Phố chính — Chương 27

Chương 28 / 40 · Bài review Phố chính

I

Một lá thư của Raymie Wutherspoon, ở Pháp, cho biết anh đã được điều ra mặt trận, bị thương nhẹ, rồi được phong đại úy. Từ niềm tự hào của Vida, Carol cố rút lấy một chất kích thích để lay mình ra khỏi cơn chán nản.

Miles đã bán trại bò sữa. Anh có mấy nghìn đô-la. Anh nói lời từ biệt với Carol bằng giọng lầm bầm, bắt tay thật mạnh: “Tôi đi mua một trang trại ở miền bắc Alberta—xa người ta hết mức có thể.” Anh quay ngoắt đi, nhưng không còn bước với vẻ hăm hở trước kia. Vai anh trông già nua.

Người ta nói trước khi đi anh đã nguyền rủa thị trấn. Có lời bàn chuyện bắt anh, chuyện cho anh cưỡi thanh ray. Có tin đồn rằng tại ga, lão Champ Perry đã quở trách anh: “Tốt hơn hết là đừng có quay lại đây. Chúng tôi kính trọng người chết của anh, nhưng chẳng kính trọng kẻ báng bổ và phản bội, kẻ không chịu làm gì cho đất nước mình mà chỉ mua có một trái phiếu Tự do.”

Một số người có mặt ở ga quả quyết rằng Miles đã đáp lại bằng câu gì đó ghê gớm, đầy tính phản loạn: đại loại rằng anh yêu công nhân Đức hơn bọn chủ ngân hàng Mỹ; nhưng những người khác khẳng định anh không tìm nổi một lời để đáp lại người cựu binh; rằng anh chỉ lẻn lên bậc thềm tàu. Mọi người đều đồng ý hẳn anh phải thấy mình có tội, bởi khi tàu rời thị trấn, một nông dân thấy anh đứng ở khoang chắn gió, nhìn ra ngoài.

Ngôi nhà của anh—cùng phần cơi nới anh xây bốn tháng trước—ở rất gần đoạn đường ray đoàn tàu của anh chạy qua.

Lần cuối Carol đến đó, nàng thấy chiếc xe của Olaf, bánh xe là những ống chỉ đỏ, đứng trong góc đầy nắng cạnh chuồng ngựa. Nàng tự hỏi liệu một con mắt tinh có thể trông thấy nó từ trên tàu không.

Hôm ấy và cả tuần ấy, nàng miễn cưỡng đi làm việc cho Hội Chữ thập đỏ; nàng lặng lẽ khâu vá, đóng gói, trong khi Vida đọc các bản tin chiến sự. Và nàng chẳng nói gì khi Kennicott nhận xét: “Theo lời Champ thì tôi đoán Bjornstam rốt cuộc cũng là một quả trứng thối. Bất chấp Bea, chẳng biết chừng ủy ban công dân nên ép hắn tỏ lòng yêu nước—làm bộ như họ có thể tống hắn vào tù nếu hắn không tình nguyện nhập ngũ và bỏ tiền mua trái phiếu với cho Hội Thanh niên Cơ Đốc. Họ đã dùng ngón ấy rất hiệu quả với đám nông dân Đức này.”

II

Nàng không tìm được nguồn cảm hứng nào, nhưng lại tìm thấy ở bà Westlake một lòng tử tế đáng tin cậy, và cuối cùng nàng đã chiều theo sự đón nhận của bà già, nhẹ nhõm khi vừa nức nở vừa kể chuyện Bea.

Nàng thường gặp Guy Pollock ngoài phố, nhưng chàng chỉ là một giọng nói dễ mến, nói những điều về Charles Lamb và hoàng hôn.

Trải nghiệm rõ rệt nhất của nàng là sự phát hiện ra bà Flickerbaugh, người vợ cao lêu nghêu, gầy nhẳng, giật giật của viên luật sư. Carol gặp bà ở hiệu thuốc.

“Đi bộ à?” bà Flickerbaugh quắc mắt hỏi.

“Vâng, phải.”

“Hừm. Chắc cô là con cái duy nhất trong thị trấn này còn dùng được đôi chân. Về nhà uống với tôi một tách trà.”

Vì chẳng còn gì khác để làm, Carol đi theo. Nhưng nàng không thoải mái trước những cái nhìn thích thú mà y phục của bà Flickerbaugh gợi lên. Hôm nay, trong cái nóng hầm hập đầu tháng Tám, bà đội mũ lưỡi trai đàn ông, quàng một dải lông gầy nhom như con mèo chết, đeo chuỗi ngọc trai giả, mặc áo sa tanh lấm lem, và chiếc váy vải dày được kéo hếch phía trước.

