Núi thần — Chương 3

Chương 3 / 8 · Bài review Núi thần

Về chậu rửa tội và người ông dưới hai diện mạo

Hans Castorp chỉ giữ lại được những ký ức nhạt mờ về chính mái nhà cha mẹ mình; chàng hầu như chưa thật sự biết cha mẹ. Cả hai lần lượt qua đời trong quãng ngắn ngủi từ năm chàng lên năm đến năm chàng lên bảy, trước hết là mẹ chàng, hoàn toàn đột ngột và ngay trong khi đang chờ sinh nở, vì một chứng tắc mạch do viêm thần kinh gây ra, một cơn embolie, như bác sĩ Heidekind gọi, thứ bệnh lập tức làm tim tê liệt, bà vừa ngồi trên giường mà cười, trông như thể ngã vật ra vì cười, nhưng kỳ thực chỉ ngã như thế vì bà đã chết. Điều ấy không dễ gì hiểu nổi đối với Hans Hermann Castorp, người cha, và bởi ông vốn gắn bó hết sức tha thiết với vợ, lại cũng không phải hạng người cứng cỏi nhất, nên ông không sao vượt qua được. Từ đó tinh thần ông trở nên rối loạn và sa sút; trong cơn lảo đảo mịt mờ, ông phạm những sai lầm trong công việc, khiến hãng Castorp & Sohn bị những tổn thất đáng kể; đến mùa xuân năm sau nữa, trong một lần đi kiểm tra kho ở bến cảng lộng gió, ông mắc viêm phổi, và vì trái tim đã bị chấn thương của ông không chịu nổi cơn sốt cao, nên mặc cho bác sĩ Heidekind tận tình chăm sóc, ông vẫn chết trong vòng năm ngày, theo gót vợ vào phần mộ thế tập của nhà Castorp, với sự tham dự đông đảo của giới thị dân; phần mộ ấy nằm trong St. Katharinenkirchhof, ở một vị trí rất đẹp, nhìn ra Vườn Bách thảo.

Cha ông, vị nghị sĩ, sống lâu hơn con trai, tuy cũng chỉ hơn được rất ít, và quãng thời gian ngắn ngủi trước khi cụ cũng qua đời, mà lại cũng vì bệnh viêm phổi, song là sau những cơn vật lộn và đau đớn dữ dội, bởi khác với con trai mình, Hans Lorenz Castorp là một bản tính khó bị quật ngã, bám rễ ngoan cường vào sự sống, vậy quãng thời gian ấy, chỉ vỏn vẹn một năm rưỡi, Hans Castorp mồ côi đã sống trong nhà ông nội, một ngôi nhà xây vào đầu thế kỷ vừa qua trên một khu đất hẹp, theo thị hiếu cổ điển phương Bắc, sơn một màu thời tiết xám đục, tọa lạc trên đại lộ Esplanade, với những nửa cột đứng hai bên cửa vào, ở giữa tầng trệt phải bước lên năm bậc, và thêm hai tầng lầu nữa ngoài tầng beletage, nơi những ô cửa sổ kéo dài xuống tận mặt sàn và có chấn song bằng gang đúc.

Ở đây chỉ toàn là những gian phòng tiếp khách, kể cả phòng ăn sáng sủa có trang trí thạch cao, ba khung cửa sổ treo màn đỏ rượu vang của phòng trông xuống khu vườn nhỏ phía sau, và trong suốt mười tám tháng, ông cháu hằng ngày ăn bữa trưa với nhau ở đó vào lúc bốn giờ, chỉ có hai người, được lão Fiete hầu hạ, lão già đeo khuyên tai và gắn cúc bạc trên chiếc áo đuôi tôm; với chiếc áo ấy lão mặc một dải khăn cổ bằng vải batiste y hệt như của chính chủ nhà, cũng giấu chiếc cằm đã cạo nhẵn trong đó gần như cùng một kiểu, và ông nội xưng mày với lão khi nói tiếng Plattdeutsch; không phải theo lối bông đùa, vì cụ không có chút thiên hướng hài hước nào, mà hoàn toàn nghiêm chỉnh và đơn giản vì với những người dân đen, phu kho, người phát thư, phu xe và gia nhân, cụ vốn vẫn như thế. Hans Castorp thích nghe điều ấy, và chàng cũng rất thích nghe Fiete đáp lại, cũng bằng tiếng Platt, trong khi hầu bàn thì từ phía sau bên trái khom vòng qua lưng ông chủ để nói vào tai phải, vì vị nghị sĩ nghe ở tai ấy rõ hơn hẳn tai trái. Cụ già hiểu, gật đầu rồi tiếp tục ăn, ngồi rất thẳng giữa lưng ghế gụ cao và mặt bàn, hầu như không cúi xuống đĩa, còn đứa cháu, ngồi đối diện, lặng lẽ ngắm, với một sự chăm chú sâu xa mà vô thức, những cử động gọn ghẽ, chăm chút, bằng đó đôi bàn tay già nua đẹp đẽ, trắng và gầy của ông nội, với những móng cong nhọn và chiếc nhẫn hiệu màu lục ở ngón trỏ phải, sắp xếp trên đầu nĩa một miếng gồm thịt, rau và khoai tây, rồi, kèm theo một cái nghiêng đầu rất nhẹ về phía trước, đưa lên miệng. Hans Castorp nhìn xuống đôi tay còn vụng về của chính mình và cảm thấy trong đó đã phác sẵn cái khả năng một ngày kia cũng sẽ cầm dao nĩa và điều khiển chúng y như ông nội.

Một chuyện khác là liệu chàng có bao giờ đạt tới chỗ giấu chiếc cằm của mình trong một dải khăn như thế hay không, thứ khăn lấp đầy khoảng mở rộng rãi nơi chiếc cổ áo kỳ dị của ông nội, với những đầu nhọn sắc khẽ chạm vào hai má. Bởi muốn vậy thì phải già như cụ, mà ngay từ bấy giờ, ngoài cụ và lão Fiete già của cụ, khắp nơi xa gần không còn ai mang những dải khăn và cổ áo như thế nữa. Thật đáng tiếc, vì cậu bé Hans Castorp đặc biệt thích cái cách ông nội tựa cằm vào dải khăn cao, trắng như tuyết ấy; mãi về sau, trong ký ức khi đã trưởng thành, chàng vẫn thấy nó tuyệt vời: có cái gì trong đó khiến tận đáy bản tính chàng tán thành.

Khi ăn xong và gấp khăn ăn lại, cuộn tròn rồi lồng vào những chiếc vòng bạc, một công việc mà thuở ấy Hans Castorp xoay xở không dễ, vì khăn ăn lớn chẳng khác gì những tấm khăn trải bàn con, thì vị nghị sĩ đứng lên trước ghế, trong khi Fiete kéo ghế ra phía sau, rồi cụ lê những bước sột soạt sang phòng “Kabinett” để lấy xì gà; và đôi khi đứa cháu cũng đi theo vào đó.

Phòng “Kabinett” này có được là do người ta đã làm cho phòng ăn có ba cửa sổ và kéo suốt ngang bề rộng ngôi nhà, vì thế, khác với kiểu nhà thông thường, không còn chỗ cho ba salon mà chỉ còn hai; tuy nhiên một trong hai phòng ấy, phòng nằm vuông góc với phòng ăn lớn và chỉ có một cửa sổ trông ra phố, hẳn sẽ thành ra sâu một cách mất cân đối. Bởi vậy người ta đã tách riêng chừng một phần tư chiều dài của nó ra, chính là phòng “Kabinett”, một gian hẹp có giếng trời, lờ mờ tối và chỉ bày vài món: một chiếc étagère trên đặt tủ xì gà của vị nghị sĩ, một bàn chơi bài mà ngăn kéo chứa những vật hấp dẫn, những bộ bài whist, thẻ tính điểm, những bảng ghi nhỏ có các răng lật lên được, một tấm bảng đá cùng bút phấn, các đầu ngậm xì gà bằng giấy và còn nhiều thứ khác nữa; cuối cùng là một tủ kính Rococo bằng gỗ palisander ở góc phòng, sau lớp kính của nó có căng những tấm màn lụa màu vàng.

“Ông ơi,” cậu bé Hans Castorp có thể nói trong phòng Kabinett như thế, vừa nhón chân vừa vươn lên phía tai cụ già, “xin ông cho cháu xem chậu rửa tội đi!”

