Phố chính — Chương 9
Chương 10 / 40 · Bài review Phố chính
I
NÀNG đã tung tăng bước vào đồng cỏ để dạy đàn cừu non một điệu múa giáo dục xinh xắn, rồi nhận ra lũ cừu ấy là sói. Không có lối nào thoát qua những bờ vai xám đang ép sát. Nanh vuốt và những cặp mắt nhạo báng vây quanh nàng.
Nàng không thể tiếp tục chịu đựng sự chế giễu ngấm ngầm. Nàng muốn chạy trốn. Nàng muốn ẩn mình trong vẻ dửng dưng bao dung của các thành phố. Nàng tập nói với Kennicott: “Em nghĩ có lẽ em sẽ xuống St. Paul vài hôm.” Nhưng nàng không tin mình có thể nói câu ấy một cách thản nhiên; không sao chịu nổi những câu tra hỏi chắc chắn sẽ đến từ anh.
Cải tạo thị trấn ư? Tất cả những gì nàng muốn chỉ là được người ta dung thứ!
Nàng không thể nhìn thẳng vào mọi người. Nàng đỏ mặt, co rúm trước những cư dân mà một tuần trước còn là các đối tượng quan sát thú vị; trong lời chào buổi sáng của họ, nàng nghe thấy tiếng cười khẩy độc địa.
Nàng gặp Juanita Haydock tại cửa hàng thực phẩm của Ole Jenson. Nàng nài nỉ: “Ồ, chị có khỏe không! Trời ơi, cần tây trông đẹp quá!”
“Phải, trông tươi thật đấy nhỉ. Chủ nhật nào Harry cũng nhất định phải có cần tây, thật khổ với ông ấy!”
Carol vội vã ra khỏi cửa hàng, hân hoan: “Cô ấy không chế giễu mình... Có thật không?”
Sau một tuần, nàng đã thoát khỏi cảm giác bất an, hổ thẹn và tai tiếng bị người ta rỉ tai nhau, nhưng vẫn giữ thói quen tránh mặt mọi người. Nàng cúi đầu đi ngoài phố. Hễ trông thấy bà McGanum hay bà Dyer ở phía trước, nàng liền sang bên kia đường, công phu giả vờ chăm chú nhìn một tấm biển quảng cáo. Nàng luôn luôn diễn kịch, vì lợi ích của bất cứ ai nàng trông thấy—và vì lợi ích của những cặp mắt mai phục, hau háu nhìn mà nàng không trông thấy.
Nàng nhận ra Vida Sherwin đã nói thật. Dù bước vào cửa hàng, quét hiên sau hay đứng bên khung cửa sổ lồi trong phòng khách, nàng đều bị cả làng dòm ngó. Có thời nàng từng hiên ngang sải bước ngoài phố, hân hoan vì đang dựng xây một mái ấm. Giờ đây nàng liếc nhìn từng ngôi nhà, và khi đã về nhà an toàn, nàng cảm thấy mình vừa vượt qua một nghìn kẻ thù trang bị bằng lời nhạo báng. Nàng tự nhủ sự nhạy cảm của mình thật phi lý, rằng ngày nào nàng cũng hoảng loạn. Nàng thấy những tấm rèm vừa động đậy rồi lại trượt về vẻ phẳng phiu vô tội. Những bà già đang bước vào nhà bỗng lẻn trở ra để nhìn nàng chằm chằm—trong sự tĩnh lặng mùa đông, nàng nghe được cả tiếng họ rón rén trên hiên. Khi đã có được một giờ diễm phúc quên đi luồng đèn pha dò xét, khi nàng chạy nhảy qua buổi chạng vạng lạnh buốt, vui sướng trước những ô cửa vàng rực giữa đêm xám, tim nàng bỗng khựng lại vì nhận ra một cái đầu trùm khăn vừa nhô lên khỏi bụi cây phủ tuyết để theo dõi nàng.
