Phố chính — Chương 6
Chương 7 / 40 · Bài review Phố chính
I
KHI trận tuyết tháng Mười một đáng ngờ đầu tiên lất phất rơi, phủ trắng lờ mờ những hòn đất trơ trụi trên các cánh đồng đã cày, khi ngọn lửa nhỏ đầu tiên được nhóm trong lò sưởi—nơi tôn nghiêm của một mái nhà Gopher Prairie—Carol bắt đầu biến ngôi nhà thành của mình. Cô tống khứ đồ đạc trong phòng khách—chiếc bàn gỗ sồi vàng có núm đồng, những chiếc ghế bọc gấm thêu mốc meo, bức tranh “Ông bác sĩ.” Cô đi Minneapolis, chạy nháo nhào qua các cửa hàng bách hóa và những hiệu nhỏ trên Phố Mười chuyên đồ gốm cùng tư tưởng cao siêu. Cô đành phải gửi các báu vật về bằng tàu, nhưng chỉ muốn ôm hết chúng trong tay mà mang về.
Thợ mộc đã phá bỏ vách ngăn giữa phòng khách trước và phòng khách sau, hợp chúng thành một căn phòng dài để cô tha hồ tưới lên đó sắc vàng và xanh lam thẫm; một dải obi Nhật Bản với những đường chỉ vàng cầu kỳ trên nền vải cứng màu lam biếc, được cô treo như một tấm trang trí trên bức tường màu ngô; một trường kỷ với gối nhung xanh ngọc và những dải vàng; những chiếc ghế mà ở Gopher Prairie xem ra thật phù phiếm. Cô giấu chiếc máy hát thiêng liêng của gia đình vào phòng ăn, thay cái giá đặt máy bằng một chiếc tủ vuông, trên đó có một bình xanh lùn tịt nằm giữa hai cây nến vàng.
Kennicott bác bỏ chuyện làm lò sưởi. “Đằng nào thì vài năm nữa mình cũng có nhà mới rồi.”
Cô chỉ trang hoàng một phòng. Những phòng còn lại, Kennicott bóng gió, tốt hơn hết cô nên để đến khi anh “làm được một cú ăn đậm.”
Khối nhà vuông màu nâu cựa mình thức giấc; nó dường như chuyển động; nó đón cô trở về sau những chuyến mua sắm; nó rũ bỏ vẻ tù túng ẩm mốc.
Phán quyết tối cao là lời Kennicott: “Chà, quỷ thật, anh đã sợ đống đồ mới này chẳng được thoải mái, nhưng phải nói cái đi-văng này, hay em gọi nó là gì cũng được, êm hơn hẳn cái ghế xô-pha cũ lổn nhổn mình từng có, mà khi anh nhìn quanh—Ừm, anh cho là nó đáng từng đồng bỏ ra.”
Cả thị trấn đều quan tâm đến việc bày biện lại ngôi nhà. Những người thợ mộc và thợ sơn không trực tiếp góp tay cũng băng qua bãi cỏ, dòm qua cửa sổ mà reo: “Đẹp đấy! Trông sang quá!” Ở hiệu thuốc, Dave Dyer, rồi Harry Haydock và Raymie Wutherspoon ở Bon Ton, ngày nào cũng nhắc đi nhắc lại: “Công việc tốt đẹp đến đâu rồi? Nghe nói ngôi nhà đang trở nên thật quý phái.”
Ngay cả bà Bogart cũng vậy.
Bà Bogart sống bên kia con hẻm phía sau nhà Carol. Bà là một góa phụ, một tín đồ Baptist Có Vai Vế, và một Ảnh Hưởng Tốt Đẹp. Bà đã nhọc nhằn nuôi dạy ba người con trai thành những quý ông Cơ Đốc đến nỗi một người trở thành anh pha rượu ở Omaha, một người thành giáo sư tiếng Hy Lạp, còn người kia, Cyrus N. Bogart, một cậu bé mười bốn tuổi vẫn sống ở nhà, là thành viên trơ tráo nhất trong băng du côn dữ dằn nhất Boytown.
Bà Bogart không thuộc loại Ảnh Hưởng Tốt Đẹp chua như giấm. Bà thuộc loại mềm nhũn, ẩm rịn, béo núc, hay thở dài, khó tiêu, bám riết, sầu thảm và lạc quan đến phát nản. Trong mỗi sân gà lớn đều có một số gà mái già cáu kỉnh giống bà Bogart, và khi được dọn lên trong bữa trưa Chủ nhật dưới dạng gà nấu nhừ với những viên bột đặc quánh, chúng vẫn tiếp tục giữ nguyên nét tương đồng ấy.
Carol đã để ý thấy bà Bogart đứng bên cửa sổ nhà mình trông chừng ngôi nhà. Vợ chồng Kennicott và bà Bogart không giao du trong cùng một giới—điều ấy ở Gopher Prairie có ý nghĩa hoàn toàn giống như trên Đại lộ Fifth hay tại Mayfair. Nhưng bà góa phụ đức hạnh vẫn sang thăm.
Bà thở khò khè bước vào, thở dài, trao cho Carol một bàn tay mềm nhẽo, thở dài, liếc sắc lẻm vào đôi mắt cá chân vừa lộ ra khi Carol bắt chéo chân, thở dài, xem xét những chiếc ghế xanh mới, mỉm cười với một âm thanh e lệ pha lẫn tiếng thở dài, rồi cất lời:
“Tôi muốn sang thăm cô từ lâu lắm rồi, cô em ạ, cô biết đấy, chúng ta là hàng xóm, nhưng tôi nghĩ nên đợi cô thu xếp đâu vào đấy đã, cô phải ghé chơi với tôi nhé, chiếc ghế lớn kia giá bao nhiêu vậy?”
