Phố chính — Chương 31

Chương 32 / 40 · Bài review Phố chính

Đêm của họ đến không một điềm báo.

Kennicott đang đi khám bệnh ở nông thôn. Trời mát, nhưng Carol co ro trên hiên, đung đưa ghế, trầm ngâm, lại đung đưa. Ngôi nhà cô quạnh và đáng ghét; và tuy thở dài, “Mình nên vào đọc sách—có bao nhiêu thứ phải đọc—nên vào thôi,” nàng vẫn ngồi đó. Bỗng Erik tới, rẽ vào, đẩy tung cửa lưới, chạm tay nàng.

“Erik!”

“Tôi thấy chồng chị lái xe ra khỏi thị trấn. Không chịu nổi.”

“À——Anh không được ở quá năm phút.”

“Không chịu nổi nếu không được gặp chị. Ngày nào, về chiều, tôi cũng thấy phải gặp chị—hình dung chị rõ mồn một. Nhưng tôi đã ngoan, đã tránh mặt, phải không!”

“Và anh phải tiếp tục ngoan.”

“Tại sao tôi phải thế?”

“Ta không nên ngồi ngoài hiên. Nhà Howland bên kia đường hay rình cửa sổ lắm, mà bà Bogart——”

Nàng không nhìn anh, nhưng có thể cảm thấy vẻ run rẩy của anh khi anh lúng túng bước vào nhà. Mới phút trước, đêm còn lạnh lẽo trống rỗng; giờ đây nó khôn lường, nóng bỏng, phản trắc. Nhưng một khi đã vứt bỏ những bùa chú của cuộc săn chồng trước hôn nhân, phụ nữ mới là những nhà hiện thực điềm tĩnh. Carol bình thản thì thầm: “Anh đói không? Tôi có mấy cái bánh nhỏ màu mật ong. Anh được ăn hai cái, rồi phải về nhà ngay.”

“Đưa tôi lên xem Hugh ngủ nhé.”

“Tôi không nghĩ là——”

“Chỉ liếc một cái thôi!”

“Thì——”

Nàng ngần ngại dẫn đường tới căn phòng cuối hành lang dùng làm nhà trẻ. Đầu họ sát nhau, những lọn tóc xoăn của Erik dễ chịu khi chạm má nàng; họ nhìn đứa bé. Hugh hồng hào trong giấc ngủ. Nó rúc vào gối hăng hái đến nỗi gần như tự làm mình ngạt thở. Bên cạnh là một con tê giác bằng xenlulo; siết chặt trong tay là bức tranh rách vẽ Vua Cole Già.

“Suỵt!” Carol nói, hoàn toàn theo thói quen. Nàng rón rén vào vỗ chiếc gối. Khi trở lại với Erik, nàng có cảm giác thân tình rằng anh đang đợi mình. Họ mỉm cười với nhau. Nàng không nghĩ đến Kennicott, cha đứa bé. Điều nàng nghĩ là một người khá giống Erik, một Erik lớn tuổi hơn và vững vàng hơn, đáng ra phải là cha Hugh. Cả ba sẽ chơi với nhau—những trò chơi tưởng tượng không thể tin nổi.

“Carol! Chị đã kể tôi nghe về phòng riêng của chị. Cho tôi nhìn vào một chút.”

“Nhưng anh không được ở lại, dù chỉ một giây. Ta phải xuống dưới.”

“Vâng.”

“Anh sẽ ngoan chứ?”

“K-khá ngoan!” Anh tái mặt, mắt mở lớn, nghiêm nghị.

“Anh phải ngoan hơn mức khá nhiều!” Nàng thấy mình sáng suốt và cao hơn anh; nàng hăm hở đẩy cửa mở.

Kennicott bao giờ cũng có vẻ lạc chỗ trong căn phòng ấy, nhưng Erik lại hòa hợp đáng ngạc nhiên với tinh thần căn phòng khi anh vuốt những quyển sách, ngắm các bức tranh in. Anh đưa tay ra. Anh tiến về phía nàng. Nàng yếu lòng, bị phản bội bởi một sự mềm mại ấm áp. Đầu nàng ngửa ra sau. Mắt nàng nhắm lại. Ý nghĩ vô hình dạng nhưng rực nhiều sắc màu. Nàng cảm thấy nụ hôn của anh, rụt rè và cung kính, trên mí mắt mình.

Rồi nàng biết rằng điều ấy là không thể.

