Phúc lành của đất — Chương 30: Quyển II · Chương XI
Chương 30 / 31 · Bài review Phúc lành của đất
Và thời gian trôi đi; mùa đông qua; xuân lại tới.
Một hôm Isak phải xuống làng — mà sao lại không? Để làm gì? “Ơ, tôi chẳng biết,” hắn nói. Nhưng hắn rửa cỗ xe cho sạch sẽ, lắp cái ghế ngồi vào, rồi đánh xe đi, mà lại chất theo khối lương thực với đủ thứ — mà sao lại không? Ấy là cho Eleseus ở Storborg. Chẳng cỗ ngựa nào ra khỏi Sellanraa mà chẳng có gì mang xuống cho Eleseus.
Khi Isak đánh xe xuống qua vùng lầy thì đó chẳng phải sự kiện nhỏ, bởi hắn ít khi xuống, phần lớn là Sivert đi thay. Ở hai cái trại dưới gần nhất, người ta đứng ở cửa lều mà bảo nhau: “Chính ông Isak đấy; hôm nay ông ấy xuống làm gì nhỉ?” Rồi xuống tới Maaneland thì kìa Barbro đứng bên ô cửa kính với một đứa bé trên tay, trông thấy hắn mà nói: “Chính ông Isak đấy!”
Hắn tới Storborg mà ghìm ngựa. “_Ptro_! Eleseus có nhà không?”
Eleseus bước ra. Ừ, nó có nhà; chưa đi, nhưng sắp đi — lên đường cho chuyến đi xuân xuống các thị trấn miền nam.
“Đây là mấy thứ mẹ con gửi xuống,” bố nó nói. “Chẳng biết là cái gì, nhưng chắc chẳng nhiều nhặn gì.”
Eleseus nhận mấy thứ ấy, cảm ơn bố, rồi hỏi:
“Chắc chẳng có thư từ hay gì đại loại chứ ạ?”
“Có,” bố nó nói, sờ trong túi, “có đấy. Chắc họ bảo là của con bé Rebecca.”
Eleseus cầm lá thư, đó chính là cái nó đang đợi. Nó sờ thấy dày dặn, và nói với bố:
“Ừ thì may là bố xuống kịp — dù hai hôm nữa con mới đi. Nếu bố ở lại một chút thì bố chở giúp cái hòm của con xuống.”
Isak xuống xe buộc ngựa, rồi đi dạo một vòng quanh khu đất. Andresen bé nhỏ chẳng phải người dở trên đất khi làm cho Eleseus; đúng là anh ta có nhờ Sivert ở Sellanraa mang ngựa xuống, nhưng anh ta đã tự mình làm được khối việc, tháo nước bãi lầy, và tự thuê người lát đá cho mấy con mương. Năm ấy Storborg khỏi phải mua cỏ khô, mà rất có thể sang năm Eleseus sẽ nuôi được một con ngựa của riêng mình. Ấy là nhờ Andresen và cái cách anh ta làm trên đất.
Một lát sau, Eleseus gọi xuống bảo cái hòm đã sẵn sàng. Xem chừng chính nó cũng sẵn sàng đi luôn; trong bộ đồ xanh đẹp, cổ áo trắng, ủng cao su, và một cây ba toong. Đúng là nó sẽ phải chờ tàu hai ngày, nhưng chẳng sao; ở dưới làng cũng thế thôi; ở đây hay ở đó thì cũng vậy.
Rồi hai bố con đánh xe đi. Andresen nhìn theo họ từ cửa hiệu mà chúc lên đường vui vẻ.
Isak dồn hết lòng nghĩ cho con, và định nhường cả cái ghế cho nó; nhưng Eleseus nhất định không chịu, mà ngồi lên cạnh bố. Họ tới Breidablik, và thình lình Eleseus nhớ ra mình quên gì đó. “_Ptro_! — Cái gì thế?” bố nó hỏi.
Chao, cây ô của nó! Eleseus quên cây ô; nhưng nó chẳng giải thích hết được, mà chỉ nói: “Thôi, bố đi tiếp đi.”
“Con không muốn quay lại à?”
“Không; đi tiếp đi bố.”
Nhưng phiền thật; sao nó lại bỏ quên được nhỉ? Ấy là vì vội, tại bố nó đứng đó chờ. Ừ thì, giờ tới Trondhjem nó mua một cây ô mới vậy. Có một hay hai cây ô thì cũng chẳng quan trọng gì. Nhưng dù vậy Eleseus vẫn bực với chính mình; bực tới mức nó nhảy xuống mà đi bộ phía sau.
Sau đó thì trên đường xuống họ khó lòng nói chuyện nhiều, bởi Isak phải quay đầu lại mỗi lần nói, mà nói qua vai. Isak nói: “Con đi bao lâu?”
Và Eleseus đáp: “Chao, chừng ba tuần, hay nhiều nhất là một tháng.”
