Phúc lành của đất — Chương 29: Quyển II · Chương X

Chương 29 / 31 · Bài review Phúc lành của đất

Một người đàn bà lê bước ngược lên đường. Mưa hè đều đều rơi, làm cô ta ướt, nhưng cô ta chẳng bận tâm; trong đầu cô ta còn những chuyện khác — nỗi lo. Đó là Barbro chứ chẳng ai khác — con Barbro nhà Brede. Lo, ừ; chẳng biết cuộc liều này rồi kết thúc ra sao; cô ta đã bỏ chỗ làm ở nhà ông _Lensmand_, và rời làng. Sự thể là thế.

Cô ta tránh xa mọi cái trại dọc đường lên, chẳng muốn gặp ai; chỉ nhìn là biết cô ta đi đâu, với một bọc quần áo trên lưng. Ừ, đi Maaneland, để lại vào làm ở đó.

Cô ta đã ở nhà ông _Lensmand_ mười tháng, mà cái đó thì chẳng ít, tính ra ngày ra đêm, nhưng là cả một thiên thu nếu tính bằng khao khát và ngột ngạt. Ban đầu thì chịu được, bà Heyerdahl trông nom cô ta tử tế, cho cô ta tạp dề và đồ đẹp mà mặc; được sai ra cửa hàng với đồ đẹp thế mà mặc thì thật là sướng. Barbro từng ở làng hồi nhỏ; cô ta biết hết người trong làng từ những ngày cô ta chơi ở đó, đi học ở đó, hôn đám con trai ở đó, và cùng chơi bao nhiêu trò với đá sỏi và vỏ ốc. Chịu được chừng một tháng. Nhưng rồi bà Heyerdahl bắt đầu càng cẩn thận với cô ta hơn, mà tới khi các cuộc vui Nô-en bắt đầu thì bà nghiêm ngặt. Rồi từ cái đó thì hòng có gì tốt lành? Nó nhất định phải làm hỏng mọi sự. Barbro hẳn đã chẳng chịu nổi nếu chẳng có mấy giờ ban đêm là của riêng mình; từ hai tới sáu giờ sáng thì cô ta ít nhiều an toàn, và đã trộm được khá nhiều thú vui. Thế còn cô Bếp, sao chẳng báo cáo cô ta? Cái bà ấy hẳn phải là hạng người gì! Chao, chỉ là một người đàn bà thường tình, như thiên hạ vẫn có; cô Bếp cũng ra ngoài chẳng xin phép. Họ thay phiên nhau. Mà phải một thời gian khá dài chuyện mới lộ. Barbro chẳng đồi bại tới mức lộ ra mặt, chẳng thể buộc cô ta cái tội vô đạo đức. Vô đạo đức à? Cô ta kháng cự hết mức người ta có thể chờ đợi. Khi mấy chàng trai rủ cô ta đi nhảy Nô-en, cô ta nói “Không” lần một, nói “Không” lần hai, nhưng tới lần thứ ba thì cô ta sẽ nói: “Tôi sẽ cố tới quãng hai tới sáu giờ.” Đúng như một người đàn bà đứng đắn phải làm, chẳng cố làm mình ra tệ hơn thực chất, chẳng phô trương sự liều lĩnh. Cô ta là một đứa ở, cả đời đi ở, và chẳng biết trò tiêu khiển nào khác ngoài đùa với đàn ông. Cô ta chỉ đòi ngần ấy. Bà Heyerdahl tới giảng đạo đức cho cô ta, cho cô ta mượn sách — và chỉ nhọc công vô ích. Barbro đã sống ở Bergen và đã đọc báo và đã đi xem kịch! Cô ta chẳng phải một con cừu ngây thơ ở quê ra…

Nhưng rốt cuộc hẳn bà Heyerdahl đã đâm nghi. Một hôm ba giờ sáng bà lên phòng đám ở mà gọi: “Barbro!”

“Dạ,” cô Bếp đáp.

“Tôi cần Barbro. Nó không có ở đó à? Mở cửa ra.”

Cô Bếp mở cửa và giải thích như đã hẹn, rằng Barbro phải chạy về nhà một lát vì có việc. Về nhà một lát vào cái giờ này của đêm ư? Bà Heyerdahl có khối điều để nói về chuyện ấy. Rồi tới sáng thì có một trận. Brede được gọi tới, và bà Heyerdahl hỏi: “Đêm qua Barbro có ở nhà với ông không — lúc ba giờ ấy?”

Brede chẳng chuẩn bị trước, nhưng đáp: “Ba giờ à? Đúng, đúng, đúng thế. Chúng tôi thức khuya, có chuyện phải bàn,” Brede nói.