Nàng giật mình. Nàng bật khỏi vòng tay anh. “Xin anh!” nàng nói gắt.

Anh nhìn nàng, không chịu lùi.

“Tôi quý anh,” nàng nói. “Đừng làm hỏng mọi chuyện. Hãy làm bạn tôi.”

“Đã có hàng nghìn, hàng triệu phụ nữ nói thế biết bao! Và giờ đến chị! Mà điều ấy đâu có làm hỏng mọi chuyện. Nó làm vinh hiển mọi chuyện.”

“Anh yêu, tôi nghĩ trong anh có một tia rất nhỏ của nàng tiên—dù anh có làm gì với nó đi nữa. Có lẽ ngày trước tôi đã yêu điều ấy. Nhưng bây giờ thì không. Muộn quá rồi. Nhưng tôi vẫn sẽ quý anh. Vô tư—tôi sẽ vô tư! Không nhất thiết chỉ là thứ quý mến nhạt nhẽo bằng lời nói. Anh cần tôi, phải không? Chỉ anh và con trai tôi cần tôi. Tôi đã khát khao được người ta cần đến biết bao! Có lúc tôi muốn được trao cho tình yêu. Giờ tôi sẽ bằng lòng nếu mình có thể cho đi. . . . Gần như bằng lòng!”

“Phụ nữ chúng tôi thích làm việc gì đó cho đàn ông. Tội nghiệp đàn ông! Khi các anh không tự vệ, chúng tôi sà xuống, cuống quýt chăm nom, khăng khăng đòi cải tạo các anh. Nhưng điều đó ăn quá sâu trong chúng tôi, đến đáng thương. Anh sẽ là việc duy nhất mà tôi không thất bại. Hãy làm một việc cụ thể! Dù chỉ là bán vải bông. Bán những thứ vải bông đẹp—những đoàn lữ hành từ Trung Hoa——”

“Carol! Thôi đi! Chị yêu tôi!”

“Không hề! Chỉ là——Anh không hiểu được sao? Mọi thứ cứ đè ép lên tôi, tất cả những kẻ nhạt nhẽo há hốc miệng ấy, và tôi tìm một lối thoát——Xin anh đi đi. Tôi không chịu nổi nữa. Xin anh!”

Anh đã đi. Và sự yên tĩnh của ngôi nhà không làm nàng nhẹ nhõm. Nàng trống rỗng, ngôi nhà trống rỗng, và nàng cần anh. Nàng muốn tiếp tục nói chuyện, muốn bàn cho thấu lẽ, muốn dựng xây một tình bạn lành mạnh. Nàng chao đảo xuống phòng khách, nhìn qua cửa sổ lồi. Không thấy anh. Nhưng thấy bà Westlake. Bà ta đang đi ngang qua, và dưới ánh đèn hồ quang ở góc phố, bà ta mau lẹ săm soi hiên nhà, các khung cửa sổ. Carol buông rèm xuống, đứng bất động cả cử chỉ lẫn suy nghĩ. Theo thói quen, không suy tính, nàng lẩm bẩm: “Chẳng bao lâu nữa mình sẽ lại gặp anh ấy và làm anh ấy hiểu rằng chúng mình phải là bạn. Nhưng——Nhà trống quá. Nó vang quá.”

II

Trong bữa tối, hai tối sau đó, Kennicott có vẻ bồn chồn và đãng trí. Anh đi quanh quẩn trong phòng khách, rồi gầm gừ:

“Quỷ quái, em đã nói gì với bà Westlake thế?”

Quyển sách trong tay Carol lật phật. “Anh muốn nói gì?”

“Anh đã bảo em Westlake với vợ lão ghen ghét chúng ta, thế mà em lại đi thân thiết với họ và——Theo Dave kể, bà Westlake đang khắp thị trấn bảo rằng em nói em ghét cô Bessie, rằng em sắp xếp phòng riêng vì anh ngáy, rằng em bảo Bjornstam quá tốt cho Bea, rồi gần đây nhất, rằng em bực thị trấn vì bọn anh không quỳ cả xuống van xin gã Valborg này đến ăn tối với mình. Chỉ Chúa mới biết bà ta còn bảo em nói những gì nữa.”