Nàng thừa nhận mình quá coi trọng bản thân; dân làng ai mà họ chẳng nhìn chòng chọc. Nàng trở nên bình thản và lấy làm hài lòng với triết lý của mình. Nhưng sáng hôm sau, một cơn chấn động vì hổ thẹn ập đến khi nàng bước vào cửa hàng Ludelmeyer. Ông chủ tiệm, người phụ việc và bà Dave Dyer mắc chứng thần kinh vừa cười rúc rích về chuyện gì đó. Họ ngừng bặt, lộ vẻ lúng túng, rồi lắp bắp nói về hành tây. Carol cảm thấy mình có tội. Tối ấy, khi Kennicott đưa nàng tới thăm vợ chồng Lyman Cass cáu kỉnh, chủ nhà có vẻ bối rối trước sự xuất hiện của họ. Kennicott vui vẻ ré lên: “Sao trông anh tiu nghỉu thế, Lym?” Vợ chồng Cass cười khúc khích một cách yếu ớt.
Ngoài Dave Dyer, Sam Clark và Raymie Wutherspoon, không có thương gia nào mà Carol biết chắc sẽ niềm nở với mình. Nàng biết chính nàng đã đọc ra sự giễu cợt trong những lời chào, nhưng không kiềm chế nổi nỗi ngờ vực, không sao gượng dậy khỏi sự suy sụp tinh thần. Nàng khi thì nổi giận, khi thì co rúm trước vẻ bề trên của giới thương gia. Họ không biết mình đang thô lỗ, nhưng họ cố ý cho người ta hiểu rằng họ làm ăn phát đạt và “chẳng ngán vợ bác sĩ nào hết.” Họ thường nói: “Người này cũng tốt như người kia—thậm chí còn tốt hơn khối.” Tuy nhiên, họ không đem phương châm ấy ra ca ngợi với những khách hàng nông dân bị mất mùa. Các thương gia Yankee thì cộc cằn; còn Ole Jenson, Ludelmeyer và Gus Dahl, những người từ “Cố quốc” đến, lại muốn được coi là dân Yankee. James Madison Howland, sinh tại New Hampshire, và Ole Jenson, sinh tại Thụy Điển, đều chứng tỏ mình là những công dân Mỹ tự do bằng cách càu nhàu: “Tôi chẳng biết còn thứ ấy hay không,” hoặc: “Chà, bà không thể đòi tôi giao đến trước trưa được.”
Khách hàng đáp trả mới là đúng điệu. Juanita Haydock vui vẻ liến thoắng: “Ông mà không giao tới trước mười hai giờ thì tôi túm đầu cậu giao hàng mới ấy, vặt cho trụi tóc.” Nhưng Carol chưa bao giờ chơi được trò thô lỗ thân tình này; giờ đây nàng tin chắc mình sẽ chẳng bao giờ học nổi. Nàng hình thành cái thói hèn nhát là đến mua hàng ở chỗ Axel Egge.
Axel không phải loại người đáng kính và thô lỗ. Ông vẫn là một người ngoại quốc, và định cứ như vậy mãi. Cung cách của ông nặng nề, chẳng dò hỏi gì ai. Cửa hàng của ông kỳ quái hơn bất kỳ cửa hiệu nào ở một ngã tư đồng quê. Ngoài chính Axel, không ai tìm được thứ gì. Một phần số bít tất trẻ em nằm dưới tấm chăn trên kệ, một phần ở trong chiếc hộp thiếc đựng bánh gừng giòn, số còn lại chất đống như một ổ rắn bằng vải bông đen trên thùng bột mì; quanh thùng là chổi, Kinh Thánh tiếng Na Uy, cá tuyết khô để làm món ludfisk, những hộp mơ và một đôi rưỡi ủng đế cao su của thợ rừng. Nơi này chật ních các bà vợ nông dân Scandinavia, đứng tách riêng trong khăn choàng và những chiếc áo tay phồng màu nâu vàng đã cũ, chờ các đức ông chồng trở lại. Họ nói tiếng Na Uy hoặc Thụy Điển và nhìn Carol bằng ánh mắt không hiểu gì. Họ khiến nàng nhẹ nhõm—họ không rỉ tai nhau rằng nàng là một kẻ làm bộ.
