Phố chính — Chương 3

Chương 4 / 40 · Bài review Phố chính

DƯỚI những tầng mây cuồn cuộn trên thảo nguyên, một khối thép chuyển động. Tiếng lanh canh và lạch xạch cáu kỉnh dưới một tràng gầm kéo dài. Hương cam sắc ngọt xuyên qua mùi ẩm nồng của những thân người chưa tắm và hành lý lâu năm.

Những thị trấn không quy hoạch, như một nhúm hộp bìa vung vãi trên sàn gác mái. Dải gốc rạ vàng úa trải dài, chỉ bị ngắt quãng bởi những cụm liễu quây quanh nhà trắng và kho thóc đỏ.

Chuyến số 7, chuyến tàu dừng mọi ga, càu nhàu xuyên qua Minnesota, âm thầm leo lên miền cao nguyên khổng lồ dốc dần suốt một nghìn dặm, từ những vùng trũng nóng nực ven Mississippi tới dãy Rockies.

Đang tháng Chín, trời nóng, bụi mù.

Không có toa Pullman đường bệ nào móc vào đoàn tàu, và những toa hành khách như ở miền Đông được thay bằng toa ghế bành không phụ thu, mỗi băng ghế chia thành hai chiếc ghế bọc nhung có thể điều chỉnh, chỗ tựa đầu phủ những tấm khăn vải lanh trông khả nghi. Giữa toa có một bức ngăn lửng bằng những cột gỗ sồi chạm trổ, nhưng lối đi chỉ là ván trần đầy dằm, cáu dầu đến đen sì. Không có nhân viên phục vụ, không gối, không phương tiện giường nằm, vậy mà suốt hôm nay và suốt đêm nay họ sẽ đi trong chiếc hộp thép dài này—những nông dân cùng các bà vợ lúc nào cũng mệt mỏi và lũ trẻ dường như đều cùng một tuổi; thợ thuyền đi nhận việc mới; những người chào hàng đội mũ quả dưa, giày vừa đánh bóng.

Họ khô khát và co quắp, những đường chỉ tay đầy cáu bẩn; họ ngủ cuộn mình trong những tư thế méo mó, đầu tì vào kính cửa sổ hoặc kê trên áo khoác cuộn lại đặt trên tay ghế, chân duỗi ra lối đi. Họ không đọc; hình như họ cũng không nghĩ. Họ chờ. Một bà mẹ còn trẻ mà đã già, sớm hằn nếp nhăn, cử động như thể các khớp xương đã khô dầu, mở chiếc va-li để lộ mấy chiếc áo cánh nhàu nếp, một đôi dép thủng đầu ngón, một chai thuốc gia truyền, một ca thiếc, một cuốn sách bìa giấy nói về những giấc mơ mà gã bán hàng rong trên tàu đã dỗ bà mua. Bà lấy ra một chiếc bánh quy bột mì nguyên cám, đút cho đứa bé nằm duỗi trên ghế, đang khóc gào tuyệt vọng. Phần lớn vụn bánh rơi xuống lớp nhung đỏ của ghế; người đàn bà thở dài, cố phủi đi, nhưng chúng tinh quái nảy lên rồi lại rơi xuống lớp nhung.

Một người đàn ông và một người đàn bà nhếch nhác nhai bánh mì kẹp, ném vỏ bánh xuống sàn. Một người Na Uy to lớn, da đỏ như gạch, cởi giày, khoan khoái khịt một tiếng rồi gác đôi chân mang tất xám dày lên ghế phía trước.

Một bà già có cái miệng móm khép lại như miệng rùa bùn, mái tóc không hẳn trắng mà vàng như vải lanh mốc, giữa các lọn tóc lộ ra từng dải da đầu hồng, lo lắng nhấc túi lên, mở ra, nhìn vào, đóng lại, đặt xuống gầm ghế, rồi hấp tấp nhặt lên, mở ra và cất đi, làm lại từ đầu. Chiếc túi đầy những báu vật và kỷ niệm: một chiếc khóa da, một tờ chương trình hòa nhạc ban kèn đã cũ, những mẩu ruy-băng, đăng-ten, sa-tanh. Trên lối đi cạnh bà là một con vẹt đuôi dài nhốt trong lồng, hết sức phẫn nộ.

Hai băng ghế đối diện, chật tràn gia đình một thợ mỏ sắt người Slovene, ngổn ngang giày dép, búp bê, chai whisky, những gói bọc báo và một túi đồ khâu. Đứa con trai lớn nhất lấy từ túi áo ra một chiếc kèn harmonica, phủi vụn thuốc lá rồi thổi bài “Marching through Georgia” cho tới khi mọi cái đầu trong toa đều bắt đầu nhức nhối.

