Núi thần — Chương 2
Chương 2 / 8 · Bài review Núi thần
Đến nơi
Một chàng thanh niên rất đỗi bình thường lên đường giữa độ hè cao điểm từ Hamburg, quê nhà của chàng, tới Davos-Platz thuộc Graubünden. Chàng đi thăm trong ba tuần.
Từ Hamburg lên tận đó quả là một chuyến đi xa; thực ra là quá xa so với một kỳ lưu lại ngắn ngủi đến thế. Phải đi qua đất đai của lắm bậc quân vương, lên dốc rồi xuống dốc, từ cao nguyên Nam Đức đổ xuống bờ Biển Schwaben rồi đi thuyền vượt những làn sóng nhấp nhô của nó, băng qua những vực nước xưa kia từng bị coi là không dò nổi đáy.
Từ đó trở đi, cuộc hành trình vốn bấy lâu nay diễn ra hào sảng theo những đường thẳng trực tiếp bắt đầu tản mác vụn vặt. Có những chặng dừng và những điều rườm rà phiền phức. Đến Rorschach, trên đất Thụy Sĩ, người ta lại phó mình cho đường sắt, nhưng trước mắt cũng chỉ tới được Landquart, một ga nhỏ miền Alpes, nơi buộc phải đổi tàu. Đó là một tuyến đường sắt khổ hẹp; sau một hồi đứng chờ lâu trong vùng gió lộng và kém phần duyên dáng, người ta mới lên tàu, và đúng vào lúc chiếc đầu máy nhỏ nhưng xem ra có sức kéo khác thường ấy chuyển động, phần thật sự phiêu lưu của cuộc đi đường mới bắt đầu: một cuộc leo dốc đột ngột mà dai dẳng, tưởng chừng không chịu chấm dứt. Bởi ga Landquart, so ra, vẫn còn ở độ cao vừa phải; còn bây giờ thì con đường đá hoang dại và dồn dập kia quả thật đang dẫn thẳng vào miền núi cao.
Hans Castorp, đó là tên chàng thanh niên ấy, ở một mình trong toa nhỏ bọc nệm xám, với chiếc túi xách da cá sấu, món quà của ông cậu đồng thời là cha nuôi chàng, ngài Lãnh sự Tienappel, nhân đây cũng nên nêu luôn cái tên ấy, với chiếc áo choàng mùa đông đung đưa trên một cái móc, và cuộn chăn du lịch của chàng; chàng ngồi bên cửa sổ đã hạ xuống, và vì buổi chiều mỗi lúc một se lạnh hơn nên chàng, cậu con cưng của gia đình, đứa trẻ được nuông chiều, đã dựng cổ chiếc áo khoác hè rộng theo mốt, may lót lụa của mình lên. Bên cạnh chàng trên ghế là một cuốn sách bìa mềm nhan đề “_Ocean steamships_”, hồi đầu cuộc hành trình chàng còn thỉnh thoảng giở ra nghiên cứu; nhưng bây giờ nó nằm đó bị bỏ mặc, trong khi hơi thở lùa vào của chiếc đầu máy đang thở hổn hển nặng nhọc làm bẩn bìa sách bằng những hạt than.
Hai ngày đường đủ tách một con người, nhất là một con người trẻ tuổi còn chưa bén rễ vững vào đời, khỏi thế giới thường nhật của mình, khỏi tất cả những gì người ấy gọi là bổn phận, mối quan tâm, nỗi lo, triển vọng, nhiều hơn xa điều người ấy hẳn từng có thể mơ tới trong chuyến xe ngựa ra ga. Không gian cuồn cuộn xoay vần và tháo chạy giữa người ấy với nơi chôn rễ của mình phô bày những sức mạnh mà người ta thường tưởng chỉ riêng thời gian mới có; từ giờ nọ sang giờ kia, nó tạo ra những biến đổi nội tâm rất giống những biến đổi do thời gian gây nên, mà ở một ý nghĩa nào đó lại còn vượt hơn. Cũng như thời gian, nó sinh ra sự lãng quên; nhưng nó làm như thế bằng cách tách con người ra khỏi các mối ràng buộc của mình và đặt người ấy vào một trạng thái tự do, nguyên sơ, đến nỗi ngay cả một tay câu nệ, một gã thị dân hẹp hòi, thoắt cái cũng hóa thành một thứ du đãng. Người ta nói thời gian là Lethe; nhưng không khí phương xa cũng là một thứ rượu ấy, và giả như nó tác động kém triệt để hơn, thì bù lại nó tác động nhanh hơn nhiều.
Hans Castorp cũng nếm trải điều đó. Chàng vốn không có ý định coi chuyến đi này là đặc biệt quan trọng, không có ý định nội tâm dấn mình vào nó. Ý nghĩ của chàng trái lại là phải giải quyết cho xong thật nhanh, vì nó buộc phải được giải quyết cho xong, rồi trở về nguyên vẹn vẫn là chính mình như lúc đã lên đường, và tiếp tục cuộc sống đúng ngay chỗ chàng đã phải tạm đặt nó xuống trong chốc lát. Mới hôm qua thôi, chàng còn hoàn toàn bị giam chặt trong vòng suy nghĩ quen thuộc, còn bận tâm đến chuyện vừa xảy ra gần đây, kỳ thi của chàng, và chuyện sắp xảy ra tức khắc, việc chàng vào thực hành tại Tunder & Wilms (xưởng đóng tàu, nhà máy cơ khí và xưởng nồi hơi), và nhìn lướt qua ba tuần sắp tới với tất cả vẻ sốt ruột mà tính khí chàng cho phép. Nhưng giờ đây chàng lại cảm thấy như thể hoàn cảnh đòi hỏi nơi chàng toàn bộ sự chú ý, và như thể không thể nào hờ hững nhún vai cho qua được. Việc bị nhấc bổng lên những vùng mà chàng chưa từng hô hấp và nơi, như chàng biết, những điều kiện sinh tồn hoàn toàn xa lạ, mỏng thưa một cách đặc biệt, đang ngự trị, việc ấy bắt đầu kích động chàng, bắt đầu làm đầy lòng chàng bằng một nỗi ngại ngần nào đó. Quê nhà và trật tự không chỉ ở xa phía sau; điều cốt yếu là chúng nằm sâu hàng sải bên dưới chàng, mà chàng vẫn còn tiếp tục vượt lên trên nữa. Lơ lửng giữa chúng và cái chưa biết, chàng tự hỏi không hiểu trên ấy rồi mình sẽ ra sao. Có lẽ nào thật thiếu khôn ngoan và có hại khi chàng, sinh ra và quen thở chỉ cách mặt biển vài mét, lại đột ngột để cho mình bị đưa tới những miền cực đoan này, mà không lưu lại ít nhất vài ngày ở một nơi có cao độ trung gian? Chàng mong được tới đích, vì chàng nghĩ rằng một khi đã ở trên ấy, người ta sẽ sống như ở bất cứ đâu, chứ không như lúc này, giữa cơn leo dốc, cứ bị nhắc nhở mãi rằng mình đang ở trong những tầng giới bất tương xứng nào. Chàng nhìn ra ngoài: con tàu uốn mình trên con đèo hẹp; người ta thấy những toa phía trước, thấy đầu máy đang phun ra trong nỗi nhọc nhằn của nó những khối khói nâu, xanh, đen rồi tan tản đi. Dưới sâu bên phải, nước réo ầm; bên trái, những cây vân sam sẫm màu vươn lên giữa những tảng đá, hướng về một bầu trời xám như đá. Những đường hầm tối đen như mực hiện ra, và khi lại thành ban ngày, những vực sâu mênh mông có xóm làng nằm bên dưới bỗng mở ra. Chúng khép lại, rồi những eo hẹp mới nối tiếp, với tàn tuyết còn đọng trong các khe và kẽ nứt. Có những chặng dừng bên những nhà ga tồi tàn bé nhỏ, những ga cụt mà đoàn tàu lại rời đi theo hướng ngược lại, khiến người ta hoang mang, không còn biết mình đang đi thế nào và cũng không còn nhớ nổi các phương trời nữa. Những viễn tượng hùng vĩ mở ra trước mắt về thế giới đỉnh núi của miền cao sơn, chất chồng lên nhau một cách thiêng liêng như ảo cảnh, nơi người ta đang vươn lên và đi sâu vào, rồi lại mất hút khỏi con mắt đầy kính sợ sau những khúc ngoặt của lối đi. Hans Castorp nghĩ rằng chàng đã bỏ lại dưới mình vành đai của những cây lá rộng, và có lẽ cả vành đai của loài chim hót nữa, nếu chàng không lầm, và ý nghĩ về sự chấm dứt cùng nghèo đi ấy khiến chàng, bị một cơn choáng nhẹ và khó ở xâm đến, đưa tay che mắt trong hai giây. Rồi cũng qua. Chàng thấy cuộc leo dốc đã kết thúc, đỉnh đèo đã bị vượt qua. Giờ đây con tàu lăn đi khoan khoái hơn trên nền bằng phẳng của thung lũng.