Nhưng nàng lại tự bảo mình rằng cửa hàng của Axel Egge “thật đẹp như tranh và lãng mạn biết bao.”
Trang phục là điều khiến nàng ngượng ngập về bản thân hơn cả.
Khi dám đi mua sắm trong bộ đồ kẻ ô mới, có cổ áo màu lưu huỳnh thêu đen, nàng chẳng khác nào đã mời toàn thể Gopher Prairie (nơi không quan tâm đến điều gì một cách sâu sát bằng quần áo mới và giá tiền của chúng) mở cuộc điều tra về mình. Đó là một bộ đồ hợp thời, với những đường nét xa lạ đối với các bộ váy vàng và hồng lùng thùng của thị trấn. Ánh mắt của góa phụ Bogart từ ngoài hiên cho thấy: “Chà, đời tôi chưa từng thấy thứ gì như thế!” Bà McGanum chặn Carol lại tại cửa hàng đồ kim chỉ để bóng gió: “Ôi chao, bộ đồ đẹp quá—hẳn là đắt kinh khủng nhỉ?” Đám con trai trước hiệu thuốc bình phẩm: “Này, Pudgie, tao với mày đánh một ván cờ đam trên cái váy ấy đi.” Carol không chịu nổi. Nàng kéo áo lông che kín bộ đồ rồi vội vã cài cúc, trong khi lũ con trai cười khẩy.
II
Không nhóm người nào khiến nàng tức giận bằng lũ trai trẻ phóng đãng cứ nhìn người ta chòng chọc ấy.
Nàng từng cố thuyết phục mình rằng ngôi làng, với không khí trong lành và những hồ nước để câu cá, bơi lội, lành mạnh hơn thành phố giả tạo. Nhưng nàng phát buồn nôn khi thoáng thấy đám con trai từ mười bốn đến hai mươi tuổi lêu lổng trước Hiệu thuốc Dyer, hút thuốc lá, phô những đôi giày “diện”, cà vạt tím cùng áo khoác đính khuy hình thoi, huýt sáo điệu Hoochi-Koochi và réo với theo mọi cô gái đi ngang: “Ô kìa, búp bê xinh đẹp!”
Nàng thấy chúng chơi bi-da trong căn phòng hôi hám phía sau hiệu cắt tóc của Del Snafflin, gieo xúc xắc trong “The Smoke House”, và tụ thành một đám cười rúc rích để nghe những “chuyện mùi mẫn” của Bert Tybee, người pha rượu ở Minniemashie House. Nàng nghe chúng chóp chép đôi môi ướt trước mọi cảnh ái tình tại Rạp chiếu bóng Rosebud. Bên quầy của Tiệm bánh kẹo Hy Lạp, trong lúc ăn những món trộn khủng khiếp gồm chuối nhũn, anh đào chua, kem đánh bông và kem lạnh sền sệt, chúng gào vào mặt nhau: “Này, để tao yên,” “Thôi đi, quỷ tha ma bắt mày, nhìn xem mày vừa làm cái gì kìa, suýt nữa làm đổ cốc nước ngọt của tao,” “Đổ cái quái gì,” “Này, đồ khốn, đừng có chọc cái đinh đóng quan tài của mày vào kem của tao,” “Ôi, Batty, tối qua nhảy với Tillie McGuire thế nào? Ôm ấp ra trò chứ, hả nhóc?”
Nhờ cần mẫn tham khảo tiểu thuyết Mỹ, nàng khám phá ra rằng đó là cung cách mạnh mẽ và thú vị duy nhất mà con trai có thể biểu hiện; rằng những cậu con trai không được nhào nặn từ cống rãnh và trại mỏ đều là lũ ẻo lả, bất hạnh. Nàng vẫn mặc nhiên coi điều đó là đúng. Nàng từng quan sát lũ con trai với lòng thương hại, nhưng chẳng liên can gì đến mình. Nàng chưa từng nghĩ rằng chúng có thể chạm tới nàng.