Gã bán hàng rong trên tàu đi dọc toa, rao những thanh sô-cô-la và kẹo chanh. Một bé gái không ngừng lon ton xuống bình nước rồi trở lại chỗ ngồi. Chiếc bao giấy cứng con bé dùng làm cốc nhỏ nước xuống lối đi mỗi khi nó bước, và lần nào nó cũng vấp phải chân một người thợ mộc, khiến ông ta càu nhàu: “Ối! Coi chừng chứ!”

Những cánh cửa đóng bụi dày mở toang; từ toa hút thuốc, một vệt khói thuốc xanh cay xè trông thấy được lững lờ trôi lại, cùng tiếng cười ran trước câu chuyện mà chàng trai mặc bộ đồ xanh lam chói, thắt cà vạt tím oải hương, đi giày vàng nhạt vừa kể cho người đàn ông lùn mập mặc bộ áo liền quần của thợ sửa xe.

Mùi trong toa mỗi lúc một đặc quánh, tù đọng hơn.

II

Đối với mỗi hành khách, chỗ ngồi là căn nhà tạm thời của mình, mà phần đông hành khách đều là những chủ nhà luộm thuộm. Nhưng có một chỗ trông sạch sẽ và mát mẻ một cách đánh lừa. Ngồi đó là một người đàn ông rõ vẻ sung túc và một cô gái tóc đen, da mịn, đôi giày thấp của cô đặt trên chiếc túi da ngựa không một vết bẩn.

Họ là bác sĩ Will Kennicott và cô dâu của anh, Carol.

Họ cưới nhau sau một năm tán tỉnh bằng chuyện trò, và giờ đang trên đường tới Gopher Prairie sau tuần trăng mật trên những ngọn núi Colorado.

Đám đông trên chuyến tàu dừng mọi ga không hoàn toàn xa lạ với Carol. Cô từng thấy họ trong những chuyến đi từ St. Paul tới Chicago. Nhưng giờ đây, khi họ đã thành người dân của chính cô, để cô tắm rửa, khích lệ và tô điểm, cô quan tâm đến họ một cách gay gắt và khó chịu. Họ làm cô khổ tâm. Họ sao mà trì độn. Cô vẫn luôn quả quyết rằng nước Mỹ không có giai cấp nông dân, và lúc này cô cố bảo vệ niềm tin ấy bằng cách tìm thấy trí tưởng tượng cùng tinh thần tháo vát ở những nông dân Thụy Điển trẻ tuổi và ở một người chào hàng đang cặm cụi với các phiếu đặt hàng. Nhưng những người đứng tuổi, dân Yankee cũng như người Na Uy, Đức, Phần Lan, Canada, đều đã yên phận quy phục cảnh nghèo. Họ là nông dân quê mùa—cô rên thầm.

“Không có cách nào đánh thức họ dậy sao? Nếu họ hiểu được nông nghiệp khoa học thì chuyện gì sẽ xảy ra?” cô khẩn khoản hỏi Kennicott, bàn tay dò tìm tay anh.

Đó là một tuần trăng mật làm cô đổi khác. Cô đã hoảng sợ khi phát hiện trong mình có thể dấy lên một cảm xúc cuồng loạn đến thế. Will đã thật oai vệ—vạm vỡ, vui tính, tỏ ra thành thạo đáng nể trong việc dựng trại, dịu dàng và thấu hiểu suốt những giờ họ nằm bên nhau trong căn lều cắm giữa rừng thông, cao trên một nhánh núi cô quạnh.

Bàn tay anh nuốt gọn tay cô khi anh giật mình thoát khỏi những ý nghĩ về phòng khám mà mình sắp trở về. “Những người này à? Đánh thức họ? Để làm gì? Họ sung sướng mà.”

“Nhưng họ tỉnh lẻ quá. Không, em không định nói thế. Họ—ôi, họ lún sâu trong bùn quá.”

“Nghe này, Carrie. Em phải bỏ cái quan niệm thành thị rằng hễ quần một người không là phẳng thì người ấy là đồ ngốc. Những nông dân này tinh lắm, lại còn đầy chí tiến thủ.”

“Em biết! Chính điều ấy mới đau lòng. Cuộc sống đối với họ sao mà nhọc nhằn—những nông trại cô quạnh này, chuyến tàu đầy cát bụi này.”

“Ồ, họ chẳng phiền đâu. Với lại, mọi sự đang thay đổi. Xe hơi, điện thoại, dịch vụ phát thư miễn phí ở nông thôn; những thứ ấy đang giúp nông dân liên hệ gần gũi hơn với thị trấn. Em biết đấy, muốn thay đổi một miền hoang dã như nơi này năm mươi năm trước thì phải có thời gian. Nhưng giờ đây rồi—họ có thể nhảy lên chiếc Ford hay Overland, vào thị trấn xem chiếu bóng tối thứ Bảy còn nhanh hơn em đi xe điện tới rạp ở St. Paul.”

