Phố chính — Chương 21

Chương 22 / 40 · Bài review Phố chính

I

Thép xám tưởng như bất động vì quay quá nhanh trong bánh đà cân bằng, tuyết xám trên đại lộ trồng du, bình minh xám với mặt trời khuất phía sau—đó là sắc xám của đời Vida Sherwin ở tuổi ba mươi sáu.

Cô nhỏ người, nhanh nhẹn và nước da vàng vọt; mái tóc vàng đã phai, trông khô xác; những chiếc áo lụa xanh, cổ đăng-ten giản dị, giày đen cao cổ và mũ thủy thủ của cô đều thẳng tuột, vô duyên như một chiếc bàn học; nhưng đôi mắt quyết định diện mạo cô, cho thấy cô là một nhân vật, một sức mạnh, biểu lộ niềm tin của cô vào tính thiện hảo và mục đích của mọi sự. Mắt cô xanh, và không bao giờ đứng yên; chúng biểu lộ thích thú, thương hại, nhiệt thành. Giá người ta nhìn thấy cô lúc ngủ, khi những nếp nhăn bên mắt lặng đi và mi mắt nhăn che khuất tròng mắt rực sáng, hẳn cô sẽ mất hết sức tác động.

Cô sinh ra tại một làng Wisconsin bị đồi núi vây lấp, nơi cha cô là một mục sư tẻ nhạt; cô vất vả vượt qua một trường đại học đạo mạo giả hình; cô dạy hai năm ở một thị trấn vùng quặng sắt, giữa những người Tatar và Montenegro mặt mũi nhòa nhạt cùng những bãi quặng hoang mênh mông, và khi đến Gopher Prairie, cây cối nơi đây cùng khoảng bao la sáng lòa của thảo nguyên lúa mì khiến cô tin chắc mình đang ở thiên đường.

Cô thừa nhận với các đồng nghiệp rằng tòa nhà trường hơi ẩm, nhưng khăng khăng rằng các phòng “được bố trí tiện lợi biết bao—rồi bức tượng bán thân Tổng thống McKinley trên đầu cầu thang nữa, một tác phẩm nghệ thuật đáng yêu làm sao, và có phải thật truyền cảm hứng khi được nghĩ đến vị tổng thống dũng cảm, trung thực, đã tử vì đạo ấy không!” Cô dạy tiếng Pháp, tiếng Anh, lịch sử, và lớp La-tinh năm thứ hai, bàn đến những vấn đề có tính siêu hình gọi là Lối nói gián tiếp và Đối cách tuyệt đối. Mỗi năm, cô lại được thuyết phục lại rằng học sinh đang bắt đầu học nhanh hơn. Cô dành bốn mùa đông gây dựng Hội Tranh biện, và khi một cuộc tranh biện vào chiều thứ Sáu nọ thực sự sôi nổi, những người đọc bài không quên lời, cô thấy mình được đền đáp.

Cô sống một đời bận rộn, hữu ích, và có vẻ mát lành, đơn giản như một quả táo. Nhưng thầm kín, cô lần bước giữa sợ hãi, khao khát và mặc cảm tội lỗi. Cô biết đó là gì, song không dám gọi tên. Cô ghét ngay cả âm thanh của từ “tình dục”. Khi mơ mình là một phụ nữ chốn hậu cung, với những chi trắng lớn, ấm áp, cô tỉnh dậy run rẩy, không phương tự vệ trong ánh chạng vạng căn phòng. Cô cầu nguyện với Chúa Jesus, luôn với Con Đức Chúa Trời, dâng Ngài sức mạnh khủng khiếp của sự tôn thờ, gọi Ngài là người tình vĩnh hằng, trở nên say đắm, ngây ngất, lớn lao khi chiêm ngưỡng vẻ huy hoàng của Ngài. Bằng thế, cô vươn tới sự chịu đựng và khuây khỏa.

Ban ngày, lăng xăng trong bao hoạt động, cô có thể chế giễu những đêm tối bừng cháy của mình. Với vẻ vui tươi giả tạo, cô đi đâu cũng tuyên bố: “Tôi đoán mình sinh ra để làm gái già,” và “Chẳng ai đời nào cưới một cô giáo xấu xí như tôi,” và “Các anh đàn ông, những sinh vật to xác, ồn ào, phiền phức kia, chúng tôi đàn bà sẽ chẳng cho các anh quanh quẩn trong nhà, làm bẩn những căn phòng sạch sẽ tử tế, nếu không phải vì các anh cần được cưng chiều và dẫn dắt. Chúng tôi chỉ nên bảo tất cả các anh: ‘Biến!’ thôi!”