Lúc ấy vào khoảng tám giờ, ban ngày vẫn còn nấn ná. Một hồ nước hiện ra ở phía xa phong cảnh; mặt nước xám chì, và những cánh rừng vân sam đen sẫm từ ven bờ nó bò lên các sườn cao xung quanh, lên cao nữa thì thưa dần, mất hút đi và để lại trơ ra những vách đá trụi mù sương. Tàu dừng ở một ga nhỏ, đó là Davos-Dorf, Hans Castorp nghe người ta gọi ngoài kia như thế, vậy là chẳng bao lâu nữa chàng sẽ tới đích. Và đột nhiên chàng nghe bên cạnh tiếng Joachim Ziemßen, giọng Hamburg chậm rãi của người anh em họ, đang nói: “Này, xuống đi thôi”; và khi ngoảnh ra nhìn, chàng thấy chính Joachim đứng dưới cửa sổ toa mình trên sân ga, mặc chiếc ulster màu nâu, hoàn toàn không đội mũ nón gì, trông khỏe mạnh hơn bao giờ hết trong đời. Cậu cười và lại nói:
“Ra đây đi, cậu, đừng ngượng!”
“Nhưng tớ còn chưa tới mà,” Hans Castorp nói, ngơ ngác, vẫn còn ngồi nguyên.
“Tới rồi, cậu tới rồi. Đây là làng. Từ đây lên dưỡng đường gần hơn. Tớ có đem xe theo. Đưa đồ đây nào.”
Và vừa cười vừa bối rối, trong cơn xao động của phút đến nơi và cuộc trùng phùng, Hans Castorp đưa ra cho cậu chiếc túi xách và áo choàng mùa đông, cuộn chăn du lịch cùng gậy và ô, sau hết cả cuốn “_Ocean steamships_”. Rồi chàng chạy dọc hành lang hẹp và nhảy xuống sân ga để thực hiện cuộc chào hỏi đích thực, và có thể nói là đến lúc ấy mới thật mang tính riêng tư, với người anh em họ của mình; cuộc chào hỏi ấy diễn ra không chút bồng bột, như giữa những người có nề nếp lạnh lùng và khô cứng. Nói ra thì lạ, nhưng từ xưa nay họ vẫn tránh gọi nhau bằng tên riêng, chỉ vì e ngại một sự nồng ấm của trái tim quá mức. Nhưng vì họ cũng không thể xưng hô với nhau bằng họ được, nên rốt cuộc đành chỉ thu gọn vào tiếng cậu. Đó là thói quen đã bén rễ giữa hai người anh em họ.
Một người đàn ông mặc đồng phục hầu, đội mũ viền dải bện, đứng nhìn họ, Joachim trẻ tuổi trong dáng điệu quân nhân, bắt tay nhau thật nhanh và hơi ngượng nghịu; rồi ông ta bước lại xin vé hành lý của Hans Castorp, vì ông ta là người quản lý của dưỡng đường quốc tế “Berghof” và có ý định đi lấy chiếc va-li lớn của vị khách từ ga “Platz”, trong khi hai cậu đi thẳng bằng xe tới bữa tối. Người này đi khập khiễng một cách rõ rệt, và vì thế câu đầu tiên Hans Castorp hỏi Joachim Ziemßen là:
“Ông ta là cựu binh chiến tranh à? Sao lại tập tễnh thế?”
“Vâng, cảm ơn!” Joachim đáp, có phần chua chát. “Cựu binh chiến tranh cơ đấy! Ông ta bị ở đầu gối, hay đúng hơn đã từng bị, vì rồi ông ta cho lấy hẳn xương bánh chè ra.”
Hans Castorp cố sực nhớ thật nhanh. “À, ra thế!” chàng nói, vừa đi vừa ngẩng đầu nhìn lướt quanh. “Nhưng cậu chớ có định bảo tớ rằng cậu vẫn còn thứ ấy nhé? Trông cậu như đã thành sĩ quan thực thụ và vừa ở cuộc diễn tập về.” Nói thế rồi chàng liếc người anh em họ từ phía nghiêng.
Joachim cao hơn và vạm vỡ hơn chàng, là hiện thân của sức lực tuổi trẻ và như được sinh ra cho quân phục. Cậu thuộc kiểu người rất sạm mà xứ sở tóc hoe của mình không hiếm khi sinh ra, và làn da vốn đã ngăm của cậu vì nắng đốt mà gần như mang màu đồng. Với đôi mắt đen lớn và hàng ria mép sẫm phía trên khuôn miệng đầy đặn, đẹp nét, cậu hẳn đã đẹp trai hẳn lên, nếu không có đôi tai vểnh. Đó từng là nỗi buồn, nỗi đau đời duy nhất của cậu cho tới một thời điểm nào đó. Bây giờ cậu đã có những nỗi lo khác. Hans Castorp nói tiếp:
“Thế thì cậu sẽ về dưới ấy cùng tớ chứ? Tớ thật chẳng thấy có gì ngăn trở cả.”
“Về ngay với cậu à?” người anh em họ hỏi, quay đôi mắt lớn về phía chàng; đôi mắt ấy vốn xưa nay vẫn hiền hòa, nhưng trong năm tháng này đã nhận lấy một vẻ hơi mệt mỏi, thậm chí buồn bã. “Ngay là bao giờ?”
“À, ba tuần nữa.”