“Bảy mươi bảy đô-la!”
“Bảy mươi—Lạy Chúa! Ừm, tôi cho là những ai có khả năng thì mua cũng chẳng sao, dù đôi lúc tôi vẫn nghĩ—Dĩ nhiên, như mục sư của chúng ta có lần nói ở nhà thờ Baptist—Nhân tiện, chúng tôi vẫn chưa thấy cô đến đó, mà tất nhiên chồng cô vốn được nuôi dạy theo phái Baptist, tôi thật mong cậu ấy sẽ không lạc khỏi đàn chiên, dĩ nhiên tất cả chúng ta đều biết chẳng có gì, dù là tài trí hay vàng bạc dâng hiến hay bất cứ thứ gì, có thể bù đắp cho lòng khiêm nhường và ân sủng nội tâm, và thiên hạ muốn nói gì về Giáo hội P. E. thì nói, nhưng dĩ nhiên không giáo hội nào có lịch sử lâu đời hơn hay trung thành với những nguyên lý chân chính của Cơ Đốc giáo hơn Giáo hội Baptist và—Bà Kennicott được nuôi dạy trong giáo hội nào vậy?”
“S-sao, hồi còn là con gái ở Mankato, tôi đi nhà thờ Congregational, nhưng trường đại học của tôi thuộc phái Universalist.”
“Ừm—Nhưng dĩ nhiên, như Kinh Thánh đã nói, có phải Kinh Thánh không nhỉ, ít nhất tôi biết mình từng nghe nói thế trong nhà thờ và ai cũng công nhận, cô dâu trẻ nhận lấy bình đức tin của chồng là điều phải đạo, cho nên tất cả chúng tôi đều mong sẽ gặp cô ở nhà thờ Baptist và—Như tôi vừa nói, dĩ nhiên tôi đồng ý với Đức cha Zitterel rằng tai họa lớn của quốc gia này ngày nay là thiếu đức tin tinh thần—quá ít người đi nhà thờ, rồi thiên hạ lái ô tô vào Chủ nhật và trời mới biết còn làm những gì. Nhưng tôi vẫn nghĩ một tai họa khác là sự phung phí tiền bạc khủng khiếp này, ai nấy cứ cho rằng nhà mình nhất thiết phải có bồn tắm và điện thoại—Tôi nghe nói cô đang bán rẻ đồ đạc cũ.”
“Vâng!”
“Ừm—dĩ nhiên cô biết mình muốn gì, nhưng tôi không khỏi nghĩ rằng, hồi mẹ Will xuống đây trông nom nhà cửa cho cậu ấy—BÀ ẤY vẫn thường chạy sang THĂM tôi, RẤT LUÔN đấy!—thì những đồ đạc ấy vẫn đủ tốt cho bà ấy dùng. Nhưng thôi, thôi, tôi không nên nói gở, tôi chỉ muốn cho cô biết rằng khi cô nhận ra mình không thể trông cậy vào đám trẻ suốt ngày rong chơi như vợ chồng Haydock và vợ chồng Dyer—mà chỉ có trời mới biết trong một năm Juanita Haydock ném qua cửa sổ bao nhiêu tiền—thì khi ấy có lẽ cô sẽ mừng vì biết bà dì Bogart già nua chậm chạp vẫn luôn ở ngay đây, và trời biết—” Một tiếng thở dài đầy điềm gở. “—Tôi MONG cô và chồng cô sẽ không gặp những rắc rối, nào bệnh tật, cãi cọ, phung phí tiền nong và mọi thứ khác mà biết bao đôi vợ chồng trẻ vẫn gặp phải và—Nhưng giờ tôi phải đi thôi, cô em ạ. Thật là một cuộc trò chuyện thú vị và—Bất cứ lúc nào cũng cứ ghé thăm tôi nhé. Will vẫn khỏe chứ? Tôi thấy hình như cậu ấy hơi xanh xao một chút.”
Phải hai mươi phút sau bà Bogart mới rỉ hẳn ra khỏi cửa trước. Carol chạy trở vào phòng khách, giật tung các cửa sổ. “Người đàn bà ấy để lại những dấu tay ẩm ướt trong không khí,” cô nói.
II
Carol hoang phí, nhưng ít nhất cô không tìm cách phủi tội bằng việc đi khắp nơi sụt sùi: “Tôi biết mình hoang phí khủng khiếp, nhưng hình như tôi chẳng thể nào cưỡng lại được.”
Kennicott chưa bao giờ nghĩ đến chuyện cấp cho cô một khoản tiêu riêng. Mẹ anh có bao giờ được cấp đâu! Khi còn là một cô gái độc thân tự kiếm sống, Carol từng tuyên bố với các đồng nghiệp thủ thư rằng sau khi lấy chồng, cô sẽ có một khoản tiêu riêng và sẽ sống có tính toán, hiện đại. Nhưng thật quá phiền phức nếu phải giải thích cho sự ngoan cố hiền lành của Kennicott rằng cô vừa là một bà nội trợ thực tế, vừa là một người bạn đời nhẹ dạ thích vui đùa. Cô mua một cuốn sổ kế toán theo phương pháp lập ngân sách và tính toán chi tiêu chính xác hết mức mà một bản ngân sách thiếu ngân khoản có thể đạt tới.