Nhưng khi một người đàn ông ôm sát cô trong điệu nhảy, ngay cả khi “Giáo sư” George Edwin Mott vỗ tay cô đầy vẻ cha chú trong lúc họ bàn về những chuyện hư hỏng của Cy Bogart, cô run lên, rồi nghĩ mình cao quý biết bao vì đã giữ gìn trinh tiết.

Mùa thu năm 1911, một năm trước khi bác sĩ Will Kennicott lấy vợ, Vida là bạn cùng bàn của anh trong một giải đánh bài năm trăm. Khi ấy cô ba mươi bốn; Kennicott chừng ba mươi sáu. Trong mắt cô, anh là một sinh vật tuyệt vời, trẻ con, thú vị; mọi phẩm chất anh hùng trong một thân thể nam tính tráng lệ. Họ vừa giúp bà chủ dọn món xà lách Waldorf, cà phê và bánh gừng. Họ ở trong bếp, ngồi kề nhau trên một băng ghế, trong khi những người khác ăn tối ì ạch ở phòng bên.

Kennicott nam tính và thích thử nghiệm. Anh vuốt tay Vida, thản nhiên choàng tay qua vai cô.

“Đừng!” cô nói gắt.

“Cô là một cô bé láu lỉnh,” anh nói, dò dẫm vỗ vào sau vai cô.

Trong khi gắng gượng tránh ra, cô lại khát khao được nhích gần anh hơn. Anh cúi xuống, nhìn cô với vẻ hiểu biết. Cô liếc bàn tay trái của anh khi nó chạm vào đầu gối cô. Cô bật dậy, bắt đầu rửa bát đĩa một cách ồn ào và không cần thiết. Anh giúp cô. Anh quá lười để phiêu lưu thêm—và quá quen đàn bà trong nghề mình. Cô biết ơn tính phi cá nhân trong câu chuyện của anh. Nó giúp cô lấy lại tự chủ. Cô biết mình vừa lướt sát những ý nghĩ hoang dại.

Một tháng sau, trong một chuyến đi xe trượt tuyết, dưới những tấm da trâu phủ trong chiếc xe trượt dài, anh thì thầm: “Cô làm bộ là cô giáo trưởng thành, nhưng cô chỉ là một con nít thôi.” Tay anh ôm lấy cô. Cô chống lại.

“Cô không thích một gã độc thân tội nghiệp, cô đơn sao?” anh lải nhải một cách tự mãn ngu xuẩn.

“Không, không thích! Anh chẳng hề quan tâm đến tôi. Anh chỉ đang tập tành với tôi thôi.”

“Cô ác quá! Tôi mê cô khủng khiếp.”

“Tôi không mê anh. Và tôi cũng sẽ không để mình mê anh.”

Anh dai dẳng kéo cô về phía mình. Cô chộp lấy cánh tay anh. Rồi cô hất tấm phủ, trèo ra khỏi xe, chạy đuổi theo nó cùng Harry Haydock. Trong buổi khiêu vũ sau chuyến xe trượt, Kennicott tận tụy với vẻ xinh xắn nhạt nhẽo của Maud Dyer, còn Vida thì ồn ào lo tổ chức một điệu Virginia Reel. Tuy có vẻ không theo dõi Kennicott, cô biết anh không một lần nhìn cô.

Đó là tất cả cuộc tình đầu tiên của cô.

Anh không hề cho thấy rằng mình nhớ đã từng “mê cô khủng khiếp”. Cô chờ anh; cô đắm mình trong khao khát, và trong cảm giác tội lỗi vì khao khát. Cô tự nhủ mình không muốn một phần con người anh; nếu anh không trao cho cô trọn vẹn sự tận tụy, cô sẽ không bao giờ để anh chạm vào mình; và khi nhận ra có lẽ mình đang nói dối, cô bừng cháy vì khinh miệt. Cô vật lộn trong cầu nguyện. Cô quỳ trong chiếc váy ngủ nỉ hồng, mái tóc thưa xõa xuống lưng, trán đầy kinh hoàng như mặt nạ bi kịch, vừa đồng nhất tình yêu dành cho Con Đức Chúa Trời với tình yêu dành cho một người phàm, vừa tự hỏi có người đàn bà nào từng phạm thánh đến thế không. Cô muốn làm nữ tu và giữ nghi thức thờ lạy vĩnh viễn. Cô mua một tràng hạt, nhưng được nuôi dạy quá cay nghiệt theo đạo Tin Lành nên không sao ép mình dùng nó.

