Phố chính — Chương 14

Chương 15 / 40 · Bài review Phố chính

Nàng đang bước nhanh về nhà.

“Không. Mình không thể yêu anh ấy được. Mình rất mến anh ấy. Nhưng anh ấy quá khép kín. Mình có thể hôn anh ấy ư? Không! Không! Guy Pollock hồi hai mươi sáu tuổi thì có lẽ mình đã có thể hôn, ngay cả khi đã lấy người khác, và hẳn mình sẽ trơn tru tự thuyết phục rằng ‘thật ra cũng chẳng sai trái gì.’”

“Điều lạ lùng là mình không kinh ngạc về bản thân hơn. Mình, bà nội trợ trẻ đức hạnh. Có thể tin cậy mình chăng? Nếu Hoàng tử Bạch mã xuất hiện----”

“Một bà nội trợ Gopher Prairie, lấy chồng được một năm, mà khao khát một ‘Hoàng tử Bạch mã’ như cô bé mười sáu! Người ta bảo hôn nhân là một cuộc biến đổi kỳ diệu. Nhưng mình chẳng thay đổi. Nhưng----”

“Không! Mình sẽ không muốn yêu ai, dù Hoàng tử có đến. Mình không muốn làm Will tổn thương. Mình quý Will. Có chứ! Anh ấy không còn khuấy động mình nữa. Nhưng mình nương tựa vào anh ấy. Anh ấy là mái nhà và những đứa con.”

“Không biết khi nào chúng mình sẽ bắt đầu có con? Mình thật sự muốn có con.”

“Không biết mình có nhớ bảo Bea ngày mai nấu hominy thay cháo yến mạch không? Giờ này cô ấy đã đi ngủ rồi. Có lẽ mình sẽ dậy đủ sớm----”

“Quý Will vô cùng. Mình sẽ không làm anh ấy tổn thương, dẫu phải đánh mất tình yêu điên cuồng. Nếu Hoàng tử đến, mình sẽ nhìn chàng một lần rồi chạy. Chạy nhanh chết đi được! Ôi, Carol, cô chẳng anh hùng cũng chẳng cao đẹp. Cô là một con cái trẻ tầm thường, bất biến.”

“Nhưng mình không phải kiểu vợ bội bạc khoái thú tâm sự rằng mình ‘không được ai thấu hiểu.’ Ôi, không phải, không phải!”

“Có phải không?”

“Ít nhất mình đã không rỉ tai Guy về những khuyết điểm của Will và sự mù quáng của anh ấy trước tâm hồn phi thường của mình. Mình không hề! Thực ra, có lẽ Will hiểu mình hoàn toàn! Giá mà--giá mà anh ấy chỉ cần ủng hộ mình trong việc khuấy động thị trấn.”

“Chắc phải có biết bao, biết bao nhiêu người vợ rung động trước Guy Pollock đầu tiên mỉm cười với họ. Không! Mình sẽ không thuộc cái bầy khát khao ấy! Những cô dâu trinh nữ e ấp. Thế mà có lẽ nếu Hoàng tử trẻ trung và dám đối mặt với đời----”

“Mình chẳng định hướng được bằng một nửa bà Dillon kia. Bà ấy mê nha sĩ của mình đến quá rõ ràng! Và chỉ coi Guy là một ông già lập dị.”

“Vớ của bà Dillon không phải lụa. Là sợi lisle. Chân bà ấy thon đẹp. Nhưng chân mình cũng đâu kém. Mình ghét phần cạp bông trên vớ lụa. . . . Có phải mắt cá chân mình đang mập lên không? Mình sẽ KHÔNG có mắt cá chân béo!”

“Không. Mình quý Will. Công việc của anh ấy--cứu một người nông dân khỏi bệnh bạch hầu còn đáng giá hơn mọi lời mình huyên thuyên về một lâu đài trên mây. Một lâu đài có phòng tắm.”

“Cái mũ này chật quá. Mình phải nới nó ra. Guy thích nó.”

“Nhà kia rồi. Mình lạnh buốt. Đến lúc lấy áo lông ra mặc. Không biết bao giờ mình mới có áo lông hải ly? Lông nutria KHÔNG giống thế! Bóng mượt như hải ly. Muốn vuốt ngón tay lên nó. Ria Guy như lông hải ly. Thật lố bịch tuyệt đối!”

“Mình, mình RẤT quý Will, và----Chẳng lẽ mình không thể tìm được từ nào khác ngoài ‘quý’?”

“Anh ấy ở nhà. Anh ấy sẽ nghĩ mình về muộn.”

“Sao anh ấy chẳng bao giờ nhớ kéo rèm xuống? Cy Bogart và lũ con trai đáng ghét ấy nhìn trộm vào. Nhưng tội nghiệp anh ấy, anh ấy đãng trí về những chuyện li ti--li ti--gì đó, từ gì nhỉ. Anh ấy bao nhiêu lo toan và công việc, còn mình chỉ làm mỗi việc tán dóc với Bea.”

“Mình KHÔNG ĐƯỢC quên món hominy----”

Nàng bay vào tiền sảnh. Kennicott ngẩng lên khỏi tờ Journal of the American Medical Society.

“Chào! Anh về lúc mấy giờ?” nàng reo lên.

“Khoảng chín giờ. Em đi la cà. Đã quá mười một giờ rồi!” Vui vẻ nhưng không hẳn tán thành.

“Có thấy bị bỏ bê không?”

“Ừ, em quên đóng cửa gió dưới của lò sưởi.”

“Ôi, em xin lỗi. Nhưng em đâu hay quên những việc như thế, phải không?”