“Nhưng nếu chính những thị trấn ta vừa đi qua là nơi nông dân chạy tới để thoát khỏi cuộc sống ảm đạm của họ——Anh không hiểu sao? Cứ NHÌN chúng đi!”

Kennicott kinh ngạc. Từ thuở nhỏ, anh đã nhìn thấy những thị trấn này trên tàu chạy dọc chính tuyến đường này. Anh càu nhàu: “Ơ, chúng có gì không ổn? Toàn những thị trấn làm ăn nhộn nhịp. Nếu biết mỗi năm họ chở đi bao nhiêu lúa mì, lúa mạch đen, ngô với khoai tây, em sẽ phải sửng sốt đấy.”

“Nhưng chúng xấu xí quá.”

“Anh công nhận chúng không dễ chịu như Gopher Prairie. Nhưng cứ cho chúng thời gian.”

“Cho chúng thời gian thì có ích gì, nếu không ai có đủ khát vọng và kiến thức để quy hoạch chúng? Hàng trăm nhà máy cố chế tạo những chiếc xe hơi đẹp mắt, còn những thị trấn này—bị phó mặc cho may rủi. Không! Không thể nào. Hẳn phải cần đến thiên tài mới làm cho chúng còm cõi đến thế!”

“Ồ, chúng cũng đâu tệ đến vậy,” anh chỉ đáp thế. Anh giả vờ bàn tay mình là mèo còn tay cô là chuột. Lần đầu tiên cô chỉ chịu đựng chứ không hưởng ứng trò đùa của anh. Cô đang nhìn ra Schoenstrom, một thôn xóm có lẽ chừng một trăm năm mươi dân, nơi đoàn tàu đang dừng lại.

Một người Đức để râu cùng bà vợ miệng chúm chím lôi chiếc túi giả da khổng lồ từ gầm ghế ra rồi lạch bạch xuống tàu. Nhân viên nhà ga nhấc một con bê chết lên toa hành lý. Ở Schoenstrom không thấy hoạt động nào khác. Trong sự tĩnh lặng lúc tàu dừng, Carol nghe được tiếng ngựa đá vào vách chuồng, tiếng một người thợ mộc lợp ván mái nhà.

Khu buôn bán của Schoenstrom chiếm một bên của một dãy phố, đối diện đường sắt. Đó là một hàng cửa hiệu một tầng, lợp tôn mạ kẽm hoặc ghép ván ngang sơn đỏ và vàng bệnh hoạn. Những tòa nhà chẳng ăn nhập với nhau, trông tạm bợ chẳng khác gì một con phố trong trại khai mỏ trên màn ảnh. Nhà ga là một chiếc hộp khung gỗ chỉ có một phòng, một bên là chuồng gia súc lầy lội, bên kia là kho chứa lúa mì đỏ thắm. Với tháp nhỏ nằm trên sống mái lợp ván, kho lúa giống một người đàn ông vai rộng có cái đầu nhỏ, nhọn và hiểm ác. Những công trình duy nhất trông có thể ở được là nhà thờ Công giáo bằng gạch đỏ lòe loẹt và nhà xứ ở cuối Phố Chính.

Carol khẽ giật tay áo Kennicott. “Anh sẽ không gọi đây là một thị trấn ‘cũng không đến nỗi tệ’, phải không?”

“Mấy thị trấn của bọn Hà Lan này quả là hơi trì trệ. Nhưng dù sao——Thấy người kia từ cửa hàng bách hóa bước ra, đang lên chiếc xe lớn không? Anh từng gặp ông ta một lần. Ngoài cửa hàng ấy, ông ta còn sở hữu khoảng nửa thị trấn. Tên là Rauskukle. Ông ta nắm rất nhiều giấy thế chấp, lại đầu cơ đất nông nghiệp. Lão ấy có cái đầu làm ăn cừ lắm. Người ta bảo lão đáng giá tới ba, bốn trăm nghìn đô-la đấy! Có một ngôi nhà gạch vàng to đùng, đẹp hết ý, lối đi lát gạch, vườn tược đủ cả, ở đầu kia thị trấn—từ đây không thấy được—anh đã đi ngang qua khi lái xe qua vùng này. Đúng thế đấy!”