Trong tháng đầu tiên, chuyện nũng nịu xin tiền, thú nhận: “Trong nhà em chẳng còn một xu nào, anh yêu,” rồi được bảo: “Em đúng là con thỏ nhỏ hoang phí,” vẫn là trò đùa của tuần trăng mật. Nhưng cuốn sổ ngân sách khiến cô nhận ra tiền nong của mình mơ hồ đến mức nào. Cô bắt đầu cảm thấy ngượng ngập; thỉnh thoảng cô phẫn nộ vì lúc nào cũng phải cầu xin anh tiền để mua thức ăn cho chính anh. Cô bắt gặp mình đang chỉ trích niềm tin của anh rằng, vì câu đùa về việc cố giữ cô khỏi rơi vào nhà tế bần đã có lần được công nhận là lời khôi hài tuyệt diệu, nên nó phải tiếp tục là câu dí dỏm hằng ngày của anh. Thật phiền toái khi phải chạy theo anh xuống phố chỉ vì cô quên xin tiền lúc ăn sáng.
Nhưng cô không thể “làm anh tổn thương,” cô ngẫm nghĩ. Anh thích vẻ uy quyền khi ban phát tiền bạc.
Cô cố giảm bớt số lần phải xin bằng cách mở tài khoản mua chịu và cho gửi hóa đơn đến anh. Cô nhận thấy những thực phẩm thiết yếu như đường, bột mì có thể mua rẻ nhất tại cửa hàng tạp hóa quê mùa của Axel Egge. Cô ngọt ngào nói với Axel:
“Tôi nghĩ tốt hơn hết là nên mở một tài khoản mua chịu ở đây.”
“Tôi không buôn bán kiểu gì ngoài trả tiền mặt,” Axel càu nhàu.
Cô nổi nóng: “Ông có biết tôi là ai không?”
“Ờ, biết chứ, tôi biết. Bác sĩ thì chắc chắn trả được. Nhưng đó chỉ là quy tắc tôi đặt ra. Tôi bán giá thấp. Tôi buôn bán bằng tiền mặt.”
Cô trừng trừng nhìn gương mặt đỏ gay, trơ trơ của ông ta, và những ngón tay cô nảy sinh ham muốn chẳng lấy gì làm đường bệ là tát ông ta một cái, nhưng lý trí lại đồng tình với ông. “Ông hoàn toàn đúng. Ông không nên phá lệ vì tôi.”
Cơn giận của cô không hề tiêu tan. Nó chỉ được chuyển sang chồng cô. Cô cần gấp mười pao đường, nhưng không có tiền. Cô chạy lên cầu thang đến phòng khám của Kennicott. Trên cửa có tấm biển quảng cáo thuốc chữa đau đầu và ghi: “Bác sĩ đi vắng, sẽ trở lại lúc—” Dĩ nhiên, chỗ trống ấy không được điền. Cô giậm chân. Cô chạy xuống hiệu thuốc—câu lạc bộ của các bác sĩ.
Vừa bước vào, cô đã nghe bà Dyer nài nỉ: “Dave, em phải có ít tiền.”
Carol thấy chồng mình ở đó cùng hai người đàn ông khác, tất cả đều thích thú lắng nghe.
Dave Dyer quát: “Em muốn bao nhiêu? Một đô-la đủ chưa?”
“Không, không đủ! Em phải mua ít đồ lót cho bọn trẻ.”
“Lạy Chúa, chúng có đủ đồ nhét đầy tủ đến mức lần trước lúc cần, anh chẳng tìm thấy đôi ủng đi săn đâu cả.”
“Em không cần biết. Tất cả đều rách tươm rồi. Anh phải đưa em mười đô-la—”
Carol nhận ra bà Dyer đã quen với sự nhục nhã này. Cô nhận ra đám đàn ông, đặc biệt là Dave, coi đó là một trò đùa tuyệt diệu. Cô chờ—cô biết điều gì sẽ đến—và nó đến thật. Dave tru lên: “Mười đô-la anh đưa em năm ngoái đâu rồi?” rồi nhìn sang những người đàn ông kia chờ họ cười. Họ cười.
Lạnh lùng và bất động, Carol bước đến chỗ Kennicott, ra lệnh: “Em muốn gặp anh trên gác.”
“Sao—có chuyện gì à?”
“Có!”
Anh nặng nề bước theo cô lên cầu thang, vào căn phòng khám trơ trụi. Trước khi anh kịp thốt ra câu hỏi, cô đã tuyên bố:
“Hôm qua, trước một quán rượu, em nghe một bà vợ nông dân người Đức xin chồng hai mươi lăm xu để mua đồ chơi cho con—và ông ta từ chối. Vừa rồi em lại nghe bà Dyer chịu cùng một nỗi nhục. Còn em—em cũng ở đúng vào hoàn cảnh ấy! Em phải xin anh tiền. Hằng ngày! Em vừa được báo rằng mình không thể mua đường vì không có tiền trả!”