Giờ đây nàng ý thức rằng chúng biết mọi chuyện về nàng; rằng chúng đang chờ một kiểu làm bộ nào đó để có thể phá lên cười. Không nữ sinh nào đi qua các trạm quan sát của chúng mà đỏ mặt hơn bà bác sĩ Kennicott. Trong nỗi hổ thẹn, nàng biết chúng đang đưa mắt đánh giá đôi ủng tuyết trắng của nàng, suy đoán về đôi chân bên trong. Đó không phải mắt người trẻ—cả thị trấn này chẳng có tuổi trẻ, nàng đau đớn nghĩ. Chúng sinh ra đã già, nghiệt ngã và già nua, rình mò và xét nét.
Một lần nữa nàng kêu lên rằng tuổi trẻ của chúng vừa già cỗi vừa tàn nhẫn, vào cái ngày nàng nghe lỏm được Cy Bogart và Earl Haydock.
Cyrus N. Bogart, con trai của bà góa đức hạnh sống bên kia ngõ, lúc này là một thiếu niên mười bốn hoặc mười lăm tuổi. Carol đã thấy quá đủ về Cy Bogart. Ngay tối đầu tiên nàng đến Gopher Prairie, Cy đã xuất hiện cầm đầu một đám “náo hôn”, nện ầm ĩ vào chiếc chắn bùn ô tô bỏ đi. Đồng bọn của nó tru lên bắt chước chó sói đồng cỏ. Kennicott lại thấy như được tôn vinh; anh bước ra và phát cho chúng một đô-la. Nhưng Cy là một nhà tư bản trong nghề náo hôn. Nó quay lại với một nhóm hoàn toàn mới, và lần này có ba chiếc chắn bùn ô tô cùng một cái lục lạc hội hè. Khi Kennicott lại phải ngừng cạo râu, Cy the thé: “Không, ông phải cho bọn cháu hai đô-la,” và nó đã lấy được số tiền ấy. Một tuần sau, Cy lắp một dụng cụ gõ lách cách vào cửa sổ phòng khách; tiếng gõ dồn từ bóng tối khiến Carol sợ đến phát thét. Kể từ đó, trong bốn tháng, nàng đã thấy Cy treo cổ một con mèo, ăn trộm dưa, ném cà chua vào nhà Kennicott và để lại những vệt ván trượt tuyết ngang bãi cỏ; nàng còn nghe nó giảng giải những bí mật của sự sinh sản bằng giọng oang oang, với một vốn hiểu biết đáng kinh hãi. Quả thật, nó là một mẫu vật bảo tàng về thứ mà một thị trấn nhỏ, một trường công kỷ luật nghiêm, một truyền thống hài hước thô bạo và một bà mẹ mộ đạo có thể tạo nên từ chất liệu của một trí óc can đảm và tài tình.
Carol sợ nó. Chẳng những không phản đối khi nó xua con chó lai đuổi một chú mèo con, nàng còn ra sức làm như không trông thấy.
Nhà để xe của gia đình Kennicott là một căn chái ngổn ngang thùng sơn, dụng cụ, máy xén cỏ và những nhúm cỏ khô cũ kỹ. Phía trên là một gác xép mà Cy Bogart và Earl Haydock, em trai Harry, dùng làm hang ổ để hút thuốc, trốn đòn và mưu tính việc lập những hội kín. Chúng trèo lên đó bằng chiếc thang ở phía căn chái giáp con ngõ.
Vào buổi sáng cuối tháng Giêng ấy, hai hoặc ba tuần sau những điều Vida tiết lộ, Carol bước vào căn chuồng kiêm nhà để xe để tìm một chiếc búa. Tuyết làm bước chân nàng êm đi. Nàng nghe tiếng nói trên gác xép:
“Chán chết, đi—ừ, xuống hồ chôm ít chuột xạ trong bẫy của người ta đi,” Cy vừa ngáp vừa nói.
“Để bị đánh rụng tai à!” Earl Haydock càu nhàu.
“Trời đất, thuốc lá này ngon thật. Nhớ hồi mình còn bé tí, hút râu ngô với hạt cỏ không?”
