Phố chính — Chương 24

Chương 25 / 40 · Bài review Phố chính

I

Suốt tháng giữa hạ ấy, Carol nhạy cảm với Kennicott. Nàng nhớ lại cả trăm điều kỳ quặc: nỗi kinh hoàng buồn cười khi biết chàng nhai thuốc lá, buổi tối nàng từng cố đọc thơ cho chàng nghe; những chuyện tưởng như đã biến mất, không dấu vết, không đầu đuôi. Nàng luôn nhắc đi nhắc lại rằng trong khát vọng nhập ngũ, chàng đã kiên nhẫn một cách anh hùng. Nàng hết sức nâng niu thứ tình cảm an ủi mình dành cho chàng trong những điều nhỏ nhặt. Nàng thích vẻ giản dị khi chàng lúi húi sửa sang trong nhà; sức lực và sự tháo vát của chàng lúc siết lại bản lề một cánh chớp; vẻ trẻ con khi chàng chạy đến bên nàng xin được vỗ về vì phát hiện nòng khẩu súng săn bơm của mình bị rỉ. Nhưng ở mức cao nhất, với nàng chàng chỉ là một Hugh khác, không có vẻ hào nhoáng của tương lai chưa biết của Hugh.

Cuối tháng Sáu, có một ngày chớp nhiệt.

Vì công việc tăng lên do các bác sĩ khác vắng mặt, vợ chồng Kennicott không ra ngôi nhà nhỏ bên hồ mà vẫn ở lại thị trấn, bụi bặm và bẳn gắt. Buổi chiều, khi đến Oleson & McGuire's (trước kia là Dahl & Oleson's), Carol bực mình vì cậu nhân viên trẻ, mới từ nông trại lên, mặc nhiên cho rằng mình phải tỏ ra láng giềng và hỗn xược. Cậu ta chẳng thân sỗ sàng hơn một tá nhân viên khác trong thị trấn, nhưng thần kinh của nàng đã bị cái nóng thiêu sém.

Khi nàng hỏi mua cá tuyết cho bữa tối, cậu ta khụt khịt: “Cô mua thứ khô khốc cũ rích ấy làm gì?”

“Tôi thích!”

“Dở ẹc! Chắc bác sĩ đủ tiền mua món ngon hơn chứ. Thử mấy cái xúc xích mới về đi. Tuyệt lắm. Nhà Haydock dùng đấy.”

Nàng bùng nổ. “Cậu thanh niên thân mến, việc dạy tôi quán xuyến nhà cửa không phải bổn phận của cậu, và tôi cũng chẳng đặc biệt quan tâm nhà Haydock hạ cố tán thành thứ gì!”

Cậu ta bị tổn thương. Vội vàng, cậu gói mẩu cá trông như bị phong; đứng há miệng nhìn nàng kéo lê bước chân ra ngoài. Nàng than thầm: “Mình không nên nói thế. Cậu ta không có ý gì. Cậu ta không biết lúc nào mình đang hỗn xược.”

Sự hối hận ấy không chống nổi Bác Whittier, khi nàng ghé tiệm tạp hóa của ông mua muối và một gói diêm an toàn. Bác Whittier, không cổ áo, chiếc sơ mi ướt đẫm mồ hôi thành một vệt nâu dọc lưng, đang nhừa nhựa quát một nhân viên: “Nào, mau chân lên, xách chiếc bánh pao ấy đến nhà bà Cass. Có người trong thị trấn này tưởng chủ tiệm chẳng có việc gì ngoài chạy theo các đơn đặt qua điện thoại. . . . Chào Carrie. Cái váy cô mặc cổ hơi trễ quá đấy. Có thể là đứng đắn, đoan trang—tôi đoán mình cổ hủ—nhưng tôi chưa từng thấy hay ho gì chuyện phô bộ ngực phụ nữ cho cả thị trấn nhìn! Hê, hê, hê! . . . Chào buổi chiều, bà Hicks. Xô thơm à? Vừa hết. Để tôi bán cho bà thứ gia vị khác. Hử?” Bác Whittier phẫn nộ bằng giọng mũi: “DĨ NHIÊN! Còn KHỐI thứ gia vị khác cũng tốt như xô thơm, dùng vào bất cứ việc gì! Có gì không được với—ừ, với tiêu Jamaica?” Khi bà Hicks đi rồi, ông nổi giận: “Có những người chẳng biết mình muốn gì!”

“Gã bắt nạt đạo mạo, mồ hôi nhễ nhại—lại còn là chú của chồng mình!” Carol nghĩ.

Nàng lẻn vào tiệm Dave Dyer. Dave giơ tay lên: “Đừng bắn! Tôi đầu hàng!” Nàng mỉm cười, nhưng chợt nghĩ gần năm năm nay Dave vẫn giữ trò giả vờ nàng đang đe dọa tính mạng anh ta.

Kéo lê bước trên con phố nóng rát, đầy gai châm, nàng nghĩ một công dân Gopher Prairie không có những câu đùa—anh ta chỉ có một câu đùa. Suốt năm mùa đông, cứ mỗi buổi sáng lạnh giá, Lyman Cass lại nhận xét: “Lạnh vừa vừa—rồi sẽ còn lạnh hơn trước khi khá lên.” Năm mươi lần Ezra Stowbody đã thông báo cho công chúng rằng Carol từng hỏi: “Tôi ký hậu ở mặt sau tấm séc này phải không?” Năm mươi lần Sam Clark gọi với nàng: “Cô chôm cái mũ ấy ở đâu thế?” Năm mươi lần, việc nhắc đến Barney Cahoon, người đánh xe chở hàng của thị trấn, lại như đồng nickel bỏ vào khe máy, khiến Kennicott bật ra câu chuyện ngụy tạo rằng Barney từng chỉ cho một mục sư: “Xuống ga lấy thùng sách tôn giáo của ông đi—nó đang rò rỉ!”

Nàng về nhà theo con đường không thay đổi. Nàng biết mọi mặt tiền nhà, mọi ngã tư, mọi bảng quảng cáo, mọi cái cây, mọi con chó. Nàng biết mọi vỏ chuối thâm đen và mọi vỏ bao thuốc lá rỗng trong rãnh nước. Nàng biết mọi lời chào. Khi Jim Howland dừng lại và nhìn chòng chọc, không thể nào anh ta sắp thổ lộ điều gì ngoài câu chào miễn cưỡng: “Ờ, hôm nay cô sao rồi?”

Suốt phần đời còn lại của nàng, vẫn cái thùng bánh mì dán nhãn đỏ trước tiệm bánh ấy, vẫn vết nứt hình cái đê ở vỉa hè cách cột buộc ngựa bằng đá hoa cương của Stowbody một phần tư dãy phố----

Nàng lặng lẽ trao những món đã mua cho Oscarina cũng lặng lẽ. Nàng ngồi ở hiên, đu đưa ghế, phe phẩy quạt, bồn chồn vì tiếng Hugh mè nheo.

Kennicott về nhà, càu nhàu: “Thằng bé réo cái quỷ gì thế?”

“Nếu em chịu được cả ngày thì chắc anh chịu được mười phút!”