“Ai nói thế? Có Chúa chứng giám, anh sẽ giết bất cứ thằng—”
“Thôi. Không phải lỗi của ông ta. Là lỗi của anh. Và của em. Giờ em xin hạ mình cầu anh cho em tiền để mua những bữa ăn cho anh dùng. Và từ nay xin anh nhớ lấy. Lần sau em sẽ không xin nữa. Em chỉ việc nhịn đói. Anh hiểu không? Em không thể tiếp tục làm nô lệ—”
Sự thách thức, niềm thích thú của cô với vai diễn ấy, cạn sạch. Cô nức nở bên chiếc áo khoác ngoài của anh: “Sao anh có thể làm nhục em như thế?” còn anh cũng sụt sịt: “Quỷ thật, anh đã định đưa em ít tiền, rồi anh quên mất. Anh thề sẽ không quên nữa. Có Chúa, anh sẽ không quên!”
Anh ép cô nhận năm mươi đô-la, và từ đó về sau anh nhớ đưa tiền cho cô đều đặn... đôi khi.
Mỗi ngày cô đều quyết tâm: “Nhưng mình phải có một khoản cố định—phải làm đâu ra đấy. Có hệ thống. Mình phải giải quyết chuyện này.” Và mỗi ngày cô chẳng giải quyết gì cả.
III
Vẻ độc địa õng ẹo trong những lời bình phẩm của bà Bogart về đồ đạc mới đã thúc đẩy Carol tiết kiệm. Cô nghiêm trang bàn với Bea về thức ăn thừa. Cô đọc lại sách dạy nấu ăn và, như một đứa trẻ xem sách tranh, nghiên cứu sơ đồ con bò vẫn anh dũng tiếp tục gặm cỏ dù đã bị chia thành từng phần thịt.
Nhưng cô lại là một kẻ vung tiền có chủ tâm và đầy hân hoan khi chuẩn bị cho buổi tiệc đầu tiên của mình, tiệc mừng nhà mới. Cô lập danh sách trên mọi phong bì và phiếu giặt là trong bàn giấy. Cô gửi đơn đặt hàng đến các “hiệu thực phẩm cao cấp” ở Minneapolis. Cô ghim mẫu rồi khâu vá. Cô bực mình khi Kennicott pha trò về “những việc trọng đại ghê gớm đang diễn ra.” Cô coi buổi tiệc là một cuộc tấn công vào tính rụt rè của Gopher Prairie trong chuyện vui chơi. “Nếu chẳng làm được gì khác thì em cũng sẽ khiến họ náo nhiệt. Em sẽ buộc họ thôi coi tiệc tùng như những buổi họp ủy ban.”
Kennicott thường tự coi mình là chủ nhà. Theo ý muốn của anh, cô đi săn, biểu tượng hạnh phúc của anh, và gọi món cháo cho bữa sáng, biểu tượng đạo đức của anh. Nhưng khi về nhà vào buổi chiều trước tiệc mừng nhà mới, anh nhận ra mình là một tên nô lệ, một kẻ xâm nhập, một gã vụng về. Carol than vãn: “Sửa lò sưởi đi để sau bữa tối anh khỏi phải đụng đến nó nữa. Và vì Chúa, mang tấm thảm chùi chân cũ kinh khủng ấy khỏi hiên nhà đi. Rồi mặc chiếc sơ-mi nâu trắng đẹp của anh vào. Sao anh về muộn thế? Anh làm ơn nhanh lên được không? Sắp đến giờ ăn tối rồi, mà lũ yêu quái ấy rất có thể sẽ đến lúc bảy giờ thay vì tám giờ. LÀM ƠN nhanh lên!”
Cô vô lý chẳng khác gì một nữ diễn viên chính nghiệp dư trong đêm công diễn đầu tiên, còn anh thì bị ép phải khúm núm. Khi cô xuống dùng bữa tối, khi cô đứng nơi khung cửa, anh sững sờ. Cô khoác trên mình một lớp áo bạc ôm sát như đài hoa huệ, mái tóc vấn cao tựa thủy tinh đen; cô mang vẻ mong manh và đắt giá của một chiếc ly Viennese; đôi mắt cô rực cháy. Anh xúc động đến mức đứng dậy khỏi bàn, kéo ghế cho cô; và suốt bữa tối, anh ăn bánh mì khô vì cảm thấy cô sẽ cho anh là thô tục nếu anh nói: “Đưa anh đĩa bơ được không?”
IV
Nàng đã đạt tới sự bình thản, chẳng còn bận tâm xem khách khứa có thích buổi tiệc hay không, và tới một trạng thái hồi hộp mãn nguyện trước cung cách phục vụ của Bea, thì Kennicott từ cửa sổ lồi trong phòng khách gọi vọng ra: “Có người đến kìa!”; và ông bà Luke Dawson rụt rè bước vào lúc tám giờ kém mười lăm. Rồi, trong một trận tuyết lở ngượng ngập, toàn thể giới quý tộc Gopher Prairie kéo đến: hết thảy những người làm nghề chuyên môn, hoặc kiếm hơn hai nghìn năm trăm đô-la một năm, hoặc có ông bà sinh tại Mỹ.
Ngay trong lúc cởi giày đi tuyết, họ đã liếc trộm những món trang trí mới. Carol thấy Dave Dyer lén lút lật mấy chiếc gối màu vàng lên tìm nhãn giá, và nghe ông Julius Flickerbaugh, viên luật sư, há hốc thốt: “Chà, tôi đến chịu!” khi trông thấy bức tranh son đỏ treo trên dải thắt lưng obi Nhật Bản. Nàng thấy buồn cười. Nhưng niềm phấn chấn trong nàng chùng xuống khi thấy họ dàn thành đội ngũ chỉnh tề, kết nên một vòng tròn dài, lặng lẽ, bất an, chạy khắp phòng khách. Nàng cảm thấy như mình vừa bị phép thuật cuốn trở lại buổi tiệc đầu tiên ở nhà Sam Clark.
