Phố chính — Chương 4
Chương 5 / 40 · Bài review Phố chính
I
“Tối nay nhà Clark mời ít người đến chơi để làm quen với chúng ta,” Kennicott vừa nói vừa mở va-li.
“Ồ, họ thật tử tế!”
“Chứ còn gì nữa. Anh đã bảo em sẽ thích họ mà. Những người ngay thẳng nhất trên đời. Ờ, Carrie này—em có phiền không nếu anh lẻn xuống phòng khám độ một giờ, chỉ để xem công việc thế nào?”
“Ồ, không. Dĩ nhiên là không. Em biết anh nóng lòng muốn trở lại làm việc.”
“Em chắc là không phiền chứ?”
“Không chút nào. Tránh ra cho em nào. Để em dỡ đồ.”
Nhưng người cổ xúy tự do trong hôn nhân lại thất vọng chẳng kém một cô dâu ủ rũ trước vẻ mau mắn của chồng khi anh đón lấy quyền tự do ấy và trốn sang thế giới công chuyện của đàn ông. Nàng nhìn quanh phòng ngủ của họ, và toàn bộ vẻ thê lương của nó bò trườn lên người nàng: hình chữ L vụng về, xương xẩu; chiếc giường gỗ óc chó đen với những quả táo và lê lốm đốm chạm trên đầu giường; chiếc tủ ngăn kéo giả gỗ phong, trên mặt đá cẩm thạch bày những lọ nước hoa quệt màu hồng và một chiếc gối cắm kim có váy, khiến người ta khó chịu vì trông quá giống một tấm bia mộ; chiếc giá rửa mặt bằng gỗ thông mộc cùng bộ bình và chậu nước viền hoa. Trong phòng phảng phất mùi lông ngựa, nhung lông và nước hoa Florida Water.
“Làm sao người ta có thể sống giữa những thứ thế này được?” nàng rùng mình. Nàng thấy đám đồ đạc như một vòng các vị quan tòa già nua, kết án nàng phải chết ngạt. Chiếc ghế gấm xiêu vẹo kẽo kẹt: “Bóp cổ nó—bóp cổ nó—làm nó ngạt thở đi.” Đồ vải cũ sặc mùi mồ mả. Nàng cô độc trong ngôi nhà này, ngôi nhà xa lạ im lìm này, giữa bóng tối của những tư tưởng đã chết và những cấm đoán ám hồn. “Mình ghét nó! Mình ghét nó!” nàng hổn hển. “Tại sao mình lại từng—”
Nàng nhớ ra mẹ Kennicott đã đem những kỷ vật gia đình này từ ngôi nhà cũ ở Lac-qui-Meurt đến. “Thôi đi! Toàn là những thứ hoàn toàn tiện dụng. Chúng—tiện dụng. Vả lại—Ôi, chúng kinh khủng quá! Mình sẽ thay hết, ngay lập tức.”
Rồi nàng nghĩ: “Nhưng dĩ nhiên anh ấy PHẢI đến phòng khám xem công việc thế nào—”
Nàng vờ bận rộn dỡ đồ. Chiếc túi lót vải hoa, phụ kiện bằng bạc, từng có vẻ là một món xa xỉ đáng ao ước ở St. Paul, tại đây lại thành một sự phù phiếm hoang phí. Chiếc áo lót đen táo bạo bằng voan mỏng và đăng ten là một ả lẳng lơ khiến chiếc giường ngực nở đồ sộ cứng người vì ghê tởm; nàng quẳng nó vào ngăn tủ, giấu dưới một chiếc áo vải lanh đứng đắn.
Nàng thôi dỡ đồ. Nàng đến bên cửa sổ, mang trong đầu một ý nghĩ thuần túy văn chương về vẻ duyên dáng thôn dã—hoa thục quỳ, những con đường nhỏ và dân quê má hồng như táo. Điều nàng trông thấy là hông Nhà thờ Cơ Đốc Phục Lâm—một bức tường ván ghép trơn tuột màu gan bệnh; đống tro sau nhà thờ; một chuồng ngựa không sơn; và một con hẻm nơi chiếc xe tải Ford mắc cạn. Đây là khu vườn bậc thang bên dưới phòng khuê của nàng; đây sẽ là phong cảnh dành cho nàng trong—
“Không được! Không được! Chiều nay mình căng thẳng quá. Mình ốm chăng?… Lạy Chúa, mong sao không phải chuyện ấy! Không phải bây giờ! Người ta dối trá làm sao! Những câu chuyện ấy dối trá làm sao! Họ bảo cô dâu bao giờ cũng đỏ mặt, kiêu hãnh và sung sướng khi phát hiện ra chuyện ấy, nhưng—mình sẽ ghét nó! Mình sẽ sợ chết khiếp! Một ngày nào đó thì được, nhưng—Xin Ngài, ôi Đức Chúa mơ hồ thân yêu, đừng phải bây giờ! Những lão già râu ria khụt khịt cứ ngồi đó mà đòi chúng ta sinh con. Giá như CHÍNH HỌ phải sinh—! Mình ước gì họ phải sinh thật! Không phải bây giờ! Không phải trước khi mình xoay xở nổi cái công việc học cách yêu đống tro ngoài kia!… Mình phải im đi. Mình hơi điên rồi. Mình sẽ ra ngoài đi dạo. Mình sẽ tự mình xem thị trấn. Cái nhìn đầu tiên của mình về đế quốc mà mình sắp chinh phục!”
Nàng chạy trốn khỏi nhà.
Nàng nghiêm trang chăm chú nhìn từng lối băng qua đường bằng bê tông, từng cọc buộc ngựa, từng chiếc cào lá; và dành cho mỗi ngôi nhà tất cả những suy đoán của mình. Rồi chúng sẽ có ý nghĩa gì? Sáu tháng nữa chúng sẽ trông ra sao? Nàng sẽ dùng bữa tối trong ngôi nhà nào? Người nào trong số những người nàng đi ngang qua—giờ đây chỉ là những cách sắp đặt tóc tai và quần áo—sẽ trở thành bạn thân, được yêu mến hoặc khiếp sợ, khác hẳn mọi người khác trên đời?
Khi bước vào khu phố buôn bán nhỏ bé, nàng quan sát một người bán tạp hóa vai ngang, mặc áo alpaca, đang cúi trên những quả táo và các nhánh cần tây bày ở chiếc kệ nghiêng trước cửa hiệu. Liệu nàng có bao giờ trò chuyện với ông ta không? Ông ta sẽ nói gì nếu nàng dừng lại và tuyên bố: “Tôi là bà bác sĩ Kennicott. Một ngày nào đó, tôi hy vọng sẽ tâm sự với ông rằng một đống bí ngô hết sức khả nghi dùng để trưng cửa kính chẳng khiến tôi phấn chấn là bao.”
(Người bán tạp hóa là ông Frederick F. Ludelmeyer, có cửa hàng ở góc Phố Chính và đại lộ Lincoln. Khi cho rằng chỉ mình nàng biết quan sát, Carol đã thiếu hiểu biết, bị tính thờ ơ của các thành phố đánh lừa. Nàng tưởng mình đang vô hình lướt qua các phố; nhưng sau khi nàng đi khỏi, ông Ludelmeyer phì phò trở vào cửa hàng và vừa ho vừa nói với người phụ việc: “Tôi thấy một cô trẻ, cô ấy đi dọc phố bên. Tôi cá đó là cô dâu mới của bác sĩ Kennicott, xinh đấy, chân đẹp, nhưng mặc bộ đồ trơn tuột thấy khiếp, chẳng có kiểu cách gì, không biết cô ta có trả tiền mặt không, tôi cá cô ta sẽ đến Howland & Gould's nhiều hơn sang đây, cậu làm gì tấm áp phích Fluffed Oats rồi?”)
II
Sau ba mươi hai phút đi bộ, Carol đã đi hết toàn bộ thị trấn, từ đông sang tây, từ bắc xuống nam; nàng đứng ở góc Phố Chính và đại lộ Washington, tuyệt vọng.
Phố Chính, với những cửa hiệu gạch hai tầng, những ngôi nhà gỗ một tầng rưỡi, khoảng bùn mênh mông từ vỉa hè bê tông bên này sang vỉa hè bên kia, mớ xe Ford và xe chở gỗ chen chúc, quá nhỏ bé để dung chứa nàng. Những vết chém rộng, thẳng và chẳng mời gọi của các con phố để thảo nguyên tham lam tràn vào từ mọi phía. Nàng nhận ra sự mênh mông và trống rỗng của miền đất này. Chiếc cối xay gió trơ khung sắt ở nông trại cách đó vài dãy phố, nơi đầu bắc Phố Chính, giống bộ xương sườn của một con bò chết. Nàng nghĩ đến mùa đông phương Bắc sắp tới, khi những ngôi nhà không được che chắn sẽ co cụm bên nhau, kinh hãi trước những cơn bão phi nước đại từ vùng hoang vu ấy. Những ngôi nhà nâu nhỏ bé kia sao mà nhỏ nhoi, yếu ớt. Chúng là chỗ trú cho chim sẻ, không phải tổ ấm của những con người ấm áp, hay cười.
Nàng tự nhủ rằng phía dưới phố, lá cây rực rỡ huy hoàng. Những cây phong nhuộm màu cam; những cây sồi mang một sắc mâm xôi đặc quánh. Và các bãi cỏ đã được chăm chút bằng tình yêu. Nhưng ý nghĩ ấy không đứng vững. Dù nhìn theo cách tốt đẹp nhất, đám cây cũng chỉ giống một khoảnh rừng đã bị tỉa thưa. Không có công viên nào cho mắt nghỉ ngơi. Và vì thủ phủ hạt là Wakamin chứ không phải Gopher Prairie, nơi đây cũng không có tòa án cùng khuôn viên của nó.
