Phố chính — Chương 10
Chương 11 / 40 · Bài review Phố chính
NGÔI nhà đã bị ma ám từ lâu trước khi chiều xuống. Bóng tối trườn dọc theo tường và rình đợi sau mỗi chiếc ghế.
Cánh cửa kia vừa động đậy phải không?
Không. Nàng sẽ không đến Hội Mười Bảy Vui Vẻ. Nàng chẳng còn đủ sức mà nhảy nhót trước mặt họ, mà thản nhiên mỉm cười trước sự thô lỗ của Juanita. Hôm nay thì không. Nhưng nàng quả có muốn một cuộc vui. Ngay bây giờ! Giá chiều nay có ai ghé vào, một người ưa nàng—Vida, hay bà Sam Clark, hay bà Champ Perry già, hay bà bác sĩ Westlake hiền hậu. Hoặc Guy Pollock! Nàng sẽ gọi điện——
Không. Như thế không được. Họ phải tự mình tìm đến.
Có lẽ họ sẽ đến.
Sao lại không?
Dù sao nàng cũng sẽ pha trà sẵn. Nếu họ đến—tuyệt quá. Nếu không—nàng cần gì? Nàng sẽ không chịu khuất phục trước thị trấn mà buông xuôi; nàng sẽ tiếp tục tin vào nghi thức uống trà, điều nàng vẫn hằng mong đợi như biểu tượng của một cuộc sống thanh nhã, nhàn tản. Và dù có trẻ con đến mấy, tự mình uống trà và giả vờ đang khoản đãi những người đàn ông thông tuệ cũng vẫn thú vị không kém. Nhất định là thế!
Nàng biến ý nghĩ rạng rỡ ấy thành hành động. Nàng tất bật xuống bếp, chụm thêm củi vào lò, hát Schumann trong lúc đun ấm nước, hâm nóng bánh quy nho khô trên một tờ báo trải trên vỉ lò. Nàng chạy thoăn thoắt lên gác lấy xuống chiếc khăn bàn trà mỏng nhẹ nhất. Nàng bày một khay bạc. Nàng kiêu hãnh bưng nó vào phòng khách, đặt lên chiếc bàn dài bằng gỗ anh đào, gạt sang bên một khung thêu, một cuốn Conrad mượn ở thư viện, mấy số Saturday Evening Post, Literary Digest và National Geographic Magazine của Kennicott.
Nàng dịch chiếc khay tới lui, ngắm nghía hiệu quả. Nàng lắc đầu. Nàng thoăn thoắt mở chiếc bàn may, đặt nó trong ô cửa sổ lồi, vỗ cho khăn bàn trà phẳng phiu, rồi chuyển khay sang đó. “Một ngày nào đó mình sẽ có một chiếc bàn trà bằng gỗ gụ,” nàng vui vẻ nói.
Nàng đã mang vào hai tách, hai đĩa. Cho mình, một chiếc ghế tựa lưng thẳng; còn cho khách là chiếc ghế bành lớn có cánh, nàng vừa thở hổn hển vừa kéo nó lại bên bàn.
Nàng đã hoàn tất mọi việc chuẩn bị có thể nghĩ ra. Nàng ngồi chờ. Nàng lắng nghe tiếng chuông cửa, tiếng điện thoại. Niềm háo hức lắng xuống. Hai bàn tay nàng rũ ra.
Hẳn Vida Sherwin sẽ nghe thấy lời triệu gọi.
Nàng nhìn qua ô cửa sổ lồi. Tuyết rây xuống trên nóc nhà Howland như những tia nước từ vòi phun. Những khoảng sân rộng bên kia đường xám mờ trong các xoáy tuyết chuyển động. Những thân cây đen run rẩy. Mặt đường bị những rãnh băng xẻ nát.
Nàng nhìn chiếc tách và chiếc đĩa thừa. Nàng nhìn chiếc ghế bành có cánh. Nó trống trải biết bao.
Trà trong ấm đã nguội. Nàng mệt mỏi nhúng đầu ngón tay thử. Phải. Nguội hẳn. Nàng không thể chờ thêm nữa.
Chiếc tách đối diện nàng sạch lạnh lẽo, trống không lấp loáng.
Chờ đợi thật hết sức vô lý. Nàng rót cho mình một tách trà. Nàng ngồi nhìn chằm chằm vào đó. Bây giờ nàng định làm gì ấy nhỉ? À phải; ngớ ngẩn thật; lấy một viên đường.
Nàng chẳng muốn thứ trà đáng ghét ấy.
Nàng bật dậy. Nàng đã nằm trên trường kỷ, nức nở.
II
Nàng đang suy nghĩ sắc bén hơn bất cứ lúc nào trong mấy tuần qua.
Nàng trở lại với quyết tâm cải biến thị trấn—đánh thức nó, thúc vào nó, “cải tạo” nó. Nếu họ là sói chứ không phải cừu thì sao? Nàng càng hiền lành, họ càng ăn thịt nàng chóng hơn. Chiến đấu hoặc bị ăn thịt. Thay đổi hoàn toàn thị trấn còn dễ hơn xoa dịu nó! Nàng không thể chấp nhận quan điểm của họ; đó là một thứ tiêu cực; một cảnh bần cùng trí tuệ; một đầm lầy thành kiến và sợ hãi. Nàng sẽ phải khiến họ chấp nhận quan điểm của nàng. Nàng đâu phải một Vincent de Paul để cai quản và uốn nắn cả một dân chúng. Thì đã sao? Một thay đổi nhỏ nhoi nhất trong thái độ ngờ vực cái đẹp của họ cũng sẽ là khởi đầu của kết cuộc; một hạt giống sẽ nảy mầm, rồi một ngày kia, với những chiếc rễ lớn dần, sẽ làm nứt bức tường tầm thường của họ. Nếu không thể, như nàng mong muốn, làm một việc lớn lao thật cao quý và trong tiếng cười, thì nàng cũng chẳng cần cam chịu cái hư vô của thị trấn. Nàng sẽ gieo một hạt giống vào bức tường trống rỗng.
