Phúc lành của đất — Chương 31: Quyển II · Chương XII
Chương 31 / 31 · Bài review Phúc lành của đất
Một đoàn diễu hành đáng chú ý đang đi lên Sellanraa; có khi trông cũng nực cười, nhưng còn hơn thế. Ba người đàn ông với những gánh nặng khổng lồ, những cái bao lủng lẳng từ vai xuống, trước và sau. Đi hàng một, và í ới với nhau những câu đùa, nhưng nặng trĩu. Andresen bé nhỏ, thư ký trưởng, cầm đầu đoàn ấy; quả thật đó là đoàn của anh ta; anh ta đã tự trang bị cho mình, cho Sivert ở Sellanraa và một người nữa, Fredrik Ström ở Breidablik, cho chuyến đi này. Andresen là một người đáng chú ý; vai anh ta oằn chéo xuống một bên, và cái áo khoác thì xô lệch cả ở cổ, cái lối anh ta đi, nhưng anh ta cứ vác gánh của mình mà đi và đi.
Storborg và cái cơ nghiệp Eleseus bỏ lại — ừ, có khi chẳng phải mua đứt ngay tại chỗ, thế thì quá sức Andresen; thà đợi một chút rồi có khi được cả mà chẳng mất gì. Andresen chẳng ngốc; trước mắt anh ta nhận thuê chỗ ấy, và tự mình điều hành.
Rà lại hàng tồn, anh ta thấy trong kho Eleseus khối thứ chẳng bán được, đến cả những thứ như bàn chải đánh răng và khăn trải bàn thêu; ừ, và cả chim nhồi bông lắp lò xo kêu chít chít khi ấn đúng chỗ.
Đó chính là những thứ giờ anh ta mang theo lên đường, định bán cho đám thợ mỏ bên kia đồi. Từ thời Aronsen anh ta đã biết rằng thợ mỏ có tiền trong túi thì mua bất cứ thứ gì trên đời. Chỉ tiếc là anh ta phải bỏ lại sáu con ngựa bập bênh mà Eleseus đã đặt trong chuyến đi Bergen cuối cùng.
Đoàn lữ hành rẽ vào sân Sellanraa và đặt gánh xuống. Chẳng đợi lâu ở đây; họ uống một cốc sữa, và giả vờ chào bán hàng ngay tại chỗ, rồi vác gánh lên mà đi tiếp. Họ chẳng ra đây để giả vờ. Rồi họ đi, lăn về phía nam xuyên qua rừng.
Họ đi tới trưa, nghỉ ăn một bữa rồi lại đi tới chiều. Rồi họ hạ trại đốt lửa, nằm xuống, ngủ một lúc. Sivert ngủ tựa vào một tảng đá mà nó gọi là ghế bành. Chao, Sivert biết mình làm gì; đây, mặt trời đã hong ấm tảng đá ấy suốt cả ngày, thành một chỗ tốt để ngồi mà ngủ. Hai bạn nó chẳng khôn thế, mà cũng chẳng nghe lời khuyên; họ nằm xuống đám thạch nam, rồi thức dậy thấy lạnh, và hắt hơi. Rồi họ ăn sáng và lại lên đường.
Giờ họ lắng nghe, xem có tiếng nổ mìn nào quanh đó không; họ mong sẽ tới được cái mỏ, và trong ngày sẽ gặp người. Đến giờ công việc hẳn đã tiến được xa lắm; một quãng khá dài từ mép nước lên phía Sellanraa. Nhưng chẳng có tiếng nổ mìn nào ở đâu cả. Họ đi tới trưa, chẳng gặp một bóng người nào; nhưng chỗ này chỗ kia họ bắt gặp những cái hố dưới đất, nơi người ta đã đào thăm dò. Thế nghĩa là sao? Hẳn nghĩa là quặng ở đầu xa kia của khu đất phải giàu hơn thường; họ đang lấy được đồng nặng nguyên chất, và cứ bám lấy đầu ấy suốt.
Buổi chiều họ gặp thêm mấy cái mỏ nữa, nhưng chẳng có thợ mỏ nào; họ đi tới chiều tối, và đã trông thấy biển ở dưới; đi qua cả một vùng hoang những mỏ bỏ hoang, mà chẳng một tiếng động. Tất cả đều khó hiểu, nhưng chẳng biết làm sao; đêm ấy họ lại phải hạ trại mà ngủ ngoài trời. Họ bàn với nhau: Chẳng lẽ công việc đã ngừng? Có nên quay về không? “Chẳng đời nào,” Andresen nói.