Rồi bà _Lensmand_ trịnh trọng tuyên bố rằng Barbro sẽ chẳng được ra ngoài ban đêm nữa.

“Không, không,” Brede nói.

“Chừng nào nó còn ở nhà này.”

“Không, không; đấy, con thấy chưa, Barbro, bố đã bảo rồi mà,” bố cô ta nói.

“Ban ngày thì thỉnh thoảng con về thăm bố mẹ được,” bà chủ nói.

Nhưng bà Heyerdahl tỉnh táo đủ, và mối nghi của bà chưa tan; bà đợi một tuần, rồi thử vào lúc bốn giờ sáng. “Barbro!” bà gọi. Chao, nhưng lần này tới lượt cô Bếp ra ngoài, còn Barbro thì ở nhà; phòng đám ở là một tổ của sự ngây thơ. Bà chủ phải nghĩ ra cái gì đó thật nhanh.

“Tối qua con có cất quần áo phơi vào không?”

“Dạ có.”

“Thế thì tốt, gió to quá… Ngủ ngon nhé.”

Nhưng bà Heyerdahl cũng chẳng dễ chịu gì khi phải bảo chồng đánh thức mình giữa đêm rồi tự mình lệt bệt băng sang phòng đám ở xem chúng có nhà không. Chúng muốn làm gì thì làm, bà chẳng bận tâm nữa.

Mà nếu chẳng vì rủi ro thuần tuý thì có khi Barbro đã ở hết năm trong chỗ ấy theo lối đó. Nhưng ít hôm trước thì tai hoạ tới.

Chuyện xảy ra dưới bếp, vào một buổi sáng sớm. Barbro to tiếng với cô Bếp, mà chẳng phải lời nhẹ; họ cao giọng, quên bẵng bà chủ. Cô Bếp là một con bần tiện và gian, đêm qua nó đã lỉnh đi ngoài lượt vì hôm ấy là Chủ nhật. Mà nó viện cớ gì? Đi chào tạm biệt cô em gái nó quý sắp sang châu Mỹ chăng? Chẳng chút nào; cô Bếp chẳng viện cớ gì cả, mà chỉ nói rằng cái đêm Chủ nhật ấy là người ta còn nợ nó từ lâu.

“Chao, trong người chị chẳng có lấy một chút sự thật hay tử tế nào!” Barbro nói.

Rồi bà chủ đứng ngay ở khung cửa.

Có lẽ bà ra chỉ vì nghĩ hai con bé ồn ào quá, nhưng giờ bà đứng nhìn, nhìn rất kỹ vào Barbro, vào cái tạp dề trước ngực Barbro; ừ, chồm tới mà nhìn thật kỹ. Đó là một khoảnh khắc khó chịu. Rồi thình lình bà Heyerdahl thét lên mà lùi ra cửa. Cái quái gì thế? Barbro nghĩ, rồi nhìn xuống người mình. _Herregud_! một con bọ chét, chẳng gì hơn. Barbro chẳng nhịn được cười, và vốn chẳng lạ gì với việc phải hành động trong tình thế hiểm nghèo, cô ta lập tức búng con bọ chét đi.

“Xuống sàn kìa!” bà Heyerdahl kêu lên. “Con điên à? Nhặt lên ngay!” Barbro bắt đầu tìm quanh, rồi lại một lần nữa hành động với đầu óc tỉnh táo: cô ta làm như thể đã bắt được con vật, rồi thả nó vào lửa một cách hết sức chân thực.

“Con lấy đâu ra thế?” bà chủ hỏi, giận dữ.

“Con lấy đâu ra à?”

“Ừ, tôi muốn biết đấy.”

Nhưng ở đây Barbro phạm một sai lầm nặng. “Ở cửa hàng ạ,” dĩ nhiên cô ta nên nói thế — thế là quá đủ. Sự thể là — cô ta chẳng biết mình lấy con vật ấy ở đâu, nhưng ngờ rằng hẳn là từ cô Bếp.

Cô Bếp lập tức nổi khùng: “Từ tôi à! Bọ chét của mày thì mày giữ lấy, thế nhé!”

“Đằng nào đêm qua cũng là chị ra ngoài.”