Và ông nội, vốn dĩ đã vén hai vạt chiếc áo ngoài dài mềm của mình khỏi quần và rút chùm chìa khóa ra khỏi túi, bèn dùng nó mở tủ kính; từ bên trong tủ một mùi hương vừa dễ chịu vừa lạ lùng tỏa ra đón cậu bé. Trong đó cất đủ thứ đồ vật không còn dùng nữa và chính vì thế mà càng quyến rũ: một đôi chân nến bạc uốn cong, một chiếc phong vũ biểu vỡ có chạm gỗ hình người, một cuốn album đựng các tấm daguerreotype, một hộp rượu mùi bằng gỗ bá hương, một người Thổ Nhĩ Kỳ nhỏ bé, sờ vào thấy cứng dưới bộ áo lụa sặc sỡ, trong bụng có một bộ máy đồng hồ trước kia từng giúp nó đi được trên mặt bàn, nhưng đã từ lâu không còn hoạt động, một mô hình tàu thủy cổ kính, và dưới tận đáy thậm chí còn có cả một cái bẫy chuột. Nhưng cụ già lấy từ một ngăn giữa ra một chiếc chậu bạc tròn đã xỉn màu nặng, đặt trên một cái đĩa cũng bằng bạc, rồi đưa cả hai món ra cho cậu bé xem, tách chúng khỏi nhau và xoay đi xoay lại từng món riêng biệt, kèm theo những lời giải thích đã nói không biết bao lần.

Cái chậu và cái đĩa vốn dĩ không thuộc về nhau, điều người ta dễ dàng nhận ra và cậu bé lại được dạy cho biết một lần nữa; nhưng ông nội bảo rằng chúng đã được dùng chung với nhau vào khoảng một trăm năm nay, tức là từ khi mua được cái chậu. Chiếc chậu thật đẹp, dáng dấp đơn sơ mà cao quý, do thị hiếu nghiêm cẩn của buổi đầu thế kỷ trước nắn thành. Nhẵn mịn và đĩnh đạc, nó đứng trên một chân tròn, bên trong mạ vàng; nhưng lớp vàng ấy dưới tác động của thời gian đã phai thành một ánh ngả vàng. Trang sức duy nhất là một vòng hoa hồng và lá nhọn nổi chạy quanh miệng chậu. Còn về cái đĩa, thì tuổi tác còn cao hơn nhiều của nó có thể đọc thấy ở mặt trong. Ở đó khắc hàng chữ số uốn lượn “một nghìn sáu trăm năm mươi”, và đủ thứ nét chạm trổ rối rắm vây quanh con số ấy, thực hiện theo “lối thời mới” của thuở bấy giờ, phô trương và tùy hứng, nào huy hiệu, nào arabesque nửa như sao nửa như hoa. Còn ở mặt sau, người ta thấy, bằng những kiểu chữ thay đổi, tên của những người đứng đầu từng lần lượt sở hữu món đồ ấy theo dòng thời gian, chấm khắc vào kim loại: đã có bảy người như vậy, kèm theo năm tiếp nhận gia sản, và cụ già với dải khăn cổ dùng ngón trỏ đeo nhẫn chỉ cho đứa cháu từng tên một. Tên cha chàng ở đó, tên chính ông nội, rồi tên cụ cố, và sau đó tiền tố “cố” cứ nhân đôi, nhân ba, nhân tư trên môi người giải thích, còn cậu bé, đầu hơi nghiêng sang một bên, mắt chăm chăm như suy tưởng mà cũng như lơ đãng mơ màng, miệng nửa cung kính nửa buồn ngủ, lắng nghe cái cố-cố-cố-cố ấy, âm thanh u tối của hầm mộ và sự vùi lấp bởi thời gian, nhưng đồng thời vẫn biểu lộ một mối liên tục được gìn giữ đầy thành kính giữa hiện tại, chính cuộc đời chàng, và cái đã chìm sâu mất hút, khiến nó tác động lên chàng theo một cách hết sức đặc biệt: tức là đúng như nó biểu hiện trên gương mặt chàng vậy. Với âm thanh ấy, chàng tưởng như đang hít thở luồng khí mát lạnh và mốc cũ, thứ không khí của Katharinenkirche hay hầm mộ Michaelis, tưởng như cảm thấy hơi thở của những nơi mà người ta, cầm mũ trong tay, bỗng bước vào một dáng đi nào đó đong đưa kính cẩn về phía trước mà không dùng đến gót ủng; chàng cũng tưởng như nghe thấy sự tĩnh lặng biệt lập, yên định của những nơi vang âm như thế; trong tiếng vang của âm tiết đục kia, những cảm giác tôn giáo hòa lẫn với cảm giác về cái chết và lịch sử, và tất cả những điều ấy bằng một cách nào đó lại đem đến cho cậu bé một niềm khoan khoái, phải, rất có thể là vì chính âm thanh ấy, vì muốn được nghe và nhắc lại nó, mà chàng đã xin được ngắm chậu rửa tội một lần nữa.

Rồi ông nội đặt chiếc chậu trở lại lên cái đĩa và để cậu bé nhìn vào lòng chậu nhẵn mịn, hơi ánh vàng, đang lấp lánh dưới thứ ánh sáng từ giếng trời rọi xuống.

“Sắp tròn tám năm rồi,” cụ nói, “kể từ ngày người ta bế con trên cái này, và nước dùng để làm phép rửa tội cho con đã chảy vào đây... Ông từ Lassen ở St. Jacobi đã rót nó vào lòng bàn tay khum của mục sư Bugenhagen tốt bụng của chúng ta, rồi từ đó nó chảy qua mái đầu con xuống chiếc chậu này. Nhưng chúng ta đã hâm ấm nước, để con khỏi giật mình và khỏi khóc, mà quả con cũng không khóc, trái lại, trước đó con đã gào lên đến nỗi Bugenhagen đọc lời không được dễ dàng cho lắm, nhưng khi nước đổ xuống thì con im bặt, và đó hẳn là lòng kính trọng đối với bí tích thánh, ta hãy cứ hy vọng thế. Và trong mấy ngày nữa là vừa đúng bốn mươi bốn năm kể từ khi người được làm phép rửa tội là cha con quá cố, và nước từ đầu ông ấy đã chảy vào đây. Hôm đó diễn ra ngay trong ngôi nhà này, ngôi nhà của cha mẹ ông ấy, ở gian phòng lớn đằng kia, trước khung cửa sổ chính giữa, và vẫn còn là mục sư Hesekiel già làm phép rửa tội cho ông ấy, đúng vị mục sư mà người Pháp suýt bắn chết khi còn trẻ vì ông đã giảng chống lại những vụ cướp bóc và đốt phá của họ, vị ấy giờ đây cũng đã từ lâu, rất lâu, ở cùng Chúa. Nhưng cách đây bảy mươi lăm năm, thì chính ta là người được làm phép rửa tội, cũng ở gian phòng lớn ấy, và người ta đã giữ đầu ta trên chiếc chậu này, đúng như nó đang đặt kia trên cái đĩa, và vị giáo sĩ đã nói những lời y hệt như khi làm phép rửa tội cho con và cho cha con, và cũng vậy, làn nước ấm và trong đã chảy từ tóc ta xuống chiếc chậu vàng này (mà hồi ấy tóc ta cũng chẳng nhiều hơn bây giờ trên đầu là bao).”

Cậu bé ngước nhìn cái đầu già nua, thon hẹp của ông nội, lúc ấy lại đang cúi trên chiếc chậu như ở chính giờ phút từ lâu đã trôi mất mà cụ vừa kể, và một cảm giác đã quen thuộc từ trước lại đến với chàng, cái cảm giác kỳ dị, nửa mơ màng nửa hoảng sợ, về một cái gì vừa vận động vừa đứng yên, một sự lưu lại mà vẫn đổi thay, là sự trở lại và cái đồng nhất đến chóng mặt, một cảm giác chàng đã biết từ những dịp trước, và vẫn chờ đợi, mong muốn được chạm đến một lần nữa: chính nó, ít nhất một phần, là điều khiến chàng thiết tha muốn được xem lại món gia vật truyền đời vừa đứng yên vừa lưu chuyển kia.

Về sau, khi đã là một thanh niên, nếu tự xét lại mình, chàng nhận ra rằng hình ảnh người ông già ấy đã in vào tâm trí chàng sâu hơn, rõ hơn và có ý nghĩa hơn nhiều so với hình ảnh cha mẹ: điều này có lẽ bắt nguồn từ sự đồng cảm và một mối tương cận thể chất nào đó, bởi đứa cháu quả thật giống ông nội, dĩ nhiên trong mức độ mà một cậu trai tơ má hồng mới chớm ria có thể giống một cụ già bảy mươi xanh xao và cứng cỏi. Nhưng chủ yếu hẳn vẫn là vì chính cụ già ấy, con người không còn nghi ngờ gì nữa, mới là chân dung tính cách đích thực, là cá tính giàu vẻ hội họa của gia đình.