Sáng hôm sau có một người đi vào chỗ trại của họ — một người xanh xao hốc hác nhìn họ cau có, xoáy vào. “Andresen đấy à?” người ấy nói. Đó là Aronsen, Aronsen ông chủ hiệu. Ông ta chẳng nói “Không” với một tách cà phê nóng và chút gì ăn cùng đoàn lữ hành, mà ngồi phịch xuống ngay. “Tôi thấy khói lửa của các anh nên lên xem là cái gì,” ông ta nói. “Tôi tự bảo: ‘Chắc chắn rồi, họ tỉnh trí ra mà khởi công lại.’ Mà rốt cuộc chỉ là các anh! Thế các anh định đi đâu?”
“Tới đây.”
“Các anh mang gì theo thế?”
“Hàng.”
“Hàng?” Aronsen kêu lên. “Lên đây với hàng để bán à? Ai mua? Chẳng còn một bóng người. Họ đi từ thứ Bảy tuần trước rồi.”
“Đi rồi? Ai đi?”
“Tất cả. Giờ chẳng còn một bóng người nào ở đó. Mà đằng nào tôi cũng thừa hàng rồi. Cả một cửa hiệu chật ních. Các anh muốn gì tôi bán cho.”
Chao, ông chủ hiệu Aronsen lại lâm nạn! Cái mỏ đã đóng cửa.
Họ rót cà phê cho ông ta tới khi ông ta bình tĩnh lại, rồi hỏi tất cả nghĩa là sao.
Aronsen lắc đầu tuyệt vọng. “Chẳng hiểu nổi, chẳng có lời nào tả được,” ông ta nói. Mọi sự đã đi tốt đẹp đến thế, ông ta đã bán được hàng, tiền đổ vào; cả vùng làng quanh đó phát đạt, ăn thứ bột mịn nhất, có trường học mới, có đèn treo và giày tỉnh, đủ cả! Rồi thình lình các quan lớn trên mỏ nảy ra ý rằng cái đó chẳng lời, mà đóng cửa. Chẳng lời? Nhưng trước nó lời đấy thôi? Chẳng phải mỗi lần nổ mìn là có đồng sạch phơi ra rành rành đó sao? Ấy là lừa đảo trắng trợn, chẳng kém. “Mà chẳng một ý nghĩ nào về việc cái đó có nghĩa gì với một người như tôi. Ừ, tôi ngờ là đúng như người ta nói; chính cái lão Geissler ấy là gốc rễ của tất cả, y như lần trước. Lão vừa lên là công việc ngừng; cứ như thể lão đánh hơi ra được.”
“Geissler, thế ông ấy ở đây à?”
“Chứ sao? Đáng bắn bỏ, đúng thế! Một hôm lão theo tàu lên rồi bảo ông kỹ sư: ‘Nào, công việc thế nào rồi?’ — ‘Theo chỗ tôi thấy thì ổn cả,’ ông kỹ sư nói. Nhưng lão Geissler cứ đứng đó mà hỏi lại: ‘Ơ, ổn cả à?’ — ‘Ừ, theo chỗ tôi biết,’ ông kỹ sư nói. Nhưng thật như tôi đang ở đây, thư từ chuyến tàu chính lão Geissler đi vừa lên tới là có cả thư lẫn điện tín gửi ông kỹ sư rằng công việc chẳng lời, và ông ta phải đóng cửa ngay.”
Mấy thành viên đoàn thám hiểm nhìn nhau, nhưng người cầm đầu, chính Andresen, thì chưa mất can đảm.
“Các anh cứ quay về nhà thì hơn,” Aronsen khuyên.
“Chúng tôi chẳng làm thế đâu,” Andresen nói, rồi gói cái ấm cà phê lại.
Aronsen trân trân nhìn lần lượt cả ba người. “Thế thì các anh điên rồi,” ông ta nói.
Phải thấy rằng, giờ Andresen chẳng mấy bận tâm ông chủ cũ của mình nói gì; giờ chính anh ta là ông chủ, là người cầm đầu một đoàn thám hiểm do chính anh ta tự bỏ tiền trang bị cho một chuyến đi tới những miền xa; quay về ngay chỗ này thì mất uy.