“À ra thế, trong đầu cậu đã lại lên đường về nhà rồi đấy nhỉ,” Joachim đáp. “Thôi, cứ chờ xem, cậu vừa mới tới kia mà. Ba tuần dĩ nhiên gần như chẳng là gì đối với bọn tớ trên này, nhưng với cậu, người lên đây thăm và đằng nào cũng chỉ ở ba tuần, thì đó vẫn là một quãng thời gian kha khá. Trước hết cứ để mình thích nghi khí hậu đã, cậu sẽ thấy, chuyện ấy chẳng dễ đâu. Với lại khí hậu cũng chưa phải là cái kỳ quặc duy nhất ở chỗ bọn tớ. Ở đây cậu sẽ còn thấy lắm điều mới lạ, cứ chờ mà xem. Còn cái cậu nói về tớ thì thật không trôi tuột được nhanh như vậy đâu, cậu ạ; cái kiểu ‘ba tuần nữa về nhà’ ấy là lối nghĩ từ dưới kia. Đúng là tớ có rám nắng, nhưng chủ yếu là cháy tuyết thôi, chẳng nói lên nhiều nhặn gì, như Behrens vẫn cứ nói mãi, và trong lần tổng khám gần đây nhất ông ấy bảo rằng chắc hẳn còn phải sáu tháng nữa.”
“Sáu tháng? Cậu điên à?” Hans Castorp kêu lên. Hai người vừa ngồi vào chiếc xe mui trần màu vàng trước tòa nhà ga, vốn cũng chẳng hơn một cái chòi là bao, và trong khi đôi ngựa nâu bắt đầu kéo xe đi, Hans Castorp phẫn nộ xoay trở trên tấm đệm cứng. “Sáu tháng? Cậu đã ở đây gần sáu tháng rồi còn gì! Người ta nào có lắm thời giờ đến thế!”
“Ừ, thời gian,” Joachim nói, vừa nhìn thẳng phía trước vừa gật đầu mấy cái, chẳng buồn để tâm đến nỗi phẫn nộ chân thành của người anh em họ. “Ở đây người ta tiêu xài thời gian của con người ghê lắm, cậu không thể tưởng được đâu. Trước mắt họ, ba tuần cũng như một ngày. Rồi cậu sẽ thấy. Rồi cậu sẽ học được tất cả những điều đó,” cậu nói, rồi thêm: “Ở đây người ta đổi khác hết mọi khái niệm.”
Hans Castorp không rời mắt nhìn người anh em họ từ phía bên.
“Nhưng quả cậu đã hồi phục tuyệt lắm đấy chứ,” chàng vừa lắc đầu vừa nói.
“Ừ, cậu thấy thế à?” Joachim đáp. “Phải không nào, chính tớ cũng nghĩ vậy!” cậu nói, và tựa mình cao hơn vào đệm; nhưng rồi lập tức lại lấy một tư thế xiên xiên. “Tớ đúng là đỡ hơn,” cậu giải thích; “nhưng khỏe hẳn thì vẫn chưa. Phía trên bên trái, chỗ trước kia nghe có tiếng ran, giờ chỉ còn nghe khò khè thôi, chỗ ấy chưa đáng ngại lắm, nhưng phía dưới thì vẫn còn _rất_ khò khè, rồi ở khoang liên sườn thứ hai cũng có tiếng.”
“Cậu thành bác học thật rồi đấy,” Hans Castorp nói.
“Ừ, trời biết đấy, thứ học vấn xinh xắn thật. Giá mà tớ đã lại đổ mồ hôi quên phắt nó đi trong quân ngũ rồi,” Joachim đáp. “Nhưng tớ vẫn còn đờm,” cậu nói, kèm theo một cái nhún vai vừa lơ đãng vừa gay gắt, rất không hợp với nét mặt cậu, rồi cho người anh em họ thấy một vật mà cậu kéo nửa chừng ra khỏi túi sườn chiếc ulster phía cậu quay sang và lập tức cất lại ngay: một chiếc lọ dẹt, uốn cong, bằng thủy tinh xanh có nắp kim loại. “Hầu hết bọn tớ trên này đều có thứ ấy,” cậu nói. “Ở chỗ bọn tớ nó còn có một cái tên nữa, một biệt danh hẳn hoi, vui lắm. Cậu đang ngắm cảnh à?”
“Hùng vĩ thật!” Hans Castorp thốt lên.
“Cậu thấy thế à?” Joachim hỏi.
Hai người đã đi theo con đường xây cất lộn xộn chạy song song với đường sắt một quãng theo trục thung lũng, rồi rẽ sang trái băng qua đường ray hẹp, vượt qua một dòng nước, và giờ đây đang lóc cóc trên con đường xe lên dốc thoai thoải, hướng về những sườn núi rừng cây, về phía nơi trên một cao nguyên cỏ thấp nhô ra, mặt tiền quay về tây nam, một tòa nhà dài có tháp vòm, vì dày đặc những lô-gia ban công mà nhìn từ xa thấy như lỗ chỗ, xốp rỗng như một miếng bọt biển, vừa mới lên những ngọn đèn đầu tiên. Chạng vạng xuống rất nhanh. Sắc đỏ nhạt của buổi chiều, trong chốc lát đã từng làm sinh động bầu trời phủ kín đều đặn, nay đã phai hẳn, và trong thiên nhiên ngự trị cái trạng thái chuyển tiếp không màu, mất hồn và buồn bã ấy, trạng thái đi ngay trước khi đêm tối ập xuống trọn vẹn. Thung lũng có người ở, dài và hơi uốn lượn, giờ đây sáng đèn khắp nơi, cả dưới đáy lẫn đây đó trên hai sườn dốc hai bên, nhất là sườn phải, vốn mở rộng, và trên đó các công trình xây cất leo lên theo từng bậc thềm. Bên trái, những lối mòn chạy lên các sườn cỏ rồi mất hút trong màu đen đục của rừng lá kim. Những phông núi xa hơn, ở phía cuối nơi thung lũng thắt lại thành cửa ra, hiện lên một màu xanh phiến thạch khô lạnh. Vì gió đã nổi, cái se lạnh của buổi tối trở nên thật rõ.
“Không, nói thật là tớ chẳng thấy nó áp đảo đến thế,” Hans Castorp nói. “Những sông băng, những cánh tuyết vĩnh cửu và những gã khổng lồ núi non hùng vĩ đâu cả rồi? Mấy thứ này, theo tớ thấy, chẳng cao lắm.”
“Có chứ, chúng cao đấy,” Joachim đáp. “Cậu hầu như nhìn thấy ranh giới cây cối ở khắp nơi, nó hiện ra sắc lắm mà; vân sam chấm dứt ở đó, và cùng với chúng thì mọi thứ cũng chấm dứt, hết rồi, chỉ còn đá, như cậu thấy đấy. Đằng kia, bên phải Schwarzhorn, cái mũi nhọn đó, cậu còn có cả một sông băng nữa kìa, cậu còn thấy màu xanh ấy không? Nó không lớn, nhưng vẫn là một sông băng ra hồn, sông băng Scaletta. Piz Michel và Tinzenhorn trong chỗ yên núi kia, từ đây cậu không nhìn thấy, cũng nằm trong tuyết suốt quanh năm.”
