Phố chính — Chương 5

Chương 6 / 40 · Bài review Phố chính

I

“Ta sẽ trộm lấy cả ngày hôm nay mà đi săn. Anh muốn em ngắm miền quê quanh đây,” Kennicott tuyên bố trong bữa sáng. “Anh định lấy ô tô—muốn em xem nó chạy tuyệt thế nào từ khi anh lắp pít-tông mới. Nhưng ta sẽ đi xe ngựa, để có thể vào thẳng ngoài đồng. Bây giờ chẳng còn mấy gà thảo nguyên, song biết đâu ta lại tình cờ gặp một đàn nhỏ.”

Anh tíu tít lo bộ đồ săn. Anh kéo đôi ủng cao tới hông ra hết chiều dài rồi xem có thủng chỗ nào không. Anh hăm hở đếm đạn súng săn, giảng giải cho nàng về những phẩm chất của thuốc súng không khói. Anh rút khẩu súng săn không búa mới khỏi chiếc bao da nâu sẫm nặng nề, bảo nàng nhìn qua hai nòng súng để thấy chúng sạch bóng, không một vết gỉ đến chói mắt ra sao.

Thế giới của săn bắn, dụng cụ cắm trại và đồ câu cá còn xa lạ với nàng, và trong niềm say mê của Kennicott, nàng tìm thấy một điều gì đó đầy sáng tạo và vui sướng. Nàng xem xét báng súng nhẵn bóng, miếng đệm bằng cao su cứng chạm trổ ở đuôi báng. Những viên đạn, với đầu bọc đồng, thân xanh bóng và các hình tự bí hiểm trên nút đạn, mát lạnh và nặng đằm dễ chịu trong tay nàng.

Kennicott mặc áo săn bằng vải bạt nâu, bên trong là những chiếc túi mênh mông, quần nhung kẻ phồng lên ở các nếp nhăn, giày tróc da đầy vết xước, và chiếc mũ phớt nom như của bù nhìn. Trong bộ trang phục ấy, anh cảm thấy mình thật cường tráng. Họ bước thình thịch ra chiếc xe ngựa thuê, chất bộ đồ săn và hộp thức ăn ra phía sau, luôn miệng reo với nhau rằng hôm nay trời đẹp tuyệt.

Kennicott đã mượn con chó săn Anh lông trắng khoang đỏ của Jackson Elder, một con vật điềm nhiên với chiếc đuôi phủ lông óng bạc ve vẩy, nhấp nháy dưới ánh nắng. Khi họ khởi hành, con chó sủa ăng ẳng và chồm vào đầu hai con ngựa, cho tới khi Kennicott đưa nó lên xe; ở đó, nó rúc mõm vào đầu gối Carol rồi nghển ra ngoài, khinh khỉnh với lũ chó lai ở các trang trại.

Đôi ngựa xám lóc cóc chạy ra con đường đất cứng, tiếng vó ngân thành một khúc hát vui tai: “Ta ta ta rát! Ta ta ta rát!” Trời còn sớm và tinh khôi, gió rít trong không khí, sương giá sáng lấp lánh trên những bụi cúc hoàng anh. Khi mặt trời sưởi thế giới đồng rạ thành một biển vàng hỗn độn, họ rời đường cái, đi qua những thanh chắn ở cổng một trại chủ rồi vào đồng, chậm chạp xóc nảy trên mặt đất gồ ghề. Trong một chỗ trũng giữa thảo nguyên nhấp nhô, ngay cả con đường quê cũng khuất khỏi mắt họ. Trời ấm áp và thanh bình. Châu chấu rỉ rả giữa những gốc lúa mì khô, những con ruồi nhỏ lấp lánh lao vun vút ngang xe. Một tiếng rì rầm mãn nguyện tràn ngập không trung. Quạ nhẩn nha tụ tập trên trời, chuyện trò rôm rả.

Con chó đã được thả xuống; sau một hồi nhảy nhót phấn khích, nó bắt đầu đều đặn rà khắp cánh đồng, tới rồi lui, tới rồi lui, mũi chúi xuống.

“Pete Rustad làm chủ trang trại này, tuần trước ông ấy bảo anh đã trông thấy một đàn gà nhỏ ở khoảnh bốn mươi mẫu phía tây. Biết đâu rốt cuộc ta cũng được một cuộc săn thú vị,” Kennicott khúc khích đầy sung sướng.

Nàng hồi hộp nhìn con chó, mỗi khi nó có vẻ sắp dừng lại là nàng lại thở gấp. Nàng không ham giết chim, nhưng lại khao khát được thuộc về thế giới của Kennicott.

Con chó dừng lại, đứng chĩa, một chân trước giơ lên.

“Trời đất! Nó đánh được hơi rồi! Đi nào!” Kennicott ré lên. Anh nhảy khỏi xe, quấn dây cương quanh ổ cắm roi, đỡ nàng xuống, chộp lấy súng, nạp hai viên đạn rồi rón rén tiến về phía con chó đang đứng cứng đờ, Carol bước lúp xúp theo sau. Con chó săn bò dần về phía trước, đuôi run rẩy, bụng sát mặt ruộng. Carol căng thẳng. Nàng chờ đợi từng đám chim lớn sẽ lập tức bay vọt lên. Mắt nàng căng ra vì nhìn chằm chằm. Nhưng họ theo con chó suốt một phần tư dặm, quành qua quành lại, vượt hai ngọn đồi thấp, lội xuyên một dải trũng đầy cỏ dại, luồn giữa những sợi dây thép gai. Đôi chân vốn chỉ quen vỉa hè của nàng khổ sở vì cuộc đi bộ. Mặt đất lổn nhổn, gốc rạ nhọn hoắt, chen đầy cỏ, cây kế và những gốc cỏ ba lá còi cọc. Nàng lê bước, loạng choạng mãi.