Lại một sai lầm nữa — đáng lẽ cô ta chẳng nên nói gì về chuyện ấy. Cô Bếp chẳng còn lý do gì để giữ im lặng, và giờ nó tuôn ra hết, kể tuốt những đêm Barbro đã ra ngoài. Bà Heyerdahl hết sức phẫn nộ; bà chẳng bận tâm gì tới cô Bếp, chính Barbro mới là kẻ bà nhắm, cái đứa mà bà đã bảo lãnh tư cách. Mà ngay cả thế thì mọi sự vẫn có thể êm nếu Barbro cúi đầu như một cây sậy, và rũ xuống vì xấu hổ, và hứa hẹn đủ điều cho tương lai — nhưng không. Bà chủ buộc phải nhắc cô ta tất cả những gì bà đã làm cho cô ta, mà nghe thế thì, xin lỗi chứ, Barbro đâm ra cãi lại, ừ, cô ta ngu tới thế, nói những lời hỗn xược. Hay có khi cô ta khôn hơn vẻ ngoài; có khi cố tình đẩy chuyện tới chỗ vỡ ra để thoát hẳn khỏi chỗ ấy? Bà chủ nói:

“Sau khi tôi đã cứu con khỏi nanh vuốt Pháp luật.”

“Cái đó thì,” Barbro đáp, “bà đừng cứu thì con còn thích hơn.”

“Rồi đó là tất cả những gì tôi được cảm ơn,” bà chủ nói.

“Có khi càng ít nói càng tốt,” Barbro nói. “Đằng nào con cũng chỉ lĩnh một hai tháng rồi xong.”

Bà Heyerdahl cứng họng một lúc; ừ, một chốc bà đứng đó chẳng nói gì, chỉ mở miệng ra rồi ngậm lại. Điều đầu tiên bà nói là bảo con bé đi; bà chẳng chứa nó nữa.

“Bà muốn thế thì tuỳ,” Barbro nói.

Mấy hôm sau đó Barbro ở nhà với bố mẹ. Nhưng cô ta chẳng thể cứ ở đó mãi. Đúng là mẹ cô ta bán cà phê, và có khối người tới nhà, nhưng Barbro chẳng sống bằng cái đó được — mà có khi cô ta còn có những lý do riêng khác để muốn lại có một chỗ ổn định. Thế nên hôm nay cô ta vác một bao quần áo lên lưng mà lên đường ngược lên qua vùng lầy. Vấn đề giờ là liệu Axel Ström có nhận cô ta không? Nhưng dù sao cô ta cũng đã cho rao hôn phối vào Chủ nhật trước.

Mưa, chân lấm bùn, nhưng Barbro cứ lê bước. Chiều đang xuống, nhưng mùa này thì chưa tối. Barbro tội nghiệp — cô ta chẳng nương mình, mà đi lo việc của mình như bất cứ ai; cô ta đang tới một chỗ, để bắt đầu một cuộc vật lộn khác ở đó. Nói cho thật thì cô ta chưa từng nương mình, chưa bao giờ thuộc hạng lười, mà chính vì thế giờ cô ta mới có cái vóc dáng gọn ghẽ và cái thân hình đẹp ấy. Barbro học nhanh, mà thường là học cái hại mình; còn trông mong gì hơn? Cô ta đã học được cách tự cứu mình lúc kẹt, cách trượt từ vụ rắc rối này sang vụ khác, nhưng vẫn giữ được suốt dọc đường vài phẩm chất tốt hơn; cái chết của một đứa bé chẳng là gì với cô ta, nhưng cô ta vẫn cho kẹo được một đứa bé đang sống. Rồi cô ta có tai nhạc tốt, có thể gảy ghi-ta khe khẽ và đúng nhịp, vừa gảy vừa hát khàn khàn; nghe dễ chịu và hơi buồn. Nương mình ư? không; ít tới mức cô ta đã vứt bỏ mình hoàn toàn, mà chẳng thấy mất mát gì. Thỉnh thoảng cô ta khóc, và đau lòng vì chuyện này chuyện nọ trong đời mình — nhưng cái đó chỉ là tự nhiên, nó đi cùng những bài hát cô ta hát, ấy là chất thơ và cái ngọt ngào thân thiện trong cô ta; cô ta đã lừa chính mình và lừa khối người khác bằng đúng cái đó. Giá tối nay cô ta mang được cây ghi-ta theo thì tới nơi cô ta đã gảy được một chút cho Axel nghe.

Cô ta thu xếp sao cho tới nơi lúc chiều muộn; khi cô ta tới thì Maaneland đã im ắng cả. Kìa, Axel đã bắt đầu cắt cỏ, cỏ gần nhà đã cắt, mà một phần đã vào kho. Rồi cô ta tính rằng Oline, đã già, hẳn ngủ ở gian buồng nhỏ, còn Axel thì nằm ngoài lán cỏ, đúng như chính cô ta trước kia. Cô ta tới cái cửa mình biết quá rõ, nín thở như một kẻ trộm, và khẽ gọi: “Axel!”

“Gì thế?” Axel hỏi ngay.

“Ơ, tôi đây thôi,” Barbro nói, rồi bước vào. “Anh cho tôi ngủ nhờ một đêm được không?” cô ta nói.