Bố nó lấy làm lạ sao người ta chẳng lạc trong những thành phố lớn mà chẳng bao giờ tìm được đường về. Nhưng Eleseus đáp rằng cái đó thì nó quen sống ở thành phố rồi, chẳng bao giờ lạc, cả đời chưa từng lạc.
Isak thấy ngồi một mình trên ấy thì thật chẳng phải, và gọi to: “Này, con lên đánh xe một quãng đi; bố mỏi rồi.”
Eleseus chẳng chịu để bố xuống, mà lại lên ngồi cạnh. Nhưng trước hết họ phải ăn chút gì đã — lấy từ cái bọc đầy ắp của Isak. Rồi họ lại đi tiếp.
Họ tới hai cái trại dưới cùng; nhìn là biết giờ họ đã gần làng; cả hai ngôi nhà đều có rèm trắng ở ô cửa sổ nhỏ quay ra đường, và có một cột cờ dựng trên nóc gác cỏ cho ngày Quốc khánh. “Chính ông Isak đấy,” người ở hai cái trại mới nói khi cỗ xe đi qua.
Rốt cuộc Eleseus cũng thôi nghĩ tới việc riêng và tới cái bản thân quý giá của mình đủ để hỏi: “Hôm nay bố xuống làm gì thế?”
“Hừm,” bố nó nói. “Hôm nay chẳng có gì nhiều.” Nhưng rồi nghĩ lại, đằng nào Eleseus cũng sắp đi; có khi nói cho nó biết cũng chẳng hại gì. “Là con Jensine, con ông thợ rèn, bố xuống vì nó,” bố nó nói; ừ, hắn thú nhận tới ngần ấy.
“Mà bố tự đi vì chuyện ấy à? Sivert đi chẳng được sao?” Eleseus nói. Ừ, Eleseus chẳng biết gì hơn, chẳng biết gì hơn ngoài việc nghĩ rằng Sivert sẽ xuống nhà ông thợ rèn mà rước Jensine, sau khi cô ta đã tự cho mình là ghê gớm tới mức bỏ Sellanraa mà đi!
Không, mùa cỏ năm ngoái hỏng bét cả. Inger đã dốc hết sức, đúng như cô ta đã hứa. Leopoldine cũng làm phần mình, chưa kể có cả máy cho ngựa kéo mà cào. Nhưng cỏ phần nhiều là thứ nặng, mà ruộng thì rộng. Giờ Sellanraa là một cơ ngơi cỡ khá, mà đám đàn bà thì còn bao thứ khác phải lo ngoài chuyện phơi cỏ; nào phải trông cả đàn gia súc, nào cơm nước phải có, mà phải đúng giờ; nào làm bơ làm phô mai, nào giặt giũ, nào nướng bánh; mẹ con làm hết sức mình. Isak chẳng định để lại có một mùa hè như thế nữa; hắn quyết ngay chẳng rườm rà rằng Jensine sẽ quay lại nếu gọi được. Mà Inger thì cũng chẳng còn một lời phản đối; cô ta đã tỉnh trí lại, và nói: “Ừ, mình thấy sao là hơn thì làm.” Ừ, giờ Inger đã biết điều; tỉnh trí lại được sau một dạo thì chẳng phải chuyện nhỏ. Inger chẳng còn đầy cái nóng phải xả ra, chẳng còn đầy dòng máu hoang phải ghìm lại, mùa đông đã làm cô ta nguội đi; giờ trong cô ta chẳng còn gì ngoài chút hơi ấm cần thiết. Cô ta đang đẫy ra, đang trở nên đẹp đẽ và đường bệ. Một người đàn bà kỳ diệu, chẳng chịu tàn, chẳng chịu chết dần đi; rất có thể vì cô ta đã nở muộn trong đời. Ai nói được mọi sự từ đâu mà tới? Chẳng gì tới từ một nguyên nhân duy nhất, mà từ nhiều nguyên nhân. Chẳng phải Inger được bà vợ ông thợ rèn coi trọng nhất đó sao? Bà vợ ông thợ rèn nào nói được gì chống lại cô ta? Với cái dị tật của mình, cô ta đã bị cướp mất mùa xuân, rồi sau đó bị đặt vào bầu không khí nhân tạo mà mất sáu năm mùa hạ; sự sống vẫn còn trong cô ta, thì mùa thu của cô ta cho ra một nhánh mọc lệch cũng có gì lạ? Inger tốt hơn mấy bà vợ thợ rèn — hơi sứt mẻ, hơi vênh, nhưng bản tính tốt lành, bản tính khôn ngoan… ừ…
Hai bố con đánh xe xuống, họ tới cái nhà trọ của Brede Olsen mà đưa ngựa vào chuồng. Giờ đã chiều. Rồi họ vào nhà.
Brede Olsen thuê ngôi nhà ấy; nó vốn là một dãy nhà phụ của ông chủ hiệu, nhưng nay đã sửa lại thành hai phòng khách và hai phòng ngủ; chẳng đến nỗi nào, mà lại ở chỗ tốt. Chỗ ấy đông khách uống cà phê và người quanh làng đi tàu qua lại.