Nàng nghe Kennicott hổn hển: “Nhìn kìa!” Ba con chim xám đang bay lên từ đám rạ. Chúng tròn trĩnh, phục phịch, tựa những con ong nghệ khổng lồ. Kennicott đang ngắm, nòng súng di động theo chúng. Nàng cuống cả lên. Sao anh không bắn? Chim sắp bay mất rồi! Bỗng một tiếng nổ, rồi một tiếng nữa, và hai con chim nhào lộn trên không, rơi phịch xuống.

Khi anh đưa chim cho nàng xem, nàng không hề có cảm giác về máu me. Những đống lông này quá mềm mại, không một vết dập—chẳng có gì nơi chúng gợi đến cái chết. Nàng nhìn người đàn ông chiến thắng của mình nhét chúng vào túi áo trong, rồi cùng anh lê bước trở về xe.

Sáng hôm ấy họ không tìm thấy thêm con gà thảo nguyên nào.

Buổi trưa, họ đánh xe vào sân trang trại đầu tiên nàng từng thấy—một ngôi làng riêng biệt, gồm căn nhà trắng không có hiên ngoài một bậc thềm sau nhà thấp và khá bẩn, kho thóc đỏ thẫm viền trắng, tháp ủ thức ăn bằng gạch tráng men, nhà để xe ngựa cũ nay biến thành ga-ra cho một chiếc Ford, chuồng bò không sơn, chuồng gà, chuồng lợn, kho ngô, kho hạt và bộ khung tháp bằng sắt mạ kẽm của cối xay gió. Khoảng sân trước cửa là đất sét vàng nện chặt, không một bóng cây, không một ngọn cỏ, vương vãi những lưỡi cày gỉ sét cùng bánh xe của các máy xới đã bỏ đi. Bùn bị giẫm cứng như dung nham lấp đầy chuồng lợn. Cửa nhà đen nhẻm vì tay người chạm vào, các góc và mái hiên hoen dấu mưa, còn đứa trẻ nhìn họ chằm chằm qua cửa sổ bếp thì mặt mũi lem luốc. Nhưng phía sau kho thóc là một bụi phong lữ đỏ thắm; gió thảo nguyên là ánh nắng đang chuyển động; những cánh kim loại sáng lóe của cối xay gió quay với tiếng rì rì sinh động; một con ngựa hí, một con gà trống gáy, đàn én tím bay ra bay vào chuồng bò.

Một người đàn bà nhỏ nhắn, gầy gò, tóc màu lanh chạy lúp xúp từ trong nhà ra. Bà nói một thứ thổ ngữ Thụy Điển ngân nga—không đều đều như tiếng Anh, mà cất thành tiếng hát, với âm điệu kéo dài trữ tình:

“Pete bảo bác sĩ sắp tới săn mà. Ôi, bác sĩ tới thì tốt quá. Đây là cô dâu phải không? Ô-ô-ôi! Mới tối qua chúng tôi còn nói mong có ngày được gặp cô ấy. Ôi, một quý cô xinh đẹp quá!” Bà Rustad rạng rỡ niềm chào đón. “Nào, nào! Tôi mong cô thích xứ này! Bác sĩ không ở lại ăn trưa sao?”

“Không, nhưng chẳng biết bà có vui lòng cho chúng tôi một cốc sữa không?” Kennicott chiếu cố hỏi.

“Ồ, tất nhiên là tôi vui lòng chứ! Hai người chờ đây một chút, tôi chạy qua nhà sữa!” Bà hấp tấp đi về phía một căn nhà nhỏ màu đỏ bên cạnh cối xay gió; rồi trở lại với một bình sữa để Carol rót đầy chai giữ nhiệt.

Khi họ đánh xe đi, Carol thán phục nói: “Bà ấy là người đáng yêu nhất em từng gặp. Và bà ấy tôn sùng anh. Anh đúng là Chúa đất ở đây.”

“Ồ, đâu có,” anh đáp, khoái chí lắm, “nhưng quả thật họ vẫn hỏi ý kiến anh về mọi việc. Những nông dân Scandinavia này là hạng người tuyệt lắm. Mà còn khá giả nữa. Helga Rustad thì vẫn sợ nước Mỹ, nhưng con cái bà ấy rồi sẽ thành bác sĩ, luật sư, thống đốc bang, hay bất cứ cái quái gì chúng muốn.”

“Em tự hỏi—” Carol lại chìm vào nỗi đau đời đêm qua. “Em tự hỏi phải chăng những người nông dân này vĩ đại hơn chúng ta? Họ giản dị và cần cù biết bao. Thị trấn sống nhờ họ. Dân thị trấn chúng ta là lũ ký sinh, thế mà vẫn tự thấy mình cao hơn họ. Tối qua em nghe ông Haydock nói đến ‘bọn nhà quê.’ Hình như ông ta khinh nông dân vì họ chưa vươn tới đỉnh cao xã hội là bán chỉ và khuy.”

“Ký sinh? Chúng ta ư? Không có thị trấn thì nông dân sẽ ra sao? Ai cho họ vay tiền? Ai—chứ gì nữa, chính chúng ta cung cấp cho họ mọi thứ!”

“Anh không thấy một số nông dân cho rằng họ phải trả quá nhiều cho những dịch vụ của thị trấn sao?”

“Ồ, dĩ nhiên trong đám nông dân cũng có khối kẻ gàn, cũng như bất kỳ tầng lớp nào. Nghe vài tay hay kêu ca ấy nói, người ta sẽ tưởng nông dân phải cai quản cả bang lẫn toàn bộ mọi thứ trên đời—nếu được tùy ý, chắc họ sẽ nhét đầy cơ quan lập pháp một lũ nông dân chân đi ủng dính phân—phải, rồi họ sẽ đến bảo anh rằng từ nay anh làm công ăn lương, không được tự định tiền khám nữa! Thế thì hay cho em lắm, phải không!”