Axel nhìn cô ta và chậm nghĩ, ngồi đó trong bộ đồ lót, nhìn cô ta. “Thế ra là cô,” gã nói. “Mà cô định đi đâu?”

“Ơ, trước hết còn tuỳ anh có cần người giúp việc mùa hè không,” cô ta nói.

Axel ngẫm điều ấy, rồi nói: “Thế cô chẳng ở lại chỗ cũ à?”

“Không; tôi thôi ở nhà ông _Lensmand_ rồi.”

“Tôi cũng có thể cần người giúp thật, cho mùa hè,” Axel nói. “Nhưng đằng nào thì thế là thế nào, cô lại muốn quay về?”

“Ơ, đừng bận tâm tới tôi,” Barbro nói, gạt đi. “Mai tôi lại đi. Lên Sellanraa rồi băng qua đồi. Tôi có một chỗ trên ấy.”

“Cô đã thu xếp với ai trên ấy à?”

“Ừ.”

“Chính tôi cũng có thể cần người giúp mùa hè,” Axel lại nói.

Barbro ướt sũng; cô ta có đồ khác trong bao, và phải thay. “Đừng bận tâm tới tôi,” Axel nói, rồi nhích một chút về phía cửa, chẳng hơn.

Barbro cởi đồ ướt ra, vừa cởi vừa nói chuyện, còn Axel thì cứ ngoái đầu về phía cô ta khá thường. “Giờ anh ra ngoài một tí thì hơn,” cô ta nói.

“Ra ngoài à?” gã nói. Mà quả thật trời chẳng phải thứ trời để ra ngoài. Gã đứng đó, thấy cô ta mỗi lúc một trần hơn; khó lòng rời mắt được; mà Barbro thì vô tâm quá, đáng lẽ cô ta có thể mặc dần đồ khô vào theo từng thứ cởi ra, nhưng không. Cái áo lót cô ta mỏng và dính vào người; cô ta cởi một cái cúc trên vai, rồi quay nghiêng đi, với cô ta thì cái đó chẳng có gì mới. Rồi Axel im phăng phắc, và gã thấy cô ta chỉ chạm tay đôi cái là rũ nốt chỗ áo quần cuối cùng khỏi mình. Theo ý gã thì cái ấy làm mới tuyệt. Rồi cô ta đứng đó, vô tâm với mình đến thế…

Một lúc sau, họ nằm nói chuyện với nhau. Ừ, gã cần người giúp mùa hè, cái đó thì chẳng nghi ngờ gì.

“Người ta cũng nói đại loại thế,” Barbro nói.

Gã lại một mình bắt đầu cắt và phơi cỏ; Barbro tự phán đoán được điều đó giờ bất tiện cho gã thế nào. — Ừ, Barbro hiểu. — Mặt khác, chính Barbro là người đã bỏ chạy mà để gã lại trước đó, chẳng một bóng người giúp, cái đó gã chẳng quên được. Lại còn mang theo cả mấy cái nhẫn. Mà trên tất cả những cái đó, nhục nhã làm sao, là cái tờ báo cứ tới mãi, cái tờ báo Bergen mà xem chừng gã chẳng bao giờ dứt được; gã đã phải trả tiếp cả một năm sau đó.

“Họ làm thế thì thật đê tiện,” Barbro nói, suốt lúc ấy đứng về phía gã.

Nhưng thấy cô ta hoàn toàn phục tùng và dịu dàng, chính Axel cũng chẳng thể vô tâm hoàn toàn với cô ta; gã đồng ý rằng Barbro có lẽ cũng có lý do giận gã, để đáp lại cái cách gã đã lấy mất việc điện tín của bố cô ta. “Nhưng cái đó thì,” gã nói, “bố cô cứ việc lấy lại cái điện tín ấy, tôi chẳng cần; tôi chẳng thiết nữa, chỉ tổ phí thì giờ.”

“Ừ,” Barbro nói.

Axel nghĩ một lúc, rồi hỏi thẳng: “Ừ thì, giờ thế nào, cô muốn tới làm mùa hè thôi hay sao?”

“Không,” Barbro nói, “tuỳ anh thôi.”

“Cô nói thật đấy chứ?”

“Ừ, tuỳ anh, mà anh sao thì tôi cũng vui vậy. Anh chẳng phải nghi ngờ gì về tôi nữa.”

“Hừm.”

“Thật đấy. Mà tôi đã cho rao hôn phối rồi.”

Hừm. Thế thì cũng chẳng dở. Axel nằm nghĩ về chuyện đó thật lâu. Nếu lần này cô ta nói thật lòng, chứ chẳng phải lại lừa dối nhục nhã, thì gã sẽ có một người đàn bà của riêng mình và có người đỡ đần lâu dài.