Nàng có công bằng không? Thị trấn này, đối với hơn ba nghìn người là trung tâm của vũ trụ, chẳng lẽ chỉ là một bức tường trống rỗng? Khi từ Lac-qui-Meurt trở về, nàng đã chẳng cảm nhận được sự nồng nhiệt trong lời chào hỏi của họ đó sao? Không. Mười nghìn Gopher Prairie đâu độc quyền những lời chào đón và những bàn tay thân ái. Sam Clark chẳng trung thành hơn những cô thủ thư nàng từng quen ở St. Paul, những người nàng từng gặp tại Chicago. Và những người kia có biết bao điều mà Gopher Prairie tự mãn thiếu vắng—thế giới của niềm vui và phiêu lưu, của âm nhạc và sự vẹn toàn của đồng đúc, của những màn sương còn lưu trong ký ức từ các đảo nhiệt đới, những đêm Paris và những bức tường thành Bagdad, của công lý trong công nghiệp và một Thượng đế không phán truyền bằng những bài thánh ca vè vụng.
Một hạt giống. Là hạt nào không quan trọng. Mọi tri thức và tự do đều là một. Nhưng nàng đã trì hoãn quá lâu việc tìm kiếm hạt giống ấy. Nàng có thể làm gì đó với Câu lạc bộ Thanatopsis này chăng? Hay nàng nên làm cho ngôi nhà mình quyến rũ đến mức nó sẽ trở thành một ảnh hưởng? Nàng sẽ khiến Kennicott yêu thơ. Phải rồi, để khởi đầu! Nàng hình dung rõ ràng đến thế cảnh hai người cúi trên những trang sách lớn sáng màu bên lò sưởi (trong một phòng khách không hề có lò sưởi), đến nỗi những bóng ma đã lẻn đi mất. Cửa không còn động đậy; rèm cửa không phải những bóng tối đang bò tới mà là những mảng tối đẹp đẽ trong buổi chạng vạng; và khi Bea về nhà, Carol đang hát bên cây đàn dương cầm nàng đã không chạm đến suốt nhiều ngày.
Bữa tối của họ là yến tiệc của hai cô gái. Carol ở phòng ăn, trong chiếc váy sa tanh đen viền vàng, còn Bea mặc vải gingham xanh và tạp dề, dùng bữa trong bếp; nhưng cánh cửa giữa hai phòng để mở, và Carol hỏi vọng vào: “Cô có thấy con vịt nào trong cửa kính hiệu Dahl không?” còn Bea ngân nga: “Không, thưa bà. Ôi, chiều nay tụi tôi vui hết sẩy. Tina có cà phê với bánh knackebrod, anh bồ cô ấy cũng ở đó, rồi tụi tôi cứ cười, cười mãi, anh bồ cô ấy bảo ảnh là tổng thống, ảnh sẽ phong tôi làm nữ hoàng Phần Lan, rồi tôi cài một cái lông chim lên tóc, bảo tôi sắp đi đánh chận—ôi, tụi tôi ngốc ơi là ngốc, mà CƯỜI mới dữ làm sao!”
Khi lại ngồi bên đàn dương cầm, Carol không nghĩ đến chồng mà nghĩ đến Guy Pollock, nhà ẩn sĩ say thuốc sách. Nàng ước gì Pollock đến thăm.
“Nếu có một cô gái thật sự hôn anh ấy, anh ấy sẽ bò ra khỏi hang và trở lại làm người. Nếu Will uyên bác được như Guy, hoặc Guy tháo vát được như Will, mình nghĩ mình có thể chịu đựng nổi cả Gopher Prairie. Làm mẹ của Will thật khó biết bao. Với Guy, mình có thể dịu dàng như một người mẹ. Có phải đó là điều mình muốn không—một thứ gì để chăm nom như mẹ, một người đàn ông, một đứa trẻ hay một thị trấn? Mình NHẤT ĐỊNH sẽ có con. Một ngày nào đó. Nhưng để nó bị cô lập ở đây suốt những năm tháng tâm hồn còn rộng mở——”
“Và thế là đi ngủ.”
“Phải chăng mình đã tìm được đúng tầng bậc thực của mình nơi Bea và chuyện phiếm trong bếp?”
“Ôi, em nhớ anh quá, Will. Nhưng sẽ thật dễ chịu khi được trở mình trên giường bao nhiêu lần tùy thích mà không phải lo đánh thức anh.”
“Mình thật sự đã trở thành cái thứ ổn định gọi là ‘đàn bà có chồng’ này rồi sao? Đêm nay mình thấy mình chưa chồng đến thế. Tự do đến thế. Nghĩ mà xem, đã từng có một bà Kennicott để mình bận lòng vì một thị trấn tên Gopher Prairie, trong khi bên ngoài nó là cả một thế giới!”
“Dĩ nhiên Will sẽ yêu thơ.”
III
Một ngày tháng Hai đen tối. Mây đẽo từ những khối gỗ nặng nề đè trĩu xuống mặt đất; những hạt tuyết ngập ngừng rơi trên các khoảng hoang tàn bị giẫm nát. Ảm đạm nhưng không hề che mờ những góc cạnh. Các đường nét của mái nhà và vỉa hè sắc lẻm, không sao tránh khỏi.
Ngày thứ hai Kennicott vắng nhà.
Nàng chạy trốn khỏi ngôi nhà rờn rợn để đi dạo. Trời lạnh ba mươi độ dưới không; lạnh quá, chẳng thể khiến nàng phấn chấn. Ở những khoảng trống giữa các ngôi nhà, gió chộp lấy nàng. Nó châm chích, gặm nhấm mũi, tai và đôi má đau buốt, khiến nàng vội vã từ chỗ trú này sang chỗ trú khác, dừng lại lấy hơi ở phía khuất gió của một nhà kho, biết ơn tấm biển quảng cáo đã che chắn cho mình, trên đó những áp phích rách bươm dán lớp nọ chồng lớp kia, xanh nhòe hồ và đỏ thành từng vệt.