“Trong tuyết vĩnh cửu,” Hans Castorp nói.
“Phải, vĩnh cửu, nếu cậu muốn. Nhưng tất cả những thứ đó quả cũng cao đấy. Chỉ có điều chính chúng ta đang ở chỗ cao khiếp ghê, cậu phải nhớ thế. Một nghìn sáu trăm mét trên mực nước biển. Vì vậy những chỗ nhô cao kia không hiện ra rõ lắm.”
“Phải, leo lên đây thật là một phen! Tớ đã phát hoảng lên, có thể nói với cậu như thế. Một nghìn sáu trăm mét! Nếu tính ra thì cũng xấp xỉ năm nghìn bộ rồi còn gì. Trong đời tớ chưa bao giờ ở chỗ cao đến thế.” Và Hans Castorp tò mò hít một hơi thật sâu, dò dẫm, thứ không khí xa lạ ấy. Nó tươi mát, và không hơn gì nữa. Nó thiếu hương vị, thiếu nội dung, thiếu độ ẩm; nó đi vào rất nhẹ và chẳng nói gì với tâm hồn.
“Tuyệt diệu!” chàng lịch sự nhận xét.
“Phải, đây là một thứ không khí nổi danh. Vả lại, tối nay quang cảnh này không tự phô ra ở mặt thuận lợi của nó. Có những lúc nó trông khá hơn, nhất là khi có tuyết. Nhưng rồi người ta cũng ngắm nó đến phát chán. Tất cả chúng tôi trên này, cậu cứ tin đi, đã chán nó đến mức không sao nói xiết,” Joachim nói, và miệng chàng méo đi vì một vẻ ghê tởm có gì đó hơi quá đà, không kìm giữ, khiến gương mặt chàng lại càng kém duyên.
“Cậu nói năng lạ lắm,” Hans Castorp nói.
“Tớ nói năng lạ lắm sao?” Joachim hỏi, thoáng có vẻ lo lắng, và quay sang người em họ...
“Không, không, tha lỗi, chắc chỉ trong một thoáng tớ thấy thế thôi!” Hans Castorp vội nói. Nhưng điều chàng muốn nói chính là cái lối “chúng tôi trên này” mà Joachim đã dùng đến lần thứ ba hay thứ tư rồi, và bằng một cách nào đó, khiến chàng cảm thấy bức bối và kỳ dị.
“Dưỡng đường của chúng tôi còn ở cao hơn cả khu làng, như cậu thấy đấy,” Joachim nói tiếp. “Năm mươi mét. Trong tờ quảng cáo người ta viết là ‘một trăm’, nhưng thực ra chỉ có năm mươi thôi. Cao nhất trong hết thảy là dưỡng đường Schatzalp ở đằng kia, từ đây không nhìn thấy được. Mùa đông họ phải chở xác chết xuống bằng xe trượt băng bob, vì khi ấy đường không còn đi xe được nữa.”
“Xác chết của họ ư? À, thế à! Này, nghe đây!” Hans Castorp kêu lên. Và đột nhiên chàng bật cười, cười dữ dội, cười không sao nén nổi, đến nỗi lồng ngực rung lên và khuôn mặt hơi tê cứng vì gió lạnh của chàng nhăn lại thành một vẻ nhăn nhó đau nhẹ. “Bằng xe trượt băng bob! Mà cậu kể với tớ bằng giọng bình thản đến thế à? Mới năm tháng mà cậu đã hóa ra cay độc đến thế rồi!”
“Chẳng cay độc chút nào,” Joachim đáp, nhún vai. “Sao lại thế? Đối với xác chết thì cũng vậy cả thôi mà... Vả lại, quả cũng có thể người ta thành ra cay độc ở chỗ chúng tôi trên này. Chính Behrens cũng là một tay cay độc lão luyện như thế đấy, nhưng bên cạnh đó lại là một tay cừ khôi, một cựu sinh viên Corps và, hình như, một phẫu thuật gia xuất sắc, cậu sẽ thích ông ấy. Rồi còn có Krokowski, anh trợ lý, một cái nhân vật lanh lợi hết sức. Trong tờ quảng cáo đặc biệt có nhấn mạnh đến công việc của ông ta. Bởi ông ta làm trò mổ xẻ tâm hồn với các bệnh nhân.”
“Ông ta làm gì cơ? Mổ xẻ tâm hồn ư? Kinh tởm quá!” Hans Castorp kêu lên, và lúc này sự vui vẻ của chàng đã hoàn toàn thắng thế. Chàng không còn làm chủ nổi nó nữa; sau bao nhiêu chuyện khác, cái vụ mổ xẻ tâm hồn kia đã đánh gục chàng hẳn, và chàng cười đến nỗi nước mắt trào ra dưới bàn tay chàng, khi chàng cúi gập người lấy tay che mắt. Joachim cũng cười thành tiếng, cười rất sảng khoái, có vẻ như điều đó làm chàng dễ chịu, và thành ra hai chàng trai trẻ bước xuống xe trong một tâm trạng vô cùng phấn chấn, khi cỗ xe cuối cùng đã chở họ nhích từng bước trên lối lên dốc ngoằn ngoèo, dừng trước cổng dưỡng đường quốc tế Berghof.
Số 34
Ngay bên phải, giữa cổng chính và tiền sảnh chắn gió, là buồng gác cổng, và từ đó một người hầu mang dáng dấp Pháp, trước đó ngồi bên điện thoại đọc báo, trong bộ đồng phục xám giống người đàn ông khập khiễng ở nhà ga, bước ra đón họ và dẫn họ đi qua đại sảnh sáng choang, bên trái đại sảnh là những phòng sinh hoạt chung. Lúc đi ngang, Hans Castorp nhìn vào và thấy trống không. Chàng hỏi khách khứa đâu cả, và người em họ đáp:
“Đang trong liệu pháp nằm nghỉ. Hôm nay tớ được ra ngoài, vì tớ muốn đi đón cậu. Không thì sau bữa tối tớ cũng nằm ngoài ban công.”
Chẳng còn thiếu bao nhiêu nữa là Hans Castorp lại bị cơn cười khuất phục.
“Cái gì, đến đêm hôm sương gió mà các cậu còn nằm ngoài ban công à?” chàng hỏi, giọng chao đảo...
“Phải, đó là quy định. Từ tám đến mười. Nhưng thôi nào, vào xem phòng cậu đi rồi rửa tay.”
Họ bước vào thang máy, bộ máy điện của nó do người Pháp điều khiển. Trong lúc đi lên, Hans Castorp lau khô mắt.
“Tớ rã rời và kiệt sức vì cười đây,” chàng nói, vừa thở bằng miệng. “Cậu đã kể cho tớ lắm chuyện quái đản quá... Cái vụ mổ xẻ tâm hồn ấy quá sức chịu đựng, không nên lôi nó ra mới phải. Ngoài ra chắc tớ cũng hơi mệt sau chuyến đi. Chân cậu có lạnh ghê như tớ không? Đồng thời mặt lại nóng bừng lên, khó chịu thật. Có phải ta sắp ăn ngay không? Tớ nghĩ là tớ đói rồi. Trên này người ta ăn có ra hồn không?”