Tuy vậy, không một người thân cận nào của cô ở trường hay nhà trọ biết vực thẳm đam mê của cô. Họ bảo cô “lạc quan biết bao”.

Khi nghe Kennicott sắp cưới một cô gái xinh đẹp, trẻ trung, và có vẻ xuất thân lẫy lừng từ các Thành phố, Vida tuyệt vọng. Cô chúc mừng Kennicott; thản nhiên hỏi dò anh giờ cử hành hôn lễ. Đúng giờ ấy, ngồi trong phòng mình, Vida hình dung đám cưới ở St. Paul. Đầy một cơn ngây ngất làm chính mình khiếp sợ, cô theo Kennicott và cô gái đã cướp chỗ của cô, theo họ ra ga, đi qua buổi tối, suốt đêm.

Cô nhẹ nhõm khi xây dựng được niềm tin rằng mình không thực sự đáng hổ thẹn, rằng giữa cô và Carol có một mối liên hệ huyền nhiệm, để cô gián tiếp mà vẫn thực sự ở cùng Kennicott, và có quyền được như vậy.

Vida thấy Carol ngay trong năm phút đầu Carol có mặt ở Gopher Prairie. Cô nhìn chòng chọc chiếc ô tô chạy qua, Kennicott và cô gái ngồi cạnh anh. Trong thế giới mù sương của sự chuyển dời cảm xúc ấy, Vida không ghen tuông theo lẽ thường mà tin rằng, vì qua Carol cô đã nhận được tình yêu của Kennicott, Carol là một phần của cô, một cái tôi tinh tú, một cái tôi được nâng cao và đáng yêu hơn. Cô vui vì nét duyên của cô gái, mái tóc đen mượt, cái đầu thanh thoát và đôi vai trẻ trung. Nhưng đột nhiên cô nổi giận. Carol liếc cô trong một phần tư giây, nhưng nhìn lướt qua cô, nhìn một cái kho cũ ven đường. Nếu cô đã làm sự hy sinh lớn lao ấy, ít nhất cô cũng chờ đợi lòng biết ơn và sự thừa nhận, Vida cuồng nộ, trong khi cái trí óc tỉnh táo của cô giáo luống cuống van xin cô kiềm chế cơn điên loạn này.

Trong lần đến thăm đầu tiên, một nửa con người cô muốn chào đón một người đồng đạo đọc sách; nửa kia ngứa ngáy muốn biết Carol có hay điều gì về mối quan tâm trước kia Kennicott dành cho mình không. Cô phát hiện Carol không hề biết anh từng chạm tay bất cứ người phụ nữ nào khác. Carol là một đứa trẻ thú vị, ngây thơ, học thức một cách kỳ lạ. Trong khi hăng hái nhất mô tả những vẻ huy hoàng của Câu lạc bộ Thanatopsis, và khen ngợi người thủ thư này về sự đào tạo nghề nghiệp của cô, Vida lại tưởng tượng cô gái là đứa con do mình và Kennicott sinh ra; và từ sự biểu tượng hóa ấy cô có được một niềm an ủi nhiều tháng nay chưa từng biết.

Khi về nhà sau bữa tối với vợ chồng Kennicott và Guy Pollock, cô bỗng sa ngã khỏi lòng sùng mộ, và khá dễ chịu. Cô tất tả vào phòng, ném mũ đánh sầm lên giường, rồi líu lo: “Tôi chẳng QUAN TÂM! Tôi cũng khá giống cô ta—chỉ hơn vài tuổi. Tôi cũng lanh lợi, nhanh nhẹn, nói năng đâu kém cô ta, và tôi chắc rằng—Đàn ông đúng là lũ ngốc. Yêu tôi sẽ ngọt ngào gấp mười lần yêu cái con bé mộng mơ ấy. Và tôi CŨNG đẹp!”

Nhưng khi ngồi trên giường nhìn chằm chằm cặp đùi gầy, sự thách thức rỉ dần đi. Cô than:

“Không. Mình không đẹp. Lạy Chúa, chúng ta tự lừa mình biết bao! Mình giả vờ ‘có tâm hồn’. Mình giả vờ chân mình duyên dáng. Không hề. Chúng khẳng khiu. Cái kiểu gái già. Mình ghét thế! Mình ghét con đàn bà trẻ hỗn xược ấy! Con mèo ích kỷ, coi tình yêu của anh ấy là lẽ đương nhiên. . . . Không, cô ta đáng yêu. . . . Mình không nghĩ cô ta nên thân thiện với Guy Pollock đến thế.”

