Phố chính — Chương 11

Chương 12 / 40 · Bài review Phố chính

I

NÀNG thường được mời dự các buổi họp hằng tuần của Câu lạc bộ Thanatopsis, câu lạc bộ nghiên cứu của phụ nữ, nhưng nàng vẫn lần lữa. Vida Sherwin quả quyết rằng Thanatopsis là “một nhóm thật đầm ấm, thế mà vẫn giúp chị tiếp xúc với mọi tư tưởng trí thức đang lưu hành khắp nơi.”

Đầu tháng Ba, bà Westlake, vợ vị bác sĩ kỳ cựu, tiến vào phòng khách nhà Carol như một con mèo già hiền lành và đề nghị: “Em thân mến, chiều nay em nhất định phải đến Thanatopsis. Bà Dawson sẽ chủ trì, mà tội nghiệp, bà ấy sợ chết khiếp. Bà ấy nhờ tôi mời em đến. Bà ấy bảo chắc chắn kiến thức sách vở và văn chương của em sẽ làm buổi họp sáng sủa hẳn lên. (Hôm nay đề tài của chúng tôi là thơ Anh.) Nào, đi thôi! Mặc áo khoác vào!”

“Thơ Anh ư? Thật sao? Em rất muốn đi. Em không biết các bà đang đọc thơ đấy.”

“Ồ, chúng tôi đâu có chậm tiến đến thế!”

Bà Luke Dawson, vợ người giàu nhất thị trấn, nhìn họ trân trân, vẻ cầu cứu thảm hại, khi họ xuất hiện. Chiếc váy sa tanh màu lông hải ly đắt tiền của bà, với những hàng, những mảng và những chuỗi hạt nâu nghiêm nghị rủ xuống, vốn được may cho một phụ nữ to gấp đôi bà. Bà đứng vặn hai tay trước mười chín chiếc ghế xếp, trong phòng khách phía trước có bức ảnh thác Minnehaha năm 1890 đã phai màu, một bức “ảnh phóng lớn tô màu” của ông Dawson, cùng cây đèn phình tròn vẽ bò và núi bằng sắc nâu đỏ, đặt trên một trụ cẩm thạch kiểu nhà tang lễ.

Bà rền rĩ: “Ôi, bà Kennicott, tôi đang bí quá. Đáng lẽ tôi phải chủ trì cuộc thảo luận, nên tôi tự hỏi bà có thể đến giúp được không?”

“Hôm nay các bà tìm hiểu nhà thơ nào?” Carol hỏi, bằng giọng thủ thư vẫn dùng để nói: “Bà muốn mượn cuốn sách nào?”

“Thì các nhà thơ Anh.”

“Không phải tất cả đấy chứ?”

“Ơ—phải. Năm nay chúng tôi học toàn bộ Văn học châu Âu. Câu lạc bộ đặt một tạp chí rất hay, Culture Hints, và chúng tôi theo chương trình của tạp chí. Năm ngoái đề tài của chúng tôi là Những người đàn ông và đàn bà trong Kinh Thánh, còn sang năm có lẽ sẽ nghiên cứu Đồ nội thất và Đồ sứ. Trời ơi, muốn theo kịp tất cả những đề tài văn hóa mới này thì người ta phải tất bật ghê lắm, nhưng quả là mở mang đầu óc. Vậy hôm nay bà sẽ giúp chúng tôi thảo luận chứ?”

Trên đường tới đó, Carol đã quyết định dùng Thanatopsis làm công cụ khai hóa thị trấn. Lập tức nàng nảy sinh một niềm hào hứng vô bờ; nàng ngâm nga: “Đây mới là những con người chân chính. Khi những bà nội trợ, những người gánh vác mọi nhọc nhằn, quan tâm đến thơ ca, thì điều ấy có ý nghĩa lắm. Mình sẽ làm việc cùng họ—vì họ—bất cứ việc gì!”

Niềm hào hứng của nàng đã loãng ra ngay cả trước khi mười ba người đàn bà kiên quyết tháo giày đi tuyết, ngồi xuống một cách nặng nề, ăn kẹo bạc hà, phủi ngón tay, khoanh tay, thu xếp cho yên những ý nghĩ phàm tục, rồi mời nàng thơ trần trụi ban xuống thông điệp có sức cải hóa nhất. Họ âu yếm chào đón Carol, và nàng cố làm một người con gái của họ. Nhưng nàng thấy bất an. Ghế nàng nằm chơ vơ giữa khoảng trống, phơi ra trước ánh mắt mọi người, lại là loại ghế phòng hội nhà thờ với những thanh gỗ cứng, rung rinh, trơn trượt, rất có thể đổ sập công khai mà chẳng báo trước. Không thể ngồi trên đó mà không khoanh tay và thành kính lắng nghe.

Nàng muốn đá văng chiếc ghế rồi bỏ chạy. Hẳn nó sẽ tạo nên một tiếng động long trời.

Nàng thấy Vida Sherwin đang quan sát mình. Nàng tự véo cổ tay, như thể mình là một đứa trẻ ồn ào trong nhà thờ, và khi đã lại ngoan ngoãn ngồi co quắp, nàng lắng nghe.

Bà Dawson mở đầu buổi họp bằng một tiếng thở dài: “Tôi chắc rằng tôi rất vui được thấy tất cả quý bà có mặt hôm nay, và tôi được biết các quý bà đã chuẩn bị một số bài tham luận hết sức thú vị, đây quả là một đề tài thú vị, các nhà thơ, họ đã là nguồn cảm hứng cho những tư tưởng cao đẹp hơn, thật vậy, chẳng phải chính Mục sư Benlick đã nói rằng một số nhà thơ đem lại nguồn cảm hứng chẳng kém gì rất nhiều vị mục sư sao, và vì thế chúng ta sẽ vui mừng được nghe——”

Người đàn bà tội nghiệp nở nụ cười như đau dây thần kinh, hổn hển vì sợ, cuống quýt bới tìm kính trên chiếc bàn gỗ sồi nhỏ, rồi tiếp tục: “Trước hết, chúng ta sẽ được hân hạnh nghe bà Jenson trình bày đề tài ‘Shakespeare và Milton’.”

Bà Ole Jenson nói rằng Shakespeare sinh năm 1564 và mất năm 1616. Ông sống tại London, nước Anh, và tại Stratford-on-Avon, nơi nhiều du khách Mỹ thích đến thăm, một thị trấn xinh đẹp có nhiều vật lạ cùng những ngôi nhà cổ rất đáng xem xét. Nhiều người tin rằng Shakespeare là nhà soạn kịch vĩ đại nhất từng sống trên đời, đồng thời cũng là một nhà thơ xuất sắc. Người ta không biết nhiều về cuộc đời ông, nhưng xét cho cùng điều đó thật ra cũng chẳng quan trọng lắm, bởi họ thích đọc vô số vở kịch của ông, và giờ đây bà sẽ phê bình một vài vở nổi tiếng nhất.

Có lẽ vở kịch nổi tiếng nhất của ông là “Người lái buôn thành Venice”, có một câu chuyện tình tuyệt đẹp và sự đánh giá cao đối với trí tuệ phụ nữ, điều mà một câu lạc bộ phụ nữ, kể cả những người không muốn bày tỏ lập trường về vấn đề quyền bầu cử, cũng nên trân trọng. (Cười.) Bà Jenson chắc chắn rằng riêng bà rất muốn được giống Portia. Vở kịch kể về một người Do Thái tên Shylock, và ông ta không muốn con gái mình lấy một quý ông thành Venice tên Antonio——

Bà Leonard Warren, một phụ nữ mảnh khảnh, tóc hoa râm, hay bồn chồn, chủ tịch Câu lạc bộ Thanatopsis và là vợ mục sư giáo đoàn Congregational, thông báo năm sinh và năm mất của Byron, Scott, Moore, Burns; rồi kết luận:

“Burns là một cậu bé khá nghèo và không được hưởng những thuận lợi mà ngày nay chúng ta được hưởng, ngoại trừ những lợi ích từ ngôi giáo đường Scotland cổ kính tốt đẹp, nơi ông được nghe rao giảng Lời Chúa một cách không chút sợ sệt, còn hơn cả trong những nhà thờ gạch lớn đẹp đẽ nhất tại các thành phố lớn và được gọi là tiến bộ ngày nay, nhưng ông không có những thuận lợi giáo dục của chúng ta, cũng không có tiếng Latin và những kho báu tinh thần khác được rải dồi dào trước những bàn chân, than ôi, quá thường xuyên lơ đễnh của thanh thiếu niên chúng ta, những người không phải lúc nào cũng biết trân trọng đầy đủ các đặc ân được ban miễn phí cho mọi cậu bé Mỹ, giàu cũng như nghèo. Burns phải lao động vất vả và đôi khi bị bạn bè xấu dẫn vào những thói quen thấp kém. Nhưng thật bổ ích về mặt đạo đức khi biết rằng ông là một học trò giỏi và đã tự giáo dục mình, hoàn toàn tương phản với lối sống phóng túng và đời sống giao tế quý tộc—như người ta vẫn gọi—của Huân tước Byron, điều tôi vừa trình bày. Và chắc chắn rằng, tuy các huân tước và bá tước đương thời có thể khinh Burns là người thấp hèn, nhiều người trong chúng ta vẫn hết sức thích thú những bài của ông viết về con chuột và các đề tài thôn dã khác, với thông điệp về vẻ đẹp khiêm nhường—tôi rất tiếc không có thời gian trích dẫn vài bài.”