“Tôi có thể gọi một người đàn bà từ quê tôi lên,” gã nói, “mà chị ấy đã viết thư bảo sẽ tới. Nhưng thế thì tôi phải trả tiền tàu cho chị ấy từ châu Mỹ.”

Barbro nói: “Ơ, thế ra chị ta ở châu Mỹ?”

“Ừ. Năm ngoái sang, nhưng chẳng thiết ở lại.”

“Thôi đừng bận tâm tới chị ta,” Barbro nói. “Thế thì tôi ra sao?” cô ta nói, rồi bắt đầu mềm giọng và rầu rĩ.

“Không. Vì thế mà tôi chưa thu xếp gì chắc chắn với chị ấy.”

Rồi sau đó Barbro cũng phải có gì đó để đáp lại; cô ta thú nhận rằng mình đã có thể lấy một chàng trai ở Bergen, anh ta đánh xe cho một xưởng bia lớn, một cơ nghiệp cực lớn, mà là một chỗ tốt. “Mà giờ hẳn anh ấy đang buồn vì tôi,” Barbro nói, rồi nấc lên một tiếng nhỏ. “Nhưng anh biết đấy, Axel; khi hai người đã ở với nhau nhiều như anh với tôi thì tôi chẳng bao giờ quên nổi. Còn anh thì muốn quên tôi bao nhiêu tuỳ anh.”

“Gì cơ! Tôi à?” Axel nói. “Không, chẳng cần nằm đó mà khóc vì chuyện ấy đâu, cô ơi, tôi chưa bao giờ quên cô cả.”

“Ừ thì…”

Barbro thấy dễ chịu hơn nhiều sau lời thú nhận ấy, và nói: “Đằng nào thì trả tiền tàu cho chị ta suốt từ châu Mỹ trong khi chẳng cần…” Cô ta khuyên gã đừng dính vào vụ ấy; tốn kém quá, mà lại chẳng cần. Barbro xem chừng quyết tự tay dựng lấy hạnh phúc cho gã.

Trong đêm ấy họ thoả thuận được mọi bề. Chẳng phải như thể họ là người lạ; họ đã bàn hết mọi thứ từ trước. Đến cả cái lễ cưới cần thiết cũng sẽ làm trước lễ Thánh Olaf và trước mùa gặt; họ chẳng cần giấu gì, mà giờ chính Barbro lại là người sốt sắng nhất muốn làm ngay. Axel chẳng hề khó chịu vì sự sốt sắng ấy của cô ta, mà nó cũng chẳng làm gã nghi ngờ chút nào; còn xa mới thế, gã thấy được tâng bốc và được khích lệ khi thấy cô ta như vậy. Ừ, hẳn gã là một người làm ruộng, một gã da dày, chẳng quen nhìn mọi sự cho tinh tế, chẳng có gì mảnh mai quá mức; có những việc gã buộc phải làm, và trước hết gã nhìn vào cái có ích. Vả lại, đây Barbro lại mới mẻ và xinh xắn, và tử tế với gã, gần như còn ngọt hơn trước. Cô ta như một quả táo, và gã cắn vào. Việc rao hôn phối thì đã làm rồi.

Còn về đứa bé đã chết và phiên toà thì chẳng ai nói lấy một lời.

Nhưng họ có nói về Oline, về việc phải tống khứ bà ta thế nào. “Ừ, bà ấy phải đi,” Barbro nói. “Đằng nào ta cũng chẳng có gì phải cảm ơn bà ấy. Bà ấy chỉ được cái mách lẻo với ác ý.”

Nhưng tống khứ được Oline hoá ra chẳng dễ chút nào.

Ngay buổi sáng đầu tiên, khi Barbro xuất hiện, hẳn Oline đã rõ số phận mình. Bà ta lo ngay, nhưng cố chẳng để lộ, và mang một cái ghế ra.

“Giá trong nhà còn lấy một hạt cà phê thì tôi đã mời cô,” bà ta nói với Barbro. “Cô đi lên trên nữa chắc?”

“Không,” Barbro nói.

“Ơ! Chẳng lên nữa à?”

“Không.”

“Ơ, chẳng phải việc của tôi, không,” Oline nói. “Chắc lại xuống dưới?”

“Không. Cũng chẳng xuống dưới. Giờ tôi ở lại đây.”

“Ở lại đây à?”

“Ừ, ở lại đây, chắc thế.”

Oline đợi một khắc, dùng tới cái đầu già đầy mưu mẹo của mình. “Ừ thì,” bà ta nói. “Thế thì hẳn là đỡ cho tôi. Mà tôi mừng vì thế.”

“Ơ hay,” Barbro nói đùa, “thế ra bấy nay Axel đây khắc nghiệt với bác lắm à?”