“Ừ. Trời đất!”
Khạc. “Im lặng.”
“Này Earl, má tao bảo nhai thuốc lá thì sẽ mắc bệnh lao đấy.”
“Vớ vẩn, bà già mày dở hơi.”
“Ừ, đúng thật.” Ngừng một lát. “Nhưng bà bảo bà biết một người bị thế rồi.”
“Ôi trời, bác sĩ Kennicott chẳng từng nhai thuốc lá suốt ngày trước khi cưới cô gái từ Thành Phố này sao? Ông ấy từng phun—Trời! Bắn cừ thật! Cây cách mười bộ mà cũng trúng.”
Đó là tin mới đối với cô gái từ Thành Phố.
“Này, cô ta thế nào?” Earl nói tiếp.
“Hả? Ai thế nào?”
“Mày biết tao nói ai mà, đồ láu cá.”
Một trận vật lộn, tiếng ván lỏng thình thịch, im lặng, rồi giọng Cy uể oải kể:
“Bà Kennicott ấy à? Ồ, tao đoán bà ấy cũng được.” Carol ở bên dưới thấy nhẹ nhõm. “Có lần bà ấy cho tao một miếng bánh to. Nhưng má tao bảo bà ấy kiêu căng thấy mẹ. Má tao lúc nào cũng nói về bà ấy. Má bảo nếu bà Kennicott nghĩ đến ông bác sĩ nhiều bằng nghĩ đến quần áo thì ông ấy đã chẳng trông hốc hác thế.”
Khạc. Im lặng.
“Ừ. Juanita cũng lúc nào cũng nói về bà ấy,” Earl lên tiếng. “Chị ấy bảo bà Kennicott tưởng mình biết tuốt. Juanita bảo lần nào thấy bà Kennicott diễu ngoài phố với cái kiểu ‘nhìn tôi đây—tôi là một quý bà sang trọng’ ấy, chị ấy cũng phải cười đến suýt vỡ bụng. Nhưng trời đất, tao chẳng để ý Juanita đâu. Chị ấy cay độc hơn cả cua.”
“Má tao kể với ai đó rằng bà nghe nói bà Kennicott khoe hồi làm một công việc nào đấy ở Thành Phố, bà ấy kiếm được bốn mươi đô-la một tuần; má tao bảo bà biết chắc trăm phần trăm là bà ấy chỉ kiếm được mười tám đô-la một tuần—Má bảo sống ở đây thêm một thời gian, bà ấy sẽ thôi đi khắp nơi làm trò ngốc, thôi lên mặt với những người biết nhiều hơn bà ấy khối. Tất cả họ đều đang cười thầm bà ấy.”
“Này, mày có bao giờ để ý cái kiểu bà Kennicott nhặng xị quanh nhà không? Tối nọ lúc tao sang đây, bà ấy quên kéo rèm xuống, thế là tao đứng nhìn suốt mười phút. Trời ạ, mày mà thấy thì chết cười. Bà ấy ở đó một mình, thế mà chắc phải mất năm phút để chỉnh cho ngay một bức tranh. Cái kiểu bà ấy chìa ngón tay ra sửa bức tranh mới buồn cười chết được—la la lá, xem ngón tay bé xinh xinh của tôi này, ôi chao, tôi có đáng yêu không, con mèo của tôi có cái đuôi dài đẹp làm sao!”
“Nhưng này, Earl, dù sao bà ấy cũng đẹp ra trò, và ôi trời đất! Đống quần áo diện bà ấy hẳn đã mua cho đám cưới. Mày có để ý mấy cái váy cổ khoét thấp với mấy chiếc áo lót mỏng bà ấy mặc không? Tao đã nhìn kỹ lúc chúng được phơi ngoài dây cùng đống đồ giặt. Với cả đôi mắt cá chân ấy nữa, hả?”
Carol liền bỏ chạy.
Trong sự ngây thơ, nàng không hề biết cả thị trấn có thể bàn tán đến cả quần áo, thân thể nàng. Nàng cảm thấy mình đang bị lôi trần truồng dọc Phố Chính.