Nàng nhìn qua những ô cửa sổ lấm chấm phân ruồi của tòa nhà phô trương nhất trong tầm mắt, nơi duy nhất đón tiếp người lạ và định đoạt ấn tượng của họ về vẻ duyên dáng cùng xa hoa của Gopher Prairie—khách sạn Minniemashie House. Đó là một kiến trúc cao, gầy guộc, xơ xác, ba tầng gỗ sọc vàng, các góc được phủ bằng những tấm gỗ thông rắc cát giả làm đá. Trong sảnh khách sạn, nàng có thể thấy một dải sàn trơ trụi, cáu bẩn; một hàng ghế ọp ẹp xen giữa những ống nhổ bằng đồng; một bàn viết với các mẩu quảng cáo viết bằng chữ xà cừ trên tấm lưng phủ kính. Phòng ăn phía trong là một khu rừng khăn trải bàn hoen ố và chai xốt cà chua.
Nàng không nhìn Minniemashie House thêm nữa.
Một người đàn ông mặc sơ mi xắn tay không cổ tay áo, đeo vòng giữ tay áo màu hồng, có cổ áo vải lanh nhưng không thắt cà vạt, vừa ngáp vừa đi từ Hiệu thuốc Dyer sang khách sạn. Anh ta tựa vào tường, gãi một hồi, thở dài, rồi uể oải tán chuyện với một người đang ngả ghế ra sau. Một chiếc xe chở gỗ, thùng dài màu xanh chất đầy những cuộn dây thép gai lớn, cót két đi hết dãy phố. Một chiếc Ford đang lùi nghe như thể sắp rung tung thành từng mảnh, rồi hồi sức và lạch cạch chạy đi. Từ cửa hàng kẹo của người Hy Lạp vọng ra tiếng rền rĩ của máy rang lạc và mùi hạt béo nhờn.
Không còn âm thanh hay dấu hiệu nào khác của sự sống.
Nàng muốn bỏ chạy, trốn khỏi thảo nguyên đang lấn tới, đòi cho được sự an toàn của một thành phố lớn. Những giấc mơ kiến tạo một thị trấn đẹp đẽ của nàng thật nực cười. Từ mỗi bức tường xám xịt rỉ ra, nàng cảm thấy một tinh thần cự tuyệt mà mình sẽ chẳng bao giờ chinh phục nổi.
Nàng lê bước xuôi một bên phố rồi trở lại theo bên kia, liếc vào các phố ngang. Đó là chuyến du ngoạn riêng mang tên Ngắm Phố Chính. Chỉ trong vòng mười phút, nàng không những được ngắm trái tim của một nơi gọi là Gopher Prairie, mà còn thấy cả mười nghìn thị trấn từ Albany đến San Diego:
Hiệu thuốc Dyer, một tòa nhà ở góc phố xây bằng những khối đá nhân tạo đều đặn và giả tạo. Bên trong cửa hiệu là quầy nước ngọt bằng cẩm thạch nhớp nhúa, với một ngọn đèn điện có chụp khảm màu đỏ, xanh lục và vàng vón sữa. Những đống bàn chải đánh răng, lược và gói xà phòng cạo râu đã bị lục lọi nháo nhào. Những kệ hộp xà phòng, vòng ngậm mọc răng, hạt giống làm vườn và thuốc độc quyền trong các “gói thuốc lang băm” màu vàng chữa lao phổi, chữa “bệnh phụ nữ”—những hỗn hợp khét tiếng gồm thuốc phiện và cồn, ngay tại cửa hiệu mà chồng nàng vẫn gửi bệnh nhân đến mua thuốc theo đơn.
Từ một cửa sổ tầng hai, tấm biển “W. P. Kennicott, Bác sĩ & Phẫu thuật gia” với chữ mạ vàng trên nền cát đen.
Một rạp chiếu bóng nhỏ bằng gỗ mang tên “The Rosebud Movie Palace.” Những bản in thạch bản quảng cáo bộ phim “Fatty in Love.”
Cửa hàng tạp hóa Howland & Gould's. Trong tủ kính trưng bày là những quả chuối đen, chín nẫu và mớ xà lách có một con mèo đang ngủ trên đó. Các kệ lót giấy kếp đỏ, giờ đã phai màu, rách nát và loang những vòng tròn đồng tâm. Áp sát bức tường tầng hai là biển hiệu của các hội kín—Knights of Pythias, Maccabees, Woodmen, Hội Tam Điểm.
Cửa hàng thịt Dahl & Oleson's—nồng nặc mùi máu.
Một hiệu kim hoàn với những chiếc đồng hồ đeo tay nữ trông như làm bằng thiếc. Trước hiệu, sát lề đường, là một chiếc đồng hồ gỗ khổng lồ không chạy.
Một quán rượu đầy tiếng ruồi vo ve, mặt tiền giăng tấm biển quảng cáo whisky bằng vàng và men sáng choang. Những quán rượu khác nằm xuôi theo dãy phố. Từ đó xông ra mùi bia cũ, cùng những giọng đặc sệt gào thứ tiếng Đức bồi hoặc lè nhè hát những bài tục tĩu—thói trụy lạc đã trở nên yếu ớt, thiếu nhuệ khí và tẻ ngắt—vẻ thanh nhã của một trại mỏ sau khi đã mất hết sức sống. Trước các quán rượu, những bà vợ nông dân ngồi trên ghế xe, chờ chồng say đủ để chịu lên đường về nhà.
Một cửa hàng thuốc lá mang tên “The Smoke House,” đầy những thanh niên lắc xúc xắc ăn thuốc lá. Những giá tạp chí và tranh các ả gái điếm béo tốt làm bộ e lệ trong áo tắm kẻ sọc.
Một cửa hàng quần áo trưng bày “giày Oxford màu huyết bò, mũi mõm chó.” Những bộ com-lê trông cũ mòn và mất bóng ngay khi vẫn còn mới, rũ nhẽo trên các hình nộm như những xác chết má sơn.
Cửa hàng Bon Ton—Haydock & Simons'—cửa hiệu lớn nhất thị trấn. Mặt tiền tầng một bằng kính trong, các tấm kính được viền mép bằng đồng một cách khéo léo. Tầng hai xây bằng loại gạch có hoa văn dễ chịu. Một tủ kính trưng quần áo nam loại tốt, xen giữa là những chiếc cổ áo bằng vải piqué hoa, in cúc tím trên nền vàng nghệ. Vẻ mới mẻ cùng một quan niệm hiển nhiên về sự ngăn nắp và phục vụ chu đáo. Haydock & Simons. Haydock. Nàng đã gặp một người tên Haydock tại ga; Harry Haydock; một người năng động, ba mươi lăm tuổi. Giờ đây anh ta có vẻ vĩ đại đối với nàng, và rất giống một vị thánh. Cửa hiệu của anh sạch sẽ!
Cửa hàng Bách hóa Axel Egge, nơi lui tới của nông dân Scandinavia. Trong khoảng tủ kính nông và tối là những đống sa-tanh mỏng xấu, vải galatea dệt vụng, giày vải làm cho những phụ nữ có mắt cá chân phình to, những chiếc cúc bằng thép và thủy tinh đỏ gắn trên các tấm bìa sứt mép, một chiếc chăn bông xốp, một chiếc chảo tráng men lốm đốm nằm trên chiếc áo vải kếp bạc màu vì nắng.
Cửa hàng Kim khí Sam Clark. Một bầu không khí kinh doanh bằng kim loại, thẳng thừng không che giấu. Súng, thùng đánh bơ, thùng đinh và những con dao mổ thịt bóng loáng đẹp đẽ.
Đại cửa hàng Đồ gia dụng Chester Dashaway. Một viễn cảnh gồm những chiếc ghế bập bênh gỗ sồi nặng nề, mặt bọc da, ngủ gật trong một hàng ảm đạm.
Quán ăn Billy's Lunch. Những chiếc tách dày không quai đặt trên quầy phủ vải dầu ướt nhẹp. Mùi hành và khói mỡ lợn nóng. Nơi cửa ra vào, một thanh niên mút tăm nghe rõ thành tiếng.
Nhà kho của người thu mua kem sữa và khoai tây. Mùi chua của một cơ sở chế biến sữa.
Ga-ra Ford và Ga-ra Buick, hai tòa nhà một tầng xây bằng gạch và xi măng vững chãi, nằm đối diện nhau. Xe cũ và xe mới trên những nền bê tông đen dầu mỡ. Các bảng quảng cáo lốp xe. Tiếng gầm của một động cơ đang chạy thử; một thứ huyên náo giáng vào thần kinh. Những thanh niên cáu kỉnh mặc áo liền quần kaki. Những nơi năng động và tràn đầy sinh khí nhất thị trấn.
Một nhà kho lớn chứa nông cụ. Một chiến lũy oai vệ gồm những bánh xe xanh và vàng, những càng máy và ghế ngồi máy cày, tất cả thuộc về những loại máy móc mà Carol không biết gì—máy trồng khoai tây, máy rải phân, máy thái thức ăn ủ chua, bừa đĩa, cày phá đất.
Một cửa hàng thức ăn gia súc, cửa kính mờ đục vì bụi cám, trên mái sơn một quảng cáo thuốc độc quyền.