Lùm sồi cuối phố gợi lên hình ảnh người Da đỏ, săn bắn, giày đi tuyết, và nàng gắng sức vượt qua những túp nhà được đắp đất quanh chân tường để ra miền đồng trống, tới một trang trại và một ngọn đồi thấp gợn sóng tuyết cứng. Trong chiếc áo khoác lông nutria rộng, chiếc mũ toque lông hải cẩu, đôi má trinh nguyên chưa hằn những nếp ghen ghét của thị trấn, nàng lạc lõng trên sườn đồi thê lương này như một con chim hồng tước đỏ trên tảng băng trôi. Nàng nhìn xuống Gopher Prairie. Tuyết trải liền một dải từ các đường phố đến miền thảo nguyên ngốn nuốt mọi vật phía xa, xóa sạch vẻ giả vờ làm nơi che chở của thị trấn. Những ngôi nhà là các chấm đen trên một tấm vải trắng. Tim nàng run lên vì nỗi cô quạnh tĩnh lặng ấy, cũng như thân thể nàng run lên trong gió.
Nàng chạy trở lại cụm đường phố chen chúc, suốt dọc đường vẫn thầm phản kháng rằng nàng muốn ánh vàng chói lọi từ cửa kính các cửa hiệu và nhà hàng nơi đô thị, hoặc khu rừng nguyên sơ với áo lông trùm kín đầu và một khẩu súng trường, hoặc một sân trại ấm áp, mù hơi nước, ồn ào tiếng gà và gia súc—nhất định không phải những ngôi nhà nâu xám này, những khoảng sân nghẹt các đống tro mùa đông này, những con đường phủ tuyết bẩn và bùn đông cứng vón cục này. Niềm hứng khởi của mùa đông đã mất. Cái lạnh có thể còn lê dài thêm ba tháng nữa, cho đến tháng Năm, tuyết càng lúc càng nhơ bẩn, thân thể suy yếu càng lúc càng kém sức chống chịu. Nàng tự hỏi tại sao những công dân lương thiện cứ nhất quyết chồng thêm cái lạnh của thành kiến, tại sao họ không làm cho ngôi nhà tinh thần của mình ấm áp và vui nhộn hơn, như những người chuyện trò thông thái ở Stockholm và Moscow.
Nàng đi vòng theo rìa thị trấn và nhìn khu ổ chuột “Swede Hollow.” Hễ có ba ngôi nhà tụ họp thì ít nhất một trong số đó sẽ thành khu ổ chuột. Ở Gopher Prairie, vợ chồng Sam Clark vẫn khoe: “Ở đây không có cái cảnh nghèo khổ như trong thành phố—lúc nào cũng đầy việc—chẳng cần cứu tế—ai không ngóc đầu lên được thì chỉ có trách mình lười nhác.” Nhưng giờ đây, khi tấm mặt nạ mùa hè bằng lá cây và cỏ đã biến mất, Carol phát hiện cảnh khốn cùng và những hy vọng đã chết. Trong một túp lều bằng ván mỏng phủ giấy dầu, nàng thấy bà thợ giặt Steinhof làm việc giữa làn hơi xám. Bên ngoài, đứa con trai sáu tuổi của bà đang bổ củi. Nó mặc chiếc áo khoác rách, quàng khăn màu xanh nhạt như sữa đã hớt kem. Hai bàn tay nó bọc trong đôi găng đỏ, qua đó những đốt ngón nứt nẻ, tấy sống nhô ra. Nó dừng lại để hà hơi vào tay, để khóc một cách hờ hững.
Một gia đình người Phần Lan mới đến cắm chỗ trong một chuồng ngựa bỏ hoang. Một ông lão tám mươi đang nhặt những cục than dọc đường sắt.
Nàng không biết phải làm gì về chuyện ấy. Nàng cảm thấy những công dân độc lập này, những người đã được dạy rằng mình thuộc về một nền dân chủ, sẽ phẫn nộ nếu nàng cố đóng vai Quý bà Hào hiệp.
Nỗi cô đơn của nàng tan biến trong hoạt động của các ngành sản xuất nơi thị trấn—bãi đường sắt với một đoàn tàu hàng đang đổi đường ray, kho chứa lúa mì, những bồn dầu, một lò sát sinh với các vết máu trên tuyết, xưởng bơ sữa với xe trượt của nông dân và những đống thùng sữa, một túp nhà đá không rõ công dụng mang biển “Nguy hiểm—Có chứa thuốc nổ.” Bãi bia mộ vui tươi, nơi một nhà điêu khắc thực dụng mặc áo khoác da bê đỏ vừa huýt sáo vừa nện búa lên những tấm bia đầu mộ bằng đá hoa cương bóng loáng nhất. Xưởng bào gỗ nhỏ của Jackson Elder, với mùi dăm thông mới và tiếng rè rè của cưa đĩa. Quan trọng nhất là Công ty Bột mì và Xay xát Gopher Prairie, chủ tịch Lyman Cass. Cửa sổ của công ty phủ kín bụi bột, nhưng đó là nơi náo động nhất thị trấn. Công nhân đang lăn các thùng bột mì vào một toa hàng; một nông dân ngồi trên những bao lúa mì trong chiếc xe trượt đôi đang tranh luận với người thu mua; máy móc trong xưởng ầm vang và rít lên, nước róc rách trong dòng dẫn tới cối xay đã được phá băng.
Sau nhiều tháng giữa những ngôi nhà tự mãn, tiếng huyên náo ấy đem lại cho Carol một niềm khuây khỏa. Nàng ước gì mình có thể làm việc trong xưởng; ước gì mình không thuộc về đẳng cấp những-bà-vợ-của-người-làm-nghề-chuyên-môn.
Nàng lên đường về nhà, đi qua khu ổ chuột nhỏ. Trước một túp lều giấy dầu, bên một lối vào không có cổng, một người đàn ông mặc áo da chó nâu thô và đội mũ nhung đen có vành che tai đang nhìn nàng. Khuôn mặt vuông vức của ông đầy tự tin, bộ ria cáo nom phiêu bạt tinh quái. Ông đứng thẳng, hai tay đút túi áo bên hông, chậm rãi nhả khói tẩu. Có lẽ ông khoảng bốn mươi lăm, bốn mươi sáu tuổi.