Trời vừa chạng vạng, nàng kéo rèm tất cả các cửa sổ xuống, tấm nào cũng sát bậu cửa; nhưng bên kia những tấm rèm ấy, nàng vẫn cảm thấy những cặp mắt ươn ướt đang nhìn mình đầy giễu cợt.
III
Nàng nhớ lại, rồi cố quên đi, rồi lại nhớ rõ hơn cái chi tiết thô tục rằng chồng nàng đã tuân theo phong tục lâu đời của xứ sở này mà nhai thuốc lá. Nàng thà chàng mắc một thói xấu đẹp đẽ hơn—cờ bạc hay nhân tình. Với những thói ấy, có lẽ nàng còn tìm được niềm xa xỉ của sự tha thứ. Nàng không sao nhớ nổi một người hùng tiểu thuyết nào vừa quyến rũ vừa độc ác mà lại nhai thuốc lá. Nàng tự nhủ điều đó chứng tỏ chàng là một người đàn ông của miền Tây tự do, táo bạo. Nàng cố xếp chàng vào hàng những người hùng ngực rậm lông trên màn ảnh. Trong ánh chạng vạng, nàng co mình trên đi-văng, một khối mềm mại nhợt nhạt, vật lộn với chính mình, và thua trận. Chuyện nhổ nước bọt không hề khiến chàng giống những kỵ sĩ tuần tra rong ruổi qua các đồi đất bằng đỉnh; nó chỉ trói chàng vào Gopher Prairie—vào Nat Hicks, anh thợ may, và Bert Tybee, gã pha rượu.
“Nhưng chàng đã bỏ nó vì mình. Ôi, có gì quan trọng đâu! Ai trong chúng ta chẳng bẩn thỉu ở mặt nào đó. Mình cứ tưởng mình cao quý lắm, nhưng mình cũng ăn, cũng tiêu hóa, cũng rửa đôi chân tay cáu bẩn và gãi ngứa. Mình đâu phải một nữ thần thanh mảnh, lạnh lùng đứng trên cột đá. Chẳng có ai như thế cả! Chàng đã bỏ nó vì mình. Chàng luôn đứng về phía mình, tin rằng ai cũng yêu mến mình. Chàng là Vầng Đá Muôn Đời—giữa cơn bão nhỏ nhen đang khiến mình phát điên... nó sẽ khiến mình phát điên mất.”
Suốt buổi tối, nàng hát cho Kennicott nghe những khúc dân ca Scotland, và khi nhận thấy chàng đang nhai một điếu xì gà chưa châm, nàng mỉm cười như một người mẹ trước bí mật của chàng.
Nàng không sao tránh khỏi tự hỏi (bằng đúng những lời lẽ và ngữ điệu thầm kín mà cả ngàn triệu phụ nữ, từ những cô gái vắt sữa đến các nữ hoàng chuyên gây tai họa, đã dùng trước nàng, và cả triệu triệu phụ nữ mai sau sẽ còn biết đến): “Phải chăng việc mình lấy chàng hoàn toàn là một sai lầm khủng khiếp?” Nàng dập yên mối hoài nghi—mà không trả lời nó.
IV
Kennicott đưa nàng lên phía bắc, đến Lac-qui-Meurt, trong vùng Big Woods. Đó là cửa ngõ vào một khu dành riêng cho người da đỏ Chippewa, một khu dân cư trên đất cát, nằm giữa những rặng thông Na Uy bên bờ một hồ nước mênh mông lóa trắng tuyết. Lần đầu tiên nàng thực sự gặp mẹ chàng, ngoài cái nhìn thoáng qua trong lễ cưới. Bà Kennicott có phong thái giáo dưỡng kín đáo, thanh nhã, khiến căn nhà gỗ nhỏ được cọ rửa quá kỹ của bà, với những tấm đệm cứng đã sờn trên các ghế bập bênh nặng nề, cũng trở nên đường hoàng. Bà chưa bao giờ đánh mất năng lực kinh ngạc kỳ diệu của trẻ thơ. Bà hỏi han về sách vở và các thành phố. Bà khe khẽ nói:
“Will là một đứa con trai chăm chỉ đáng quý, nhưng nó có phần quá nghiêm trang, và con đã dạy nó biết vui đùa. Tối qua mẹ nghe hai đứa cười về ông già da đỏ bán giỏ, mẹ cứ nằm trên giường mà vui lây với hạnh phúc của các con.”
