Phố chính — Chương 13
Chương 14 / 40 · Bài review Phố chính
Nàng đã cố, vì lòng thủy chung hơn là vì ham muốn, đến thăm nhà Perry vào một tối tháng Mười Một, khi Kennicott đi vắng. Họ không có nhà.
Như một đứa trẻ không có ai chơi cùng, nàng lững thững qua hành lang tối. Nàng thấy ánh đèn hắt dưới một cánh cửa văn phòng. Nàng gõ cửa. Với người ra mở, nàng lẩm nhẩm: “Ông có tình cờ biết nhà Perry ở đâu không?” Rồi nàng nhận ra đó là Guy Pollock.
“Tôi rất tiếc, bà Kennicott, nhưng tôi không biết. Bà có muốn vào đợi họ không?”
“T-tại sao——?” nàng nói, vừa nhớ rằng ở Gopher Prairie, đến thăm một người đàn ông thì không đứng đắn; vừa quyết rằng không, thật sự, nàng sẽ không vào; vừa bước vào.
“Tôi không biết văn phòng ông ở trên này.”
“Vâng, văn phòng, nhà trong thị trấn, và lâu đài ở Picardy. Nhưng bà không thấy được lâu đài và nhà trong thị trấn (cạnh nhà Công tước Sutherland). Chúng ở sau cánh cửa trong kia: một chiếc giường sắt, một bồn rửa mặt, bộ com-lê kia của tôi, và chiếc cà vạt crêpe xanh bà bảo là bà thích.”
“Ông nhớ là tôi đã nói thế ư?”
“Dĩ nhiên. Tôi sẽ luôn nhớ. Mời bà thử ngồi chiếc ghế này.”
Nàng liếc quanh văn phòng cũ kỹ—chiếc lò trơ trọi, những giá sách luật bìa nâu vàng, chiếc ghế bàn giấy chất đầy báo, bị ngồi đè lâu đến nỗi thủng lỗ và lem luốc xám xịt. Chỉ có hai thứ gợi ra Guy Pollock. Trên mặt nỉ xanh của chiếc bàn giấy, giữa các mẫu đơn pháp lý và một lọ mực đóng cặn, là một bình cloisonné. Trên một giá treo là dãy sách xa lạ với Gopher Prairie: các tuyển tập thơ do Mosher xuất bản, những tiểu thuyết Đức bìa đen đỏ, một cuốn Charles Lamb bọc da levant dập nhăn.
Guy không ngồi xuống. Chàng lượn khắp văn phòng, như chó săn thỏ đánh hơi dấu vết; một con chó săn thỏ đeo kính trễ về phía trước trên sống mũi gầy, và để bộ ria nâu mềm, lưỡng lự. Chàng mặc áo khoác chơi gôn bằng vải jersey, mòn thủng ở những nếp gấp tay áo. Nàng nhận ra chàng không xin lỗi về nó, như Kennicott hẳn sẽ làm.
Chàng bắt chuyện: “Tôi không biết bà thân thiết với nhà Perry đến thế. Champ là người tốt bụng nhất đời, nhưng chẳng hiểu sao tôi không hình dung nổi ông ấy cùng bà múa tượng trưng, hay cải tiến động cơ Diesel.”
“Không. Ông ấy là một tâm hồn đáng mến, Chúa phù hộ ông ấy, nhưng ông ấy thuộc về Bảo tàng Quốc gia, bên cạnh thanh kiếm của Tướng Grant, còn tôi——Ồ, chắc tôi đang tìm một thứ phúc âm có thể khai hóa Gopher Prairie.”
“Thật sao? Khai hóa nó thành cái gì?”
“Thành bất cứ thứ gì rõ rệt. Nghiêm túc hay phù phiếm, hoặc cả hai. Tôi cũng chẳng bận tâm nó là phòng thí nghiệm hay hội chợ. Nhưng nơi này chỉ là an toàn. Nói tôi nghe đi, ông Pollock, Gopher Prairie có gì không ổn?”