“Chào bà Kennicott,” ông kéo dài giọng.
Nàng nhớ ra ông—người thợ làm đủ mọi việc trong thị trấn, đã sửa lò sưởi cho nhà nàng vào đầu mùa đông.
“Ồ, chào ông,” nàng bối rối đáp.
“Tên tôi là Bjornstam. Họ gọi tôi là ‘Gã Thụy Điển Đỏ.’ Bà nhớ chứ? Tôi vẫn nghĩ mình cũng muốn chào bà lần nữa.”
“Vâ—vâng——Tôi đang đi thám hiểm vùng rìa thị trấn.”
“Dạ. Một mớ đẹp đẽ. Không cống rãnh, không quét đường, còn mục sư Lutheran với linh mục thì đại diện cho nghệ thuật và khoa học. Chà, quỷ thật, đám một phần mười chìm nghỉm chúng tôi dưới Swede Hollow này cũng chẳng tệ hơn các vị đâu. Tạ ơn Chúa, chúng tôi không phải đến rù rì nịnh Juanita Haydock ở cái Hội Mười Bảy Già Vui Vẻ.”
Carol, người vẫn tự xem mình là hoàn toàn dễ thích nghi, lại khó chịu khi bị một gã làm việc vặt sực mùi khói tẩu chọn làm bạn đồng hội. Có lẽ ông ta là một bệnh nhân của chồng nàng. Nhưng nàng phải giữ phẩm giá.
“Vâng, ngay cả Hội Mười Bảy Vui Vẻ cũng không phải lúc nào cũng hấp dẫn đến thế. Hôm nay trời lại rất lạnh, phải không ông. Thôi——”
Bjornstam không kính cẩn nói lời cáo biệt. Ông chẳng có dấu hiệu nào định giật chỏm tóc tỏ lòng tôn kính. Cặp lông mày ông động đậy như thể có đời sống riêng. Với một nụ cười ngầm, ông tiếp tục:
“Có lẽ tôi không nên ăn nói hỗn xược như thế về bà Haydock và cái Hội Mười Bảy Sầu Thảm của bà ta. Chắc tôi sẽ sướng chết đi được nếu được mời nhập bọn với đám ấy. Tôi là cái thứ họ gọi là kẻ tiện dân, chắc vậy. Tôi là gã xấu xa của thị trấn, bà Kennicott ạ: kẻ vô thần của thị trấn, và có lẽ tôi cũng phải là một tên vô chính phủ nữa. Bất kỳ ai không yêu các chủ ngân hàng và Đảng Cộng hòa Vĩ đại Cổ kính đều là kẻ vô chính phủ.”
Carol đã vô thức chuyển từ tư thế sắp bỏ đi sang tư thế lắng nghe, mặt quay hẳn về phía ông, bao tay lông hạ xuống. Nàng ấp úng:
“Vâng, chắc là thế.” Những nỗi bất bình của chính nàng trào lên như lũ. “Tôi không hiểu tại sao ông lại không được phê phán Hội Mười Bảy Vui Vẻ nếu ông muốn. Họ đâu phải thánh thần.”
“Ồ, đúng thế đấy! Dấu đô-la đã đuổi cây thánh giá sạch khỏi bản đồ. Nhưng thôi, tôi cũng chẳng có gì để oán trách. Tôi làm điều mình thích, thì có lẽ cũng nên để họ làm như vậy.”
“Ông có ý gì khi tự nhận mình là kẻ bị ruồng bỏ?”
“Tôi nghèo, thế mà lại chẳng biết điều mà ghen tị với người giàu. Tôi là một anh già độc thân. Tôi kiếm đủ tiền làm vốn, rồi ngồi một mình, tự bắt tay mình, hút thuốc, đọc lịch sử, và chẳng góp phần làm giàu cho ông anh Elder hay bố già Cass.”
“Ông—tôi đoán ông đọc khá nhiều.”
“Phải. Gặp gì đọc nấy thôi. Nói cô nghe: tôi là con sói đơn độc. Tôi buôn ngựa, cưa củi, làm trong các trại khai thác gỗ—tôi là tay phụ việc hạng nhất. Bao giờ cũng ao ước được vào đại học. Dẫu tôi đoán chắc mình sẽ thấy ở đó chậm chạp phát ngán, mà có lẽ họ cũng sẽ tống cổ tôi ra.”
“Quả thực ông là một con người kỳ lạ, ông—?”
“Bjornstam. Miles Bjornstam. Nửa Yankee, nửa Thụy Điển. Thường được gọi là ‘cái thằng khốn lười chảy thây, to mồm, chuyên gào tai họa, chẳng bao giờ vừa ý với cách chúng ta điều hành mọi việc.’ Không, tôi chẳng kỳ lạ—dù cô muốn nói gì qua chữ ấy! Tôi chỉ là một con mọt sách. Có lẽ đọc quá nhiều so với khả năng tiêu hóa của mình. Có lẽ là đồ nửa mùa. Tôi phải giành nói chữ ‘nửa mùa’ trước để cô khỏi kịp nói, bởi hễ là một tay cấp tiến mặc quần vải thô thì chắc như đinh đóng cột sẽ được người ta ban cho chữ ấy!”
Họ cùng nhe răng cười. Cô gặng hỏi:
“Ông bảo Hội Mười Bảy Vui Vẻ ngu ngốc. Sao ông lại nghĩ thế?”