“Vậy thì, nếu ông ta có ngần ấy của cải, nơi này hoàn toàn không còn gì để biện hộ! Nếu ba trăm nghìn đô-la của ông ta được đổ trở lại thị trấn, nơi chúng vốn thuộc về, họ có thể thiêu rụi những căn lều xiêu vẹo này rồi xây nên một ngôi làng trong mơ, một viên ngọc! Tại sao nông dân và dân thị trấn lại để cho vị Nam tước ấy giữ khư khư tất cả?”

“Phải nói thật là đôi khi anh chẳng hiểu nổi em, Carrie. Để cho lão à? Họ có làm gì được đâu! Lão là một gã Hà Lan già ngốc nghếch, mà có lẽ cha xứ muốn xoay lão thế nào cũng được, nhưng hễ nói đến chuyện chọn đất canh tác tốt thì lão đúng là một tay phù thủy!”

“Em hiểu rồi. Ông ta là biểu tượng cái đẹp của họ. Thị trấn dựng ông ta lên thay vì dựng những tòa nhà.”

“Thật tình, anh chẳng biết em đang muốn nói gì. Sau chuyến đi dài này, em hơi kiệt sức rồi. Về tới nhà, tắm một bữa cho đã rồi khoác chiếc áo ngủ màu xanh vào, em sẽ thấy dễ chịu hơn. Bộ ấy mới đúng là trang phục của nữ quỷ hút máu, cô phù thủy của anh!”

Anh bóp nhẹ cánh tay cô, nhìn cô đầy ngụ ý.

Họ rời khỏi sự tĩnh lặng hoang mạc của ga Schoenstrom. Đoàn tàu kẽo kẹt, va đập, lắc lư. Không khí đặc quánh đến buồn nôn. Kennicott xoay mặt cô khỏi cửa sổ, đặt đầu cô lên vai mình. Cô được dỗ ra khỏi tâm trạng u uất. Nhưng cô miễn cưỡng thoát khỏi nó; và khi Kennicott đã hài lòng rằng mình sửa sang xong mọi nỗi lo của cô rồi mở một tạp chí đăng những truyện trinh thám vàng khè, cô ngồi thẳng dậy.

Đây—cô trầm ngâm—là đế quốc mới nhất của thế giới; miền Trung Tây Bắc; một xứ sở của đàn bò sữa và những hồ nước tuyệt mỹ, của xe hơi mới và lều lán lợp giấy dầu, của những tháp ủ thức ăn gia súc đỏ như vọng lâu, của lời ăn tiếng nói vụng về và niềm hy vọng vô bờ. Một đế quốc nuôi sống một phần tư thế giới—thế mà công cuộc của nó chỉ mới bắt đầu. Họ là những người khai phá, những lữ khách đẫm mồ hôi này, mặc cho họ đã có điện thoại, tài khoản ngân hàng, đàn piano tự động và các liên đoàn hợp tác. Và dù phì nhiêu giàu có đến thế, xứ sở của họ vẫn là đất khai hoang. Tương lai của nó sẽ ra sao? cô tự hỏi. Một tương lai của thành phố và bụi than nhà máy, nơi bây giờ những cánh đồng trống không còn chạy dài nhấp nhô? Nhà cửa cho mọi người, vững vàng và yên ổn? Hay những lâu đài êm đềm vây quanh bởi những túp lều hờn giận? Tuổi trẻ được tự do tìm kiếm tri thức và tiếng cười? Sẵn lòng sàng lọc những lời dối trá đã được tôn làm chân lý? Hay những người đàn bà da mịn như kem, béo núc, bôi trát mỡ và phấn, lộng lẫy trong da thú và những chiếc lông đẫm máu của chim bị giết, chơi bài bridge bằng những ngón tay múp míp, móng hồng, đeo đầy châu báu—những người đàn bà, sau bao công sức và cáu kỉnh, vẫn giống một cách lố bịch những con chó cảnh bụng đầy hơi của chính mình? Những bất bình đẳng cũ kỹ, tù đọng từ ngàn xưa, hay một điều gì khác trong lịch sử, không giống sự trưởng thành tẻ ngắt của các đế quốc khác? Tương lai nào, hy vọng nào?

Đầu Carol nhức nhối vì câu đố ấy.

Cô nhìn thảo nguyên, chỗ phẳng lì thành những mảng khổng lồ, chỗ cuộn lên thành những gò dài. Bề ngang và vẻ mênh mông của nó, thứ một giờ trước còn khiến tâm hồn cô rộng mở, giờ bắt đầu làm cô sợ. Nó cứ trải ra mãi; cứ tiếp tục một cách không sao chế ngự; cô sẽ không bao giờ hiểu nổi nó. Kennicott đã khép mình trong truyện trinh thám. Với nỗi cô đơn ập đến nặng nề nhất giữa chốn đông người, cô cố quên những vấn đề ấy, cố nhìn thảo nguyên một cách khách quan.