Nàng ngồi phịch vào lòng chàng và (sau khi chàng giật đầu ra sau để cứu cặp kính, tháo kính xuống, chỉnh nàng sang một tư thế bớt làm tê chân mình, rồi hắng giọng rất tự nhiên) chàng hôn nàng thân ái và nói:

“Không, phải công nhận em khá cẩn thận chuyện ấy. Anh không cằn nhằn. Anh chỉ muốn nói anh không muốn lửa tắt mất. Để cửa gió mở, lửa có thể cháy hết rồi tắt. Mà đêm lại đang bắt đầu lạnh lắm. Trên đường anh lái xe về lạnh lắm. Anh phải kéo rèm bên lên, lạnh quá. Nhưng máy phát điện giờ chạy ổn rồi.”

“Vâng. Lạnh thật. Nhưng đi bộ xong em thấy khỏe khoắn lắm.”

“Đi bộ à?”

“Em lên thăm nhà Perry.” Bằng một hành vi quyết ý, nàng thêm sự thật: “Họ không có nhà. Rồi em gặp Guy Pollock. Ghé vào văn phòng anh ấy.”

“Đừng nói em ngồi tán chuyện với anh ta đến tận mười một giờ chứ?”

“Dĩ nhiên còn có vài người khác ở đó và----Will! Anh nghĩ gì về bác sĩ Westlake?”

“Westlake? Sao?”

“Hôm nay em thấy ông ấy ngoài phố.”

“Ông ta có đi khập khiễng không? Nếu con cá tội nghiệp ấy chịu chụp X-quang răng, anh cá chín xu rưỡi là sẽ thấy một ổ áp-xe ở đấy. Ông ta gọi nó là ‘thấp khớp.’ Thấp khớp, quỷ tha ma bắt! Lạc hậu hết sức. Chẳng hiểu sao ông ta không tự trích máu luôn đi! Ừừừừ----” Một cái ngáp sâu xa, nghiêm trọng. “Anh ghét phải giải tán buổi tiệc, nhưng muộn rồi, mà bác sĩ chẳng bao giờ biết trước khi nào sẽ bị dựng dậy trước sáng.” (Nàng nhớ rằng trong một năm chàng đã đưa ra lời giải thích này, đúng những chữ này, không dưới ba mươi lần.) “Chắc ta nên lên giường thôi. Anh đã lên dây đồng hồ và xem lò sưởi rồi. Em có khóa cửa trước khi vào không?”

Họ lững thững lên gác, sau khi chàng tắt đèn và thử cửa trước hai lần để chắc chắn đã cài chặt. Vừa nói chuyện, họ vừa sửa soạn đi ngủ. Carol vẫn cố giữ riêng tư bằng cách thay đồ sau cánh cửa tủ mở hé. Kennicott không kín đáo đến thế. Đêm nay, cũng như mọi đêm, nàng bực bội vì phải đẩy chiếc ghế bành bọc nhung cũ sang một bên mới mở được cửa tủ. Mỗi lần mở cửa, nàng lại xô ghế. Một giờ đến mười lần. Nhưng Kennicott thích để ghế trong phòng, mà ngoài chỗ trước tủ ra thì chẳng còn nơi nào đặt nó.

Nàng đẩy ghế, thấy giận, giấu cơn giận. Kennicott lại ngáp, đầy điềm báo hơn. Phòng có mùi tù đọng. Nàng nhún vai và bắt đầu líu ríu:

“Anh vừa nói về bác sĩ Westlake. Cho em biết đi--anh chưa bao giờ nhận xét dứt khoát về ông ấy: Ông ấy có thật là bác sĩ giỏi không?”

“Ôi có, một lão già khôn ngoan.”

(“Đấy! Anh thấy chưa, chẳng hề có sự kình địch nghề nghiệp nào. Nhà tôi không có!” nàng đắc thắng nói với Guy Pollock.)

Nàng treo chiếc váy lót lụa lên móc trong tủ, rồi nói tiếp: “Bác sĩ Westlake hiền hậu và uyên bác lắm----”

“Ừ, anh chẳng biết có nên bảo ông ta là học giả ghê gớm đến thế không. Anh vẫn nghi ông ta phô trương khá nhiều về khoản ấy. Ông ta thích để người ta tưởng mình vẫn trau dồi tiếng Pháp, tiếng Hy Lạp, Chúa biết còn gì nữa; lúc nào cũng để một quyển sách Ý cũ trong phòng khách, nhưng anh ngờ ông ta cũng đọc truyện trinh thám y như bọn mình. Với lại anh không biết ông ta học được ngần ấy thứ tiếng ở đâu nữa! Ông ta cứ để người ta ngỡ mình học Harvard, Berlin, Oxford hay nơi nào đó, nhưng anh đã tra sổ đăng ký y khoa, ông ta tốt nghiệp một trường quèn ở Pennsylvania, tít từ năm 1861!”

“Nhưng điều quan trọng là thế này: Ông ấy có phải bác sĩ lương thiện không?”

“Em muốn nói ‘lương thiện’ là sao? Còn tùy em muốn nói gì.”

“Giả thử anh bị ốm. Anh có mời ông ấy đến không? Anh có để em mời ông ấy không?”

“Nếu còn đủ khỏe để chửi và cắn thì không đời nào! Không, THƯA BÀ! Anh sẽ không cho lão bịp ấy vào nhà. Anh phát ngán cái kiểu ba hoa và nịnh nọt không dứt của lão. Đau bụng thường thường hay nắm tay mấy bà ngốc thì lão cũng tạm được, nhưng bệnh thật sự thì anh không gọi lão, tuyệt nhiên không, KHÔNG-thưa-bà! Em biết anh không hay nói xấu sau lưng ai, nhưng đồng thời----Anh nói em nghe, Carrrie: Anh chưa nguôi tức Westlake về cách lão đối xử với bà Jonderquist. Bà ấy chẳng có bệnh gì, thứ bà ấy thật sự cần là nghỉ ngơi, vậy mà Westlake cứ đến khám, cứ đến khám hết tuần này qua tuần khác, gần như ngày nào cũng đến, rồi gửi một hóa đơn to béo, em cứ chắc thế! Những người tử tế, chăm chỉ như nhà Jonderquist! Anh không bao giờ tha thứ cho lão chuyện ấy.”

