Pygmalion — LỜI TỰA

Chương 1 / 6 · Bài review Pygmalion

Một Giáo sư Ngữ âm học.

Như sẽ thấy về sau, Pygmalion không cần một lời tựa, mà cần một phần tiếp nối, thứ mà tôi đã bổ sung ở chỗ thích đáng của nó. Người Anh chẳng hề tôn trọng chính ngôn ngữ của mình, và cũng không dạy con cái họ nói cho ra tiếng. Họ đánh vần nó tệ hại đến mức không ai có thể tự học được nó nghe ra sao. Một người Anh không thể mở miệng mà lại không khiến một người Anh khác căm ghét hay khinh miệt mình. Tiếng Đức và tiếng Tây Ban Nha thì người nước ngoài tiếp cận được: còn tiếng Anh thì đến người Anh cũng chẳng tiếp cận nổi. Nhà cải cách mà nước Anh cần đến hôm nay là một người say mê ngữ âm học đầy nhiệt huyết: chính vì thế mà tôi đã lấy một người như vậy làm nhân vật anh hùng trong một vở kịch ăn khách. Đã có những anh hùng loại ấy kêu vang trong hoang mạc suốt bao năm qua. Khi tôi bắt đầu quan tâm đến đề tài này vào cuối thập niên một tám bảy mươi, Melville Bell đã qua đời; nhưng Alexander J. Ellis thì vẫn còn là một bậc trưởng lão còn sống, với cái đầu bệ vệ lúc nào cũng đội một chiếc mũ nhung ôm sát sọ, mà ông vẫn cáo lỗi trước các buổi họp công chúng theo lối vô cùng cung cách quý phái. Ông và Tito Pagliardini, một lão tướng ngữ âm học khác, là những người mà ta không tài nào ghét được. Henry Sweet, khi ấy còn là một chàng thanh niên, lại thiếu cái tính hòa nhã của họ: ông ta dễ chịu với đám người phàm quy ước cũng ngang cỡ Ibsen hay Samuel Butler mà thôi. Tài năng lớn lao của ông với tư cách nhà ngữ âm học (tôi nghĩ ông là người giỏi nhất trong bọn họ ở nghề của mình) lẽ ra đủ để ông được công nhận chính thức ở bậc cao, và có lẽ giúp ông phổ biến được đề tài của mình, nếu không vì cái thái độ khinh miệt kiểu quỷ Satan mà ông dành cho hết thảy các bậc chức sắc hàn lâm và nói chung là những kẻ coi trọng tiếng Hy Lạp hơn ngữ âm học. Có lần, vào thời Viện Đế chế mọc lên ở South Kensington, và Joseph Chamberlain đang ra sức thổi phồng Đế chế, tôi đã thuyết phục được vị chủ bút của một tờ nguyệt san phê bình hàng đầu đặt Sweet viết một bài về tầm quan trọng của đề tài ông đối với đế chế. Khi bài viết gửi tới, nó chẳng chứa gì ngoài một cuộc công kích chế nhạo hết sức tàn nhẫn nhắm vào một giáo sư ngôn ngữ và văn chương, người mà cái ghế giáo sư, theo Sweet, chỉ đáng thuộc về một chuyên gia ngữ âm mà thôi. Bài viết, vì mang tính phỉ báng, đành phải trả lại vì không dùng được; và tôi đành từ bỏ giấc mộng lôi tác giả của nó ra ánh đèn sân khấu. Khi tôi gặp lại ông ta sau đó, lần đầu tiên sau bao nhiêu năm, tôi kinh ngạc nhận ra rằng ông ta, kẻ vốn từng là một chàng trai coi cũng khá tươm tất, đã thực sự xoay xở, chỉ bằng sự khinh miệt thuần túy, để thay đổi cả ngoại hình của mình cho đến khi trở thành một thứ như là hiện thân biết đi của sự chối bỏ Oxford cùng mọi truyền thống của nó. Hẳn phần lớn là trái với ý muốn của chính ông mà người ta đã nhét ông vào một cái chức gọi là Giảng viên Ngữ âm học ở đó. Tương lai của ngữ âm học có lẽ nằm nơi các học trò của ông, những người thề sống thề chết theo ông; nhưng chẳng gì có thể khiến bản thân con người ấy chịu ăn khớp dù chỉ chút nào với trường đại học, cái nơi mà dẫu vậy ông vẫn bám lấy như một quyền thiêng liêng, theo một lối rất đặc Oxford. Tôi dám chắc trong đám giấy tờ của ông, nếu ông có để lại chút nào, hẳn có mấy bài châm biếm mà năm mươi năm nữa có thể đem in mà không gây hậu quả quá tai hại. Tôi tin ông chẳng phải là người xấu bụng chút nào: trái lại thì đúng hơn, tôi phải nói vậy; chỉ có điều ông không thể vui vẻ chịu đựng bọn ngốc.