Suốt một năm, Vida yêu Carol, khao khát mà không dò xét chi tiết mối quan hệ của Carol với Kennicott, thích thú tinh thần ham chơi của cô biểu lộ trong những tiệc trà trẻ con, và khi quên đi mối liên kết huyền nhiệm giữa họ, lại bực bội một cách lành mạnh trước giả định của Carol rằng mình là vị cứu tinh xã hội học đến cứu Gopher Prairie. Chính mặt này trong suy nghĩ của Vida, sau một năm, thường nhất được đưa ra ánh sáng. Cô bực bội trầm ngâm: “Những người muốn thay đổi mọi thứ đùng một cái mà không chịu làm việc gì khiến tôi phát mệt! Tôi đây phải làm suốt bốn năm, chọn học sinh cho các cuộc tranh biện, huấn luyện chúng, cằn nhằn bắt chúng tra cứu tài liệu, năn nỉ chúng tự chọn đề tài—bốn năm, để dựng lên được đôi cuộc tranh biện ra hồn! Còn cô ta xông vào, mong chỉ một năm biến cả thị trấn thành thiên đường kẹo mút, nơi mọi người ngưng mọi việc khác để trồng tulip và uống trà. Với lại đây cũng là một thị trấn cũ kỹ ấm cúng, dễ chịu mà!”

Sau mỗi chiến dịch của Carol—đòi chương trình Thanatopsis hay hơn, kịch Shavian, trường học nhân bản hơn—cô đều bùng nổ như thế, nhưng chẳng bao giờ để lộ ra, và lúc nào cũng hối hận.

Vida là, và mãi sẽ là, một nhà cải cách, một người tự do. Cô tin rằng những chi tiết có thể thay đổi một cách đầy hứng khởi, nhưng những-sự-vật-nói-chung thì xinh xắn, tử tế và bất biến. Carol, không hiểu hay chấp nhận điều ấy, là một người cách mạng, một kẻ cấp tiến, vì vậy có những “ý tưởng kiến thiết”, thứ ý tưởng chỉ kẻ phá hủy mới có thể có, bởi nhà cải cách tin rằng mọi sự kiến thiết cốt yếu đã hoàn thành rồi. Sau nhiều năm thân thiết, chính sự đối lập không nói ra này, hơn là nỗi mất mát tưởng tượng về tình yêu Kennicott, đã khiến Vida bị cuốn hút một cách cáu kỉnh.

Nhưng sự ra đời của Hugh làm sống lại cảm xúc siêu việt ấy. Cô phẫn nộ vì Carol không thấy mình hoàn toàn viên mãn khi sinh con cho Kennicott. Cô thừa nhận Carol dường như yêu thương và chăm nom đứa bé hết sức chu đáo, nhưng giờ cô bắt đầu đồng nhất mình với Kennicott, và ở phương diện ấy cảm thấy mình đã phải chịu đựng quá nhiều sự thất thường của Carol.

Cô nhớ lại vài phụ nữ khác từ Bên Ngoài đến mà không biết trân trọng Gopher Prairie. Cô nhớ vợ vị mục sư quản nhiệm, người lạnh nhạt với khách đến thăm và được đồn khắp thị trấn là đã nói: “Thật-tình tôi không thể chịu nổi cái sự niềm nở thôn dã trong cách đáp lời này.” Người đàn bà ấy được xác nhận là nhét khăn tay vào thân áo làm đệm—ôi, cả thị trấn chỉ còn biết cười ngặt nghẽo vì bà ta. Dĩ nhiên, chỉ vài tháng sau vị mục sư cùng bà vợ đã bị tống đi.

Rồi còn người đàn bà bí ẩn tóc nhuộm, lông mày kẻ chì, mặc những bộ váy Anh bó sát, kiểu áo basque, phảng phất mùi xạ hương cũ, ve vãn đàn ông và khiến họ ứng tiền cho chi phí vụ kiện của bà ta, cười nhạo Vida đọc bài trong một buổi giải trí của trường, rồi bỏ đi, nợ tiền khách sạn và ba trăm đô-la đã vay.

Vida khăng khăng rằng mình yêu Carol, nhưng có phần thỏa mãn khi so sánh cô với những kẻ bôi nhọ thị trấn ấy.

II

Vida từng thích giọng hát của Raymie Wutherspoon trong ca đoàn Anh giáo; cô từng cùng anh xét kỹ thời tiết tại các buổi giao lưu của giáo hội Giám Lý và ở Bon Ton. Nhưng thực ra cô chỉ biết anh khi chuyển đến nhà trọ của bà Gurrey. Đó là năm năm sau chuyện của cô với Kennicott. Cô ba mươi chín, Raymie có lẽ ít hơn một tuổi.