“Ồ, cứ tin rằng bọn mọt đục nền móng chúng tôi hiểu rõ tầng lớp nhàn cư của các cô. Thực tình, bà Kennicott ạ, theo chỗ tôi nhận ra thì những người duy nhất có chút đầu óc trong cái thị trấn của con người này—tôi không nói thứ đầu óc ghi sổ cái, hay đầu óc săn vịt, hay đầu óc đánh đít trẻ con, mà là óc tưởng tượng thực sự—chỉ có cô, tôi, Guy Pollock và viên quản đốc nhà máy bột. Viên quản đốc ấy là người xã hội chủ nghĩa. (Đừng nói với Lym Cass nhé! Lym sẽ đuổi một người xã hội chủ nghĩa còn nhanh hơn đuổi một tên trộm ngựa!)”
“Dĩ nhiên là không, tôi sẽ không nói với ông ấy.”
“Viên quản đốc ấy với tôi có những trận tranh luận ra trò. Ông ta là đảng viên chính thống kiểu cũ. Giáo điều quá. Cứ mong cải cách mọi thứ, từ nạn phá rừng đến chứng chảy máu cam, bằng cách đọc lên những câu như ‘giá trị thặng dư’. Y như đọc sách cầu nguyện. Nhưng đồng thời, so với những người như Ezry Stowbody, Giáo sư Mott hay Julius Flickerbaugh, ông ta đúng là Plato J. Aristotle.”
“Nghe chuyện về ông ấy thật thú vị.”
Anh lấy mũi giày khoét vào một ụ tuyết, như cậu học trò. “Ôi dào. Ý cô là tôi nói nhiều quá. Phải, tôi nói nhiều thật, một khi gặp được người như cô. Có lẽ cô muốn đi tiếp để mũi khỏi đông cứng.”
“Vâng, có lẽ tôi phải đi thôi. Nhưng hãy nói tôi nghe: Tại sao ông lại bỏ cô Sherwin ở trường trung học ra khỏi danh sách giới trí thức của thị trấn?”
“Tôi đoán có lẽ cô ấy cũng thuộc vào đấy. Theo tất cả những gì tôi nghe được, cô ấy tham gia mọi việc và đứng sau mọi việc có vẻ là một cuộc cải cách—nhiều hơn hẳn mức phần đông người ta nhận thấy. Cô ấy để bà mục sư Warren, chủ tịch cái Câu lạc bộ Thanatopsis này, tưởng rằng bà ta đang điều hành cả guồng máy, nhưng cô Sherwin mới là bà chủ bí mật, cứ thúc vào sườn tất cả các mệnh phụ dễ dãi để họ chịu làm một việc gì đó. Nhưng theo cách tôi tính thì—Cô thấy đấy, tôi chẳng quan tâm đến mấy cuộc cải cách bé tí ấy. Cô Sherwin cố vá những lỗ thủng trên con tàu thị trấn đóng đầy hà bằng cách luôn tay tát nước ra. Còn Pollock cố sửa nó bằng cách đọc thơ cho thủy thủ đoàn nghe! Tôi ấy à, tôi muốn kéo phắt nó lên triền đà, đuổi cổ tay thợ đóng giày khốn kiếp đã đóng ra nó khiến nó cứ chạy xiên, rồi cho đóng lại cho đúng, từ sống tàu trở lên.”
“Vâng—như thế—như thế sẽ tốt hơn. Nhưng tôi phải chạy về nhà. Cái mũi tội nghiệp của tôi gần đông cứng rồi.”
“Này, tốt hơn cô nên vào sưởi ấm, tiện thể xem cái ổ của một anh già độc thân nó ra sao.”
Cô nhìn anh đầy ngờ vực, nhìn túp lều thấp lè tè, khoảng sân vương vãi củi khúc, những tấm ván mốc, một chiếc chậu giặt đã mất đai. Cô thấy bất an, nhưng Bjornstam không cho cô cơ hội tỏ vẻ ý tứ. Anh vung tay ra trong một cử chỉ chào đón mặc nhiên coi cô là người tự quyết định lấy việc của mình, rằng cô không phải một Người Đàn Bà Có Chồng Đáng Kính mà hoàn toàn là một con người. Với giọng run run, “Vâng, chỉ một lát thôi, để sưởi ấm mũi,” cô liếc xuôi phố cho chắc không ai rình thấy, rồi phóng thẳng về phía túp lều.
Cô ở lại suốt một giờ, và chưa bao giờ cô gặp một chủ nhà chu đáo hơn chàng Thụy Điển Đỏ.
Anh chỉ có một gian phòng: sàn gỗ thông trần trụi, chiếc bàn thợ nhỏ, giường tầng áp tường với chăn nệm gọn gàng đến kinh ngạc, chảo rán và bình cà phê lấm tấm tro trên giá phía sau chiếc lò bầu tròn như đạn đại bác, những chiếc ghế kiểu chốn rừng sâu—một chiếc đóng từ nửa cái thùng, một chiếc từ một tấm ván đặt nghiêng—và một dãy sách pha tạp đến khó tin; Byron, Tennyson và Stevenson, một cuốn cẩm nang về động cơ chạy khí đốt, một cuốn sách của Thorstein Veblen, cùng một chuyên luận hoen ố nhan đề “Cách chăm sóc, nuôi ăn, phòng trị bệnh và gây giống gia cầm, gia súc”.
Chỉ có độc một bức tranh—một bản in màu lấy từ tạp chí, vẽ ngôi làng mái dốc trên dãy núi Harz, gợi đến những yêu tinh kobold và các thiếu nữ tóc vàng.
Bjornstam không rối rít săn sóc cô. Anh gợi ý: “Cô cứ mở áo khoác ra, gác chân lên cái thùng trước lò cũng được.” Anh quăng chiếc áo da chó lên giường, hạ mình xuống chiếc ghế thùng và đều giọng nói tiếp:
“Phải, có lẽ tôi là một gã mọi rợ, nhưng quỷ thần ơi, nhờ làm đủ việc vặt mà tôi giữ được tính độc lập, và như thế còn hơn mấy tên khốn lễ độ như bọn nhân viên ngân hàng. Khi tôi thô lỗ với một thằng cha nào đó, có thể một phần vì tôi chẳng biết cách nào hơn (và có Chúa biết tôi đâu phải bậc thẩm quyền về những loại nĩa cầu kỳ hay thứ quần nào phải mặc với áo Prince Albert), nhưng phần lớn là vì lời tôi nói có ý nghĩa. Tôi gần như là người duy nhất ở hạt Johnson còn nhớ điều khoản tréo ngoe trong Tuyên ngôn Độc lập nói rằng người Mỹ đáng lẽ phải có quyền ‘sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc.’
