Pygmalion — Chương 1

Chương 2 / 6 · Bài review Pygmalion

Covent Garden lúc 11 giờ 15 đêm. Mưa hè trút xuống như thác. Tiếng còi gọi xe ngựa rúc lên loạn xạ khắp các ngả. Khách bộ hành chạy tìm chỗ trú vào khu chợ và dưới hàng cột của nhà thờ St. Paul, nơi đã có sẵn mấy người, trong đó có một quý bà cùng con gái mặc đồ dạ hội. Ai nấy đều rầu rĩ nhìn ra màn mưa, trừ một người đàn ông quay lưng lại với đám còn lại, xem chừng đang mải mê với cuốn sổ tay mà ông ta hí hoáy ghi chép.

Đồng hồ nhà thờ điểm khắc thứ nhất.

CÔ CON GÁI: [đứng ở khoảng trống giữa hai cột chính, sát cây cột bên trái] Con lạnh thấu xương rồi. Freddy làm gì mà lâu thế không biết? Đi những hai mươi phút rồi còn gì.

BÀ MẸ: [đứng bên phải con gái] Chưa lâu đến thế đâu. Nhưng lẽ ra giờ này nó phải kiếm được xe cho ta rồi chứ.

MỘT NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: [đứng bên phải quý bà] Bà ơi, phải đến mười một rưỡi mới có xe đâu, lúc ấy họ chở khách xem hát xong mới quay lại.

BÀ MẸ: Nhưng ta phải có xe chứ. Không lẽ đứng đây đến tận mười một rưỡi. Thật quá quắt.

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: Ờ thì, đâu phải lỗi tại tôi, bà ơi.

CÔ CON GÁI: Giá Freddy có chút đầu óc thì đã kiếm được một chiếc ngay trước cửa nhà hát rồi.

BÀ MẸ: Thằng bé tội nghiệp thì làm được gì cơ chứ?

CÔ CON GÁI: Người ta kiếm được xe đấy thôi. Sao anh ấy lại không?

Freddy từ phía phố Southampton lao vào tránh mưa, len vào giữa hai người rồi cụp chiếc ô đang nhỏ tong tong. Đó là một chàng trai chừng hai mươi tuổi, mặc đồ dạ hội, hai ống chân ướt sũng.

CÔ CON GÁI: Sao, kiếm được xe chưa?

FREDDY: Có tiền cũng chẳng thuê nổi một chiếc nào.

BÀ MẸ: Ôi, Freddy, phải có chứ. Chắc con chưa chịu tìm cho tử tế.

CÔ CON GÁI: Bực cả mình. Hay là anh muốn bọn này tự đi mà kiếm lấy?

FREDDY: Con nói rồi, xe nào cũng có khách hết. Mưa đến bất chợt quá: chẳng ai kịp trở tay; ai cũng phải bắt xe. Con đã đi một hướng tới tận Charing Cross, hướng kia gần tới Ludgate Circus rồi; xe nào cũng có người thuê cả.

BÀ MẸ: Con có thử ở Quảng trường Trafalgar chưa?

FREDDY: Ở Trafalgar chẳng có chiếc nào cả.

CÔ CON GÁI: Anh có thử không đấy?

FREDDY: Con đã đi tới tận ga Charing Cross rồi còn gì. Chả lẽ mẹ muốn con lội bộ đến tận Hammersmith?

CÔ CON GÁI: Anh có thử gì đâu.

BÀ MẸ: Con đúng là vô tích sự, Freddy à. Đi lại đi; chưa kiếm được xe thì đừng có về.

FREDDY: Con chỉ tổ ướt như chuột lột mà chẳng được tích sự gì.

CÔ CON GÁI: Thế còn bọn này thì sao? Chả lẽ cứ đứng đây cả đêm giữa cơn gió lùa này, người thì phong phanh chẳng có gì che thân. Đồ ích kỷ—

FREDDY: Ôi thôi được rồi: con đi, con đi đây. [Chàng bung ô rồi lao đi về phía phố Strand, nhưng đâm sầm vào một cô bán hoa đang vội vã chạy vào trú, hất tung cái giỏ trên tay cô. Một tia chớp lóa mắt, kế đó là ngay tức khắc một tràng sấm ầm ầm, như phối nhạc cho cái sự cố ấy]

CÔ BÁN HOA: Này này Freddy: đi đứng nhìn đường coi chớ, cưng.