“Mình lại phải nhấc họ lên như nhấc cả đống thỏi gang hay sao? Chẳng biết mình có làm họ vui nổi không, nhưng nhất định phải làm họ cuống cuồng lên mới được.”
Như một ngọn lửa bạc giữa vòng người đang sẫm tối, nàng xoay tít, lôi cuốn họ bằng nụ cười và cất giọng: “Tôi muốn buổi tiệc của mình phải thật ầm ĩ, thật chẳng đứng đắn chút nào! Đây là lễ đặt tên cho ngôi nhà của tôi, và tôi muốn quý vị giúp tôi gây ảnh hưởng xấu lên nó, để nó trở thành một ngôi nhà ham vui. Vì tôi, xin tất cả cùng nhảy một điệu vuông kiểu cổ nhé? Và ông Dyer sẽ hô nhịp.”
Nàng đã đặt sẵn một đĩa hát lên máy quay đĩa; Dave Dyer nhảy nhót giữa sàn, người gầy nhỏ, khớp xương lỏng lẻo, tóc màu hung, mũi nhọn, vừa vỗ tay vừa hô: “Xoay bạn nhảy—đổi bên trái!”
Ngay cả vợ chồng triệu phú Dawson, Ezra Stowbody và “Giáo sư” George Edwin Mott cũng nhảy, nom chỉ hơi ngớ ngẩn đôi chút; còn Carol, bằng cách chạy khắp phòng, làm duyên và dỗ dành tất cả những ai trên bốn mươi lăm tuổi, đã kéo được họ vào một điệu valse và một điệu Virginia Reel. Nhưng khi nàng mặc họ tự làm mất vui theo cách riêng, Harry Haydock đặt một đĩa nhạc one-step lên máy quay đĩa, đám trẻ chiếm sàn nhảy, còn tất cả các bậc cao niên lẻn về ghế, trên môi đông cứng những nụ cười ngụ ý: “Điệu này chắc tôi không thử đâu, nhưng xem bọn trẻ nhảy thì cũng vui lắm.”
Một nửa ngồi im; nửa kia tiếp tục những cuộc bàn luận hồi chiều ở cửa hiệu. Ezra Stowbody lục tìm một điều gì để nói, giấu một cái ngáp, rồi gợi chuyện với Lyman Cass, chủ nhà máy bột: “Nhà bác thấy cái lò sưởi mới thế nào, Lym? Hử? Vậy à?”
“Ôi, cứ để mặc họ. Đừng quấy rầy. Hẳn họ thích thế, nếu không đã chẳng làm.” Carol tự răn mình. Nhưng mỗi lần nàng lướt qua, họ lại nhìn nàng đầy chờ đợi, khiến nàng một lần nữa tin chắc rằng trong những cuộc truy hoan đứng đắn, họ đã đánh mất cả khả năng vui chơi lẫn khả năng suy nghĩ vô tư. Ngay đến những người đang nhảy cũng dần bị sức mạnh vô hình của năm mươi trí óc hoàn toàn trong sạch, ngoan ngoãn và tiêu cực đè bẹp; rồi từng đôi một, họ ngồi xuống. Chỉ trong hai mươi phút, buổi tiệc lại được nâng lên tới vẻ nghiêm trang của một buổi cầu nguyện.
“Chúng ta sẽ làm một trò gì thật hào hứng,” Carol reo lên với người bạn tâm giao mới, Vida Sherwin. Nàng nhận ra rằng giữa bầu không khí mỗi lúc một yên, giọng mình đã vang sang tận bên kia phòng. Nat Hicks, Ella Stowbody và Dave Dyer đều lơ đãng, ngón tay cùng đôi môi khẽ động đậy. Nàng biết chắc đến lạnh người rằng Dave đang tập nhẩm “màn trò” về người Na Uy bắt con gà mái, Ella đang ôn lại những câu đầu bài “Người Yêu Xưa Của Tôi”, còn Nat thì nghĩ tới bài nhại được ưa chuộng của anh ta về diễn văn của Mark Antony.
“Nhưng tôi nhất định không cho ai dùng chữ ‘màn trò’ trong nhà mình,” nàng thì thầm với cô Sherwin.
“Hay đấy. Tôi bảo này: sao không để Raymond Wutherspoon hát?”
“Raymie ấy à? Trời, chị thân mến, anh ta là kẻ mơ mộng ủy mị nhất thị trấn!”
“Nghe đây, cô bé! Ý kiến của cô về trang trí nhà cửa thì rất vững, nhưng ý kiến về con người thì tệ hết chỗ nói! Raymie đúng là cứ ve vẩy đuôi thật. Nhưng tội nghiệp anh chàng——Khát khao cái mà anh ta gọi là ‘tự biểu hiện’, trong khi chẳng được đào tạo gì ngoài việc bán giày. Nhưng anh ta hát được. Và một ngày nào đó, khi thoát khỏi sự bảo trợ và chế giễu của Harry Haydock, anh ta sẽ làm nên một điều đáng kể.”
Carol xin lỗi vì vẻ khinh khỉnh của mình. Nàng nài Raymie, đồng thời cảnh cáo những người đang trù tính các “màn trò”: “Tất cả chúng tôi đều muốn nghe ông hát, ông Wutherspoon. Ông là nghệ sĩ nổi tiếng duy nhất mà tối nay tôi cho phép lên sân khấu đấy.”