Nói theo ý nghĩa công cộng, thì từ rất lâu trước khi Hans Lorenz Castorp lìa đời, thời đại đã vượt khỏi bản tính và những ý chí quan niệm của ông rồi. Ông là một vị hết sức mộ đạo, thuộc giáo đoàn Cải cách, tư tưởng cực kỳ thủ cựu, ngoan cố chủ trương thu hẹp một cách quý tộc vòng xã hội được coi là có năng lực cầm quyền, cứ như thể ông còn sống trong thế kỷ mười bốn, khi tầng lớp thợ thủ công bắt đầu giành lấy ghế ngồi và tiếng nói trong hội đồng thành phố trước sức kháng cự dai dẳng của giới quý tộc thị dân cổ xưa tự do, và quả thật quá khó bị thuyết phục về phía cái mới. Sự nghiệp của ông rơi vào những thập niên tăng trưởng mãnh liệt và biến động nhiều mặt, những thập niên của tiến bộ bằng những cuộc hành quân cưỡng bách luôn luôn đòi hỏi ở tinh thần công cộng một lòng dám hy sinh và dám mạo hiểm rất lớn. Nhưng nơi ông, lão Castorp già, xin Chúa làm chứng, tuyệt nhiên không phải là chỗ dựa để tinh thần thời hiện đại giành nên những chiến thắng chói lọi, lừng danh. Ông coi trọng lệ cha ông và các định chế cũ hơn nhiều so với những cuộc mở rộng bến cảng liều lĩnh và những trò phô trương đại đô thị vô đạo, đã hễ có thể là kìm lại và gạt bớt đi, và nếu mọi việc theo ý ông thì nền quản trị hẳn đến tận ngày nay vẫn còn mang dáng vẻ cổ kính, điền viên kiểu xưa như văn phòng riêng của ông thuở nọ.

Đó là cách cụ già hiện ra trước con mắt thị dân, khi còn sống cũng như về sau, và nếu cậu bé Hans Castorp chẳng hiểu gì về quốc sự, thì con mắt trẻ thơ lặng lẽ ngắm nhìn của chàng về căn bản vẫn tiếp nhận những điều gần như y hệt, những tri giác không lời, vì thế mà không phê phán, mà đúng hơn chỉ thuần sinh động; vả lại về sau, khi trở thành hình ảnh hồi ức có ý thức, chúng vẫn giữ nguyên cái dấu ấn chống lại lời lẽ và sự mổ xẻ, cái dấu ấn khẳng định tuyệt đối ấy. Như đã nói, ở đây có sự đồng cảm chen vào, cái mối gần gũi trực tiếp vượt qua một mắt xích, cái sự tương cận về bản chất vốn chẳng hiếm. Con cái và cháu chắt ngắm nhìn để thán phục, và thán phục để học hỏi và bồi đắp những gì đã được phác sẵn trong chúng bởi dòng giống.

Nghị sĩ Castorp gầy và cao. Năm tháng đã làm lưng và gáy cụ cong xuống, nhưng cụ tìm cách cân lại cái cong ấy bằng một sức ghì ngược, trong khi cái miệng, mà đôi môi không còn được răng nâng giữ nữa, trái lại đặt ngay trên lợi trống không, vì bộ răng giả cụ chỉ đeo lúc ăn, thì trễ xuống theo một cách vừa nhọc nhằn vừa nghiêm dignh; và chính bởi thế, cũng có lẽ như một phương kế chống lại sự lung lay chớm tới của cái đầu, mà sinh ra cái dáng giữ người ngẩng nhổm lên đầy nghiêm cẩn cùng cái thế đỡ cằm khiến cậu bé Hans Castorp ưa thích đến vậy.

Ông yêu chiếc hộp thuốc hít ấy lắm - đó là một chiếc hộp đồi mồi dài dài, khảm vàng, mà ông vẫn cầm dùng -, và vì lẽ đó mới dùng những chiếc khăn tay đỏ, một góc thường thò ra từ túi sau chiếc áo đuôi tôm của ông. Nếu đó là một nét yếu mềm vui mắt trong dáng vẻ ông, thì rốt cuộc nó cũng hoàn toàn có tác dụng như một thứ đặc quyền của tuổi già, một sự cẩu thả mà tuổi tác hoặc tự giác và vui vẻ cho phép mình, hoặc mang theo trong một trạng thái vô tâm đáng kính; và dù sao thì đó cũng vẫn là nét duy nhất mà con mắt tinh nhạy trẻ thơ của Hans Castorp từng nhận ra ở bề ngoài của ông nội. Nhưng đối với đứa bé bảy tuổi ấy, cũng như về sau trong ký ức của chàng thanh niên đã lớn, dáng vẻ thường nhật của cụ già không phải là dáng vẻ đích thực và chân thật của ông. Trong thực tại đích thực, ông còn hiện ra khác hẳn, đẹp đẽ và đúng đắn hơn nhiều so với thường ngày, - nghĩa là như trên một bức họa, một chân dung toàn thân, trước kia từng treo trong phòng khách của cha mẹ chàng, rồi sau đó cùng với cậu bé Hans Castorp dời đến Esplanade, nơi bức tranh được đặt trên chiếc đi văng lớn bọc lụa đỏ trong phòng tiếp khách.

Bức tranh ấy cho thấy Hans Lorenz Castorp trong phẩm phục công vụ của một nghị viên thành phố - thứ trang phục thị dân nghiêm trang, thậm chí thành kính, của một thế kỷ đã khuất, mà một cộng đồng vừa uy nghi vừa táo bạo đã mang theo qua bao thời đại và duy trì trong sự sử dụng long trọng, để bằng nghi lễ làm cho quá khứ thành hiện tại, hiện tại thành quá khứ, và biểu thị mối liên tục không ngừng của sự vật, sự vững chắc đáng kính trong chữ ký hành động của mình. Thượng nghị sĩ Castorp đứng đó trong dáng toàn thân, trên nền gạch lát ánh đỏ, giữa một phối cảnh cột trụ và vòm nhọn. Ông đứng, cằm hạ xuống, miệng kéo trễ xuống dưới, đôi mắt xanh nhìn xa xăm, đầy ý vị, với những bọng lệ bên dưới, trong chiếc áo choàng đen dài quá gối, tựa như áo thụng, mở phía trước, nơi viền và gấu có một dải lông thú rộng. Từ những tay áo ngoài rộng, phồng cao và có nẹp, ló ra những tay áo trong hẹp hơn bằng thứ dạ đơn sắc, còn những cổ tay ren phủ xuống bàn tay tới tận các đốt ngón. Đôi chân già thanh mảnh đi tất lụa đen, bàn chân mang giày cài khóa bạc. Quanh cổ ông là chiếc cổ áo xếp nếp rộng, hồ cứng, phía trước ép thấp xuống và hai bên uốn vút lên, bên dưới lại còn thừa ra một dải jabot bằng vải batist xếp nếp rủ xuống áo gilê. Dưới cánh tay ông là chiếc mũ cổ có vành rộng, phần chóp thon dần lên phía trên.

Đó là một bức tranh tuyệt hảo, do tay một họa sĩ danh tiếng thực hiện, được giữ theo một phong cách cổ điển bậc thầy với gu thẩm mỹ chuẩn mực như chính đề tài gợi ra, và ở người xem khơi dậy đủ loại liên tưởng Tây Ban Nha - Hà Lan - hậu Trung cổ. Cậu bé Hans Castorp đã ngắm bức tranh ấy nhiều lần, dĩ nhiên không phải bằng con mắt hiểu nghệ thuật, nhưng cũng với một thứ hiểu biết tổng quát hơn, thậm chí khá thấu đạt; và mặc dù chàng chỉ một lần duy nhất được thấy ông nội ngoài đời đúng như trên tấm toan mô tả, trong một dịp đoàn xe nghi lễ tới tòa thị chính, mà ngay cả khi ấy cũng chỉ thoáng qua, thì chàng, như ta đã nói, vẫn không sao không cảm thấy dáng vẻ tạo hình kia của ông mới là dáng vẻ đích thực và chân thật, còn nơi người ông của đời thường, nói như vậy, lại thấy một người ông tạm thời, một người ông được chắp vá cho hợp cảnh và chỉ hợp một cách bất toàn. Bởi lẽ cái khác biệt và kỳ quặc trong diện mạo thường nhật ấy rõ ràng là do một sự thích ứng bất toàn, có lẽ hơi vụng về; đó là những tàn dư và dấu hiệu không thể xóa hết của hình dạng thuần khiết và chân thực của ông. Chẳng hạn, cái cổ cồn trắng cao ấy thì quả là lỗi thời; nhưng thật không thể áp dụng cách gọi như thế cho món phục sức đáng khâm phục mà kia chỉ là lời ám chỉ tạm thời, tức là chiếc cổ áo xếp nếp kiểu Tây Ban Nha. Và với chiếc mũ chóp cao uốn cong khác thường mà ông nội đội ngoài phố cũng vậy, trong một thực tại cao hơn nó tương ứng với chiếc mũ nỉ vành rộng trong bức họa; với chiếc áo đuôi tôm dài và đầy nếp nhăn cũng vậy, mà nguyên hình và bản thể đích thực của nó, trong mắt cậu bé Hans Castorp, chính là chiếc áo thụng có nẹp, viền lông thú.