Xem chừng Brede một lần này gặp may, đã tìm ra thứ hợp với mình, mà gã có thể cảm ơn vợ về chuyện đó. Chính vợ Brede đã nghĩ ra cái ý mở quán cà phê và nhà trọ, cái hôm mụ ngồi bán cà phê ở cuộc đấu giá tại Breidablik; bán được cái gì đó, thấy tiền trong tay, tiền tươi, thì cũng thích. Từ khi dọn xuống đây họ đã xoay xở khá, giờ bán cà phê thật sự, và chứa khối người chẳng có chỗ nào ngả lưng. Vợ Brede là một phúc lành cho khách đường xa. Dĩ nhiên mụ có một người phụ tốt, là Katrine, con gái mụ, giờ đã là một con bé lớn và khéo hầu bàn — dù dĩ nhiên cái đó chỉ tạm thời; chẳng bao lâu nữa con bé Katrine phải có gì đó hơn là hầu người ta trong nhà bố mẹ. Nhưng trước mắt thì họ kiếm được khá, mà cái đó mới là chính. Khởi đầu rõ ràng thuận lợi, mà có khi còn khá hơn nếu ông chủ hiệu chẳng hết bánh ngọt và bánh quy ngọt để dọn kèm cà phê; đây tất cả khách ngày lễ đều đòi bánh ngọt với cà phê, bánh quy với bánh ngọt! Ấy là bài học cho ông chủ hiệu lần sau nhớ trữ cho đủ.
Cả nhà, và chính Brede, sống hết mức có thể bằng tiền thu được. Khối bữa chẳng có gì ngoài cà phê với bánh cũ còn thừa, nhưng nó giữ họ sống, và cho lũ trẻ một vẻ mảnh mai, một thứ vẻ thanh lịch. Chẳng phải ai cũng được ăn bánh với cà phê, dân làng nói thế. Ừ, xem chừng nhà Brede làm ăn khá; họ còn nuôi nổi một con chó, nó đi vòng quanh xin ăn giữa đám khách và được miếng này miếng nọ mà béo ra. Có một con chó béo tốt trong nhà là một cái quảng cáo cực hay cho một nhà trọ; ở đâu nó cũng nói lên rằng ăn uống ở đây tốt.
Vậy Brede là chồng là cha trong nhà, mà ngoài cái địa vị ấy, gã còn khá lên đủ đường. Gã lại được nhận vào làm phụ tá và phó của ông _Lensmand_, và một dạo có khá nhiều việc theo lối ấy. Chẳng may con gái gã là Barbro mùa thu trước đã va chạm với bà vợ ông _Lensmand_, vì một chuyện vặt, một chuyện chẳng ra gì — mà nói cho thật thì vì một con bọ chét; và từ đó chính Brede cũng có phần bị ghét ở đó. Nhưng rốt cuộc Brede chẳng coi đó là mất mát gì lớn; giờ có những nhà khác kiếm việc cho gã cốt để chọc tức nhà ông _Lensmand_; chẳng hạn gã thường được gọi đi đánh xe cho ông bác sĩ, còn nhà xứ thì hễ có con lợn nào phải chọc tiết là họ sẵn lòng cho gọi Brede, mà còn hơn thế — chính Brede bảo vậy.
Nhưng dù vậy trong nhà Brede thỉnh thoảng vẫn có những lúc khó khăn; chẳng phải cả nhà đều béo tốt phây phây như con chó. Nhưng thôi, ơn Trời, Brede chẳng phải hạng để bụng chuyện gì. “Đây lũ trẻ lớn lên từng ngày,” gã nói, dù nói cho đúng thì lúc nào cũng có những đứa mới ra thế chỗ. Mấy đứa đã lớn và đã ra ngoài đời thì tự nuôi được mình, mà thỉnh thoảng còn gửi về nhà một chút. Kìa Barbro đã lấy chồng ở Maaneland, còn Helge thì ở ngoài mùa cá trích; hễ có thể là chúng gửi về nhà chút gì bằng tiền hay bằng hiện vật; ừ, đến cả Katrine, hầu bàn ở nhà, cũng lạ thật, đã xoay được một tờ năm _Krone_ dúi vào tay bố mùa đông trước, lúc tình hình xấu quá. “Con gái là phải thế chứ,” Brede nói, mà chẳng bao giờ hỏi nó lấy tiền ở đâu hay để làm gì. Ừ, phải thế chứ! Con cái có lòng nghĩ tới cha mẹ mà giúp lúc túng!