“Tôi gặp lão Ezra Stowbody ngoài phố. Lão nhìn tôi như muốn tôi nhớ rằng lão là một nhân vật tai to mặt lớn, trị giá hai trăm nghìn đô-la, rồi lão nói, ‘Ờ, Bjornquist—’
“‘Tên tôi là Bjornstam, Ezra,’ tôi nói. LÃO biết tên tôi rõ mười mươi.
“‘Chà, tên anh là gì cũng được,’ lão nói, ‘tôi nghe nói anh có một cái cưa chạy xăng. Tôi muốn anh đến cưa cho tôi bốn cord gỗ phong,’ lão nói.
“‘Vậy là ông ưa bộ dạng tôi, hả?’ tôi nói, vẻ ngây thơ.
“‘Chuyện ấy thì có gì khác? Tôi muốn anh cưa xong chỗ củi ấy trước thứ Bảy,’ lão nói, giọng sắc lẻm. Một thằng lao động tầm thường lại dám hỗn xược với cả một phần năm triệu đô-la đang đi nghênh ngang trong chiếc áo lông thú cũ người khác thải ra!
“‘Khác ở chỗ này,’ tôi nói, chỉ để chọc tức lão. ‘Làm sao ông biết tôi ưa bộ dạng CỦA ÔNG?’ Chà, trông lão mới giận dữ làm sao! ‘Không,’ tôi nói sau khi ra vẻ cân nhắc kỹ càng, ‘tôi không ưng đơn xin vay của ông. Đem sang ngân hàng khác đi, có điều ở đây chẳng có ngân hàng nào khác,’ tôi nói, rồi bỏ mặc lão mà đi.
“Đúng. Có lẽ tôi đã cục cằn—và ngu ngốc. Nhưng tôi nghĩ trong thị trấn phải có MỘT người đủ độc lập để dám bật lại tay chủ ngân hàng!”
Anh nhích khỏi ghế, pha cà phê, đưa Carol một tách rồi tiếp tục nói, nửa thách thức nửa phân trần, nửa khát khao tình thân thiện nửa thích thú trước vẻ ngạc nhiên của cô khi phát hiện ra rằng có tồn tại một triết lý vô sản.
Đến cửa, cô bóng gió:
“Ông Bjornstam, nếu ông là tôi, ông có lo lắng khi người ta cho rằng mình kiểu cách không?”
“Hả? Đá vào mặt họ ấy chứ! Này, nếu tôi là một con hải âu, toàn thân trắng bạc, cô nghĩ tôi có thèm bận tâm một lũ hải cẩu bẩn thỉu nghĩ gì về cách tôi bay không?”
Không phải ngọn gió sau lưng, mà chính sức đẩy từ lòng khinh miệt của Bjornstam đã đưa cô xuyên qua thị trấn. Cô nhìn thẳng vào Juanita Haydock, nghênh đầu đáp lại cái gật đầu cụt lủn của Maud Dyer, rồi rạng rỡ trở về nhà với Bea. Cô gọi điện bảo Vida Sherwin “tối nay ghé qua nhé.” Cô chơi Tschaikowsky đầy hào hứng—những hợp âm cường tráng là tiếng vọng của nhà hiền triết tóc đỏ hay cười trong túp lều lợp giấy dầu.
(Khi cô bóng gió với Vida, “Ở đây chẳng phải có một người lấy việc bất kính với các vị thần của làng làm thú vui sao—Bjornstam, hay cái tên đại loại thế?” vị lãnh tụ cải cách đáp: “Bjornstam à? Ồ, phải. Chuyên sửa chữa mọi thứ. Anh ta xấc xược kinh khủng.”)
IV
Kennicott đã trở về lúc nửa đêm. Trong bữa sáng, chàng nói đến bốn lần riêng biệt rằng từng giây từng phút chàng đều nhớ cô.
Trên đường đi chợ, Sam Clark gọi giật cô lại: “Chúc một buổi sáng tốt lành! Có định dừng chân tán gẫu với Sam’l một lát không? Ấm hơn rồi nhỉ? Nhiệt kế của bác sĩ bảo bao nhiêu độ? Này, hai người nên ghé nhà chúng tôi chơi vào một tối nào đó. Đừng có kiêu căng quá thể, cứ ru rú riêng với nhau.”
Champ Perry, nhà khai phá tiên phong kiêm người thu mua lúa mì ở kho tháp, chặn cô trong bưu điện, giữ bàn tay cô giữa đôi tay khô quắt của ông, nhìn cô bằng đôi mắt bạc màu rồi cười khúc khích: “Cô thật tươi tắn, rạng rỡ, cô bạn thân mến ạ. Mới hôm nọ bà nhà tôi còn bảo chỉ cần nhìn thấy cô cũng bổ hơn một liều thuốc.”
Trong cửa hàng Bon Ton, cô bắt gặp Guy Pollock đang rụt rè mua một chiếc khăn quàng màu xám giản dị. “Lâu lắm rồi chúng tôi không gặp ông,” cô nói. “Một tối nào đó ông ghé vào chơi cribbage nhé?” Như thể thật lòng mong muốn, Pollock nài nỉ: “Tôi thực sự được phép chứ?”
Trong lúc cô mua hai yard vải tuyn Malines, Raymie Wutherspoon lắm lời rón rén đến bên, khuôn mặt dài vàng bủng nhấp nhô, và khẩn khoản: “Bà nhất định phải quay lại gian hàng của tôi xem đôi hài da láng mà tôi đã để riêng cho bà.”
Với một vẻ thành kính còn hơn cả bậc tư tế, anh tháo dây giày ống của cô, vén váy gọn quanh mắt cá chân rồi xỏ đôi hài vào. Cô mua chúng.