Trong chiếc váy ngủ batist, nàng đứng trước tủ gương, thực hiện những nghi lễ bất biến: ước ao mình có một bàn trang điểm thật sự với gương ba cánh; cúi sát mặt kính loang lổ và ngẩng cằm để xem nốt ruồi bé xíu nơi cổ; cuối cùng chải tóc. Theo nhịp lược, nàng nói tiếp:

“Nhưng, Will, giữa anh và hai người cộng sự--Westlake và McGanum--không có cái gọi là kình địch về tiền bạc, phải không?”

Chàng lộn người vào giường bằng một cú nhào lộn ngửa trịnh trọng và đá gót chân buồn cười khi co chân vào dưới chăn. Chàng khịt mũi: “Lạy Chúa, không! Anh chẳng ganh ai lấy được một xu từ tay anh--miễn là công bằng.”

“Nhưng Westlake có công bằng không? Ông ấy không xảo quyệt sao?”

“Xảo quyệt là đúng. Gã ấy là một con cáo!”

Nàng thấy nụ cười nhếch mép của Guy Pollock trong gương. Nàng đỏ mặt.

Kennicott, hai tay kê sau đầu, đang ngáp:

“Ừm. Lão ta trơn tru, trơn tru quá. Nhưng anh cá là anh kiếm gần bằng cả Westlake lẫn McGanum cộng lại, dù anh chưa bao giờ muốn chộp quá phần chính đáng của mình. Ai thích đến hai người cộng sự thay vì đến anh, đó là việc của họ. Tuy vậy phải nói Westlake làm anh phát ngán khi lão tóm được nhà Dawson. Luke Dawson trước giờ cứ đến anh vì đau ngón chân, nhức đầu và đủ thứ vặt vãnh chỉ tổ phí thì giờ của anh, thế mà mùa hè năm ngoái, khi cháu nó ở đây và bị tiêu chảy mùa hè, chắc thế, hay thứ gì tương tự, có lẽ--em biết đấy, lần em với anh lái xe lên Lac-qui-Meurt ấy--thì Westlake tóm được bà Dawson, dọa bà ấy chết khiếp, khiến bà ấy tưởng đứa bé bị viêm ruột thừa, rồi chết tiệt nếu lão với McGanum không mổ, không oang oang về những chỗ dính kinh khủng họ tìm thấy, và họ đúng là Charley với Will Mayo của phẫu thuật thượng hạng ra sao. Họ làm như nếu chậm thêm hai giờ, thằng bé đã bị viêm phúc mạc, rồi Chúa biết còn gì nữa; thế rồi họ thu gọn ghẽ một trăm năm mươi đô-la. Chắc họ đã tính ba trăm, nếu không ngại anh! Anh không tham, nhưng quả thật anh ghét phải cho Luke già mười đô-la lời khuyên mà chỉ lấy một đô-la rưỡi, rồi nhìn một trăm năm mươi đô-la biến mất tăm. Và nếu anh không cắt ruột thừa giỏi hơn cả Westlake lẫn McGanum, anh sẽ ăn cái mũ của mình!”

Khi rúc vào giường, nàng lóa mắt vì nụ cười rực cháy của Guy. Nàng thử dò:

“Nhưng Westlake giỏi hơn con rể ông ấy, anh không nghĩ vậy sao?”

“Ừ, Westlake có thể cổ hủ các thứ, nhưng lão có chút trực giác, còn McGanum thì lao đầu vào mọi việc, húc qua như một gã nhà quê chết tiệt, rồi cố cãi cho bệnh nhân phải tin mình mắc đúng căn bệnh hắn chẩn đoán! Việc Mac làm khá nhất là đỡ đẻ. Hắn chỉ ngang hàng với mụ nắn xương đấm bóp xương cốt, bà Mattie Gooch.”

“Nhưng bà Westlake và bà McGanum--họ dễ mến. Họ tiếp em hết sức niềm nở.”

“Thì có lý do gì họ không niềm nở chứ? Ồ, họ cũng dễ mến--dù em cứ cá cả gia tài rằng cả hai luôn luôn quảng cáo cho chồng, cố kiếm khách. Và anh chẳng biết có thể gọi là niềm nở chết tiệt gì ở bà McGanum khi anh gọi to ngoài phố mà bà ta gật đầu như thể bị trẹo cổ. Dù vậy, bà ta cũng được. Chính Mẹ Westlake mới gây chuyện, lúc nào cũng lén lút xoay xở. Nhưng anh không tin một Westlake nào trong cả nhà ấy, và dù bà McGanum CÓ VẺ đàng hoàng, em đừng bao giờ quên bà ta là con gái Westlake. Cứ tin đi!”

“Còn bác sĩ Gould thì sao? Anh không nghĩ ông ấy tệ hơn cả Westlake lẫn McGanum à? Ông ấy bủn xỉn quá--rượu chè, chơi bi-a, lúc nào cũng phì phèo xì gà với cái kiểu vênh váo----”

“Thôi nào! Terry Gould là tay ăn chơi hạng xoàng thật, nhưng hắn biết rất nhiều về y học, em đừng quên điều đó dù chỉ một giây!”

Nàng nhìn chằm chằm, dập tắt nụ cười của Guy, rồi vui vẻ hơn hỏi: “Ông ấy cũng lương thiện chứ?”