“Khắc nghiệt với tôi à? Axel! Chao, chẳng nên bẻ lời một bà già, chẳng có gì ngoài sống nốt mà chờ cái ngày tận đầy phúc. Axel thì với tôi ngày cũng như giờ đã như một người cha và một sứ giả của Đấng Tối Cao, thật như lời Phúc Âm. Nhưng vì tôi chẳng có người ruột thịt nào ở đây, mà sống một mình và bị hắt hủi dưới mái nhà người lạ, với tất cả họ hàng ở bên kia đồi…”

Nhưng dù vậy, Oline vẫn ở lại. Họ chẳng tống khứ được bà ta cho tới sau khi cưới, mà Oline thì làm bộ khó khăn lắm, nhưng rốt cuộc cũng nói “Ừ”, và sẽ ở lại chừng ấy để chiều họ, mà trông nhà trông gia súc trong lúc họ xuống nhà thờ. Việc ấy mất hai ngày. Nhưng khi họ cưới xong mà về thì Oline vẫn ở lại như cũ. Bà ta khất; hôm nay bà ta thấy trong người chẳng khoẻ; hôm sau thì trông như sắp mưa. Bà ta lấy lòng Barbro bằng những lời ngọt về chuyện cơm nước. Chao, đồ ăn ở Maaneland giờ khác hẳn; giờ ăn ở khác hẳn, mà cà phê thì cũng khác hẳn. Chao, bà ta chẳng chừa gì, cái bà Oline ấy; hỏi ý Barbro cả những việc chính bà ta biết rõ hơn. “Cô thấy sao, tôi nên vắt sữa bò theo đúng chỗ đứng của chúng, hay nên vắt con Bordelin trước?”

“Bác muốn làm sao thì làm.”

“Ừ, tôi vẫn bảo mà,” Oline thốt lên. “Cô đã ra ngoài đời mà sống giữa các bậc lớn các bậc sang, mà học được hết mọi sự. Hạng như tôi thì lại khác.”

Ừ, Oline chẳng chừa gì, bà ta bày mưu suốt ngày. Ngồi đó mà kể với Barbro rằng chính bà ta là bạn và rất tương đắc với bố Barbro, với Brede Olsen! Chao, họ đã có bao nhiêu giờ vui vẻ bên nhau, mà Brede thì là một người tử tế lại giàu lại sang, chẳng bao giờ có một lời nặng trong miệng.

Nhưng cái đó chẳng thể kéo dài mãi; cả Axel lẫn Barbro đều chẳng thiết có Oline ở đó lâu hơn, mà Barbro thì đã cầm hết việc của bà ta. Oline chẳng than gì, nhưng bà ta ném những cái nhìn nguy hiểm về phía cô chủ trẻ và đổi giọng đi một chút.

“Ừ, các bậc lớn, đúng thế. Axel, cậu ấy lên tỉnh một dạo mùa gặt năm ngoái — có khi cô chẳng gặp cậu ấy trên ấy? Ừ nhỉ, đúng rồi, dạo ấy cô ở Bergen. Nhưng cậu ấy có lên tỉnh; là để mua một cỗ máy cắt cỏ với một cái máy bừa. Mà giờ người nhà Sellanraa so với cô ở đây thì là gì? Chẳng đáng đem ra so!”

Bà ta bắt đầu bắn ra những mũi kim nhỏ, nhưng giờ đến cả cái đó cũng chẳng giúp được bà ta; chẳng ai trong hai người sợ bà ta. Một hôm Axel nói thẳng với bà ta rằng bà ta phải đi.

“Đi à?” Oline nói. “Mà đi thế nào? Bò chắc?” Không, bà ta chẳng chịu đi, viện cớ rằng mình yếu, chẳng cất chân nổi. Rồi tệ hết mức có thể, khi họ đã cất hết việc khỏi tay bà ta, và bà ta chẳng còn gì để làm, thì bà ta gục hẳn, và ốm thật sự. Bà ta còn gượng đi lại được một tuần, Axel thì nhìn bà ta hằm hằm; nhưng bà ta ở lại thuần vì ác ý, và rốt cuộc bà ta phải nằm bẹp.

Và giờ bà ta nằm đó, chẳng hề chờ cái ngày tận đầy phúc của mình chút nào, mà đếm từng giờ cho tới lúc lại dậy đi lại được. Bà ta đòi gọi thầy thuốc, một sự xa xỉ chưa từng nghe thấy nơi hoang dã.

“Thầy thuốc?” Axel nói. “Bác mất trí rồi à?”

“Thế cậu bảo sao?” Oline nói, hết sức nhẹ nhàng, như trước một điều bà ta chẳng hiểu nổi. Ừ, bà ta hiền lành và ngọt giọng đến thế, mừng khi nghĩ rằng mình chẳng phải làm gánh nặng cho ai; bà ta tự trả tiền thầy thuốc được.