“Có gì không ổn với nó chăng? Hay có lẽ bà và tôi mới là những người có gì không ổn? (Tôi có được dự phần cái vinh dự là có gì không ổn không?)”
“(Vâng, cảm ơn.) Không, tôi nghĩ là tại thị trấn.”
“Vì họ thích trượt băng hơn sinh học ư?”
“Nhưng tôi không chỉ thích sinh học hơn Hội Mười Bảy Vui Vẻ, mà còn thích trượt băng nữa! Tôi sẽ trượt băng với họ, hoặc trượt máng, hoặc ném cầu tuyết, vui chẳng kém gì chuyện trò với ông.”
“(Ồ, không đâu!)”
“(Có đấy!) Nhưng họ muốn ở nhà thêu thùa.”
“Có lẽ. Tôi đâu có bênh vực thị trấn. Chỉ là——tôi vốn nghi ngờ bản thân đến cố tật. (Có lẽ tôi tự phụ về sự không tự phụ của mình!) Dù sao, Gopher Prairie cũng không đặc biệt tệ. Nó giống mọi làng mạc ở mọi xứ. Phần lớn những nơi đã mất mùi đất mà chưa có mùi hoắc hương—hay khói nhà máy—đều đa nghi và đạo mạo y như thế. Tôi tự hỏi liệu thị trấn nhỏ, trừ vài ngoại lệ đáng yêu, chẳng phải là một cái ruột thừa xã hội? Rồi một ngày nào đó, những thị trấn chợ buồn tẻ này có thể lỗi thời như các tu viện. Tôi hình dung người nông dân và người quản lý cửa hiệu địa phương cuối ngày sẽ đi tàu một ray vào một thành phố quyến rũ hơn bất cứ không tưởng nào của William Morris—âm nhạc, đại học, những câu lạc bộ cho bọn nhàn rỗi như tôi. (Lạy Chúa, tôi thèm có một câu lạc bộ thật sự biết bao!)”
Nàng bỗng hỏi: “Còn ông, sao ông ở lại đây?”
“Tôi mắc Vi-rút Thị trấn Nhỏ.”
“Nghe nguy hiểm đấy.”
“Đúng vậy. Nguy hiểm hơn cả căn ung thư chắc chắn sẽ quật ngã tôi năm năm mươi tuổi nếu tôi không bỏ thuốc. Vi-rút Thị trấn Nhỏ là một thứ mầm bệnh—lạ lùng thay, rất giống giun móc—nó lây nhiễm cho những người có chí tiến thủ ở tỉnh lẻ quá lâu. Bà sẽ thấy nó thành dịch nơi luật sư, bác sĩ, mục sư, các thương gia được học hành tử tế—tất cả những người từng thoáng thấy thế giới biết suy nghĩ và biết cười, nhưng lại quay về cái đầm lầy của họ. Tôi là một mẫu vật hoàn hảo. Nhưng tôi sẽ không quấy bà bằng những nỗi sầu của mình.”
“Ông sẽ không quấy đâu. Và xin ông ngồi xuống đi, để tôi nhìn ông.”
Chàng thả người xuống chiếc ghế bàn giấy kêu ken két. Chàng nhìn thẳng vào nàng; nàng ý thức được đồng tử mắt chàng; ý thức rằng chàng là một người đàn ông, và cô độc. Họ lúng túng. Họ cố ý ngoảnh mắt đi, rồi nhẹ nhõm khi chàng nói tiếp:
“Chẩn đoán Vi-rút Thị trấn Nhỏ của tôi khá đơn giản. Tôi sinh ở một thị trấn Ohio cỡ Gopher Prairie, nhưng kém thân thiện hơn nhiều. Nó đã có thêm nhiều thế hệ để tạo nên một đầu sỏ của sự khả kính. Ở đây, một người lạ được tiếp nhận nếu anh ta đúng mực, thích săn bắn, xe hơi, Chúa và Thượng nghị sĩ của chúng ta. Ở đó, chúng tôi đến người nhà mình cũng chẳng tiếp nhận cho đến khi đã khinh khỉnh quen mặt họ. Đó là một thị trấn Ohio gạch đỏ, cây cối làm nó ẩm thấp, và nó có mùi táo thối. Miền quê chẳng giống các hồ và đồng cỏ của ta. Chỉ có những cánh đồng ngô nhỏ ngột ngạt, lò gạch và giếng dầu nhầy nhụa.”