Về khoản ấy thì Brede chẳng hoàn toàn hài lòng với thằng Helge; thỉnh thoảng người ta nghe gã đứng trong cửa hàng với một nhóm nhỏ quanh mình mà triển khai lý thuyết của gã về con cái và bổn phận với cha mẹ. “Này, thằng Helge nhà tôi; nó có hút chút thuốc lá, hay thỉnh thoảng làm một ly, thì tôi chẳng phản đối, ai chẳng có thời trẻ. Nhưng nó gửi hết lá thư này tới lá thư khác về nhà mà trong đó chẳng có gì ngoài lời với lời chúc thì thế là chẳng phải. Làm mẹ nó khóc thì chẳng phải. Đó là con đường sai cho một thằng con trai. Ngày xưa thì khác. Trẻ con vừa lớn là đi ở mà bắt đầu gửi về nhà một ít phụ giúp. Mà đúng thế chứ. Chẳng phải chính bố mẹ nó đã mang nó trong bụng trước tiên, rồi đổ mồ hôi sôi máu để giữ cho nó sống suốt những năm non nớt đó sao? Rồi giờ quên sạch!”
Gần như thể Helge đã nghe được bài diễn văn ấy của bố, bởi sau đó có một lá thư của nó gửi về kèm tiền — năm mươi _Kroner_, chẳng ít. Rồi nhà Brede có một dịp lớn; ừ, trong cơn hoang phí vô tận họ mua cả thịt lẫn cá cho bữa trưa, và một cây đèn treo đầy những hạt pha lê để treo lên trần phòng khách.
Họ xoay xở được cách nào đó, mà còn đòi hỏi gì hơn? Nhà Brede giữ được mạng sống, sống bữa nay lo bữa mai, nhưng chẳng sợ hãi gì lắm. Họ còn mong gì hơn?
“Khách quý quá!” Brede nói, dẫn Isak và Eleseus vào cái phòng có cây đèn mới. “Mà tôi chẳng bao giờ ngờ được. Isak, chẳng lẽ chính ông cũng đi đâu à?”
“Không, chỉ sang nhà ông thợ rèn có việc, chẳng gì hơn.”
“Ơ! Thế ra Eleseus lại đi miền nam à?”
Eleseus quen ở khách sạn; nó tự nhiên như ở nhà, treo áo khoác với cây gậy lên vách, rồi gọi cà phê; còn thức ăn thì bố nó có sẵn trong giỏ. Katrine bưng cà phê ra.
“Trả tiền à? Tôi chẳng nghe đâu,” Brede nói. “Tôi ăn uống ở Sellanraa bao nhiêu lần rồi; còn Eleseus thì tôi đã ghi nợ trong sổ cậu ấy rồi. Đừng lấy, Katrine.” Nhưng Eleseus vẫn trả, móc ví ra đếm tiền, còn thêm hai mươi _Ore_; nó chẳng vờ vịt gì.
Isak sang nhà ông thợ rèn, còn Eleseus thì ở lại.
Nó nói vài câu với Katrine, cho phải phép, nhưng chẳng hơn mức cần; nó thà nói chuyện với bố cô ta. Không, Eleseus chẳng thiết đàn bà; nó đã một lần bị doạ chạy mất vía, có thể nói thế, và giờ chẳng còn hứng thú gì với họ. Rất có thể trước nay nó cũng chẳng có khuynh hướng ấy nhiều nhặn gì, bởi giờ nó ở ngoài hẳn mọi chuyện. Một người đàn ông kỳ lạ để sống nơi hoang dã; một quý ông với đôi bàn tay mảnh của người viết lách, và cái con mắt đàn bà về đồ đẹp; về ba toong và ô và ủng cao su. Bị doạ mà chạy, và đổi khác, chẳng hiểu sao lại chẳng phải hạng người lấy vợ. Đến cả cái môi trên của nó cũng chẳng chịu mọc ra thứ gì thô bạo. Vậy mà có khi thằng bé đã khởi đầu tốt đẹp đủ, xuất thân từ dòng giống tốt, nhưng rồi bị đưa vào một bầu không khí nhân tạo, rồi vênh đi, biến dạng đi? Nó đã làm việc cật lực trong một văn phòng, trong một cửa hiệu, tới mức mất sạch cái nguyên bản của mình chăng? Ừ, có khi thế. Đằng nào thì nó cũng ở đây rồi, thoải mái và chẳng đam mê, hơi yếu, hơi bất cần, đi mỗi lúc một xa khỏi con đường. Nó có thể ganh với từng người trong đám bạn nơi hoang dã, nhưng đến cả sức để làm thế nó cũng chẳng có.
Katrine quen đùa với khách, và trêu nó rằng nó lại xuống miền nam thăm người yêu chăng.
“Tôi còn chuyện khác phải nghĩ,” Eleseus nói. “Tôi đi làm ăn — mở mối.”
“Đừng có suồng sã với bậc trên như thế, Katrine,” bố cô ta nói giọng quở trách. Chao, Brede Olsen thì toàn một sự kính trọng với Eleseus, kính trọng ghê gớm với gã. Mà cũng phải thôi, gã làm thế mới khôn, bởi gã nợ tiền trên Storborg, mà chủ nợ thì đang ngồi trước mặt. Còn Eleseus? Chao, tất cả cái vẻ nể nang ấy làm nó hài lòng, và đáp lại nó tử tế và hoà nhã; gọi Brede là “Thưa ông” cho vui, rồi cứ thế. Nó nhắc rằng mình đã quên cây ô: “Đúng lúc đi ngang Breidablik thì tôi mới nhớ ra; bỏ quên cây ô ở nhà.”