“Ừ thì các anh định đi đâu?” Aronsen hỏi, cáu kỉnh.
“Chẳng nói được,” Andresen đáp. Nhưng hẳn anh ta cũng có ý riêng; có khi đang nghĩ tới dân bản xứ, và chuyện ba người đàn ông kéo xuống một vùng với hạt cườm thuỷ tinh và nhẫn đeo tay. “Ta đi thôi,” anh ta bảo mấy người kia.
Vốn dĩ sáng ấy Aronsen hẳn cũng định đi lên xa hơn, vì đã tới tận đây, có khi muốn xem cả chỗ ấy có thật hoang vắng hết không, có thật là mọi người đã đi cả không. Nhưng thấy đám bán rong này quyết đi tiếp thì ông ta cản, và bảo họ hết lần này tới lần khác rằng họ điên mới thử. Chính Aronsen thì điên tiết, đi phăm phăm phía trước đoàn lữ hành, chốc chốc lại quay lại mà quát họ, sủa vào họ, cố giữ họ ra khỏi cái vùng của ông ta. Rồi cứ thế họ xuống tới khu lán ở trung tâm mỏ.
Một thị trấn nhỏ toàn lán, nhưng trống trơn và hoang vắng. Phần lớn dụng cụ và đồ nghề được che đậy dưới mái, nhưng cột và ván, xe hỏng và hòm và thùng thì nằm ngổn ngang khắp nơi; chỗ này chỗ kia trên một cánh cửa có tờ yết thị đề “Cấm vào”.
“Đấy,” Aronsen kêu lên. “Tôi bảo sao nào? Chẳng một bóng người.” Rồi ông ta doạ đoàn lữ hành sẽ gặp tai hoạ — ông ta sẽ cho gọi ông _Lensmand_; đằng nào thì giờ ông ta cũng sẽ theo sát từng bước họ, mà nếu bắt được họ buôn bán trái phép thì là khổ sai và tù đày, chẳng sai!
Thình lình có ai đó gọi Sivert. Rốt cuộc chỗ này cũng chẳng chết hẳn, chẳng hoàn toàn hoang vắng; kìa có một người đứng vẫy ở góc một ngôi nhà. Sivert lăn tới với gánh của mình, và nhận ra ngay là ai — Geissler.
“Gặp anh ở đây thì buồn cười thật,” Geissler nói. Mặt ông ta đỏ và tươi tốt, nhưng xem chừng mắt ông ta chịu chẳng nổi cái chói của mùa xuân, ông ta đeo kính râm. Ông ta nói vẫn sắc sảo như xưa. “May nhất trên đời,” ông ta nói. “Đỡ cho tôi phải lên tận Sellanraa; mà tôi thì có khối việc phải lo. Giờ trong vùng _Almenning_ có bao nhiêu nhà khai hoang?”
“Mười.”
“Mười trại mới. Tôi chịu. Tôi hài lòng. Nhưng cái xứ này cần đến ba mươi hai ngàn người cỡ như bố anh. Ừ, tôi nói thế và tôi nói thật; tôi đã tính rồi.”
“Sivert, cậu đi tiếp không?” Đoàn lữ hành đang đợi.
Geissler nghe thấy, và đáp trả sắc lẻm: “Không.”
“Tôi theo sau,” Sivert gọi với, rồi đặt gánh xuống.
Hai người ngồi xuống nói chuyện. Hôm nay Geissler đang đúng tâm trạng; thần hứng nhập vào ông ta, và ông ta nói suốt, chỉ ngừng khi Sivert chen vào một hai câu đáp, rồi lại nói tiếp. “May quá — chẳng nhịn được mà nói thế. Mọi sự đều xoay đúng như tôi muốn suốt dọc đường lên, mà giờ gặp anh ở đây thì đỡ được cả chuyến lên Sellanraa. Ở nhà ổn cả chứ?”
“Ổn cả, cảm ơn ông.”
“Dựng xong cái gác cỏ trên chuồng bò chưa?”
“Ừ, xong rồi.”