Chàng ra ăn tối trong áo sơ mi xắn tay, áo ghi-lê hé mở một phần, để lộ đôi dây đeo quần đã đổi màu.

“Sao anh không mặc bộ Palm Beach đẹp của anh, rồi cởi cái áo ghi-lê kinh khủng ấy ra?” nàng phàn nàn.

“Rắc rối lắm. Nóng quá, lười lên lầu.”

Nàng nhận ra có lẽ đã một năm nay nàng không thật sự nhìn chồng mình. Nàng quan sát cách chàng ăn uống. Chàng hùng hổ dùng dao đuổi những mẩu cá khắp đĩa rồi liếm dao sau khi ngấu nghiến chúng. Nàng hơi buồn nôn. Nàng tự nhủ: “Mình thật nực cười. Những chuyện ấy có đáng gì! Đừng ngớ ngẩn thế!” Nhưng nàng biết với nàng chúng có đáng: những lỗi dùng từ và thì lẫn lộn ấy trên bàn ăn.

Nàng nhận ra họ chẳng có mấy điều để nói; rằng, không thể tin nổi, họ giống những cặp vợ chồng đã cạn chuyện trò mà nàng từng thương hại trong các nhà hàng.

Bresnahan hẳn sẽ thao thao bằng một cách sôi nổi, kích thích, chẳng đáng tin.

Nàng nhận ra quần áo Kennicott hiếm khi được là phẳng. Áo khoác của chàng nhăn nhúm; mỗi khi đứng dậy, ống quần lại phập phồng ở đầu gối. Giày chàng không đánh xi, lại cũ kỹ, vô dạng. Chàng không chịu đội mũ mềm; cứ bám lấy chiếc mũ derby cứng, như một biểu tượng của nam tính và thịnh vượng; đôi khi còn quên cởi nó trong nhà. Nàng liếc cổ tay áo chàng. Chúng sờn ra những gai nhỏ bằng vải lanh hồ cứng. Nàng từng lộn chúng lại một lần; mỗi tuần đều cắt tỉa; nhưng khi nàng van chàng vứt chiếc sơ mi đi, vào sáng Chủ nhật trước, trong thời khắc quyết định của cuộc tắm rửa hằng tuần, chàng đã bồn chồn phản đối: “Ồ, nó còn mặc được khối lâu.”

Chàng chỉ cạo râu (tự cạo, hoặc giao du hơn là nhờ Del Snafflin) ba lần mỗi tuần. Sáng nay không phải một trong ba lần đó.

Thế mà chàng lại tự hào về những chiếc cổ áo bẻ mới và cà vạt bóng bẩy; thường nói đến lối “ăn mặc luộm thuộm” của bác sĩ McGanum; và cười nhạo những ông già dùng cổ tay áo rời hoặc cổ áo Gladstone.

Tối ấy Carol không mấy thích món cá tuyết sốt kem.

Nàng để ý móng tay chàng lởm chởm, méo mó do thói quen cắt bằng dao bỏ túi và khinh chiếc dũa móng là đàn bà, là thành thị. Móng tay chàng luôn sạch, những ngón tay được cọ rửa kỹ lưỡng của một phẫu thuật gia—điều đó càng khiến sự nhếch nhác cố chấp của chàng chói mắt. Đó là đôi tay khôn ngoan, đôi tay tử tế, nhưng không phải đôi tay của tình yêu.

Nàng nhớ chàng trong thời kỳ tán tỉnh. Khi ấy chàng đã cố làm nàng vui, từng khiến nàng cảm động vì bẽn lẽn đội chiếc mũ rơm có dải băng màu. Có thể nào những ngày tháng vụng về tìm đến nhau ấy đã hoàn toàn qua rồi? Chàng từng đọc sách để gây ấn tượng với nàng; từng nói (nàng nhớ lại một cách mỉa mai) rằng nàng phải chỉ ra mọi khuyết điểm của chàng; từng khăng khăng một lần, khi họ ngồi ở nơi kín đáo dưới chân tường Pháo đài Snelling----

Nàng đóng cửa tâm trí mình lại. Đó là miền đất thiêng. Nhưng thật đáng xấu hổ là----

Nàng bồn chồn đẩy chiếc bánh và mơ hầm ra xa.

Sau bữa tối, khi muỗi đã xua họ từ hiên vào nhà, khi Kennicott lần thứ hai trăm trong năm năm nhận xét: “Phải làm lưới mới cho hiên thôi—cứ để mọi thứ côn trùng bay vào,” họ ngồi đọc sách, và nàng nhận ra, rồi ghét mình vì đã nhận ra, rồi lại nhận ra sự vụng về cố hữu của chàng. Chàng trượt người xuống một chiếc ghế, gác chân lên chiếc khác, rồi dùng đầu ngón út moi sâu trong tai trái—nàng nghe tiếng chóp chép khe khẽ—chàng cứ làm mãi—cứ làm mãi----

Chàng buột miệng: “À. Quên chưa nói em. Tối nay mấy cậu sẽ tới đánh poker. Chắc mình có thể làm ít bánh quy giòn, phô mai và bia chứ?”

Nàng gật đầu.

“Anh ấy lẽ ra có thể báo trước. À thôi, nhà của anh ấy mà.”

Đám đánh poker lục tục kéo đến: Sam Clark, Jack Elder, Dave Dyer, Jim Howland. Với nàng, họ máy móc nói: “Chào buổi tối,” nhưng với Kennicott, theo lối đàn ông hùng hổ: “Nào, nào, bắt đầu chơi chứ? Linh cảm tôi tối nay sẽ đập ai đó thật thảm.” Không ai mời nàng tham gia. Nàng tự nhủ đó là lỗi của mình, vì nàng không thân thiện hơn; nhưng nàng nhớ họ chưa bao giờ mời bà Sam Clark chơi.

Bresnahan hẳn sẽ mời nàng.

Nàng ngồi trong phòng khách, liếc qua hành lang nhìn những người đàn ông khom lưng quanh bàn ăn.

Họ mặc áo sơ mi xắn tay; hút thuốc, nhai thuốc, nhổ luôn miệng; hạ giọng trong chốc lát để nàng không nghe được họ nói gì, rồi sau đó cười khùng khục; lặp đi lặp lại những câu cửa miệng chính thống: “Ba lá chia,” “Tôi tố thêm năm,” “Nào, bỏ tiền mù đi; các cậu tưởng đây là tiệc trà hồng chắc?” Khói xì gà cay xộc, lan khắp nơi. Sự chắc nịch với đó họ ngậm xì gà khiến phần dưới gương mặt vô cảm, nặng nề, chẳng hấp dẫn. Họ giống những chính khách đang hoài nghi chia nhau chức tước.

Làm sao họ hiểu được thế giới của nàng?

Cái thế giới mờ nhạt và tinh tế ấy có tồn tại không? Nàng có phải một con ngốc không? Nàng hoài nghi thế giới của mình, hoài nghi chính mình, và thấy ốm trong bầu không khí chua chát, ám khói.

Nàng lại chìm vào suy tưởng về tính quen thuộc cố hữu của ngôi nhà.