“Anh là một người bán hàng giỏi,” cô nói.
“Tôi chẳng phải người bán hàng gì hết! Tôi chỉ thích những thứ thanh nhã. Tất cả chỗ này thật thiếu mỹ thuật.” Với bàn tay phẩy lên rầu rĩ, anh chỉ những giá hộp giày, chiếc ghế mặt gỗ mỏng đục thủng thành những đóa hồng, dãy cốt giày và hộp xi đánh giày bằng thiếc, bức tranh in đá vẽ một thiếu nữ cười nhăn nhở với đôi má đỏ như anh đào, đang tuyên bố bằng thứ thi ca cao cả của quảng cáo: “Mấy ngón chân xinh của tôi chưa hề biết sự hoàn mỹ của bàn chân là gì, cho tới khi tôi sắm một đôi Cleopatra thật sang, thật điệu.”
“Nhưng đôi khi,” Raymie thở dài, “lại có một đôi giày nhỏ nhắn thanh tú như thế này, và tôi để riêng cho một người biết thưởng thức. Ngay khi trông thấy chúng, tôi đã nói: ‘Giá mà đôi này vừa chân bà Kennicott thì hay biết mấy,’ và tôi định bụng sẽ nói với bà ngay khi có dịp đầu tiên. Tôi vẫn chưa quên những cuộc chuyện trò vui vẻ của chúng ta ở nhà bà Gurrey đâu!”
Tối hôm ấy Guy Pollock đến chơi, và dù Kennicott lập tức bắt ông nhập vào một ván cribbage, Carol lại thấy vui.
V
Khi lấy lại được phần nào sức sống phơi phới, cô vẫn không quên quyết tâm bắt đầu khai hóa Gopher Prairie bằng lối tuyên truyền dễ dàng và thú vị là dạy Kennicott biết thưởng thức việc đọc thơ dưới ánh đèn. Chiến dịch bị trì hoãn. Hai lần chàng đề nghị họ sang thăm hàng xóm; một lần chàng về miền quê. Đến tối thứ tư, chàng khoan khoái ngáp, vươn vai rồi hỏi: “Nào, tối nay ta làm gì đây? Đi xem phim nhé?”
“Em biết chính xác chúng ta sẽ làm gì. Giờ đừng hỏi gì cả! Lại ngồi xuống bên bàn đi. Đấy, anh đã thoải mái chưa? Ngả lưng ra, quên rằng mình là một con người thực tế, rồi nghe em nhé.”
Có thể cô đã chịu ảnh hưởng từ thói quen chỉ huy của Vida Sherwin; chắc chắn giọng cô nghe như thể đang rao bán văn hóa. Nhưng cô bỏ giọng ấy khi ngồi xuống trường kỷ, hai tay chống cằm, một tập thơ Yeats đặt trên đầu gối, và đọc thành tiếng.
Tức thì cô được giải thoát khỏi tiện nghi tầm thường của một thị trấn trên thảo nguyên. Cô bước vào thế giới của những vật cô đơn—cánh chim sẻ ngô chấp chới trong hoàng hôn, tiếng hải âu quặn đau gọi dọc một bờ biển nơi bọt sóng giăng lưới bò ra từ bóng tối, hòn đảo của Aengus và các vị thần cổ xưa cùng những vinh quang vĩnh cửu chưa từng hiện hữu, những vị vua cao lớn và những người đàn bà quấn quanh mình lớp vàng đóng vảy, tiếng tụng ca bi thiết không ngừng và—
“Hê-cha-cha!” Bác sĩ Kennicott ho lên. Cô dừng lại. Cô nhớ chàng thuộc hạng người nhai thuốc lá. Cô trừng mắt, trong khi chàng bối rối nài nỉ: “Thơ tuyệt lắm. Em học ở đại học à? Anh thích thơ lắm chứ—James Whitcomb Riley với vài bài của Longfellow—bài ‘Hiawatha’ ấy. Trời, anh ước gì mình thưởng thức được mấy thứ nghệ thuật cao siêu ấy. Nhưng có lẽ con chó già như anh chẳng học nổi trò mới đâu.”
Vừa thương sự bối rối của chàng, vừa hơi muốn phá lên cười, cô an ủi: “Vậy ta thử Tennyson nhé. Anh đã đọc ông ấy rồi chứ?”
“Tennyson à? Tất nhiên. Hồi đi học anh đã đọc. Có bài này:
Và xin đừng có (gì nhỉ?) lời từ biệt Khi ta ra biển khơi, Mà hãy để—
Chà, anh không nhớ hết, nhưng—Ồ, phải rồi! Còn bài ‘Tôi gặp một cậu bé nhà quê, cậu—’ Anh không nhớ chính xác thế nào, nhưng điệp khúc kết thúc bằng câu ‘Chúng ta là bảy người.’”
“Vâng. Thôi được—Ta thử ‘Những khúc ca về Đức Vua’ nhé? Chúng tràn ngập màu sắc.”
“Cứ đọc đi. Bắn nào.” Nhưng chàng vội tìm nơi ẩn náu sau một điếu xì-gà.
Cô không được đưa tới Camelot. Cô đọc mà một mắt cứ liếc chàng, và khi thấy chàng đang khổ sở đến nhường nào, cô chạy tới, hôn lên trán chàng, kêu lên: “Ôi, bông huệ trắng tội nghiệp bị ép uổng, trong bụng chỉ muốn làm một củ cải tử tế!”
“Này, thế thì đâu có—”
“Dù sao em cũng sẽ không hành hạ anh thêm nữa.”
Cô vẫn chưa thể hoàn toàn từ bỏ. Cô đọc Kipling, nhấn giọng thật mạnh:
Có một TRUNG ĐOÀN đang TIẾN xuống CON ĐƯỜNG Grand Trunk.
Anh gõ chân theo nhịp; trông anh bình thường và đã yên lòng. Nhưng khi anh khen cô: “Hay lắm. Anh chẳng biết nữa, có khi em diễn ngâm cũng hay chẳng kém gì Ella Stowbody,” cô đập cuốn sách xuống và bảo rằng họ vẫn chưa quá muộn để đi xem suất chiếu bóng chín giờ.