Cô nói với anh, hoàn toàn chân thành: “Trời! Với trí óc, sự khéo léo và giọng hát tuyệt vời ấy, anh làm được bất cứ điều gì. Anh diễn thật hay trong ‘Cô gái từ Kankakee’. Anh làm tôi thấy mình ngu ngốc khủng khiếp. Nếu anh theo sân khấu, tôi tin anh cũng giỏi ngang bất cứ ai ở Minneapolis. Nhưng dù vậy, tôi không tiếc vì anh gắn bó với kinh doanh. Đó là một sự nghiệp thật kiến thiết.”

“Cô thật sự nghĩ vậy sao?” Raymie khao khát hỏi, qua bát xốt táo.

Đó là lần đầu tiên cả hai tìm được một tình bạn tri thức đáng tin cậy. Họ coi thường Willis Woodford, anh nhân viên ngân hàng, cùng người vợ lo âu chỉ xoay quanh đứa con; vợ chồng Lyman Cass ít nói; người chào hàng nói tiếng lóng; và những vị khách kém khai sáng khác của bà Gurrey. Họ ngồi đối diện nhau, ngồi đến khuya. Họ phấn khởi phát hiện mình đồng ý trong lời tuyên xưng đức tin:

“Những người như Sam Clark với Harry Haydock thì chẳng tha thiết gì đến âm nhạc, tranh ảnh, những bài giảng hùng hồn và phim ảnh thật sự tinh tế; nhưng mặt khác, những người như Carol Kennicott lại coi trọng quá đáng toàn bộ nghệ thuật này. Mọi người nên biết thưởng thức những thứ đẹp đẽ, nhưng đồng thời họ phải thực tế và—phải nhìn sự vật theo cách thực tế.”

Mỉm cười, chuyền cho nhau chiếc đĩa dưa muối bằng thủy tinh ép, thấy khăn trải bàn bữa tối đầy xơ vải của bà Gurrey bừng sáng dưới ánh sáng thân tình, Vida và Raymie nói về chiếc khăn xếp màu hồng của Carol, sự ngọt ngào của Carol, đôi giày thấp mới của Carol, quan điểm sai lầm của Carol rằng trường học không cần kỷ luật nghiêm khắc, tính dễ mến của Carol ở Bon Ton, dòng tuôn chảy những ý tưởng hoang dại của Carol mà, thành thật nhé, chỉ riêng việc cố theo dõi thôi cũng đủ khiến người ta bồn chồn.

Về cuộc bày biện những chiếc sơ mi nam xinh xắn trong tủ kính Bon Ton do Raymie sắp đặt, về khoản dâng cúng của Raymie chủ nhật vừa rồi, chuyện chẳng có bài độc tấu mới nào hay bằng “Jerusalem Vàng Son”, và cách Raymie chống lại Juanita Haydock khi cô ta vào cửa hiệu toan điều khiển mọi việc, còn anh gần như bảo thẳng rằng cô ta quá sốt sắng muốn người ta nghĩ mình thông minh lanh lợi đến nỗi nói những điều chẳng hề có ý nói, với lại, Raymie phụ trách quầy giày, và nếu Juanita, hoặc cả Harry nữa, không thích cách anh điều hành, họ cứ việc kiếm người khác.

Về chiếc jabot mới của Vida khiến cô trông ba mươi hai tuổi (theo ước tính của Vida) hoặc hai mươi hai tuổi (theo ước tính của Raymie), dự định của Vida cho Hội Tranh biện trường trung học diễn một vở ngắn, và sự khó khăn trong việc giữ đám nam sinh nhỏ tuổi ngoan ngoãn ở sân chơi khi một gã to xác như Cy Bogart lại quậy phá như thế.

Về tấm bưu thiếp hình bà Dawson gửi cho bà Cass từ Pasadena, có những khóm hồng nở ngoài trời ngay trong tháng Hai, việc đổi giờ tàu số 4, lối lái xe hơi liều lĩnh của bác sĩ Gould, lối lái xe hơi liều lĩnh của hầu như tất cả những người này, cái ngụy biện cho rằng bọn xã hội chủ nghĩa ấy có thể điều hành một chính quyền nổi lấy sáu tháng nếu họ từng được cơ hội thử nghiệm lý thuyết của mình, và cái cách điên rồ Carol nhảy từ đề tài này sang đề tài khác.