Brede hỏi: “Tối nay chắc cậu sang cái cửa hàng con con của làng ta làm một ly?”
Eleseus nói: “Ừ, có khi, nếu chỉ có mình tôi. Nhưng còn bố tôi ở đây.”
Brede làm ra vẻ dễ chịu, rồi tán tiếp: “Ngày kia có một anh chàng ghé qua, đang trên đường sang châu Mỹ.”
“Ý ông là anh ta về thăm nhà à?”
“Ừ. Người trên làng một quãng. Đi biệt bao nhiêu năm, rồi về nghỉ đông. Cái hòm của anh ta đã chở xe xuống trước rồi — mà một cái hòm đẹp ghê gớm.”
“Chính tôi cũng đã một hai lần nghĩ tới chuyện sang châu Mỹ,” Eleseus nói thẳng.
“Cậu à?” Brede kêu lên. “Chao, hạng như cậu thì chắc chẳng cần đi lối ấy!”
“Ừ thì tôi chẳng nghĩ tới chuyện sang ở hẳn. Nhưng giờ tôi đã đi lại lắm nơi rồi, thì làm một chuyến sang đó cũng được.”
“Ừ, dĩ nhiên, sao lại không? Mà nghe nói bên châu Mỹ thì tiền của với phương tiện cả đống. Kìa cái anh chàng tôi vừa nói; mùa đông vừa rồi anh ta bao ăn bao tiệc nhiều tới mức chẳng đếm xuể, rồi vào đây bảo tôi: ‘Cho ít cà phê, cả bình, với tất cả chỗ bánh ông có.’ Cậu muốn xem cái hòm của anh ta không?”
Họ ra hành lang xem cái hòm. Một kỳ quan trên đời để mà nhìn, các cạnh các góc rực lên những kim loại với khoá với nẹp, ba cái quai để giữ nó xuống, chưa kể một ổ khoá. “Trộm cũng chịu,” Brede nói, như thể chính gã đã thử.
Họ vào lại phòng, nhưng Eleseus đâm ra tư lự. Cái gã châu Mỹ trên làng ấy đã vượt nó; nó chẳng là gì bên cạnh một người như thế. Đi đây đi đó như một ông quan lớn; chẳng lạ gì việc Brede làm rối lên vì gã. Eleseus gọi thêm cà phê, và cũng cố đóng vai người giàu; gọi bánh ăn với cà phê rồi cho con chó — mà suốt lúc ấy thấy mình chẳng ra gì và chán nản. Cái hòm của nó thì là gì bên cạnh cái kỳ quan ngoài kia? Nó đứng đó, vải bạt đen với các góc sờn mòn cả; một cái túi xách, chẳng gì hơn — chao, nhưng khoan! Tới các thị trấn nó sẽ mua một cái hòm, mà phải là một cái lộng lẫy, cứ đợi mà xem!
“Cho chó ăn thế thì phí,” Brede nói.
Nghe thế Eleseus thấy dễ chịu hơn, và sẵn sàng làm màu tiếp. “Lạ thật, sao một con vật lại béo được đến thế,” nó nói.
Ý này dẫn tới ý kia: Eleseus cắt ngang câu chuyện với Brede mà ra ngoài chuồng xem con ngựa. Rồi ở đó nó móc lá thư trong túi ra mà mở. Nó đã cất ngay lá thư đi, chẳng buồn xem trong ấy có bao nhiêu tiền; nó đã nhận những lá thư như thế từ nhà bao lần, mà bao giờ bên trong cũng có khối giấy bạc — chút gì đó giúp nó dọc đường. Cái gì đây? Một tờ giấy xám lớn viết nguệch ngoạc khắp mặt; con bé Rebecca gửi anh Eleseus, và mấy chữ của mẹ. Còn gì nữa? Chẳng gì nữa. Chẳng có đồng nào.
Mẹ nó viết rằng giờ bà chẳng thể xin bố nó tiền thêm nữa, bởi trong tất cả chỗ tiền bán cái mỏ đồng dạo ấy chẳng còn lại bao nhiêu; tiền đã đi vào việc mua Storborg, rồi trả cho tất cả hàng hoá sau đó, rồi những chuyến đi lại của Eleseus. Lần này nó phải cố tự xoay xở, bởi chỗ tiền còn lại phải giữ cho em trai và các em gái nó, kẻo tất cả cùng trắng tay. Rồi chúc con lên đường vui vẻ và mẹ thương con.
Chẳng có tiền.