“Ơ, bác trả được à?” Axel nói.

“Ơ, mà sao lại không?” Oline nói. “Vả lại, cậu chẳng lẽ để tôi nằm đây mà chết như một con vật câm trước mặt Chúa?”

Tới đây Barbro chen vào một câu, và dại dột tới mức nói:

“Ừ thì bác có gì mà than, tôi cũng muốn biết, khi chính tôi bưng cơm nước lên tận nơi cho bác? Còn cà phê thì tôi đã bảo bác không có thì tốt hơn, mà là có ý tốt.”

“Barbro đấy à?” Oline nói, chỉ đưa mắt chứ chẳng hơn mà tìm cô ta; ừ, Oline yếu lắm, mà trông thật thảm với đôi mắt vặn ngang. “Ừ, có khi đúng như cô nói, Barbro ạ, nếu một giọt cà phê con con mà hại tôi, một thìa thôi chứ chẳng hơn.”

“Tôi mà ở địa vị bác thì giờ này tôi nghĩ tới chuyện khác chứ chẳng nghĩ tới cà phê,” Barbro nói.

“Ừ, tôi vẫn bảo mà,” Oline đáp. “Chẳng phải lối cô mong và muốn một sinh linh chết đi, mà là muốn họ cải hoá mà sống. Cái gì… ừ, tôi nằm đây mà trông thấy đủ thứ… Cô đang có mang đấy à, Barbro?”

“Bác nói gì thế?” Barbro cuồng nộ kêu lên; rồi nói tiếp: “Chao, đáng đời bác nếu tôi lôi bác quẳng lên đống phân vì cái mồm độc địa ấy.”

Rồi nghe thế thì kẻ bệnh im lặng một khắc đầy nghĩ ngợi, miệng run run như cố hết sức mỉm cười mà chẳng dám.

“Đêm qua tôi nghe có tiếng ai gọi,” bà ta nói.

“Bà ấy mất trí rồi,” Axel nói, thì thào.

“Không, mất trí thì tôi chẳng mất. Như tiếng ai gọi. Từ trong rừng, hay có khi từ con suối trên kia. Nghe lạ lắm — như thể tiếng một đứa bé con kêu lên. Barbro vừa ra ngoài đấy à?”

“Ừ,” Axel nói. “Chán ngấy cái giọng nhảm nhí của bác rồi, chẳng lạ.”

“Nhảm nhí, cậu gọi thế, rồi mất trí, đủ cả? Chao, nhưng chẳng xa được như cậu muốn tưởng đâu,” Oline nói. “Không, ý Chúa Toàn Năng chưa định cho tôi ra trước Ngai vàng và trước Chiên Con lúc này, với tất cả những gì tôi biết về những chuyện xảy ra ở Maaneland đây. Tôi sẽ lại dậy đi lại được, khỏi lo; nhưng cậu nên đi rước thầy thuốc thì hơn, Axel ạ, thế thì nhanh hơn. Còn con bò cậu định cho tôi thì sao?”

“Bò? Bò nào?”

“Con bò cậu đã hứa cho tôi. Con Bordelin chăng?”

“Bác nói lung tung rồi,” Axel nói.

“Cậu biết cậu đã hứa cho tôi một con bò cái ngày tôi cứu mạng cậu.”

“Không, cái đó thì tôi chưa từng biết.”

Nghe thế Oline ngẩng đầu lên mà nhìn gã. Bạc và trụi, một cái đầu dựng lên trên một cái cổ dài khẳng khiu — xấu như phù thuỷ, như một mụ chằn trong truyện. Axel giật mình trước cảnh ấy, và quờ một tay ra sau lưng tìm cái then cửa.

“Ơ,” Oline nói, “thế ra cậu là hạng ấy! Ừ thì — giờ đừng nói tới nữa. Từ hôm nay trở đi tôi sống được chẳng cần con bò, mà tôi chẳng nói chẳng hé một lời nào về nó nữa. Nhưng may là hôm nay cậu đã cho thấy cậu là hạng người thế nào; giờ tôi biết rồi. Ừ, mà lần khác tôi sẽ biết.”

Nhưng Oline chết ngay đêm ấy — vào lúc nào đó trong đêm; đằng nào thì sáng hôm sau khi họ vào bà ta đã lạnh cứng.