Kennicott bị đóng chặt trong nếp sinh hoạt chẳng kém một ông già cô độc. Ban đầu chàng đã tự lừa mình, vì yêu, rằng thích những thử nghiệm nấu nướng của nàng—phương tiện duy nhất để nàng biểu lộ trí tưởng tượng—nhưng giờ chàng chỉ muốn vòng món khoái khẩu của mình: bít tết, thịt bò quay, chân giò heo luộc, cháo yến mạch, táo nướng. Vì ở một giai đoạn linh hoạt hơn nào đó chàng đã tiến từ cam sang bưởi chùm, chàng tự coi mình là người sành ăn.

Mùa thu đầu tiên của họ, nàng từng mỉm cười trước lòng yêu mến của chàng đối với áo đi săn; nhưng giờ đây, khi phần da đã bung đường chỉ thành những sợi vàng nhạt rũ xuống, những mảnh vải bạt tả tơi lem đất ruộng và mỡ lau súng rủ quanh như một đường viền giẻ rách, nàng căm ghét thứ ấy.

Chẳng phải cả đời nàng giống chiếc áo đi săn ấy sao?

Nàng biết mọi vết sứt và đốm nâu trên từng món trong bộ đồ sứ mẹ Kennicott mua năm 1895—bộ sứ kín đáo mang hoa văn hoa lưu ly nhợt nhạt, viền vàng mờ: thuyền đựng nước thịt đặt trong một chiếc đĩa lót không đồng bộ, những âu rau có nắp nghiêm trang và đậm chất Phúc Âm, hai đĩa lớn.

Hai mươi lần Kennicott đã thở dài về việc Bea làm vỡ chiếc đĩa lớn còn lại—cái cỡ vừa.

Nhà bếp.

Bồn rửa bằng sắt đen ẩm ướt, bàn ráo nước vàng trắng ẩm ướt với những mảnh gỗ đổi màu, do cọ lâu ngày mềm như sợi chỉ bông, chiếc bàn cong vênh, đồng hồ báo thức, bếp được Oscarina can đảm đánh đen nhưng là một vật tởm lợm với các cánh cửa lỏng lẻo, khe gió vỡ và lò nướng không bao giờ giữ nhiệt đều.

Carol đã làm hết sức cho căn bếp: sơn trắng, treo rèm, thay cuốn lịch sáu năm tuổi bằng một tranh in màu. Nàng từng hy vọng có gạch ốp và một bếp dầu hỏa để nấu mùa hè, nhưng Kennicott luôn hoãn những khoản chi ấy.

Nàng quen thuộc với các dụng cụ trong bếp hơn Vida Sherwin hay Guy Pollock. Cái mở hộp, cán kim loại xám mềm bị xoắn từ một lần cố xưa kia dùng nó nạy cửa sổ, quan thiết với nàng hơn mọi nhà thờ lớn ở châu Âu; và đáng kể hơn tương lai châu Á là câu hỏi hằng tuần chẳng bao giờ ngã ngũ: con dao bếp nhỏ cán không sơn hay con dao lạng cán sừng hươu loại tốt nhì phù hợp hơn để chặt thịt gà nguội cho bữa tối Chủ nhật.

II

Đàn ông phớt lờ nàng đến nửa đêm. Chồng nàng gọi: “Chắc mình có ít đồ ăn chứ, Carrie?” Khi nàng đi qua phòng ăn, những người đàn ông mỉm cười với nàng, nụ cười bằng bụng. Không ai để ý đến nàng trong lúc nàng dọn bánh quy giòn, phô mai, cá mòi và bia. Họ đang xác định chính xác tâm lý của Dave Dyer trong việc giữ nguyên bài, hai giờ trước.

Khi họ ra về, nàng nói với Kennicott: “Bạn anh có cách cư xử của một quán rượu. Họ chờ em hầu hạ như người làm. Họ không quan tâm đến em bằng một bồi bàn, vì họ không phải boa cho em. Thật không may! Thôi, chúc ngủ ngon.”

Hiếm khi nàng càm ràm theo cái kiểu vụn vặt, nóng nực ấy, nên chàng ngạc nhiên hơn là tức giận. “Này! Khoan đã! Làm sao thế? Anh phải nói là không hiểu em. Mấy cậu ấy----Quán rượu ư? Sao, Perce Bresnahan còn nói chẳng ở đâu có một nhóm bạn tốt bụng, tuyệt hảo hơn chính đám có mặt tối nay!”

Họ đứng ở hành lang tầng dưới. Chàng quá sửng sốt để tiếp tục những công việc thường lệ: khóa cửa trước và lên dây cót đồng hồ đeo tay lẫn đồng hồ treo tường.

“Bresnahan! Em phát ốm vì anh ta!” Nàng chẳng định nói riêng điều gì.

“Nhưng Carrie, anh ta là một trong những nhân vật lớn nhất nước! Cả Boston đều răm rắp nghe lời anh ta!”

“Không biết có thật thế không? Làm sao biết được ở Boston, giữa những người có giáo dưỡng, họ không coi anh ta là một gã thô lỗ tuyệt đối? Cái cách anh ta gọi phụ nữ là ‘Chị em’, rồi cái cách----

“Này, nghe đây! Thế là đủ rồi! Dĩ nhiên tôi biết em không có ý ấy—chẳng qua em nóng bức, mệt mỏi, và đang cố trút cơn bực lên đầu tôi. Nhưng dù sao thì tôi cũng không chịu nổi việc em xỉa xói Perce. Em—Cũng hệt như thái độ của em với cuộc chiến—sợ chết khiếp rằng nước Mỹ sẽ trở thành quân phiệt—”

“Nhưng anh mới là nhà ái quốc thuần khiết chứ!”

“Có Chúa chứng giám, đúng thế!”

“Vâng, tối nay em nghe anh nói với Sam Clark về cách tránh thuế thu nhập đấy!”

Anh đã kịp hoàn hồn để khóa cửa; anh nện bước lên lầu trước nàng, gầm gừ: “Em chẳng biết mình đang nói gì. Tôi hoàn toàn sẵn lòng nộp đủ thuế—thực ra, tôi ủng hộ thuế thu nhập—dù tôi vẫn cho rằng nó là một sự trừng phạt đối với tính tiết kiệm và tinh thần làm ăn—thực ra, một thứ thuế bất công, ngu xuẩn chết tiệt. Nhưng dù sao tôi cũng sẽ nộp. Chỉ có điều tôi không ngốc đến mức nộp nhiều hơn số chính phủ bắt buộc, và Sam với tôi chỉ đang tính xem liệu mọi chi phí xe hơi có nên được miễn trừ không. Carrie, tôi có thể nhịn em nhiều chuyện, nhưng tuyệt đối không đời nào chịu để em bảo tôi không yêu nước. Em thừa biết tôi đã cố đi nhập ngũ. Và ngay từ đầu cái vụ rối beng này, tôi đã nói—vẫn luôn nói—rằng lẽ ra ta phải tham chiến ngay phút Đức xâm lược Bỉ. Em hoàn toàn không hiểu tôi. Em không biết coi trọng công việc của một người đàn ông. Em khác thường. Em đã bận bịu quá nhiều với những cuốn tiểu thuyết ngớ ngẩn và sách vở cùng thứ rác rưởi trí thức cao siêu này—Em thích tranh cãi!”

