thanh của khúc dạ nhạc ở “Platz” – vì dưới kia, trong khách sạn nọ, lại có hòa nhạc; một điệu nhạc operetta kết cấu cân phương và nhạt nhẽo vang lại qua bóng tối, và Hans Castorp khe khẽ huýt sáo theo nó (người ta hoàn toàn có thể huýt sáo bằng giọng thì thầm), trong khi dưới chăn bông lông vũ chàng gõ nhịp theo bằng đôi chân lạnh ngắt của mình.
Dĩ nhiên đó không phải là cách để ngủ thiếp đi, và lúc này Hans Castorp cũng chẳng hề cảm thấy nghiêng về điều ấy. Từ khi chàng, theo một lối mới lạ và sinh động đến vậy, hiểu ra vì sao Joachim đã đổi sắc mặt, thì thế giới dường như trở nên mới đối với chàng, và cảm giác vui sướng cùng hy vọng vô độ kia lại chạm đến nơi sâu thẳm nhất trong lòng chàng. Vả lại chàng còn đang đợi một cái gì đó, mà không thật tự hỏi là cái gì. Nhưng khi nghe những người láng giềng bên phải và bên trái chấm dứt liệu pháp nằm nghỉ buổi tối và trở vào phòng mình, để đổi tư thế nằm ngang ở ngoài kia lấy tư thế nằm ngang ở trong này, thì chàng bày tỏ trước chính mình niềm tin rằng cặp vợ chồng man rợ ấy tối nay sẽ giữ hòa khí. Mình có thể yên ổn ngủ được rồi, chàng nghĩ. Tối nay họ sẽ yên ổn, điều ấy mình tin chắc lắm! Nhưng họ đã không làm thế, mà Hans Castorp thực ra cũng chẳng hề nghĩ vậy một cách chân thành, thậm chí nói đúng ra, với tư cách cá nhân và từ phía mình, chàng hẳn cũng chẳng hiểu nổi nếu họ chịu yên thật. Tuy thế, chàng vẫn buông ra những tiếng kêu thảng thốt dữ dội nhất, bật ra không thành tiếng, trước những gì mình nghe thấy. “Không thể tưởng tượng nổi!” chàng kêu lên, không có giọng. “Thật ghê gớm! Ai mà ngờ nổi chuyện như thế có thể xảy ra?” Và xen vào đó, với đôi môi thì thầm, chàng lại góp phần vào điệu nhạc operetta nhạt nhẽo vẫn cố chấp vang sang.
Về sau cơn buồn ngủ đến. Nhưng cùng với nó là những hình ảnh mộng mị kỳ quặc, còn kỳ quặc hơn đêm đầu, khiến chàng nhiều phen giật mình choàng dậy, hoặc bật ngồi lên như đuổi theo một ý nghĩ hỗn loạn nào đó. Chàng mơ thấy Hofrat Behrens, đầu gối cong cong, hai cánh tay cứng đờ buông thõng ra phía trước, đang lần theo những lối đi trong vườn, vừa đi vừa điều chỉnh những bước chân dài và dường như hoang vắng của mình theo một khúc quân hành ở xa. Khi Hofrat dừng lại trước mặt Hans Castorp, ông đeo một cặp kính tròng dày, tròn vo, và lảm nhảm những điều vô nghĩa. “Dân sự, dĩ nhiên,” ông nói, rồi chẳng xin phép gì cả, dùng ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay khổng lồ kéo mí mắt Hans Castorp xuống. “Người dân sự lương thiện, điều tôi nhận ra ngay. Nhưng không phải là không có tài, hoàn toàn không phải là không có tài đối với sự đốt cháy toàn thân tăng cao! Chẳng nên hà tiện gì dăm năm cả, dăm năm công vụ lanh lẹ trên này với chúng ta! Nào, thôi nào các ngài, và lên đường dạo chơi cho vui!” ông kêu lên, vừa nhét hai ngón trỏ đồ sộ của mình vào miệng vừa huýt lên một tiếng lạ lùng mà du dương đến thế, khiến từ nhiều phía cô giáo và Miß Robinson, bé lại đi, bay đến trong không khí và đậu lên vai ông bên phải và bên trái, đúng như trong phòng ăn họ đã ngồi bên phải và bên trái Hans Castorp. Thế là Hofrat nhảy chân sáo đi mất, vừa đi vừa luồn một chiếc khăn ăn ra sau cặp kính để lau mắt, – người ta không biết ở đó có gì cần lau khô, mồ hôi hay nước mắt.