Ye Art Shoppe, chủ hiệu: bà Mary Ellen Wilks; Thư viện Christian Science mở cửa miễn phí hằng ngày. Một nỗ lực vụng về mà cảm động nhằm vươn tới cái đẹp. Một căn lều ván chỉ có một phòng, mới được phủ lớp vữa thô. Một tủ kính trưng bày phong phú sai lầm một cách tinh tế: những chiếc bình khởi sự bằng việc mô phỏng thân cây nhưng rồi lạc sang những cục mạ vàng—một gạt tàn bằng nhôm đề “Lời chào từ Gopher Prairie”—một tạp chí Christian Science—một chiếc gối trường kỷ in sẵn mẫu thêu hình dải nơ lớn buộc vào một bông anh túc nhỏ, những con chỉ thêu đúng màu đặt trên gối. Bên trong cửa hàng, thấp thoáng những bản in carbon tồi của những bức tranh tồi mà nổi tiếng, những kệ đĩa máy hát và phim máy ảnh, đồ chơi bằng gỗ, và giữa tất cả là một phụ nữ nhỏ bé, vẻ lo âu, đang ngồi trên chiếc ghế bập bênh có đệm.
Một hiệu cắt tóc kiêm phòng bi-da. Một người đàn ông mặc sơ mi xắn tay, có lẽ là chủ hiệu Del Snafflin, đang cạo râu cho một người có trái cổ lớn.
Hiệu may Nat Hicks, trên một phố ngang rẽ khỏi Phố Chính. Một tòa nhà một tầng. Một tranh mẫu thời trang vẽ những cây chĩa mang hình người trong những bộ y phục trông cứng như thép tấm.
Trên một phố ngang khác là Nhà thờ Công giáo xây bằng gạch đỏ thô, với cánh cửa màu vàng đánh véc-ni.
Bưu điện—chỉ là một vách ngăn bằng kính và đồng chắn phần cuối của căn phòng ẩm mốc, hẳn trước kia từng là một cửa hiệu. Một mặt bàn viết nghiêng gắn vào bức tường đã bị cọ đến đen sì, bên trên rải rác các thông báo chính thức và áp phích tuyển quân.
Ngôi trường gạch vàng ẩm thấp giữa khuôn viên đầy xỉ than.
Ngân hàng Tiểu bang, lớp vữa trát che giấu kết cấu gỗ.
Ngân hàng Quốc gia Nông dân. Một ngôi đền cẩm thạch theo thức Ionic. Thanh khiết, tinh xảo, đứng lẻ loi. Một tấm biển đồng khắc: “Ezra Stowbody, Chủ tịch.”
Một loạt hai chục cửa hiệu và cơ sở tương tự.
Phía sau và xen lẫn giữa chúng là những ngôi nhà, hoặc các căn nhà nhỏ khiêm nhường, hoặc những biểu tượng lớn, tiện nghi, vững chãi và buồn tẻ đến hoàn hảo của sự thịnh vượng.
Trong cả thị trấn, ngoài ngân hàng theo thức Ionic, không một tòa nhà nào làm mắt Carol vui thích; không đến một tá tòa nhà gợi rằng, trong năm mươi năm Gopher Prairie tồn tại, cư dân nơi đây từng nhận ra việc khiến mái nhà chung của họ trở nên vui mắt hoặc hấp dẫn là điều đáng làm, hay thậm chí có thể làm được.
Không chỉ vẻ xấu xí không nương tay, không lời xin lỗi, cùng những đường thẳng cứng đờ khiến nàng choáng ngợp. Mà còn là sự vô quy hoạch, vẻ tạm bợ ọp ẹp của các tòa nhà, những màu sơn phai bạc khó coi. Đường phố ngổn ngang cột điện, cột điện thoại, trụ bơm xăng cho ô tô, thùng hàng. Mỗi người đều xây cất với một tinh thần quả cảm bất chấp tất cả những người khác. Giữa một “dãy nhà” lớn mới xây gồm các cửa hiệu gạch hai tầng ở một bên và xưởng ô tô Overland bằng gạch chịu lửa ở bên kia là một căn nhà nhỏ một tầng được biến thành hiệu bán mũ phụ nữ. Ngôi đền trắng của Ngân hàng Nông dân bị một cửa hàng thực phẩm bằng gạch vàng chói thúc khuỷu tay đẩy lùi ra sau. Một tòa nhà cửa hiệu có đường diềm tôn mạ kẽm loang lổ; tòa nhà sát bên lại đội những lũy thành và kim tự tháp bằng gạch, chóp bịt những khối sa thạch đỏ.
Nàng thoát khỏi Phố Chính, chạy trốn về nhà.
Nàng khăng khăng rằng mình đã chẳng bận tâm nếu người ta trông dễ coi. Nàng đã để ý một thanh niên lêu lổng trước cửa hiệu, một bàn tay cáu bẩn nắm dây mái hiên; một người đàn ông trung niên có kiểu nhìn chằm chằm vào phụ nữ như thể ông ta đã lấy vợ quá lâu và cuộc hôn nhân quá tẻ nhạt; một lão nông già, chắc nịch, lành mạnh, nhưng không sạch sẽ—mặt lão như củ khoai tây vừa moi khỏi đất. Không ai trong số họ cạo râu suốt ba ngày rồi.
“Nếu ở ngoài thảo nguyên này họ không dựng nổi những điện thờ, thì hẳn chẳng có gì ngăn họ mua dao cạo an toàn!” nàng giận dữ.
Nàng tự đấu tranh với mình: “Chắc mình sai. Người ta vẫn sống ở đây. Nó KHÔNG THỂ xấu đến mức—đến mức mà mình biết là nó xấu! Chắc mình sai. Nhưng mình không làm nổi. Mình không thể sống thế này đến cùng.”
Nàng về nhà với nỗi lo quá nghiêm trọng để có thể cuồng loạn; và khi thấy Kennicott đang đợi mình, hớn hở reo: “Đi dạo à? Thế nào, thích thị trấn chứ? Những bãi cỏ và cây cối tuyệt lắm, phải không?” nàng đã có thể đáp, bằng một vẻ chín chắn tự vệ mà trước đây nàng chưa từng có: “Thú vị lắm.”
III
Chuyến tàu đưa Carol đến Gopher Prairie cũng đưa cô Bea Sorenson tới.
Cô Bea là một thiếu nữ vạm vỡ, tóc màu râu ngô, hay cười, và cô đã chán công việc đồng áng. Cô khao khát những náo nhiệt của đời sống thành thị, và muốn hưởng đời sống thành thị thì, theo quyết định của cô, phải “đi kiếm việc làm người ở thuê tại Gopher Prairie.” Cô mãn nguyện xách chiếc va-li bìa ép từ nhà ga tới chỗ cô em họ Tina Malmquist, người hầu làm mọi việc trong nhà bà Luke Dawson.
“Ờ, thế là chị lên thị trấn rồi,” Tina nói.
“Dạ. Tôi kiếm một việc,” Bea nói.
“Ờ… Chị có người yêu chưa?”
“Dạ. Yim Yacobson.”
“Ờ. Tôi mừng được gặp chị. Chị muốn bao nhiêu một tuần?”
“Xáu đô-la.”
“Không ai trả đến thế đâu. Khoan! Bác sĩ Kennicott, tôi nghĩ ông ấy mới cưới một cô gái từ Hai Thành phố về. Có lẽ cô ấy chịu trả chừng đó. Ờ. Chị đi dạo xem.”
“Dạ,” Bea nói.
Thế là tình cờ Carol Kennicott và Bea Sorenson cùng ngắm Phố Chính vào một lúc.
Trước đó Bea chưa từng đến một thị trấn nào lớn hơn Scandia Crossing, nơi có sáu mươi bảy cư dân.
Trong lúc bước đều lên phố, cô ngẫm nghĩ rằng thật khó mà tin nổi lại có thể có ngần ấy người cùng ở một nơi vào cùng một lúc. Chao ôi! Phải mất nhiều năm mới làm quen hết được. Lại toàn người sang trọng nữa chứ! Một quý ông cao lớn bảnh bao mặc áo sơ mi hồng mới tinh, cài kim cương, chứ không phải thứ áo lao động vải bò xanh bạc phếch. Một quý bà xinh đẹp mặc chiếc váy longery (nhưng chiếc váy ấy giặt hẳn phải khó kinh khủng). Còn những cửa hiệu!
Không phải chỉ có ba cửa hiệu như ở Scandia Crossing, mà dài hơn bốn dãy phố trọn vẹn!
Cửa hiệu Bon Ton—to bằng bốn cái nhà kho—chao ôi, chỉ bước vào đó thôi cũng đủ khiến người ta phát sợ, với bảy tám nhân viên cùng nhìn mình. Còn những bộ âu phục nam giới, mặc trên các hình nhân trông hệt người thật. Cả hiệu Axel Egge nữa, giống như ở quê nhà, bên trong có rất nhiều người Thụy Điển và Na Uy, cùng một vỉ cúc áo tuyệt đẹp, trông như những viên hồng ngọc.
Một hiệu dược phẩm có quầy soda thật khổng lồ, dài khủng khiếp, toàn bằng cẩm thạch đẹp tuyệt; trên quầy là một cây đèn lớn với cái chao to nhất mà người ta từng thấy—đủ mọi mảnh kính màu khác nhau ghép lại; còn các vòi soda thì bằng bạc, nhô thẳng ra từ chân đèn! Phía sau quầy là những kệ kính và những chai nước giải khát thuộc các loại mới lạ chưa ai từng nghe nói tới. Thử tưởng tượng một anh chàng đưa mình đến NƠI ẤY!
Một khách sạn cao khủng khiếp, cao hơn nhà kho đỏ mới của Oscar Tollefson; ba tầng, tầng nọ chồng ngay lên tầng kia; phải ngửa hẳn đầu ra sau mới nhìn rõ tới tận nóc. Trong đó có một người chào hàng bảnh bao—chắc hẳn ông ta đã đến Chicago rất nhiều lần.