FREDDY: Xin lỗi [chàng vội chạy đi].

CÔ BÁN HOA: [nhặt nhạnh mớ hoa vương vãi bỏ lại vào giỏ] Ý tứ ghê chưa kìa! Hai bó violet giẫm nát bét xuống bùn rồi. [Cô ngồi phịch xuống bệ cột, phía bên phải quý bà, tẩn mẩn lựa lại hoa. Cô ta chẳng có gì hấp dẫn. Chừng mười tám, hoặc hai mươi, khó mà hơn. Cô đội một cái mũ thủy thủ nhỏ bằng rơm đen đã phơi mình quá lâu với bụi bặm và bồ hóng London, hầu như chẳng mấy khi được phủi. Tóc cô cần được gội cho tử tế: cái màu chuột lột ấy khó mà là màu tự nhiên. Cô mặc một chiếc áo khoác đen rẻ tiền dài gần chấm gối, bó lại ở eo. Cô mặc váy nâu với một chiếc tạp dề vải thô. Đôi bốt của cô đã mòn vẹt lắm rồi. Chắc chắn cô cũng sạch sẽ trong khả năng của mình; nhưng so với các quý bà thì cô bẩn thỉu lắm. Nét mặt cô không đến nỗi thua kém họ; nhưng tình trạng của chúng thì còn nhiều điều đáng bàn; và cô cần đến tay một nha sĩ].

BÀ MẸ: Này, sao cô biết con trai tôi tên là Freddy?

CÔ BÁN HOA: Ồ, thế ra thằng ẻm là con bà à? Chà, giá bà làm tròn cái bổn phận của người mẹ thì thằng bé đã biết điều mà chẳng giẫm nát hoa của con bé nhà nghèo rồi bỏ chạy không thèm đền. Bà đền cho tôi chỗ hoa này chớ? [Đến đây, xin cáo lỗi, cái nỗ lực tuyệt vọng nhằm ghi lại thổ ngữ của cô mà không có bảng phiên âm này đành phải bỏ dở, vì ra ngoài London chẳng ai hiểu nổi.]

CÔ CON GÁI: Mẹ đừng có làm thế. Nghĩ mà xem!

BÀ MẸ: Để mẹ, Clara. Con có mấy đồng xu lẻ không?

CÔ CON GÁI: Không ạ. Con chẳng có đồng nào nhỏ hơn sáu xu cả.

CÔ BÁN HOA: [đầy hy vọng] Con thối lại cho bà đồng sáu xu được mà, bà ơi.

BÀ MẸ: [nói với Clara] Đưa đây cho mẹ. [Clara miễn cưỡng đưa ra]. Nào [quay sang cô gái] Đây, trả tiền hoa cho cô đây.

CÔ BÁN HOA: Cháu cảm ơn bà nhiều lắm ạ.

CÔ CON GÁI: Bắt nó thối lại tiền đi mẹ. Ba cái thứ này chỉ một xu một bó thôi.

BÀ MẸ: Con im đi nào, Clara. [Nói với cô gái]. Chỗ thừa cô cứ giữ lấy.

CÔ BÁN HOA: Ôi, cháu cảm ơn bà.

BÀ MẸ: Nào, giờ nói cho tôi biết làm sao cô biết tên cậu ấy.

CÔ BÁN HOA: Cháu có biết đâu.

BÀ MẸ: Tôi nghe cô gọi tên cậu ấy rõ ràng. Đừng có mà lừa tôi.

CÔ BÁN HOA: [phân bua] Ai mà lừa bà làm gì? Cháu gọi thằng ẻm là Freddy hay Charlie thì cũng như bà thôi, gặp người lạ mà muốn nói cho dễ nghe thì gọi đại vậy. [Cô ngồi xuống bên cạnh cái giỏ của mình].

CÔ CON GÁI: Sáu xu ném đi toi rồi! Thật tình, mẹ à, đáng ra mẹ có thể để dành chỗ đó cho Freddy. [Cô lùi ra sau cây cột, vẻ ghê tởm].