“Ừ thì — tôi có cả đống việc phải lo, gần như quá sức tôi. Cứ nhìn chỗ chúng ta đang ngồi đây chẳng hạn. Anh thấy thế nào, Sivert? Một thành phố đổ nát, hả? Người ta xúm vào dựng nó lên, tất cả đều trái với bản tính và trái với cái tốt của chính mình. Nói cho đúng thì tất cả là lỗi tôi ngay từ đầu — nghĩa là, tôi là một tác nhân khiêm tốn trong guồng máy của số phận. Tất cả bắt đầu khi bố anh nhặt mấy hòn đá trên đồi mà cho anh chơi hồi anh còn bé. Nó bắt đầu như thế. Tôi thừa biết mấy hòn đá ấy chỉ đáng đúng cái giá người ta chịu trả cho chúng, chẳng hơn; ừ thì, tôi tự đặt một cái giá cho chúng, rồi mua. Rồi mấy hòn đá ấy chuyền từ tay này sang tay khác, và gây tai hại chẳng biết bao nhiêu mà kể. Thời gian trôi đi. Mà giờ, cách đây ít hôm, tôi lại lên đây, mà để làm gì, anh đoán xem? Để mua lại mấy hòn đá ấy!”
Geissler dừng một khắc, và nhìn Sivert. Rồi thình lình ông ta liếc cái bao mà hỏi: “Anh vác gì thế?”
“Hàng,” Sivert nói. “Chúng tôi mang xuống làng.”
Xem chừng Geissler chẳng quan tâm tới câu trả lời; rất có thể còn chẳng nghe thấy. Ông ta nói tiếp:
“Mua lại — phải. Lần trước tôi để con trai tôi lo vụ ấy; lúc ấy nó bán. Một thanh niên trạc tuổi anh, có thế thôi. Nó là tia chớp trong nhà, còn tôi thì đúng hơn là một thứ sương mù. Biết điều gì là đúng phải làm, nhưng chẳng làm. Còn nó thì là tia chớp — mà tạm thời nó đã vào phục vụ cho công nghiệp. Chính nó bán thay tôi lần trước. Tôi là một cái gì đó còn nó thì chẳng là gì, nó chỉ là tia chớp; hành động nhanh, kiểu hiện đại. Nhưng tia chớp tự nó là một thứ cằn cỗi. Cứ nhìn người nhà Sellanraa các anh mà xem; ngày nào trong đời cũng ngẩng nhìn những đỉnh núi xanh; chẳng có phát minh tân kỳ nào trong đó cả, mà là núi và đỉnh đá, cắm rễ sâu vào quá khứ — nhưng anh có chúng làm bạn. Anh ở đó, sống trong sự tiếp xúc với trời và đất, làm một với chúng, làm một với tất cả những thứ rộng lớn, rễ sâu ấy. Chẳng cần một thanh gươm trong tay, anh đi qua đời mình đầu trần tay không, giữa một sự hiền hoà lớn lao. Nhìn kìa, Tự nhiên ở đó, cho anh và người nhà anh có mà hưởng. Con người và Tự nhiên chẳng nã pháo vào nhau, mà thuận với nhau; chúng chẳng ganh đua, chẳng chạy đua với nhau, mà đi cùng nhau. Kìa người Sellanraa các anh, sống giữa tất cả những cái ấy. Núi và rừng, đầm lầy và đồng cỏ, và trời và sao — chao, chẳng nghèo nàn chẳng đếm đo dè sẻn, mà là vô lượng. Nghe tôi này, Sivert: anh hãy bằng lòng! Anh có mọi thứ để sống bằng nó, mọi thứ để sống vì nó, mọi thứ để tin vào; sinh ra và sinh sôi, các anh là cái cần thiết trên mặt đất. Chẳng phải ai cũng thế, nhưng các anh thì thế; cần thiết trên mặt đất. Chính các anh mới là người giữ cho sự sống tiếp tục. Đời này qua đời khác, sinh sôi mãi mãi; rồi khi anh chết đi thì dòng giống mới đi tiếp. Đó là nghĩa của sự sống đời đời. Anh được gì từ đó? Một sự tồn tại hướng về mọi vật một cách vô tội và đúng đắn. Anh được gì từ đó? Chẳng gì có thể ra lệnh cho anh và cưỡi lên đầu người Sellanraa các anh, các anh có sự bình yên và có quyền uy và có cái hiền hoà lớn lao ấy vây quanh. Đó là cái anh được. Anh nằm bên ngực một người mẹ mà bú, và chơi với bàn tay ấm của một người mẹ. Kìa bố anh, ông ấy là một trong ba mươi hai ngàn người ấy. Còn biết bao kẻ khác thì nói gì đây? Tôi là một cái gì đó, tôi là sương mù, có thể nói vậy, chỗ này chỗ kia, trôi lơ lửng, có khi rơi xuống như mưa trên đất khô. Còn những kẻ khác? Kìa con trai tôi, tia chớp mà tự nó chẳng là gì, một cái loé của sự cằn cỗi; nó hành động được.