Những ai từng quen biết ông sẽ nhận ra trong màn ba của tôi cái ám chỉ tới lối Tốc ký độc quyền mà ông thường dùng để viết bưu thiếp, thứ có thể học được qua một cuốn cẩm nang giá bốn shilling sáu xu do nhà Clarendon Press xuất bản. Những tấm bưu thiếp mà bà Higgins mô tả chính là loại tôi từng nhận từ Sweet. Tôi sẽ cố dịch ra một âm mà một dân Cockney sẽ viết là zerr, còn một người Pháp sẽ viết là seu, rồi viết thư hỏi lại, có phần nóng nảy, rằng nó rốt cuộc nghĩa là cái quái gì. Sweet, với sự khinh thường vô bờ bến dành cho cái ngu dốt của tôi, sẽ đáp rằng nó không những nghĩa là mà rành rành chính là chữ Result, bởi chẳng có chữ nào khác chứa cái âm ấy, mà lại xuôi nghĩa được với văn cảnh, tồn tại trong bất cứ thứ tiếng nào được nói trên đời. Chuyện những kẻ phàm kém tinh thông hơn lại cần chỉ dẫn đầy đủ hơn là điều vượt quá sức kiên nhẫn của Sweet. Bởi thế, dẫu cho toàn bộ cái hay của “Tốc ký Hiện hành” của ông nằm ở chỗ nó có thể biểu đạt hoàn hảo mọi âm trong ngôn ngữ, nguyên âm cũng như phụ âm, và bàn tay bạn chẳng phải vạch nét nào ngoài những nét dễ dàng, trơn chảy mà bạn vẫn dùng để viết m, n, và u, l, p, và q, nguệch ngoạc chúng ở bất cứ góc nào thuận tay nhất, thì cái quyết tâm bất hạnh của ông muốn bắt lối chữ đáng nể và hoàn toàn dễ đọc này kiêm luôn cả chức năng Tốc ký đã, trong tay chính ông, biến nó thành thứ mật mã khó dò nhất trần đời. Mục tiêu đích thực của ông là cung cấp một lối chữ đầy đủ, chính xác, dễ đọc cho cái ngôn ngữ cao quý nhưng ăn mặc lôi thôi của chúng ta; nhưng ông đã bị cái khinh miệt đối với hệ thống Tốc ký Pitman thịnh hành lôi vượt quá đích ấy, cái hệ thống mà ông gọi là hệ thống Pitfall (Cạm bẫy). Chiến thắng của Pitman là chiến thắng của tổ chức kinh doanh: có hẳn một tờ tuần báo để thuyết phục bạn học Pitman: có sách giáo khoa giá rẻ, có vở bài tập và bản chép các bài diễn thuyết cho bạn sao lại, và có những trường lớp nơi các thầy giáo lão luyện kèm bạn đạt tới mức thành thạo cần thiết. Sweet thì không thể tổ chức thị trường của mình theo lối ấy. Ông chẳng khác nào bà đồng Sybil xé toạc những trang tiên tri mà chẳng ai buồn để mắt tới. Cuốn cẩm nang bốn shilling sáu xu ấy, phần lớn in lại từ nét chữ tay của ông qua kỹ thuật thạch bản, chưa từng được quảng cáo một cách phàm tục, có lẽ một ngày nào đó sẽ được một tập đoàn nào đó nhận về mà đẩy ra công chúng như tờ The Times đã đẩy bộ Bách khoa Toàn thư Britannica; nhưng chừng nào điều đó chưa xảy ra thì nó chắc chắn sẽ không thắng nổi Pitman. Trong đời mình tôi đã mua ba bản của cuốn ấy; và các nhà xuất bản cho tôi hay rằng cái tồn tại lặng lẽ như trong tu viện của nó vẫn cứ đều đặn và khỏe khoắn. Tôi thực sự đã học cái hệ thống ấy đến hai lần riêng biệt; vậy mà lối tốc ký tôi đang dùng để viết những dòng này lại là của Pitman. Và lý do là bởi thư ký của tôi không thể chép lại được Sweet, vì cô ta buộc phải học trong các trường của Pitman. Bởi thế, Sweet đã mắng nhiếc Pitman uổng công chẳng khác gì Thersites mắng nhiếc Ajax: những lời chì chiết ấy, dù có thể làm nhẹ lòng ông, cũng chẳng đem lại chút thịnh hành nào cho Tốc ký Hiện hành. Higgins trong Pygmalion không phải chân dung của Sweet, người mà cuộc phiêu lưu với Eliza Doolittle hẳn là điều bất khả; tuy vậy, như sẽ thấy, trong vở kịch vẫn có đôi nét của Sweet. Với vóc dáng và khí chất của Higgins thì Sweet hẳn đã làm nên chuyện động trời. Còn thực tế thì ông đã ghi dấu ấn nghề nghiệp của mình lên châu Âu đến mức khiến cái sự tương đối mờ nhạt về danh tiếng cá nhân của ông, và việc Oxford không đối xử công bằng với tầm vóc của ông, trở thành một câu đố với các chuyên gia nước ngoài trong lĩnh vực ấy. Tôi không trách Oxford, bởi tôi nghĩ Oxford hoàn toàn có lý khi đòi hỏi ở những đứa con nó nuôi dưỡng một mức nhã nhặn xã giao nhất định (có trời biết những đòi hỏi ấy đâu có gì quá đáng!); bởi tuy tôi biết rõ một người tài năng với một đề tài bị coi rẻ nghiêm trọng khó lòng giữ được quan hệ êm đềm và tử tế với những kẻ coi rẻ nó, những kẻ giữ hết mọi vị trí tốt nhất cho các đề tài kém quan trọng hơn mà họ giảng dạy chẳng chút sáng tạo và đôi khi cũng chẳng mấy năng lực, thì dẫu vậy, nếu ông trút lên đầu họ toàn cơn thịnh nộ và khinh khi, ông cũng đừng mong họ chất vinh dự lên người mình.