“Không điều nào đúng cả! Em từng thích bà Westlake, có đến thăm bà ấy, và hình như bà ấy đã đi bóp méo mọi điều em nói——”

“Dĩ nhiên. Bà ta hẳn làm thế. Chẳng phải anh đã bảo em rồi sao? Mụ ấy là con mèo già, hệt như ông chồng lén lút bắt tay của mụ. Lạy Chúa, nếu anh ốm, anh thà mời thầy chữa bệnh bằng đức tin còn hơn Westlake, còn mụ kia cũng cùng một miếng thịt xông khói ấy cắt ra. Nhưng điều anh không hiểu là——”

Nàng căng thẳng chờ.

“——làm sao em lại để mụ moi lời, một cô gái sáng dạ như em. Anh chẳng bận tâm em đã kể gì với mụ—ai chẳng có lúc bực bội muốn xả hơi, đó là tự nhiên—nhưng nếu em muốn giữ kín, sao không đăng quảng cáo trong Dauntless, hoặc cầm loa đứng trên nóc khách sạn mà gào, hay làm bất cứ gì ngoài chuyện đổ hết vào tai mụ!”

“Em biết. Anh đã bảo em rồi. Nhưng bà ấy trông thật có vẻ người mẹ. Và em không có một người đàn bà nào để tâm sự——Vida thì đã trở nên quá mực vợ chồng và chiếm hữu.”

“Ừ, lần sau em sẽ biết điều hơn.”

Anh vỗ đầu nàng, phịch xuống sau tờ báo, không nói thêm gì.

Kẻ thù nhăn nhở qua các ô cửa, lẻn đến với nàng từ hành lang. Nàng chẳng có ai ngoài Erik. Người đàn ông tốt bụng Kennicott này—anh là một người anh cả. Erik, người cùng bị ruồng bỏ với nàng, mới là người nàng muốn chạy đến nương náu. Giữa cơn bão lòng, bề ngoài nàng vẫn ngồi yên, ngón tay kẹp giữa những trang sách xanh da trời nhạt về việc may vá quần áo trẻ em tại nhà. Nhưng nỗi bàng hoàng trước sự phản bội của bà Westlake đã tăng thành một nỗi sợ hãi chủ động. Người đàn bà ấy đã nói gì về nàng và Erik? Bà ta biết gì? Bà ta đã thấy gì? Ai khác sẽ nhập vào cuộc săn đuổi sủa vang ấy? Ai khác đã thấy nàng với Erik? Nàng phải sợ gì ở nhà Dyer, Cy Bogart, Juanita, cô Bessie? Chính xác nàng đã trả lời thế nào những câu hỏi dò của bà Bogart?

Suốt ngày hôm sau nàng bồn chồn đến không thể ở nhà, nhưng khi đi dọc các phố với những việc vặt bịa ra, nàng lại sợ mọi người mình gặp. Nàng chờ họ lên tiếng; chờ trong điềm gở. Nàng nhắc đi nhắc lại: “Mình không được gặp Erik nữa.” Nhưng những lời ấy không thấm vào đầu. Nàng không hề đắm chìm ngây ngất trong cảm giác tội lỗi, cái cảm giác vốn là lối thoát chắc chắn nhất khỏi sự buồn tẻ trống rỗng đối với phụ nữ Phố Chính.

Lúc năm giờ, người co quắp trên ghế trong phòng khách, nàng giật bắn vì tiếng chuông. Có người mở cửa. Nàng lo âu chờ đợi. Vida Sherwin xông vào phòng. “Đây là người duy nhất mình có thể tin cậy!” Carol mừng rỡ.

Vida nghiêm nghị mà trìu mến. Nàng cuống quýt đến bên Carol: “Ôi, em đây rồi, cưng, mừng quá vì thấy em ở nhà, ngồi xuống đi, chị muốn nói chuyện với em.”

Carol ngoan ngoãn ngồi xuống.

Vida sốt sắng kéo một chiếc ghế lớn lại rồi bắt đầu:

“Chị nghe những lời đồn mơ hồ rằng em để ý Erik Valborg này. Chị biết em không thể có lỗi, và giờ chị càng chắc hơn bao giờ hết. Cứ nhìn chúng ta đây, tươi như hoa cúc!”

“Một bà nội trợ đứng đắn sẽ trông thế nào khi thấy mình có tội?”

Giọng Carol bực bội.

“Thì——Ôi, sẽ lộ ra chứ! Với lại! Chị biết em, hơn bất cứ ai, là người có thể biết trân trọng bác sĩ Will.”

“Chị đã nghe gì?”