Ôi, ở đây có những con người tuyệt nhất để làm quen! Một quý bà vừa đi ngang qua, trông chẳng lớn hơn Bea là bao; cô ấy mặc bộ đồ xám mới rất đẹp và đi giày bít mũi màu đen. Cô ấy gần như cũng đang quan sát khắp thị trấn. Nhưng không ai đoán được cô ấy nghĩ gì. Bea muốn được như thế—hơi trầm lặng, để không ai dám suồng sã. Hơi—ồ, thanh lịch.
Một nhà thờ Luther. Ở thành phố này hẳn sẽ có những bài giảng tuyệt vời, và mỗi Chủ nhật đi lễ hai lần, Chủ nhật NÀO CŨNG THẾ!
Lại còn một rạp chiếu bóng!
Một nhà hát đích thực, chỉ để chiếu phim. Với tấm biển “Thay chương trình mỗi tối.” Tối nào cũng có phim!
Scandia Crossing cũng có chiếu bóng, nhưng hai tuần mới có một lần, mà gia đình Sorenson phải đánh xe mất cả giờ mới tới nơi—cha cô keo kiệt đến nỗi không chịu mua một chiếc Ford. Nhưng ở đây, bất cứ tối nào cô cũng có thể đội mũ lên, đi bộ ba phút là tới rạp, được xem những chàng trai xinh đẹp mặc lễ phục, xem Bill Hart và đủ mọi thứ!
Làm sao họ có thể có nhiều cửa hiệu đến thế? Kìa! Có một hiệu chỉ bán riêng thuốc lá, và một hiệu khác (đẹp mê hồn—tên là Art Shoppy) bán tranh, bình hoa cùng đủ thứ, với—ôi chao—một chiếc bình tuyệt đẹp được làm cho giống hệt thân cây!
Bea đứng ở góc Phố Chính và đại lộ Washington. Tiếng gầm của thành phố bắt đầu khiến cô sợ. Có đến năm chiếc ô tô cùng chạy ngoài phố một lúc—mà một chiếc trong số ấy là chiếc xe lớn khủng khiếp, hẳn phải đáng giá hai nghìn đô-la—còn xe buýt đang khởi hành đón một chuyến tàu, chở năm chàng trai ăn vận thanh lịch, và một người đàn ông đang dán những tờ quảng cáo đỏ có hình máy giặt đẹp tuyệt, và người thợ kim hoàn đang bày vòng tay, đồng hồ đeo tay cùng ĐỦ MỌI THỨ trên nhung thật.
Cô còn cần gì chuyện có được trả sáu đô-la một tuần hay không? Hay hai đô-la! Chỉ để được phép ở lại đây thì làm không công cũng đáng. Và thử nghĩ xem buổi tối sẽ thế nào, mọi nơi đều sáng rực—không phải bằng đèn dầu, mà bằng đèn điện! Biết đâu lại có một người bạn trai đưa cô đi xem phim và mua cho cô một ly soda kem dâu!
Bea lầm lũi đi trở lại.
“Thế nào? Chị thích chứ?” Tina hỏi.
“Dạ. Tôi thích. Tôi nghĩ có lẽ tôi ở lại đây,” Bea nói.
IV
Ngôi nhà mới xây của Sam Clark, nơi tổ chức bữa tiệc chào đón Carol, là một trong những ngôi nhà lớn nhất Gopher Prairie. Nó có một dải ván ốp ngang sạch sẽ, dáng vuông vức vững chãi, một ngọn tháp nhỏ và một hàng hiên lớn quây lưới. Bên trong, nó bóng loáng, cứng cáp và vui tươi như một cây đàn piano đứng bằng gỗ sồi mới tinh.
Carol nhìn Sam Clark van lơn khi ông lăn tròn ra cửa và hét lớn: “Hoan nghênh quý cô bé nhỏ! Chìa khóa thành phố này là của cô!”
Qua vai ông, ngoài hành lang và trong phòng khách, nàng thấy các vị khách đang ngồi thành một vòng tròn mênh mông, nghiêm trang như thể họ dự một đám tang. Họ mới CHỜ ĐỢI làm sao! Họ đang chờ nàng! Quyết tâm hóa thành một đóa hoa nhỏ xinh toàn lòng cảm kích của nàng xì hơi mất sạch. Nàng nài nỉ Sam: “Tôi không dám đối mặt với họ! Họ trông đợi quá nhiều. Họ sẽ nuốt chửng tôi trong một miếng—ực!—như thế này!”
“Ôi dào, cô em, họ sẽ quý cô thôi—y như tôi sẽ quý cô nếu tôi không nghĩ bác sĩ đây sẽ nện tôi một trận!”
“Nh-nhưng—tôi không dám! Bao gương mặt bên phải, bao gương mặt phía trước, dồn dập nhìn và dò xét!”
Nàng tự nghe giọng mình như sắp cuồng loạn; nàng tưởng trong tai Sam Clark, mình hẳn giống một kẻ mất trí. Nhưng ông cười khẽ: “Nào, cô cứ nép dưới cánh Sam này, và nếu ai nghển cổ nhìn cô lâu quá, tôi sẽ đuổi họ đi. Ta tiến vào thôi! Hãy xem khói của tôi đây—Sam’l, niềm vui của các quý bà và nỗi kinh hoàng của các chàng rể!”
Quàng tay quanh nàng, ông dẫn nàng vào và oang oang: “Thưa các quý bà cùng những nửa kia tệ hơn, cô dâu đây! Ta chưa giới thiệu cô ấy với từng vị vội, vì đằng nào cô ấy cũng chẳng bao giờ nhớ đúng nổi mấy cái tên quỷ quái của các vị. Nào, giải tán cái mật nghị xử án này đi!”
Họ cười khúc khích một cách lịch sự, nhưng không rời bỏ sự an toàn giao tế của vòng tròn ấy, cũng không thôi nhìn chằm chằm.
Carol đã dốc cả sức sáng tạo vào việc ăn vận cho dịp này. Tóc nàng chải nền nã, rẽ ngôi, phủ thấp trên trán và cuộn thành búi. Giờ nàng lại ước mình đã búi nó lên cao. Chiếc váy batit của nàng là kiểu áo mỏng dành cho thiếu nữ ngây thơ, thắt dải lưng rộng màu vàng kim, cổ vuông khoét thấp, để lộ thoáng qua cần cổ và ôm theo đôi vai. Nhưng khi họ nhìn nàng từ đầu đến chân, nàng tin chắc mọi thứ đều sai cả. Lúc thì nàng ước mình đã mặc chiếc váy cổ cao kiểu gái già, lúc lại ước mình đã cả gan làm họ sửng sốt bằng chiếc khăn choàng đỏ gạch dữ dội mua ở Chicago.
Nàng được dẫn đi quanh vòng người. Giọng nàng máy móc thốt ra những câu vô thưởng vô phạt:
“Ồ, tôi chắc chắn mình sẽ vô cùng thích nơi này,” rồi “Vâng, chúng tôi đã có một quãng thời gian tuyệt vời ở Colorado—núi non,” rồi “Vâng, tôi từng sống ở St. Paul mấy năm. Euclid P. Tinker ư? Không, tôi không NHỚ đã gặp ông ấy, nhưng tôi khá chắc mình từng nghe nói đến ông ấy.”
Kennicott kéo nàng sang một bên và thì thầm: “Giờ anh sẽ giới thiệu từng người với em.”
“Trước hết hãy kể cho em nghe về họ.”
“À, cặp trông dễ coi đằng kia là Harry Haydock và vợ anh ta, Juanita. Cha Harry sở hữu phần lớn hiệu Bon Ton, nhưng chính Harry điều hành và làm cho nó có sinh khí. Anh ta tháo vát lắm. Người ngồi cạnh là Dave Dyer, chủ hiệu thuốc—em gặp anh ta chiều nay rồi đấy—một tay bắn vịt cừ khôi. Gã cao lớn lực lưỡng phía sau là Jack Elder—Jackson Elder—chủ xưởng bào gỗ, khách sạn Minniemashie House và một phần khá lớn Ngân hàng Quốc gia Nông dân. Anh ta và vợ đều chơi được—anh ta, Sam và anh thường đi săn cùng nhau. Lão già đằng kia là Luke Dawson, người giàu nhất thị trấn. Cạnh ông ta là Nat Hicks, thợ may.”
“Thật sao? Một người thợ may ư?”
“Đúng thế. Sao lại không? Có thể chúng ta chậm tiến, nhưng chúng ta dân chủ. Anh đi săn với Nat cũng như với Jack Elder thôi.”
“Em mừng đấy. Em chưa bao giờ giao thiệp với một người thợ may. Hẳn thật thú vị khi gặp một người mà không phải nghĩ đến món tiền mình còn nợ ông ta. Thế anh có—Anh cũng đi săn với thợ cắt tóc của mình à?”
“Không, nhưng—Chẳng việc gì phải đẩy cái chuyện dân chủ này đến chỗ quá quắt. Với lại, anh đã biết Nat nhiều năm rồi, hơn nữa, anh ta là một tay súng cừ khôi và—Chuyện là thế đấy, hiểu không? Cạnh Nat là Chet Dashaway. Một tay tán chuyện đại tài. Anh ta sẽ nói cho đến khi cánh tay em rụng xuống, về tôn giáo hay chính trị hay sách vở hay bất cứ thứ gì.”