Một quý ông đứng tuổi dáng dấp nhà binh phúc hậu chạy vội vào trú, rồi cụp chiếc ô đang nhỏ nước. Ông cũng trong tình cảnh như Freddy, hai ống chân ướt sũng. Ông mặc đồ dạ hội, khoác thêm chiếc áo choàng mỏng. Ông đứng vào chỗ trống mà cô con gái vừa bỏ lại.

QUÝ ÔNG: Phù!

BÀ MẸ: [nói với quý ông] Ôi, thưa ngài, mưa có vẻ gì sắp tạnh chưa ạ?

QUÝ ÔNG: E là chưa. Chừng hai phút trước còn ào xuống dữ hơn cả lúc nãy. [Ông đi tới bệ cột cạnh cô bán hoa; gác một chân lên đó; rồi cúi xuống vén gấu quần lên].

BÀ MẸ: Ôi trời! [Bà rầu rĩ lui ra, nhập lại với con gái].

CÔ BÁN HOA: [thừa lúc quý ông nhà binh đứng gần bèn lân la làm quen]. Mưa to hơn tức là sắp tạnh rồi đấy ạ. Thôi ngài vui lên; mua giúp con bé nghèo một bông hoa đi, đại úy.

QUÝ ÔNG: Xin lỗi cô, tôi chẳng có tiền lẻ.

CÔ BÁN HOA: Cháu thối lại cho ngài được mà, đại úy,

CÁC QUÝ ÔNG: Cả một đồng sovereign cơ à? Tôi chẳng có đồng nào nhỏ hơn cả.

CÔ BÁN HOA: Ối giời! Thôi mà ngài, mua giúp cháu một bông đi. Cháu thối được cả đồng nửa crown ấy chớ. Ngài cầm lấy bông này, chỉ hai xu thôi.

QUÝ ÔNG: Thôi nào đừng có lằng nhằng: ngoan nào. [Lục túi] Tôi thật chẳng có đồng lẻ nào—Khoan: đây, ba đồng nửa xu, nếu cô thấy có ích [ông lùi sang cây cột bên kia].

CÔ BÁN HOA: [thất vọng, nhưng nghĩ ba đồng nửa xu còn hơn không] Cháu cảm ơn ngài.

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: [nói với cô gái] Này liệu hồn: đưa cho ông ấy một bông hoa đi. Có thằng cha đằng sau kia đang ghi lại từng lời cô nói đấy. [Mọi người quay sang nhìn người đàn ông đang ghi chép].

CÔ BÁN HOA: [bật dậy hoảng hốt] Cháu nói chuyện với ngài đây thì có làm gì sai. Cháu có quyền bán hoa mà, miễn là không đứng lên mép vỉa hè. [Cuống quýt] Cháu là con gái đàng hoàng: lạy trời, cháu chưa từng nói với ông ấy câu nào ngoài chuyện mời mua hoa. [Xôn xao khắp nơi, phần đông tỏ ý bênh cô bán hoa, nhưng chê cô làm quá lên. Từ đám khách đứng tuổi chững chạc vọng lên những tiếng Đừng có gào lên thế. Ai làm gì cô nào? Chẳng ai đụng đến cô đâu. Rối lên làm gì cơ chứ? Bình tĩnh nào. Từ từ, từ từ, v.v., họ vỗ về an ủi cô. Kẻ ít kiên nhẫn hơn thì bảo cô câm mồm lại, hoặc gắt hỏi cô làm sao thế. Một tốp đứng xa hơn, chẳng biết đầu cua tai nheo, chen vào làm ồn thêm với những câu hỏi han qua lại: Chuyện gì thế? Con bé làm gì? Hắn đâu? Mật thám ghi chép con bé đấy. Cái gì! Hắn á? Ừ: cái lão đằng kia kìa: Vòi tiền quý ông đấy, v.v. Cô bán hoa, hoảng loạn giữa vòng vây, len qua đám đông chạy tới chỗ quý ông, khóc lóc rấm rứt] Ôi thưa ngài, đừng để hắn tố cháu. Ngài không biết chuyện đó với cháu nặng nề đến thế nào đâu. Họ sẽ tước mất cái tiếng đàng hoàng của cháu, rồi đẩy cháu ra đường chỉ vì cái tội nói chuyện với quý ông. Họ—

NGƯỜI GHI CHÉP: [bước lại phía bên phải cô, cả đám xúm theo sau] Thôi thôi, thôi nào! Ai làm gì cô đâu, cái cô ngốc này? Cô tưởng tôi là hạng người gì chứ?