“Thực ra chẳng có gì. Chị chỉ nghe bà Bogart nói bà ấy thấy em và Valborg đi dạo với nhau nhiều.” Giọng líu ríu của Vida chùng xuống. Nàng nhìn móng tay. “Nhưng——chị ngờ rằng em có thích Valborg. Ồ, chị không nói là theo cách sai trái nào. Nhưng em còn trẻ; em không biết một sự quý mến vô tội có thể trôi dạt đến đâu. Em lúc nào cũng ra vẻ từng trải các thứ, nhưng em là một đứa trẻ. Chính vì quá trong trắng nên em không biết trong óc gã ấy có thể ẩn những ý nghĩ xấu xa nào.”

“Chị không cho rằng Valborg thực sự có thể nghĩ đến chuyện tán tỉnh em chứ?”

Trò đùa hơi rẻ tiền của nàng chấm dứt đột ngột khi Vida méo mặt kêu lên: “Em biết gì về những ý nghĩ trong lòng người? Em chỉ chơi trò cải tạo thế giới. Em không biết đau khổ nghĩa là gì.”

Có hai sự xúc phạm không ai chịu nổi: khẳng định rằng người ta không có óc hài hước, và lời khẳng định láo xược gấp đôi rằng người ta chưa từng biết khổ đau. Carol giận dữ nói: “Chị nghĩ em không đau khổ ư? Chị nghĩ đời em luôn dễ dàng——?”

“Không, em không đâu. Chị sắp kể em nghe điều chị chưa hề nói với một linh hồn nào, ngay cả Ray.” Con đập của trí tưởng tượng bị dồn nén mà Vida đã đắp suốt bao năm, nay khi Raymie ra chiến trường nàng lại đang đắp lên, đã vỡ.

“Chị đã—chị rất thích Will. Một lần ở một buổi tiệc—ồ, dĩ nhiên là trước khi anh ấy gặp em—chúng chị nắm tay nhau, hạnh phúc biết bao. Nhưng chị không thấy mình thực sự hợp với anh ấy. Chị đã để anh ấy đi. Xin em đừng nghĩ chị vẫn yêu anh ấy! Giờ chị thấy Ray đã được định sẵn làm bạn đời của chị. Nhưng vì chị từng thích anh ấy, chị biết Will chân thành, trong sạch và cao quý đến mức nào, những ý nghĩ của anh ấy không bao giờ chệch khỏi con đường ngay thẳng, và——Nếu chị đã nhường anh ấy cho em, ít nhất em cũng phải biết trân trọng anh ấy! Chúng chị đã cùng nhảy múa và cười đùa biết bao, rồi chị đã nhường anh ấy, nhưng——ĐÂY LÀ việc của chị! Chị KHÔNG xen vào! Chị thấy toàn bộ sự việc như anh ấy thấy, bởi tất cả những gì chị đã kể với em. Có lẽ phơi lòng mình ra thế này là không biết xấu hổ, nhưng chị làm vì anh ấy—vì anh ấy và em!”

Carol hiểu Vida tin rằng mình vừa thuật lại tỉ mỉ, táo bạo một câu chuyện tình thân mật; hiểu rằng trong hoảng hốt, Vida cố che đậy nỗi hổ thẹn khi gắng gượng nói tiếp: “Thích anh ấy theo cách danh dự nhất—chị hoàn toàn không thể không nhìn sự việc qua mắt anh ấy——Nếu chị đã nhường anh ấy, thì nhất định chị không vượt quá quyền của mình khi đòi em cẩn thận tránh cả vẻ ngoài của điều ác và——” Nàng đang khóc; một người đàn bà tầm thường, mặt đỏ bừng, khóc một cách vụng về.

Carol không thể chịu đựng nổi. Nàng chạy đến Vida, hôn trán nàng, vỗ về bằng những âm thanh thủ thỉ như chim bồ câu, cố trấn an nàng bằng những món quà ngôn từ cũ mòn, vội vã chắp vá: “Ôi, em biết ơn lắm,” và “Chị thật tốt đẹp, thật tuyệt vời,” và “Em xin cam đoan những điều chị nghe chẳng có gì cả,” và “Ôi, quả thật em biết Will chân thành đến mức nào, và như chị nói đấy, chân thành—chân thành lắm.”