Về các thế hệ nhà ngữ âm học đời sau thì tôi biết ít. Nổi bật giữa họ là vị Thi bá Quế quan, người mà có lẽ Higgins mắc nợ những mối đồng cảm kiểu Milton, dẫu ở đây một lần nữa tôi phải phủ nhận mọi ý đồ vẽ chân dung. Nhưng nếu vở kịch làm cho công chúng nhận ra rằng trên đời có những con người như các nhà ngữ âm học, và rằng họ nằm trong số những người quan trọng nhất ở nước Anh hiện nay, thì nó đã làm tròn phận sự của mình.

Tôi muốn khoe rằng Pygmalion đã là một vở kịch cực kỳ thành công khắp châu Âu và Bắc Mỹ cũng như ở ngay quê nhà. Nó mang tính giáo huấn mãnh liệt và cố ý đến thế, còn đề tài của nó thì bị coi là khô khan đến thế, khiến tôi lấy làm khoái trá quăng nó vào đầu những kẻ tưởng mình khôn ngoan cứ lải nhải như vẹt cái luận điệu rằng nghệ thuật không bao giờ nên mang tính giáo huấn. Điều đó chứng minh cho quan điểm của tôi rằng nghệ thuật không bao giờ nên là bất cứ thứ gì khác.

Cuối cùng, và để khích lệ những ai đang khổ sở vì cái giọng nói khiến họ bị gạt khỏi mọi công việc sang trọng, tôi xin nói thêm rằng sự biến đổi mà Giáo sư Higgins tạo ra ở cô bán hoa chẳng phải điều bất khả cũng chẳng phải điều hiếm gặp. Cái cô con gái của người gác cổng thời nay, kẻ đạt được khát vọng của mình bằng cách đóng vai Nữ hoàng Tây Ban Nha trong vở Ruy Blas tại Nhà hát Pháp, chỉ là một trong hàng ngàn hàng vạn người, cả nam lẫn nữ, đã lột bỏ được thổ âm bản xứ của mình mà thủ đắc một giọng nói mới. Nhưng chuyện ấy phải được làm một cách khoa học, kẻo trạng thái sau cùng của kẻ khát khao vươn lên còn có thể tệ hơn trạng thái ban đầu. Một thổ âm khu ổ chuột chân thật và tự nhiên còn dễ chịu hơn cái nỗ lực của một kẻ chưa được dạy ngữ âm cứ cố bắt chước cái giọng phàm tục của câu lạc bộ golf; và tôi lấy làm tiếc phải nói rằng, bất chấp mọi nỗ lực của Học viện Nghệ thuật Sân khấu của chúng ta, trên sân khấu nước nhà vẫn còn quá nhiều thứ tiếng Anh golf giả cầy, và quá ít cái thứ tiếng Anh cao quý của Forbes Robertson.