Chính Eleseus chẳng đủ tiền tàu; nó đã vét sạch két ở Storborg, mà chỗ ấy chẳng nhiều. Chao, mà nó ngu thật khi gửi chỗ tiền ấy cho mấy nhà buôn ở Bergen để trừ nợ; có gì mà vội; nó có thể để đó. Dĩ nhiên đáng lẽ nó phải mở lá thư ra trước khi lên đường; thế thì đã đỡ được chuyến xuống làng với cái hòm thảm hại của mình. Mà giờ nó ở đây…
Bố nó từ nhà ông thợ rèn về sau khi xong việc; sáng mai Jensine sẽ theo hắn về. Mà Jensine, phải thấy rằng, chẳng hề trái tính hay khó thuyết chút nào, mà thấy ngay rằng ở Sellanraa người ta cần người giúp mùa hè, và sẵn sàng tới. Lại thêm một lối làm cho đúng phép.
Trong lúc bố nó nói, Eleseus ngồi nghĩ về chuyện riêng của mình. Nó chỉ cho bố cái hòm của gã châu Mỹ, và nói: “Chỉ ước gì con ở cái nơi đã sinh ra cái đó.”
Và bố nó đáp: “Ừ, có khi cũng chẳng dở.”
Sáng hôm sau Isak sửa soạn về nhà; ăn uống xong, thắng ngựa rồi đánh xe vòng sang nhà ông thợ rèn đón Jensine với cái hòm của cô ta. Eleseus đứng nhìn theo họ đi; rồi khi họ khuất vào rừng, nó lại trả tiền ở nhà trọ, còn thêm chút nữa. “Cô để cái hòm của tôi ở đây tới khi tôi về,” nó bảo Katrine, rồi đi.
Eleseus — đi đâu? Chỉ có một nơi để đi; nó quay lại, đi về nhà. Thế là nó cũng lên đường ngược lên qua vùng đồi, cẩn thận giữ mình gần bố với Jensine hết mức có thể mà chẳng bị trông thấy. Đi và đi. Giờ bắt đầu ganh với từng người trong đám người nơi hoang dã.
Tội cho Eleseus, đổi khác đến thế và đủ thứ.
Nó chẳng làm ăn gì ở Storborg à? Cũng có, kiểu ấy; ở đó chẳng làm nên cơ nghiệp gì, mà Eleseus thì đi vắng quá nhiều, làm những chuyến đi làm ăn dễ chịu để mở mối, mà việc ấy tốn quá; nó chẳng đi rẻ bao giờ. “Chẳng nên bủn xỉn,” Eleseus nói, rồi đưa hai mươi _Ore_ ở chỗ nó có thể tiết kiệm được mười. Cơ nghiệp ấy chẳng nuôi nổi một người có gu như nó, nó phải được trợ cấp từ nhà. Có cái trại ở Storborg, với khoai với lúa với cỏ đủ cho chính chỗ ấy, nhưng mọi thứ lương thực khác thì phải từ Sellanraa xuống. Có thế thôi à? Sivert phải chở hàng cho anh mình từ tàu thuỷ lên, tất cả không công. Rồi có thế thôi à? Mẹ nó phải moi tiền của bố nó để trả cho những chuyến đi của nó. Nhưng có thế thôi à?
Cái tệ nhất còn ở phía sau.
Eleseus điều hành cơ nghiệp của mình như một thằng ngốc. Nó lấy làm hãnh diện khi có người từ dưới làng lên mua ở Storborg, đến nỗi hễ ai hỏi là nó cho chịu ngay; rồi khi chuyện ấy đồn ra thì lại càng nhiều người tới mua theo lối ấy. Cả cơ nghiệp đang đi tới chỗ tan hoang. Eleseus là người dễ dãi, và cứ để mặc; kho vơi rồi kho lại đầy. Tất cả đều tốn tiền. Mà ai trả? Bố nó.
Ban đầu, mẹ nó là người bênh nó trung thành đủ đường. Eleseus là cái đầu sáng của gia đình; phải giúp nó và cho nó khởi đầu; rồi nghĩ mà xem nó đã mua được Storborg rẻ thế nào, và nói thẳng ra nó sẽ trả bao nhiêu! Khi bố nó nghĩ rằng việc buôn bán đang hỏng cách nào đó, và chẳng gì ngoài trò đùa, thì cô ta bắt bẻ hắn. “Sao mình đứng đó mà nói được những lời như thế!” Ừ, cô ta quở hắn vì đã dùng những lời như vậy về con trai mình; xem chừng Isak đang quên mất phận mình khi nói về Eleseus như thế.