“Ôôôôôôô! Trời đất, anh buồn ngủ quá!” Chàng duỗi mình khoan khoái, chui tọt xuống chăn, rồi trồi lên như một người lặn, lắc đầu mà than: “Gì cơ? Ai? Terry Gould lương thiện ư? Đừng làm anh cười--anh đang buồn ngủ dễ chịu thế này! Anh đâu bảo hắn lương thiện. Anh bảo hắn đủ tinh ý để tìm được mục lục trong ‘Giải phẫu học Gray,’ thế đã hơn McGanum rồi! Nhưng anh đâu nói gì về chuyện hắn lương thiện. Hắn không. Terry quanh co như chân sau con chó. Hắn đã chơi anh không chỉ một vố bẩn. Hắn bảo bà Glorbach, ở cách đây mười bảy dặm, rằng anh không cập nhật về sản khoa. Có ích quái gì cho hắn! Bà ấy đến thẳng đây kể anh nghe! Mà Terry lười. Hắn thà để bệnh nhân viêm phổi nghẹt thở còn hơn ngắt một ván xì phé.”

“Ôi không. Em không thể tin----”

“Thì anh đang nói em nghe đây!”

“Anh ấy có chơi bài xì phé nhiều không? Bác sĩ Dillon bảo em rằng bác sĩ Gould muốn anh ấy chơi----?”

“Dillon bảo em cái gì? Em gặp Dillon ở đâu? Anh ta mới đến thị trấn.”

“Anh ấy với vợ có ở nhà ông Pollock tối nay.”

“Này, ừm, em nghĩ sao về họ? Dillon không khiến em thấy hơi nhẹ dạ à?”

“Sao lại không. Anh ấy có vẻ thông minh. Em chắc là anh ấy lanh lợi hơn hẳn nha sĩ của mình.”

“Thì này, ông già ấy là một nha sĩ giỏi. Ông ta biết nghề. Còn Dillon----nếu anh là em, anh sẽ không thân thiết với nhà Dillon quá. Với Pollock thì được, chẳng liên quan gì đến mình, nhưng chúng ta----anh nghĩ cứ chào hỏi tử tế nhà Dillon rồi thôi.”

“Nhưng tại sao? Anh ấy đâu phải đối thủ.”

“Thế--thì--được!” Kennicott giờ đã tỉnh hẳn, đầy vẻ công kích. “Anh ta sẽ bắt tay ngay với Westlake và McGanum. Thực ra, anh ngờ rằng chính họ phần lớn đã khiến anh ta chọn đến đây. Họ sẽ gửi bệnh nhân cho anh ta, và anh ta sẽ gửi cho họ mọi người mình vớ được. Anh không tin ai quá khăng khít với Westlake. Em cứ để Dillon khám răng cho một gã vừa mua nông trại quanh đây rồi lạc vào thị trấn, xong việc rồi, em sẽ thấy gã ta lảng vảng đến Westlake với McGanum mãi cho xem!”

Carol với lấy chiếc áo cánh treo trên ghế cạnh giường. Nàng khoác nó lên vai rồi ngồi dậy, chống cằm trong tay, ngắm Kennicott. Trong ánh sáng xám từ bóng đèn điện nhỏ ngoài hành lang, nàng thấy chàng đang cau mày.

“Will, chuyện này--em phải hiểu cho rõ. Hôm nọ có người bảo em rằng ở những thị trấn thế này, các bác sĩ còn ghét nhau hơn cả ở thành phố, vì tiền----?”

“Ai bảo em thế?”

“Không quan trọng.”

“Anh cá là Vida Sherwin của em chứ ai. Cô ta là người có óc, nhưng sẽ có óc hơn khối nếu biết ngậm miệng, đừng để bao nhiêu chất xám rỉ ra theo kiểu ấy.”

“Will! Ôi, Will! Kinh khủng quá! Chưa nói đến sự thô tục----có những mặt Vida là bạn thân nhất của em. Kể cả CÓ nói thế. Mà thực ra cô ấy không nói.” Chàng ưỡn đôi vai dày trong bộ đồ ngủ flanen màu hồng và xanh lá lố bịch. Chàng ngồi thẳng, búng tay bực bội, rồi gầm gừ:

“Nếu cô ta không nói thì quên cô ta đi. Dù sao ai nói cũng chẳng khác gì. Điểm chính là em tin. Trời đất! Nghĩ mà xem, em chẳng hiểu anh hơn thế chút nào! Tiền ư!”

(“Đây là cuộc cãi vã thực sự đầu tiên của chúng mình,” nàng đau đớn nghĩ.)

Chàng vươn cánh tay dài, chộp lấy chiếc áo ghi-lê nhăn nhúm trên ghế. Chàng lấy ra một điếu xì gà và một que diêm. Chàng ném áo ghi-lê xuống sàn. Chàng châm xì gà, rít đầy giận dữ. Bẻ đôi que diêm, chàng búng những mảnh vụn vào chân giường.

Bỗng nàng thấy chân giường là tấm bia ở cuối ngôi mộ tình yêu.

Căn phòng màu xám xịt và ngột ngạt--Kennicott không “tin vào chuyện mở toang cửa sổ đến nỗi sưởi ấm cả ngoài trời.” Không khí tù đọng dường như chẳng bao giờ đổi. Trong ánh đèn hành lang, họ là hai đống chăn gối gắn với những bờ vai và mái đầu rối bù.

Nàng van: “Em không định đánh thức anh, anh yêu. Và xin anh đừng hút nữa. Anh hút nhiều quá rồi. Anh ngủ lại đi. Em xin lỗi.”