Họ lặng lẽ đi dọc theo tấm thảm xơ dừa của hành lang hẹp. Những chụp đèn kính mờ hình chuông từ trên trần đổ xuống một thứ ánh sáng nhợt nhạt. Những bức tường ánh lên màu trắng cứng, phủ một lớp sơn dầu như véc-ni. Một cô y tá hiện ra ở đâu đó, đội mũ trắng, trên sống mũi là một chiếc pince-nez mà sợi dây nàng vắt ra sau tai. Rõ ràng nàng theo đạo Tin Lành, không có sự tận hiến thực sự nào với nghề nghiệp, lại tò mò và nặng nề vì bị nỗi buồn chán quấy rầy. Ở hai chỗ trên hành lang, trên sàn trước những cánh cửa sơn trắng có đánh số, đặt vài chiếc bình, những thứ bình lớn bụng phình, cổ ngắn, mà lúc ấy Hans Castorp tạm quên chưa hỏi dùng để làm gì.
“Đây là chỗ của cậu,” Joachim nói. “Số ba mươi tư. Bên phải là tớ, còn bên trái là một cặp vợ chồng Nga, phải nói là hơi cẩu thả và ồn ào, nhưng không thu xếp khác được. Nào, cậu thấy sao?”
Cánh cửa là loại cửa kép, khoảng rỗng bên trong có mắc áo. Joachim đã bật đèn trần, và dưới ánh sáng rung rinh của nó, căn phòng hiện ra vui tươi và yên bình, với bộ đồ đạc trắng, thực dụng, những tấm giấy dán tường cũng trắng, dày và có thể giặt được, nền vải sơn sạch sẽ, cùng những tấm màn vải lanh thêu giản dị mà vui mắt theo thị hiếu hiện đại. Cửa ban công mở sẵn; người ta nhìn thấy ánh đèn của thung lũng và nghe vẳng lại tiếng nhạc khiêu vũ xa xăm. Joachim tốt bụng đã cắm vài bông hoa vào một chiếc bình nhỏ đặt trên tủ, chỉ là những gì còn tìm được trên lứa cỏ sau, chút cỏ thi và vài bông hoa chuông, chính tay chàng hái trên sườn dốc.
“Cậu thật đáng yêu,” Hans Castorp nói. “Một căn phòng xinh quá! Ở đây hẳn có thể dễ chịu mà trú ngụ vài tuần.”
“Hôm kia có một phụ nữ Mỹ chết tại đây,” Joachim nói. “Behrens nói ngay rằng đến lúc cậu tới thì cô ta sẽ xong xuôi, và khi ấy cậu có thể lấy căn phòng này. Vị hôn phu của cô ta ở bên cô ta, một sĩ quan hải quân Anh, nhưng anh ta xử sự chẳng lấy gì làm cứng cáp. Cứ chốc chốc anh ta lại chạy ra hành lang để khóc, hệt như một cậu bé con. Rồi còn xoa _Cold-cream_ lên má, vì anh ta mới cạo râu xong và nước mắt làm rát chỗ ấy. Tối hôm kia người phụ nữ Mỹ còn lên hai cơn thổ huyết dữ dội, rồi thế là hết. Nhưng từ sáng hôm qua cô ta đã được chuyển đi rồi, và sau đó dĩ nhiên họ đã hun xông kỹ căn phòng này, bằng formalin, cậu biết đấy, thứ đó được coi là rất tốt cho những việc như thế.”
Hans Castorp tiếp nhận câu chuyện ấy với một vẻ xao lãng mà vẫn hứng khởi. Đứng trước chậu rửa rộng với tay áo xắn cao, nơi những vòi niken lấp lánh dưới ánh điện, chàng hầu như chẳng buông nổi lấy một cái nhìn lướt sang chiếc giường kim loại trắng được phủ đậy sạch sẽ.
“Hun xông, tuyệt lắm,” chàng nói huyên thuyên và có phần lạc đề, vừa rửa tay vừa lau khô. “Phải, methylaldehyd, con vi khuẩn lì lợm nhất cũng không chịu nổi đâu, H₂CO đấy, nhưng hăng mũi lắm, phải không? Dĩ nhiên vệ sinh nghiêm ngặt là một điều kiện căn bản...” Chàng nói câu ấy theo một lối nhả phụ âm tách rời, trong khi người em họ, từ ngày làm sinh viên, đã quen với cách phát âm thông dụng hơn, và chàng tiếp tục hết sức trôi chảy: “Điều tớ còn muốn nói là... Có lẽ viên sĩ quan hải quân ấy đã cạo râu bằng dao cạo an toàn, tớ đoán thế, vì với mấy thứ ấy người ta dễ làm trầy da hơn là với một lưỡi dao cạo đã mài kỹ, ít nhất kinh nghiệm của tớ là vậy, tớ dùng xen kẽ cả hai... Ấy, mà trên làn da đang rát thì nước muối dĩ nhiên đau lắm, chắc do nghề nghiệp mà anh ta quen dùng _Cold-cream_, tớ chẳng thấy có gì lạ ở đó cả...” Rồi chàng tiếp tục chuyện trò, bảo rằng trong va-li có hai trăm điếu _Maria Mancini_, thứ xì gà của chàng, cuộc xét hành lý diễn ra hết sức nhàn nhã, và chuyển lời thăm hỏi của nhiều người ở quê nhà. “Ở đây không sưởi à?” đột nhiên chàng kêu lên và chạy lại những ống sưởi, đặt tay lên đó...
“Không, ở đây bọn tôi được giữ khá lạnh,” Joachim đáp. “Phải đợi khác đi đã, cho tới tháng Tám khi hệ thống sưởi trung tâm được nhóm lên.”
“Tháng Tám, tháng Tám!” Hans Castorp nói. “Nhưng tớ đang rét cóng đây! Rét khủng khiếp ở thân người kia, còn mặt thì lại nóng bừng lên một cách kỳ lạ, này, cậu sờ thử xem tớ nóng rực đến mức nào!”
Lời yêu cầu người khác sờ mặt mình ấy hoàn toàn không hợp với bản tính Hans Castorp, và chính chàng cũng thấy bối rối vì nó. Joachim cũng không hưởng ứng, chỉ nói:
“Ấy là tại không khí thôi, chẳng đáng kể gì. Chính Behrens suốt ngày má cũng xanh tím. Có người chẳng bao giờ quen nổi. Nào, _go on_, không thì ta sẽ chẳng còn gì để ăn nữa.”
Ngoài kia cô y tá lại hiện ra, mắt cận và tò mò nhìn dõi theo họ. Nhưng đến tầng một, Hans Castorp bỗng đứng sững lại, như bị ghim chặt bởi một thứ âm thanh hoàn toàn khủng khiếp vang lên ở gần đó, sau một khúc quặt của hành lang, một âm thanh không lớn, nhưng mang một tính chất ghê tởm xác quyết đến nỗi Hans Castorp nhăn mặt và trừng mắt nhìn người em họ. Đó hẳn là tiếng ho, một tiếng ho của đàn ông; nhưng là thứ ho chẳng giống bất cứ tiếng ho nào Hans Castorp từng nghe trong đời, vâng, đem so với nó thì mọi tiếng ho khác mà chàng biết đều là một biểu hiện sống khỏe mạnh và rạng rỡ, một cơn ho hoàn toàn không còn chút sinh thú lẫn yêu đời nào, không bật ra thành từng tràng đúng nghĩa, mà chỉ nghe như một sự quần quật ghê rợn và vô lực trong thứ nhão nhoét của phân rã hữu cơ.