Bởi phải thấy rằng, chính mẹ nó đã ra ngoài đời; cô ta hiểu Eleseus sống nơi hoang dã thì khổ thế nào, khi đã quen với những thứ tốt hơn, và quen đi lại trong xã hội, mà quanh đây chẳng có ai ngang tầm. Nó liều quá nhiều khi giao dịch với những kẻ chẳng lấy gì làm lành mạnh; nhưng dù thế, cái đó chẳng phải do nó có ác ý muốn phá bố mẹ, mà thuần vì lòng tốt và bản tính cao thượng; đó là lối nó giúp những kẻ chẳng đẹp đẽ sang trọng bằng nó. Chao, chẳng phải nó là người duy nhất vùng ấy dùng khăn mùi soa trắng, cái thứ lúc nào cũng phải giặt đó sao? Khi người ta tin cậy mà tới hỏi nó cho chịu, nếu nó nói “Không” thì họ có thể phật ý, có thể tưởng rằng rốt cuộc nó chẳng phải con người cao thượng như họ đã nghĩ. Vả lại, nó có một bổn phận nào đó với đồng loại, với tư cách người có học tỉnh thành, người tài hoa giữa tất cả bọn họ.
Ừ, mẹ nó ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng.
Nhưng bố nó, người chẳng hiểu tí gì về tất cả những cái ấy, một hôm đã mở mắt mở tai cô ta ra mà nói:
“Nhìn đây. Đây là tất cả những gì còn lại của số tiền cái mỏ ấy.”
“Chỉ có thế?” cô ta nói. “Thế chỗ còn lại đi đâu?”
“Thằng Eleseus, nó lấy hết rồi.”
Rồi cô ta chắp tay lại mà tuyên bố rằng đã đến lúc Eleseus phải biết dùng cái đầu của nó.
Eleseus tội nghiệp, bị dựng đứng lên rồi phung phí đi. Có khi tốt hơn nếu nó cứ làm trên đất suốt, nhưng giờ nó là một người đã học viết và học dùng chữ nghĩa; chẳng có sức nắm nào trong nó, chẳng có chiều sâu. Dù thế, nó cũng chẳng phải một con quỷ đen tối gì, chẳng si tình, chẳng tham vọng, Eleseus hầu như chẳng là gì cả, đến cả một thứ xấu xa cỡ lớn nào cũng không.
Có cái gì đó bất hạnh, cái gì đó số bạc ở người thanh niên này, như thể có cái gì đó đang mục ruỗng nó từ bên trong. Cái ông kỹ sư trên tỉnh ấy, một người tốt — nhưng có khi tốt hơn nếu ông ta đừng phát hiện ra thằng bé hồi nó còn nhỏ mà nhận nó về để làm nó nên người; đứa trẻ đã mất chỗ bám rễ, và đã chịu khổ vì thế. Tất cả những gì nó quay sang bây giờ đều dẫn về một cái gì đó thiếu hụt trong nó, một cái gì đó tối đen chắn trước ánh sáng…
Eleseus cứ đi và đi. Hai người trên cỗ xe phía trước đi ngang Storborg. Eleseus đi vòng thật xa, và nó cũng đi ngang; nó về đó, về nhà, về trạm buôn và cửa hiệu của nó để làm gì? Hai người trên xe về tới Sellanraa lúc chập tối; Eleseus theo sát gót. Nó thấy Sivert chạy ra sân, ngạc nhiên vì thấy Jensine, rồi hai người bắt tay và cười khẽ; rồi Sivert tháo ngựa dắt vào chuồng.
Eleseus đánh liều tiến lên; niềm hãnh diện của gia đình, nó đánh liều tiến lên một chút. Chẳng phải bước lên, mà lẻn lên; nó bắt gặp Sivert trong chuồng ngựa. “Anh đây thôi,” nó nói.
“Ơ — cả anh nữa à?” Sivert nói, lại kinh ngạc.
Hai anh em bắt đầu nói chuyện khe khẽ; về việc Sivert nhờ mẹ kiếm ít tiền; một chỗ bấu víu cuối cùng, tiền cho một chuyến đi. Chẳng thể cứ thế này mãi; Eleseus mệt mỏi rồi; nó đã nghĩ tới chuyện ấy từ lâu, mà nó phải đi ngay đêm nay; một chuyến đi dài, sang châu Mỹ, mà đi ngay đêm nay.
“Châu Mỹ?” Sivert nói to.
“Suỵt! Anh đã nghĩ tới chuyện ấy từ lâu, mà em phải bảo mẹ làm như anh nói; chẳng thể cứ thế này được, mà anh đã nghĩ tới chuyện đi từ lâu lắm rồi.”
“Nhưng châu Mỹ!” Sivert nói. “Không, anh đừng đi.”
“Anh đi. Anh quyết rồi. Giờ quay lại cho kịp tàu.”
“Nhưng anh phải ăn cái gì đã.”
“Anh chẳng đói.”
“Thế thì nghỉ một chút đã?”
“Không.”
Sivert cố làm điều tốt nhất, cố giữ anh mình lại, nhưng Eleseus đã quyết, ừ, lần này thì nó đã quyết. Chính Sivert cũng sững cả người; trước hết là bất ngờ vì gặp lại Jensine, mà giờ đây Eleseus lại sắp rời hẳn khỏi chốn này, chưa nói là rời khỏi cả thế giới. “Thế còn Storborg?” nó nói. “Anh định làm gì với nó?”