“Xin lỗi thì được, nhưng anh sẽ nói cho em một hai điều. Cứ nghe ai bảo gì về sự đố kỵ, cạnh tranh trong giới y mà tin ngay, đó chỉ là một phần trong cái thói quen luôn sẵn sàng nghĩ xấu nhất có thể về bọn ngốc nghếch chúng anh ở Gopher Prairie. Rắc rối với những phụ nữ như em là lúc nào cũng muốn TRANH LUẬN. Không chịu nhận mọi sự như nó vốn thế. Cứ phải tranh luận. Được, anh sẽ không tranh luận chuyện này dưới bất cứ hình thức, kiểu cách, hay phương diện nào. Rắc rối ở em là em chẳng cố gắng thấu hiểu bọn anh. Em vênh váo quá, cho rằng thành phố hay ho hơn đây biết bao, lúc nào cũng muốn chúng anh làm điều EM muốn----”

“Không đúng! Người cố gắng là em. Chính họ--chính anh--đứng ngoài phê phán. Em phải chạy theo ý kiến của thị trấn; phải dốc sức cho lợi ích của họ. Họ còn chẳng NHÌN thấy lợi ích của em, nói gì đến chuyện đón nhận. Em hào hứng biết mấy về cái hồ Minniemashie cũ kỹ của họ với những ngôi nhà nghỉ, nhưng nếu em nói mình cũng muốn được thấy Taormina thì họ chỉ cười hô hố (theo cái lối thân thiện đáng yêu mà anh quảng cáo lắm).”

“Phải, Tormina, cái thứ gì ấy--chắc một khu thuộc địa triệu phú đắt đỏ dễ thương nào đó. Phải; đúng là kiểu ấy; khẩu vị sâm panh, thu nhập bia bọt; mà còn phải chắc rằng mình không bao giờ có hơn thu nhập bia bọt nữa!”

“Có phải anh đang ám chỉ rằng em không biết tiết kiệm không?”

“Thì, anh không định nói, nhưng em đã tự khơi ra nên anh cũng không ngại bảo rằng tiền chợ tốn gấp đôi mức đáng lẽ phải tốn.”

“Vâng, chắc đúng là thế. Em không tiết kiệm. Em không thể. Nhờ anh cả!”

“Cái ‘nhờ anh cả’ ấy ở đâu ra?”

“Xin anh đừng quá khẩu ngữ--hay em nên nói là THÔ TỤC?”

“Anh sẽ khẩu ngữ chết tiệt theo ý anh. Em lấy đâu ra cái ‘nhờ anh cả’ ấy? Khoảng một năm trước em trách anh vì không nhớ đưa tiền cho em. Được, anh biết điều. Anh không trách em, còn NÓI chính anh có lỗi. Nhưng từ đó đến giờ anh có bao giờ quên nữa không--hầu như?”

“Không. Anh không--hầu như! Nhưng không phải chuyện ấy. Em phải có khoản chi tiêu riêng. Và em sẽ có! Mỗi tháng phải thỏa thuận một số tiền đều đặn, cố định.”

“Ý hay đấy! Dĩ nhiên bác sĩ nào cũng có một số tiền cố định! Phải! Tháng này một nghìn--tháng sau kiếm nổi một trăm đã may.”

“Vậy thì một tỷ lệ phần trăm. Hoặc cách nào khác. Thu nhập của anh có dao động đến đâu, anh cũng có thể tính trung bình sơ bộ để----”

“Nhưng ý em là gì? Em định nhắm vào đâu? Ý em là anh vô lý à? Em cho rằng anh không đáng tin, bủn xỉn đến nỗi phải trói anh bằng hợp đồng sao? Lạy Chúa, đau thật! Anh tưởng mình khá rộng rãi, tử tế, lại rất vui--nghĩ bụng, ‘cô ấy sẽ thích mê khi mình đưa cô ấy hai chục này’--hay năm chục, hay bao nhiêu đó; vậy mà hóa ra em muốn biến nó thành thứ tiền cấp dưỡng. Anh, như một thằng ngốc đáng thương, cứ tưởng mình hào phóng suốt, còn em----”

“Xin anh thôi thương hại mình đi! Anh đang khoái chí vì cảm thấy bị tổn thương. Em thừa nhận mọi điều anh nói. Dĩ nhiên. Anh đã cho em tiền rất thoải mái và vui vẻ. Hệt như em là nhân tình của anh!”

“Carrie!”

“Em nói thật! Cái mà với anh là màn phô diễn hào hiệp vĩ đại lại là nhục nhã với em. Anh CHO em tiền--cho nhân tình của anh, nếu cô ta biết chiều theo, rồi anh----”

“Carrie!”

“(Đừng ngắt lời em!)--rồi anh thấy mình đã làm tròn mọi nghĩa vụ. Được, từ nay em sẽ từ chối tiền anh cho, nếu là quà. Hoặc em là bạn đồng sự của anh, phụ trách bộ phận gia thất trong công việc chung của chúng ta, với một ngân quỹ đều đặn dành cho nó, hoặc em chẳng là gì cả. Nếu phải làm nhân tình, em sẽ tự chọn người tình. Ôi, em ghét lắm--ghét lắm--cái cảnh tươi cười chờ tiền--rồi lại không dùng nó mua nữ trang, như một nhân tình có quyền, mà mua nồi hai tầng với tất cho anh! Đúng thế đấy! Anh hào phóng lắm! Anh cho em một đô-la, thẳng tay--điều kiện duy nhất là em phải mua cho anh một cái cà vạt! Và anh cho lúc nào, theo cách nào anh muốn. Làm sao em có thể không hoang phí?”