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: Không sao đâu: ông ấy là quý ông đấy: cứ nhìn đôi bốt của ông ấy thì biết. [Giải thích với người ghi chép] Cô ta tưởng ngài là chỉ điểm cho cớm đấy, thưa ngài.

NGƯỜI GHI CHÉP: [chợt để tâm] Chỉ điểm cho cớm là cái gì?

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: [lúng túng chẳng biết định nghĩa ra sao] Nó là—à thì, nó là chỉ điểm cho cớm, nói vậy đó. Chứ còn gọi là gì nữa? Đại loại là một thứ mật báo.

CÔ BÁN HOA: [vẫn còn cuống] Cháu xin thề trên cuốn Kinh Thánh là cháu chưa hề nói một lời nào—

NGƯỜI GHI CHÉP: [hống hách nhưng vui vẻ] Ôi, thôi đi, thôi đi. Tôi trông có giống cảnh sát không?

CÔ BÁN HOA: [vẫn chưa yên tâm chút nào] Thế sao ông lại ghi lại lời cháu? Làm sao cháu biết ông ghi có đúng hay không? Ông đưa cháu xem ông viết gì về cháu đi. [Người ghi chép mở sổ giơ ra, giữ chắc ngay trước mũi cô, dẫu đám đông xúm lại chồm qua vai ông cố đọc cho bằng được cũng đủ làm một người yếu bóng vía chao đảo]. Cái gì đây? Đây có phải chữ viết đàng hoàng đâu. Cháu chịu, chẳng đọc nổi.

NGƯỜI GHI CHÉP: Tôi đọc được. [Đọc, nhại lại y hệt cách phát âm của cô] "Ngài vui nên chớ, đại úy; mua giùm con nhỏ nghèo bông hưa."

CÔ BÁN HOA: [hết sức khổ sở] Tại cháu gọi ông ấy là đại úy đấy mà. Cháu có ý gì xấu đâu. [Nói với quý ông] Ôi thưa ngài, đừng để hắn tố cáo cháu chỉ vì một tiếng gọi như thế. Ngài—

QUÝ ÔNG: Tố cáo! Tôi có tố cáo gì đâu. [Nói với người ghi chép] Thật tình, thưa ông, nếu ông là mật thám thì cũng chưa cần ra tay bảo vệ tôi khỏi mấy cô gái quấy rầy khi tôi chưa yêu cầu. Ai cũng thấy rõ cô bé chẳng có ý gì xấu.

ĐÁM ĐÔNG: [phản đối trò do thám của cảnh sát] Chớ còn gì nữa. Việc gì đến ông? Lo chuyện của mình đi. Hắn muốn được thăng chức đấy mà. Đi ghi chép lời người ta! Con bé có nói với hắn câu nào đâu. Mà có nói thì đã sao? Hay ho nhỉ, con gái đứng trú mưa cũng không yên, bị người ta lăng mạ, v.v., v.v., v.v. [Cô được mấy người tỏ vẻ thông cảm nhất dìu về bệ cột, cô lại ngồi xuống, cố nén xúc động].

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: Hắn không phải mật thám đâu. Hắn là cái thằng nhiều chuyện thôi: hắn là thế đấy. Tôi bảo mà, cứ nhìn đôi bốt của hắn thì biết.

NGƯỜI GHI CHÉP: [quay sang anh ta, giọng thân mật] Thế bà con nhà anh dưới Selsey vẫn khỏe cả chứ?

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: [nghi hoặc] Ai bảo ông là nhà tôi gốc Selsey?

NGƯỜI GHI CHÉP: Anh chẳng cần bận tâm. Đúng thế mà. [Nói với cô gái] Sao cô lại dạt lên tận mạn đông này? Cô sinh ở Lisson Grove kia mà.