“Nhưng tại sao họ lại không nên làm thế?”

“Tại sao ư? Cái lũ—Dám bảo ANH—Ôi, lạy trời, thôi đừng tranh cãi nữa. Mấy chuyện bàn luận này ở tiệc tùng thì còn được, nhưng—Trong lúc đi săn, ta hãy quên nó đi.”

“Em biết. Chứng Ham Thắc Mắc—có lẽ còn là một chứng bệnh tệ hơn cả chứng Ham Phiêu Bạt. Em chỉ tự hỏi—”

Nàng tự nhủ rằng mình đã có mọi thứ trên đời. Và sau mỗi lần tự trách, nàng lại vấp phải câu: “Em chỉ tự hỏi—”

Họ ăn bánh mì kẹp bên một đầm nước trên thảo nguyên: cỏ dài vươn khỏi làn nước trong, những bãi lầy rêu phủ, chim sáo cánh đỏ, lớp váng loang một vệt xanh vàng. Kennicott hút tẩu, còn nàng ngả lưng trên xe, để tâm hồn mệt mỏi tan vào cõi Niết-bàn của bầu trời vô song.

Họ xóc nảy trở ra đường cái và tỉnh khỏi cơn mơ màng đẫm nắng trong tiếng vó ngựa lộp cộp. Họ dừng lại tìm gà gô ở một vành rừng—khu rừng nhỏ, sạch sẽ, sáng bóng và vui tươi, với những cây bạch dương bạc cùng dương lá rung có thân xanh tinh tươm, ôm quanh một hồ nước đáy cát, một chốn ẩn dật e ấp có tiếng nước vỗ giữa biển thảo nguyên nóng bỏng ngổn ngang.

Kennicott bắn hạ một con sóc đỏ béo mẫm, và lúc chạng vạng anh có một phát súng đầy kịch tính vào đàn vịt từ tầng không cao tít xoáy xuống, sượt trên mặt hồ rồi thoắt biến mất.

Họ đánh xe về nhà dưới ánh hoàng hôn. Những ụ rơm và các đống lúa mì như tổ ong nổi bật lên trong sắc hồng cùng sắc vàng rực rỡ, còn đồng rạ điểm những chòm xanh thì lấp lánh. Khi vành đai đỏ thẫm mênh mông tối dần, miền đất đã mãn nguyện chìm vào sắc thu đỏ sẫm và nâu. Con đường đen trước xe ngựa chuyển thành màu tím oải hương nhạt, rồi nhòa đi thành một màu xám mơ hồ. Gia súc nối thành hàng dài tiến đến những cánh cổng có thanh chắn của các sân trại, và trên miền đất đang nghỉ ngơi phủ một quầng sáng tối sẫm.

Carol đã tìm thấy vẻ đường bệ và sự vĩ đại mà Phố Chính không đem lại cho nàng.

II

Cho tới khi thuê được người giúp việc, họ ăn bữa trưa và bữa tối lúc sáu giờ tại nhà trọ của bà Gurrey.

Bà Elisha Gurrey, quả phụ của chấp sự Gurrey, nhà buôn cỏ khô và ngũ cốc, là một người đàn bà mũi nhọn, hay cười điệu, mái tóc muối tiêu bị kéo căng đến nỗi trông như một chiếc khăn tay cáu bẩn phủ trên đầu. Nhưng bà vui vẻ đến không ngờ, còn phòng ăn, với tấm khăn trải mỏng trên chiếc bàn dài bằng gỗ thông, có vẻ tươm tất của sự trống trải sạch sẽ.

Giữa dãy thực khách không cười, nhai đều đều như ngựa bên máng, Carol dần nhận ra một gương mặt: khuôn mặt dài, tái, đeo kính và mái tóc vàng hung chải phồng của ông Raymond P. Wutherspoon, thường được gọi là “Raymie,” một người độc thân chuyên nghiệp, quản lý kiêm một nửa lực lượng bán hàng tại gian giày của cửa hiệu Bon Ton.

“Bà sẽ rất thích Gopher Prairie, bà Kennicott ạ,” Raymie gần như khẩn khoản. Đôi mắt anh giống mắt một con chó chờ được cho vào nhà tránh rét. Anh ân cần quá mức chuyền món mơ hầm sang. “Ở đây có rất nhiều người thông minh, có văn hóa. Bà Wilks, người đọc kinh của phái Khoa học Cơ Đốc, là một phụ nữ rất thông minh—dù bản thân tôi không theo phái ấy; thật ra tôi hát trong ban hợp xướng của Giáo hội Giám nhiệm. Còn cô Sherwin ở trường trung học—cô ấy thật duyên dáng, thông minh—hôm qua tôi vừa thử cho cô ấy một đôi giày ống màu nâu vàng; quả thật, tôi xin nói, đó thực sự là một niềm vui.”

“Đưa anh bơ nào, Carrie,” là lời bình của Kennicott. Nàng thách thức anh bằng cách khuyến khích Raymie:

“Ở đây các vị có diễn kịch tài tử và những hoạt động tương tự không?”

“Ồ, có chứ! Thị trấn này đầy tài năng. Năm ngoái Hội Hiệp sĩ Pythias đã tổ chức một buổi diễn minstrel ra trò.”

“Thật hay khi ông nhiệt tình đến thế.”