“Tôi học một trường đại học giáo phái và được dạy rằng từ sau khi đọc cho người ta chép Kinh Thánh, rồi thuê cả một giống mục sư hoàn hảo để giảng giải nó, Chúa chẳng còn làm gì nhiều ngoài lẩn quẩn rình chúng ta bất tuân. Từ đại học, tôi đến New York, vào Trường Luật Columbia. Và trong bốn năm, tôi đã sống. Ồ, tôi không ngâm nga ca tụng New York đâu. Nó bẩn thỉu, ồn ào, ngột ngạt và đắt đỏ khủng khiếp. Nhưng so với học viện mốc meo nơi tôi từng bị bóp nghẹt——! Tôi đi nghe giao hưởng hai lần mỗi tuần. Tôi xem Irving, Terry, Duse và Bernhardt từ tít tầng khán đài trên cùng. Tôi dạo trong công viên Gramercy. Và tôi đọc, ôi, mọi thứ.”
“Qua một người em họ, tôi biết Julius Flickerbaugh đau ốm và cần một cộng sự. Tôi đến đây. Julius khỏi bệnh. Ông ta không thích kiểu tôi nhàn rỗi năm tiếng rồi làm việc của mình—thật ra cũng chẳng tệ lắm—trong một tiếng. Chúng tôi chia tay.”
“Mới đến đây, tôi thề sẽ ‘duy trì những mối quan tâm của mình’. Cao cả biết bao! Tôi đọc Browning, rồi đi Minneapolis xem kịch. Tôi tưởng mình đang ‘duy trì’. Nhưng chắc Vi-rút Thị trấn Nhỏ đã tóm được tôi rồi. Tôi đọc bốn cuốn tạp chí truyện rẻ tiền cho mỗi bài thơ. Tôi hoãn những chuyến Minneapolis đến khi đơn giản là buộc phải đi vì cả đống việc pháp lý.”
“Vài năm trước, tôi nói chuyện với một luật sư chuyên bằng sáng chế từ Chicago, và tôi nhận ra rằng——tôi vẫn luôn thấy mình hơn hẳn những người như Julius Flickerbaugh, nhưng tôi thấy mình cũng tỉnh lẻ và lạc hậu chẳng kém Julius. (Còn tệ hơn! Julius trung thành cày qua Literary Digest và Outlook, trong khi tôi lật những trang một cuốn Charles Flandrau mà tôi đã thuộc lòng.)”
“Tôi quyết định rời khỏi đây. Một quyết tâm nghiêm khắc. Nắm lấy thế giới. Rồi tôi nhận ra Vi-rút Thị trấn Nhỏ đã nắm trọn tôi: tôi không muốn đối diện những con đường mới và những người trẻ hơn—sự cạnh tranh thật sự. Cứ tiếp tục lập các văn tự chuyển nhượng và tranh tụng những vụ đào mương thì quá dễ. Thế là——Đó là toàn bộ tiểu sử của một người chết mà còn sống, trừ chương cuối vui nhộn: những lời dối trá rằng tôi là ‘trụ cột sức mạnh và minh triết pháp luật’, điều một mục sư nào đó ngày kia sẽ thao thao bên xác khô gầy của tôi.”
Chàng nhìn xuống chiếc bàn giấy, mân mê chiếc bình men lấp lánh sao.