Carol nhìn ông Dashaway, một người da rám nắng, miệng rộng, với vẻ gần giống như quan tâm một cách lịch sự. “Ồ, em biết rồi! Ông ấy là người bán đồ nội thất!” Nàng hết sức hài lòng với mình.
“Ừm, và anh ta còn lo việc mai táng nữa. Em sẽ thích anh ta. Lại bắt tay anh ta đi.”
“Ôi không, không! Ông ấy không—ông ấy không tự tay làm việc ướp xác cùng mọi thứ đấy chứ? Em không thể bắt tay một người làm nghề mai táng!”
“Sao lại không? Em hẳn sẽ tự hào được bắt tay một nhà phẫu thuật vĩ đại ngay sau khi ông ta vừa mổ xẻ bụng người ta.”
Nàng cố lấy lại vẻ bình tĩnh chín chắn của buổi chiều. “Vâng. Anh nói đúng. Em muốn—ôi, anh yêu, anh có biết em muốn quý những người anh quý đến mức nào không? Em muốn nhìn mọi người đúng như bản chất của họ.”
“Thế thì đừng quên nhìn mọi người đúng như những người khác nhìn thấy bản chất của họ! Họ có bản lĩnh đấy. Em có biết Percy Bresnahan xuất thân từ đây không? Sinh ra và lớn lên ngay tại đây!”
“Bresnahan?”
“Phải—em biết đấy—chủ tịch Công ty Ô tô Velvet ở Boston, Massachusetts—hãng chế tạo chiếc Velvet Twelve—nhà máy ô tô lớn nhất New England.”
“Hình như em từng nghe nói đến ông ấy.”
“Tất nhiên là em nghe rồi. Ông ta là triệu phú gấp mấy lần ấy chứ! Thế mà hầu như mùa hè nào Perce cũng trở lại đây câu cá vược đen, và ông ta bảo nếu có thể thoát khỏi công việc kinh doanh thì ông ta thà sống ở đây còn hơn ở Boston, New York hay bất cứ nơi nào như thế. ÔNG TA đâu bận tâm chuyện Chet làm nghề mai táng.”
“Thôi mà! Em sẽ—em sẽ quý tất cả mọi người! Em sẽ là tia nắng của cộng đồng!”
Chàng dẫn nàng đến chỗ vợ chồng Dawson.
Luke Dawson, người cho vay thế chấp, chủ những vùng đất phương Bắc đã bị khai quang hết gỗ, là một người đàn ông rụt rè trong bộ quần áo xám nhạt mềm mại không là lượt, đôi mắt lồi trên khuôn mặt trắng đục. Vợ ông có đôi má bạc màu, mái tóc bạc màu, giọng nói bạc màu, và cung cách cũng bạc màu. Bà mặc chiếc áo dài xanh đắt tiền, với phần ngực viền dải trang trí, những tua hạt cườm và các khe hở giữa hàng cúc sau lưng, cứ như thể đã mua lại nó và sợ gặp phải người chủ cũ. Hai người đều nhút nhát. Chính “Giáo sư” George Edwin Mott, giám đốc học khu, nom như một vị quan Trung Hoa đã ngả màu nâu, mới là người nắm tay Carol và niềm nở đón chào nàng.
Sau khi vợ chồng Dawson và ông Mott tuyên bố rằng họ “rất hân hạnh được gặp cô,” dường như chẳng còn gì để nói, nhưng câu chuyện vẫn tự động tiếp diễn.
“Cô có thích Gopher Prairie không?” bà Dawson rền rĩ hỏi.
“Ồ, tôi tin chắc mình sẽ vô cùng hạnh phúc.”
“Ở đây có rất nhiều người tử tế.” Bà Dawson nhìn sang ông Mott cầu viện về mặt giao tế lẫn trí tuệ. Ông diễn giảng:
“Dân ở đây thuộc hạng rất khá. Tôi không ưa một số lão nông về hưu dọn tới đây sống nốt những ngày cuối đời—nhất là bọn Đức. Họ ghét phải đóng thuế trường học. Họ ghét phải tiêu một xu. Nhưng những người còn lại đều thuộc hạng rất khá. Cô có biết Percy Bresnahan xuất thân từ đây không? Hồi trước học ngay trong ngôi trường cũ ấy đấy!”
“Tôi có nghe nói.”
“Phải. Anh ấy thật hết chỗ chê. Lần trước anh ấy về đây, tôi với anh ấy còn đi câu cùng nhau.”
Vợ chồng Dawson và ông Mott chênh chao trên đôi chân mỏi nhừ, mỉm cười với Carol bằng những nét mặt đông cứng. Nàng nói tiếp:
“Ông Mott, xin ông cho tôi biết: ông đã bao giờ thử nghiệm một hệ thống giáo dục mới nào chưa? Những phương pháp mẫu giáo hiện đại, hay hệ thống Gary chẳng hạn?”
“Ồ. Mấy thứ đó. Phần lớn những kẻ tự xưng là nhà cải cách ấy chỉ muốn kiếm tiếng mà thôi. Tôi tán thành việc dạy thủ công, nhưng tiếng La-tinh và toán học sẽ mãi mãi là xương sống của tinh thần Mỹ lành mạnh, bất kể đám cuồng mốt kia cổ xúy thứ gì—có trời mới biết họ muốn gì—đan len, chắc thế, rồi những lớp dạy ngọ nguậy tai!”
Vợ chồng Dawson mỉm cười tỏ lòng cảm kích vì được nghe một bậc uyên bác. Carol chờ Kennicott đến giải cứu. Những người còn lại chờ phép màu khiến họ được vui thú.
Harry và Juanita Haydock, Rita Simons và bác sĩ Terry Gould—nhóm trẻ sành điệu của Gopher Prairie. Nàng được dẫn đến chỗ họ. Juanita Haydock cất giọng the thé, lanh lảnh mà thân thiện, ào tới với nàng:
“Ôi, có cô ở đây thật là TUYỆT. Chúng ta sẽ tổ chức những cuộc vui ra trò—khiêu vũ và đủ mọi thứ. Cô phải gia nhập Hội Mười Bảy Vui Vẻ. Chúng tôi chơi bài bridge và mỗi tháng dùng bữa tối với nhau một lần. Tất nhiên cô biết chơi chứ?”
“K-không, tôi không biết.”
“Thật sao? Ở St. Paul mà?”
“Tôi xưa nay chỉ là một con mọt sách.”
“Chúng tôi sẽ phải dạy cô mới được. Bài bridge là một nửa thú vui của đời người.” Juanita đã chuyển sang vẻ bề trên, và cô ta liếc thiếu thiện cảm chiếc đai lưng màu vàng kim của Carol mà trước đó mình từng ngưỡng mộ.
Harry Haydock lịch sự hỏi: “Cô nghĩ mình sẽ thích cái thị trấn cũ kỹ này đến mức nào?”
“Tôi tin chắc mình sẽ thích vô cùng.”
“Người ở đây tốt nhất trần đời. Lại tháo vát hết sức. Dĩ nhiên tôi đã có khối cơ hội chuyển đến Minneapolis sống, nhưng chúng tôi thích nơi này. Một thị trấn đàn ông đích thực. Cô có biết Percy Bresnahan xuất thân từ đây không?”
Carol nhận ra rằng mình đã bị suy yếu trong cuộc đấu tranh sinh tồn vì để lộ chuyện không biết chơi bridge. Bị thôi thúc bởi khát vọng căng thẳng muốn giành lại vị thế, nàng quay sang bác sĩ Terry Gould, vị bác sĩ trẻ, tay chơi bi-da và cũng là đối thủ của chồng nàng. Đôi mắt nàng lả lơi với anh ta trong lúc nàng tuôn lời hồ hởi:
“Tôi sẽ học bridge. Nhưng điều tôi thực sự yêu thích nhất là hoạt động ngoài trời. Sao tất cả chúng ta không tổ chức một chuyến chèo thuyền, đi câu, hay làm bất cứ việc gì các vị vẫn làm, rồi sau đó ăn tối ngoài trời?”
“Thế mới phải chứ!” bác sĩ Gould tán thành. Anh ta nhìn phần vai trắng mịn, xuôi mềm của nàng hơi lộ liễu quá mức. “Thích câu cá à? Câu cá là tên đệm của tôi đấy. Tôi sẽ dạy cô chơi bridge. Cô có thích bất cứ loại bài nào không?”
“Trước đây tôi chơi bézique khá giỏi.”
Nàng biết bézique là một trò chơi bài—hoặc một trò gì khác. Có thể là cò quay. Nhưng lời nói dối của nàng đã đại thắng. Khuôn mặt xinh đẹp, hồng hào, hơi giống mặt ngựa của Juanita lộ vẻ ngờ vực. Harry vuốt mũi, khiêm nhường nói: “Bézique à? Trước kia đó là trò cờ bạc lớn lắm, phải không?”
Trong lúc những người khác lững thững nhập vào nhóm của nàng, Carol chộp lấy câu chuyện. Nàng cười, đùa cợt, và có phần giòn gượng. Nàng không còn phân biệt nổi mắt ai với mắt ai. Trước mặt nàng là một đám khán giả nhà hát nhòe mờ, và nàng, đầy ý thức về chính mình, diễn cho họ xem vở hài kịch mang tên Cô Vợ Bé Nhỏ Thông Minh của Bác sĩ Kennicott:
“Những Không Gian Bao La trứ danh ở đây, đó mới là thứ tôi nhắm tới. Từ nay tôi sẽ chẳng đọc gì ngoài trang thể thao nữa. Will đã cải hóa tôi trong chuyến đi Colorado. Có quá nhiều du khách nhát như chuột, không dám bước khỏi xe buýt, nên tôi quyết định hóa thành Annie Oakley, Nữ Ma Cà Rồng Miền Tây Hoang Dã, rồi tôi mua—ôi chao!—một chiếc váy om sòm để lộ đôi mắt cá chân hoàn toàn đoan trang của mình trước ánh trừng trừng kiểu Trưởng Lão giáo của tất cả các bà cô giáo xứ Iowa, và tôi nhảy từ đỉnh núi này sang đỉnh núi khác như loài sơn dương lanh lẹ, rồi——Các vị có thể tưởng ngài bác sĩ Kennicott là một Nimrod, nhưng phải thấy tôi thách chàng cởi trần chỉ còn chiếc quần lót B.V.D. rồi xuống bơi trong một con suối núi lạnh như băng mới được.”