Bà George Edwin Mott dành mười phút cho Tennyson và Browning.

Bà Nat Hicks, một phụ nữ có khuôn mặt nhăn nhó nhưng hiền dịu lạ lùng, kính sợ những người bề trên đến mức Carol muốn hôn bà, đã hoàn tất nhiệm vụ khắc nghiệt trong ngày bằng một bài tham luận về “Các nhà thơ khác”. Những nhà thơ khác đáng được xem xét là Coleridge, Wordsworth, Shelley, Gray, bà Hemans và Kipling.

Cô Ella Stowbody chiều lòng mọi người bằng cách ngâm bài “The Recessional” cùng những đoạn trích từ “Lalla Rookh”. Theo yêu cầu, cô ngâm thêm bài “An Old Sweetheart of Mine”.

Gopher Prairie đã giải quyết xong các nhà thơ. Nó đã sẵn sàng cho công việc tuần tới: Tiểu thuyết và Tiểu luận Anh.

Bà Dawson khẩn khoản: “Bây giờ chúng ta sẽ thảo luận các bài tham luận, và tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều sẽ vui thích được nghe ý kiến của một người mà chúng ta hy vọng sẽ trở thành hội viên mới, bà Kennicott, người với vốn đào tạo văn chương tuyệt vời cùng tất cả những điều ấy hẳn sẽ có thể cho chúng ta nhiều chỉ dẫn và—nhiều chỉ dẫn hữu ích.”

Carol đã tự cảnh cáo mình không được “kiêu căng đáng ghét” đến thế. Nàng đã khăng khăng rằng trong cuộc truy cầu muộn màng của những người đàn bà đôi tay chai sạn vì việc làm này có một khát vọng đáng khiến nàng rơi lệ. “Nhưng họ tự mãn quá. Họ tưởng mình đang ban ơn cho Burns. Họ đâu tin rằng họ có một ‘cuộc truy cầu muộn màng’. Họ chắc mẩm mình đã ướp muối văn hóa rồi treo lên cất kỹ.” Chính lời triệu gọi của bà Dawson đã đánh thức nàng khỏi cơn mê mụ của hoài nghi ấy. Nàng hoảng hốt. Làm sao nàng có thể nói mà không làm họ tổn thương?

Bà Champ Perry nghiêng sang vuốt tay nàng và thì thầm: “Trông cháu mệt lắm, cháu yêu. Nếu không muốn thì đừng nói.”

Tình cảm tràn ngập Carol; nàng đứng dậy, dò tìm lời lẽ và những câu nhã nhặn:

“Điều duy nhất tôi xin được đề nghị——Tôi biết các bà đang theo một chương trình nhất định, nhưng tôi rất mong rằng giờ đây, sau khi đã có một phần nhập môn tuyệt vời như thế, thay vì sang năm chuyển sang một đề tài khác, các bà có thể trở lại nghiên cứu các nhà thơ kỹ hơn. Đặc biệt là những đoạn trích dẫn thực sự—dẫu cuộc đời họ rất thú vị và, như bà Warren đã nói, rất bổ ích về mặt đạo đức. Và có lẽ còn vài nhà thơ hôm nay chưa được nhắc đến mà chúng ta nên xem xét—chẳng hạn Keats, Matthew Arnold, Rossetti và Swinburne. Swinburne hẳn sẽ là một sự—à, nghĩa là, một sự tương phản thật rõ với cuộc sống mà tất cả chúng ta đang vui hưởng tại miền Trung Tây tươi đẹp——”

Nàng nhận ra bà Leonard Warren không đồng tình với mình. Nàng kéo bà về phía mình bằng cách ngây thơ nói tiếp:

“Trừ phi có lẽ Swinburne có khuynh hướng, ờ, bộc trực hơn mức bà, mức chúng ta thực sự ưa thích. Bà nghĩ sao, bà Warren?”

Vợ mục sư phán quyết: “Ôi, bà đã nói đúng ngay điều tôi đang nghĩ, bà Kennicott. Tất nhiên tôi chưa bao giờ ĐỌC Swinburne, nhưng nhiều năm trước, khi ông ta còn thịnh hành, tôi nhớ ông Warren từng nói rằng Swinburne (hay là Oscar Wilde nhỉ? nhưng dù sao thì:) ông ấy nói rằng tuy nhiều người gọi là trí thức làm bộ làm tịch và giả vờ tìm thấy cái đẹp trong Swinburne, nhưng không bao giờ có thể tồn tại vẻ đẹp chân chính nếu thiếu thông điệp từ trái tim. Tuy nhiên, tôi vẫn cho rằng ý kiến của bà thật tuyệt vời, và tuy chúng ta đã bàn đến Đồ nội thất và Đồ sứ như đề tài có thể chọn cho năm tới, tôi tin sẽ rất hay nếu ban chương trình cố thu xếp thêm một ngày dành hoàn toàn cho thơ Anh! Thật vậy, thưa bà Chủ tọa, tôi xin chính thức đề nghị như thế.”

Khi cà phê và bánh bông lan lòng trắng trứng của bà Dawson đã giúp họ hồi phục sau nỗi u uất do những suy tưởng về cái chết của Shakespeare gây nên, tất cả đều nói với Carol rằng có nàng cùng dự thật là một niềm vui. Ban xét duyệt hội viên lui vào phòng sinh hoạt trong ba phút rồi bầu nàng làm hội viên.

Và nàng thôi thái độ bề trên.

Nàng muốn trở thành một người trong số họ. Họ trung thành và tử tế biết bao. Chính họ sẽ thực hiện khát vọng của nàng. Chiến dịch chống lại thói trì trệ của làng quê đã thực sự bắt đầu! Trước tiên nàng nên tung đạo quân của mình vào cuộc cải cách cụ thể nào? Trong lúc chuyện trò sau buổi họp, bà George Edwin Mott nhận xét rằng tòa thị chính có vẻ không xứng với Gopher Prairie hiện đại huy hoàng. Bà Nat Hicks rụt rè ước gì thanh niên có thể được dự những buổi khiêu vũ miễn phí ở đó—các buổi khiêu vũ của hội đoàn quá khép kín. Tòa thị chính. Đúng là nó! Carol vội vã về nhà.

Nàng không hề nhận ra Gopher Prairie là một thành phố. Qua Kennicott, nàng biết nó được tổ chức hợp pháp với thị trưởng, hội đồng thành phố và các khu bầu cử. Nàng thích thú trước sự giản dị của việc bỏ phiếu để tự biến mình thành một đô thị. Tại sao không?

Suốt buổi tối, nàng là một công dân kiêu hãnh và ái quốc.

II

Sáng hôm sau, nàng đi xem xét tòa thị chính. Trong ký ức nàng, nó chỉ là một thứ ảm đạm chẳng ai để ý. Nàng thấy đó là một cái chuồng khung gỗ màu gan, cách Phố Chính nửa dãy nhà. Mặt tiền là một bức tường ván ốp và cửa sổ bẩn thỉu, hoàn toàn không có gì tô điểm. Từ đó nhìn thẳng ra một bãi đất trống và hiệu may của Nat Hicks. Nó lớn hơn xưởng mộc bên cạnh, nhưng xây không chắc bằng.

Không có ai quanh đó. Nàng bước vào hành lang. Một bên là tòa án thành phố, trông như trường học nông thôn; bên kia là phòng của đội cứu hỏa tình nguyện, với một xe Ford chở vòi chữa cháy và những chiếc mũ trang trí dùng khi diễu hành; cuối hành lang là nhà giam bẩn thỉu có hai xà lim, lúc này trống không nhưng nồng mùi amoniac và mồ hôi lâu năm. Toàn bộ tầng hai là một căn phòng lớn chưa hoàn thiện, ngổn ngang những chồng ghế xếp, một thùng trộn vữa đóng vảy vôi, cùng những bộ khung xe hoa ngày Quốc khánh phủ các tấm khiên thạch cao đang mục nát và vải trang trí đỏ, trắng, xanh đã phai màu. Cuối phòng là một sân khấu bất thành hình. Căn phòng đủ rộng cho những buổi khiêu vũ cộng đồng mà bà Nat Hicks chủ trương. Nhưng Carol nhắm đến một điều lớn lao hơn khiêu vũ.