“À thì, dĩ nhiên, nếu nhìn theo cách đó----”

“Em không thể đi lựa hàng, không thể mua số lượng lớn, phần nhiều phải mua ở những cửa hàng cho ghi sổ, không thể lên kế hoạch vì không biết có thể trông cậy vào bao nhiêu tiền. Đó là cái giá em trả cho thứ tình cảm duyên dáng của anh về việc cho đi thật rộng rãi. Anh khiến em----”

“Khoan! Khoan đã! Em biết mình đang phóng đại. Mãi đến phút này em mới nghĩ ra cái chuyện nhân tình ấy! Thực tế, em chưa bao giờ ‘tươi cười chờ tiền.’ Nhưng dù vậy, có thể em đúng. Em nên điều hành gia đình như một việc kinh doanh. Ngày mai anh sẽ tính một kế hoạch nhất định, và từ nay em sẽ có một khoản đều đặn hoặc một tỷ lệ phần trăm, cùng tài khoản séc riêng.”

“Ôi, anh tử tế thật đấy!” Nàng quay về phía chàng, cố tỏ vẻ âu yếm. Nhưng trong ánh lửa bùng lên từ que diêm chàng dùng châm lại điếu xì gà tắt ngấm và hôi khẳm, mắt chàng đỏ ngầu xấu xí. Đầu chàng cúi xuống, dưới cằm phồng ra một ngấn thịt lấm tấm những sợi râu ngắn nhợt nhạt.

Nàng ngồi chờ, cho đến khi chàng khàn khàn nói:

“Không. Chẳng đặc biệt tử tế gì. Chỉ là công bằng. Và Chúa biết anh muốn công bằng. Nhưng anh cũng mong người khác công bằng. Còn em vênh váo với mọi người quá. Cứ nhìn Sam Clark đi; một người tốt nhất đời, thật thà, trung thành, lại là một gã tuyệt vời----”

(“Phải, lại còn bắn vịt giỏi nữa, đừng quên chứ!”)

(“Thì, anh ấy bắn giỏi thật mà!”) Sam ghé qua buổi tối để ngồi chơi trò chuyện, vậy mà chết tiệt, chỉ vì anh ấy hút xì gà khô, vê đi vê lại trong miệng, có lẽ nhổ vài lần, là em nhìn anh ấy như nhìn một con lợn. Ồ, em không biết anh đã để ý em đâu, và anh thật tình mong Sam chưa nhận ra, nhưng anh chưa từng bỏ sót điều đó.”

“Em đã có cảm giác ấy. Nhổ--ghê quá! Nhưng em tiếc vì anh bắt gặp suy nghĩ của em. Em đã cố tỏ ra tử tế; em cố giấu chúng đi.”

“Có khi anh bắt được nhiều thứ hơn em tưởng đấy!”

“Vâng, có lẽ anh bắt được.”

“Và em có biết vì sao Sam không châm xì gà khi ở đây không?”

“Vì sao?”

“Anh ấy sợ chết khiếp rằng hút thuốc sẽ làm em phật ý. Em làm anh ấy sợ. Mỗi lần anh ấy nói về thời tiết, em lại trách vì anh ấy không nói thơ hay Gertie--Goethe?--hay thứ vớ vẩn bác học nào khác. Em làm anh ấy e dè đến nỗi gần như chẳng dám đến đây.”

“Ôi, em RẤT tiếc. (Dù em chắc giờ đến lượt anh phóng đại.)”

“Thì này, anh không biết có phải vậy không! Và anh bảo em một điều: cứ tiếp tục thế, em sẽ đuổi hết mọi người bạn anh có.”

“Thế thì em tệ quá. Anh BIẾT em không chủ ý làm vậy. Will, em có điều gì khiến Sam sợ--nếu quả em làm anh ấy sợ?”

“Ồ, em có đấy! Thay vì gác chân lên ghế khác, cởi nút áo ghi-lê, kể một chuyện hay hay hoặc trêu anh chuyện gì đó, anh ấy ngồi chênh vênh mép ghế, cố nói chuyện chính trị, mà còn chẳng chửi thề nữa, trong khi Sam chẳng bao giờ thực sự thoải mái nếu không chửi thề đôi chút!”

“Nói cách khác, anh ấy không thoải mái trừ khi được cư xử như một nông dân trong túp lều bùn!”

“Đủ rồi đấy! Em muốn biết em làm anh ấy sợ thế nào ư? Trước hết em cố ý nã vào anh ấy một câu hỏi mà em biết thừa là anh ấy không thể trả lời--thằng ngốc nào cũng thấy em đang thử nghiệm anh ấy--rồi em làm anh ấy sốc khi nói về nhân tình hay chuyện gì đó, như em vừa nói----”

“Dĩ nhiên Samuel trong trắng không bao giờ nói về những quý bà lầm đường ấy trong chuyện trò riêng!”

“Không khi có phụ nữ ở quanh! Em cứ chắc chắn thế đi!”

“Vậy sự không trong sạch nằm ở chỗ không giả vờ rằng----”

“Giờ mình không bàn hết cái chuyện đó--ưu sinh học hay cái mốt chết tiệt nào em muốn gọi nó. Như anh nói, trước hết em làm anh ấy sốc, rồi em trở nên thất thường đến nỗi chẳng ai theo nổi. Hoặc em muốn nhảy, hoặc em đập đàn piano, hoặc lại ủ ê như quỷ, chẳng muốn nói chuyện hay làm gì cả. Nếu nhất định phải khí chất, sao em không khí chất một mình đi?”

“Anh yêu, chẳng gì em thích hơn là thỉnh thoảng được ở một mình! Có một căn phòng riêng! Chắc anh mong em ngồi đây mơ mộng thanh nhã, thỏa mãn ‘tính khí chất’ của mình, trong khi anh từ phòng tắm lang thang vào, mặt đầy bọt cạo râu, rồi hét lên: ‘Em thấy cái quần nâu của anh không?’”