Vida tin rằng mình đã giải thích bao điều sâu kín và quanh co. Nàng thoát cơn cuồng loạn như chim sẻ rũ những hạt mưa. Nàng ngồi thẳng dậy, lợi dụng chiến thắng của mình:

“Chị không muốn khoét sâu thêm, nhưng giờ em có thể tự thấy, mọi chuyện đều do em quá bất mãn và không biết trân trọng những người tốt lành thân yêu ở đây. Còn một điều nữa: những người như em với chị, những người muốn cải tạo mọi thứ, phải đặc biệt cẩn thận về bề ngoài. Nghĩ xem em có thể phê phán các tục lệ quy ước hiệu quả hơn biết bao nếu chính em tuân theo chúng thật tỉ mỉ. Khi ấy người ta không thể nói em công kích họ để bào chữa cho những vi phạm của chính mình.”

Carol bỗng có một sự thấu hiểu triết học lớn lao, một lời giải thích cho nửa số cuộc cải cách thận trọng trong lịch sử. “Ừ. Em từng nghe lời biện hộ ấy. Nó khá hay. Nó gạt các cuộc nổi dậy sang một bên cho nguội. Nó giữ những con lạc đàn trong bầy. Nói cách khác: ‘Nếu bạn tin vào bộ quy tắc phổ biến, bạn phải tuân theo nó; nhưng nếu không tin, thì bạn CÀNG PHẢI tuân theo nó!’”

“Chị không nghĩ thế chút nào,” Vida mơ hồ nói. Nàng bắt đầu tỏ vẻ tổn thương, và Carol để nàng được phán truyền.

III

Vida đã làm cho nàng một việc tốt; đã khiến mọi cơn dằn vặt trở nên ngớ ngẩn đến mức nàng thôi quằn quại và nhận ra toàn bộ vấn đề của mình giản dị như thịt cừu: nàng quan tâm đến khát vọng của Erik; sự quan tâm ấy cho nàng một mối mến thương dè dặt với chàng; còn tương lai sẽ tự lo liệu kết cục. . . . Nhưng ban đêm, nằm nghĩ trên giường, nàng phản đối: “Dù vậy, mình đâu phải một kẻ vô tội bị vu cáo! Nếu đó là một người cương quyết hơn Erik, một chiến sĩ, một nghệ sĩ với đôi môi cau có rậm râu----Họ chỉ có trong sách. Có phải bi kịch thật sự là ở chỗ mình sẽ chẳng bao giờ biết đến bi kịch, chẳng bao giờ gặp gì ngoài những rắc rối ầm ĩ mà rốt cuộc hóa ra trò hề?”

“Chẳng có ai đủ lớn lao hay đủ đáng thương để mình hy sinh vì họ. Bi kịch trong những chiếc áo cánh tươm tất; ngọn lửa vĩnh cửu, xinh xắn và an toàn, trong một bếp dầu hỏa. Không có niềm tin anh hùng, cũng không có tội lỗi anh hùng. Rình ngó tình yêu từ sau rèm ren--ở Phố Chính!”

Hôm sau, dì Bessie lẻn vào, cố moi chuyện từ nàng, rồi cố mồi cho cái máy bơm bằng cách lại gợi rằng Kennicott hẳn cũng có những chuyện riêng của mình. Carol gắt: “Dù tôi có làm gì đi nữa, dì cũng phải hiểu rằng Will là người an toàn quá mức!” Sau đó nàng ước gì mình đã không kiêu căng đến thế. Dì Bessie sẽ diễn giải câu “Dù tôi có làm gì đi nữa” đến mức nào?

Khi Kennicott về nhà, chàng sờ mó hết thứ này đến thứ khác, hắng giọng, rồi nói ra: “Chiều nay anh gặp dì. Dì bảo em chẳng lịch sự gì với dì cả.”

Carol cười. Chàng nhìn nàng bối rối, rồi chạy trốn vào tờ báo.