Vida đã từng nhìn Raymie như một người đàn ông gầy gò đeo kính, mặt dài thượt buồn bã, tóc cứng nhắc không màu. Giờ đây cô nhận ra quai hàm anh vuông vức, đôi bàn tay dài cử động mau lẹ mà trắng nhợt một cách thanh nhã, và đôi mắt tin cậy cho thấy anh đã “sống một đời trong sạch”. Cô bắt đầu gọi anh là “Ray”, và mỗi lần Juanita Haydock hay Rita Gould cười rúc rích về anh ở Hội Mười Bảy Vui Vẻ, cô lại bật dậy bênh vực lòng vị tha và sự chu đáo của anh.

Vào một chiều Chủ nhật cuối thu, họ đi bộ xuống hồ Minniemashie. Ray nói anh muốn được thấy đại dương; hẳn đó là một cảnh tượng hùng vĩ; hẳn còn hùng vĩ hơn nhiều một cái hồ, dù là hồ lớn đến thế nào. Vida khiêm tốn cho biết cô đã thấy rồi; cô đã thấy nó trong chuyến đi mùa hè tới Cape Cod.

“Cô đã đi tuốt đến Cape Cod ư? Massachusetts ấy? Tôi biết cô từng đi đây đó, nhưng không ngờ cô đã đi xa đến vậy!”

Được sự quan tâm của anh làm cho cao lớn và trẻ trung hơn, cô tuôn ra: “Ôi, vâng. Một chuyến đi tuyệt diệu. Qua Massachusetts có biết bao nơi đáng xem—những nơi lịch sử. Có Lexington, nơi chúng ta đánh lui quân Anh áo đỏ, rồi nhà Longfellow ở Cambridge, rồi Cape Cod—đủ mọi thứ—ngư dân và tàu săn cá voi và những cồn cát và mọi thứ.”

Cô ước gì mình có một cây gậy nhỏ để cầm. Anh bẻ một cành liễu.

“Ôi, anh khỏe thật!” cô nói.

“Không, không khỏe lắm đâu. Tôi ước ở đây có Hội Y. M. C. A., để tôi tập thể dục đều đặn. Trước kia tôi vẫn nghĩ nếu có dịp, mình có thể làm nhào lộn khá ra trò.”

“Tôi chắc là anh làm được. Với một người to lớn, anh nhanh nhẹn khác thường.”

“Ồ không, cũng chẳng đến thế. Nhưng tôi ước ta có một Hội Y. M. C. A. Thật tuyệt nếu có các buổi diễn thuyết và mọi thứ, với lại tôi muốn theo một lớp rèn luyện trí nhớ—tôi tin một người phải tiếp tục tự học và trau dồi trí óc ngay cả khi làm kinh doanh, cô không nghĩ vậy sao, Vida—tôi gọi cô là ‘Vida’ thế này chắc hơi đường đột!”

“Tôi đã gọi anh là ‘Ray’ mấy tuần nay rồi!”

Anh tự hỏi sao giọng cô lại chua chát.

Anh giúp cô xuống bờ dốc đến mép hồ nhưng đột ngột buông tay cô ra; khi họ ngồi trên một thân liễu đổ và anh chạm vào tay áo cô, anh khẽ dịch sang một bên, thì thầm: “Ồ, xin lỗi—vô ý.”

Cô nhìn chằm chằm mặt nước lạnh lẽo nâu bùn, những cọng sậy xám trôi nổi.

“Cô trông đăm chiêu quá,” anh nói.

Cô dang tay. “Có đấy! Anh vui lòng nói cho tôi biết—bất cứ điều gì—thì có ích gì không! Ôi, đừng bận tâm đến tôi. Tôi là một con gà mái già dở chứng. Hãy kể tôi nghe kế hoạch của anh để thành hùn vốn ở Bon Ton. Tôi thực sự cho rằng anh có lý: Harry Haydock và lão Simons xấu tính kia phải cho anh một phần hùn.”

Anh ngâm nga những cuộc chiến cũ bất hạnh, nơi anh vừa là Achilles vừa là Nestor ngọt giọng, nhưng những con đường chính đáng của anh vẫn bị các vị vua tàn nhẫn phớt lờ. . . . “Chà, nếu tôi đã bảo họ một lần thì đã bảo cả tá lần, phải nhập thêm loại quần mỏng nhẹ cho nam giới mặc mùa hè, thế mà dĩ nhiên họ cứ để một thằng Do Thái hèn mạt như Rifkin vượt lên, giật phắt khách hàng của họ, rồi Harry nói—cô biết Harry thế nào mà, có lẽ hắn không cố ý cau có, nhưng hắn thật là một kẻ hay hậm hực----”

Anh đưa tay giúp cô đứng dậy. “Nếu cô KHÔNG PHIỀN. Tôi nghĩ một gã đàn ông thật đáng ghét nếu một quý cô đi dạo cùng hắn mà không thể tin cậy hắn, rồi hắn lại toan ve vãn cô ấy các thứ.”