“Phải,” Joachim nói, “ca ấy xem ra nặng rồi. Một nhà quý tộc Áo, anh biết đấy, một người đàn ông lịch lãm, cứ như sinh ra để làm tay kỵ mã quý phái. Mà bây giờ thành ra thế đó. Nhưng ông ta vẫn còn đi lại.”
Trong lúc họ đi tiếp, Hans Castorp thao thao nói về cơn ho của tay kỵ mã ấy. “Cậu phải nghĩ rằng,” chàng nói, “những thứ như vậy tớ chưa từng nghe, với tớ nó hoàn toàn mới mẻ, nên dĩ nhiên nó gây ấn tượng mạnh. Có lắm thứ ho khác nhau, ho khan và ho có đờm, mà theo người ta vẫn nói thì ho có đờm thậm chí còn dễ chịu hơn đôi chút, tốt hơn là cứ sủa lên như thế. Hồi còn trẻ (‘hồi còn trẻ’, chàng nói vậy) khi tớ bị bạch hầu, tớ sủa như chó sói, và mọi người mừng rỡ biết bao khi nó trở nên long ra, tớ vẫn còn nhớ. Nhưng một cơn ho như thế này thì chưa từng có, ít nhất là đối với tớ, đó đâu còn là một cơn ho của kẻ đang sống nữa. Nó không khan, nhưng cũng chẳng thể gọi là ho có đờm, từ ấy còn xa mới đúng. Cứ như thể người ta nhìn thấu vào bên trong con người ấy mà thấy ở đó ra sao, toàn một mớ bầy nhầy với bùn lầy...”
“Nào,” Joachim nói, “ngày nào tớ cũng nghe, cậu đâu cần mô tả cho tớ.”
Nhưng Hans Castorp không sao trấn tĩnh nổi vì tiếng ho vừa nghe, chàng lặp đi lặp lại rằng quả thật người ta nhìn thấu vào bên trong tay kỵ mã ấy, và khi họ bước vào nhà ăn, đôi mắt mệt mỏi vì đường xa của chàng ánh lên một vẻ kích động.
Trong nhà ăn
Trong nhà ăn sáng sủa, thanh nhã và ấm cúng. Nó nằm ngay bên phải đại sảnh, đối diện những phòng chuyện trò, và như Joachim giải thích, chủ yếu được những vị khách mới tới, những người ăn trái giờ, và những người có khách thăm sử dụng. Nhưng sinh nhật và những cuộc ra đi sắp tới cũng được cử hành trọng thể ở đó, cũng như những kết quả tốt của các cuộc tổng kiểm tra. Đôi khi trong nhà ăn tưng bừng lắm, Joachim nói; cả rượu Champagne cũng được dọn. Lúc này không có ai ngoài một phụ nữ đơn độc chừng ba mươi tuổi, đang đọc một cuốn sách, nhưng đồng thời khe khẽ ngân nga và luôn luôn gõ nhẹ ngón giữa bàn tay trái lên khăn trải bàn. Sau khi hai chàng trai ngồi xuống, bà đổi chỗ để quay lưng lại phía họ. Joachim khẽ giải thích rằng bà sợ người, và lúc nào ăn trong nhà ăn cũng mang theo một cuốn sách. Người ta kháo nhau rằng từ hồi còn là một thiếu nữ rất trẻ bà đã vào các dưỡng đường phổi, và từ đó chẳng còn sống trong thế gian nữa.
“Thế thì với năm tháng của cậu, so với bà ấy cậu vẫn chỉ là một tay tập sự trẻ măng, và đến khi cõng đủ một năm trên lưng cậu vẫn sẽ còn thế thôi,” Hans Castorp nói với người em họ; Joachim bèn với lấy tờ thực đơn bằng cái nhún vai vốn trước kia không phải là thói quen của chàng.
Họ chọn chiếc bàn cao cạnh cửa sổ, chỗ đẹp nhất. Ngồi đối diện nhau bên tấm rèm màu kem, gương mặt họ ửng lên vì ánh sáng của chiếc đèn bàn điện chụp đỏ. Hans Castorp chắp hai bàn tay vừa rửa sạch và xoa chúng vào nhau với một vẻ khoan khoái chờ đợi, như chàng vẫn quen làm mỗi khi ngồi vào bàn ăn, có lẽ vì tổ tiên chàng từng cầu nguyện trước món súp. Một cô gái niềm nở, nói bằng giọng đục ở vòm miệng, mặc áo đen với tạp dề trắng và một gương mặt lớn mang màu sắc khỏe mạnh lạ thường, ra phục vụ họ, và Hans Castorp, hết sức buồn cười thích thú, được nghe giải thích rằng ở đây người ta gọi các cô hầu bàn là “các tiểu thư phòng ăn”. Họ gọi một chai Gruaud Larose, nhưng Hans Castorp lại sai cô mang đi lần nữa để chỉnh cho rượu đạt nhiệt độ tốt hơn. Bữa ăn thật tuyệt hảo. Có súp măng tây, cà chua nhồi, món thịt quay với đủ thứ đồ kèm, một món ngọt được chế biến đặc biệt khéo, một đĩa phô mai và trái cây. Hans Castorp ăn rất khỏe, mặc dù khẩu vị của chàng không tỏ ra hăng hái như chàng đã tưởng. Nhưng chàng vốn quen ăn nhiều, ngay cả khi không đói, và làm như vậy vì tự trọng.
Joachim chẳng mấy mặn mà với các món ăn. Cậu nói đã ngấy bếp núc này rồi, mà trên này ai nấy cũng thế, và chê thức ăn hầu như đã thành lệ; vì khi người ta ngồi đây hết đời này sang đời khác... Trái lại, cậu uống rượu vang với thích thú, thậm chí với một thứ tận tâm nào đó, và hết sức tránh những lời lẽ quá ư cảm động, cậu vẫn nhiều lần bày tỏ sự mãn nguyện rằng cuối cùng cũng có một người ở đây để mình có thể nói đôi lời ra hồn.
“Phải, cậu đã đến thì thật tuyệt!” cậu nói, và giọng thong thả của cậu rung lên xúc động. “Tớ có thể nói hẳn rằng đối với tớ đây quả là một biến cố. Ít ra đây cũng là một sự đổi khác, tớ muốn nói, một vết cắt, một sự phân đoạn trong cái đơn điệu vĩnh viễn, vô biên...”
“Nhưng hẳn là thời gian ở đây phải trôi nhanh với các cậu chứ,” Hans Castorp nhận xét.
“Nhanh hay chậm, tùy cậu muốn nói sao thì nói,” Joachim đáp. “Thật ra nó chẳng trôi qua chút nào, tớ bảo cậu thế, ở đây hoàn toàn không có thời gian, mà cũng chẳng phải là đời sống, không, không phải thế đâu,” cậu vừa lắc đầu vừa nói, rồi lại cầm ly lên.