“Ồ, bà thật sự nghĩ vậy sao? Nhiều người cứ trêu tôi vì tôi cố tổ chức các buổi diễn này nọ. Tôi bảo họ rằng năng khiếu nghệ thuật của họ còn nhiều hơn chính họ biết. Mới hôm qua tôi nói với Harry Haydock rằng nếu anh ấy chịu đọc thơ, như thơ Longfellow chẳng hạn, hoặc tham gia ban nhạc—tôi tìm thấy bao nhiêu niềm vui khi thổi kèn cornet, và trưởng ban nhạc của chúng tôi, Del Snafflin, lại là một nhạc công giỏi đến thế; tôi thường nói anh ấy nên bỏ nghề hớt tóc mà trở thành nhạc công chuyên nghiệp, anh ấy có thể thổi clarinet ở Minneapolis hay New York hay bất cứ đâu, nhưng—nhưng tôi chẳng thể làm Harry hiểu ra chút nào, và—tôi nghe nói hôm qua bà cùng bác sĩ đi săn. Miền quê đẹp tuyệt, phải không ạ? Hai vị có ghé thăm ai không? Nghề buôn bán không đem lại cảm hứng như nghề y. Hẳn phải tuyệt vời lắm khi thấy bệnh nhân tin cậy bác sĩ đến thế.”

“Hừ. Chính tôi mới là người phải đặt hết lòng tin. Sẽ tuyệt hơn khối nếu họ chịu thanh toán hóa đơn,” Kennicott càu nhàu, rồi ghé tai Carol thì thầm điều gì nghe như “gà mái quý ông.”

Nhưng đôi mắt nhợt nhạt của Raymie đang long lanh nhìn nàng. Nàng đỡ lời cho anh: “Vậy ông thích đọc thơ sao?”

“Ồ, vâng, thích lắm—dù thú thật là tôi không có nhiều thì giờ đọc; ở cửa hiệu lúc nào chúng tôi cũng bận, và—Nhưng mùa đông năm ngoái, trong buổi giao lưu của Hội Chị em Pythias, chúng tôi có một nghệ sĩ ngâm đọc chuyên nghiệp tuyệt vời nhất.”

Carol tưởng mình nghe thấy tiếng khịt mũi của người chào hàng lưu động ngồi cuối bàn, còn cú giật khuỷu tay của Kennicott chính là một tiếng khịt mũi hiện thành hình. Nàng vẫn tiếp tục:

“Ông có thường được xem kịch không, ông Wutherspoon?”

Anh tỏa sáng về phía nàng như một vầng trăng tháng Ba xanh mờ, rồi thở dài: “Không, nhưng tôi rất mê phim. Tôi là một người hâm mộ đích thực. Một điều phiền ở sách là chúng không được những nhà kiểm duyệt sáng suốt bảo vệ kỹ lưỡng như phim ảnh; khi ghé thư viện mượn một cuốn sách, ta chẳng bao giờ biết mình sắp phí thì giờ vào thứ gì. Ở sách, tôi thích một câu chuyện lành mạnh, thật sự giúp người ta tiến bộ, nhưng đôi khi—Này nhé, có lần tôi bắt đầu đọc một cuốn tiểu thuyết của cái ông Balzac mà người ta vẫn nhắc tới, và sách kể chuyện một quý bà không sống cùng chồng mình—ý tôi là bà ta không phải vợ của người đàn ông ấy. Nó còn kể chi tiết nữa, thật ghê tởm! Mà tiếng Anh lại thực sự rất tồi. Tôi đã nói với thư viện, và họ rút cuốn ấy khỏi giá. Tôi không hẹp hòi, nhưng phải nói rằng tôi không hiểu cố tình lôi chuyện vô luân vào để làm gì! Bản thân cuộc đời đã đầy rẫy cám dỗ, nên trong văn chương người ta chỉ muốn những gì thuần khiết và nâng cao tâm hồn.”

“Cái truyện của Balzac ấy tên gì? Tôi kiếm nó ở đâu được?” người chào hàng lưu động cười khúc khích.

Raymie phớt lờ anh ta. “Nhưng phim ảnh thì phần lớn trong sạch, còn tính hài hước của chúng—Bà có nghĩ rằng phẩm chất thiết yếu nhất một người cần có là óc hài hước không?”

“Tôi không biết. Thật ra tôi chẳng có bao nhiêu,” Carol nói.

Ông lắc ngón tay với nàng. “Nào, nào, cô khiêm tốn quá rồi. Tôi chắc tất cả chúng tôi đều nhận thấy cô có một óc hài hước tuyệt hảo. Vả lại, bác sĩ Kennicott chẳng đời nào lấy một quý bà không biết đùa. Ai cũng biết anh ấy mê vui thế nào mà!”

“Đúng quá còn gì. Tôi là một lão già hay pha trò đấy. Đi nào, Carrie; ta chuồn thôi,” Kennicott nói.

Raymie khẩn khoản hỏi: “Vậy mối quan tâm nghệ thuật chính của bà là gì, thưa bà Kennicott?”

“Ồ----” Biết rằng người chào hàng lưu động vừa lẩm bẩm, “Nha khoa,” nàng liều lĩnh đáp trong cơn tuyệt vọng: “Kiến trúc.”

“Đó là một nghệ thuật rất hay. Tôi vẫn thường nói----hồi Haydock & Simons sắp làm xong mặt tiền mới của tòa nhà Bon Ton, ông cụ đến gặp tôi, cô biết đấy, cha của Harry ấy, tôi vẫn gọi ông là ‘D. H.’, và ông hỏi tôi thấy thế nào; tôi bèn bảo ông, ‘Này nhé, D. H.,’ tôi nói----cô hiểu đấy, ông định để mặt tiền trơn tuột, nên tôi bảo ông, ‘Có hệ thống chiếu sáng hiện đại và một khoảng trưng bày lớn thì rất tốt,’ tôi nói, ‘nhưng khi đã có những thứ ấy rồi, ông cũng phải thêm chút kiến trúc vào,’ tôi nói; ông cười, bảo chắc có lẽ tôi nói đúng, thế là ông cho người gắn thêm một đường gờ mái.”

“Bằng thiếc!” người chào hàng lưu động nhận xét.

Raymie nhe răng như một con chuột hiếu chiến. “Thì bằng thiếc đã sao? Đâu phải lỗi của tôi. Tôi đã bảo D. H. làm bằng đá hoa cương đánh bóng. Anh làm tôi phát mệt!”