Sau đó, người nằm mơ dường như thấy mình đang ở sân trường, nơi suốt bao năm chàng đã trải qua những giờ giải lao giữa các buổi học, và sắp sửa mượn của Madame Chauchat, người cũng có mặt ở đó, một cây bút chì. Nàng đưa cho chàng cây bút màu đỏ, chỉ còn ngắn một nửa, cắm trong một ống cầm bằng bạc, đồng thời với giọng khàn dễ chịu nhắc Hans Castorp nhất định phải trả lại cho nàng sau giờ học, và khi nàng nhìn chàng, bằng đôi mắt xanh xám xanh lục hẹp trên đôi gò má rộng, thì chàng giật mạnh mình trồi lên khỏi giấc mơ, vì lúc này chàng đã nắm được và muốn giữ chặt lấy điều mà nàng thực ra gợi chàng nhớ đến mãnh liệt như thế, gợi nhớ đến ai. Vội vàng, chàng cất giữ sự nhận ra ấy cho ngày mai, vì chàng cảm thấy giấc ngủ và giấc mơ lại đang khép vòng quanh mình, và chẳng bao lâu sau thấy mình ở vào tình thế phải tìm chỗ lánh thân trước bác sĩ Krokowski, kẻ đang rình đuổi chàng để tiến hành sự giải phẫu tâm hồn với chàng, điều mà Hans Castorp sợ một cách điên cuồng, sợ một cách thật vô lý. Chàng trốn bác sĩ ấy, chân cẳng vướng víu, chạy dọc các bức tường kính qua những lôgia ban công, nhảy xuống vườn với nguy cơ mất mạng, trong cơn quẫn bách thậm chí còn tìm cách trèo lên cột cờ màu nâu đỏ, và tỉnh dậy mồ hôi đầm đìa đúng vào lúc kẻ truy đuổi chộp được ống quần chàng.
Thế nhưng chàng vừa mới yên tĩnh lại đôi chút và thiếp đi lần nữa, thì sự việc liền hiện ra với chàng như sau. Chàng cố dùng vai hích Settembrini ra khỏi chỗ, nơi ông đang đứng và mỉm cười, – một nụ cười tinh tế, khô khan và chế giễu dưới bộ ria mép đen rậm, đúng chỗ nó cong đẹp lên trên, và chính nụ cười ấy là điều Hans Castorp cảm thấy như một sự quấy nhiễu. “Ông làm phiền đấy!” chàng nghe rõ mình nói. “Đi đi! Ông chỉ là một kẻ kéo đàn quay thôi, và ông làm phiền ở đây!” Nhưng Settembrini không chịu nhúc nhích khỏi chỗ, và Hans Castorp còn đang đứng đó để nghĩ xem phải làm gì, thì bỗng dưng chàng được ban cho một sự minh triết tuyệt hảo về cái mà thời gian thực ra là gì: tức không gì khác hơn đơn giản chỉ là một người chị em câm, một cột thủy ngân hoàn toàn không có số chia, dành cho những ai muốn gian lận, – và chàng tỉnh dậy với ý định rõ rệt là ngày mai sẽ báo cho anh em họ Joachim biết phát hiện này.
Trong những cuộc phiêu lưu và khám phá như thế, đêm trôi qua, và cả Hermine Kleefeld cùng ông Albin và Đại úy Miklosich, mà người sau đã mang bà Stöhr đi mất trong chính họng mình rồi bị công tố viên Paravant đâm thủng bằng một ngọn giáo, cũng đóng vai trò rối ren của họ trong đó. Nhưng có một giấc mơ Hans Castorp còn mơ đến hai lần trong đêm ấy, và cả hai lần đều đúng y nguyên một hình thức, – lần sau hết là về gần sáng. Chàng đang ngồi trong phòng ăn có bảy chiếc bàn, thì giữa lúc tiếng ầm ĩ lớn nhất, cánh cửa kính sập mạnh vào ổ khóa và Madame Chauchat bước vào, trong chiếc sweater trắng, một tay đút túi, tay kia đặt sau gáy. Nhưng thay vì đi về phía bàn Nga tốt, người đàn bà vô giáo dưỡng ấy lặng lẽ tiến thẳng đến Hans Castorp và im lặng chìa tay cho chàng hôn, – nhưng nàng không đưa mu bàn tay ra cho chàng, mà đưa lòng bàn tay, và Hans Castorp hôn tay nàng, bàn tay không được trau chuốt của nàng, hơi bè và những ngón hơi ngắn, với làn da ráp sần ở hai bên móng. Lập tức từ đầu đến chân chàng lại bị xuyên thấu bởi cái cảm giác ngọt ngào hoang dại đã từng dâng lên trong chàng khi, để thử, chàng cảm thấy mình thoát khỏi sức nặng của danh dự và tận hưởng những lợi thế không đáy của sự ô nhục, – chính điều ấy chàng lại cảm thấy trong giấc mơ của mình, chỉ là mạnh hơn ghê gớm không biết bao nhiêu.