IV

Nàng nằm thao thức. Lúc thì nàng tính cách bỏ Kennicott, lúc lại nhớ đến những đức tính của chàng, thương cái bối rối của chàng trước những căn bệnh âm thầm gặm nhấm mà chàng không thể cho thuốc hay cắt bỏ. Có lẽ chàng cần nàng hơn Erik, kẻ được sách vở an ủi, cần nàng chăng? Giả như Will chết đột ngột. Giả như nàng không bao giờ còn gặp chàng vào bữa sáng, im lặng mà dễ mến, nghe nàng líu lo. Giả như chàng không bao giờ còn làm voi cho Hugh cưỡi. Giả như----Một cuộc gọi khám bệnh ở miền quê, con đường trơn trượt, xe hơi chàng lạng đi, mép đường sụt lở, xe lật nhào, Will bị ghim dưới thân xe, đau đớn, được đưa về nhà với thân thể tàn tật, nhìn nàng bằng đôi mắt chó spaniel--hoặc chờ nàng, gọi nàng, trong khi nàng ở Chicago, chẳng hay biết gì. Giả như một người đàn bà độc địa, gào thét kiện chàng vì sơ suất nghề nghiệp. Chàng cố tìm nhân chứng; Westlake tung lời dối trá; bạn bè nghi ngờ chàng; lòng tự tin của chàng tan vỡ đến nỗi thật ghê gớm khi thấy người vốn quyết đoán ấy do dự; chàng bị kết án, bị còng tay, bị đưa lên tàu----

Nàng chạy sang phòng chàng. Cú đẩy cuống quýt của nàng khiến cánh cửa bật mạnh vào trong, va phải một chiếc ghế. Chàng tỉnh dậy, hổn hển, rồi bằng giọng vững vàng: “Có chuyện gì vậy, em yêu? Có gì không ổn sao?” Nàng lao đến bên chàng, luống cuống lần tìm gò má thô ráp, lởm chởm quen thuộc. Nàng biết nó biết bao--từng nếp nhăn, độ rắn của xương, lớp mỡ cuộn! Nhưng khi chàng thở dài: “Cuộc thăm viếng này thật dễ chịu,” và đặt tay lên vai nàng, chỉ phủ một lớp vải mỏng, nàng nói quá vui vẻ: “Em tưởng nghe anh rên. Em ngớ ngẩn quá. Ngủ ngon nhé, anh yêu.”

V

Suốt hai tuần, nàng không gặp Erik, trừ một lần ở nhà thờ và một lần đến tiệm may để bàn về kế hoạch, những tình huống dự liệu và chiến lược của chiến dịch hằng năm Kennicott tiến hành nhằm kiếm một bộ đồ mới. Nat Hicks có ở đó, và hắn không còn cung kính như trước. Với vẻ tươi tỉnh không cần thiết, hắn khúc khích: “Mấy mẫu vải flannel này đẹp đấy chứ, hở?” Hắn vô cớ chạm vào tay nàng để gọi nàng chú ý đến những tấm hình thời trang, rồi hài hước liếc từ nàng sang Erik. Về nhà, nàng tự hỏi phải chăng con thú nhỏ ấy đang ngầm tự đề cử mình làm tình địch của Erik, nhưng mức độ nhếch nhác thẳm sâu đó thì nàng không chịu xét đến.

Nàng thấy Juanita Haydock chậm rãi đi ngang qua nhà--như bà Westlake đã từng đi ngang qua.

Nàng gặp bà Westlake trong cửa hàng của cậu Whittier, và trước cái nhìn tỉnh táo ấy, nàng quên mất quyết tâm sẽ tỏ ra thô lỗ, bèn thân tình một cách run rẩy.

Nàng chắc rằng mọi đàn ông ngoài phố, cả Guy Pollock lẫn Sam Clark, đều nhìn nàng bằng vẻ hứng thú đầy hy vọng, như thể nàng là một người đàn bà ly dị tai tiếng. Nàng thấy mình bất an như một tên tội phạm lẩn trong bóng tối. Nàng muốn gặp Erik, và lại ước mình chưa từng gặp chàng. Nàng tưởng Kennicott là người duy nhất trong thị trấn không biết hết mọi chuyện--biết nhiều hơn hẳn những gì có thể biết--về nàng và Erik. Nàng co rúm trong ghế, hình dung bọn đàn ông bàn tán về nàng, giọng đặc quánh, tục tĩu, trong các hiệu cắt tóc và phòng bi-a hôi mùi thuốc lá.

Suốt đầu mùa thu, Fern Mullins là người duy nhất phá vỡ sự căng thẳng chờ đợi ấy. Cô giáo hời hợt đã bắt đầu coi Carol như người cùng tuổi trẻ với mình, và tuy trường đã khai giảng, ngày nào cô cũng xộc vào đề nghị những cuộc khiêu vũ, những buổi tiệc welsh rabbit.

Fern nài nàng làm người giám hộ cho một buổi khiêu vũ ở kho thóc ngoài miền quê, vào tối thứ Bảy. Carol không thể đi. Hôm sau, cơn bão ập xuống.