“Tôi chắc anh đáng tin cậy lắm!” cô gắt, rồi bật dậy không cần anh giúp. Sau đó, mỉm cười quá mức, cô nói: “Ờ—anh có nghĩ đôi khi Carol không đánh giá đúng năng lực của bác sĩ Will không?”

III

Ray thường hỏi ý cô về việc trang trí tủ kính, việc bày những đôi giày mới, thứ nhạc thích hợp nhất cho buổi giải trí của hội Eastern Star, và (dù anh được công nhận là một nhà chuyên môn về thứ mà thị trấn gọi là “đồ trang phục nam giới”) cả về quần áo của chính mình. Cô thuyết phục anh đừng đeo những chiếc nơ nhỏ khiến anh trông như một học sinh Trường Chủ nhật bị kéo dài. Có lần cô bật ra:

“Ray, tôi có thể lắc anh cho tỉnh! Anh có biết mình quá hay xin lỗi không? Anh lúc nào cũng coi trọng người khác quá mức. Anh xun xoe Carol Kennicott khi cô ấy có một lý thuyết điên rồ nào đó rằng tất cả chúng ta phải thành người vô chính phủ, hoặc sống bằng sung với hạt dẻ gì đó. Và anh lắng nghe Harry Haydock cố ra vẻ, nói về hàng hoàn trả với tín dụng và những thứ anh biết nhiều hơn hắn gấp bội. Hãy nhìn thẳng vào mắt họ! Hãy trừng mắt với họ! Hãy nói giọng trầm! Anh là người thông minh nhất thị trấn, giá mà anh biết điều đó. Anh ĐÚNG là thế!”

Anh không thể tin được. Anh cứ quay lại tìm cô để được xác nhận. Anh tập trừng mắt và nói giọng trầm, nhưng vòng vo gợi cho Vida biết rằng khi anh thử nhìn thẳng vào mắt Harry Haydock, Harry đã hỏi: “Raymie, anh bị làm sao thế? Đau ở đâu à?” Nhưng sau đó Harry lại hỏi về tất Kantbeatum theo một cách mà Ray cảm thấy, bằng cách nào đó, khác với vẻ bề trên trước kia của hắn.

Họ ngồi trên chiếc xô-pha thấp bọc sa tanh vàng trong phòng khách nhà trọ. Khi Ray lại tuyên bố rằng nếu Harry không cho anh phần hùn thì anh nhất quyết không chịu đựng thêm bao nhiêu năm nữa, bàn tay vung vẩy của anh chạm vào vai Vida.

“Ôi, xin lỗi!” anh van vỉ.

“Không sao. Thôi, tôi nghĩ mình phải lên phòng đây. Đau đầu,” cô nói cụt lủn.

IV

Tối tháng Ba ấy, Ray và cô ghé Dyer’s uống sô-cô-la nóng trên đường từ rạp chiếu bóng về. Vida suy tính: “Anh có biết có thể sang năm tôi không ở đây không?”

“Ý cô là sao?”

Bằng những móng tay mảnh mai, hẹp, cô vuốt mặt kính làm thành mặt bàn tròn nơi họ ngồi. Cô nhìn qua kính xuống các hộp nước hoa màu đen, vàng kim và vàng chanh trong hốc bàn. Cô nhìn quanh những giá bày túi chườm nước bằng cao su đỏ, bọt biển vàng nhạt, khăn rửa mặt viền xanh, bàn chải tóc có lưng gỗ anh đào đánh bóng. Cô lắc đầu như một bà đồng đang bừng ra khỏi cơn xuất thần, buồn bã nhìn chằm chằm anh, hỏi:

“Tại sao tôi phải ở lại đây? Mà tôi phải quyết định. Ngay bây giờ. Đến lúc gia hạn hợp đồng dạy học cho năm tới rồi. Tôi nghĩ tôi sẽ đi dạy ở một thị trấn khác. Ai ở đây cũng chán tôi rồi. Tôi đi cũng phải. Trước khi người ta ra mặt NÓI họ chán tôi. Tôi phải quyết định tối nay. Tôi cũng phải----Ôi, thôi, chẳng sao. Đi nào. Ta đi đi. Muộn rồi.”