Mười lăm phút sau, cuộc cãi vã kết thúc bằng việc anh gọi nàng là “kẻ suy nhược thần kinh”, rồi quay đi và giả vờ ngủ.

Lần đầu tiên họ đã không làm lành.

“Có hai giống người, chỉ hai thôi, mà sống kề bên nhau. Giống của anh gọi giống của em là ‘suy nhược thần kinh’; giống của em gọi giống của anh là ‘ngu ngốc’. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu nhau, chẳng bao giờ; và tranh luận thì điên rồ—nằm cùng nhau trên một chiếc giường nóng bức trong căn phòng rợn người—những kẻ thù bị ách chung.”

III

Điều ấy làm rõ trong nàng nỗi khao khát có một nơi riêng cho mình.

“Trời đang nóng thế này, em nghĩ em sẽ ngủ ở phòng dành cho khách,” hôm sau nàng nói.

“Ý không tệ.” Anh vui vẻ và tử tế.

Căn phòng bị một chiếc giường đôi cồng kềnh và một tủ ngăn kéo bằng gỗ thông rẻ tiền chiếm đầy. Nàng cất giường lên gác mái; thay bằng một giường đơn, phủ vải denim để ban ngày thành ghế trường kỷ; đặt vào một bàn trang điểm, một ghế bập bênh được cải trang bằng tấm phủ vải hoa; rồi nhờ Miles Bjornstam đóng giá sách.

Kennicott chầm chậm hiểu rằng nàng định duy trì sự tách riêng ấy. Trong những câu hỏi của anh: “Thay đổi cả căn phòng à?” “Để sách của em vào đấy à?”, nàng nhận ra sự hoang mang của anh. Nhưng một khi cửa phòng nàng khép lại, thật dễ dàng biết bao để gạt nỗi lo của anh ra ngoài. Điều đó làm nàng đau—cái dễ dàng quên anh đi.

Dì Bessie Smail đã lần ra vụ vô chính phủ này. Bà càm ràm: “Trời đất, Carrie, cháu không định ngủ một mình chứ? Dì không tán thành chuyện ấy. Vợ chồng thì tất nhiên phải ở cùng phòng! Đừng có nảy ra những ý nghĩ ngớ ngẩn. Ai biết thứ đó có thể dẫn đến chuyện gì. Thử dì chợt bảo chú Whit của cháu rằng dì muốn một phòng riêng xem!”

Carol nói về các công thức làm bánh pudding bắp.

Nhưng bà bác sĩ Westlake lại khiến nàng phấn chấn. Nàng đến thăm bà Westlake một buổi chiều. Lần đầu tiên nàng được mời lên lầu, và thấy người đàn bà già thanh nhã đang may vá trong một căn phòng trắng và gỗ gụ, có một chiếc giường nhỏ.

“Ồ, bà có cung điện riêng của mình, còn bác sĩ có cung điện của ông ấy ư?” Carol gợi ý.

“Đúng thế! Bác sĩ bảo chỉ cần phải chịu đựng tính khí của tôi trong các bữa ăn đã đủ khổ rồi. Còn—” Bà Westlake nhìn nàng sắc sảo. “Sao cô không làm như vậy?”

“Tôi cũng đang nghĩ đến chuyện đó.” Carol cười bối rối. “Thế thì bà sẽ không coi tôi là hạng đàn bà hư hỏng hoàn toàn nếu thỉnh thoảng tôi muốn ở một mình chứ?”

“Ôi, con yêu, mọi phụ nữ đều nên tách riêng ra và ngẫm nghĩ về những điều mình nghĩ—về con cái, về Chúa, về làn da mình xấu đến đâu, về việc đàn ông thật ra chẳng hiểu mình, về bao nhiêu việc mình thấy phải làm trong nhà, và phải kiên nhẫn biết bao để chịu đựng vài điều trong tình yêu của một người đàn ông.”

“Vâng!” Carol thốt lên, gần như nghẹn thở, hai bàn tay xoắn vào nhau. Nàng muốn thú nhận không chỉ nỗi ghét các dì Bessie mà cả sự bực bội kín đáo đối với những người nàng yêu nhất: sự xa cách với Kennicott, nỗi thất vọng về Guy Pollock, sự bất an khi ở bên Vida. Nàng còn đủ tự chủ để chỉ nói: “Vâng. Đàn ông! Những tâm hồn vụng về đáng yêu ấy, chúng ta quả phải tách ra để cười họ.”

“Dĩ nhiên rồi. Không phải cô cần cười bác sĩ Kennicott nhiều đến thế, nhưng người đàn ông CỦA TÔI ấy à, trời ơi, đúng là một con chim già hiếm có! Đọc truyện khi lẽ ra phải lo công việc! ‘Marcus Westlake,’ tôi bảo ông ấy, ‘ông là một lão ngốc lãng mạn.’ Thế ông ấy có nổi giận không? Không hề! Ông ấy cười khúc khích mà nói: ‘Vâng, người yêu dấu của tôi, thiên hạ vẫn bảo vợ chồng rồi sẽ giống nhau!’ Đáng ghét chưa!” Bà Westlake cười khoan khoái.

Sau một lời bộc bạch như thế, Carol còn có thể làm gì ngoài đáp lại phép lịch sự ấy bằng nhận xét rằng Kennicott thì không đủ lãng mạn—chàng yêu dấu. Trước khi ra về, nàng đã huyên thuyên với bà Westlake về sự ghét bỏ dì Bessie, chuyện thu nhập của Kennicott nay đã hơn năm nghìn đô một năm, quan điểm của nàng về lý do Vida lấy Raymie (trong đó có vài lời khen hoàn toàn không chân thành về “tấm lòng tốt” của Raymie), ý kiến của nàng về hội đồng thư viện, chính xác Kennicott đã nói gì về bệnh tiểu đường của bà Carthal, và Kennicott nghĩ sao về mấy vị bác sĩ phẫu thuật ở hai Thành phố.

Nàng về nhà, được xoa dịu nhờ thú nhận, được khích lệ vì tìm thấy một người bạn mới.

IV

Bi hài kịch của “tình thế gia đình”.

Oscarina về nhà giúp việc nông trại, và Carol lần lượt thuê nhiều người hầu, xen giữa là những quãng trống. Sự thiếu người giúp việc đang trở thành một trong những vấn đề bó buộc nhất của thị trấn thảo nguyên. Các cô con gái nhà nông ngày càng phản kháng sự tẻ nhạt của làng, và thái độ không đổi của những Juanita đối với “con hầu”. Họ bỏ đi làm bếp ở thành phố, hoặc vào các cửa hiệu và xưởng máy thành phố, để sau giờ làm được tự do, thậm chí được làm người.

Hội Mười Bảy Vui Vẻ hả hê vì Carol bị cô Oscarina trung thành bỏ rơi. Họ nhắc nàng rằng nàng từng nói: “Tôi chẳng gặp rắc rối gì với người hầu; cứ xem Oscarina ở mãi đấy.”