Buổi chiều, nàng tất tả đến thư viện công cộng.

Thư viện mở cửa ba buổi chiều và bốn buổi tối mỗi tuần. Nó nằm trong một ngôi nhà cũ, đủ dùng nhưng chẳng hấp dẫn. Carol bắt gặp mình đang hình dung những phòng đọc dễ chịu hơn, ghế cho trẻ em, một bộ sưu tập mỹ thuật, một thủ thư đủ trẻ để thử nghiệm.

Nàng mắng mình: “Chấm dứt cơn sốt cải cách mọi thứ đi! Mình SẼ hài lòng với thư viện! Tòa thị chính đã đủ để khởi đầu rồi. Và thật ra đây là một thư viện xuất sắc. Nó—nó đâu đến nỗi tệ.... Có thể nào mình sẽ tìm thấy sự gian dối và ngu xuẩn trong mọi hoạt động của con người mà mình gặp phải? Trong trường học, kinh doanh, chính quyền và mọi thứ? Chẳng bao giờ có sự mãn nguyện, chẳng bao giờ được nghỉ ngơi sao?”

Nàng lắc đầu như thể giũ nước, rồi vội vã bước vào thư viện, một hiện diện trẻ trung, nhẹ nhõm, đáng mến, giản dị trong chiếc áo lông không cài cúc, bộ đồ xanh lam, cổ áo organdy mới tinh và đôi ủng màu nâu vàng sần sùi vì quệt qua tuyết. Cô Villets nhìn nàng chằm chằm, còn Carol dịu giọng: “Hôm qua không thấy cô ở Thanatopsis, tôi tiếc quá. Vida nói có thể cô sẽ đến.”

“Ồ. Bà đã đến Thanatopsis. Bà có thích không?”

“Thích lắm. Những bài tham luận về các nhà thơ thật hay.” Carol kiên quyết nói dối. “Nhưng tôi quả có nghĩ rằng họ nên mời cô trình bày một trong những bài về thơ!”

“À——Tất nhiên tôi không thuộc cái nhóm dường như có thời gian đứng ra điều hành câu lạc bộ, và nếu họ thích giao những bài về văn học cho các bà khác không hề được đào tạo văn chương—xét cho cùng, tôi có gì để phàn nàn chứ? Tôi chẳng qua chỉ là một nhân viên thành phố!”

“Cô không phải thế! Cô là người duy nhất thực sự—thực sự—ôi, cô làm được biết bao việc. Nói tôi nghe, có phải, ờ——Những ai là người chi phối câu lạc bộ?”

Cô Villets dứt khoát đóng dấu ngày tháng lên trang đầu cuốn “Frank on the Lower Mississippi” cho một cậu bé tóc vàng hoe nhỏ nhắn, trừng mắt nhìn cậu như thể đang đóng một lời cảnh cáo vào óc cậu, rồi thở dài:

“Tôi chẳng đời nào muốn tự đề cao mình hay chỉ trích bất kỳ ai, và Vida là một trong những người bạn thân nhất của tôi, lại là một giáo viên xuất sắc, và trong thị trấn không ai tiến bộ hơn hay quan tâm hơn đến mọi phong trào, nhưng tôi phải nói rằng bất kể ai làm chủ tịch hay nằm trong các ủy ban, dường như lúc nào Vida Sherwin cũng đứng đằng sau tất cả, và tuy cô ấy luôn nói với tôi về cái mà cô ấy vui lòng gọi là ‘công việc tuyệt vời của tôi ở thư viện’, tôi nhận thấy mình chẳng mấy khi được mời đọc tham luận, dù có lần bà Lyman Cass đã tự ý nói với tôi rằng bà ấy cho bài của tôi về ‘Các nhà thờ chính tòa nước Anh’ là bài thú vị nhất trong năm chúng tôi nghiên cứu du lịch và kiến trúc Anh, Pháp. Nhưng—Và dĩ nhiên bà Mott cùng bà Warren rất có vai vế trong câu lạc bộ, như cô hẳn có thể đoán ở phu nhân của giám đốc học khu và mục sư Giáo đoàn, mà quả thực cả hai đều rất có văn hóa, nhưng—Không, cô cứ xem tôi là người hoàn toàn không quan trọng. Tôi chắc những gì mình nói chẳng đáng kể chút nào!”

“Cô khiêm tốn quá đấy, và tôi sẽ nói với Vida như vậy, và, ờ, không biết cô có thể dành cho tôi chỉ một tí tẹo thời gian để chỉ cho tôi chỗ lưu các tập tạp chí không?”

Nàng đã thắng. Nàng được long trọng hộ tống đến một căn phòng giống như gác xép nhà bà ngoại, nơi nàng khám phá ra những tạp chí chuyên về trang trí nhà cửa và quy hoạch thị trấn, cùng sáu năm tạp chí National Geographic. Cô Villets may thay để nàng ở lại một mình. Miệng khe khẽ ngân nga, những ngón tay thích thú lật giở các trang, Carol ngồi xếp bằng trên sàn, những chồng tạp chí vây quanh.

Nàng tìm thấy những bức ảnh chụp đường phố New England: vẻ đường bệ của Falmouth, nét duyên dáng của Concord, Stockbridge và Farmington cùng đại lộ Hillhouse. Vùng ngoại ô Forest Hills trên Long Island như bước ra từ truyện thần tiên. Những ngôi nhà tranh Devonshire, những trang viên Essex, một Phố Chính ở Yorkshire và Port Sunlight. Ngôi làng Ả Rập Djeddah—một hộp nữ trang chạm trổ tinh vi. Một thị trấn ở California đã tự biến đổi từ những mặt tiền gạch trơ trụi và những căn lán khung gỗ nhếch nhác trên Phố Chính thành một con đường dẫn mắt người nhìn xuôi theo viễn cảnh những dãy cuốn vòm và vườn tược.

Vững tin rằng mình không hoàn toàn điên rồ khi cho rằng một thị trấn nhỏ ở Mỹ có thể xinh đẹp chứ không chỉ hữu dụng cho việc mua lúa mì và bán máy cày, nàng ngồi trầm ngâm, những ngón tay mảnh dẻ gõ nhịp liên hồi lên má. Nàng thấy tại Gopher Prairie một tòa thị chính kiểu Georgia: những bức tường gạch ấm màu với cửa chớp trắng, một ô cửa sổ hình quạt, tiền sảnh rộng và cầu thang uốn cong. Nàng thấy nó là ngôi nhà chung và nguồn cảm hứng không chỉ của thị trấn mà cả vùng nông thôn chung quanh. Trong đó sẽ có phòng xử án (nàng không thể ép mình đưa nhà giam vào), thư viện công cộng, một bộ sưu tập tranh in tuyệt hảo, phòng nghỉ và gian bếp kiểu mẫu cho các bà vợ nông dân, nhà hát, giảng đường, phòng khiêu vũ cộng đồng miễn phí, văn phòng nông nghiệp, phòng thể dục. Hình thành chung quanh nó và chịu ảnh hưởng của nó, như những làng mạc thời trung cổ quần tụ quanh lâu đài, nàng thấy một thị trấn Georgia mới, thanh nhã và được yêu quý như Annapolis hay Alexandria rợp bóng cây, nơi Washington từng cưỡi ngựa tới.

Câu lạc bộ Thanatopsis sẽ hoàn thành tất cả những điều ấy mà không gặp bất cứ khó khăn nào, bởi các ông chồng của hội viên chính là những người nắm quyền kinh doanh và chính trị. Nàng tự hào vì mình đã có được cái nhìn thực tế ấy.

Nàng chỉ mất nửa giờ để biến một khoảnh khoai tây rào dây thép thành vườn hồng có tường bao. Nàng vội vã đi báo cho bà Leonard Warren, chủ tịch Câu lạc bộ Thanatopsis, biết phép màu vừa được thực hiện.