“Con trai tôi, ừ, nó là kiểu hiện đại, một người của thời chúng ta; nó tin thành thực đủ vào tất cả những gì thời đại đã dạy nó, tất cả những gì người Do Thái và người Yankee đã dạy nó; tôi thì lắc đầu trước tất cả những cái ấy. Nhưng ở tôi chẳng có gì huyền hoặc cả; chỉ trong phạm vi gia đình, có thể nói thế, tôi mới giống một đám sương mù. Ngồi đó lắc đầu. Nói thật — tôi chẳng có cái khả năng làm một việc rồi chẳng hối tiếc. Có được cái đó thì chính tôi đã là tia chớp. Giờ tôi là sương mù.”
Thình lình Geissler như sực nhớ ra, và hỏi: “Dựng xong cái gác cỏ trên chuồng bò chưa?”
“Ừ, xong rồi. Mà bố tôi còn dựng một cái nhà mới.”
“Nhà mới?”
“Bố tôi bảo là phòng khi có ai tới — phòng khi ông Geissler tình cờ ghé qua.”
Geissler ngẫm điều ấy, rồi quyết: “Ừ thì, thế thì tôi nên lên. Ừ, tôi sẽ lên; anh nói với bố anh thế. Nhưng tôi có cả đống việc phải lo. Tôi lên đây bảo ông kỹ sư nhắn cho người của ông ta bên Thuỵ Điển rằng tôi sẵn sàng mua. Rồi ta xem chuyện gì xảy ra. Với tôi thì thế nào cũng được, chẳng vội. Anh phải thấy cái ông kỹ sư ấy — đây ông ta đi lại khắp nơi mà giữ cho mọi sự chạy với người với ngựa với tiền với máy móc với bao nhiêu rối rít; tưởng mọi sự đều ổn, chẳng biết gì hơn. Càng biến được nhiều hòn đá thành tiền thì càng hay; ông ta tưởng mình đang làm điều gì đó khôn ngoan và đáng công, mang tiền về cho vùng này, cho xứ này, mà mọi sự thì mỗi lúc một tới gần tai hoạ, còn ông ta thì chẳng khôn thêm được chút nào. Cái xứ này chẳng cần tiền, tiền đã thừa mứa rồi; nó thiếu là thiếu những người như bố anh. Ừ, biến phương tiện thành cứu cánh rồi lấy làm hãnh diện về điều đó! Họ điên, họ bệnh; họ chẳng làm việc, họ chẳng biết gì về cái cày, chỉ biết con xúc xắc. Đáng công lắm nhỉ, làm lụng và tiêu mòn chính mình đi thành không theo cái lối điên rồ của họ. Nhìn họ mà xem — đặt cược tất cả, phải không? Chỉ có mỗi cái này là sai trong tất cả những chuyện ấy: họ quên rằng đánh bạc chẳng phải can đảm, nó chẳng phải cả cái can đảm liều lĩnh, nó là một sự kinh hoàng. Anh có biết đánh bạc là gì không? Là nỗi sợ, với mồ hôi trên trán, đó là cái nó là. Cái sai của họ là họ chẳng chịu đi cùng nhịp với đời sống, mà muốn đi nhanh hơn — lao lên, xé lên phía trước, đóng chính mình vào đời sống như những cái nêm. Rồi hai bên sườn họ kêu lên: này, dừng lại, có cái gì đang gãy, tìm cách chữa đi; dừng lại, hai bên sườn kêu thế! Rồi đời sống nghiền nát họ, lịch sự nhưng dứt khoát mà nghiền nát họ. Rồi họ bắt đầu than phiền về đời sống, giận dữ với đời sống! Mỗi người một khẩu vị; có kẻ có cớ mà than, kẻ khác thì không, nhưng chẳng ai nên giận dữ với đời sống. Đừng nghiêm khắc và chặt chẽ và công bằng với đời sống, mà hãy thương xót nó, và bênh nó; anh cứ nghĩ tới những kẻ cờ bạc mà đời sống phải chịu đựng!”