Giữa các nhiệm kỳ của những cô hầu người Phần Lan từ vùng Rừng Bắc, người Đức từ đồng cỏ, đôi khi người Thụy Điển, Na Uy và Iceland, Carol tự làm việc nhà—và chịu đựng dì Bessie lăng xăng chạy vào chỉ nàng cách làm ẩm chổi để quét lớp bụi bông, cách rắc đường lên bánh doughnut, cách nhồi ngỗng. Carol khéo tay và nhận được lời khen dè dặt từ Kennicott, nhưng khi bả vai bắt đầu nhức buốt, nàng tự hỏi đã có bao nhiêu triệu phụ nữ tự dối mình suốt những năm tháng viền quanh bởi cái chết, trong khi họ giả vờ thích thú những phương pháp trẻ con vẫn còn dai dẳng trong việc nhà.

Nàng nghi ngờ sự tiện lợi và, như một hệ quả tự nhiên, sự thiêng liêng của mái nhà đơn hôn và biệt lập mà nàng từng coi là nền tảng của mọi đời sống đứng đắn.

Nàng cho những nghi ngờ ấy là độc địa. Nàng không chịu nhớ đến biết bao phụ nữ trong Hội Mười Bảy Vui Vẻ cằn nhằn chồng và bị chồng cằn nhằn.

Nàng cương quyết không than vãn với Kennicott. Nhưng mắt nàng đau; nàng không còn là cô gái mặc quần ống túm và áo flannel từng nấu ăn trên lửa trại ở núi Colorado năm năm trước. Tham vọng của nàng là lên giường lúc chín giờ; cảm xúc mạnh nhất là sự uất ức vì phải dậy lúc sáu rưỡi để chăm Hugh. Sau gáy nàng đau ngay lúc ra khỏi giường. Nàng chua chát về những niềm vui của một đời sống giản dị mà cực nhọc. Nàng hiểu vì sao công nhân và vợ công nhân không biết ơn những ông chủ tốt bụng của họ.

Vào giữa buổi sáng, khi nhất thời thoát cơn đau ở cổ và lưng, nàng vui vì thực tại của công việc. Những giờ phút trở nên sống động, lanh lẹ. Nhưng nàng chẳng hề muốn đọc các tiểu luận báo chí ngắn hùng hồn ca ngợi lao động, ngày nào cũng do những nhà tiên tri báo chí trán trắng viết ra. Nàng cảm thấy độc lập và (dù giấu kín) hơi cau có.

Trong lúc dọn nhà, nàng nghĩ tới phòng người hầu. Đó là một xó nhỏ mái dốc, cửa sổ bé tẹo, phía trên nhà bếp, ngột ngạt về mùa hè, rét cóng về mùa đông. Nàng nhận ra rằng, trong khi vẫn tự xem mình là một bà chủ đặc biệt tốt, nàng đã để hai người bạn Bea và Oscarina sống trong một cái chuồng. Nàng phàn nàn với Kennicott. “Có gì không ổn đâu?” anh gầm gừ, khi họ đứng trên cầu thang hiểm trở dẫn lên từ bếp. Nàng chỉ ra mái dốc bằng ván chưa trát, loang những vòng nâu vì mưa, sàn không phẳng, giường đơn với các chăn bông nhàu nhĩ trông nản lòng, ghế bập bênh hỏng, chiếc gương làm méo hình.

“Có thể nó không phải phòng khách khách sạn Radisson, nhưng vẫn tốt hơn rất nhiều bất cứ thứ gì mấy cô hầu này quen có ở nhà, đến nỗi họ thấy tuyệt lắm rồi. Có vẻ ngốc nghếch khi bỏ tiền mà họ lại chẳng biết quý.”

Nhưng tối ấy anh kéo dài giọng, với vẻ thản nhiên của một người muốn gây ngạc nhiên và làm vừa lòng: “Carrie, anh nghĩ có lẽ một ngày nào đó ta nên bắt đầu tính chuyện xây nhà mới. Em thấy sao?”

“S-sao cơ—?”

“Bây giờ anh thấy mình đủ sức mua một căn—mà phải thật bảnh! Anh sẽ cho cái thị trấn này thấy thế nào là một ngôi nhà thực sự! Ta sẽ qua mặt Sam và Harry! Làm mọi người phải trố mắt mà để ý!”

“Vâng,” nàng nói.

Anh không nói tiếp.

Ngày nào anh cũng trở lại chuyện căn nhà mới, nhưng về thời điểm và cách thức thì mơ hồ. Thoạt đầu nàng tin. Nàng huyên thuyên về một ngôi nhà đá thấp với cửa sổ mắt cáo và luống tulip, về nhà gạch kiểu thuộc địa, về một cottage khung gỗ trắng với chớp xanh và cửa sổ mái. Trước những hăng hái của nàng, anh đáp: “Ừm, ừm, có lẽ cũng đáng nghĩ. Em nhớ anh để tẩu ở đâu không?” Khi nàng gặng hỏi, anh bồn chồn: “Anh không biết; anh thấy mấy kiểu nhà em nói có vẻ bị làm quá nhiều rồi.”

Rốt cuộc điều anh muốn là một ngôi nhà giống hệt nhà Sam Clark, mà lại giống hệt mọi căn nhà mới thứ ba ở mọi thị trấn trong nước: một khối vuông vàng khè, đĩnh đạc, ván ốp sạch không tì vết, hiên rộng có lưới chắn, những khoảnh cỏ gọn ghẽ và lối đi bê tông; một ngôi nhà giống tâm trí của người chủ hiệu bỏ phiếu thẳng một vé đảng, mỗi tháng đi nhà thờ một lần và có chiếc xe tốt.

Anh thừa nhận: “Ừ, phải, có lẽ nó không nghệ thuật chết tiệt gì lắm nhưng—Thực ra, anh không muốn một chỗ giống hệt nhà Sam. Có thể anh sẽ bỏ cái tháp ngớ ngẩn nó có, và anh nghĩ sơn màu kem đẹp đẽ hẳn sẽ đẹp hơn. Cái vàng ở nhà Sam hơi quá phô. Rồi còn một kiểu nhà khác, nom rất đẹp và chắc chắn, lợp ván gỗ, nhuộm nâu đẹp, thay vì ván ốp—anh thấy vài căn ở Minneapolis. Em sai toét khi bảo anh chỉ thích một kiểu nhà!”

Một tối, chú Whittier và dì Bessie đến khi Carol đang buồn ngủ mà biện hộ cho một căn cottage có vườn hồng.

“Dì có nhiều kinh nghiệm quán xuyến gia đình, dì ạ, dì không thấy,” Kennicott cầu viện, “rằng có một căn nhà vuông vức tử tế, rồi chú tâm hơn vào việc kiếm một lò sưởi thật hạng nhất, sẽ hợp lý hơn tất cả kiến trúc với đồ trang trí lặt vặt này sao?”

Dì Bessie mấp máy môi như thể chúng là một dải cao su. “Thì dĩ nhiên! Dì biết người trẻ như cháu thế nào, Carrie; cháu muốn tháp, cửa sổ lồi, đàn dương cầm, và Chúa biết còn mọi thứ gì nữa, nhưng cái cần có là tủ tường, lò sưởi tốt, chỗ tiện để phơi quần áo, còn lại chẳng quan trọng.”