Cả Hans Castorp cũng uống, mặc dầu lúc này mặt chàng nóng bừng như lửa. Nhưng trong người chàng vẫn lạnh, và trong tay chân có một sự bồn chồn đặc biệt, vừa hân hoan vừa hơi hành hạ. Lời lẽ của chàng vội vã xô đẩy nhau, chàng lỡ lời khá nhiều lần và đều gạt đi bằng một cái khoát tay coi thường. Mà Joachim cũng đang hứng khởi, cho nên câu chuyện của họ lại càng tự do và rộn rã hơn nữa khi người đàn bà vừa ngâm nga vừa gõ nhịp kia bất thần đứng dậy bỏ đi. Họ vừa ăn vừa vung nĩa làm điệu bộ, còn nguyên miếng trong má vẫn làm vẻ hệ trọng, cười, gật đầu, nhún vai, và chưa nuốt hẳn xong đã nói tiếp. Joachim muốn nghe chuyện Hamburg và đã lái câu chuyện sang công cuộc chỉnh trị sông Elbe.
“Có tính thời đại!” Hans Castorp nói. “Có tính thời đại đối với sự phát triển của ngành hàng hải chúng ta, không sao đánh giá cho hết được. Chúng tôi đã đưa năm mươi triệu vào ngân sách làm một khoản chi tức thời, chi một lần cho việc ấy, và cậu cứ tin đi, chúng tôi biết rất rõ mình đang làm gì.”
Vả lại, dẫu coi việc chỉnh trị sông Elbe hệ trọng đến đâu, chàng cũng lại lập tức rời bỏ đề tài ấy mà đòi Joachim kể thêm cho mình về đời sống “trên này” và về các vị khách, điều Joachim sẵn lòng làm, vì cậu mừng được trút bớt và được thổ lộ. Chuyện những xác chết người ta gửi trượt xuống theo đường bob cậu phải kể lại, và còn phải quả quyết thêm một lần nữa hẳn hoi rằng đó là sự thật. Thấy Hans Castorp lại bật cười, cậu cũng cười theo, điều dường như đem lại cho cậu một sự thích thú chân thành, và cậu kể thêm những chuyện khôi hài khác để nuôi dưỡng cơn phóng túng ấy. Có một bà ngồi cùng bàn với cậu tên là Frau Stöhr, vả lại khá ốm, vợ một nhạc sĩ ở Cannstatt, bà ta là người thiếu giáo dưỡng nhất cậu từng gặp. Bà ta nói “khử chùng”, lại nói với vẻ hết sức nghiêm trang. Và gọi trợ lý Krokowski là “phô-mu-lút”. Thế mà phải nuốt cho trôi, mặt không được nhăn. Ngoài ra bà ta lại thích buôn chuyện, cũng như phần lớn người trên này, và còn rêu rao về một bà khác, Frau Iltis, rằng bà ấy mang một cái “Sterilett”. “Sterilett”, bà ta gọi thế đấy, thật là vô giá chứ còn gì nữa!” Và nửa ngả người, quẳng lưng vào thành ghế, họ cười đến nỗi người rung lên bần bật và gần như cùng một lúc nấc cụt.
Giữa chừng, Joachim lại buồn bã và nghĩ đến số phận mình.
“Phải, bọn mình cứ ngồi đây mà cười,” cậu nói, mặt đượm vẻ đau đớn, đôi khi còn bị những cơn co giật ở cơ hoành ngắt quãng, “thế mà hoàn toàn không thể nào biết được bao giờ tớ mới ra khỏi đây, vì nếu Behrens bảo: còn nửa năm nữa, thì ấy là tính còn sít lắm, phải liệu mà chờ lâu hơn. Nhưng quả thật khắc nghiệt, cậu thử nói xem, có phải buồn cho tớ không. Tớ đã được nhận rồi, và ngay tháng sau là có thể thi lấy bằng sĩ quan. Vậy mà giờ đây tớ lêu nghêu trên này với cái nhiệt kế trong mồm, đếm những lỗi nói năng của cái bà Frau Stöhr thiếu giáo dưỡng ấy, và để thời gian trôi uổng. Một năm ở tuổi bọn mình hệ trọng đến thế nào, nó đem lại dưới kia biết bao biến đổi và tiến triển trong đời. Còn tớ thì phải đình đọng ở đây như một vũng nước, phải, hệt như một ao tù thối rữa, so sánh như thế cũng chẳng phải là quá đáng...”
Lạ lùng thay, Hans Castorp chỉ đáp lại bằng câu hỏi liệu ở đây có thể kiếm được bia đen hay không; và khi người anh em họ nhìn chàng hơi ngạc nhiên, Joachim thấy rằng chàng đang thiếp đi, thực ra thì đã ngủ mất rồi.
“Nhưng cậu đang ngủ kia mà!” Joachim nói. “Nào, đến lúc đi ngủ rồi, cho cả hai chúng ta.”
“Hoàn toàn chẳng có thời gian gì hết,” Hans Castorp nói, lưỡi nặng trĩu. Nhưng chàng vẫn đi theo, người hơi khom và chân cứng đờ, như một kẻ bị mệt mỏi kéo ghì hẳn xuống mặt đất; tuy vậy chàng cố sức gượng lại khi, trong đại sảnh giờ chỉ còn sáng lờ mờ, chàng nghe Joachim nói:
“Krokowski ngồi kia. Có lẽ tớ phải giới thiệu cậu thật lẹ với ông ấy.”
Dr. Krokowski ngồi chỗ sáng, bên lò sưởi của một phòng chuyện trò, ngay cạnh cánh cửa lùa đang mở, và đọc báo. Ông đứng dậy khi hai chàng trai bước lại gần và Joachim, trong dáng điệu nhà binh, nói:
“Xin phép giới thiệu với Herr Doktor người anh em họ của tôi, Castorp từ Hamburg. Cậu ấy vừa mới đến.”
Dr. Krokowski chào đón người bạn đồng trú mới bằng một vẻ sốt sắng chân thành nào đó, vừa vui vẻ, đẫy đà, vừa khích lệ, như muốn ngụ ý rằng đứng đối diện với ông thì mọi bẽn lẽn đều là thừa, và chỉ có một niềm tin cậy vui tươi mới là thích đáng. Ông chừng ba mươi lăm tuổi, vai rộng, béo, thấp hơn hẳn hai người đứng trước mặt mình, đến nỗi phải ngửa xéo đầu ra sau mới nhìn được vào mặt họ; và ông hết sức nhợt nhạt, một vẻ nhợt nhạt trong suốt, phải, gần như lân quang, lại càng nổi bật hơn bởi ánh rực tối sẫm trong đôi mắt, bởi sắc đen của hàng mày và của bộ râu đầy khá dài, chẻ thành hai mũi, trong đó đã lẫn mấy sợi bạc. Ông mặc một bộ com-lê đen hai hàng khuy đã hơi sờn, đi đôi giày thấp cổ màu đen đục lỗ, dạng như dép xăng-đan, với đôi tất len xám dày, và đeo một cổ áo mềm rũ xuống, kiểu mà cho đến lúc ấy Hans Castorp chỉ mới thấy ở một ông thợ ảnh tại Danzig, và quả thật đã ban cho diện mạo của Dr. Krokowski một sắc thái phòng chụp. Mỉm cười thân tình đến nỗi trong bộ râu lộ ra những chiếc răng vàng vàng, ông bắt tay chàng trai, vừa dùng giọng nam trung với những âm điệu chậm kéo hơi có vẻ ngoại quốc mà nói:
“Hoan nghênh Herr Castorp đến với chúng tôi! Mong ông chóng hòa nhập và thấy dễ chịu trong vòng chúng tôi. Nếu tôi được phép hỏi, ông đến đây với tư cách bệnh nhân chứ?”