III

Ba giờ kém mười lăm Carol rời nhà; bốn giờ rưỡi nàng đã tạo dựng xong thị trấn Georgia; năm giờ kém mười lăm nàng đã có mặt giữa vẻ nghèo khó đoan trang của nhà mục sư Giáo đoàn, lòng nhiệt thành của nàng tí tách trút xuống bà Leonard Warren như mưa hè trên mái nhà xám cũ; năm giờ kém hai phút, một thị trấn với những sân trong kín đáo và những cửa sổ mái niềm nở đã được dựng lên, và năm giờ hai phút, toàn bộ thị trấn đã phẳng lì như Babylon.

Ngồi thẳng trên chiếc ghế William và Mary màu đen, trước những tập sách màu xám và nâu lốm đốm về các bài thuyết giáo, chú giải Kinh Thánh và địa lý Palestine xếp trên những kệ thông dài, đôi giày đen tươm tất đặt vững trên tấm thảm vụn, bản thân cũng mực thước và nhỏ nhẹ như phông nền chung quanh, bà Warren không bình luận một lời cho đến khi Carol nói hết, rồi mới nhã nhặn đáp:

“Vâng, tôi nghĩ cô đã vẽ nên một bức tranh rất đẹp về điều hoàn toàn có thể xảy ra—một ngày nào đó. Tôi không nghi ngờ rằng trên thảo nguyên rồi sẽ xuất hiện những thị trấn như thế—một ngày nào đó. Nhưng nếu tôi được phép đưa ra chỉ một lời phê bình nhỏ nhất: tôi thấy cô đã lầm khi cho rằng hoặc tòa thị chính là nơi thích hợp để khởi đầu, hoặc Câu lạc bộ Thanatopsis là công cụ thích hợp. Suy cho cùng, chính các nhà thờ mới là trái tim đích thực của cộng đồng, phải không? Như có lẽ cô đã biết, chồng tôi là một nhân vật nổi bật trong giới Giáo đoàn khắp tiểu bang nhờ chủ trương hợp nhất giáo hội. Ông ấy hy vọng sẽ thấy tất cả các giáo phái Phúc âm kết hợp thành một tổ chức hùng mạnh, chống lại Công giáo và phái Khoa học Cơ Đốc, đồng thời dẫn dắt đúng đắn mọi phong trào hướng đến đạo đức và cấm rượu. Ở đây, các nhà thờ hợp nhất có thể lo liệu một câu lạc bộ đường hoàng, có lẽ là một tòa nhà trát vữa với khung gỗ lộ thiên, trang trí những tượng đầu thú cùng đủ thứ hoa văn đẹp mắt; theo tôi, công trình ấy sẽ gây ấn tượng với lớp người bình thường tốt hơn nhiều so với một ngôi nhà thuộc địa giản dị, cổ lỗ như cô mô tả. Và đó mới là trung tâm thích hợp cho mọi hoạt động giáo dục và vui chơi, thay vì để chúng rơi vào tay các chính khách.”

“Tôi chắc các nhà thờ sẽ không mất quá ba mươi hay bốn mươi năm để hợp nhất chứ?” Carol ngây thơ hỏi.

“Thậm chí khó mà lâu đến thế; mọi việc đang tiến triển rất nhanh. Vì vậy, lập bất kỳ kế hoạch nào khác đều là một sai lầm.”

Mãi hai ngày sau Carol mới lấy lại được nhiệt tình, khi nàng thử tìm đến bà George Edwin Mott, phu nhân của giám đốc học khu.

Bà Mott nhận xét: “Cá nhân tôi bận kinh khủng với việc may vá, rồi thợ may đến làm trong nhà cùng đủ mọi chuyện, nhưng nếu các hội viên khác của Câu lạc bộ Thanatopsis xem xét vấn đề này thì tuyệt biết bao. Chỉ trừ một điều: Trước hết và trên hết, chúng ta phải có một tòa nhà trường mới. Ông Mott nói họ đang chật chội kinh khủng.”

Carol đi xem tòa nhà cũ. Các lớp tiểu học và trường trung học dùng chung một công trình gạch vàng ẩm thấp, với những ô cửa sổ hẹp như một nhà tù lỗi thời—một khối xác xơ biểu đạt lòng căm ghét và sự rèn giũa cưỡng bức. Nàng tán thành đòi hỏi của bà Mott mãnh liệt đến nỗi trong hai ngày liền bỏ bẵng chiến dịch của chính mình. Rồi nàng dựng trường học và tòa thị chính liền nhau, làm trung tâm của thị trấn tái sinh.

Nàng đánh liều đến ngôi nhà màu chì của bà Dave Dyer. Sau lớp mặt nạ bằng những dây leo trụi lá mùa đông và một hàng hiên rộng chỉ cao hơn mặt đất một foot, ngôi nhà nhỏ vô cá tính đến mức Carol không bao giờ hình dung nổi nó. Nàng cũng chẳng nhớ được bất kỳ thứ gì bên trong. Nhưng bà Dyer thì thừa cá tính. Cùng với Carol, bà Howland, bà McGanum và Vida Sherwin, bà là mối nối giữa Hội Mười Bảy Vui Vẻ và Câu lạc bộ Thanatopsis nghiêm túc (trái với Juanita Haydock, người không cần thiết mà vẫn khoe mình là “kẻ phàm tục”, lại công khai tuyên bố rằng cô ta “thà vào tù còn hơn viết mấy bài tham luận câu lạc bộ chết tiệt ấy”). Bà Dyer nữ tính đến tột bậc trong chiếc kimono mặc lúc tiếp Carol. Da bà mịn, tái, mềm, gợi một vẻ nhục cảm yếu ớt. Tại những buổi cà phê chiều bà từng thô lỗ, nhưng giờ đây bà gọi Carol là “cưng” và nhất quyết bắt nàng gọi mình là Maud. Carol không hiểu hẳn vì sao mình khó chịu trong bầu không khí phấn rôm này, nhưng nàng vội vã bước vào khoảng không khí trong lành của những kế hoạch.

Maud Dyer thừa nhận tòa thị chính “chẳng lấy gì làm đẹp”, nhưng như Dave đã nói, chẳng ích gì mà làm gì về nó cho đến khi họ nhận được khoản cấp ngân sách của tiểu bang và kết hợp tòa thị chính mới với một kho vũ khí của Vệ binh Quốc gia. Dave đã phán: “Điều đám trẻ lắm mồm lảng vảng quanh phòng bi-da ấy cần là chế độ huấn luyện quân sự bắt buộc cho tất cả. Rèn chúng thành đàn ông.”

Bà Dyer tách tòa nhà trường mới khỏi tòa thị chính:

“Ồ, vậy là bà Mott đã khiến cô hăng lên vì cơn mê trường học của bà ta rồi! Bà ta lải nhải chuyện ấy đến mức ai cũng phát ngấy phát mệt. Điều bà ta thực sự muốn là một văn phòng lớn để Gawge hói đầu yêu quý của bà ta ngồi chễm chệ mà ra vẻ quan trọng. Dĩ nhiên tôi ngưỡng mộ bà Mott, và tôi rất mến bà ấy, bà ấy thông minh lắm, dù cứ cố xen vào và điều khiển Câu lạc bộ Thanatopsis, nhưng tôi phải nói là chúng tôi đã chán ngấy sự mè nheo của bà ấy. Tòa nhà cũ đủ tốt cho chúng tôi hồi còn bé! Tôi ghét mấy bà muốn làm chính khách ấy, cô có ghét không?”

IV

Tuần đầu tiên của tháng Ba đã hứa hẹn mùa xuân và khuấy động trong Carol một nghìn nỗi khao khát hồ nước, đồng ruộng và những con đường. Tuyết đã tan, ngoại trừ những mảng bẩn thỉu, xơ xác như len dưới các gốc cây; chỉ trong một ngày, nhiệt kế vọt từ cái rét buốt vì gió sang hơi ấm ngứa ngáy. Ngay khi Carol tin chắc rằng ngay cả ở miền Bắc tù túng này, mùa xuân vẫn có thể trở lại, tuyết liền đổ xuống đột ngột như trận bão giấy trên sân khấu; gió tây bắc hất tung nó thành gần như một trận bão tuyết; và cùng với hy vọng về một thị trấn huy hoàng, hy vọng về những đồng cỏ mùa hè cũng tiêu tan.