“Hừ!” Chàng có vẻ không bị thuyết phục. Chàng không đáp. Chàng xuống giường, hai bàn chân nện bịch một tiếng liền xuống sàn. Chàng bước ra khỏi phòng, một hình thù kỳ quặc trong bộ đồ ngủ liền thân thùng thình. Nàng nghe chàng lấy nước uống ở vòi phòng tắm. Nàng giận điên vì cái lối chàng bỏ đi đầy khinh thị. Nàng rúc xuống giường, ngoảnh mặt đi khi chàng trở lại. Chàng mặc kệ nàng. Khi phịch xuống giường, chàng ngáp rồi thản nhiên nói:

“Thì lúc xây nhà mới, em sẽ có tha hồ riêng tư.”

“Khi nào?”

“Ồ, anh sẽ xây, em đừng lo! Nhưng dĩ nhiên anh chẳng mong được ghi công vì việc đó.”

Giờ đến lượt nàng hừ một tiếng “Hừ!” rồi mặc kệ chàng, và thấy mình độc lập, đầy quyền uy khi bật dậy khỏi giường, quay lưng lại, moi một viên sô-cô-la đơn độc hóa đá từ hộp găng tay trong ngăn trên cùng bên phải của tủ áo, gặm nó, phát hiện nó có nhân dừa, nói “Chết tiệt!”, ước gì mình chưa nói để còn có thể tỏ ra cao hơn lối khẩu ngữ của chàng, rồi ném viên sô-cô-la vào sọt rác, nơi nó va lên đống cổ áo sơ mi vải lanh rách và hộp kem đánh răng, kêu lách cách đầy ác ý chế nhạo. Rồi với tất cả vẻ đường bệ và tự kịch hóa, nàng trở lại giường.

Suốt lúc ấy chàng vẫn thao thao, thêu thắt cho lời quả quyết rằng chàng “chẳng mong được ghi công”. Nàng nghĩ chàng là đồ nhà quê, nàng ghét chàng, nàng điên mới lấy chàng, nàng lấy chàng chỉ vì đã chán ngấy công việc, nàng phải đem đôi găng dài đi giặt, nàng sẽ chẳng bao giờ làm gì thêm cho chàng nữa, và nàng không được quên món cháo ngô của chàng vào bữa sáng. Nàng giật mình chú ý khi chàng nổi cơn lôi đình:

“Tôi đúng là thằng ngốc khi nghĩ đến chuyện xây nhà mới. Đến lúc xây xong thì chắc cô đã thành công trong kế hoạch làm cho tôi bị tất cả bạn bè lẫn bệnh nhân quay lưng rồi.”

Nàng bật ngồi dậy. Lạnh lùng, nàng nói: “Cảm ơn anh nhiều vì đã cho tôi biết ý kiến thật của anh về tôi. Nếu anh nghĩ như thế, nếu tôi là gánh vướng víu đến vậy, thì tôi không thể ở dưới mái nhà này thêm một phút nào nữa. Tôi hoàn toàn có thể tự kiếm sống. Tôi sẽ đi ngay, và anh muốn ly dị lúc nào thì tùy! Điều anh muốn là một con bò cái ngoan hiền, dễ thương, khoái chí khi những người bạn thân yêu của anh nói chuyện thời tiết rồi khạc nhổ xuống sàn!”

“Thôi nào! Đừng có ngốc thế!”

“Anh sẽ sớm biết tôi có ngốc hay không! Tôi nói thật đấy! Anh tưởng sau khi biết mình đang làm hại anh mà tôi còn ở đây dù chỉ một giây sao? Ít nhất tôi cũng đủ ý thức công bằng để không làm thế.”

“Làm ơn thôi có bốc đồng lạc sang chuyện khác đi, Carrie. Chuyện này——”

“Lạc sang chuyện khác? LẠC SANG CHUYỆN KHÁC! Để tôi nói cho anh biết——”

“——không phải một vở kịch; đây là một cố gắng nghiêm túc để chúng ta hiểu nhau ở những điều căn bản. Cả hai ta đều cáu kỉnh, đều nói lắm điều mình không thật lòng nghĩ. Tôi ước gì chúng ta là đôi thi sĩ chết tiệt nào đó, chỉ nói về hoa hồng và ánh trăng, nhưng chúng ta là con người. Được rồi. Đừng chọc ngoáy nhau nữa. Hãy thừa nhận cả hai đều làm những chuyện ngốc nghếch. Này nhé: Cô BIẾT là cô thấy mình hơn người ta. Cô không tệ như tôi nói, nhưng cô cũng chẳng tốt như cô tự nói đâu—còn lâu mới được! Tại sao cô lại cho mình hơn người đến thế? Sao cô không thể chấp nhận người ta như họ vốn là?”

Nàng chưa hề để lộ những chuẩn bị nhằm hiên ngang bước ra khỏi Ngôi Nhà Búp Bê. Nàng ngẫm nghĩ:

“Có lẽ là do thời thơ ấu của tôi.” Nàng ngập ngừng. Khi nói tiếp, giọng nàng nghe gượng gạo, lời lẽ mang vẻ sách vở của một sự trầm tư đầy cảm xúc. “Cha tôi là người dịu dàng nhất thế gian, nhưng quả ông có thấy mình cao hơn những người bình thường. Mà ông đúng là thế! Còn thung lũng Minnesota——tôi từng ngồi hàng giờ trên vách đá phía trên Mankato, chống cằm, nhìn thật xa xuống thung lũng, ao ước được làm thơ. Những mái nhà bóng loáng nghiêng nghiêng phía dưới, rồi dòng sông, rồi bên kia sông là những cánh đồng phẳng lặng trong sương, và dải vách đá bên đối diện——Nó giữ ý nghĩ của tôi lại. Tôi ĐÃ SỐNG, trong thung lũng ấy. Nhưng trên thảo nguyên—mọi ý nghĩ của tôi đều bay vút vào khoảng không mênh mông. Anh có nghĩ nguyên nhân có thể là thế không?”