Nàng biết họ đang tính xem có nên sửng sốt vì chướng tai hay không, nhưng ít ra Juanita Haydock cũng tỏ vẻ thán phục. Nàng tiếp tục nghênh ngang:
“Tôi chắc mình sẽ làm Will mất hết tư cách của một thầy thuốc đứng đắn——Anh ấy có phải bác sĩ giỏi không, bác sĩ Gould?”
Đối thủ của Kennicott há hốc trước sự xúc phạm đạo đức nghề nghiệp ấy, và phải mất hẳn một giây đáng kể mới lấy lại được cung cách xã giao. “Để tôi nói cho bà biết, bà Kennicott.” Anh ta mỉm cười với Kennicott, ngụ ý rằng bất cứ điều gì mình có thể nói dưới áp lực phải tỏ ra dí dỏm đều không được dùng để chống lại mình trong cuộc chiến thương mại-y khoa. “Có vài người trong thị trấn bảo bác sĩ nhà ta chẩn đoán và kê đơn cũng tạm được, nhưng để tôi nói nhỏ với bà điều này—mà lạy trời, xin đừng cho anh ấy biết tôi nói nhé—bà đừng bao giờ tìm đến anh ấy vì một chứng gì nghiêm trọng hơn ca cắt ruột thừa ở tai trái hoặc chứng lác của máy ghi tim.”
Ngoài Kennicott, không ai biết chính xác câu ấy nghĩa là gì, nhưng họ vẫn cười, và buổi tiệc của Sam Clark khoác lấy sắc vàng chanh lấp lánh của những tấm vách bọc gấm, rượu sâm banh, vải tuyn, đèn chùm pha lê và các nữ công tước mê thể thao. Carol thấy George Edwin Mott cùng ông bà Dawson bạc phếch vẫn chưa bị thôi miên. Họ nom như đang tự hỏi liệu mình có nên tỏ ra như thể không tán thành hay không. Nàng dồn sức vào họ:
“Nhưng tôi biết người mà tôi chẳng dám cùng đi Colorado rồi! Ông Dawson đằng kia! Tôi chắc ông ấy là tay chuyên làm tan nát trái tim phụ nữ. Khi chúng tôi được giới thiệu với nhau, ông ấy cứ giữ tay tôi rồi bóp khiếp lắm.”
“Ha! Ha! Ha!” Toàn thể cử tọa vỗ tay tán thưởng. Ông Dawson được phong thánh. Người ta từng gọi ông bằng nhiều cái tên—cá mập cho vay, đồ bủn xỉn, lão keo kiệt, kẻ rón rén hai mang—nhưng trước đây chưa từng ai gọi ông là một tay ve gái.
“Ông ấy hư lắm, phải không bà Dawson? Bà không phải khóa ông ấy lại sao?”
“Ồ không, nhưng có lẽ tôi nên làm thế,” bà Dawson cố đối đáp, một chút ửng hồng hiện lên trên khuôn mặt nhợt nhạt.
Carol duy trì cuộc vui như thế suốt mười lăm phút. Nàng tuyên bố mình sẽ dàn dựng một vở hài ca nhạc, rằng nàng thích món kem parfait ở quán cà phê hơn bít-tết, rằng nàng mong bác sĩ Kennicott không bao giờ đánh mất tài tán tỉnh những phụ nữ quyến rũ, và rằng nàng có một đôi bít tất vàng kim. Họ há hốc miệng chờ thêm. Nhưng nàng không thể tiếp tục được nữa. Nàng rút về một chiếc ghế sau thân hình đồ sộ của Sam Clark. Những nếp cười trên mặt tất cả các cộng sự khác trong công cuộc mở tiệc nghiêm trang giãn phẳng ra, và họ lại đứng quanh, hy vọng nhưng không trông đợi mình sẽ được mua vui.
Carol lắng nghe. Nàng phát hiện ra rằng ở Gopher Prairie không hề tồn tại chuyện trò. Ngay cả trong cuộc tụ họp quy tụ nhóm trẻ sành điệu, giới điền chủ mê săn bắn, giới trí thức khả kính và giới tài chính vững vàng này, họ vẫn ngồi canh niềm vui như ngồi canh một xác chết.
Juanita Haydock nói khá nhiều bằng giọng lanh lảnh, nhưng lúc nào cũng chỉ xoay quanh chuyện người này người nọ: lời đồn Raymie Wutherspoon sắp đặt mua một đôi giày da láng có cổ màu xám cài cúc; bệnh thấp khớp của Champ Perry; tình hình chứng cúm của Guy Pollock; và cơn điên của Jim Howland khi sơn hàng rào màu hồng cá hồi.
Sam Clark đang nói chuyện xe hơi với Carol, nhưng ông sực nhớ bổn phận chủ nhà. Trong lúc nói đều đều, đôi mày ông nhảy lên hạ xuống. Ông tự ngắt lời: “Phải khuấy họ lên mới được.” Ông băn khoăn hỏi vợ: “Bà có nghĩ tôi nên khuấy họ lên không?” Ông chen vai vào giữa phòng và hô:
“Nào mọi người, ta diễn vài tiết mục đi.”
“Phải đấy, diễn đi!” Juanita Haydock ré lên.
“Này Dave, diễn cho chúng tôi cái trò anh chàng Na Uy bắt gà mái đi.”
“Nhất trí; tiết mục ấy cừ lắm; diễn đi, Dave!” Chet Dashaway cổ vũ.
Ông Dave Dyer vui lòng chiều ý.
Tất cả khách khứa đều mấp máy môi, háo hức chờ được gọi lên trình diễn tiết mục riêng của mình.
“Ella, lên ngâm bài ‘Người yêu xưa của tôi’ cho chúng tôi nghe đi,” Sam yêu cầu.
Cô Ella Stowbody, người con gái không chồng của ngân hàng Ionic, cọ hai lòng bàn tay khô khốc vào nhau và đỏ mặt. “Ôi, mọi người đâu muốn nghe lại cái bài cũ ấy nữa.”
“Có chứ! Nhất định rồi!” Sam quả quyết.
“Tối nay giọng tôi tệ lắm.”
“Xì! Lên đi nào!”
Sam lớn tiếng giải thích với Carol: “Ella là cao thủ ngâm diễn của chúng tôi đấy. Cô ấy được đào tạo chuyên nghiệp hẳn hoi. Cô ấy từng học thanh nhạc, thuật diễn thuyết, nghệ thuật kịch và tốc ký suốt một năm ở Milwaukee.”
Cô Stowbody bắt đầu ngâm. Để đáp lại lời yêu cầu diễn thêm sau bài “Người yêu xưa của tôi,” cô trình bày một bài thơ lạc quan khác thường về giá trị của những nụ cười.
Còn bốn tiết mục nữa: một tiết mục Do Thái, một tiết mục Ireland, một tiết mục trẻ con, và màn nhại bài điếu văn của Mark Antony do Nat Hicks trình diễn.
Trong mùa đông ấy, Carol rồi sẽ nghe màn bắt chước bắt gà mái của Dave Dyer bảy lần, “Người yêu xưa của tôi” chín lần, câu chuyện Do Thái và bài điếu văn mỗi thứ hai lần; nhưng lúc này nàng còn nồng nhiệt, và bởi nàng thực lòng muốn được vui vẻ và hồn nhiên, nên khi các tiết mục chấm dứt, nàng cũng thất vọng như những người khác, và buổi tiệc lập tức lại chìm vào hôn mê.
Họ thôi cố tỏ ra vui nhộn; họ bắt đầu nói chuyện một cách tự nhiên, như vẫn nói ở cửa hiệu và ở nhà.
Đàn ông và đàn bà tách riêng, như họ vẫn có khuynh hướng làm suốt buổi tối. Carol bị cánh đàn ông bỏ rơi, để lại giữa một nhóm các bà vợ đều đều ríu rít chuyện con cái, bệnh tật và người làm bếp—chuyện nghề nghiệp của riêng họ. Nàng tự ái. Nàng nhớ đến những hình dung về chính mình trong vai một phụ nữ có chồng sành đời ở phòng khách, đấu khẩu với những người đàn ông thông minh. Nỗi chán nản được xoa dịu bởi sự tò mò muốn biết cánh đàn ông đang bàn gì trong góc phòng giữa đàn dương cầm và máy hát. Liệu họ có vượt lên khỏi những chuyện cá nhân vụn vặt của giới nội trợ để đến với thế giới rộng lớn hơn của tư tưởng trừu tượng và những đại sự chăng?
Nàng nhún gối chào bà Dawson bằng động tác duyên dáng nhất; nàng ríu rít: “Tôi không để chồng mình bỏ tôi sớm thế đâu! Tôi sẽ sang kia kéo tai cái đồ tệ bạc ấy.” Nàng đứng dậy với một cái cúi chào kiểu thiếu nữ. Nàng mải mê với mình và tự tán thưởng vì đã đạt tới cái phẩm chất ủy mị ấy. Nàng kiêu hãnh lướt ngang căn phòng và, trước sự chú ý cùng tán thưởng của tất cả những người chứng kiến, ngồi lên tay ghế của Kennicott.