Trong tình đoàn kết của đời sống gia đình này, Carol quên mất thói săn tìm nỗi khổ của mình. Nàng có thể nương tựa vào họ; nàng không phải chiến đấu một mình. Nhìn bà Kennicott thoăn thoắt đi lại trong bếp, nàng hiểu Kennicott rõ hơn. Phải, chàng thực tế, và chín chắn đến vô phương cứu chữa. Chàng không thực sự vui chơi; chàng để Carol chơi đùa với mình. Nhưng chàng có thiên tư biết tin người của mẹ, có sự khinh miệt của bà đối với thói dò xét, có đức liêm chính vững vàng của bà.
Từ hai ngày ở Lac-qui-Meurt, Carol rút được niềm tin vào chính mình, và nàng trở về Gopher Prairie trong một trạng thái bình yên rạo rực, như những giây phút vàng óng, mê say khi một người bệnh, nhờ thoát khỏi đau đớn trong khoảnh khắc, bỗng ngây ngất vì được sống.
Một ngày đông sáng choang và giá buốt, gió rít lanh lảnh, những đám mây đen ánh bạc cuồn cuộn ngang trời, vạn vật cuống cuồng chuyển động trong quãng sáng ngắn ngủi. Họ vật lộn với những đợt sóng gió, lội qua tuyết sâu. Kennicott vui vẻ. Chàng gọi Loren Wheeler: “Trong lúc tôi đi vắng, anh có biết giữ mình không đấy?” Ông chủ bút gầm lên: “Quỷ thần ơi, anh đi lâu đến nỗi bệnh nhân của anh khỏi ráo cả rồi!” rồi trịnh trọng ghi chép cho tờ Dauntless về chuyến đi của họ. Jackson Elder hét: “Này, hai người! Trên miền Bắc mọi sự thế nào?” Bà McGanum đứng ngoài hiên vẫy họ.
“Họ mừng vì thấy chúng ta. Ở đây chúng ta có một ý nghĩa nào đó. Những người này đều mãn nguyện. Tại sao mình lại không thể? Nhưng chẳng lẽ mình có thể ngồi yên suốt đời và mãn nguyện với câu ‘Này, hai người!’ sao? Họ muốn những tiếng reo hò trên Phố Chính, còn mình muốn tiếng vĩ cầm trong một căn phòng ốp gỗ. Tại sao——?”
V
Sau giờ học, Vida Sherwin chạy sang cả chục lần. Cô khéo léo, chuyện nọ nối chuyện kia tuôn như thác. Cô đã chạy khắp thị trấn, nhặt nhạnh những lời khen: bà bác sĩ Westlake đã tuyên bố Carol là một “thiếu phụ rất duyên dáng, thông minh, có văn hóa,” còn Brad Bemis, anh thợ thiếc ở Cửa hàng Đồ sắt Clark, quả quyết rằng nàng “rất dễ chịu khi làm việc cho, mà ngắm cũng dễ chịu khiếp đi được.”
Nhưng Carol vẫn chưa thể đón nhận cô. Nàng bực bội vì người ngoài này biết nỗi nhục của mình. Vida không kiên nhẫn được lâu. Cô bóng gió: “Em đúng là hay nghĩ ngợi quá đấy, cô bé. Phấn chấn lên nào. Thị trấn đã thôi chỉ trích em rồi, gần như hoàn toàn. Đi với chị đến Câu lạc bộ Thanatopsis đi. Họ có mấy bài tham luận HAY NHẤT, lại còn thảo luận thời sự nữa—THẬT thú vị.”
Trong những lời thúc giục của Vida, Carol cảm thấy một sức ép, nhưng nàng quá uể oải để nghe theo.