Đó là nỗ lực cuối cùng của cô nhằm thu hoạch ngọn gió tháng Tư, truyền dạy nỗi bất hạnh thần thánh bằng một khóa học hàm thụ, mua những đóa huệ xứ Avalon và những buổi hoàng hôn miền Cockaigne đóng trong hộp thiếc tại cửa hàng tạp hóa của Ole Jenson.
Nhưng sự thật là ở rạp chiếu bóng, cô chợt thấy mình cười khoái trá chẳng kém Kennicott trước trò khôi hài của một diễn viên nhét mì spaghetti vào cổ áo dạ hội của một người đàn bà. Trong một giây, cô căm ghét tiếng cười của mình; tiếc thương cái ngày trên ngọn đồi bên dòng Mississippi, cô từng dạo bước trên thành lũy cùng những bà hoàng. Nhưng trò tinh quái của danh hài màn bạc lừng danh—thả cóc vào đĩa súp—lại khiến cô bất đắc dĩ bật cười khúc khích, và ánh dư huy tàn lụi, những bà hoàng đã chết chạy trốn qua bóng tối.
VI
Cô đến dự buổi chơi bài bridge ban chiều của Hội Mười Bảy Vui Vẻ. Cô đã học những điều căn bản của trò chơi từ vợ chồng Sam Clark. Cô chơi lặng lẽ và dở một cách vừa phải. Cô không có ý kiến về bất cứ chuyện gì gây tranh luận hơn bộ đồ lót liền thân bằng len, một đề tài mà bà Howland đã diễn giảng suốt năm phút. Cô mỉm cười luôn miệng, và trong cung cách cảm ơn bà chủ nhà, bà Dave Dyer, cô quả là một con chim hoàng yến chính hiệu.
Khoảng thời gian duy nhất khiến cô lo âu là lúc mọi người hội đàm về các ông chồng.
Các bà vợ trẻ bàn luận những chuyện kín đáo trong đời sống gia đình với một vẻ thẳng thắn và tỉ mỉ khiến Carol kinh hãi. Juanita Haydock truyền đạt cách Harry cạo râu và thú săn hươu của anh. Bà Gougerling tường trình đầy đủ, lại hơi bực bội, về việc chồng bà không biết thưởng thức món gan rán thịt muối. Maud Dyer ghi chép những chứng rối loạn tiêu hóa của Dave; thuật lại một cuộc tranh cãi gần đây với anh trước giờ ngủ về Khoa học Cơ Đốc, bít tất và chuyện đính cúc lên áo gi-lê; tuyên bố rằng bà “nhất định không chịu nổi cái thói anh ta cứ sờ soạng các cô gái, trong khi chỉ cần một người đàn ông khiêu vũ với mình là anh ta đã ghen phát điên”; rồi phác họa các kiểu hôn của Dave với mức chi tiết còn hơn cả sơ lược.
Carol chăm chú lắng nghe ngoan ngoãn đến thế, rõ ràng cuối cùng cũng thiết tha muốn trở thành một người trong bọn họ đến thế, khiến họ nhìn cô trìu mến và khuyến khích cô kể những chi tiết có thể đáng quan tâm về tuần trăng mật. Cô ngượng ngùng hơn là phật ý. Cô cố tình hiểu sai. Cô nói về đôi giày bọc đi tuyết và những lý tưởng y khoa của Kennicott cho đến khi họ chán ngấy. Họ cho cô là dễ mến nhưng còn non nớt.
Cho đến phút cuối, cô vẫn nhọc công làm vừa lòng cuộc tra khảo. Cô líu lo với Juanita, chủ tịch hội, rằng cô muốn mời họ đến nhà. “Chỉ có điều,” cô nói, “mình không biết có thể dọn món gì ngon bằng món rau trộn của bà Dyer, hay món bánh bông lan lòng trắng trứng ngon tuyệt mà chúng mình đã ăn ở nhà bạn không, bạn thân mến ạ.”
“Tuyệt quá! Chúng mình đang cần một bà chủ nhà cho ngày mười bảy tháng Ba. Bạn tổ chức một buổi chơi bridge mừng Ngày Thánh Patrick thì chẳng phải độc đáo kinh khủng sao! Mình sẽ vui chết đi được nếu được giúp bạn. Mình mừng là bạn đã học chơi bridge. Lúc đầu mình gần như chẳng biết bạn có thích Gopher Prairie hay không nữa. Thật tuyệt vì bạn đã ổn định và trở nên thân tình như người nhà với bọn mình! Có lẽ bọn mình không trí thức bằng dân Các Thành phố, nhưng bọn mình quả có những cuộc vui hết ý, rồi—ồ, mùa hè bọn mình đi bơi, rồi khiêu vũ, rồi—ồ, bao nhiêu là cuộc vui. Nếu người ta cứ chịu nhìn nhận bọn mình đúng như bọn mình vốn thế, thì mình cho rằng bọn mình là một nhóm khá tuyệt đấy!”
“Mình tin chắc như vậy. Cảm ơn bạn thật nhiều về ý tổ chức một buổi chơi bridge mừng Ngày Thánh Patrick.”
“Ồ, có gì đâu. Mình vẫn nghĩ Hội Mười Bảy Vui Vẻ rất giỏi nảy ra những ý tưởng độc đáo. Nếu bạn biết những thị trấn khác như Wakamin và Joralemon với tất cả những nơi ấy, bạn sẽ nhận ra và hiểu rằng G. P. là thị trấn sôi nổi nhất, tinh anh nhất trong bang. Bạn có biết Percy Bresnahan, nhà sản xuất ô tô nổi tiếng, xuất thân từ đây không, và——Phải, mình nghĩ một bữa tiệc Ngày Thánh Patrick sẽ duyên dáng và độc đáo kinh khủng, mà vẫn không quá kỳ quặc hay quái dị hay gì gì cả.”