“Đi thôi nào! Nào, Carrie, ta đi thôi!” Kennicott giục.

Raymie chặn họ lại ngoài hành lang và kín đáo bảo Carol rằng nàng chớ bận tâm đến sự thô lỗ của người chào hàng lưu động----anh ta thuộc hạng hwa pollwa.

Kennicott cười khúc khích: “Thế nào, bé con? Em thích một anh chàng nghệ sĩ như Raymie hơn những tên ngốc đặc như Sam Clark với anh à?”

“Anh yêu! Mình về nhà, chơi pinochle, cười đùa, làm chuyện ngớ ngẩn, rồi lẻn lên giường và ngủ không mộng mị đi. Chỉ làm một nữ công dân đường hoàng thôi cũng đẹp biết bao!”

III

Trích tuần báo Gopher Prairie Dauntless:

Một trong những cuộc hội họp duyên dáng nhất mùa này đã được tổ chức vào tối thứ Ba tại tư dinh mới khang trang của ông bà Sam Clark, khi nhiều công dân nổi bật nhất của chúng ta tụ họp để chào mừng cô dâu mới khả ái của vị bác sĩ địa phương được mến mộ, bác sĩ Will Kennicott. Tất cả những người có mặt đều ca ngợi muôn vẻ duyên dáng của cô dâu, trước đây là cô Carol Milford ở St. Paul. Những trò chơi và tiết mục vui là chương trình chính, cùng chuyện trò và đàm đạo rộn rã. Đến giờ muộn, những món giải khát thanh nhã được dọn ra, và buổi tiệc kết thúc giữa vô vàn lời bày tỏ niềm vui về cuộc hội họp thú vị này. Trong số những người hiện diện có các bà Kennicott, Elder----

* * * * *

Bác sĩ Will Kennicott, trong nhiều năm qua là một trong những bác sĩ nội khoa và ngoại khoa được mến mộ và tài giỏi nhất của chúng ta, đã đem đến cho thị trấn một sự ngạc nhiên thú vị khi tuần này trở về từ chuyến tuần trăng mật dài ngày tại Colorado cùng cô dâu duyên dáng, vốn là cô Carol Milford ở St. Paul, người thuộc một gia đình có địa vị xã hội nổi bật tại Minneapolis và Mankato. Bà Kennicott là một quý bà có muôn vàn vẻ duyên dáng, không chỉ nổi bật về dung mạo mà còn là một sinh viên tốt nghiệp xuất sắc của một trường miền Đông, và trong năm qua đã nổi bật đảm nhiệm một chức vụ quan trọng đầy trọng trách tại Thư viện Công cộng St. Paul, chính tại thành phố ấy bác sĩ “Will” đã may mắn gặp bà. Thành phố Gopher Prairie chào đón bà đến giữa chúng ta và tiên đoán bà sẽ có nhiều năm hạnh phúc tại thành phố năng động của hai hồ và của tương lai. Trước mắt, bác sĩ và bà Kennicott sẽ cư ngụ tại nhà riêng của bác sĩ trên phố Poplar, nơi người mẹ duyên dáng của ông vẫn chăm nom giúp ông và nay đã trở về nhà riêng tại Lac-qui-Meurt, để lại vô số bạn bè tiếc nuối vì bà vắng mặt và mong sớm lại được thấy bà ở giữa chúng ta.

IV

Nàng biết rằng nếu muốn thực hiện bất cứ cuộc “cải cách” nào mình từng hình dung, nàng phải có một điểm khởi đầu. Điều khiến nàng bối rối trong ba bốn tháng sau khi kết hôn không phải là nàng không nhận thức được rằng mình phải xác định rõ ràng, mà chỉ là niềm hạnh phúc vô tư nơi mái ấm đầu tiên.

Trong niềm kiêu hãnh được làm bà nội trợ, nàng yêu từng chi tiết----chiếc ghế bành bọc gấm có lưng ghế ọp ẹp, thậm chí cả vòi nước bằng đồng trên bình chứa nước nóng, sau khi đã trở nên thân thuộc với nó qua những lần cố cọ cho sáng bóng.

Nàng tìm được một cô hầu gái----Bea Sorenson tròn trĩnh, rạng rỡ, đến từ Scandia Crossing. Bea thật ngộ nghĩnh trong nỗ lực vừa làm một người hầu cung kính, vừa làm bạn tâm giao. Hai người cùng cười vì bếp không bắt gió, vì cá cứ trơn tuột trong chảo.

Như một đứa trẻ mặc váy dài quét đất chơi trò làm Bà, Carol nghênh ngang lên khu phố buôn bán để mua thức ăn, dọc đường lớn tiếng chào các bà nội trợ. Ai cũng cúi chào nàng, kể cả người xa lạ, khiến nàng cảm thấy họ cần nàng, rằng nàng thuộc về nơi này. Trong các cửa hiệu thành phố, nàng chỉ là Một Khách Hàng----một chiếc mũ, một giọng nói làm phiền cô bán hàng đang bù đầu. Ở đây nàng là bà bác sĩ Kennicott, và những sở thích của nàng về bưởi chùm lẫn cung cách ứng xử đều được biết đến, ghi nhớ và đáng đem ra bàn luận . . . cho dù chưa chắc đáng được đáp ứng.

Đi mua sắm là niềm vui của những cuộc trao đổi mau lẹ. Chính những thương gia mà giọng nói đều đều của họ làm nàng chán nhất trong hai ba bữa tiệc tổ chức để chào đón nàng lại trở thành những người tâm tình dễ chịu nhất khi họ có chuyện để nói----chanh, vải voile bông hoặc dầu lau sàn. Với gã Dave Dyer lanh chanh, chủ hiệu thuốc, nàng tiến hành một cuộc cãi vờ dai dẳng. Nàng giả vờ buộc tội anh ta gian lận giá tạp chí và kẹo; anh ta giả vờ coi nàng là thám tử từ Twin Cities đến. Anh ta trốn sau quầy pha thuốc, và khi nàng giậm chân, anh ta bước ra than vãn: “Thật tình, hôm nay tôi chưa làm chuyện gì gian trá cả----chưa đâu.”