“Andresen lấy được,” Sivert nói.
“Andresen lấy à? Em bảo sao?”
“Chẳng phải anh ấy sắp lấy Leopoldine à?”
“Cái đó thì chẳng biết. Ừ; có khi thế.”
Họ nói khe khẽ, cứ thế nói tiếp. Sivert nghĩ tốt nhất là bố ra ngoài để Eleseus tự nói với ông; nhưng “Không, không!” Eleseus lại thì thào; nó chưa bao giờ là người dám đối mặt với một chuyện như thế, mà lúc nào cũng phải có người trung gian.
Sivert nói: “Còn mẹ thì anh biết mẹ thế nào rồi. Mẹ mà khóc mà nói mãi thì chẳng đi tới đâu. Mẹ chẳng được biết.”
“Ừ,” Eleseus đồng ý, “mẹ chẳng được biết.”
Sivert đi, đi thật lâu, rồi quay lại với tiền, cả một đống tiền. “Đây, tất cả những gì bố có; anh xem có đủ không? Anh đếm đi — bố chẳng đếm là bao nhiêu.”
“Bố nói gì?”
“Chẳng nói gì mấy. Giờ anh đợi một chút, để em mặc thêm áo rồi đi xuống với anh.”
“Chẳng bõ; em đi nằm đi.”
“Ơ, anh sợ tối à mà chẳng cho em đi?” Sivert nói, cố vui lên một khắc.
Nó đi một lát, rồi quay lại đã mặc đồ, với cái giỏ thức ăn của bố vắt qua vai. Lúc họ bước ra thì bố họ đang đứng ngoài. “Thế là con đi xa thế à?” Isak nói.
“Vâng,” Eleseus đáp; “nhưng rồi con sẽ về.”
“Giờ bố chẳng giữ con nữa — chẳng còn mấy thì giờ,” ông già lẩm bẩm, rồi quay đi. “Chúc may mắn,” ông khản giọng thốt ra bằng một cái giọng lạ lùng, rồi hối hả bỏ đi.
Hai anh em đi xuống đường; được một quãng, họ ngồi xuống ăn; Eleseus đói, ăn mãi chẳng thấy no. Đó là một đêm xuân đẹp, và gà gô đen đang chơi trên các đỉnh đồi; cái âm thanh quen thuộc ấy làm kẻ sắp tha hương mất can đảm một khắc. “Đêm đẹp quá,” nó nói. “Giờ em quay lại đi, Sivert,” nó nói.
“Hừm,” Sivert nói, rồi đi tiếp với anh.
Họ đi ngang Storborg, ngang Breidablik, và cái âm thanh ấy theo họ suốt dọc đường, từ chỗ này chỗ kia trên đồi; chẳng phải thứ nhạc nhà binh như trên tỉnh, không, mà là những giọng nói — một lời tuyên cáo: Xuân đã tới. Rồi thình lình tiếng chim đầu tiên ríu lên từ một ngọn cây, đánh thức những con khác, rồi gọi nhau và đáp nhau tứ phía; hơn cả một bài hát, đó là một bài thánh ca ngợi khen. Kẻ sắp tha hương có lẽ đã thấy nhớ nhà, có cái gì đó yếu đuối và bất lực trong nó; nó sắp đi châu Mỹ, mà chẳng ai hợp để đi hơn nó.
“Giờ em quay lại đi, Sivert,” nó nói.
“Ừ thì,” em nó nói. “Nếu anh muốn thế.”
Họ ngồi xuống ở bìa rừng, và nhìn thấy ngôi làng ngay dưới chân, cái cửa hàng và cái bến, cái nhà trọ cũ của Brede; mấy người đang đi lại bên con tàu, chuẩn bị.
“Thôi, chẳng còn thì giờ mà ngồi đây,” Eleseus nói, rồi đứng dậy.
“Nghĩ mà xem, anh đi tận đâu đâu,” Sivert nói.
Và Eleseus đáp: “Nhưng rồi anh sẽ về. Mà chuyến ấy anh sẽ có một cái hòm khá hơn.”
Lúc chào tạm biệt, Sivert dúi cái gì đó vào tay anh mình, một thứ nhỏ bọc trong giấy. “Cái gì thế?” Eleseus hỏi.
“Nhớ viết thư thường xuyên nhé,” Sivert nói. Rồi nó đi.
Eleseus mở giấy ra nhìn; đó là đồng vàng, hai mươi lăm _Kroner_ vàng. “Này, đừng!” nó gọi với. “Em không được làm thế!”
Sivert cứ đi.
Đi một quãng, rồi quay lại ngồi xuống bìa rừng lần nữa. Giờ dưới chỗ con tàu người đã đi lại nhiều hơn; hành khách lên tàu, Eleseus lên tàu; con thuyền rời mạn mà chèo đi. Và Eleseus đã đi châu Mỹ.
Nó chẳng bao giờ trở về.