Chú Whittier chảy dãi đôi chút, ghé mặt sát Carol rồi phun phì phì: “Dĩ nhiên là chẳng quan trọng! Cháu cần gì thiên hạ nghĩ sao về bên ngoài nhà cháu? Cháu sống ở bên trong kia mà. Không phải việc của chú, nhưng chú phải nói là mấy người trẻ thích bánh ngọt hơn khoai tây như cháu làm chú bực mình.”

Nàng kịp về tới phòng trước khi trở nên hung dữ. Bên dưới, gần đến đáng sợ, nàng nghe giọng dì Bessie quét xoèn xoẹt như chổi, và lời càu nhàu của chú Whittier nện thình thịch như cây lau nhà. Nàng vô cớ sợ họ sẽ xông vào làm phiền, rồi lại sợ mình sẽ thuận theo quan niệm của Gopher Prairie về bổn phận với một dì Bessie và xuống lầu để tỏ ra “dễ mến”. Nàng cảm thấy đòi hỏi về một lối ứng xử tiêu chuẩn tràn đến từng đợt từ mọi công dân đang ngồi trong phòng khách, dùng đôi mắt đứng đắn nhìn nàng, chờ đợi, đòi hỏi, không khoan nhượng. Nàng gắt: “Ôi được rồi, tôi sẽ xuống!” Nàng dặm phấn mũi, chỉnh cổ áo, rồi lạnh lùng bước xuống lầu. Ba người lớn tuổi làm ngơ nàng. Họ đã chuyển từ căn nhà mới sang việc cằn nhằn chung chung đầy thú vị. Dì Bessie đang nói, bằng giọng như nhai bánh mì nướng khô:

“Tôi thật nghĩ ông Stowbody lẽ ra phải cho sửa ngay ống thoát nước ở cửa hàng chúng tôi. Sáng thứ Ba tôi đến gặp ông ta trước mười giờ, không, là quá mười giờ vài phút, nhưng dù sao cũng lâu trước buổi trưa—tôi biết vì từ ngân hàng tôi đi thẳng đến chợ thịt mua bít tết—trời ơi! Tôi thấy giá thịt Oleson & McGuire tính thật quá quắt, mà cũng đâu phải họ cho cô miếng ngon, chỉ toàn thứ gì đâu, và tôi có thời gian lấy thịt, rồi ghé nhà bà Bogart hỏi thăm bệnh thấp khớp của bà ấy—”

Carol quan sát chú Whittier. Nàng biết qua vẻ căng thẳng của ông rằng ông không nghe dì Bessie mà đang lùa những ý nghĩ riêng của mình, và sẽ cộc lốc ngắt lời bà. Quả vậy:

“Will, tôi kiếm đâu được một cái quần thêm cho bộ áo khoác và áo gi-lê này? Không muốn trả quá nhiều.”

“Ừm, chắc Nat Hicks có thể may cho chú một cái. Nhưng nếu là chú, tôi sẽ ghé Ike Rifkin—giá ông ấy thấp hơn Bon Ton.”

“Hừm. Có lắp cái bếp mới vào phòng khám chưa?”

“Chưa, tôi có xem vài cái ở nhà Sam Clark nhưng—”

“Ừ, em nên sắm nó đi. Không nên hoãn chuyện mua bếp suốt mùa hè, rồi đến mùa thu trời đột ngột trở lạnh.”

Carol mỉm cười lấy lòng họ. “Các cưng có phiền nếu tôi lẻn lên giường không? Tôi hơi mệt—hôm nay đã dọn tầng trên.”

Nàng rút lui. Nàng chắc rằng họ đang bàn tán về nàng, và tha thứ cho nàng một cách ghê tởm. Nàng nằm thao thức đến khi nghe tiếng cót két xa xa của một chiếc giường báo hiệu Kennicott đã đi ngủ. Bấy giờ nàng mới thấy an toàn.

Chính Kennicott khơi chuyện nhà Smail trong bữa sáng. Chẳng có mối liên hệ nào rõ rệt, anh nói: “Ông Whit hơi vụng về, nhưng dù sao ông ấy cũng là một lão già khá khôn ngoan. Cửa hàng của ông ấy quả đang làm ăn phát đạt.”

Carol mỉm cười, và Kennicott vui vì nàng đã biết điều. “Như Whit nói, rốt cuộc điều đầu tiên là bên trong căn nhà phải cho ra hồn, còn mặc xác những người đứng ngoài nhìn vào!”

Dường như đã quyết: ngôi nhà sẽ là một mẫu mực vững vàng theo trường phái Sam Clark.

Kennicott nhấn mạnh rằng anh xây nó hoàn toàn vì nàng và đứa bé. Anh nói đến những tủ áo cho váy của nàng, và “một phòng may vá thật tiện nghi”. Nhưng khi dùng một tờ rời từ cuốn sổ cái cũ (anh vốn tiết kiệm giấy và nhặt nhạnh từng đoạn dây) để phác các bản vẽ nhà để xe, anh chăm chú đến nền xi măng, bàn thợ và bồn xăng hơn hẳn phòng may vá.

Nàng ngả người ra sau và thấy sợ.

Trong cái tổ quạ hiện thời có những điều kỳ quặc—một bậc cao từ hành lang lên phòng ăn, nét xinh xắn nơi căn chái và bụi tử đinh hương tàn tạ. Nhưng chỗ mới sẽ nhẵn nhụi, tiêu chuẩn hóa, cố định. Có lẽ, giờ Kennicott đã qua bốn mươi và đã ổn định, đây sẽ là cuộc mạo hiểm xây cất cuối cùng của đời anh. Chừng nào còn ở trong chiếc hòm này, nàng vẫn luôn có một khả năng đổi thay; nhưng một khi đã vào nhà mới, nàng sẽ ngồi đó suốt phần đời còn lại—và chết ở đó. Nàng tuyệt vọng muốn trì hoãn nó, chống đỡ bằng hy vọng có phép màu. Trong khi Kennicott huyên thuyên về một loại cửa lật có bằng sáng chế cho nhà để xe, nàng nhìn thấy những cánh cửa lật của một nhà tù.

Nàng không bao giờ tự mình quay lại dự án ấy. Kennicott phật ý, thôi vẽ bản thiết kế, và mười ngày sau ngôi nhà mới bị quên bẵng.

V

Mỗi năm kể từ khi kết hôn, Carol đều khao khát một chuyến du ngoạn miền Đông. Mỗi năm Kennicott đều nói đến việc dự hội nghị Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, “rồi sau đó mình có thể đi khắp miền Đông cho đã. Anh biết New York tường tận—đã ở đó gần trọn một tuần—nhưng anh muốn xem New England cùng mọi nơi chốn lịch sử ấy, và ăn hải sản.” Anh nói về chuyện ấy từ tháng Hai đến tháng Năm, rồi tháng Năm nào anh cũng quyết rằng các ca sinh sắp tới hoặc những vụ mua bán đất đai sẽ ngăn anh “rời căn cứ quá lâu trong năm NÀY—và cũng chẳng ích gì nếu chưa thể đi cho thật ra trò.”