“Vào đi. Ngồi xuống. Đặt em bé vào chiếc ghế bập bênh kia. Mong cô không ngại nhà cửa trông như ổ chuột. Cô không thích thị trấn này. Tôi cũng không,” bà Flickerbaugh nói.

“Sao cơ—?”

“Dĩ nhiên là không rồi!”

“Thế thì, không, tôi không thích! Nhưng tôi tin một ngày nào đó mình sẽ tìm ra giải pháp. Có lẽ tôi là một cái chốt sáu cạnh. Giải pháp: tìm cái lỗ sáu cạnh.” Carol nói rất lanh lẹ.

“Sao cô biết mình sẽ tìm được chứ?”

“Có bà Westlake. Bà vốn là người phụ nữ thành thị—lẽ ra bà phải có một ngôi nhà cổ xinh đẹp ở Philadelphia hay Boston—nhưng bà thoát được nhờ mải mê đọc sách.”

“Cô sẽ bằng lòng chẳng làm gì ngoài đọc sách sao?”

“Không, nhưng trời đất ơi, người ta đâu thể cứ ghét một thị trấn mãi!”

“Sao lại không? Tôi thì được! Tôi ghét nó ba mươi hai năm rồi. Tôi sẽ chết ở đây—và ghét nó cho đến chết. Lẽ ra tôi phải là một phụ nữ làm kinh doanh. Tôi khá có năng khiếu với sổ sách. Giờ mất sạch. Có người tưởng tôi điên. Chắc là điên thật. Ngồi mà càu nhàu. Đi nhà thờ hát thánh ca. Người ta tưởng tôi mộ đạo. Xì! Chỉ cố quên chuyện giặt giũ, ủi đồ, vá tất. Tôi muốn có văn phòng riêng, muốn bán hàng. Julius chưa bao giờ nghe nói tới chuyện đó. Muộn quá rồi.”

Carol ngồi trên chiếc ghế trường kỷ sạn cát, và chìm vào nỗi sợ. Vậy thì sự xám xịt này của đời sống có thể kéo dài mãi sao? Liệu một ngày kia nàng cũng khinh ghét bản thân và hàng xóm đến nỗi sẽ bước trên Phố Chính như một bà già lập dị, gầy nhẳng, khoác bộ lông mèo ghẻ lở? Lết về nhà, nàng cảm thấy cái bẫy rốt cuộc đã khép lại. Nàng bước vào nhà, một phụ nữ bé nhỏ mảnh mai, vẫn duyên dáng nhưng ánh mắt đã tuyệt vọng, loạng choạng dưới sức nặng của cậu bé buồn ngủ trong tay.

Tối ấy nàng ngồi một mình ngoài hiên. Hình như Kennicott phải đến thăm khám cho bà Dave Dyer.

Dưới những cành cây im phăng phắc và lớp voan đen của hoàng hôn, con phố bị giăng lưới trong tĩnh lặng. Chỉ có tiếng lốp xe hơi rì rầm nghiền trên mặt đường, tiếng ghế bập bênh kẽo kẹt ngoài hiên nhà Howland, tiếng bàn tay đập một con muỗi, một cuộc chuyện trò mệt mỏi vì nóng vừa khởi lên đã lịm tắt, nhịp đều đặn của dế, tiếng bướm đêm đập bịch vào lưới chắn—những âm thanh chưng cất thành im lặng. Đó là một con phố ở bên kia tận cùng thế giới, bên kia ranh giới hy vọng. Dẫu nàng có ngồi đây mãi mãi, cũng sẽ chẳng có cuộc diễu hành can trường nào, chẳng có ai đáng thú vị, đi ngang qua. Đó là sự tẻ nhạt hiện thành vật chất, một con phố xây bằng uể oải và vô ích.

Myrtle Cass xuất hiện, đi cùng Cy Bogart. Cô khúc khích cười và nảy người lên khi Cy cù tai cô theo lối yêu đương thôn quê. Họ dạo bước với dáng nửa nhảy múa của những người yêu nhau, lúc đá chân sang ngang, lúc kéo lê chân trong một điệu nhảy lốc cốc, khiến lối đi bê tông vang lên theo nhịp hai-bốn ngắt quãng. Giọng họ xao động mờ tối. Bỗng nhiên, với người đàn bà đang đu đưa trên hiên nhà bác sĩ, đêm sống dậy, và nàng cảm thấy khắp bóng tối đều đang hổn hển một cuộc kiếm tìm nồng nhiệt mà nàng đang bỏ lỡ, trong khi nàng ngả lại để chờ đợi——Hẳn phải có một điều gì đó.