Thật cảm động khi nhìn Hans Castorp vật lộn để tỏ ra lịch thiệp và chế ngự cơn buồn ngủ của mình. Chàng bực vì mình tồi tệ đến thế, và với cái tự ý thức ngờ vực của tuổi trẻ, chàng nhìn thấy trong nụ cười cùng cung cách khích lệ của người trợ lý những dấu hiệu của một sự chế nhạo khoan dung. Chàng đáp lại bằng cách nói đến ba tuần lễ, cũng nhắc tới kỳ thi của mình, rồi thêm rằng, tạ ơn trời, chàng hoàn toàn khỏe mạnh.
“Thật vậy ư?” Dr. Krokowski hỏi, vừa như đùa đẩy cái đầu hơi nghiêng của mình về phía trước, vừa làm nụ cười đậm thêm... “Thế thì ông quả là một hiện tượng hết sức đáng được nghiên cứu! Bởi lẽ, tôi thú thực, một con người hoàn toàn khỏe mạnh thì tôi chưa từng gặp bao giờ. Nếu được hỏi, ông đã thi kỳ thi gì vậy?”
“Tôi là kỹ sư, thưa Herr Doktor,” Hans Castorp đáp với một vẻ đĩnh đạc khiêm nhường.
“À, kỹ sư!” Nụ cười của Dr. Krokowski như rút lui vào trong, nhất thời sút đi phần nào sức lực và vẻ nồng hậu. “Thế thì khá lắm. Vậy là ở đây ông sẽ không cần đến bất cứ sự điều trị y khoa nào, cả về phương diện thể xác lẫn phương diện tâm lý chứ?”
“Không, tôi xin cảm ơn ngàn lần!” Hans Castorp nói, và suýt nữa lùi lại một bước.
Lúc ấy nụ cười của Dr. Krokowski lại bừng nở thắng thế, và vừa bắt tay chàng trai một lần nữa, ông vừa lớn tiếng kêu lên:
“Vậy thì chúc Herr Castorp ngủ ngon, trong niềm sung mãn trọn vẹn về sức khỏe không chê vào đâu được của mình! Chúc ông ngủ ngon và hẹn gặp lại!” Nói đoạn, ông cho hai chàng trai lui đi và lại ngồi xuống với tờ báo của mình.
Thang máy đã không còn người phục vụ, nên họ đi bộ lên cầu thang, im lặng và hơi bối rối vì cuộc gặp Dr. Krokowski. Joachim tiễn Hans Castorp tới phòng số ba mươi bốn, nơi gã khập khiễng đã giao đúng hành lý của người mới đến, và họ còn trò chuyện thêm một khắc đồng hồ, trong khi Hans Castorp mở đồ ngủ và đồ rửa mặt ra, đồng thời hút một điếu thuốc lá to, dịu. Hôm nay chàng không còn kịp đụng đến điếu xì gà nữa, điều khiến chàng thấy kỳ lạ và hết sức khác thường.
“Trông ông ta rất ra dáng,” chàng nói, vừa nói vừa tuôn phụt làn khói vừa hít vào. “Trắng bệch như sáp. Nhưng nghe này, cái Chaussure của ông ta thì thật thảm hại. Tất len xám, rồi lại thêm đôi dép xăng-đan ấy. Rốt cuộc có phải ông ta phật ý không?”
“Ông ấy hơi nhạy cảm,” Joachim thừa nhận. “Cậu không nên khước từ việc điều trị y khoa một cách quá phũ như thế, ít ra là đừng khước từ điều trị tâm lý. Ông ấy không thích người ta lẩn tránh mình như vậy. Với tớ, ông ấy cũng chẳng ưa gì lắm, vì tớ không chịu thổ lộ đủ với ông ấy. Nhưng thỉnh thoảng tớ cũng kể cho ông ấy một giấc mơ, để ông ấy có cái mà mổ xẻ.”
“Thế thì hẳn là tớ đã làm ông ấy phật lòng rồi,” Hans Castorp bực bội nói; vì việc đã làm tổn thương ai đó khiến chàng không hài lòng với chính mình, và bởi thế cơn mệt mỏi lại đổ xuống chàng với sức mạnh mới.
“Chúc ngủ ngon,” chàng nói. “Tớ sắp ngã gục đây.”
“Tám giờ tớ sẽ tới đón cậu đi ăn sáng,” Joachim nói rồi đi.
Hans Castorp chỉ làm qua loa việc sửa soạn ban đêm. Cơn ngủ chinh phục chàng hầu như ngay khi chàng vừa tắt ngọn đèn con trên bàn cạnh giường, nhưng chàng còn giật mình tỉnh lại một lần, vì sực nhớ rằng trên chiếc giường này cách đây hôm kia đã có người chết. “Ắt hẳn cũng không phải là lần đầu,” chàng tự nhủ, như thể điều ấy có thể làm chàng yên tâm. “Nó vốn là một cái giường chết, một cái giường chết hoàn toàn tầm thường.” Rồi chàng ngủ thiếp đi.
Nhưng vừa khi đã ngủ, chàng bắt đầu mơ, và hầu như mơ không dứt cho tới tận sáng hôm sau. Chủ yếu chàng thấy Joachim Ziemßen, trong một tư thế vặn vẹo kỳ quặc, lao xuống một đường dốc trên chiếc xe trượt bob. Cậu trắng nhợt lân quang như Dr. Krokowski, còn ngồi phía trước là tay kỵ sĩ quý ông, trông rất mơ hồ, như một người mà ta chỉ mới nghe ho chứ chưa từng thấy rõ, và hắn cầm lái. “Việc ấy với chúng tôi nào có nghĩa lý gì, với chúng tôi trên này,” Joachim vặn vẹo nói, rồi chính cậu, chứ không phải tay kỵ sĩ quý ông, mới là kẻ ho một cách nhầy nhụa ghê rợn đến thế. Vì vậy Hans Castorp khóc nức nở cay đắng và hiểu ra rằng chàng phải chạy tới hiệu thuốc mua _Cold-cream_. Nhưng bên đường ngồi Frau Iltis với một cái mõm nhọn, cầm trong tay một vật rõ ràng phải là cái “Sterilett” của bà, song thực ra chẳng qua chỉ là một cái dao cạo an toàn. Điều ấy lại làm Hans Castorp bật cười, và thế là chàng bị quăng quật qua lại giữa những trạng thái tâm tình khác nhau, cho đến khi buổi sáng xám dần qua cánh cửa ban công mở hé của chàng và đánh thức chàng dậy.