Cỏ ven đường sắt đã bị đốt trụi; đó là một vệt lem đen tua tủa những thân cỏ dại cháy sém. Bên kia những hàng rào dây thép gai thẳng tắp là các bụi hoàng cúc. Chỉ một dải rào mỏng manh ấy ngăn họ với những miền đất trồng lúa mì mùa thu đã bị cạo trụi—mỗi cánh đồng rộng cả trăm mẫu, gần thì xám xịt, lởm chởm, nhưng ở khoảng xa nhòe mờ lại giống lớp nhung hung vàng căng trên những gò đồi trũng nổi. Những hàng dài bó lúa mì diễu qua như binh lính trong áo chẽn vàng sờn cũ. Những thửa ruộng mới cày là các lá cờ đen đổ xuống sườn dốc xa xăm. Đó là một vẻ bao la chinh chiến, cường tráng, hơi khắc nghiệt, không được những khu vườn hiền hòa làm cho dịu lại.

Khoảng mênh mông ấy được điểm xuyết bằng những cụm sồi với từng khoảnh cỏ dại thấp; và cứ mỗi một hai dặm lại có một chuỗi đầm nước xanh cô-ban, bên trên thấp thoáng cánh chim sáo đen chớp qua.

Ánh sáng biến toàn bộ miền đất lao động này thành một cảnh tưng bừng. Nắng làm người ta choáng váng trên những bãi gốc rạ trống trải; bóng các đám mây tích khổng lồ không ngừng trượt qua những gò thấp; và bầu trời rộng hơn, cao hơn, xanh kiên quyết hơn bầu trời thành phố... cô quả quyết.

“Đây là một xứ sở huy hoàng; một miền đất để con người trở nên lớn lao,” cô khe khẽ ngâm nga.

Rồi Kennicott làm cô giật mình khi cười khẽ: “Em có nhận ra thị trấn sau thị trấn kế tiếp chính là Gopher Prairie không? Nhà mình!”

III

Chỉ một tiếng ấy—nhà—đã khiến cô kinh hãi. Cô thực sự đã trói buộc mình phải sống, không lối thoát, trong cái thị trấn mang tên Gopher Prairie này sao? Và người đàn ông nặng nề ngồi bên cô, kẻ dám định đoạt tương lai của cô, anh là một người xa lạ! Cô xoay người trên ghế, nhìn anh chằm chằm. Anh là ai? Tại sao anh lại ngồi bên cô? Anh không thuộc hạng người của cô! Cổ anh thô nặng; lời nói anh nặng nề; anh hơn cô mười hai hay mười ba tuổi; và quanh anh chẳng còn chút phép màu nào của những cuộc phiêu lưu chung và niềm háo hức. Cô không thể tin mình từng ngủ trong vòng tay anh. Đó là một trong những giấc mơ người ta từng có nhưng không chính thức thừa nhận.

Nàng tự nhủ chàng tốt biết bao, đáng tin cậy và thấu hiểu biết bao. Nàng chạm vào tai chàng, vuốt dọc đường nét rắn chắc của quai hàm, rồi lại quay đi, cố dồn tâm trí để yêu mến thị trấn của chàng. Nó sẽ không giống những khu định cư cằn cỗi này. Không thể nào! Chà, nơi ấy có đến ba nghìn dân. Thế là đông lắm rồi. Hẳn phải có sáu trăm ngôi nhà hoặc hơn. Và—Những hồ nước gần đó sẽ đẹp mê hồn. Nàng đã thấy chúng trong ảnh. Trông chúng thật duyên dáng... chẳng phải thế sao?

Khi tàu rời Wahkeenyan, nàng bắt đầu nôn nao ngóng tìm những hồ nước—cửa ngõ dẫn vào toàn bộ cuộc đời tương lai của nàng. Nhưng khi nhận ra chúng ở bên trái đường ray, ấn tượng duy nhất của nàng là chúng giống hệt những tấm ảnh.

Cách Gopher Prairie một dặm, đường ray trèo lên một dải gò thấp uốn cong, và nàng có thể nhìn thấy toàn bộ thị trấn. Với một động tác giật mạnh đầy cuống quýt, nàng đẩy cửa sổ lên, nhìn ra ngoài, những ngón tay trái cong cong run rẩy trên bậu cửa, tay phải áp trên ngực.