Nàng không bao giờ nhớ lại ấn tượng đầu tiên của mình về Phố Chính; không bao giờ còn cảm thấy đúng nỗi tuyệt vọng trước vẻ xấu xí của nó như thế nữa. Chỉ sau hai chuyến mua sắm, mọi thứ đã thay đổi tỷ lệ. Vì nàng không bao giờ bước vào đó, Minniemashie House thôi tồn tại đối với nàng. Clark's Hardware Store, Dyer's Drug Store, các tiệm tạp hóa của Ole Jenson, Frederick Ludelmeyer và Howland & Gould, những cửa hàng thịt, cửa hiệu đồ lặt vặt----tất cả nở lớn ra, che khuất mọi công trình khác. Khi nàng bước vào cửa hàng của ông Ludelmeyer và ông thở khò khè: “Chào buổi sáng, bà Kennicott. Vâng, hôm nay thật là một ngày đẹp,” nàng không để ý đến những kệ hàng bụi bặm hay cô bán hàng ngu độn; nàng cũng không nhớ đến cuộc đối thoại câm lặng với ông trong lần đầu tiên nhìn thấy Phố Chính.

Nàng không tìm được đến một nửa số thực phẩm mình muốn, nhưng chính điều đó lại khiến việc mua sắm thêm phần phiêu lưu. Khi quả thực xoay xở mua được tuyến ức bê tại cửa hàng thịt Dahl & Oleson, chiến thắng ấy lớn lao đến mức nàng rộn lên vì phấn khích và thán phục người bán thịt khỏe mạnh, thông thái, ông Dahl.

Nàng cảm kích trước vẻ xuề xòa dễ chịu của đời sống thị trấn. Nàng thích những ông già, những nông dân, những cựu binh G.A.R., những người đôi khi vừa ngồi xổm trên gót chân ngoài vỉa hè như người da đỏ đang nghỉ ngơi, vừa tán gẫu và trầm ngâm nhổ nước bọt qua lề đường.

Nàng tìm thấy vẻ đẹp nơi trẻ nhỏ.

Nàng từng ngờ rằng những người bạn đã kết hôn của mình phóng đại niềm say mê đối với trẻ con. Nhưng trong công việc ở thư viện, trẻ con đã trở thành những cá nhân đối với nàng, những công dân của Tiểu bang có quyền lợi và óc hài hước riêng. Ở thư viện nàng không có nhiều thời gian dành cho chúng, nhưng giờ đây nàng biết đến cái xa xỉ của việc dừng chân, nghiêm trang hỏi Bessie Clark xem con búp bê của cô bé đã khỏi bệnh thấp khớp chưa, và đồng ý với Oscar Martinsen rằng đi đặt bẫy “chuột xạ” hẳn sẽ Thật Vui.

Nàng thoáng chạm vào ý nghĩ: “Có một đứa con của riêng mình hẳn sẽ ngọt ngào biết bao. Mình thật sự muốn có một đứa. Bé tí----Không! Chưa được! Còn biết bao việc phải làm. Và mình vẫn còn mệt vì công việc cũ. Cái mệt ngấm tận xương.”

Nàng nghỉ ngơi ở nhà. Nàng lắng nghe những âm thanh của thị trấn vốn chung cho toàn thế giới, dù rừng rậm hay thảo nguyên; những âm thanh giản dị mà chan chứa phép màu----tiếng chó sủa, tiếng gà cục tác mãn nguyện, tiếng trẻ con chơi đùa, tiếng một người đàn ông đập thảm, tiếng gió trong những cây cottonwood, tiếng một con ve kéo vĩ, tiếng chân trên lối đi, giọng nói líu lo của Bea và cậu bé giao hàng tạp hóa trong bếp, tiếng đe lanh canh, tiếng đàn piano----không quá gần.

Mỗi tuần ít nhất hai lần, nàng cùng Kennicott lái xe về miền quê, săn vịt trên những hồ nước tráng men hoàng hôn, hoặc thăm các bệnh nhân vốn ngưỡng vọng nàng như bà nhà của vị thân hào và cảm ơn nàng vì những món đồ chơi cùng tạp chí. Buổi tối nàng đi xem phim với chồng và được mọi cặp vợ chồng khác chào đón ầm ĩ; hoặc, cho đến khi trời trở nên quá lạnh, hai người ngồi ngoài hiên, gọi lớn những người đi ngang trên xe hơi hay những hàng xóm đang cào lá. Bụi hóa vàng trong nắng thấp; con phố ngập hương lá cháy.

V

Nhưng mơ hồ, nàng khao khát một người để mình có thể thổ lộ những điều đang nghĩ.

Vào một buổi chiều chậm chạp, khi nàng bồn chồn với đường kim mũi chỉ và mong điện thoại reo, Bea báo cô Vida Sherwin đến.

Bất chấp đôi mắt xanh linh hoạt của Vida Sherwin, nếu nhìn kỹ từng nét, người ta sẽ thấy mặt cô hơi hằn nếp, không hẳn vàng vọt bằng mất hết sắc tươi; sẽ thấy ngực cô phẳng, những ngón tay thô ráp vì kim, phấn và quản bút; những chiếc áo cánh cùng váy vải trơn chẳng có gì nổi bật; và chiếc mũ đội quá lui về sau, để lộ một vầng trán khô khan. Nhưng chẳng bao giờ người ta nhìn Vida Sherwin từng chi tiết. Không thể nào. Hoạt lực như điện của cô che lấp tất cả. Cô năng động như một con sóc chuột. Những ngón tay cô phấp phới; lòng cảm thông tuôn ra từng đợt; cô háo hức ngồi bên mép ghế để được gần người nghe hơn, để truyền sang họ nhiệt tình và tinh thần lạc quan của mình.