Trong khi Raymie đỏ mặt thú nhận: “Ồ, mọi người đâu muốn nghe tôi,” anh ta đã hắng giọng, kéo chiếc khăn tay sạch nhô cao hơn khỏi túi ngực, và luồn các ngón tay vào giữa những chiếc cúc áo gi-lê.
Vì mến người đã bênh vực Raymie, lại khao khát “phát hiện tài năng nghệ thuật”, Carol chuẩn bị tinh thần để lấy làm thích thú trước màn trình diễn.
Raymie hát “Bay Như Cánh Chim”, “Nàng Là Chim Bồ Câu Của Tôi” và “Khi Cánh Én Nhỏ Rời Tổ Xinh”, tất cả bằng một giọng nam cao dâng lễ tệ hại vừa phải.
Carol rùng mình vì nỗi hổ thẹn thay mà những người nhạy cảm vẫn cảm thấy khi nghe một “nghệ sĩ ngâm diễn” pha trò, hoặc nhìn một đứa trẻ sớm khôn biểu diễn vụng về trước công chúng một việc mà chẳng đứa trẻ nào nên làm cả. Nàng muốn bật cười trước vẻ tự đắc mãn nguyện trong đôi mắt lim dim của Raymie; lại muốn khóc trước niềm tham vọng nhẫn nhịn phủ quanh như vầng hào quang trên gương mặt nhợt nhạt, đôi tai vểnh và mái tóc vàng cát chải phồng của anh ta. Vì cô Sherwin—người sùng mộ đầy tin tưởng đối với mọi điều vốn là, hoặc có thể hình dung là, cái thiện, cái chân và cái mỹ—nàng cố tỏ vẻ thán phục.
Cuối khúc trữ tình điểu học thứ ba, cô Sherwin bừng tỉnh khỏi tư thế ngây ngất xuất thần, ghé Carol thổn thức: “Chao ôi! Ngọt ngào quá! Dĩ nhiên giọng Raymond không hay khác thường, nhưng cô có thấy anh ấy gửi biết bao tình cảm vào đó không?”
Carol nói dối một cách đen tối và tráng lệ, song chẳng có gì độc đáo: “Ồ vâng, tôi cũng thấy anh ấy có biết bao TÌNH CẢM!”
Nàng thấy rằng sau nỗ lực lắng nghe theo lối tao nhã, cử tọa đã suy sụp; họ từ bỏ niềm hy vọng cuối cùng được vui chơi. Nàng reo lên: “Bây giờ chúng ta sẽ chơi một trò ngớ ngẩn mà tôi học được ở Chicago. Mở đầu, quý vị phải cởi giày ra! Sau đó, rất có thể quý vị sẽ làm gãy đầu gối và xương bả vai.”
Mọi người hết sức chú ý và không thể tin nổi. Vài cặp lông mày biểu lộ phán quyết rằng cô dâu của bác sĩ Kennicott thật ầm ĩ và chẳng đứng đắn.
“Tôi sẽ chọn những người hung ác nhất, như Juanita Haydock và tôi, làm mục đồng. Những người còn lại là sói. Giày của quý vị là cừu. Bầy sói đi ra hành lang. Các mục đồng rải đàn cừu khắp phòng này, rồi tắt hết đèn; bầy sói từ hành lang bò vào và trong bóng tối tìm cách cướp giày khỏi tay các mục đồng—những người được phép làm bất cứ điều gì, trừ cắn và dùng dùi cui. Bầy sói ném những chiếc giày cướp được ra hành lang. Không ai được miễn! Nào! Cởi giày ra!”
Ai nấy nhìn nhau và đợi người khác bắt đầu.
Carol đá văng đôi hài bạc, phớt lờ cái nhìn đồng loạt đổ dồn vào vòm bàn chân nàng. Vida Sherwin, ngượng nghịu nhưng trung thành, tháo cúc đôi giày đen cao cổ. Ezra Stowbody cười khành khạch: “Chà, cô đúng là tai họa cho đám già chúng tôi. Cô giống hệt mấy cô gái tôi từng cưỡi ngựa cùng hồi những năm sáu mươi. Tôi chẳng quen dự tiệc bằng chân không cho lắm, nhưng thôi, chơi luôn!” Với một tiếng hú và cú giật đầy hào hiệp, Ezra lột phăng đôi giày Congress có sườn thun.
Những người khác cười khúc khích rồi làm theo.
Khi đàn cừu đã bị nhốt lại, trong bóng tối, bầy sói nhút nhát rón rén bò vào phòng khách, vừa ré lên vừa ngập ngừng; sự lạ lùng của việc tiến qua cõi hư không về phía một kẻ thù đang chờ sẵn—một kẻ thù bí hiểm cứ phình lớn và càng lúc càng đáng sợ—đã đánh bật họ khỏi thói quen trì độn. Bầy sói căng mắt tìm những dấu mốc, chạm phải những cánh tay lướt qua dường như không gắn với thân thể nào, run rẩy trong niềm khoái cảm của sợ hãi. Thực tại đã biến mất. Một cuộc ẩu đả tru ré đột ngột nổi lên, rồi tiếng cười the thé của Juanita Haydock, và tiếng Guy Pollock kinh ngạc: “Ái! Thôi đi! Cô lột da đầu tôi mất!”