Bởi thế, tận trong lòng, chàng cũng thấy thuận lẽ khi ông nội, trong sự đúng đắn và hoàn bị của mình, hiện ra huy hoàng vào ngày người ta bảo phải từ biệt ông. Đó là trong đại sảnh, cũng chính đại sảnh nơi họ từng bao lần ngồi đối diện nhau bên bàn ăn; giờ đây, ở giữa phòng, Hans Lorenz Castorp nằm trên cỗ quàn giữa chiếc quan tài nạm bạc, quanh mình và dưới mình đầy những vòng hoa. Ông đã chiến đấu với cơn viêm phổi, đã chiến đấu dai dẳng và lâu dài, mặc dầu dường như trong đời sống hiện tại này ông chỉ cư ngụ như một sự thích ứng mà thôi, và giờ đây nằm đó, không ai biết rõ là như người chiến thắng hay kẻ chiến bại, nhưng dẫu sao cũng với một vẻ mặt nghiêm ngặt đã được hòa yên, và biến đổi mạnh sau cuộc chiến, mũi nhọn đi, trên chiếc giường phô trương của mình; nửa thân dưới phủ một tấm chăn, trên đó đặt một cành cọ, đầu được chiếc gối lụa đỡ cao, khiến cái cằm yên vị đẹp đẽ nhất trong chỗ lõm phía trước của chiếc cổ áo danh dự; và giữa hai bàn tay, những ngón tay được sắp đặt một cách tự nhiên giả tạo mà vẫn không che giấu nổi sự lạnh lẽo vô sinh, nửa chìm dưới những cổ tay ren, người ta đặt cho ông một cây thánh giá bằng ngà, như thể dưới hàng mi khép xuống ông đang nhìn chăm chăm không rời vào đó.

Hans Castorp hồi đầu cơn bệnh cuối cùng của ông nội còn được gặp ông vài lần, nhưng về sau thì không nữa. Người ta đã hoàn toàn để chàng tránh khỏi cảnh tượng cuộc chiến, phần lớn vốn diễn ra về đêm; chỉ gián tiếp, qua bầu không khí ngột ngạt của ngôi nhà, qua đôi mắt đỏ hoe của lão Fiete già, qua những chuyến xe bác sĩ đến rồi đi, mà chàng bị chạm đến bởi nó; còn kết quả, cái kết quả mà chàng thấy mình phải đứng đối diện trong đại sảnh, có thể tóm lại như sau: ông nội nay đã long trọng được giải trừ khỏi sự thích ứng tạm thời và dứt khoát trở về với hình dạng đích thực, thích đáng của mình, - một kết quả đáng tán thành, mặc dù lão Fiete già khóc và không ngừng lắc đầu, và mặc dù chính Hans Castorp cũng khóc, như chàng đã khóc khi nhìn người mẹ chết đột ngột của mình, và không lâu sau đó là người cha cũng nằm đó lặng im và xa lạ.

Bởi lẽ đây đã là lần thứ ba trong một quãng thời gian ngắn đến thế và ở một độ tuổi còn non đến thế, cái chết tác động lên tinh thần và giác quan - nhất là lên giác quan - của cậu bé Hans Castorp; cảnh tượng và ấn tượng ấy đối với chàng không còn mới nữa, mà đã trở nên khá quen thuộc rồi, và cũng như trong hai lần đầu chàng đã xử sự trước nó hết sức điềm đạm và đáng tin cậy, tuyệt không hề yếu thần kinh, dẫu vẫn với nỗi buồn tự nhiên, thì lần này cũng vậy, mà còn ở mức cao hơn. Không biết gì về ý nghĩa thực tế của những biến cố ấy đối với cuộc đời mình, hoặc cũng có thể thơ dại mà dửng dưng trước chúng, trong niềm tin rằng thế giới thế nào rồi cũng sẽ liệu cho mình, chàng đã bộc lộ bên những cỗ quan tài một thứ lạnh lùng trẻ con và sự chăm chú khách quan cũng trẻ con, mà đến lần thứ ba này lại còn được phủ thêm một sắc thái già dặn khác thường bởi cảm giác và vẻ biểu lộ của một kẻ sành sỏi từng trải, - chưa kể tới những giọt nước mắt thường là do xúc động và lây nhiễm từ người khác hơn là do một phản ứng tự nhiên, hiển nhiên. Trong ba bốn tháng kể từ khi cha chàng qua đời, chàng đã quên cái chết; giờ đây chàng nhớ lại, và mọi ấn tượng thuở ấy phục hiện nguyên vẹn, đồng thời và thấu tận, trong cái tính chất riêng vô song của chúng.

Nếu tách chúng ra và diễn thành lời, thì đại để chúng hẳn sẽ mang dáng vẻ như sau. Nơi cái chết có một phương diện thành kính, nhiều ý vị và buồn đẹp, tức là một phương diện thiêng liêng, đồng thời lại có một phương diện hoàn toàn khác, đúng ra là đối lập hẳn, rất thể xác, rất vật chất, mà người ta chẳng thể gọi là đẹp, cũng chẳng là nhiều ý vị, chẳng là thành kính, mà thực ra đến cả buồn cũng không. Phương diện long trọng - thiêng liêng biểu hiện ra ở việc quàn xác lộng lẫy, ở vẻ huy hoàng của hoa và những nhành cọ, vốn ai cũng biết là biểu thị sự bình an thiên giới; lại nữa, và còn rõ hơn, ở cây thánh giá giữa những ngón tay đã chết của người ông khi trước, ở đấng Cứu thế ban phúc của Thorwaldsen đứng phía đầu quan tài, và ở những chân nến cao dựng lên hai bên, trong dịp này cũng mang một tính cách giáo hội. Tất cả những sự bày biện ấy hiển nhiên đều có ý nghĩa xác đáng và tốt đẹp của chúng trong ý nghĩ rằng từ nay mãi mãi ông nội đã đi vào hình dạng đích thực và chân thật của mình. Nhưng ngoài ra, như cậu bé Hans Castorp hẳn cũng nhận ra, dù không tự thú với mình bằng lời, tất cả những thứ ấy, mà đặc biệt là vô số hoa, và trong đám ấy lại đặc biệt là những đóa huệ xuất hiện rất nhiều, còn có một ý nghĩa nữa và một công dụng tỉnh táo nữa, tức là tô điểm, làm cho bị quên đi, hoặc không để cho lọt vào ý thức cái phương diện kia của cái chết, phương diện chẳng đẹp đẽ gì mà cũng chẳng thật sự buồn, trái lại hầu như gần như bất nhã, thấp kém về thể xác.