Oline — một sinh vật già nua. Sinh ra và chết đi…

Chôn bà ta và thoát khỏi bà ta vĩnh viễn chẳng phải nỗi buồn gì với Axel hay Barbro; giờ có ít thứ phải đề phòng hơn, họ có thể yên. Barbro lại đang khổ vì răng; ngoài chuyện ấy ra thì mọi sự đều ổn. Nhưng cái khăn len đời đời trùm mặt ấy, mà hễ có một lời cần nói là lại phải gạt sang bên — cái đó thì phiền và rầy đủ, mà tất cả cái chứng đau răng này với Axel thì có gì đó bí ẩn. Đúng là gã có để ý thấy cô ta nhai một cách cẩn thận, nhưng trong miệng cô ta chẳng thiếu một cái răng nào.

“Cô chẳng làm răng mới rồi à?” gã hỏi.

“Ừ, làm rồi.”

“Mà chúng cũng đau à?”

“Chao, anh với cái lối nhảm của anh!” Barbro nói cáu kỉnh, dù Axel hỏi khá ngây thơ. Rồi trong cơn cay đắng cô ta buột ra chuyện gì đang xảy ra. “Anh nhìn là biết tôi thế nào rồi chứ?”

Cô ta thế nào à? Axel nhìn kỹ hơn, và ngờ rằng cô ta đẫy hơn mức cần thiết.

“Ơ, chẳng lẽ cô — chẳng lẽ lại thêm một đứa nữa?” gã nói.

“Ơ, anh biết rồi còn gì,” cô ta nói.

Axel trân trân nhìn cô ta, ngờ nghệch. Chậm nghĩ như gã, gã ngồi đó đếm một lúc: một tuần, hai tuần, sang tuần thứ ba…

“Không, tôi biết thế nào được…” gã nói.

Nhưng Barbro mất hết kiên nhẫn với cuộc tranh luận này, và bật ra, khóc oà lên, khóc như một sinh vật bị tổn thương sâu sắc: “Ừ thì anh cứ đem tôi ra mà chôn xuống đất luôn đi, thế là anh thoát khỏi tôi.”

Lạ thật, đàn bà kiếm ra được những thứ kỳ quặc gì để mà khóc!

Axel chưa từng nghĩ tới chuyện chôn cô ta xuống đất; gã là một gã da dày, chủ yếu nhìn vào cái có ích; một lối đi trải hoa thì vượt quá nhu cầu của gã.

“Thế thì hè này cô chẳng làm ngoài đồng được à?” gã nói.

“Chẳng làm được à?” Barbro nói, lại hoảng lên. Rồi — lạ thật, đàn bà kiếm ra được những thứ kỳ quặc gì để mà mỉm cười! Axel nhận chuyện ấy theo lối đó đã làm dâng lên trong Barbro cả một dòng vui mừng cuống quýt, và cô ta bật ra: “Tôi sẽ làm bằng hai người! Chao, anh cứ đợi mà xem, Axel; anh giao gì tôi cũng làm, mà còn hơn thế. Tôi làm tới mòn cả xương, mà còn biết ơn, miễn là anh chịu để tôi ở lại!”

Sau đó lại thêm nước mắt và nụ cười và dịu dàng. Chỉ có hai người nơi hoang dã, chẳng ai quấy rầy; cửa mở toang và tiếng ruồi vo ve trong cái nóng mùa hè. Barbro dịu dàng và sẵn lòng đến thế; ừ, gã muốn làm gì cô ta thì làm, mà cô ta thì sẵn lòng.

Sau khi mặt trời lặn, gã ra thắng ngựa vào cỗ máy cắt cỏ; còn một quãng nữa gã có thể làm sẵn cho ngày mai. Barbro hối hả chạy ra, như thể có chuyện gì quan trọng lắm, mà nói:

“Axel này, sao anh lại nghĩ tới chuyện gọi một người từ châu Mỹ về được nhỉ? Chị ta chẳng thể tới đây trước mùa đông, mà tới lúc ấy thì dùng chị ta làm gì?” Mà đó là điều vừa nảy ra trong đầu cô ta, và cô ta phải chạy ra nói cho bằng được như thể đó là chuyện cần thiết.

Nhưng chẳng cần thiết chút nào; ngay từ đầu Axel đã thấy rằng lấy Barbro nghĩa là có người đỡ đần quanh năm. Axel chẳng đu đưa lắc lư gì, chẳng nghĩ ngợi với cái đầu để giữa những vì sao. Giờ gã đã có một người đàn bà của riêng mình trông nom cơ ngơi, gã có thể giữ việc điện tín thêm một dạo. Ấy là một khoản tiền khá trong năm, tính vào cũng tốt chừng nào từ đất gã mới vừa đủ ăn, chẳng có mấy thứ để bán. Tất cả đều lành mạnh và chạy tốt; tất cả đều là thực tế tốt. Mà chuyện đường dây điện tín thì cũng chẳng phải sợ Brede mấy, vì giờ gã là con rể Brede.

Ừ, mọi sự đang khá lên, đang đẹp lên với Axel.