Cô bật dậy, mặc kệ tiếng than vãn của anh: “Vida! Đợi đã! Ngồi xuống! Trời đất! Tôi choáng váng quá! Chà! Vida!” Cô bước thẳng ra ngoài. Trong lúc anh trả tiền, cô đã đi trước. Anh chạy theo, sụt sùi: “Vida! Đợi đã!” Dưới bóng những khóm tử đinh hương trước nhà Gougerling, anh bắt kịp cô, chặn bước chạy trốn của cô bằng một bàn tay đặt trên vai.

“Ôi, đừng! Đừng! Có gì mà quan trọng chứ?” cô van xin. Cô đang nức nở, hai mí mắt mềm nhăn nheo ướt đẫm nước mắt. “Ai cần tình cảm hay sự giúp đỡ của tôi? Tôi cũng có thể trôi giạt đi, bị lãng quên. Ôi Ray, xin anh đừng giữ tôi. Để tôi đi. Tôi chỉ việc quyết định không gia hạn hợp đồng ở đây, rồi—rồi trôi giạt—đến một nơi rất xa----”

Bàn tay anh vững vàng trên vai cô. Cô cúi đầu, áp má chà lên mu bàn tay anh.

Họ cưới nhau vào tháng Sáu.

V

Họ thuê căn nhà của Ole Jenson. “Nó nhỏ,” Vida nói, “nhưng có một khu vườn rau dễ thương nhất, và một lần này tôi thích có thời gian gần gũi với Thiên nhiên.”

Tuy về mặt chính thức cô đã thành Vida Wutherspoon, và hẳn cô chẳng có lý tưởng nào về sự độc lập của việc giữ nguyên tên mình, cô vẫn được gọi là Vida Sherwin.

Cô đã thôi việc ở trường, nhưng vẫn dạy một lớp tiếng Anh. Cô tất bật trong mọi ủy ban của Câu lạc bộ Thanatopsis; lúc nào cũng xộc vào phòng nghỉ bắt bà Nodelquist quét sàn; cô được bổ nhiệm vào ban quản trị thư viện kế nhiệm Carol; cô dạy lớp Nữ sinh Cuối cấp tại Trường Chủ nhật Episcopal, và cố phục hưng Hội Những Người Con Gái của Nhà Vua. Cô bùng nổ tự tin và hạnh phúc; hôn nhân đã biến những ý nghĩ làm cô kiệt quệ thành năng lượng. Mỗi ngày cô một đầy đặn hơn thấy rõ, và tuy vẫn chuyện trò say sưa, cô ít hâm mộ lộ liễu hạnh phúc hôn nhân hơn, ít tình cảm hóa chuyện trẻ con hơn, lại gay gắt hơn trong việc đòi cả thị trấn chia sẻ các cuộc cải cách của cô—mua một công viên, bắt buộc dọn dẹp sân sau.

Cô dồn Harry Haydock vào bàn giấy ở Bon Ton; cô cắt ngang câu đùa của hắn; cô bảo chính Ray đã gây dựng quầy giày và quầy đồ nam; cô đòi phải cho anh thành hùn vốn. Trước khi Harry kịp trả lời, cô dọa rằng Ray và cô sẽ mở một cửa hiệu cạnh tranh. “Tôi sẽ tự đứng bán sau quầy, và một Nhân Vật Nhất Định đã sẵn sàng bỏ tiền ra.”

Cô hơi tự hỏi Nhân Vật Nhất Định ấy là ai.

Ray được nhận làm hùn vốn một phần sáu.

Anh trở thành một người hướng dẫn khách được tôn vinh, với vẻ tự chủ mới khi chào đón đàn ông, không còn khúm núm e thẹn trước phụ nữ đẹp. Khi không âu yếm ép người ta mua những món họ chẳng cần, anh đứng ở cuối cửa hiệu, rạng rỡ, trầm ngâm, cảm thấy mình nam tính khi hồi tưởng những bất ngờ cuồng nhiệt của tình yêu do Vida hé lộ.

Dấu vết duy nhất còn lại trong sự đồng nhất hóa của Vida với Carol là cơn ghen khi cô thấy Kennicott và Ray ở cùng nhau, rồi nghĩ rằng có người có thể cho Kennicott hơn anh. Cô chắc Carol cũng nghĩ thế, và cô muốn thét lên: “Cô đừng hòng hả hê! Tôi chẳng thèm người chồng già chậm chạp của cô. Ông ta chẳng có lấy một chút cao quý tinh thần nào của Ray.”