Và nàng thấy Gopher Prairie chẳng qua chỉ là phiên bản phình to của tất cả những xóm nhỏ họ đã đi qua. Chỉ trong mắt một người nhà Kennicott, nó mới là nơi khác thường. Những căn nhà gỗ thấp lè tè túm tụm lại hầu như chẳng phá vỡ đồng bằng hơn một bụi phỉ. Đồng ruộng tràn đến tận thị trấn, rồi tràn qua nó. Nó không được che chở mà cũng chẳng che chở cho ai; nơi đây không có chút đường bệ nào, cũng không một niềm hy vọng sẽ trở nên lớn lao. Chỉ có tháp chứa ngũ cốc cao màu đỏ và vài ngọn tháp nhà thờ ọp ẹp bằng tôn nhô lên khỏi đám nhà. Đây là một trại tiền tiêu. Không phải một nơi để sống, tuyệt nhiên không, không tài nào tưởng tượng nổi.

Con người—họ hẳn cũng xám xịt như nhà cửa, phẳng lì như ruộng đồng. Nàng không thể ở lại đây. Nàng sẽ phải giằng mình ra khỏi người đàn ông này mà chạy trốn.

Nàng lén nhìn chàng. Trước vẻ kiên định chín chắn của chàng, nàng lập tức thấy mình bất lực; nhưng nàng cũng xúc động trước niềm phấn khích của chàng khi chàng hất cuốn tạp chí cho trượt dọc lối đi, cúi xuống nhấc hành lý, rồi ngẩng lên, mặt đỏ bừng, hớn hở reo: “Đến nơi rồi!”

Nàng mỉm cười đầy trung thành rồi ngoảnh đi. Tàu đang tiến vào thị trấn. Những ngôi nhà ở ngoại vi hoặc là các dinh thự cũ màu đỏ sẫm, viền đầy những đường trang trí bằng gỗ, hoặc là những căn nhà khung gỗ trơ trọi như thùng đựng hàng tạp hóa, hoặc là các bungalow mới có móng bê tông giả đá.

Giờ tàu đi qua tháp chứa ngũ cốc, những bồn chứa dầu lầm lì, một xưởng bơ sữa, một bãi gỗ, một bãi nhốt gia súc lầy lội, bị giẫm nát và bốc mùi. Giờ họ đang dừng trước một nhà ga khung gỗ thấp bè màu đỏ, sân ga chật ních những nông dân râu ria lởm chởm và những kẻ ăn không ngồi rồi—những con người không chút tinh thần phiêu lưu, đôi mắt đã chết. Nàng đã ở đây. Nàng không thể đi tiếp. Đây là tận cùng—tận cùng thế giới. Nàng ngồi nhắm mắt, chỉ mong đẩy Kennicott sang một bên, trốn đâu đó trên tàu, chạy tiếp về phía Thái Bình Dương.

Một điều gì đó lớn lao trỗi dậy trong tâm hồn nàng và ra lệnh: “Thôi đi! Đừng làm một con bé mè nheo nữa!” Nàng đứng bật dậy; nàng nói: “Cuối cùng cũng đến nơi, tuyệt quá phải không anh!”

Chàng tin nàng đến thế. Nàng sẽ buộc mình yêu mến nơi này. Và nàng sắp làm nên những việc phi thường—

Nàng đi theo Kennicott cùng hai đầu túi hành lý nhấp nhô chàng đang xách. Họ bị cản lại bởi dòng hành khách chậm chạp xuống tàu. Nàng tự nhắc mình rằng đây quả thực là khoảnh khắc đầy kịch tính khi cô dâu trở về nhà chồng. Đáng lẽ nàng phải thấy lâng lâng. Nàng chẳng cảm thấy gì ngoài nỗi bực bội vì họ nhích về phía cửa quá chậm.

Kennicott cúi xuống nhìn qua cửa sổ. Chàng hân hoan một cách e dè:

“Nhìn kìa! Nhìn kìa! Cả một đám đã ra đây đón chúng ta! Sam Clark với bà nhà, rồi Dave Dyer, Jack Elder, và, đúng rồi, Harry Haydock với Juanita, còn cả một đám đông nữa! Chắc giờ họ thấy chúng ta rồi. Phải, phải rồi, họ thấy chúng ta rồi! Em thấy họ vẫy tay không!”

Nàng ngoan ngoãn cúi đầu nhìn ra. Nàng đã trấn tĩnh được mình. Nàng sẵn sàng yêu mến họ. Nhưng vẻ hồ hởi của nhóm người reo hò khiến nàng lúng túng. Từ khoang đệm nối toa, nàng vẫy tay với họ, nhưng khi người hãm tàu đỡ nàng bước xuống, nàng còn níu tay áo anh ta một giây rồi mới đủ can đảm lao vào thác lũ những người bắt tay, những người nàng không sao phân biệt nổi. Nàng có cảm tưởng tất cả đàn ông đều có giọng thô, bàn tay to ẩm ướt, ria mép như bàn chải đánh răng, những mảng đầu hói và phù hiệu Hội Tam Điểm đeo ở dây đồng hồ.