Nhưng một tuần sau, dù tuyết chất khắp nơi thành những đống nhão nhoét, lời hứa ấy đã không thể nhầm lẫn. Nhờ những dấu hiệu vô hình trong không khí, bầu trời và mặt đất từng đánh thức nàng mỗi năm suốt mười nghìn thế hệ, nàng biết mùa xuân đang đến. Đó không phải một ngày cháy bỏng, khô cứng, bụi bặm như kẻ xâm nhập phản trắc của tuần trước, mà thấm đẫm uể oải, dịu đi trong thứ ánh sáng trắng sữa. Những dòng nước nhỏ hối hả chảy qua mỗi ngõ hẻm; một con chim cổ đỏ cất tiếng gọi hiện ra như phép màu trên cây táo dại trong sân nhà Howland. Ai nấy đều cười vui: “Có vẻ mùa đông sắp đi rồi,” và “Thế này sẽ làm băng giá bật khỏi mặt đường—chẳng mấy chốc ô tô lại chạy được—không biết hè này câu cá vược sẽ thế nào—năm nay mùa màng hẳn sẽ tốt.”

Mỗi tối Kennicott đều nhắc lại: “Chúng ta đừng cởi đồ lót dày hay tháo cửa sổ chống bão quá sớm—có thể còn một đợt lạnh nữa—phải cẩn thận kẻo cảm lạnh—không biết than có đủ dùng đến hết không?”

Những sinh lực đang căng nở trong nàng bóp nghẹt ham muốn cải cách. Nàng chạy lon ton khắp nhà, cùng Bea lên kế hoạch tổng vệ sinh mùa xuân. Khi dự buổi họp thứ hai của Câu lạc bộ Thanatopsis, nàng không nói gì về việc tái tạo thị trấn. Nàng nghiêm chỉnh lắng nghe những số liệu thống kê về Dickens, Thackeray, Jane Austen, George Eliot, Scott, Hardy, Lamb, De Quincey và bà Humphry Ward, những người, xem chừng, hợp thành toàn bộ các tác gia của Văn học Hư cấu và Tiểu luận Anh.

Mãi đến khi xem xét phòng nghỉ, nàng mới lại trở thành một kẻ cuồng tín. Nàng thường liếc nhìn tòa nhà cửa hiệu đã được cải tạo thành nơi trú chân để các bà vợ nông dân chờ đợi trong khi chồng họ lo công việc. Nàng từng nghe Vida Sherwin và bà Warren âu yếm ca ngợi công đức của Câu lạc bộ Thanatopsis trong việc lập ra phòng nghỉ và cùng hội đồng thị trấn chia sẻ chi phí duy trì nó. Nhưng mãi đến ngày tháng Ba này nàng mới bước vào.

Nàng bốc đồng đi vào; gật đầu chào bà quản lý, một góa phụ đẫy đà, đứng đắn tên Nodelquist, cùng hai bà nông dân đang hiền lành đung đưa trên ghế. Phòng nghỉ giống một cửa hàng đồ cũ. Đồ đạc gồm những chiếc ghế bập bênh có bằng sáng chế đã bị thải đi, những chiếc ghế mây lệch lạc, một cái bàn gỗ thông trầy xước, tấm thảm rơm đầy sạn, những bản khắc thép cũ vẽ các cô vắt sữa đang ve vãn nhau một cách hợp luân lý dưới rặng liễu, những tranh in màu phai nhạt vẽ hoa hồng và cá, cùng một bếp dầu hỏa để hâm bữa trưa. Cửa sổ phía trước bị những tấm rèm lưới rách cùng một ụ phong lữ và cây đa búp đỏ làm tối om.

Trong lúc nghe bà Nodelquist kể mỗi năm có bao nhiêu nghìn bà vợ nông dân sử dụng phòng nghỉ, và họ “cảm kích biết bao trước lòng tốt của các quý bà đã cung cấp cho họ nơi đáng yêu này, lại hoàn toàn miễn phí”, nàng nghĩ: “Lòng tốt gì chứ! Chồng của các quý bà tốt bụng ấy làm ăn với nông dân. Đây chỉ là tiện nghi phục vụ thương mại. Mà nó kinh khủng. Nó phải là căn phòng duyên dáng nhất thị trấn, để an ủi những người phụ nữ đã chán ngấy bếp núc nơi thảo nguyên. Ít nhất nó phải có một ô cửa sổ quang đãng, để họ có thể nhìn đời sống đô thị trôi qua. Một ngày nào đó mình sẽ làm một phòng nghỉ tốt hơn—một phòng câu lạc bộ. Trời! Mình đã lên kế hoạch cho nó như một phần của tòa thị chính Georgia rồi còn gì!”

Thế là tình cờ tại buổi họp thứ ba, nàng đang âm mưu chống lại sự yên ổn của Câu lạc bộ Thanatopsis (buổi họp bàn về Văn học Scandinavia, Nga và Ba Lan, kèm những nhận xét của bà Leonard Warren về chủ nghĩa ngoại giáo tội lỗi của cái gọi là giáo hội Nga). Ngay cả trước khi cà phê và bánh mì nóng được mang vào, Carol đã túm lấy bà Champ Perry, người phụ nữ tiên phong tử tế, bộ ngực đầy đặn, đem lại vẻ tôn nghiêm lịch sử cho những mệnh phụ hiện đại của Thanatopsis. Nàng trút hết những kế hoạch của mình. Bà Perry gật đầu và vuốt ve tay Carol, nhưng cuối cùng bà thở dài:

“Ước gì tôi có thể đồng ý với cô, cô bé ạ. Tôi chắc cô là một người được Chúa xức dầu (dù chúng tôi không thấy cô ở Nhà thờ Baptist thường xuyên như mong muốn)! Nhưng tôi e cô mềm lòng quá. Khi Champ và tôi đến đây, chúng tôi đi bằng xe bò từ Sauk Centre tới Gopher Prairie, mà hồi ấy nơi đây chẳng có gì ngoài một đồn lũy, vài người lính và mấy căn nhà gỗ. Khi cần thịt lợn muối và thuốc súng, chúng tôi phái một người cưỡi ngựa đi, mà rất có thể anh ta đã bị bọn da đỏ bắn chết trước khi trở về. Phụ nữ chúng tôi—dĩ nhiên lúc đầu tất cả chúng tôi đều làm nông—thời ấy chẳng mong có phòng nghỉ nào. Trời ơi, chúng tôi hẳn đã thấy căn phòng hiện nay thanh lịch tuyệt vời! Nhà tôi lợp cỏ khô, mỗi khi mưa thì dột kinh khủng—chỗ duy nhất khô ráo là dưới một cái kệ.”

“Và khi thị trấn lớn lên, chúng tôi thấy tòa thị chính mới thật đẹp đẽ. Tôi cũng chẳng thấy cần phòng khiêu vũ. Dù sao nhảy nhót bây giờ cũng chẳng còn như xưa. Chúng tôi từng nhảy rất đoan trang, mà vẫn vui chẳng kém gì đám trẻ bây giờ với những điệu Turkey Trot kinh khủng, rồi ôm ấp đủ cả. Nhưng nếu chúng nhất định phớt lờ lời răn của Chúa rằng các cô gái trẻ phải đoan trang, thì tôi nghĩ chúng xoay xở ở Hội trường K. P. và Hội trường Oddfellows cũng khá ổn, dù một vài hội kín không phải lúc nào cũng chào đón lũ người ngoại quốc và người làm thuê ấy tới mọi buổi khiêu vũ. Và tôi nhất định chẳng thấy cần văn phòng nông nghiệp hay cái cuộc trình diễn khoa học gia chánh mà cô nói. Thời tôi, con trai học làm nông bằng mồ hôi chân chính, còn cô gái nào cũng biết nấu nướng, nếu không thì mẹ nó đặt ngang đầu gối mà dạy cho biết! Vả lại, chẳng phải ở Wakamin có một viên chức khuyến nông của hạt sao? Có lẽ hai tuần ông ấy đến đây một lần. Thế là đủ nghịch ngợm với cái trò canh nông khoa học này rồi—Champ bảo đằng nào nó cũng chẳng có gì.”

“Còn về giảng đường—chẳng phải chúng ta đã có các nhà thờ rồi sao? Nghe một bài thuyết giáo kiểu cũ tử tế còn hay hơn nhiều so với một mớ địa lý, sách vở và những thứ chẳng ai cần biết—ngay ở Câu lạc bộ Thanatopsis này đã thừa mứa cái học của phường ngoại đạo rồi. Còn chuyện cố biến cả thị trấn thành cái kiến trúc Thuộc địa mà cô nói—Tôi quả có yêu những thứ đẹp đẽ; đến tận bây giờ tôi vẫn luồn ruy-băng vào váy lót, dù lão Champ Perry già xấu xa có cười tôi! Nhưng dù vậy, tôi không tin bất kỳ ai trong lớp người định cư lâu năm chúng tôi lại muốn thấy cái thị trấn mình đã lao tâm khổ tứ xây dựng bị phá tan để làm thành một nơi chẳng giống gì ngoài một cuốn truyện cổ Hà Lan, chẳng giống chút nào nơi chúng tôi yêu quý. Mà cô không thấy bây giờ nó đáng yêu sao? Bao nhiêu cây cối và bãi cỏ? Những ngôi nhà thật tiện nghi, rồi hệ thống sưởi nước nóng, đèn điện, điện thoại, vỉa hè xi măng và đủ mọi thứ? Trời, tôi vẫn tưởng ai từ Twin Cities đến cũng luôn nói đây là một thị trấn đẹp tuyệt vời!”