Chàng đang tán gẫu với Sam Clark, Luke Dawson, Jackson Elder ở xưởng bào gỗ, Chet Dashaway, Dave Dyer, Harry Haydock và Ezra Stowbody, chủ tịch ngân hàng Ionic.
Ezra Stowbody là một người tiền sử sống trong hang. Ông đến Gopher Prairie năm 1865. Ông là một con chim săn mồi có đường bệ—chiếc mũi gầy quặp xuống, cái miệng rùa, đôi mày rậm, hai má màu rượu vang đỏ, một nhúm tóc trắng phơ, đôi mắt khinh miệt. Ông không vui trước những biến đổi xã hội trong ba mươi năm qua. Ba thập niên trước, bác sĩ Westlake, luật sư Julius Flickerbaugh, mục sư giáo đoàn Merriman Peedy và chính ông từng là những người phân xử tối cao. Như thế mới phải đạo; các nghệ thuật cao quý—y học, luật pháp, tôn giáo và tài chính—được công nhận là thuộc giới quý tộc; bốn người Yankee vừa dân chủ chuyện trò với dân Ohio, dân Illinois, người Thụy Điển và người Đức đã mạo hiểm đi theo họ, vừa cai quản tất cả. Nhưng Westlake đã già, gần như nghỉ hẳn; Julius Flickerbaugh mất phần lớn khách hàng vào tay những luật sư nhanh nhẹn hơn; Mục sư (chứ không phải Đức Cha) Peedy đã chết; còn trong thời đại xe hơi mục nát này, chẳng ai ấn tượng với “đôi ngựa xám sung sức” mà Ezra vẫn đánh xe. Thị trấn đã tạp chủng chẳng khác Chicago. Người Na Uy và người Đức làm chủ các cửa hiệu. Những kẻ đứng đầu xã hội chỉ là phường con buôn tầm thường. Bán đinh cũng được coi thiêng liêng ngang với nghề ngân hàng. Bọn mới phất này—những Clark, những Haydock—chẳng có chút phẩm giá nào. Về chính trị, họ đứng đắn và bảo thủ, nhưng họ nói về xe hơi, súng săn nạp đạn bằng bơm và có trời mới biết những mốt tân kỳ nào khác. Ông Stowbody cảm thấy lạc lõng giữa họ. Nhưng ngôi nhà gạch mái mansard của ông vẫn là tư dinh lớn nhất thị trấn, và ông duy trì địa vị bậc thân hào bằng cách thỉnh thoảng xuất hiện giữa đám đàn ông trẻ, dùng ánh mắt giá buốt nhắc họ nhớ rằng không có chủ ngân hàng thì chẳng kẻ nào trong bọn họ có thể tiếp tục những công việc kinh doanh thô tục của mình.
Khi Carol bất chấp phép tắc mà ngồi xuống với cánh đàn ông, ông Stowbody đang cất giọng the thé hỏi ông Dawson: “Này Luke, Biggins đến định cư lần đầu ở xã Winnebago là khi nào ấy nhỉ? Chẳng phải năm 1879 sao?”
“Sao lại thế, đâu phải!” Ông Dawson phẫn nộ. “Ông ta từ Vermont đến năm 1867—không, khoan, hẳn phải là năm 1868—rồi khai khẩn một khoảnh đất bên sông Rum, mãi tít phía trên Anoka.”
“Không phải!” ông Stowbody gầm lên. “Ông ấy định cư đầu tiên ở Blue Earth County, ông ấy và cha ông ấy!”
(“Họ đang tranh cãi chuyện gì vậy?”) Carol thì thầm hỏi Kennicott.
(“Xem lão Biggins ấy nuôi một con chó săn giống setter Anh hay giống Llewellyn. Họ cãi nhau chuyện đó suốt cả tối rồi!”)
Dave Dyer xen vào báo tin: “Tôi đã kể mọi người nghe Clara Biggins vào thị trấn mấy hôm trước chưa nhỉ? Cô ta mua một cái túi chườm nước nóng—lại còn loại đắt tiền nữa chứ—hai đô-la ba mươi xu!”
“Ờờờờ!” ông Stowbody gằn giọng. “Tất nhiên. Cô ta giống hệt ông nội mình. Chẳng bao giờ để dành được một xu. Hai đô-la hai mươi—ba mươi, phải không?—hai đô-la ba mươi xu cho một cái túi chườm nước nóng! Quấn một viên gạch trong cái váy lót nỉ thì cũng tốt chán!”
“A-mi-đan của Ella thế nào rồi, ông Stowbody?” Chet Dashaway vừa ngáp vừa hỏi.
Trong khi ông Stowbody trình bày một công trình khảo cứu về cả thể chất lẫn tâm lý của đôi a-mi-đan ấy, Carol nghĩ: “Họ thật sự quan tâm khủng khiếp đến a-mi-đan của Ella, hay thậm chí đến thực quản của Ella, đến thế sao? Không biết mình có thể kéo họ ra khỏi những chuyện cá nhân không? Cứ liều chuốc lấy sự đọa đày mà thử xem.”
“Quanh đây không xảy ra nhiều rắc rối về lao động, phải không ông Stowbody?” nàng ngây thơ hỏi.
“Không, thưa bà, tạ ơn Chúa, chúng tôi không mắc phải cái nạn ấy, có chăng chỉ là với đám đầy tớ gái và người làm thuê ở nông trại. Đối phó với bọn nông dân ngoại quốc này đã đủ phiền rồi; không để mắt đến đám người Thụy Điển ấy là phút chốc chúng theo chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa dân túy hay một thứ ngu xuẩn nào đó ngay. Tất nhiên, nếu chúng có vay tiền thì ta có thể bắt chúng biết điều. Tôi chỉ việc bảo chúng đến ngân hàng nói chuyện, rồi dạy cho chúng vài điều. Tôi không quá bận tâm nếu chúng theo đảng Dân chủ, nhưng tôi không dung thứ bọn xã hội chủ nghĩa quanh đây. Song tạ ơn Chúa, chúng tôi không có nạn lao động như ở mấy thành phố ấy. Ngay Jack Elder đây cũng khá yên ổn ở xưởng bào gỗ, phải không Jack?”
“Phải. Tất nhiên. Chỗ tôi không cần nhiều thợ lành nghề lắm, mà chính lắm tay thợ cơ khí lành nghề gàn dở, tham lương, đầu óc nửa mùa ấy gây ra rắc rối—đọc cả đống sách báo vô chính phủ với báo chí công đoàn và đủ thứ.”
“Ông có tán thành lao động công đoàn không?” Carol hỏi ông Elder.
“Tôi ấy à? Nhất định là không! Chuyện là thế này: tôi không ngại làm việc với người của mình nếu họ cho rằng họ có điều gì bất mãn—mặc dù có Chúa mới biết ngày nay công nhân mắc chứng gì—chẳng biết quý một công việc tốt. Nhưng dù sao, nếu họ thành thật đến gặp tôi, đàn ông nói chuyện với đàn ông, tôi sẽ cùng họ bàn bạc. Nhưng tôi sẽ không để một kẻ ngoài cuộc nào, bất kỳ tên đại biểu lưu động nào, hay bây giờ chúng tự gọi mình bằng cái tên hoa mỹ gì đi nữa—một lũ trục lợi giàu sụ, sống bám vào đám công nhân dốt nát!—tôi sẽ không để bất kỳ tên nào trong bọn ấy chõ mũi vào mà bảo TÔI phải điều hành công việc của TÔI ra sao!”
Ông Elder càng lúc càng kích động, càng hiếu chiến và ái quốc. “Tôi bênh vực tự do và các quyền hiến định. Kẻ nào không thích xưởng của tôi thì cứ đứng dậy mà xéo. Cũng thế, nếu tôi không thích hắn thì hắn xéo. Chỉ có vậy thôi. Tôi thật không sao hiểu nổi tất cả những chuyện rắc rối, những trò rườm rà vớ vẩn, những báo cáo của chính phủ, những thang lương và có Chúa mới biết còn thứ gì nữa mà bọn ấy dùng để làm rối tung vấn đề lao động, trong khi mọi chuyện vốn hoàn toàn đơn giản. Chúng thích mức lương tôi trả thì ở, không thì cút. Chỉ có vậy thôi!”
“Ông nghĩ sao về việc chia sẻ lợi nhuận?” Carol đánh bạo hỏi.
Ông Elder gầm vang câu trả lời, trong khi những người khác trang nghiêm gật đầu cùng một nhịp, như một tủ kính bày những món đồ chơi mềm dẻo—quan lại, quan tòa, vịt và hề ngộ nghĩnh—đang rung rinh vì luồng gió từ cánh cửa mở:
“Tất cả những trò chia sẻ lợi nhuận, phúc lợi, bảo hiểm và lương hưu tuổi già ấy chỉ là chuyện nhảm nhí. Chúng làm suy yếu tính tự lập của người lao động—lại còn phung phí biết bao lợi nhuận lương thiện. Mấy tay tư tưởng nửa mùa còn chưa ráo máu đầu, mấy mụ đòi quyền bầu cử, rồi có Chúa mới biết còn những kẻ chõ mũi nào đang cố bảo một nhà kinh doanh phải điều hành công việc ra sao, cùng với một số giáo sư đại học cũng chẳng khá hơn là bao—toàn bộ cả lũ ấy, trên cõi đời của Chúa, chẳng là gì khác ngoài chủ nghĩa xã hội trá hình! Và bổn phận thiêng liêng của tôi, với tư cách một nhà sản xuất, là chống lại mọi cuộc tấn công vào sự toàn vẹn của nền công nghiệp Hoa Kỳ cho đến chiến hào cuối cùng. Đúng—THẾ, THƯA QUÝ VỊ!”