Nàng không thể bình luận. Nàng hình dung mình chạy băng qua phòng để vuốt tóc chàng. Nàng thấy môi chàng rắn rỏi dưới hàng ria mềm nhạt màu. Nàng ngồi yên, nói nhảm: “Tôi hiểu. Vi-rút Thị trấn Nhỏ. Có lẽ nó sẽ bắt tôi. Một ngày nào đó tôi sẽ đi——Ồ, thôi, không sao. Ít nhất, tôi khiến ông nói chuyện! Thường thì ông phải lịch sự chịu đựng sự lắm lời của tôi, còn giờ tôi lại đang ngồi dưới chân ông.”
“Sẽ khá dễ chịu nếu bà thực sự ngồi dưới chân tôi, bên lò sưởi.”
“Ông sẽ có lò sưởi cho tôi chứ?”
“Đương nhiên! Xin đừng hắt hủi tôi lúc này! Cứ để ông già nói nhảm. Carol, bà bao nhiêu tuổi?”
“Hai mươi sáu, Guy.”
“Hai mươi sáu! Năm hai mươi sáu tôi vừa rời New York. Năm hai mươi sáu tôi nghe Patti hát. Còn giờ tôi bốn mươi bảy. Tôi thấy mình như một đứa trẻ, vậy mà đủ già để làm cha bà. Vậy nên thật đứng đắn, thật cha chú, khi tưởng tượng bà cuộn mình dưới chân tôi. . . . Dĩ nhiên tôi hy vọng không phải thế, nhưng chúng ta sẽ phản chiếu đạo đức Gopher Prairie bằng cách chính thức tuyên bố nó là thế! . . . Những chuẩn mực mà bà và tôi phải sống cho đúng! Ít nhất có một điều không ổn với Gopher Prairie, với giai cấp thống trị (có một giai cấp thống trị, bất chấp mọi lời ta tự xưng dân chủ). Và cái giá chúng tôi, những kẻ cai trị bộ lạc, phải trả là thần dân theo dõi từng phút. Chúng tôi không thể say sưa lành mạnh rồi thả lỏng. Chúng tôi phải đúng mực về luân lý tình dục, quần áo kín đáo, và chỉ làm những mánh khóe thương mại theo lối truyền thống, đến nỗi chẳng ai sống nổi theo đó, và chúng tôi thành những kẻ đạo đức giả kinh khủng. Không tránh được. Ông phó tế trong truyện chuyên bóc lột góa phụ không thể không đạo đức giả. Chính các bà góa đòi hỏi điều ấy! Họ ngưỡng mộ vẻ mộ đạo nhơn nhơn của ông ta. Còn tôi. Giả sử tôi dám ve vãn—một người đàn bà có chồng tuyệt diệu nào đó. Tôi sẽ không thừa nhận với chính mình. Tôi cười khúc khích với vẻ dâm đãng ghê tởm nhất trước La Vie Parisienne, khi kiếm được một cuốn ở Chicago, thế mà tôi chẳng dám thử nắm tay bà. Tôi đã hỏng. Đó là lối Anglo-Saxon lịch sử để làm đời khốn khổ. . . . Ôi, Carol thân mến, nhiều năm rồi tôi chưa nói với ai về bản thân mình và tất cả cái bản ngã của chúng ta.”
“Guy! Chúng ta không thể làm gì cho thị trấn sao? Thật đấy?”
“Không, không thể!” Chàng gạt đi như một vị thẩm phán bác một phản đối không thích đáng, rồi quay lại những chuyện ít hăng hái đến khó chịu hơn: “Lạ thật. Phần lớn rắc rối đều không cần thiết. Ta đã thắng được Tự nhiên; ta có thể khiến bà cho lúa mì mọc; ta có thể giữ ấm khi bà gửi bão tuyết đến. Thế mà chỉ để vui, ta lại gây chuyện—chiến tranh, chính trị, thù hằn chủng tộc, tranh chấp lao động. Ở Gopher Prairie này, ta đã khai quang đồng ruộng, trở nên mềm yếu, nên tự tạo bất hạnh cho mình, với bao tốn kém và gắng sức: tín đồ Giám Lý ghét tín đồ Giám nhiệm, người đi Hudson cười người lái xe cà tàng. Tệ nhất là sự thù ghét trong làm ăn—người bán tạp hóa cảm thấy bất cứ ai không mua hàng của mình đều đang cướp của mình. Điều khiến tôi đau là nó áp vào luật sư và bác sĩ (và nhất định cả vợ họ!) không kém gì dân bán tạp hóa. Bác sĩ—bà biết chuyện ấy—chồng bà với Westlake và Gould ghét nhau thế nào.”