Carol đã tự nuốt lời mình; tuyên bố rằng Gopher Prairie có sắc màu của Algiers và sự vui nhộn của Mardi Gras.

Thế nhưng chiều hôm sau cô đã bổ nhào vào bà Lyman Cass, người vợ mũi khoằm của chủ xưởng bột.

Phòng khách nhà bà Cass thuộc trường phái Victoria chật ních, cũng như phòng khách nhà bà Luke Dawson thuộc trường phái Victoria trống trơn. Nó được bài trí theo hai nguyên tắc. Thứ nhất, mọi vật đều phải giống một vật khác. Một chiếc ghế bập bênh có lưng tựa hình cây đàn lia, mặt ghế giả da mô phỏng vải chần nút, và tay ghế như những con sư tử Trưởng lão hội Scotland; trên những phần chẳng ai ngờ của chiếc ghế lại có núm, cuộn xoắn, khiên và mũi giáo. Nguyên tắc thứ hai của trường phái Victoria chật ních là từng phân vuông trong nội thất phải được lấp đầy bằng những vật vô dụng.

Tường phòng khách nhà bà Cass dán kín những bức tranh “vẽ tay”, tranh “hạt dẻ ngựa”, nào bạch dương, cậu bé bán báo, chó con và tháp chuông nhà thờ đêm Giáng sinh; cùng một tấm phù điêu khắc tòa nhà Hội chợ ở Minneapolis, những chân dung thủ lĩnh Da đỏ vẽ bằng gỗ đốt chẳng thuộc bộ lạc nào nhất định, một câu châm ngôn thi ca điểm hoa păng-xê, một Khóm Hồng, và cờ hiệu của các cơ sở giáo dục hai con trai nhà Cass từng theo học—Trường Thương mại Chicopee Falls và Đại học McGillicuddy. Một chiếc bàn vuông nhỏ bày một khay đựng danh thiếp bằng sứ vẽ, viền chì chạm trổ mạ vàng, một cuốn Kinh Thánh Gia đình, Hồi ký của Grant, cuốn tiểu thuyết mới nhất của bà Gene Stratton Porter, một mô hình gỗ nhà gỗ Thụy Sĩ đồng thời là ống tiết kiệm xu mười cent, một vỏ bào ngư đánh bóng đựng một chiếc ghim đầu đen và một ống chỉ rỗng, một cái đệm ghim nhung trong chiếc dép kim loại mạ vàng có dập ở mũi dòng “Kỷ niệm Troy, N. Y.”, cùng một chiếc đĩa thủy tinh đỏ đầy những cái mụn chẳng ai giải thích nổi.

Lời đầu tiên của bà Cass là: “Tôi phải cho cô xem tất cả những đồ xinh xắn và vật phẩm nghệ thuật của tôi.”

Sau lời kêu gọi của Carol, bà ta líu ríu:

“Tôi hiểu. Cô nghĩ những làng mạc New England và những ngôi nhà thời Thuộc địa dễ thương hơn hẳn các thị trấn miền Trung Tây này. Tôi mừng là cô nghĩ thế. Chắc cô sẽ thích biết rằng tôi sinh ở Vermont.”

“Thế bà không nghĩ chúng ta nên cố làm cho Gopher Prai----?”

“Ôi trời, không! Ta không kham nổi. Thuế má đã cao quá rồi. Ta phải thắt chặt, không để hội đồng thành phố tiêu thêm một xu nào nữa. À----Bà không thấy bài bà Westlake đọc về Tolstoy thật tuyệt sao? Tôi mừng quá vì bà ấy đã chỉ ra mọi ý tưởng xã hội chủ nghĩa ngớ ngẩn của ông ta đã thất bại thế nào.”

Điều bà Cass nói cũng chính là điều Kennicott nói tối hôm đó. Trong hai mươi năm nữa, hội đồng sẽ không đề nghị, và Gopher Prairie sẽ không biểu quyết cấp tiền cho một tòa thị chính mới.

V

Carol đã tránh phơi bày những dự định của mình với Vida Sherwin. Cô e dè cái lối làm chị cả; Vida sẽ hoặc cười cô, hoặc chộp lấy ý tưởng rồi sửa nó cho hợp với bản thân. Nhưng chẳng còn hy vọng nào khác. Khi Vida đến dùng trà, Carol phác ra xứ Không Tưởng của mình.

Vida dịu dàng nhưng dứt khoát:

“Cưng à, em sai cả rồi. Chị cũng muốn thấy điều ấy: một nơi đầy vườn tược thực sự để ngăn gió lốc. Nhưng không làm được. Các bà trong câu lạc bộ thì làm được gì?”

“Chồng họ là những người quan trọng nhất thị trấn. Họ CHÍNH LÀ thị trấn!”

“Nhưng thị trấn, xét như một đơn vị riêng, đâu phải chồng của các bà Thanatopsis. Giá em biết bọn chị đã khổ sở thế nào mới khiến hội đồng thành phố chịu chi tiền phủ dây leo lên trạm bơm! Dù em nghĩ gì về phụ nữ Gopher Prairie, họ vẫn tiến bộ gấp đôi đàn ông.”

“Nhưng đàn ông không thấy nó xấu xí sao?”

“Họ không thấy nó xấu. Mà em chứng minh thế nào được? Chuyện thị hiếu. Sao họ phải thích thứ một kiến trúc sư Boston thích?”

“Thứ họ thích là bán mận khô!”

“Ừ, thì sao nào? Dù sao, điểm cốt yếu là em phải làm từ bên trong, với những gì ta có, chứ không phải từ bên ngoài, bằng những ý tưởng ngoại lai. Cái vỏ không thể bị ép lên tinh thần. Không thể! Cái vỏ tươi sáng phải mọc lên từ tinh thần, và biểu hiện nó. Nghĩa là phải chờ. Nếu ta cứ đeo bám hội đồng thành phố thêm mười năm nữa, CÓ THỂ họ sẽ bỏ phiếu phát hành công trái xây trường mới.”

“Tôi không chịu tin rằng nếu họ nhìn ra thì những nhân vật lớn ấy lại bủn xỉn đến mức không chịu góp mỗi người vài đô-la cho một tòa nhà—nghĩ mà xem!—khiêu vũ, diễn thuyết và kịch, tất cả đều làm theo lối hợp tác!”

“Em nói từ ‘hợp tác’ với các nhà buôn là họ treo cổ em ngay! Thứ duy nhất họ sợ hơn các nhà bán hàng qua thư là phong trào hợp tác xã của nông dân có thể khởi phát.”

“Những lối mòn bí mật dẫn đến những cái ví sợ hãi! Lúc nào cũng thế, trong mọi chuyện! Mà tôi chẳng có cái bi kịch lẫy lừng của tiểu thuyết: máy nghe lén và diễn văn dưới ánh đuốc. Tôi chỉ bị chặn lại bởi sự ngu xuẩn. Ôi, tôi biết mình là đồ ngốc. Tôi mơ Venice, còn sống ở Archangel và mắng vì biển phương Bắc không mang những màu dịu dàng. Nhưng ít nhất họ cũng không ngăn được tôi yêu Venice, và một ngày nào đó tôi sẽ bỏ trốn----Thôi được. Không nói nữa.”

Cô xòe tay trong một cử chỉ từ bỏ.

VI

Đầu tháng Năm; lúa mì nhú lên những lá mảnh như cỏ; ngô và khoai tây đang được gieo trồng; đất đai rì rầm. Đã hai ngày mưa đều. Ngay trong thị trấn, đường sá cũng là một mớ bùn nhão bị xẻ rãnh, trông ghê mắt và khó băng qua. Phố Chính là một đầm lầy đen từ lề này sang lề kia; ở những phố nhà ở, dải cỏ ven lối đi rỉ nước xám. Trời nóng hầm hập, vậy mà thị trấn vẫn trơ trụi dưới bầu trời ảm đạm. Không tuyết phủ làm dịu đi, cũng chẳng cành lá đung đưa, những ngôi nhà ngồi xổm và cau có, phơi ra vẻ khắc nghiệt nhếch nhác của chúng.