Geissler lại sực nhớ ra mình, và nói: “Ừ thì, tất cả những cái ấy thì tuỳ; bỏ đi!” Rõ ràng ông ta mệt, bắt đầu thở từng hơi ngắn. “Xuống dưới à?” ông ta nói.
“Vâng.”
“Chẳng vội. Anh còn nợ tôi một chuyến đi bộ dài qua đồi đấy, Sivert ạ, nhớ chứ? Tôi nhớ hết. Tôi nhớ từ hồi tôi một tuổi rưỡi; đứng chồm người xuống từ cầu dẫn nhà kho ở Garmo, mà ngửi thấy một mùi. Giờ tôi vẫn ngửi lại được. Nhưng tất cả những cái ấy thì tuỳ, cái đó cũng thế; nhưng đáng lẽ giờ ta đã làm được chuyến đi qua đồi ấy nếu anh chẳng có cái bao kia. Trong đó có gì?”
“Hàng. Andresen sắp bán chúng.”
“Ừ thì, tôi là một người biết điều gì đúng phải làm, nhưng chẳng làm,” Geissler nói. “Tôi là sương mù. Giờ có khi mai kia tôi sẽ mua lại cái mỏ ấy, chẳng phải không thể; nhưng nếu tôi mua thì chẳng phải để đi lại mà ngóng lên trời nói ‘Đường cáp treo! Nam Mỹ!’ Không, cái ấy để cho đám cờ bạc. Người quanh đây bảo hẳn tôi phải là chính con quỷ vì tôi biết trước chuyện này sẽ vỡ. Nhưng ở tôi chẳng có gì huyền bí, đơn giản đủ thôi. Mấy cái mỏ đồng mới ở Montana, chỉ có thế. Người Yankee giỏi hơn ta trong cái trò ấy; họ đang giết chúng ta ở Nam Mỹ — quặng của ta ở đây nghèo quá. Con trai tôi là tia chớp; nó nhận được tin, rồi tôi trôi lên đây. Đơn giản, phải không? Tôi hơn mấy tay bên Thuỵ Điển vài giờ, chỉ có thế.”
Geissler lại hụt hơi; ông ta đứng dậy, rồi nói: “Anh xuống thì ta đi.”
Họ cùng đi xuống, Geissler lê lết phía sau, mệt lử. Đoàn lữ hành đã dừng ở bến, còn Fredrik Ström thì vẫn vui vẻ như thường, đang chọc Aronsen: “Tôi hết sạch thuốc lá rồi; ông có thuốc lá không?”
“Tao cho mày thuốc lá,” Aronsen nói giọng doạ.
Fredrik cười, rồi an ủi: “Thôi mà, ông chẳng cần nặng nề buồn bã thế đâu, Aronsen. Chúng tôi chỉ bán mấy thứ này ngay trước mắt ông thôi, rồi lại về nhà.”
“Cút đi mà rửa cái mồm bẩn của mày,” Aronsen cuồng nộ nói.
“Ha ha ha! Thôi mà, ông chẳng cần nhảy nhót thế; đứng yên mà làm dáng như bức tranh đi!”
Geissler mệt, kiệt sức, đến cả cặp kính râm giờ cũng chẳng giúp được ông ta, mắt ông ta cứ nhắm lại trong cái chói.
“Chào anh nhé, Sivert,” thình lình ông ta nói. “Không, rốt cuộc lần này tôi chẳng lên Sellanraa được; anh nói với bố anh thế. Tôi có cả đống việc phải lo. Nhưng rồi tôi sẽ lên — anh nói thế…”
Aronsen nhổ theo ông ta, rồi nói: “Đáng bắn bỏ!”
* * * * *
Trong ba ngày đoàn lữ hành đi bán rong hàng của mình, bán hết sạch những gì trong bao, mà được giá tốt. Đó là một vụ làm ăn rực rỡ. Dân làng sau khi cái mỏ sụp vẫn còn khá nhiều tiền, và đang ở phong độ tuyệt vời trong chuyện tiêu pha; mấy con chim nhồi bông lắp lò xo đúng là thứ họ muốn; họ đặt chúng lên tủ ngăn kéo trong phòng khách, mà còn mua cả những con dao rọc giấy xinh xắn, đúng thứ để rọc trang một cuốn lịch. Aronsen điên tiết. “Cứ như thể trong hiệu tôi chẳng có những thứ hệt như thế,” ông ta nói.