Chính với phương diện ấy mà việc ông nội đã chết hiện ra xa lạ đến vậy gắn liền: thực ra không hiện ra như ông nội nữa, mà như một con búp bê sáp cỡ người thật, thứ mà cái chết đã nhét vào thay cho con người ông, và giờ đây mọi sự phô trương thành kính, tôn nghiêm kia đều được tiến hành quanh nó. Kẻ nằm đó, hay đúng hơn: _cái_ nằm đó, như vậy không phải chính là ông nội nữa, mà là một cái vỏ, - một cái vỏ mà Hans Castorp biết rõ không làm bằng sáp, mà bằng chính chất liệu của nó; _chỉ_ là chất liệu: ấy chính là cái bất nhã và cũng hầu như không buồn, - buồn ít ỏi chẳng hơn gì những thứ vốn dính líu đến thân xác và _chỉ_ đến thân xác mà thôi. Cậu bé Hans Castorp nhìn cái chất liệu vàng như sáp, nhẵn nhụi và rắn chắc như pho mát, cái chất liệu đã cấu thành gương mặt và bàn tay của hình người chết cỡ thật, vốn là của người ông khi trước. Đúng lúc ấy một con ruồi đậu xuống trán bất động và bắt đầu đưa cái vòi của nó lên rồi xuống. Lão Fiete già khẽ xua nó đi, cẩn thận tránh không chạm vào vầng trán, nét mặt sa sầm một cách đĩnh đạc, như thể cụ không được phép và cũng không muốn biết điều mình đang làm, - một vẻ kín đáo hiển nhiên liên quan tới sự thật rằng ông nội nay chỉ còn là thân xác và không còn gì khác nữa; nhưng sau một vòng lượn lang thang, con ruồi lại đậu xuống những ngón tay của ông, gần cây thánh giá bằng ngà. Và trong khi chuyện ấy xảy ra, Hans Castorp tưởng như cảm thấy rõ hơn trước mùi bốc hơi nhẹ nhưng sao đặc biệt dai dẳng quen thuộc từ xưa, một mùi khiến chàng hổ thẹn mà nhớ đến một bạn học mắc chứng bệnh khó chịu nên bị mọi người tránh xa, và mùi hương huệ rõ ràng đã được định để át đi nó một cách kín đáo, song với tất cả vẻ đẹp trù phú và nghiêm ngặt của mình vẫn không tài nào làm nổi.

Chàng đã nhiều lần đứng bên thi thể: một lần một mình với lão Fiete già, lần thứ hai cùng với người bác ông Tienappel, nhà buôn rượu, và hai người cậu James và Peter, rồi còn một lần thứ ba nữa, khi một nhóm công nhân bến cảng ăn mặc ngày chủ nhật đứng vài phút bên chiếc quan tài mở nắp để từ biệt người từng là chủ nhân hãng Castorp und Sohn. Rồi đến lễ chôn cất, khi đại sảnh đầy người và Mục sư Bugenhagen của nhà thờ Michaelis, cũng chính người đã làm phép rửa tội cho Hans Castorp, khoác chiếc cổ áo kiểu Tây Ban Nha và đọc điếu văn tưởng niệm, sau đó ngồi trong cỗ xe song mã đầu tiên ngay sau xe tang, mà sau đó là cả một hàng dài, rất dài, trò chuyện hết sức thân tình với cậu bé Hans Castorp, - và rồi cả chặng đời này nữa cũng kết thúc, và ngay sau đó Hans Castorp đổi nhà, đổi cả hoàn cảnh chung quanh, - mà đây đã là lần thứ hai trong cuộc đời non trẻ của chàng.

Ở nhà Tienappel. Và về tâm tính của Hans Castorp

Điều đó đã không xảy ra theo hướng làm hại chàng, bởi chàng được vào sống trong nhà viên Lãnh sự Tienappel, người giám hộ được chỉ định của mình, và ở đó chàng chẳng thiếu thốn gì cả: chắc chắn là không, xét về bản thân chàng, và cũng chẳng thiếu nốt gì về việc trông nom những quyền lợi tương lai của chàng, những thứ mà chàng còn chưa biết tới. Bởi viên Lãnh sự Tienappel, một người cậu của người mẹ quá cố của Hans, quản lý di sản nhà Castorp; ông cho bán các bất động sản, lại còn đứng ra lo cả việc thanh lý hãng Castorp und Sohn, Nhập cảng và Xuất cảng, và số tiền ông moi ra được vẫn còn vào khoảng bốn trăm nghìn mark, tức gia sản thừa kế của Hans Castorp, mà viên Lãnh sự Tienappel đem đầu tư vào những giấy tờ bảo đảm an toàn cho tài sản giám hộ, trong khi, không vì thế mà phương hại đến tình cảm họ hàng của mình, cứ đầu mỗi quý lại trừ cho bản thân hai phần trăm tiền hoa hồng trên số lãi đến hạn.

Nhà Tienappel nằm ở cuối một khu vườn trên đường Harvestehuder Weg và nhìn ra một khoảnh cỏ mà đến cọng cỏ dại nhỏ nhất cũng không được dung thứ, rồi ra những vườn hồng công cộng, rồi nữa là con sông. Mỗi sáng, mặc dù có xe ngựa đẹp, viên Lãnh sự vẫn đi bộ tới cơ sở làm ăn của mình ở khu phố cổ, để dù sao cũng có một chút vận động, bởi đôi khi ông bị dồn huyết lên đầu, và năm giờ chiều lại cũng đi bộ trở về, sau đó ở nhà Tienappel người ta dùng bữa trưa với tất cả vẻ văn nhã cần có. Ông là một người đàn ông nặng ký, mặc những thứ vải Anh hảo hạng nhất, có đôi mắt xanh nước nhô ra sau cặp kính vàng, một cái mũi hồng hào, bộ râu cằm kiểu thủy thủ màu xám, và một viên kim cương rực lửa trên ngón út ngắn đậm của bàn tay trái. Vợ ông mất đã lâu. Ông có hai con trai, Peter và James, trong đó một người làm hải quân nên ít ở nhà, người kia làm trong nghề buôn rượu của cha và là người thừa kế được định sẵn của hãng. Quán xuyến gia đạo từ nhiều năm nay là Schalleen, con gái một người thợ kim hoàn ở Altona, với những nếp bèo hồ cứng trắng quanh đôi cổ tay tròn lẳn như ống. Chính cô lo sao cho bàn điểm tâm và bàn ăn tối luôn đầy đặn các món nguội, với tôm, cá hồi, lươn, ức ngỗng và `Tomato Catsup` cho món thịt bò quay; cô giữ con mắt cảnh giác đối với đám gia nhân làm công mỗi khi viên Lãnh sự Tienappel đãi tiệc quý ông, và chính cô cũng là người, hết sức mình, thay mẹ chăm chút cậu bé Hans Castorp.

Hans Castorp lớn lên trong thứ thời tiết khốn khổ, giữa gió và sương nước, lớn lên trong chiếc áo mưa cao su màu vàng, nếu có thể nói như vậy, mà nhìn chung vẫn thấy mình khá khỏe khoắn trong đó. Hẳn là từ đầu chàng có hơi thiếu máu một chút, chính bác sĩ Heidekind cũng nói thế và mỗi ngày sau giờ học, vào bữa điểm tâm thứ ba, cho chàng uống một ly porter đầy đặn, - một thức uống bổ dưỡng, như ai cũng biết, mà bác sĩ Heidekind cho là có công hiệu tạo máu, và bất luận sao cũng làm dịu sinh khí của Hans Castorp theo một cách mà chàng lấy làm quý, tức là dễ chịu hỗ trợ cho xu hướng "ngà ngật", theo cách ông cậu Tienappel nói, nghĩa là há miệng mềm oặt và chẳng có lấy một ý nghĩ vững vàng nào mà mơ màng nhìn vào khoảng không. Ngoài ra thì chàng mạnh khỏe và ra tấm ra món, là một tay chơi quần vợt và chèo thuyền khá được, tuy chàng lại thích, thay vì tự mình cầm mái chèo, ngồi những chiều hè giữa tiếng nhạc và một đồ uống ngon trên sân hiên của quán phà Uhlenhorst mà ngắm những con thuyền thắp sáng, giữa chúng những con thiên nga lướt đi trên mặt nước phản chiếu muôn màu; và nếu người ta nghe chàng nói: điềm đạm, có lý lẽ, hơi rỗng và đơn điệu, thoảng chút thổ âm, vâng, hay nếu chỉ nhìn chàng thôi trong cái vẻ chỉnh tề tóc vàng ấy, với chiếc đầu nét cắt đẹp và bằng cách nào đó mang một dấu ấn cổ xưa, trong đó một niềm kiêu hãnh di truyền và vô thức bộc lộ dưới hình thức một vẻ ngái ngủ khô khan nào đó, thì không ai có thể nghi ngờ rằng Hans Castorp này là một sản phẩm nguyên chất và lương thiện của mảnh đất nơi đây, và đứng vào chỗ của mình một cách sáng chói, - chính chàng, nếu có từng thử xét mình theo phương diện ấy, hẳn cũng đã chẳng nghi ngờ lấy một khoảnh khắc.