Nàng biết họ đang chào đón mình. Những bàn tay, nụ cười, tiếng reo và ánh mắt trìu mến của họ khiến nàng choáng ngợp. Nàng lắp bắp: “Cảm ơn, ôi, cảm ơn mọi người!”

Một người đàn ông đang oang oang gọi Kennicott: “Tôi lái xe ra đón vợ chồng anh về nhà đây, bác sĩ.”

“Tuyệt quá, Sam!” Kennicott reo lên; rồi bảo Carol: “Lên xe thôi em. Chiếc Paige lớn đằng kia ấy. Quả là cỗ xe cừ, anh nói thật! Sam có thể đua tốc độ với bất cứ chiếc Marmon nào từ Minneapolis xuống!”

Chỉ khi đã ngồi trong ô tô, nàng mới phân biệt được ba người sẽ đi cùng họ. Chủ xe, giờ đang ngồi sau tay lái, là hiện thân của vẻ tự mãn đứng đắn: một người đàn ông hơi hói, khá to con, ánh mắt thẳng thắn, cổ lực lưỡng nhưng khuôn mặt nhẵn nhụi và tròn trịa—mặt giống như lưng của lòng thìa. Ông cười khùng khục với nàng: “Cô đã nhớ rõ hết bọn tôi chưa?”

“Dĩ nhiên là nhớ rồi! Cứ tin Carrie, cô ấy hiểu mọi chuyện mà hiểu nhanh phát khiếp! Tôi cá là cô ấy có thể kể cho anh mọi niên đại trong lịch sử!” chồng nàng khoe.

Nhưng người đàn ông nhìn nàng đầy trấn an, và vì tin chắc ông là người mình có thể tin cậy, nàng thú nhận: “Thật ra tôi vẫn chưa nhớ rõ được ai cả.”

“Dĩ nhiên là chưa rồi, cô bé. Nào, tôi là Sam Clark, bán đồ kim khí, dụng cụ thể thao, máy ly tâm tách kem và gần như mọi thứ đồ nặng nề linh tinh mà cô có thể nghĩ tới. Cô cứ gọi tôi là Sam—dù sao tôi cũng sẽ gọi cô là Carrie, bởi cô đã trót đi lấy cái tay lang băm vô tích sự khốn khổ mà chúng tôi nuôi quanh đây này.” Carol cười thật tươi, và ước gì mình có thể gọi tên riêng của người khác một cách tự nhiên hơn. “Cái bà béo cáu kỉnh ngồi phía sau cạnh cô, đang vờ như không nghe thấy tôi lật tẩy bà ấy, là bà Sam’l Clark; còn cái cậu nhãi trông đói rách ngồi trên này cạnh tôi là Dave Dyer, người giữ cho hiệu thuốc của mình làm ăn phát đạt bằng cách pha sai đơn của chồng cô—có thể nói chính hắn là kẻ biến ‘đơn thuốc’ thành ‘đơn tránh mặt’. Thế nhé! Nào, ta đưa cô dâu xinh đẹp về nhà thôi. Này bác sĩ, tôi bán cho anh cơ ngơi nhà Candersen giá ba nghìn đô. Nên tính chuyện xây nhà mới cho Carrie đi. Frau xinh nhất G. P., nếu hỏi ý tôi!”

Mãn nguyện, Sam Clark cho xe chạy, giữa dòng giao thông đông đúc gồm ba chiếc Ford và chiếc xe buýt miễn phí của khách sạn Minniemashie House.

“Mình sẽ thích ông Clark... Mình KHÔNG THỂ gọi ông ấy là ‘Sam’ được! Ai cũng thân thiện quá.” Nàng liếc nhìn những ngôi nhà; cố không thấy điều mình đang thấy; rồi đầu hàng: “Tại sao những câu chuyện ấy lại dối trá đến thế? Bao giờ chúng cũng biến cảnh cô dâu về nhà chồng thành một vòm hoa hồng. Hoàn toàn tin cậy người chồng cao quý. Những lời dối trá về hôn nhân. Mình KHÔNG hề thay đổi. Còn thị trấn này—lạy Chúa tôi! Mình không thể chịu đựng đến cùng. Cái đống phế liệu này!”

Chồng nàng nghiêng người về phía nàng. “Trông em như đang chìm trong suy nghĩ. Sợ à? Anh đâu mong em thấy Gopher Prairie là thiên đường, sau khi đã sống ở St. Paul. Anh cũng đâu mong em mê mẩn nơi này ngay từ đầu. Nhưng rồi em sẽ thích nó lắm—cuộc sống ở đây tự do biết bao, mà người dân lại tốt nhất trần đời.”