Sự mỏi mệt vì rửa bát càng làm nàng muốn đi. Nàng hình dung mình ngắm nhà Emerson, tắm trong sóng xanh ngọc bích và ngà voi, mặc áo khoác đi dạo và áo lông mùa hè, gặp một Người Lạ quý phái. Mùa xuân, Kennicott đã đáng thương mà tự đề nghị: “Chắc em muốn có một chuyến đi dài thật hay hè này, nhưng Gould với Mac vắng mặt, mà lắm bệnh nhân trông vào anh quá, chẳng biết làm sao xoay xở được. Trời đất, anh thấy mình đúng là keo kiệt, không đưa em đi.” Suốt tháng Bảy bồn chồn ấy, sau khi đã nếm mùi vị xáo động của du hành và vui chơi từ Bresnahan, nàng muốn đi, nhưng không nói gì. Họ nhắc rồi hoãn chuyến đi đến Hai Thành Phố. Khi nàng đề nghị, như thể đó là một trò đùa ghê gớm, “Em nghĩ hai mẹ con em có thể bỏ anh ở nhà rồi tự chạy đến Cape Cod!”, phản ứng duy nhất của anh là: “Trời, anh không biết chừng em gần như phải làm thế thật, nếu sang năm mình vẫn không đi được chuyến nào.”

Cuối tháng Bảy anh đề nghị: “Này, hội Beavers đang họp ở Joralemon, có cả hội chợ đường phố và mọi thứ. Mai mình có thể xuống đó. Anh cũng muốn gặp bác sĩ Calibree bàn chút việc. Đi trọn ngày. Có thể bù đắp được phần nào cho chuyến du lịch của mình. Bác sĩ Calibree là người tốt.”

Joralemon là một thị trấn thảo nguyên cỡ Gopher Prairie.

Xe hơi của họ hỏng, mà không có chuyến tàu khách nào đi vào giờ sớm. Sau cái công việc trọng đại và lắm lời là gửi Hugh cho dì Bessie, họ đi bằng tàu hàng. Carol phấn khởi vì cuộc rong chơi bất thường này. Đây là điều khác thường đầu tiên, ngoài ánh nhìn của Bresnahan, xảy đến từ sau khi Hugh cai sữa. Họ ngồi toa áp tải, chiếc toa nhỏ màu đỏ có chòi nóc lắc giật ở cuối đoàn tàu. Nó là một căn chòi lang bạt, khoang thuyền của một chiếc thuyền buồm trên đất liền, có ghế bọc vải dầu đen dọc hai bên và, làm bàn viết, một tấm ván thông có thể hạ xuống bằng bản lề. Kennicott chơi seven-up với người soát vé và hai nhân viên hãm tàu. Carol thích khăn lụa xanh quàng cổ họ; nàng thích sự niềm nở họ dành cho nàng, cùng vẻ độc lập thân tình của họ. Vì không có những hành khách đẫm mồ hôi chen chúc bên cạnh, nàng say mê sự chậm chạp của đoàn tàu. Nàng là một phần của những hồ nước và những cánh đồng lúa mì vàng sẫm này. Nàng thích mùi đất nóng và mỡ máy sạch; tiếng chug-a-chug thong thả, chug-a-chug của bánh xe là khúc ca mãn nguyện dưới nắng.

Nàng giả vờ mình đang đi dãy Rockies. Đến Joralemon, nàng rạng rỡ vì không khí nghỉ ngơi.

Niềm háo hức của nàng bắt đầu vơi ngay khi họ dừng ở một ga khung gỗ đỏ giống hệt ga vừa rời tại Gopher Prairie, và Kennicott ngáp: “Đúng giờ ghê. Vừa kịp ăn trưa ở nhà Calibree. Anh gọi cho bác sĩ từ G. P., bảo mình sẽ đến đây. ‘Chúng tôi sẽ bắt chuyến tàu hàng tới trước mười hai giờ,’ anh bảo ông ấy. Ông ấy nói sẽ ra ga đón, rồi đưa mình thẳng về nhà ăn trưa. Calibree là người tốt, và em sẽ thấy vợ ông ấy là một phụ nữ bé nhỏ rất thông minh, lanh lợi lắm. Trời đất, ông ấy kia rồi.”

Bác sĩ Calibree là người đàn ông thấp đậm, cạo râu nhẵn, trông tận tâm, bốn mươi tuổi. Ông giống chiếc ô tô sơn nâu của chính mình một cách lạ lùng, với cặp kính mắt thay kính chắn gió. “Tôi muốn ông gặp vợ tôi, bác sĩ—Carrie, để em làm quen với bác sĩ Calibree,” Kennicott nói. Calibree điềm đạm cúi chào và bắt tay nàng, nhưng chưa bắt xong đã tập trung vào Kennicott: “Mừng được gặp ông, bác sĩ. Này, đừng để tôi quên hỏi ông về cách xử trí ca bướu giáp lồi mắt ấy—người phụ nữ Bohemia ở Wahkeenyan.”

Hai người đàn ông, ngồi ghế trước xe, ngâm nga về bướu giáp và phớt lờ nàng. Nàng không hề biết. Nàng đang cố nuôi ảo tưởng phiêu lưu bằng cách nhìn chằm chằm những căn nhà lạ lẫm... những ngôi nhà nhỏ xám xịt, những bungalow đá nhân tạo, những khối vuông vức sơn phết đần độn, ván ốp sạch bóng, hiên rộng có lưới chắn và những khoảnh cỏ tươm tất.

Calibree giao nàng cho vợ mình, một người đàn bà đẫy đà gọi nàng là “cưng”, hỏi nàng có nóng không rồi, hiển nhiên tìm kiếm chuyện để nói, buột ra: “Để xem nào, cô và bác sĩ có một Bé Con, phải không?” Trong bữa trưa bà Calibree dọn thịt bò muối với bắp cải, trông bà bốc hơi, trông như những lá bắp cải bốc hơi. Hai người đàn ông không để ý đến vợ mình khi họ trao đổi những mật hiệu xã giao của Phố Chính, những ý kiến chính thống về thời tiết, mùa màng và xe hơi; rồi họ vứt bỏ mọi kiềm chế, quay cuồng trong cuộc trụy lạc của chuyện nghề. Vuốt cằm, kéo giọng trong niềm ngây ngất được uyên bác, Kennicott hỏi: “Này, bác sĩ, ông thành công thế nào khi dùng tuyến giáp điều trị đau chân trước lúc sinh?”

Carol không bực vì giả định rằng nàng quá dốt nát để được dự vào những bí mật đàn ông. Nàng đã quen rồi. Nhưng bắp cải và lời đều đều của bà Calibree, “Tôi không biết rồi mọi chuyện sẽ ra sao với cái nỗi khó thuê con gái làm công này”, đang dính buồn ngủ lên mắt nàng. Nàng tìm cách làm mắt tỉnh ra bằng cách hỏi Calibree, với vẻ hoạt bát phô trương: “Bác sĩ, các hội y khoa ở Minnesota đã bao giờ chủ trương luật pháp trợ giúp các bà mẹ cho con bú chưa?”