Bầu không khí của đô thị biển lớn, bầu không khí ẩm ướt của cái nghiệp buôn bán bốn phương và đời sống sung túc, vốn là khí sống của cha ông chàng, chàng hít thở nó với niềm đồng cảm sâu xa, với sự tự nhiên và khoan khoái trọn vẹn. Những làn hơi nước, than và hắc ín, những mùi hăng của hàng hóa thuộc địa chất đống xộc vào mũi; ở các cầu cảng chàng thấy những cẩu quay chạy hơi nước khổng lồ mô phỏng vẻ điềm tĩnh, sự khôn ngoan và sức mạnh vĩ đại của những con voi làm việc, trong khi dỡ khỏi bụng những tàu biển đang nằm yên các khối nặng hàng tấn gồm bao tải, kiện, thùng gỗ, thùng phuy và bành hàng, chuyển vào toa xe lửa và nhà kho. Chàng thấy giới thương nhân trong những chiếc áo mưa cao su vàng, như chính chàng cũng mặc, đổ về sở giao dịch vào giờ trưa, nơi mà, theo chàng biết, sự việc diễn ra hết sức gay gắt, và người ta rất dễ có cớ phải vội vã gửi giấy mời một bữa đại yến để duy trì tín dụng của mình. Chàng thấy, và về sau chính ở đây là lĩnh vực quan tâm đặc biệt của chàng, cảnh chen chúc nơi các xưởng tàu, thấy những thân hình ma-mút của các tàu chạy tuyến Á châu và Phi châu đang nằm ụ, cao sừng sững, để lộ sống tàu và chân vịt, chống đỡ bằng những thanh giằng to như thân cây, trong vẻ vụng về quái vật của chúng trên cạn, phủ kín bởi những đạo quân tí hon gồm những người thợ đang cọ rửa, gò búa, quét vôi; thấy trên những đà tàu có mái che, quấn trong làn sương khói, những bộ xương sườn của các con tàu đang thành hình vươn cao, còn các kỹ sư, tay cầm bản vẽ thiết kế và bảng tính, truyền chỉ thị cho thợ thuyền, tất cả đều là những cảnh tượng quen thuộc với Hans Castorp từ thuở niên thiếu và chỉ khơi dậy trong chàng những cảm giác thuộc về quê nhà, êm ấm và thân tình, những cảm giác đạt tới đỉnh điểm trong những cảnh ngộ như khi, vào sáng Chủ nhật, chàng cùng James Tienappel hoặc người anh em họ Ziemßen của mình, Joachim Ziemßen, ăn sáng ở Alsterpavillon bằng những chiếc bánh mì tròn nóng với thịt hun khói và một ly rượu porto lâu năm, rồi sau đó, rít xì gà đầy tận hưởng, ngả người ra ghế. Vì chàng chân thực, nhất là ở chỗ ấy, rằng chàng thích sống cho tử tế, vâng, bất chấp vẻ ngoài thanh nhã của một cơ thể ít máu, chàng vẫn bám chặt, thân thiết và bền bỉ, như một hài nhi tham hưởng nơi bầu vú mẹ, vào những thú vui thô mộc của đời sống.

Chàng mang trên vai, một cách ung dung và không phải không có vẻ đĩnh đạc, nền văn minh cao độ mà tầng lớp trên thống trị của nền dân chủ đô thị thương mại truyền lại cho con cái. Chàng được tắm táp kỹ như một hài nhi và mặc đồ của chính nhà may được đám thanh niên trong giới chàng tín nhiệm. Kho đồ vải vóc nhỏ nhắn, tuyển chọn kỹ lưỡng, cất trong những ngăn tủ kiểu Anh của chàng được Schalleen chăm nom hết sức chu đáo; mãi cả khi Hans Castorp đi học xa, chàng vẫn đều đặn gửi chúng về nhà để giặt tẩy và vá sửa (bởi châm ngôn của chàng là ngoài Hamburg ra thì trong cả Đế quốc người ta không biết ủi đồ), và chỉ một chỗ sờn nơi cổ tay áo của một chiếc sơ mi màu xinh xắn cũng đủ làm chàng khó chịu dữ dội. Hai bàn tay chàng, tuy hình dáng chẳng đặc biệt quý tộc, vẫn được chăm sóc kỹ và có làn da tươi mát, đeo một chiếc nhẫn mắt xích bằng bạch kim và chiếc nhẫn triện gia truyền của ông nội, còn hàm răng, vốn hơi yếu và đã hư hại nhiều chỗ, thì được thế thêm bằng vàng.

Khi đứng và đi, chàng hơi ưỡn bụng ra trước, khiến ấn tượng tạo nên không thật là vững chãi; nhưng tư thế của chàng trên bàn ăn thì tuyệt hảo. Chàng lịch sự xoay phần thân trên thẳng thớm về phía người ngồi cạnh mà chàng chuyện trò cùng, một cách hiểu biết và hơi chất phác, khuỷu tay khép nhẹ sát người, trong khi xẻ miếng thịt gia cầm của mình hoặc khéo léo dùng đúng thứ dụng cụ trên bàn để lôi phần thịt hồng ra khỏi một chiếc càng tôm hùm. Nhu cầu đầu tiên của chàng sau bữa ăn là chén nước thơm để rửa tay, nhu cầu thứ hai là điếu thuốc lá Nga không đóng thuế mà chàng kiếm bằng những mánh lới đi cửa sau êm thấm. Nó đi trước điếu xì gà, một nhãn hiệu Bremen rất ngon tên là Maria Mancini, thứ mà rồi đây còn được nhắc tới nữa, và những chất độc cay nồng của nó hòa hợp một cách thỏa mãn biết bao với chất độc của cà phê. Hans Castorp giữ nguồn thuốc lá của mình khỏi những ảnh hưởng tai hại của hệ thống sưởi hơi nước bằng cách cất chúng dưới hầm, nơi mỗi buổi sáng chàng đi xuống để tiếp tế cho hộp thuốc lượng dùng trong ngày. Chàng chỉ miễn cưỡng mới ăn thứ bơ được dọn ra trước mặt thành cả tảng, thay vì dưới dạng những viên nho nhỏ có gân khía.

Người ta thấy rằng chúng tôi có ý kể ra mọi điều có thể khiến người ta mến chàng; nhưng chúng tôi phán đoán chàng không hề quá lời, không làm chàng khá hơn cũng không làm chàng tệ đi so với con người thực của chàng. Hans Castorp chẳng phải thiên tài mà cũng không phải kẻ đần độn, và nếu chúng tôi tránh dùng từ “tầm thường” để đặc tả chàng, thì đó là bởi những lý do không dính dáng gì đến trí thông minh của chàng, mà hầu như chẳng dính dáng gì đến con người đơn sơ của chàng nói chung, cụ thể là vì sự kính trọng đối với số phận của chàng, số phận mà chúng tôi có khuynh hướng gán cho một ý nghĩa nào đó vượt lên trên cá nhân. Đầu óc chàng đáp ứng các đòi hỏi của trường thực khoa mà không cần phải gắng sức quá mức, nhưng hẳn nhiên trong bất cứ hoàn cảnh nào, với bất cứ môn học nào, chàng cũng tuyệt nhiên chẳng có ý định làm điều ấy: không hẳn vì sợ tự làm mình đau, cho bằng vì chàng tuyệt đối không thấy lý do gì để phải thế, hay nói đúng hơn: _không thấy một lý do tuyệt đối nào_; và có lẽ chính vì vậy mà chúng tôi không muốn gọi chàng là tầm thường, bởi chàng cảm thấy sự thiếu vắng những lý do như thế theo một cách nào đó.

Con người sống không chỉ cuộc đời riêng của mình với tư cách một cá thể, mà, dù có ý thức hay không, còn sống cả cuộc đời của thời đại mình và của những người cùng thời với mình nữa; và cho dù y có xem những cơ sở chung và vô ngã của sự tồn tại ấy là điều đương nhiên tuyệt đối, là hiển nhiên, xa lạ với ý nghĩ đem chúng ra phê phán y hệt như chàng Hans Castorp tốt bụng thực sự vẫn thế, thì vẫn hoàn toàn có thể rằng y cảm thấy sự an ổn đạo đức của mình bị những khiếm khuyết của chúng làm tổn hại một cách mơ hồ. Trước mắt con người riêng lẻ có thể lơ lửng biết bao mục tiêu, ý hướng, hy vọng, triển vọng mang tính cá nhân, từ đó y rút ra xung lực cho những nỗ lực và hoạt động lớn lao; nhưng nếu cái vô ngã bao quanh y, bản thân thời đại, mặc cho bề ngoài năng động, kỳ thực lại thiếu vắng hy vọng và triển vọng, nếu nó âm thầm để lộ cho y thấy mình vô vọng, không lối ra và bối rối, đồng thời đối diện câu hỏi, được nêu ra một cách hữu thức hay vô thức nhưng dẫu sao vẫn được nêu ra, về một ý nghĩa tối hậu, vượt lên trên cá nhân, vô điều kiện, của mọi nỗ lực và hoạt động, chỉ bằng một sự im lặng rỗng tuếch, thì đặc biệt trong những trường hợp nhân tính lương thiện hơn, một tác dụng làm tê liệt nào đó của tình thế như thế hầu như là điều không tránh khỏi; tác dụng ấy, đi qua con đường tinh thần và đạo lý, thậm chí có thể lan sang phần thể xác và hữu cơ của cá nhân. Muốn có thiên hướng đối với những thành tựu đáng kể, vượt quá mức đòi hỏi tuyệt đối cần thiết, trong khi thời đại không biết trả lời thỏa đáng cho câu hỏi Để làm gì?, thì hoặc phải có một sự cô đơn và trực tiếp về mặt đạo lý, điều rất hiếm và thuộc bản chất anh hùng, hoặc phải có một sinh lực cực kỳ cường tráng. Hans Castorp không thuộc trường hợp nào trong hai trường hợp ấy, và bởi vậy, rốt cuộc, chàng quả là tầm thường thật, tuy theo một nghĩa rất đáng kính trọng.