“Không! Tôi không thừa nhận!”
Chàng cười toe toét.
“Ồ, có lẽ một hai lần, khi Will biết chắc một ca mà bác sĩ—mà một trong những người kia cứ tiếp tục đến khám bệnh nhân lâu hơn cần thiết, anh ấy đã cười về chuyện đó, nhưng——”
Chàng vẫn cười toe toét.
“Không, THẬT MÀ! Và khi ông bảo vợ các bác sĩ cũng chung những ghen ghét ấy——Bà McGanum và tôi không đặc biệt mê nhau; bà ấy đần đụt quá. Nhưng mẹ bà ấy, bà Westlake—chẳng ai có thể dịu dàng hơn.”
“Vâng, tôi chắc bà ấy rất nhã nhặn. Nhưng nếu là bà, tôi sẽ không kể bí mật lòng mình cho bà ấy, cô thân mến. Tôi quả quyết rằng trong thị trấn này chỉ có một bà vợ giới chuyên môn không mưu toan gì cả, và đó là bà, người ngoài cuộc đáng yêu, cả tin của tôi!”
“Tôi không để ông dụ dỗ đâu! Tôi không tin y học, chức tư tế chữa lành, lại có thể biến thành một nghề chắt chiu từng xu.”
“Này nhé: Kennicott chưa bao giờ gợi ý với bà rằng nên tử tế với một bà già nào đó vì bà ta mách bạn bè nên mời bác sĩ nào đến sao? Nhưng tôi không nên——”
Nàng nhớ những lời Kennicott từng nói về bà góa Bogart. Nàng rụt lại, nhìn Guy như cầu khẩn.
Chàng bật dậy, bước gấp gáp đến bên nàng, vuốt bàn tay nàng. Nàng tự hỏi có nên phật ý vì cái ve vuốt ấy không. Rồi nàng tự hỏi chàng có thích chiếc mũ của nàng không, chiếc khăn xếp phương Đông mới bằng gấm hoa hồng và bạc.
Chàng buông tay nàng. Khuỷu tay chàng sượt vai nàng. Chàng lướt về chiếc ghế bàn giấy, lưng gầy khom xuống. Chàng cầm chiếc bình cloisonné lên. Qua chiếc bình, chàng nhìn nàng với một nỗi cô độc khiến nàng giật mình. Nhưng mắt chàng nhạt đi thành vô ngã khi chàng nói về những ghen ghét ở Gopher Prairie. Chàng chặn mình lại bằng một tiếng gay gắt: “Lạy Chúa, Carol, bà đâu phải bồi thẩm đoàn. Bà hoàn toàn có quyền từ chối bị nghe bài tổng kết này. Tôi là một lão ngốc tẻ nhạt, phân tích những điều hiển nhiên, còn bà là tinh thần phản kháng. Hãy kể phần của bà đi. Gopher Prairie là gì đối với bà?”
“Chán ngấy!”
“Tôi có thể giúp không?”
“Ông giúp thế nào được?”
“Tôi không biết. Có lẽ bằng cách lắng nghe. Tối nay tôi chưa làm thế. Nhưng thường thì——Tôi không thể làm người tri kỷ trong những vở kịch Pháp xưa, cô hầu thay đồ với chiếc gương và đôi tai trung thành sao?”