“Ừm, có lẽ, nhưng——Carrie, cô luôn nói nhiều đến chuyện phải rút lấy mọi điều có thể từ cuộc đời, không để năm tháng trôi qua, thế mà cô lại cố ý tự tước đi bao nhiêu thú vui gia đình thực sự chỉ vì cô không thể thích ai nếu họ không mặc áo lễ phục và lũ lượt đến——”

“Áo mặc ban ngày. À. Xin lỗi. Không định ngắt lời anh.”

“——dự bao nhiêu tiệc trà. Lấy Jack Elder mà xem. Cô nghĩ Jack chẳng có ý tưởng gì ngoài việc chế tạo và thuế gỗ. Nhưng cô có biết Jack mê nhạc phát cuồng không? Anh ta bật đĩa đại nhạc kịch trên máy hát rồi ngồi nghe, nhắm mắt lại——Hoặc Lym Cass. Cô có từng nhận ra ông ấy hiểu biết đến mức nào không?”

“Nhưng ông ấy có thật sự hiểu biết không? Gopher Prairie gọi bất cứ ai là ‘hiểu biết’ nếu người ấy từng đi qua Tòa nghị viện bang và nghe nói về Gladstone.”

“Tôi đang nói cho cô biết đây! Lym đọc nhiều lắm—thứ nghiêm túc—lịch sử. Hoặc Mart Mahoney, ông chủ ga-ra. Trong văn phòng ông ta có rất nhiều tranh in Perry về những bức họa nổi tiếng. Hoặc lão Bingham Playfair, chết ở đây chừng một năm trước—sống cách thị trấn bảy dặm. Lão từng là đại úy trong Nội chiến, từng biết tướng Sherman, người ta còn bảo lão đào mỏ ở Nevada ngay cạnh Mark Twain. Cô sẽ gặp những nhân vật như vậy ở mọi thị trấn nhỏ, và mỗi người đều đầy óc hiểu biết, nếu cô chịu khó đào sâu mà tìm.”

“Tôi biết. Và tôi quả thật quý họ. Nhất là những người như Champ Perry. Nhưng tôi không thể quá nhiệt tình với những kẻ trưởng giả tự mãn như Jack Elder.”

“Thế thì tôi cũng là một kẻ trưởng giả tự mãn, dù cái đó nghĩa là gì đi nữa.”

“Không, anh là nhà khoa học. Ôi, tôi sẽ cố moi âm nhạc ra khỏi ông Elder. Chỉ có điều, sao ông ấy không để nó TỰ BỘC LỘ, thay vì xấu hổ về nó và lúc nào cũng nói chuyện chó săn? Nhưng tôi sẽ cố. Bây giờ ổn chứ?”

“Được. Nhưng còn một chuyện nữa. Cô cũng nên để ý đến tôi một chút!”

“Thật bất công! Anh có tất cả con người tôi!”

“Không, tôi không có. Cô tưởng cô kính trọng tôi—lúc nào cô cũng tuôn ra một bài về việc tôi ‘có ích’ thế nào. Nhưng cô chẳng bao giờ nghĩ tôi cũng có hoài bão, chẳng kém cô——”

“Có lẽ không. Tôi vẫn nghĩ anh hoàn toàn mãn nguyện.”

“Thì tôi không mãn nguyện, còn lâu mới mãn nguyện! Tôi không muốn suốt đời làm một bác sĩ đa khoa tầm thường như Westlake, rồi chết khi vẫn còn quần quật vì không sao thoát ra được, để người ta nói: ‘Ông ấy là người tốt, nhưng chẳng để dành nổi một xu.’ Không phải tôi quan tâm quái gì đến lời họ nói sau khi tôi đã chết ngắc, chẳng nghe được nữa, nhưng tôi muốn để dành đủ tiền để một ngày nào đó cô và tôi được tự do, không phải làm việc trừ khi tôi thích, và tôi muốn có một ngôi nhà đẹp—chết tiệt, tôi sẽ có một ngôi nhà đẹp chẳng thua ai ở CÁI thị trấn này!—và nếu chúng ta muốn đi đây đó, xem cái Tormina của cô hay bất kể nó là gì, thì chúng ta có thể làm, với đủ tiền trong túi để không phải nhận của ai bất cứ thứ gì, cũng chẳng phải lo phiền chuyện tuổi già. Cô chẳng bao giờ lo điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta ốm mà không có một khoản để dành kha khá, phải không?”

“Tôi e là không.”

“Vậy thì tôi phải lo thay cho cô. Và nếu cô nghĩ dù chỉ một phút rằng tôi muốn bị kẹt ở cái xó này suốt đời, chẳng có dịp đi đây đi đó và ngắm các thắng cảnh này nọ, thì cô hoàn toàn chưa hiểu tôi. Tôi cũng muốn liếc nhìn thế giới, chẳng kém cô. Chỉ là tôi thực tế hơn. Trước hết, tôi sẽ kiếm tiền—tôi đang đầu tư vào đất nông nghiệp tốt, an toàn. Giờ cô hiểu vì sao chưa?”

“Hiểu.”

“Cô sẽ cố xem có thể nghĩ về tôi như một thứ gì hơn là một gã thô lỗ chỉ biết chạy theo đồng tiền không?”

“Ôi, anh yêu, tôi đã không công bằng! Tôi ĐÚNG LÀ khó chiều. Và tôi sẽ không đến thăm nhà Dillons! Còn nếu bác sĩ Dillon làm việc cho Westlake và McGanum, thì tôi ghét ông ta!”