Nàng thì thầm với chàng (trong khi bà Clark ý tứ quay đi): “Em yêu anh vì anh hiểu em. Chỉ là—em nhạy cảm quá quắt. Đọc quá nhiều sách. Tại đôi vai em thiếu sức mạnh, đầu óc lại thiếu khôn ngoan. Cho em thời gian nhé, anh yêu.”

“Tất nhiên rồi! Bao nhiêu thời gian tùy em!”

Nàng áp mu bàn tay chàng vào má, nép sát bên chàng. Nàng đã sẵn sàng đón nhận ngôi nhà mới.

Kennicott từng kể rằng chàng sống trong một ngôi nhà cũ, với người mẹ góa bụa trông nom việc nhà, “nhưng đẹp và rộng rãi, lại sưởi rất ấm, có cái lò sưởi tốt nhất anh tìm được trên thị trường.” Mẹ chàng đã gửi lời yêu thương đến Carol rồi trở về Lac-qui-Meurt.

Thật tuyệt vời, nàng hân hoan nghĩ, khi không phải sống trong Nhà Của Người Khác nữa, mà được dựng nên thánh điện của riêng mình. Nàng siết chặt tay chàng và nhìn thẳng phía trước khi chiếc xe vòng qua một góc phố rồi dừng lại ngoài đường, trước một căn nhà khung gỗ tầm thường nằm trên khoảnh cỏ nhỏ khô cháy.

IV

Một vỉa hè bê tông, bên cạnh là dải “parking” đầy cỏ và bùn. Một ngôi nhà vuông vức màu nâu, tự mãn, hơi ẩm thấp. Một lối đi bê tông hẹp dẫn vào nhà. Những chiếc lá vàng úa vun thành dải theo chiều gió, lẫn với cánh hạt phong tro khô và những búi tơ mắc lại từ cây dương. Một hàng hiên có lưới chắn, với những cột gỗ thông mảnh đã sơn, bên trên chồng chất các đường cuộn, thanh đỡ và ụ lồi bằng gỗ cưa lọng. Không một bụi cây nào ngăn ánh mắt người ngoài. Bên phải hàng hiên là một cửa sổ lồi buồn thảm. Những tấm rèm bằng đăng-ten rẻ tiền hồ cứng để lộ chiếc bàn đá cẩm thạch hồng, trên đặt một vỏ ốc xà cừ và cuốn Kinh Thánh của gia đình.

“Em sẽ thấy nó cổ lỗ—người ta gọi là gì nhỉ?—kiểu giữa thời Victoria. Anh để nguyên như vậy để em có thể sửa sang bất cứ thứ gì em thấy cần.” Lần đầu tiên kể từ khi trở về chốn của mình, giọng Kennicott nghe có vẻ ngập ngừng.

“Đây là một mái ấm thực sự!” Sự khiêm nhường của chàng khiến nàng xúc động. Nàng vui vẻ vẫy tay chào từ biệt vợ chồng Clark. Chàng mở khóa cửa—chàng để nàng tự chọn người giúp việc nên trong nhà không có ai. Nàng nhấp nhổm trong lúc chàng xoay chìa khóa, rồi lon ton chạy vào.... Mãi đến hôm sau cả hai mới nhớ ra rằng, trong chuyến cắm trại tuần trăng mật, họ đã dự định chàng sẽ bế nàng qua ngưỡng cửa.

Trong tiền sảnh và phòng khách phía trước, nàng cảm thấy vẻ xỉn tối, buồn thảm và ngột ngạt, nhưng vẫn nhất quyết: “Mình sẽ làm cho tất cả vui tươi lên.” Theo Kennicott cùng những chiếc túi lên phòng ngủ, nàng khe khẽ run giọng hát cho mình nghe khúc ca của những tiểu thần bếp lửa béo tròn:

Ta có mái nhà riêng, Muốn làm gì với nó tùy ta, Muốn làm gì với nó tùy ta, Cái hang cho ta, cho bạn đời và lũ con ta, Của riêng ta!

Nàng được ôm ghì trong vòng tay chồng; nàng bám chặt lấy chàng; dù có thể nhận thấy nơi chàng bao nhiêu vẻ xa lạ, chậm chạp và khép kín, tất cả đều chẳng đáng kể, miễn là nàng còn có thể luồn tay vào dưới áo khoác chàng, lướt những ngón tay trên mặt vải sa tanh ấm áp, trơn mịn sau lưng chiếc áo gi-lê, tưởng như gần len được vào chính thân thể chàng, tìm thấy sức mạnh nơi chàng, tìm thấy trong lòng can đảm và tử tế của người đàn ông của nàng một chốn nương náu khỏi thế giới rối ren.

“Ngọt ngào, ngọt ngào biết bao,” nàng thì thầm.