Bà Luke Dawson phi giật lùi bằng đôi tay và đầu gối cứng đờ, chạy vào nơi an toàn của hành lang sáng đèn, rên rỉ: “Tôi xin thề, cả đời tôi chưa bao giờ rối loạn đến thế!” Nhưng vẻ đoan trang đã bị giũ sạch khỏi bà, và bà thích thú tiếp tục kêu “Cả ĐỜI chưa bao giờ” khi thấy cánh cửa phòng khách được những bàn tay vô hình mở ra, giày dép bay vèo qua đó, khi nghe từ bóng tối bên kia cửa vọng lại tiếng gào rú, tiếng va đụng và một giọng quả quyết: “Giày cả đống đây này. Xông lên, bầy sói. Ối! Dám thế hả!”
Khi Carol đột ngột bật đèn trong phòng khách đang giao chiến, một nửa số người dự tiệc đang ngồi dựa lưng vào tường, nơi họ đã ranh mãnh ẩn mình suốt trận đánh; nhưng giữa sàn, Kennicott đang vật lộn với Harry Haydock—cổ áo cả hai đều bị giật tung, tóc xõa trước mắt; còn ông Julius Flickerbaugh mặt cú vọ đang tháo lui trước Juanita Haydock, cổ họng nấc lên vì một trận cười xa lạ. Chiếc khăn quàng nâu kín đáo của Guy Pollock vắt xuống lưng. Áo lưới của Rita Simons trẻ tuổi đã mất hai chiếc cúc, để lộ bờ vai tròn trĩnh ngon lành nhiều hơn mức được coi là thanh sạch ở Gopher Prairie. Dù vì sửng sốt, ghê tởm, niềm vui chiến đấu hay sự vận động thân thể, tất cả khách khứa đều được giải phóng khỏi bao năm khuôn phép xã giao. George Edwin Mott cười rúc rích; Luke Dawson xoắn bộ râu; bà Clark khăng khăng: “Em có lấy được thật mà, Sam—em lấy được một chiếc giày—em không ngờ mình có thể đánh nhau dữ đến thế!”
Carol tin chắc mình là một nhà cải cách vĩ đại.
May thay, nàng đã chu đáo chuẩn bị sẵn lược, gương, bàn chải, kim và chỉ. Nàng cho phép họ khôi phục vẻ đoan trang thần thánh của những chiếc cúc áo.
Bea toe toét cười, mang từ trên gác xuống một chồng giấy mềm, dày, in hình hoa sen, rồng, vượn bằng màu lam cô-ban, đỏ thắm và xám, cùng những họa tiết chim tím bay giữa những thân cây xanh màu nước biển trong các thung lũng Xứ Hư Vô.
“Đây,” Carol tuyên bố, “là những bộ trang phục hóa trang Trung Hoa chính hiệu. Tôi mua chúng ở một cửa hiệu nhập khẩu tại Minneapolis. Quý vị hãy mặc phủ ra ngoài quần áo, và xin quên mình là dân Minnesota đi, để hóa thành quan lại, phu phen và—và samurai (có phải thế không nhỉ?), cùng bất cứ thứ gì khác quý vị nghĩ ra.”
Trong lúc họ rụt rè sột soạt khoác những bộ đồ giấy, nàng biến mất. Mười phút sau, nàng từ cầu thang nhìn xuống những cái đầu Yankee đỏ hồng đến kỳ quặc nhô trên các tấm áo phương Đông, rồi gọi lớn: “Công chúa Winky Poo kính chào triều đình!”
Khi họ ngẩng lên, nàng bắt gặp giây phút lặng đi vì thán phục. Họ thấy một hình dáng nhẹ bẫng trong chiếc quần và áo bằng gấm xanh viền vàng; cổ áo vàng cao ôm dưới chiếc cằm kiêu hãnh; mái tóc đen cài trâm ngọc bích; chiếc quạt công buông lơi trong bàn tay vươn ra; đôi mắt ngước lên ngắm ảo tượng những ngọn tháp chùa. Khi rời thế đứng và mỉm cười nhìn xuống, nàng phát hiện Kennicott đỏ bừng như sắp trúng gió vì niềm kiêu hãnh gia đình—còn Guy Pollock tóc hoa râm thì nhìn nàng van vỉ. Trong một giây, giữa toàn bộ khối mặt người hồng hồng nâu nâu ấy, nàng chẳng thấy gì ngoài nỗi khao khát của hai người đàn ông.
Nàng giũ bỏ bùa mê rồi chạy xuống. “Chúng ta sẽ có một buổi hòa nhạc Trung Hoa thực thụ. Các ông Pollock, Kennicott và, thôi được, Stowbody sẽ đánh trống; những người còn lại hát và thổi sáo.”
Sáo là những chiếc lược bọc giấy mỏng; trống là các ghế đẩu và bàn may. Loren Wheeler, chủ bút tờ Dauntless, chỉ huy dàn nhạc bằng một cây thước và một cảm thức nhịp điệu sai lạc hoàn toàn. Âm nhạc gợi nhớ tiếng trống tom-tom từng nghe bên các lều bói toán ở gánh xiếc hoặc tại Hội chợ Bang Minnesota, nhưng toàn thể khách khứa đều đập, thổi, cất giọng eo éo đều đều, và trông ngây ngất vô cùng.
Trước khi họ kịp chán buổi hòa nhạc, Carol dẫn cả đoàn vừa nhảy múa vừa tiến vào phòng ăn, nơi có những bát xanh đựng mì chow mein, cùng quả vải và gừng ngâm xi-rô.