Ở đây chúng tôi không chỉ nói tới thái độ nội tâm của chàng thanh niên trong thời gian đi học, mà còn cả những năm sau đó, khi chàng đã chọn xong nghề nghiệp thị dân của mình. Còn xét về đường tiến thân qua các lớp, thì chàng thậm chí đã phải học lại lớp này lớp nọ. Tuy nhiên, nhìn chung, gia thế của chàng, vẻ lịch lãm trong cung cách, và sau rốt cả một năng khiếu toán học khá đẹp dù không có đam mê, đã giúp chàng tiến lên; và khi đã có tấm chứng chỉ đủ điều kiện cho chế độ lính tình nguyện một năm, chàng quyết định học hết trường, chủ yếu, nói thật ra, vì như thế sẽ kéo dài được một trạng thái quen thuộc, tạm thời và chưa ngã ngũ, đồng thời kiếm thêm thời gian để suy nghĩ xem rốt cuộc Hans Castorp muốn trở thành gì nhất, bởi lâu lắm chàng không thật biết điều ấy, mà đến tận lớp trên cùng cũng vẫn chưa biết; rồi khi mọi việc đã ngã ngũ, mà nói rằng chính _chàng_ đã tự quyết thì e đã là quá lời, chàng cũng cảm thấy rằng nó hoàn toàn có thể đã ngã theo một hướng khác hẳn.

Nhưng có một điều dẫu sao vẫn đúng: từ bao giờ chàng cũng rất thích tàu thuyền. Hồi còn bé, chàng đã dùng bút chì lấp đầy các trang vở ghi bằng những hình vẽ thuyền lưới, sà lan chở rau và tàu năm cột buồm; và khi lên mười lăm, được đứng ở một vị trí ưu đãi để xem chiếc tàu bưu điện hai chân vịt mới mang tên “Hansa” được hạ thủy tại Blohm & Voß, chàng đã vẽ bằng màu nước một bức chân dung thật trúng và chính xác tới tận nhiều tiểu tiết của con tàu thanh mảnh ấy, bức tranh mà Konsul Tienappel treo trong phòng làm việc riêng của mình; riêng màu xanh lục như thủy tinh, trong suốt, của mặt biển đang dợn sóng ở đó được xử lý đầy yêu mến và khéo léo đến mức đã có người nói với Konsul Tienappel rằng đó là tài năng, và từ ấy hoàn toàn có thể thành một họa sĩ tàu biển giỏi, một lời nhận xét mà vị lãnh sự có thể bình thản thuật lại cho đứa con nuôi của mình, vì Hans Castorp chỉ cười hiền lành về điều ấy mà thôi và không hề, dù chỉ một thoáng, để mình dính vào những cơn quá quắt cùng những ý tưởng của hạng nghệ sĩ chết đói.

“Cháu chẳng có bao nhiêu đâu,” đôi khi cậu Tienappel nói với chàng. “Tiền của bác mai kia về căn bản là James với Peter hưởng, nghĩa là nó ở lại trong việc làm ăn, còn Peter lĩnh tiền niên kim của nó. Phần của cháu thì đặt khá ổn và đem lại cho cháu một món chắc chắn. Nhưng thời buổi này sống bằng tiền lãi thì chẳng có gì vui nữa đâu, nếu người ta không có ít ra gấp năm lần cháu, và nếu cháu muốn thành cái gì ở thành phố này, muốn sống theo lối cháu đã quen, thì cháu phải kiếm thêm cho ra trò, nên nhớ lấy, con trai ạ.”

Hans Castorp ghi nhớ điều ấy và bắt đầu nhìn quanh tìm một nghề nghiệp nhờ đó chàng có thể đứng vững trước bản thân mình và thiên hạ. Và một khi đã chọn rồi, việc ấy xảy ra theo gợi ý của lão Wilms ở hãng Tunder & Wilms, vì tại bàn đánh whist chiều thứ bảy ở nhà Konsul Tienappel, lão nói Hans Castorp nên đi học đóng tàu, đó là một ý hay, rồi vào làm chỗ lão, khi ấy lão sẽ để mắt tới cậu trai, thì chàng nghĩ rất cao về nghề của mình và thấy rằng đó tuy là một nghề phức tạp khủng khiếp và vất vả, nhưng đổi lại cũng là một nghề tuyệt hảo, quan trọng và lớn lao, dẫu sao đối với con người ôn hòa của chàng vẫn đáng chuộng hơn rất nhiều so với nghề của người anh em họ Ziemßen, tức Joachim Ziemßen, con trai của người chị em cùng cha khác mẹ với người mẹ quá cố của chàng, kẻ nhất quyết muốn làm sĩ quan. Mà Joachim Ziemßen thậm chí ngực cũng chưa thật khỏe hẳn; nhưng chính vì vậy, theo phán đoán có phần coi thường của Hans Castorp, một nghề ở ngoài trời, nơi khó mà nói nghiêm chỉnh tới lao động và căng thẳng trí óc, hẳn lại là cái thích hợp đối với cậu ấy. Vì trước lao động chàng có sự kính trọng lớn lao nhất, mặc dầu lao động, về phần riêng chàng, lại dễ làm chàng mệt.

Ở đây chúng tôi trở lại với những ám chỉ trước kia, tức là ám chỉ hướng tới giả thuyết rằng những tổn hại mà thời đại gây cho đời sống cá nhân có thể ảnh hưởng thẳng đến cả cơ thể vật chất của con người. Làm sao Hans Castorp lại có thể không kính trọng lao động cho được? Điều đó hẳn đã là trái tự nhiên. Trong tình thế mọi sự vốn thế, lao động tất phải hiện ra trước mắt chàng như cái đáng kính trọng vô điều kiện bậc nhất; về căn bản ngoài nó ra chẳng còn gì đáng kính, nó là nguyên lý mà trước nó người ta đứng vững hoặc không đứng vững, cái tuyệt đối của thời đại, và, có thể nói, nó tự trả lời cho chính mình. Vậy nên lòng kính trọng của chàng đối với nó mang tính chất tôn giáo và, theo chỗ chàng biết, là không hề khả nghi. Nhưng một câu hỏi khác lại là liệu chàng có yêu nó không; vì điều ấy thì chàng không thể, dẫu chàng kính trọng nó đến đâu, và đơn giản bởi lẽ nó không hợp với chàng. Lao động căng thẳng giày vò thần kinh chàng, nó sớm làm chàng kiệt sức, và chàng thú nhận hết sức công khai rằng thực ra chàng yêu thời giờ nhàn rỗi hơn nhiều, thứ thời giờ vô lo, không bị treo những quả nặng chì của nhọc nhằn, thứ thời gian mở rộng trước mặt người ta, không bị chia cắt bởi những chướng ngại phải nghiến răng vượt qua. Sự xung khắc ấy trong quan hệ của chàng với lao động, nói cho đúng, cần được giải quyết. Phải chăng có thể là thân thể chàng cũng như tinh thần chàng, trước hết là tinh thần, rồi nhờ đó cả thân thể nữa, hẳn đã tự nguyện hơn, vui vẻ hơn và bền bỉ hơn đối với lao động, nếu trong đáy linh hồn mình, ở nơi chính chàng cũng không tỏ tường, chàng đã có thể tin vào lao động như một giá trị vô điều kiện và một nguyên lý tự trả lời lấy mình, rồi tự trấn an bằng niềm tin ấy? Như vậy, vấn đề về sự tầm thường hay hơn-mức-tầm-thường của chàng lại được đặt ra, mà chúng tôi không muốn giải đáp dứt khoát. Bởi chúng tôi không tự xem mình là người ca tụng Hans Castorp, và vẫn chừa chỗ cho giả thuyết rằng trong đời chàng, lao động đơn giản chỉ là một điều gì đó đứng chắn đường hưởng thụ trọn vẹn Maria Mancini mà thôi. –

Về phần mình, chàng cũng không bị gọi vào nghĩa vụ quân sự. Bản tính nội tại của chàng kháng cự điều ấy và biết cách ngăn nó xảy ra. Cũng rất có thể là bác sĩ quân y cấp tham mưu, Dr. Eberding, người lui tới nhà ở Harvestehuder Weg, đã tình cờ nghe Konsul Tienappel nói trong câu chuyện rằng chàng Castorp trẻ tuổi sẽ xem sự cưỡng bách phải vũ trang như một sự xáo trộn nhạy cảm đối với việc học vừa mới bắt đầu của mình ở phương xa.