Lết về nhà, Carol chán ghét đôi giày cao su nặng đất sét và gấu váy lem luốc của mình. Cô đi qua ngôi nhà đỏ sẫm, lô xô chóp nhọn và đồ sộ của Lyman Cass. Cô lội qua một vũng nước vàng loang lổ. Cái bãi lầy này không phải nhà cô, cô khăng khăng. Nhà cô, và thị trấn xinh đẹp của cô, tồn tại trong tâm trí cô. Chúng đã được tạo dựng xong từ lâu. Điều cô thực sự đi tìm là một người chia sẻ chúng với mình. Vida không chịu; Kennicott không thể.

Một người cùng cô chia sẻ nơi ẩn náu.

Đột nhiên cô nghĩ đến Guy Pollock.

Cô gạt anh đi. Anh quá thận trọng. Cô cần một tinh thần trẻ trung và vô lý như chính mình. Và cô sẽ chẳng bao giờ tìm được. Tuổi trẻ sẽ chẳng bao giờ vừa hát vừa đến. Cô đã thua.

Thế nhưng ngay tối ấy cô nảy ra một ý tưởng giải quyết việc tái thiết Gopher Prairie.

Chưa đầy mười phút sau, cô đã giật dây chuông kiểu cũ nhà Luke Dawson. Bà Dawson mở cửa, ngờ vực nhìn quanh mép cánh cửa. Carol hôn má bà rồi nhảy chân sáo vào phòng khách ảm đạm.

“Chà chà, cô đúng là niềm vui cho đôi mắt mỏi mòn!” ông Dawson cười khà, bỏ tờ báo xuống và đẩy cặp kính lên trán.

“Trông cô có vẻ kích động quá,” bà Dawson thở dài.

“Đúng thế! Ông Dawson, ông là triệu phú, phải không?”

Ông nghiêng đầu, rồi rừ rừ: “Ờ, tôi đoán nếu tôi thanh lý toàn bộ chứng khoán, đất nông trại, các quyền lợi trong ngành sắt ở Mesaba, gỗ phương Bắc và đất đã khai thác rừng của mình, thì chắc cũng xấp xỉ hai triệu đô-la, mà từng xu tôi đều kiếm được nhờ làm việc cật lực và đủ khôn ngoan để không đi tiêu sạch mọi----”

“Tôi nghĩ tôi muốn xin ông phần lớn số ấy!”

Vợ chồng Dawson nhìn nhau, thưởng thức câu đùa; rồi ông líu ríu: “Cô còn tệ hơn Mục sư Benlick! Ông ấy hầu như chẳng bao giờ vòi tôi quá mười đô-la—mỗi lần!”

“Tôi không đùa. Tôi nói thật! Con cái ông ở các Thành phố đều đã lớn và khá giả. Ông đâu muốn chết đi mà để tên tuổi mình không ai biết. Sao không làm một việc lớn lao, độc đáo? Sao không tái thiết cả thị trấn? Mời một kiến trúc sư vĩ đại, bảo ông ấy quy hoạch một thị trấn hợp với thảo nguyên. Có lẽ ông ấy sẽ tạo ra một dạng kiến trúc hoàn toàn mới. Rồi phá hết những tòa nhà xiêu vẹo này----”

Ông Dawson đã quyết định rằng cô thực sự có ý ấy. Ông than vãn: “Nhưng như thế ít nhất cũng tốn ba, bốn triệu đô-la!”

“Nhưng chỉ riêng ông, đúng một người thôi, đã có hai trong số mấy triệu ấy!”

“Tôi ư? Tiêu hết tiền mồ hôi nước mắt của tôi để xây nhà cho một lũ ăn mày lười biếng, chẳng bao giờ đủ khôn để dành tiền ư? Không phải tôi từng keo kiệt. Mẹ nó lúc nào cũng có thể thuê người giúp việc làm việc nhà—khi tìm được người. Nhưng bà ấy với tôi đã làm quần quật đến mòn xương và—tiêu tiền cho một lũ vô lại này----?”

“Xin ông! Đừng giận! Ý tôi chỉ là—ý tôi là----Ồ, dĩ nhiên không phải tiêu hết, nhưng nếu ông đứng đầu danh sách, rồi những người khác góp vào, và nếu họ nghe ông nói về một thị trấn hấp dẫn hơn----”

“Ôi chao, con à, cô lắm ý tưởng thật. Với lại thị trấn có gì không ổn? Tôi thấy đẹp đấy chứ. Người đi khắp thế giới đã bao lần bảo tôi Gopher Prairie là nơi đẹp nhất miền Trung Tây. Đủ tốt cho bất cứ ai. Chắc chắn đủ tốt cho Mẹ nó và tôi. Với lại! Mẹ nó với tôi đang định đến Pasadena mua một căn bungalow và sống ở đó.”

VII

Cô gặp Miles Bjornstam ngoài phố. Trong khoảnh khắc chào hỏi, người thợ có bộ ria như ria kẻ cướp và chiếc quần yếm lấm bùn này dường như gần với tuổi trẻ nhẹ dạ mà cô tìm kiếm để cùng chiến đấu hơn bất cứ ai khác, và cô kể anh nghe, như một giai thoại vui, đôi chút câu chuyện của mình.

Anh khụt khịt: “Tôi chưa từng nghĩ mình lại đồng ý với lão Dawson, cái lão ăn cắp đất keo kiệt—mà hối lộ cũng giỏi lắm đấy. Nhưng cô nhìn sai hướng rồi. Cô chưa phải một trong dân chúng—chưa. Cô muốn làm điều gì đó cho thị trấn. Tôi thì không! Tôi muốn thị trấn tự làm điều gì đó cho nó. Chúng tôi không cần tiền lão Dawson—nhất là nếu đó là quà biếu có ràng buộc. Chúng tôi sẽ lấy nó khỏi tay lão, vì nó thuộc về chúng tôi. Cô phải có thêm chất sắt và sự bướng bỉnh chết tiệt trong người. Hãy nhập bọn bọn thất nghiệp vui vẻ chúng tôi, rồi một ngày nào đó—khi chúng tôi tự giáo dục mình và thôi làm thất nghiệp—chúng tôi sẽ nắm mọi thứ và điều hành chúng cho tử tế.”

Anh đã từ bạn của cô hóa thành một người đàn ông hoài nghi trong bộ quần yếm. Cô không thể ưa nổi chế độ chuyên quyền của “bọn thất nghiệp vui vẻ”.

Cô quên anh khi lê bước ở vùng ven thị trấn.

Cô đã thay dự án tòa thị chính bằng một ý nghĩ hoàn toàn mới và đầy hứng khởi về việc người ta làm quá ít cho những kẻ nghèo không hề đẹp mắt này.

VIII

Mùa xuân trên đồng bằng không phải một trinh nữ e lệ, mà trơ trẽn và thoắt đến. Những con đường bùn vài ngày trước giờ thành bụi tơi, còn vũng nước ven đường đã cứng lại thành những thoi đất đen láng như da sơn nứt.

Carol thở hổn hển khi len vào buổi họp của ban chương trình Câu lạc bộ Thanatopsis, nơi sẽ quyết định chủ đề cho mùa thu và mùa đông tới.

Bà Chủ tịch (cô Ella Stowbody mặc áo cánh màu vỏ hàu) hỏi có công việc mới nào không.

Carol đứng lên. Cô đề nghị Thanatopsis nên giúp người nghèo trong thị trấn. Cô hết sức đúng mực và tân tiến. Cô nói mình không muốn bố thí cho họ, mà muốn họ có cơ hội tự lực; một phòng giới thiệu việc làm, sự hướng dẫn về cách tắm rửa cho em bé và nấu món hầm ngon mắt, có thể là một quỹ thành phố xây nhà. “Bà nghĩ sao về các kế hoạch của tôi, bà Warren?” cô kết thúc.

Nói đầy thận trọng, như một người được kết nối với nhà thờ qua hôn nhân, bà Warren đưa ra phán quyết:

“Tôi chắc rằng tất cả chúng ta đều hết lòng đồng tình với bà Kennicott, rằng bất cứ nơi nào gặp cảnh nghèo khổ thực sự, thì làm tròn bổn phận với những người kém may mắn không chỉ là nghĩa vụ của tầng lớp trên mà còn là một niềm vui. Nhưng tôi phải nói rằng theo tôi, ta sẽ đánh mất toàn bộ ý nghĩa của việc này nếu không xem nó là từ thiện. Vì sao, đó là vật trang sức chủ yếu của tín đồ Cơ Đốc chân chính và của giáo hội! Kinh Thánh đã quy định thế để hướng dẫn ta. Sách nói: ‘Đức tin, Hy vọng và BÁC ÁI,’ và: ‘Người nghèo các ngươi luôn có bên mình,’ điều đó cho thấy chẳng bao giờ có thể có gì đáng kể trong những kế hoạch gọi là khoa học nhằm xóa bỏ từ thiện, chẳng bao giờ! Mà như thế chẳng tốt hơn sao? Tôi sẽ ghét phải nghĩ đến một thế giới nơi chúng ta bị tước mất mọi niềm vui cho đi. Hơn nữa, nếu những người lười biếng ấy nhận ra họ đang nhận của bố thí, chứ không phải thứ họ có quyền được nhận, họ sẽ biết ơn hơn biết bao.”