Ông Elder lau trán.
Dave Dyer nói thêm: “Phải! Chắc chắn rồi! Điều họ nên làm đơn giản là treo cổ hết thảy bọn kích động ấy, thế là giải quyết xong ngay mọi chuyện. Bác sĩ có thấy vậy không?”
“Chắc chắn rồi,” Kennicott tán thành.
Cuối cùng, cuộc trò chuyện cũng thoát khỏi tai họa là những lời xen ngang của Carol, và họ chuyên tâm bàn xem viên thẩm phán hòa giải đã tống gã lang thang say rượu nọ vào tù mười ngày hay mười hai ngày. Đó là một vấn đề không dễ gì xác định. Rồi Dave Dyer kể lại những cuộc phiêu lưu vô ưu trên nẻo đường lãng du:
“Phải. Tôi chơi chiếc xe cà tàng ấy khoái lắm. Khoảng một tuần trước tôi lái xe xuống New Wurttemberg. Chỗ ấy cách bốn mươi ba—Không, để xem nào: từ đây đến Belldale là mười bảy dặm, rồi khoảng sáu dặm ba phần tư, cứ tính là bảy, đến Torgenquist, và từ đó đến New Wurttemberg phải đủ mười chín dặm—mười bảy cộng bảy cộng mười chín, thành, ờ, để tôi xem: mười bảy cộng bảy là hai mươi bốn, thêm mười chín, thôi cứ tính thêm hai mươi, thành bốn mươi bốn, dù sao thì cứ cho là từ đây đến New Wurttemberg khoảng bốn mươi ba hay bốn mươi bốn dặm. Chúng tôi khởi hành khoảng bảy giờ mười lăm, có lẽ là bảy giờ hai mươi, vì tôi phải dừng lại đổ đầy két nước, rồi chúng tôi cứ thế chạy, giữ một tốc độ đều đều khá tốt—”
Cuối cùng ông Dyer quả đã đến được New Wurttemberg, vì những lý do và mục đích đã được thừa nhận và biện minh đầy đủ.
Chỉ một lần—duy nhất một lần—sự hiện diện của kẻ xa lạ Carol được ghi nhận. Chet Dashaway cúi sang, nói bằng giọng khò khè: “Này, ờ, cô có đọc truyện dài kỳ ‘Two Out’ trên Tingling Tales không? Truyện tuyệt cú mèo! Trời đất, cái anh chàng viết truyện ấy quả thật biết tung ra tiếng lóng bóng chày!”
Những người khác cố ra vẻ văn chương. Harry Haydock góp chuyện: “Juanita rất mê đọc những thứ cao cấp, như ‘Giữa Rừng Mộc Lan’ của Sara Hetwiggin Butts này, rồi ‘Những Kỵ Sĩ Trại Reckless’. Sách ấy mà. Còn tôi,” anh ta trịnh trọng đảo mắt nhìn quanh, như một người tin chắc chưa từng có bậc anh hùng nào khác lâm vào cảnh ngộ lạ lùng đến thế, “tôi bận chết đi được, chẳng có mấy thì giờ đọc.”
“Tôi không bao giờ đọc thứ gì mà mình không thể đối chiếu kiểm chứng,” Sam Clark nói.
Đến đó là kết thúc phần văn chương của cuộc trò chuyện, và trong bảy phút, Jackson Elder trình bày những lý do khiến ông tin rằng câu cá chó ở bờ tây hồ Minniemashie tốt hơn ở bờ đông—mặc dù quả thật ở bờ đông Nat Hicks đã câu được một con cá chó hoàn toàn đáng ngưỡng mộ.
Câu chuyện tiếp diễn. Quả là nó cứ tiếp diễn mãi! Giọng họ đều đều, đặc sệt, quyết liệt. Họ phô trương một cách thô bạo, như những người đàn ông trong toa hút thuốc của tàu Pullman. Họ không làm Carol buồn chán. Họ khiến nàng sợ hãi. Nàng thở hổn hển: “Họ sẽ thân mật với mình, bởi người đàn ông của mình thuộc bộ lạc họ. Chúa cứu mình nếu mình là kẻ ngoài cuộc!”
Vẫn mỉm cười bất biến như một pho tượng nhỏ bằng ngà, nàng ngồi im, tránh suy nghĩ, đưa mắt nhìn quanh phòng khách và tiền sảnh, ghi nhận cách chúng phơi bày một sự sung túc thương mại thiếu óc tưởng tượng. Kennicott nói: “Nội thất tuyệt chứ, hả? Theo anh, nhà cửa phải được bày biện thế này mới đúng. Hiện đại.” Nàng giữ vẻ lịch sự và quan sát sàn nhà quét dầu, cầu thang gỗ cứng, lò sưởi không dùng đến với những viên gạch lát trông như vải sơn nâu, những lọ thủy tinh cắt đặt trên khăn lót nhỏ, cùng những tủ sách ghép ô có chấn song, đóng kín, nom lạnh lùng xua đuổi, bên trong chất đầy một nửa những tiểu thuyết phiêu lưu đao kiếm và những bộ Dickens, Kipling, O. Henry cùng Elbert Hubbard trông như chưa hề được đọc.
Nàng nhận thấy ngay cả chuyện riêng tư của người khác cũng không còn đủ sức níu giữ buổi tụ họp. Sự ngập ngừng tràn ngập căn phòng như sương mù. Người ta hắng giọng, cố nén những cái ngáp. Đàn ông giật thẳng cổ tay áo, đàn bà cài lược chắc hơn vào búi tóc sau gáy.
Rồi một tiếng lách cách, một niềm hy vọng táo bạo trong mọi ánh mắt, cánh cửa bật mở, mùi cà phê đặc sực lên, và giọng eo éo của Dave Dyer đắc thắng reo: “Đồ ăn!” Họ bắt đầu ríu rít chuyện trò. Họ đã có việc để làm. Họ có thể thoát khỏi chính mình. Họ nhào vào thức ăn—bánh mì kẹp thịt gà, bánh ngọt xi-rô phong, kem mua ở hiệu thuốc. Ngay cả khi thức ăn đã hết, họ vẫn vui vẻ. Giờ thì bất cứ lúc nào họ cũng có thể về nhà và đi ngủ!
Họ ra về giữa một trận xao xác của áo khoác, khăn voan và những lời từ biệt.
Carol và Kennicott đi bộ về nhà.
“Em có thích họ không?” anh hỏi.
“Họ tử tế với em vô cùng.”
“Ờ, Carrie—Em nên cẩn thận hơn, đừng làm mọi người sửng sốt. Nào là nói về tất vàng, rồi khoe mắt cá chân với các thầy giáo, với đủ thứ!” Dịu giọng hơn: “Em đã làm họ vui lắm, nhưng nếu là em, anh sẽ dè chừng chuyện ấy. Juanita Haydock đúng là một con mèo nanh nọc. Anh sẽ không cho cô ta cơ hội chê bai mình đâu.”
“Nỗ lực đáng thương của em nhằm làm buổi tụ họp vui lên! Em cố mua vui cho họ là sai sao?”
“Không! Không! Em yêu, anh đâu có ý—Em là người duy nhất hoạt bát trong cả đám. Anh chỉ muốn nói—Đừng lôi chân cẳng với tất cả những chuyện vô luân ấy ra. Một đám khá bảo thủ.”
Nàng im lặng, đau rát vì ý nghĩ nhục nhã rằng cái vòng người chăm chú ấy có lẽ đã phê phán nàng, cười nhạo nàng.
“Đừng, xin em đừng lo!” anh van nài.
“Im lặng.”
“Trời đất; anh xin lỗi đã nói chuyện ấy. Anh chỉ muốn—Nhưng họ mê em lắm. Sam bảo anh: ‘Cô vợ bé nhỏ của anh là người lanh lợi nhất từng đặt chân đến thị trấn này,’ anh ấy nói thế; còn bà Dawson—anh hầu như không biết bà ấy có thích em hay không, bà ấy là một con chim già khô quắt, nhưng bà ấy bảo: ‘Cô dâu của cậu thật nhanh nhẹn, sáng dạ; tôi nói thật, cô ấy làm tôi tỉnh cả người.’”
Carol thích lời khen, thích hương vị và độ béo ngậy của nó, nhưng nàng đang hăng hái tự thương thân đến mức không sao nếm được lời tán thưởng này.
“Thôi nào! Đi mà! Vui lên!” Đôi môi anh nói thế, bờ vai lo âu của anh nói thế, cánh tay ôm lấy nàng nói thế, khi họ dừng lại trên hiên nhà chìm trong bóng tối.
“Anh có bận tâm nếu họ cho rằng em phù phiếm không, Will?”
“Anh ấy à? Chà, anh chẳng bận tâm dù cả thế giới nghĩ em là thế này, thế nọ hay bất cứ thứ gì khác. Em là—chà, em là linh hồn của anh!”
Anh là một khối mơ hồ, trông rắn chắc như đá. Nàng tìm thấy tay áo anh, véo lấy nó, kêu lên: “Em vui quá! Được người khác cần đến thật ngọt ngào! Anh phải dung thứ cho tính phù phiếm của em. Em chỉ có mình anh!”
Anh nhấc bổng nàng lên, bế nàng vào nhà, và với hai tay ôm quanh cổ anh, nàng quên mất Phố Chính.