Đầu óc chàng, vận hành chậm rãi và điềm nhiên, nhất là vì Hans Castorp ngay cả khi ở xa nhà vẫn giữ thói quen dịu thần của bữa sáng Porter, dần đầy lên những hình học giải tích, vi phân, cơ học, hình họa chiếu và tĩnh học đồ hình; chàng tính toán lượng choán nước có tải và không tải, độ ổn định, sự thay đổi độ chúi và tâm nghiêng, dẫu đôi khi việc ấy cũng làm chàng vất vả. Các bản vẽ kỹ thuật của chàng, những hình sườn, đường nước và mặt cắt dọc ấy, không hẳn tốt bằng bức thể hiện có tính hội họa của chàng về chiếc “Hansa” giữa biển khơi; nhưng ở những chỗ cần nâng đỡ trực quan tinh thần bằng trực quan cảm tính, quét bóng mờ và tô các mặt cắt bằng những màu vật liệu tươi tắn, thì Hans Castorp vượt trước phần đông về độ khéo tay.

Khi về nhà nghỉ hè, hết sức sạch sẽ, ăn mặc hết sức chỉnh tề, với bộ ria mép đỏ hoe be bé trên khuôn mặt trẻ trung quý tộc đang ngái ngủ của mình, và hiển nhiên đang trên con đường tiến tới những địa vị đáng trọng trong đời, thì những người bận tâm tới việc công, đồng thời nắm rất rõ các quan hệ gia đình và nhân sự, mà ở một thành bang tự cai trị, phần lớn người ta đều như vậy, nhìn chàng công dân đồng hương của mình một cách dò xét và tự hỏi rồi đây chàng Castorp trẻ ấy sẽ lớn vào vai trò công cộng nào. Dẫu sao chàng cũng có truyền thống, tên tuổi chàng đã xưa và đẹp, và một ngày kia, điều ấy hầu như không thể không xảy ra, người ta sẽ phải tính đến con người chàng như một nhân tố chính trị. Khi ấy chàng sẽ ngồi trong nghị viện công dân hoặc ủy ban công dân mà làm luật, sẽ với tư cách danh dự chia sẻ những nỗi lo của chủ quyền, sẽ thuộc về một ban hành chính, có lẽ là ty tài chính hoặc ty xây dựng, và tiếng nói của chàng sẽ được lắng nghe và được tính vào. Người ta có thể tò mò xem sau này chàng Castorp trẻ sẽ tuyên xưng về phe nào. Bề ngoài có thể đánh lừa, nhưng kỳ thực chàng trông đúng như kiểu người mà giới Dân chủ _không_ thể trông cậy vào, và sự giống ông nội là điều không thể lẫn. Có lẽ chàng sẽ noi tính ông, trở thành một lực cản, một yếu tố bảo thủ chăng? Điều đó hoàn toàn có thể, và điều ngược lại cũng vậy. Bởi rốt cuộc chàng là kỹ sư, là một người thợ cả đóng tàu tương lai, một con người của giao thông thế giới và của kỹ thuật. Nên cũng có thể Hans Castorp sẽ theo phái cấp tiến, thành một kẻ xông xáo, một kẻ phá hủy phàm tục những công trình cũ và vẻ đẹp phong cảnh, không ràng buộc như một người Do Thái và vô kính trọng như một người Mỹ, thiên về sự đoạn tuyệt tàn nhẫn với những gì được truyền lại một cách khả kính hơn là sự bồi đắp thận trọng những điều kiện sống tự nhiên, và đẩy nhà nước vào những cuộc thí nghiệm liều lĩnh, điều ấy cũng có thể hình dung được. Liệu chàng có mang trong máu quan niệm rằng các ngài Hiền minh, trước mặt các ngài ấy đội lính gác đôi đứng nghiêm chào nơi tòa thị chính, là những người biết mọi sự rõ nhất hay chăng, hay chàng sẽ có khuynh hướng ủng hộ phe đối lập trong nghị viện công dân? Trong đôi mắt xanh dưới hàng mày vàng hung ấy không thể đọc ra câu trả lời nào cho những câu hỏi đầy tò mò công dân như thế, và chính Hans Castorp, tờ giấy còn trắng ấy, hẳn cũng chưa biết một câu trả lời nào cả.

Khi lên đường cho chuyến đi mà ở đó chúng ta gặp chàng, Hans Castorp đang ở tuổi hai mươi ba. Khi ấy chàng đã trải qua bốn học kỳ ở Trường Bách khoa Danzig và thêm bốn học kỳ nữa tại các trường kỹ thuật cao đẳng ở Braunschweig và Karlsruhe, mới đây vừa vượt qua kỳ thi chính thứ nhất không mấy vẻ vang, không có hồi nhạc chúc tụng nào, nhưng cũng khá đường hoàng, và đang sửa soạn vào Tunder & Wilms làm kỹ sư tập sự để nhận phần đào luyện thực hành tại xưởng tàu. Chính ở điểm ấy, con đường của chàng trước hết tạm thời rẽ sang khúc ngoặt sau đây.

Để thi kỳ chính ấy, chàng đã phải làm việc gắt gao và liên tục, đến nỗi khi trở về nhà, nom rốt cuộc vẫn xanh xao hơn mức hợp với tạng người của chàng. Bác sĩ Heidekind cứ mỗi lần gặp là lại mắng và đòi phải đổi không khí, nghĩa là: một cuộc đổi không khí cho ra trò. Norderney hay Wyk trên đảo Föhr, ông nói, lần này đều không đủ; và nếu hỏi ý ông, thì trước khi ra xưởng tàu, Hans Castorp phải lên vùng núi cao nghỉ vài tuần.

Như thế cũng hay đấy, Konsul Tienappel nói với người cháu, đồng thời là con nuôi, của mình; nhưng mùa hè này thì đường ai nấy đi, bởi có bốn ngựa kéo cũng chẳng lôi nổi chính ông, Konsul Tienappel, lên vùng núi cao. Nơi ấy không hợp với ông, ông cần một áp suất không khí cho phải lẽ, nếu không thì ông lên cơn ngay. Hans Castorp cứ nên một mình vui vẻ lên miền núi cao. Chàng nên đến thăm Joachim Ziemßen.

Đó là một gợi ý tự nhiên. Bởi Joachim Ziemßen đang ốm, không phải ốm như Hans Castorp, mà ốm theo một cách thật sự đáng ngại, đến nỗi đã từng là một phen kinh hoàng lớn. Vốn từ trước anh đã hay bị viêm đường hô hấp và sốt, rồi một ngày kia quả nhiên đã có đờm máu, và Joachim phải cuống quýt đi Davos, trong nỗi buồn rầu khổ sở vô cùng của chính anh, vì anh vừa đúng lúc đứng trước đích đến của mọi ước vọng. Trong mấy học kỳ, theo ý muốn của gia đình, anh đã học luật; nhưng do một thôi thúc không cưỡng nổi, anh đã đổi hướng, xin vào làm học viên sĩ quan, và cũng đã được nhận. Vậy mà nay anh đã ngồi ở Dưỡng đường Quốc tế “Berghof” (bác sĩ điều hành: Cố vấn Y khoa Dr. Behrens) hơn năm tháng, buồn chán đến chết đi sống lại, như anh viết trên những tấm bưu thiếp. Cho nên, nếu Hans Castorp đằng nào cũng muốn làm một điều nho nhỏ cho bản thân trước khi nhận chức ở Tunder & Wilms, thì chẳng có gì tự nhiên hơn là chàng cũng lên đó để bầu bạn với người anh em họ đáng thương của mình; đối với cả hai bên, đó là điều dễ chịu nhất.

Lúc chàng quyết định thực hiện chuyến đi ấy, mùa hè đã vào độ rực nhất. Những ngày cuối tháng Bảy đã tới rồi.

Chàng đi trong ba tuần.