Calibree từ tốn xoay sang phía nàng. “Ờ—tôi chưa bao giờ—ờ—chưa bao giờ tìm hiểu chuyện đó. Tôi không tin lắm vào việc dính vào chính trị.” Ông quay hẳn khỏi nàng và, chăm chú nhìn Kennicott, tiếp lời: “Bác sĩ, kinh nghiệm của ông về viêm bể thận một bên thế nào? Buckburn ở Baltimore chủ trương bóc bao thận và mở thận, nhưng tôi thấy hình như—”

Mãi quá hai giờ họ mới đứng dậy. Dưới bóng che của bộ ba chín chắn như đá ấy, Carol tiến đến hội chợ đường phố, thứ thêm vui thú trần tục vào nghi lễ thường niên của Hội Beavers Liên hiệp và Huynh đệ. Beavers, những Beaver bằng xương bằng thịt, ở khắp nơi: Beaver cấp ba mươi hai trong những bộ com-lê xám và mũ phớt tươm tất; những Beaver bông đùa hơn trong áo hè vải thô và mũ rơm; những Beaver nhà quê mặc sơ mi tay áo, dây đeo quần sờn; nhưng bất kể phù hiệu giai cấp, Beaver nào cũng nổi bật bởi dải nơ khổng lồ màu tôm, chữ bạc: “Hiệp sĩ và Huynh đệ, U. F. O. B., Đại hội Toàn bang thường niên.” Trên áo cánh kiểu mẹ hiền của mỗi bà vợ là huy hiệu “Phu nhân Hiệp sĩ”. Đoàn Duluth mang đến ban nhạc nghiệp dư Beaver nổi tiếng, mặc đồng phục Zouave gồm áo nhung xanh lục, quần xanh lam và mũ fez đỏ tươi. Điều lạ lùng là, bên dưới niềm kiêu hãnh đỏ tươi ấy, gương mặt các Zouave vẫn là gương mặt những doanh nhân Mỹ, hồng hào, nhẵn nhụi, đeo kính; và khi họ đứng chơi thành vòng tròn ở góc Phố Chính và Phố Hai, thổi líu ríu sáo fife hay phồng má thổi cornet, mắt họ vẫn cú vọ như thể đang ngồi bên bàn giấy dưới tấm biển “Hôm Nay Tôi Bận Rộn”.

Carol từng cho rằng Beavers chỉ là những công dân bình thường tổ chức với mục đích mua bảo hiểm nhân thọ rẻ và chơi bài poker tại phòng hội quán vào mỗi thứ Tư tuần thứ hai, nhưng nàng thấy một tấm áp phích lớn tuyên bố:

BEAVERS U. F. O. B.

Ảnh hưởng lớn lao nhất đối với quyền công dân tốt đẹp trong nước. Tập hợp vui nhộn nhất của những chàng trai máu đỏ, rộng rãi, hăng hái nhất thế giới. Joralemon chào đón quý vị đến thành phố hiếu khách của nàng.

Kennicott đọc áp phích rồi ngưỡng mộ nói với Calibree: “Hội mạnh đấy, Beavers. Tôi chưa từng gia nhập. Không biết chừng tôi sẽ vào.”

Calibree phác ra: “Họ là một nhóm tốt. Hội mạnh, tốt. Thấy gã kia đang đánh trống con không? Người ta bảo ông ta là nhà bán sỉ tạp hóa khôn nhất Duluth. Có lẽ cũng đáng để gia nhập. À này, ông có làm nhiều việc khám bảo hiểm không?”

Họ đi tiếp đến hội chợ đường phố.

Dọc một dãy Phố Chính là các “điểm hấp dẫn”—hai quầy xúc xích, một quầy nước chanh và bỏng ngô, một vòng quay ngựa gỗ, và những gian nơi người ta có thể ném bóng vào búp bê giẻ, nếu người ta muốn ném bóng vào búp bê giẻ. Các đại biểu đứng đắn e dè những gian hàng ấy, nhưng các chàng trai nông thôn cổ đỏ gạch, cà vạt xanh nhạt và giày vàng chói, đã chở người yêu vào thị trấn bằng những chiếc Ford hơi bụi và nghiêng lệch, đang ngấu nghiến bánh mì kẹp, uống nước dâu có ga ngay từ chai, và cưỡi những con ngựa đỏ thẫm, vàng kim quay tròn. Họ ré lên và cười khúc khích; máy rang đậu phộng rít còi; vòng quay nện nhạc đơn điệu; những kẻ rao hàng gào: “Cơ hội đây—cơ hội đây—lại đây nào, chàng trai—lại đây nào—cho cô gái ấy một buổi vui vẻ—cho cô ấy một buổi thật tuyệt—cơ hội trúng một chiếc đồng hồ vàng thứ thiệt chỉ năm xu, nửa đồng mười xu, một phần hai mươi đô-la!” Mặt trời thảo nguyên chọc con phố không bóng râm bằng những tia như gai độc; những mái đua bằng tôn phía trên các cửa hiệu gạch lóa mắt; cơn gió buồn tẻ tung bụi lên những Beaver đẫm mồ hôi, lê bước trong đôi giày mới chật chội, nóng rẫy, đi hết hai dãy phố rồi quay về, hết hai dãy rồi quay về, tự hỏi tiếp theo làm gì, gắng sức để vui chơi.

Đầu Carol đau nhức khi nàng lẽo đẽo theo nhà Calibree không mỉm cười qua dãy gian hàng. Nàng ríu rít với Kennicott: “Mình hoang dã một phen đi! Mình cưỡi vòng quay ngựa gỗ và chộp vòng vàng nhé!”

Kennicott cân nhắc rồi lầm bầm với Calibree: “Ông bà có muốn dừng lại thử đi vòng quay ngựa gỗ không?”

Calibree cân nhắc rồi lầm bầm với vợ: “Em có muốn dừng lại thử đi vòng quay ngựa gỗ không?”

Bà Calibree mỉm cười nhợt nhạt và thở dài: “Ồ không, tôi không nghĩ là mình thích lắm, nhưng các vị cứ đi thử đi.”

Calibree nói với Kennicott: “Không, tôi không nghĩ chúng tôi thích lắm đâu, nhưng các vị cứ đi thử đi.”

Kennicott tóm tắt toàn bộ lý lẽ chống lại sự hoang dã: “Lần khác mình thử nhé, Carrie.”

Nàng từ bỏ. Nàng nhìn thị trấn. Nàng nhận ra rằng trong cuộc phiêu lưu từ Phố Chính, Gopher Prairie, đến Phố Chính, Joralemon, nàng chẳng hề nhúc nhích. Vẫn những cửa hàng tạp hóa gạch hai tầng có biển hiệu hội đoàn trên mái hiên; vẫn hiệu bán mũ gỗ một tầng; vẫn những nhà để xe gạch chịu lửa; vẫn thảo nguyên ở đầu trống của con phố rộng; vẫn những con người tự hỏi liệu sự buông thả khi ăn bánh mì kẹp xúc xích có phá vỡ điều cấm kỵ của họ không.

Chín giờ tối họ về đến Gopher Prairie.

“Trông em hơi nóng đấy,” Kennicott nói.

“Vâng.”

“Joralemon là một thị trấn có chí tiến thủ, em không nghĩ thế sao?” Nàng bùng nổ. “Không! Em nghĩ nó là một đống tro.”

“Kìa, Carrie!”

Anh bận lòng về chuyện ấy suốt một tuần. Trong lúc dùng dao nghiến lên đĩa, hăng hái đuổi theo những mảnh thịt xông khói, anh liếc trộm nàng.