“Với lại,” cô Ella Stowbody khịt mũi, “họ đã lừa bà đấy, bà Kennicott. Ở đây chẳng có nghèo khổ thực sự đâu. Như bà Steinhof mà bà nói ấy: hễ người giúp việc nhà tôi có quá nhiều đồ phải giặt là tôi gửi bà ta—chỉ riêng năm qua chắc tôi đã gửi bà ấy chừng mười đô-la tiền giặt rồi! Tôi chắc Papa sẽ chẳng bao giờ tán thành một quỹ thành phố xây nhà. Papa nói những người ấy là đồ bịp. Nhất là đám tá điền cứ làm bộ khốn khổ vì khó kiếm giống và máy móc. Papa nói họ chỉ không chịu trả nợ. Ông nói ông chắc chắn ghét việc tịch biên thế chấp lắm, nhưng đó là cách duy nhất khiến họ tôn trọng pháp luật.”

“Rồi hãy nghĩ đến bao nhiêu quần áo ta cho những người ấy!” bà Jackson Elder nói.

Carol lại chen vào. “Ồ vâng. Quần áo. Tôi cũng định nói về chuyện đó. Các bà không nghĩ là khi cho người nghèo quần áo, nếu quả có cho đồ cũ, ta nên vá trước và làm sao cho tươm tất nhất có thể sao? Giáng sinh tới, khi Thanatopsis phân phát, sẽ chẳng vui lắm nếu chúng ta tụ họp lại khâu vá quần áo, sửa mũ, và làm chúng----?”

“Trời đất ơi, họ có nhiều thì giờ hơn chúng ta! Dù đồ ở tình trạng nào, họ cũng phải hết sức tử tế và biết ơn vì nhận được bất cứ thứ gì. Tôi biết mình sẽ không ngồi khâu vá cho bà Vopni lười biếng ấy, trong khi tôi còn bao nhiêu việc phải làm!” Ella Stowbody quát.

Họ đang trừng trừng nhìn Carol. Nàng ngẫm rằng bà Vopni, chồng chết vì tàu hỏa cán, có mười đứa con.

Nhưng bà Mary Ellen Wilks vẫn mỉm cười. Bà Wilks là chủ hiệu Ye Art Shoppe and Magazine and Book Store, đồng thời là người đọc sách trong nhà thờ nhỏ của phái Christian Science. Bà làm cho mọi chuyện sáng tỏ:

“Nếu hạng người này hiểu được Khoa Học, hiểu rằng chúng ta là con cái của Thượng đế và không gì có thể làm hại chúng ta, thì họ đã chẳng lầm lạc và nghèo khổ.”

Bà Jackson Elder phụ họa: “Hơn nữa, theo tôi thì câu lạc bộ đã làm đủ việc rồi, với chuyện trồng cây và chiến dịch chống ruồi cùng trách nhiệm trông coi phòng nghỉ—chưa kể chúng ta đã bàn đến việc thử yêu cầu đường sắt làm một công viên ở ga!”

“Tôi cũng nghĩ vậy!” bà chủ tọa nói. Bà liếc cô Sherwin đầy bồn chồn. “Nhưng cô nghĩ sao, Vida?”

Vida khéo léo mỉm cười với từng người trong ủy ban rồi tuyên bố: “À, tôi không tin rằng lúc này chúng ta nên khởi xướng thêm việc gì. Nhưng được nghe những ý tưởng rộng rãi đáng quý của Carol thật là một đặc ân, phải không nào! Ồ! Có một việc ta phải quyết ngay. Chúng ta phải đoàn kết phản đối bất cứ toan tính nào của các câu lạc bộ Minneapolis nhằm bầu thêm một chủ tịch Liên đoàn cấp bang xuất thân từ hai Thành phố Song Sinh. Còn bà Edgar Potbury mà họ đang đề cử kia—tôi biết có người cho bà ta là diễn giả lanh lợi, thú vị, nhưng tôi thấy bà ta cực kỳ nông cạn. Các vị nghĩ sao nếu tôi viết thư cho Câu lạc bộ Lake Ojibawasha, bảo rằng nếu khu vực của họ ủng hộ bà Warren làm phó chủ tịch thứ hai, chúng ta sẽ ủng hộ bà Hagelton của họ (một phụ nữ đáng mến, duyên dáng và có học thức biết bao) làm chủ tịch?”

“Đúng! Ta phải cho đám người Minneapolis ấy biết tay!” Ella Stowbody chua chát nói. “À, nhân tiện, ta phải phản đối phong trào của bà Potbury đòi các câu lạc bộ trong bang công khai ủng hộ quyền bầu cử của phụ nữ. Phụ nữ chẳng có chỗ nào trong chính trị cả. Họ sẽ mất hết vẻ dịu dàng và duyên dáng nếu vướng vào những mưu mô kinh khủng, những cuộc vận động đổi chác và toàn bộ cái thứ chính trị ghê tởm về tai tiếng, công kích cá nhân, vân vân.”

Tất cả—trừ một người—đều gật đầu. Họ ngắt quãng cuộc họp công việc nghiêm trang để bàn về chồng bà Edgar Potbury, thu nhập của bà Potbury, chiếc xe sedan của bà Potbury, nơi ở của bà Potbury, lối diễn thuyết của bà Potbury, chiếc áo choàng dạ hội kiểu quan lại Trung Hoa của bà Potbury, kiểu tóc của bà Potbury, và ảnh hưởng hoàn toàn đáng chê trách của bà Potbury đối với Liên đoàn Câu lạc bộ Phụ nữ cấp bang.

Trước khi ủy ban chương trình giải tán, họ dành ba phút quyết định xem trong những đề tài do tạp chí Culture Hints gợi ý—Đồ đạc và đồ sứ, hay Kinh Thánh như văn chương—đề tài nào thích hợp hơn cho năm tới. Có một sự cố khó chịu. Bà bác sĩ Kennicott lại xen vào và phô trương. Bà nhận xét: “Các bà không thấy chúng ta đã được nghe Kinh Thánh đủ ở nhà thờ và Trường Chủ nhật rồi sao?”

Bà Leonard Warren, hơi sai thủ tục nhưng sai tính khí thì nhiều hơn, kêu lên: “Chà, thật không thể tin được! Tôi chẳng ngờ lại có người nghĩ rằng chúng ta có thể nghe Kinh Thánh cho đủ! Tôi đoán, nếu Cuốn Sách Cổ Kính Vĩ Đại đã chịu đựng được những cuộc công kích của bọn vô tín suốt hai nghìn năm qua, thì nó cũng đáng để chúng ta lưu tâm CHÚT ÍT!”

“Ồ, tôi đâu có ý—” Carol van vỉ. Vì nàng quả có ý ấy, nên thật khó mà nói cho hết sức sáng rõ. “Nhưng tôi mong rằng thay vì tự giới hạn vào Kinh Thánh, hoặc những giai thoại về tóc giả của anh em nhà Adam—điều mà Culture Hints dường như xem là điểm quan trọng của đồ đạc—chúng ta có thể nghiên cứu vài ý tưởng thực sự sôi động đang nảy sinh ngày nay—dù là hóa học, nhân học hay các vấn đề lao động—những điều sẽ mang ý nghĩa khủng khiếp biết bao.”

Mọi người đều lịch sự hắng giọng.

Bà chủ tọa hỏi: “Còn ai muốn thảo luận nữa không? Ai đó xin đề nghị chấp thuận gợi ý của Vida Sherwin—chọn Đồ đạc và đồ sứ?”

Đề nghị được thông qua, nhất trí.

“Chiếu tướng!” Carol lẩm bẩm, vừa giơ tay lên.

Nàng thực sự đã tin rằng mình có thể gieo một hạt giống tự do vào bức tường trống rỗng của sự tầm thường ư? Sao nàng lại sa vào cái ngu xuẩn là cố gieo bất cứ thứ gì lên một bức tường nhẵn nhụi, ngời nắng, và khiến những kẻ đang vui vẻ ngủ bên trong thấy mãn nguyện đến thế?