Ông chủ hiệu Aronsen ở trong một tình cảnh đáng thương; ông ta đã quyết bám lấy đám bán rong này với những cái bao của họ, canh chừng họ suốt; nhưng họ tản đi mỗi người một ngả trong làng, ai đi đường nấy, mà Aronsen thì gần như xé mình ra làm mấy mảnh để theo hết cùng một lúc. Trước hết ông ta bỏ Fredrik Ström, kẻ nhanh mồm nhất trong việc nói những lời khó nghe; rồi bỏ Sivert, vì nó chẳng nói một lời nào mà cứ bán; rốt cuộc ông ta bám theo anh thư ký cũ của mình, và cố làm cho người ta chống lại anh ta ở mọi nhà anh ta bước vào. Chao, nhưng Andresen thì biết rõ ông chủ cũ của mình — biết từ lâu, và biết ông ta hiểu ít thế nào về buôn bán và về buôn lậu.
“Ơ, anh định bảo chỉ Anh chẳng bị cấm à?” Aronsen nói, ra vẻ hiểu biết.
“Tôi biết là bị cấm,” Andresen đáp. “Nhưng lối này tôi chẳng mang theo; chỗ ấy tôi bán nơi khác được. Trong bao tôi chẳng có lấy một cuộn; ông muốn thì cứ xem.”
“Cái đó thì tuỳ,” Aronsen nói. “Đằng nào tôi cũng biết cái gì bị cấm, mà tôi đã cho anh thấy rồi, nên đừng có hòng dạy tôi.”
Aronsen chịu được trọn một ngày, rồi ông ta cũng bỏ luôn Andresen mà về nhà. Sau đó đám bán rong chẳng còn ai canh chừng.
Rồi mọi sự bắt đầu trôi chảy như nước. Ấy là cái thời đàn bà hay đeo búi tóc giả; mà Andresen thì đúng là người bán được búi tóc giả. Ừ, lúc bí thì anh ta bán được cả búi tóc vàng cho mấy cô tóc đen, rồi tiếc rằng mình chẳng có thứ nào nhạt hơn; chẳng có búi tóc bạc chẳng hạn, bởi cái ấy mới là đẹp nhất. Rồi mỗi tối ba người bán hàng trẻ gặp nhau ở một chỗ đã hẹn mà rà lại việc buôn bán trong ngày, ai hết thứ gì thì vay của người kia; còn Andresen thì thường ngồi xuống lấy cái giũa ra giũa đi cái dấu hiệu hàng Đức trên một cái còi đi săn, hay tẩy chữ “Faber” trên bút với bút chì. Andresen là một tay cừ, mà xưa nay vẫn thế.
Sivert thì trái lại, hơi làm người ta thất vọng. Chẳng phải nó lơ là hay chẳng bán được hàng — quả thật chính nó bán được nhiều nhất — nhưng nó chẳng lấy được đủ giá. “Cậu chẳng chêm đủ lời vào,” Andresen nói.
Không, Sivert chẳng có tài tuôn ra một tràng lời; nó là một người làm ruộng, chắc chắn về những gì mình nói, và nói bình thản mỗi khi nói. Ở đây thì có gì mà nói? Vả lại, Sivert nóng lòng cho xong việc mà về nhà, ngoài đồng còn việc phải làm.
“Con Jensine nó gọi cậu ấy đấy,” Fredrik Ström giải thích. Mà nhân thể, chính Fredrik xuân ấy cũng có việc trên ruộng mình phải làm, chẳng có mấy thì giờ để phí; nhưng dù vậy, ngày cuối anh ta vẫn phải ghé vào chỗ Aronsen mà gây một trận cãi cọ. “Tôi sẽ bán cho lão mấy cái bao rỗng,” anh ta nói.
Andresen và Sivert đứng ngoài trong lúc anh ta vào. Họ nghe trong cửa hiệu có chuyện to tát, cả hai cùng nói một lúc, và Fredrik thì chốc chốc lại phá lên cười; rồi Aronsen mở toang cửa mà tống khách ra. Chao, nhưng Fredrik chẳng chịu ra — không, anh ta thong thả, và còn nói khối nữa. Điều cuối cùng họ nghe được từ bên ngoài là Fredrik đang cố bán cho Aronsen cả một lô ngựa bập bênh.