Cô lao vào phòng, lời tuôn xối xả: “Tôi e cô sẽ nghĩ các giáo viên thật tệ vì chẳng đến thăm cô, nhưng chúng tôi muốn để cô có cơ hội ổn định trước. Tôi là Vida Sherwin, và tôi cố dạy tiếng Pháp, tiếng Anh cùng vài thứ khác ở trường trung học.”

“Tôi vẫn mong được làm quen với các giáo viên. Cô biết đấy, tôi từng là thủ thư----”

“Ồ, cô không cần kể đâu. Tôi biết hết về cô rồi! Khiếp thật, tôi biết nhiều đến thế----cái thị trấn ngồi lê đôi mách này. Chúng tôi rất cần cô ở đây. Đây là một thị trấn đáng yêu và trung thành (mà lòng trung thành chẳng phải điều cao quý nhất trên đời sao!), nhưng nó là một viên kim cương thô, và chúng tôi cần cô đánh bóng nó, còn chúng tôi thì khiêm nhường biết bao----” Cô dừng lại lấy hơi rồi hoàn tất lời khen bằng một nụ cười.

“Nếu tôi CÓ THỂ giúp cô bằng bất cứ cách nào----Tôi có phạm phải tội lỗi không thể tha thứ không, nếu thì thầm rằng tôi thấy Gopher Prairie hơi xấu một tí tẹo?”

“Dĩ nhiên là nó xấu. Xấu kinh khủng! Dù có lẽ tôi là người duy nhất trong thị trấn mà cô có thể yên tâm nói điều ấy. (Trừ luật sư Guy Pollock chăng----cô đã gặp anh ấy chưa?----ồ, cô NHẤT ĐỊNH phải gặp!----anh ấy đáng mến vô cùng----thông minh, có văn hóa, lại thật dịu dàng.) Nhưng tôi không bận tâm nhiều đến vẻ xấu xí. Điều đó rồi sẽ thay đổi. Chính tinh thần nơi đây cho tôi hy vọng. Nó vững vàng. Lành mạnh. Nhưng sợ hãi. Nó cần những sinh vật sống động như cô đánh thức. Tôi sẽ bắt cô làm việc như nô lệ đấy!”

“Tuyệt lắm. Tôi phải làm gì? Tôi vẫn tự hỏi liệu có thể mời một kiến trúc sư giỏi đến đây diễn thuyết không.”

“Vâ-âng, nhưng cô không nghĩ sẽ tốt hơn nếu làm việc thông qua những tổ chức sẵn có sao? Có lẽ điều này nghe sẽ chậm chạp đối với cô, nhưng tôi đang nghĩ----Sẽ thật tuyệt nếu chúng tôi có thể mời cô dạy trường Chủ nhật.”

Carol mang vẻ mặt trống rỗng của một người phát hiện ra mình bấy lâu vẫn âu yếm cúi chào một kẻ hoàn toàn xa lạ. “Ồ vâng. Nhưng tôi e mình sẽ chẳng làm được gì nhiều ở đó. Tôn giáo của tôi mù mờ lắm.”

“Tôi biết. Của tôi cũng thế. Tôi chẳng quan tâm chút nào đến giáo điều. Tuy vậy, tôi vẫn vững tin vào tình phụ tử của Thượng đế, tình huynh đệ của con người và sự dẫn dắt của Jesus. Dĩ nhiên cô cũng vậy.”

Carol giữ vẻ đoan trang và nghĩ đến chuyện dọn trà.

“Và đó là tất cả những gì cô cần dạy ở trường Chủ nhật. Quan trọng là sức cảm hóa cá nhân. Rồi còn có ban quản trị thư viện. Cô sẽ hữu ích vô cùng trong ban ấy. Và dĩ nhiên còn có câu lạc bộ nghiên cứu của phụ nữ chúng tôi----Câu lạc bộ Thanatopsis.”

“Họ có làm gì không? Hay chỉ đọc những bài tham luận chắp nhặt từ Bách khoa toàn thư?”

Cô Sherwin nhún vai. “Có lẽ. Nhưng dù sao họ cũng rất nghiêm túc. Họ sẽ hưởng ứng mối quan tâm mới mẻ hơn của cô. Và Thanatopsis quả có làm công tác xã hội tốt----họ đã khiến thành phố trồng biết bao nhiêu cây, và họ điều hành phòng nghỉ cho các bà vợ nông dân. Họ cũng quan tâm biết mấy đến sự thanh nhã và văn hóa. Cho nên----thật ra, vô cùng độc đáo.”

Carol thất vọng----dù chẳng vì điều gì thật sự rõ rệt. Nàng lịch sự nói: “Tôi sẽ suy nghĩ về tất cả những việc ấy. Trước tiên tôi cần có chút thời gian để nhìn quanh đã.”