Ngoài tay sành sỏi chốn thị thành Harry Haydock, không ai trong họ từng nghe nói đến một món ăn Trung Hoa nào khác ngoài chop suey. Với vẻ hồ nghi dễ chịu, họ dè dặt vượt qua những măng tre để tiến vào lớp mì chiên vàng óng của món chow mein; Dave Dyer cùng Nat Hicks trình diễn một điệu múa Trung Hoa chẳng lấy gì làm khôi hài; và khắp nơi là tiếng huyên náo cùng niềm mãn nguyện.
Carol thả lỏng người và nhận ra mình mệt đến kinh ngạc. Nàng đã gánh tất cả bọn họ trên đôi vai mảnh dẻ. Nàng không thể tiếp tục mãi. Nàng khao khát có cha mình ở đây, người nghệ sĩ tạo nên những buổi tiệc cuồng loạn. Nàng nghĩ đến việc hút một điếu thuốc để làm họ sửng sốt, rồi xua ý nghĩ tục tĩu ấy đi trước khi nó kịp thành hình trọn vẹn. Nàng tự hỏi liệu có thể dỗ họ, chỉ trong năm phút, nói về một điều gì khác ngoài cái mui mùa đông của chiếc Ford nhà Knute Stamquist và chuyện Al Tingley đã nói gì về bà mẹ vợ hay không. Nàng thở dài: “Ôi, cứ mặc họ. Mình làm đủ rồi.” Nàng vắt chéo đôi chân mặc quần, khoan khoái thu mình bên đĩa gừng; bắt gặp nụ cười lặng lẽ chúc mừng của Pollock, và tự hài lòng vì đã phủ một ánh hồng lên viên luật sư nhợt nhạt; rồi hối hận vì ý nghĩ dị giáo rằng ngoài chồng mình ra còn có bất kỳ người đàn ông nào tồn tại; nàng bật dậy đi tìm Kennicott và thì thầm: “Đức ông có vui không? . . . Không, chẳng tốn kém bao nhiêu đâu!”
“Buổi tiệc tuyệt nhất thị trấn này từng thấy. Chỉ có điều——Đừng vắt chéo chân khi mặc bộ đồ ấy. Lộ đầu gối quá.”
Nàng bực bội. Nàng phẫn uất trước sự vụng về của chồng. Nàng quay lại với Guy Pollock và trò chuyện về các tôn giáo Trung Hoa—không phải nàng biết chút gì về các tôn giáo Trung Hoa, nhưng ông đã đọc một cuốn sách về đề tài ấy, cũng như trong những tối cô độc tại văn phòng, ông đã đọc ít nhất một cuốn sách về mọi đề tài trên đời. Trong mắt nàng, vẻ từng trải gầy gò của Guy đang biến thành tuổi trẻ hồng hào, và họ đang rong chơi trên một hòn đảo giữa biển chuyện trò vàng rực thì nàng nhận ra khách khứa đã bắt đầu những tiếng ho biểu thị, bằng thứ ngôn ngữ bản năng phổ quát, rằng họ muốn về nhà đi ngủ.
Trong lúc họ quả quyết rằng đây là “buổi tiệc thú vị nhất họ từng thấy—chao ôi! mới tài tình và độc đáo làm sao,” nàng cười rạng rỡ hết sức, bắt tay họ, và nói bao điều thích hợp về con cái, về việc nhớ quấn áo thật ấm, về giọng hát của Raymie và tài chơi trò chơi của Juanita Haydock. Rồi nàng mệt mỏi quay sang Kennicott trong ngôi nhà ngập đầy im lặng, vụn thức ăn và những mảnh rách của trang phục Trung Hoa.
Chàng đang cười khùng khục: “Anh bảo em này, Carrie, quả thật em là một kỳ quan, và xem ra em nói đúng về chuyện đánh thức mọi người. Giờ em đã chỉ cho họ cách làm, họ sẽ không tiếp tục tổ chức mãi những buổi tiệc với những trò cũ rích như trước nữa. Này! Đừng đụng vào thứ gì! Em làm đủ rồi. Lên giường ngay đi, để anh dọn dẹp.”
Đôi bàn tay khôn khéo của nhà phẫu thuật vuốt ve vai nàng, và nỗi bực bội trước sự vụng về của chàng tan biến trong sức mạnh ấy.
V
Trích tuần báo Dauntless:
Một trong những sự kiện giao tế thú vị nhất mấy tháng gần đây đã diễn ra vào tối thứ Tư, tại buổi tiệc mừng nhà mới của bác sĩ và bà Kennicott, những người đã trang hoàng lại hoàn toàn ngôi nhà duyên dáng của mình trên phố Poplar, nay cực kỳ lịch lãm với lối phối màu hiện đại. Bác sĩ cùng cô dâu đã mở cửa đón đông đảo bạn bè, và một số trò tiêu khiển mới lạ đã được tổ chức, trong đó có một dàn nhạc Trung Hoa vận y phục phương Đông nguyên bản và chính hiệu, do Bổn Chủ Bút làm nhạc trưởng. Những món ăn nhẹ thanh nhã được dọn theo đúng cung cách phương Đông, và tất cả mọi người đều nhất trí rằng đó là một buổi vui thú vị.
VI
Tuần sau đó, vợ chồng Chet Dashaway mở tiệc. Nhóm người ủ rũ như đưa đám vẫn yên vị suốt cả buổi tối, còn Dave Dyer biểu diễn “tiết mục” người Na Uy và con gà mái.