Rồi đoàn lữ hành về nhà — ba chàng trai trẻ tràn đầy sức sống và sức khoẻ. Họ vừa đi vừa hát, ngủ ngoài trời vài giờ, rồi lại đi tiếp. Khi họ về tới Sellanraa vào ngày thứ Hai thì Isak đã bắt đầu gieo. Trời hợp cho việc ấy; không khí ẩm, mặt trời chốc chốc lại ló ra, và một cái cầu vồng lớn căng ngang cả bầu trời.
Đoàn lữ hành giải tán — _Farvel, Farvel_…
* * * * *
Isak đang gieo hạt; một gốc cây cụt hình người, nhìn thì là một chiếc sà lan hình người, chẳng gì hơn. Mặc đồ vải nhà dệt — len từ chính đàn cừu của mình, ủng từ da chính đàn bò và bê của mình. Gieo hạt — và hắn đi đầu trần một cách thành kính vào cái việc ấy; đỉnh đầu hắn đã hói, nhưng tất cả chỗ còn lại thì lông lá đến đáng xấu hổ; một cái quạt, một bánh xe những tóc và râu, xoè ra từ khuôn mặt hắn. Đó là Isak, ngài Hầu tước.
Hắn ít khi biết hôm ấy là ngày mấy trong tháng — hắn cần cái đó làm gì? Hắn chẳng có hoá đơn nào phải trả vào một ngày nhất định; những dấu ghi trên cuốn lịch của hắn là để chỉ ngày từng con bò sẽ đẻ. Nhưng hắn biết ngày Thánh Olaf vào mùa thu, biết rằng tới đó thì cỏ phải vào kho, và hắn biết lễ Nến vào mùa xuân, biết rằng ba tuần sau đó thì gấu ra khỏi chỗ trú đông; tới lúc ấy mọi hạt giống phải xuống đất. Hắn biết những gì cần biết.
Một kẻ cày ruộng, cả thân lẫn hồn; một người làm trên đất chẳng nghỉ. Một bóng ma trỗi dậy từ quá khứ để chỉ về tương lai, một người từ những ngày đầu tiên của nghề canh tác, một kẻ khai hoang nơi hoang dã, chín trăm tuổi, mà đồng thời là một người của hôm nay.
Không, giờ chẳng còn lại gì cho hắn từ cái mỏ đồng và của cải của nó — tiền đã tan vào không khí. Mà ai còn lại được gì trong tất cả cái của cải ấy khi việc khai thác ngừng, và những quả đồi nằm chết và bị bỏ hoang? Nhưng vùng _Almenning_ thì vẫn còn đó, với mười cái trại mới trên đất ấy, đang vẫy gọi thêm một trăm cái nữa.
Chẳng có gì mọc ở đó ư? Mọi thứ đều mọc ở đó; người và thú và hoa trái của đất. Isak đang gieo lúa. Nắng chiều rọi xuống những hạt lúa loé ra thành một vòng cung từ bàn tay hắn, rơi xuống đất như một trận vàng rơi. Kìa Sivert tới bừa; sau đó là cái trục lăn, rồi lại bừa. Rừng và ruộng nhìn theo. Tất cả đều uy nghi và mạnh mẽ — một trình tự và một mục đích của vạn vật.
_Kling_… _eling_… tiếng chuông bò nói vọng xuống từ trên cao sườn đồi, mỗi lúc một gần; đàn gia súc đang về nhà cho đêm xuống. Mười lăm con, cùng bốn mươi lăm con cừu và dê nữa; cả thảy sáu chục. Kìa mấy người đàn bà ra với những thùng sữa của họ, gánh trên vai bằng đòn: Leopoldine, Jensine và con bé Rebecca. Cả ba đều chân đất. Bà Hầu tước, chính Inger, không có ở đó; bà đang ở trong nhà sửa soạn bữa ăn. Cao lớn và đường bệ, khi bà đi lại trong nhà mình, một trinh nữ Vesta giữ ngọn lửa của một cái bếp lò. Inger đã đi qua chuyến hải hành bão tố của mình, đúng thế, đã sống một dạo ở thành phố, nhưng giờ bà đã về nhà; thế giới thì rộng, lúc nhúc những chấm nhỏ — Inger đã từng là một trong những chấm ấy. Gần như chẳng là gì trong cả loài người, chỉ một chấm nhỏ.
Rồi chiều buông xuống.