CÔ BÁN HOA: [kinh hãi] Ôi, cháu rời Lisson Grove thì có gì sai nào? Ở đó lợn còn chẳng ở nổi; thế mà cháu phải trả bốn shilling sáu xu một tuần. [Khóc] Ôi, hu—hu—hu—

NGƯỜI GHI CHÉP: Cô muốn ở đâu thì ở; nhưng thôi đừng có gào nữa.

QUÝ ÔNG: [nói với cô gái] Nào nào! Ông ấy chẳng làm gì được cô đâu: cô có quyền ở bất cứ nơi nào cô thích.

MỘT NGƯỜI QUA ĐƯỜNG GIỄU CỢT: [chen vào giữa người ghi chép và quý ông] Chẳng hạn phố Park Lane. Tôi cũng muốn ngồi bàn với ông về Vấn Đề Nhà Ở lắm chớ.

CÔ BÁN HOA: [chìm vào nỗi u sầu ủ ê bên cái giỏ, lẩm bẩm một mình với giọng rầu rĩ] Cháu là con gái đàng hoàng, cháu đây.

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG GIỄU CỢT: [chẳng thèm để ý đến cô] Thế ông có biết TÔI ở đâu ra không?

NGƯỜI GHI CHÉP: [đáp ngay] Hoxton.

Những tiếng cười khúc khích. Đám đông càng thêm khoái trò của người ghi chép.

KẺ GIỄU CỢT: [sửng sốt] Chà, ai bảo là không nào? Trời đất ơi! Ông cái gì cũng biết, ông đây.

CÔ BÁN HOA: [vẫn nuôi cái cảm giác bị xúc phạm] Hắn chẳng có cớ gì để mà dây vào cháu, hắn đây.

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: [nói với cô] Chớ còn gì nữa. Đừng để hắn bắt nạt. [Nói với người ghi chép] Này nghe đây: ông lấy quyền gì mà biết tỏng về người ta trong khi người ta chẳng hề đụng chạm gì đến ông? Trát của ông đâu?

VÀI NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: [được cổ vũ bởi cái điểm pháp lý nghe có vẻ hợp lý này] Ừ đấy: trát của ông đâu?

CÔ BÁN HOA: Kệ hắn muốn nói gì thì nói. Cháu chẳng thèm dây với hắn đâu.

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: Ông coi bọn tôi như rác dưới chân ông chớ gì? Đời nào ông dám giở trò với một quý ông!

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG GIỄU CỢT: Ừ: nói cho ÔNG ẤY biết ông ta ở đâu ra đi, nếu ông muốn giở trò bói toán.

NGƯỜI GHI CHÉP: Cheltenham, Harrow, Cambridge, và Ấn Độ.

QUÝ ÔNG: Chính xác. [Cười rộ. Dư luận quay sang có lợi cho người ghi chép. Những tiếng reo Ông ta biết tuốt. Nói trúng phóc. Nghe hắn nói vanh vách quý ông kia ở đâu ra chưa? v.v.]. Cho phép tôi hỏi, thưa ông, ông làm cái nghề này để kiếm sống ở phòng trà ca nhạc à?

NGƯỜI GHI CHÉP: Tôi cũng có nghĩ đến chuyện đó đấy. Biết đâu một ngày nào đó tôi sẽ làm thật.

Mưa đã tạnh; và những người đứng ở rìa đám đông bắt đầu tản đi.

CÔ BÁN HOA: [bực dọc trước sự đổi chiều dư luận] Hắn chẳng phải quý ông đâu, hắn đây, cái ngữ đi bắt nạt một con bé nghèo.

CÔ CON GÁI: [hết kiên nhẫn, thô lỗ chen lên phía trước, đẩy quý ông ra, ông lịch sự lui sang phía bên kia cây cột] Cái thằng Freddy rốt cuộc làm cái gì cơ chứ? Cứ đứng chỗ gió lùa này thêm nữa là con viêm phổi mất.

NGƯỜI GHI CHÉP: [lẩm bẩm một mình, vội ghi lại cách cô phát âm chữ "phổi"] Earlscourt.