Cô Sherwin lao đến bên nàng, vuốt tóc nàng, nhìn sát vào mặt nàng. “Ôi, cô thân mến, cô không nghĩ là tôi hiểu sao? Những ngày đầu dịu dàng của hôn nhân----đối với tôi, chúng thật thiêng liêng. Mái ấm, rồi những đứa con cần cô, trông cậy vào cô để được sống, ngước nhìn cô với những nụ cười bé xíu nhăn nheo. Và bếp lửa cùng----” Cô quay mặt tránh Carol, vờ bận rộn vỗ chiếc nệm ghế, nhưng rồi tiếp tục với vẻ lanh lẹ ban nãy:

“Ý tôi là, cô phải giúp chúng tôi khi nào cô sẵn sàng. . . . Tôi e cô sẽ nghĩ tôi bảo thủ. Đúng thế! Có biết bao điều cần bảo tồn. Tất cả kho báu của những lý tưởng Mỹ này. Sự cứng cỏi, dân chủ và cơ hội. Có lẽ ở Palm Beach thì không. Nhưng, tạ ơn trời, tại Gopher Prairie chúng ta không có những phân biệt xã hội như thế. Tôi chỉ có một phẩm chất tốt----niềm tin mãnh liệt vào trí óc và trái tim của đất nước, Tiểu bang và thị trấn chúng ta. Nó mạnh đến nỗi đôi khi tôi quả cũng lay chuyển được đôi chút những kẻ vạn phú kiêu kỳ. Tôi lay cho họ tỉnh ra và khiến họ tin vào lý tưởng----vâng, tin vào chính mình. Nhưng tôi cứ sa vào lối mòn dạy học. Tôi cần những người trẻ có óc phê phán như cô thúc cho tỉnh. Nói tôi nghe, cô đang đọc gì?”

“Tôi đang đọc lại ‘Sự đọa đày của Theron Ware’. Cô biết cuốn ấy chứ?”

“Biết. Nó thông minh. Nhưng khắc nghiệt. Tác giả chỉ muốn phá đổ, không muốn xây dựng. Yếm thế. Ôi, tôi rất mong mình không phải một kẻ đa cảm. Nhưng tôi chẳng thấy thứ nghệ thuật cao siêu không khích lệ những người lao động ngày công như chúng ta tiếp tục bước tới thì có ích gì.”

Tiếp đó là một cuộc tranh luận dài mười lăm phút về đề tài cổ xưa nhất thế giới: Đó là nghệ thuật, nhưng nó có đẹp không? Carol cố biện luận hùng hồn về sự trung thực trong quan sát. Cô Sherwin kiên quyết bênh vực vẻ ngọt ngào và việc thận trọng sử dụng những đặc tính gây khó chịu của ánh sáng. Cuối cùng Carol kêu lên:

“Tôi không bận tâm chúng ta bất đồng đến đâu. Có người để nói chuyện gì khác ngoài mùa màng, thật nhẹ cả người. Ta hãy làm Gopher Prairie rung chuyển tận nền móng: hãy dùng trà chiều thay vì cà-phê chiều.”

Bea hớn hở giúp cô mang ra chiếc bàn may gấp gia truyền, mặt bàn vàng đen chi chít những đường chấm do bánh xe lấy dấu của thợ may để lại, rồi trải lên đó tấm khăn dùng bữa thêu hoa và bày bộ đồ trà Nhật tráng men màu hoa cà mà cô đã đem từ St. Paul về. Cô Sherwin thổ lộ kế hoạch mới nhất của mình—chiếu những bộ phim giáo huấn ở các miền quê, bằng ánh sáng từ một máy phát điện lưu động nối với động cơ xe Ford. Bea bị gọi đến hai lần để châm đầy bình nước nóng và làm thêm bánh mì nướng quế.

Khi Kennicott về nhà lúc năm giờ, anh cố tỏ ra hào hoa, cho xứng với cương vị người chồng của một phụ nữ có tiệc trà chiều. Carol đề nghị cô Sherwin ở lại dùng bữa tối, và bảo Kennicott mời Guy Pollock, vị luật sư được ca tụng hết lời, chàng độc thân thi sĩ ấy.

Được, Pollock có thể đến. Phải, anh đã khỏi bệnh cúm từng khiến anh không thể dự buổi tiệc nhà Sam Clark.

Carol hối tiếc vì phút bốc đồng của mình. Hẳn gã sẽ là một tay chính khách độc đoán, giở giọng bông lơn thô kệch về Cô Dâu. Nhưng khi Guy Pollock bước vào, cô nhận ra trước mặt mình là một con người có cá tính. Pollock trạc ba mươi tám tuổi, mảnh khảnh, trầm lặng, nhã nhặn. Giọng anh nhỏ nhẹ. “Cô có lòng muốn mời tôi đến, thật quý hóa quá,” anh nói; anh không buông lời đùa cợt nào, cũng không hỏi cô có thấy Gopher Prairie là “cái thị trấn nhỏ náo nhiệt nhất bang” hay không.

Cô mường tượng rằng vẻ xám nhòa đều đặn nơi anh có thể hé lộ cả nghìn sắc độ hoa cà, xanh lam và ánh bạc.

Trong bữa tối, anh kín đáo để lộ lòng yêu mến dành cho Sir Thomas Browne, Thoreau, Agnes Repplier, Arthur Symons, Claude Washburn, Charles Flandrau. Anh rụt rè đưa ra những thần tượng của mình, nhưng rồi cởi mở hẳn trước vốn sách vở của Carol, những lời tán thưởng dạt dào của cô Sherwin, và sự khoan dung của Kennicott đối với bất kỳ ai làm vợ anh vui thích.

Carol tự hỏi tại sao Guy Pollock cứ cặm cụi với những vụ án luật lệ thường nhật; tại sao anh vẫn ở lại Gopher Prairie. Cô chẳng có ai để hỏi. Cả Kennicott lẫn Vida Sherwin đều không thể hiểu rằng có lẽ tồn tại những lý do khiến một Pollock không nên ở lại Gopher Prairie. Cô thích thú với điều bí ẩn mơ hồ ấy. Cô cảm thấy đắc thắng và có phần văn chương. Cô đã có một Nhóm rồi. Chẳng bao lâu nữa thôi, cô sẽ đem đến cho thị trấn những ô cửa lấy sáng hình quạt và sự am tường Galsworthy. Cô đang làm nên chuyện! Trong lúc dọn món tráng miệng ứng biến gồm dừa nạo và cam thái lát, cô reo lên với Pollock: “Anh có nghĩ chúng ta nên lập một câu lạc bộ kịch nghệ không?”