“Ồ, có gì để tâm sự chứ? Người ở đây nhạt nhẽo mà lại tự hào về điều đó. Và cho dù tôi rất thích ông, tôi cũng không thể nói chuyện với ông mà không có hai mươi mụ phù thủy già theo dõi, rỉ tai.”
“Nhưng bà sẽ thỉnh thoảng đến nói chuyện với tôi chứ?”
“Tôi không chắc mình sẽ đến. Tôi đang cố phát triển năng lực to lớn của chính mình trong việc chán ngắt và bằng lòng. Tôi thất bại ở mọi điều tích cực từng thử. Tốt hơn tôi nên ‘an phận’, như họ gọi thế, và bằng lòng làm—một kẻ vô nghĩa.”
“Đừng cay độc. Ở bà, điều ấy làm tôi đau. Nó như máu trên cánh chim ruồi.”
“Tôi không phải chim ruồi. Tôi là chim ưng; một con chim ưng bé xíu bị xích, bị những con gà mái to lớn, trắng bệch, bèo nhèo, đầy giun ấy mổ cho đến chết. Nhưng tôi biết ơn ông đã củng cố đức tin cho tôi. Và tôi sẽ về nhà!”
“Xin ở lại uống cà phê với tôi.”
“Tôi muốn lắm. Nhưng họ đã khủng bố tôi thành công rồi. Tôi sợ người ta sẽ nói gì.”
“Tôi không sợ điều đó. Tôi chỉ sợ cô sẽ nói gì thôi!” Chàng sấn đến bên nàng, nắm lấy bàn tay không đáp lại của nàng. “Carol! Tối nay ở đây cô đã vui chứ? (Phải. Tôi đang van xin đấy!)”
Nàng bóp nhanh tay chàng rồi giật tay mình về. Nàng chỉ có rất ít tính tò mò của một kẻ ve vãn, và hoàn toàn không có niềm khoái trá lén lút của một người đàn bà mưu mẹo. Nếu nàng là cô gái ngây thơ, thì Guy Pollock là cậu con trai vụng về. Chàng đi qua đi lại khắp văn phòng; chàng nhét nắm tay vào túi. Chàng lắp bắp: “Tôi—tôi—tôi—Ôi, quỷ thật! Sao tôi lại tỉnh dậy khỏi thứ bụi bặm phẳng lì để bước vào sự thô ráp lởm chởm này? Tôi sẽ làm—tôi sẽ đi dọc hành lang, mời vợ chồng Dillon vào, rồi tất cả chúng ta sẽ uống cà phê hay gì đó.”
“Vợ chồng Dillon ư?”
“Vâng. Thật ra là một đôi trẻ khá tử tế—Harvey Dillon và vợ anh ta. Anh ta là nha sĩ, mới đến thị trấn. Họ ở trong một căn phòng sau phòng khám của anh ta, như tôi ở đây vậy. Họ chẳng quen biết mấy ai—”
“Tôi có nghe nói về họ. Thế mà tôi chưa từng nghĩ đến chuyện sang gọi. Tôi thấy xấu hổ khủng khiếp. Hãy mời họ vào đi—”
Nàng ngừng lại, chẳng vì lý do nào thật rõ rệt; nhưng vẻ mặt chàng nói rằng, sự ngập ngừng của nàng thừa nhận rằng cả hai đều ước gì mình chưa từng nhắc đến vợ chồng Dillon. Với vẻ hăng hái giả tạo, chàng nói: “Tuyệt! Tôi sẽ đi mời.” Từ cửa, chàng liếc nàng, đang cuộn người trong chiếc ghế da bong tróc. Chàng lẻn ra ngoài, rồi trở vào cùng bác sĩ Dillon và bà Dillon.
Cả bốn người uống thứ cà phê khá dở do Pollock pha trên bếp dầu hỏa. Họ cười, nói về Minneapolis, và hết sức tế nhị; rồi Carol lên đường về nhà, xuyên qua cơn gió tháng Mười Một.