Chính Bea Sorenson mới thực sự là người nàng tâm sự.
Dù có thể vẫn tự cho mình hết sức nhân từ đối với các Giai cấp Thấp kém, Carol đã được nuôi dạy để mặc nhiên tin rằng người hầu thuộc một giống loài riêng biệt và thấp kém hơn. Nhưng nàng phát hiện Bea giống lạ lùng những cô gái nàng từng yêu mến ở đại học, và xét về tư cách bạn bè thì hoàn toàn hơn hẳn các thiếu phụ trẻ của Hội Mười Bảy Vui Vẻ. Mỗi ngày họ lại thẳng thắn trở thành hai cô gái cùng chơi trò nội trợ hơn. Bea thật thà coi Carol là quý bà đẹp nhất, tài giỏi nhất nước; cô luôn miệng reo lên: “Trời ơi, cái mũ đó sang quá!” hoặc: “Tôi nghĩ mấy bà ấy sẽ chết mất khi thấy bà làm tóc thanh nhã thế nào!” Nhưng đó không phải vẻ khúm núm của một người hầu, cũng không phải thói giả dối của một nô lệ; đó là lòng ngưỡng mộ của sinh viên năm thứ nhất dành cho sinh viên năm thứ ba.
Họ cùng nhau soạn thực đơn trong ngày. Tuy ban đầu vẫn giữ đúng phép tắc, Carol ngồi bên bàn bếp còn Bea đứng bên bồn rửa hoặc đánh bóng lò, cuộc bàn bạc rất dễ kết thúc với cả hai cùng ngồi bên bàn, trong khi Bea cười rúc rích kể chuyện anh giao nước đá định hôn cô, hoặc Carol thú nhận: “Ai cũng biết bác sĩ thông minh hơn bác sĩ McGanum rất nhiều.” Khi Carol đi chợ về, Bea lao ra hành lang cởi áo khoác cho nàng, xoa đôi bàn tay cóng lạnh của nàng và hỏi: “Hôm nay trên phố có nhiều người lắm không?”
Đó là sự đón chào mà Carol trông đợi.
VI
Suốt những tuần sống co rúm ấy, đời sống bề ngoài của nàng không hề thay đổi. Ngoài Vida, không ai biết nàng đang quằn quại. Trong những ngày tuyệt vọng nhất, nàng vẫn chuyện trò với các bà ngoài phố, trong cửa hiệu. Nhưng khi không có sự che chở từ hiện diện của Kennicott, nàng không đến Hội Mười Bảy Vui Vẻ; nàng chỉ phó mình cho sự phán xét của thị trấn khi đi mua sắm và trong những dịp viếng thăm buổi chiều trang trọng theo đúng nghi thức, khi bà Lyman Cass hoặc bà George Edwin Mott, với găng tay sạch sẽ, khăn tay bé xíu, hộp đựng danh thiếp bằng da hải cẩu và vẻ mặt tán thưởng đông cứng, ngồi nơi mép ghế rồi hỏi: “Bà có thấy Gopher Prairie dễ chịu không?” Những tối sang nhà Haydock hoặc Dyer để tính toán lời lỗ xã giao, nàng núp sau Kennicott, đóng vai cô dâu ngây thơ.
Giờ đây nàng không còn được che chở. Kennicott đã đưa một bệnh nhân đến Rochester để giải phẫu. Chàng sẽ vắng nhà hai hoặc ba ngày. Nàng vốn không phiền; nàng sẽ nới lỏng sự căng thẳng của hôn nhân và lại làm một cô gái mộng mơ trong chốc lát. Nhưng giờ chàng đã đi, căn nhà trống vắng như đang lắng nghe. Bea chiều nay cũng ra ngoài—hẳn là đi uống cà phê và trò chuyện về “các chàng trai” với cô em họ Tina. Hôm nay là ngày tổ chức bữa tối hằng tháng cùng cuộc chơi bài bridge buổi tối của Hội Mười Bảy Vui Vẻ, nhưng Carol không dám đến.
Nàng ngồi một mình.