CÔ CON GÁI: [dữ tợn] Ông làm ơn giữ mấy lời hỗn xược ấy cho riêng ông được không?

NGƯỜI GHI CHÉP: Tôi nói to thế à? Tôi đâu có cố ý. Xin lỗi cô. Còn mẹ cô thì gốc Epsom, không lẫn đi đâu được.

BÀ MẸ: [bước lại đứng giữa con gái và người ghi chép] Kỳ lạ thật đấy! Tôi lớn lên ở Largelady Park, gần Epsom.

NGƯỜI GHI CHÉP: [thích chí cười rộ] Ha! ha! Cái tên gì mà quái đản thế! Xin lỗi bà. [Nói với cô con gái] Cô cần một chiếc xe, phải không?

CÔ CON GÁI: Ông đừng có hòng nói chuyện với tôi.

BÀ MẸ: Ôi, thôi mà, thôi mà Clara. [Cô con gái hất vai giận dữ cự tuyệt bà rồi kiêu kỳ lui ra.] Thưa ngài, chúng tôi biết ơn ngài lắm nếu ngài tìm giúp một chiếc xe. [Người ghi chép rút ra một chiếc còi]. Ôi, cảm ơn ngài. [Bà nhập lại với con gái]. Người ghi chép thổi lên một hồi còi lanh lảnh.

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG GIỄU CỢT: Đó! Tôi biết ngay mà, hắn là cớm mặc thường phục.

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: Đó đâu phải còi cảnh sát: đó là còi đi săn.

CÔ BÁN HOA: [vẫn còn canh cánh nỗi tủi thân] Hắn chẳng có quyền tước cái tiếng đàng hoàng của tôi. Cái tiếng của tôi cũng quý như của bất kỳ quý bà nào.

NGƯỜI GHI CHÉP: Chẳng biết cô có để ý không; nhưng mưa đã tạnh từ chừng hai phút trước rồi đấy.

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG: Tạnh thật rồi. Sao nãy giờ ông không nói? Để bọn này mất toi thì giờ đứng nghe ông ba hoa. [Anh ta bỏ đi về phía phố Strand].

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG GIỄU CỢT: Tôi cũng đoán được ông ở đâu ra. Ông ở Anwell ra chớ gì. Cút về đó đi.

NGƯỜI GHI CHÉP: [sốt sắng] "H"anwell chứ.

NGƯỜI QUA ĐƯỜNG GIỄU CỢT: [cố nói năng thật kiểu cách] Cẩm ơn thầy giáo. Hố hố! Chào nhé [anh ta chạm tay lên mũ ra vẻ kính cẩn giễu cợt rồi thủng thẳng bỏ đi].

CÔ BÁN HOA: Đi dọa người ta thế đấy! Thử hắn bị vậy xem hắn có thích không.

BÀ MẸ: Giờ đẹp trời hẳn rồi, Clara. Ta đi bộ ra bắt xe buýt được. Đi thôi. [Bà vén váy lên khỏi mắt cá rồi vội vã đi về phía phố Strand].

CÔ CON GÁI: Nhưng còn xe—[mẹ cô đã đi khuất tầm nghe]. Ôi, bực cả mình! [Cô hậm hực đi theo].

Mọi người đã đi hết, chỉ còn lại người ghi chép, quý ông, và cô bán hoa, cô đang ngồi sắp lại cái giỏ, miệng vẫn lầm rầm tự thương thân.

CÔ BÁN HOA: Tội nghiệp con bé! Sống đã khó khăn rồi lại còn bị hạch sách xua đuổi.

QUÝ ÔNG: [quay về chỗ cũ bên trái người ghi chép] Cho tôi hỏi, ông làm thế nào vậy?

NGƯỜI GHI CHÉP: Chỉ là ngữ âm học thôi. Khoa học về tiếng nói. Đó là nghề của tôi; cũng là thú vui của tôi. Sung sướng thay kẻ nào kiếm sống được bằng chính thú vui của mình! Ông có thể nhận ra một người Ireland hay một người Yorkshire qua giọng địa phương của họ. Còn tôi thì định vị được bất kỳ ai trong phạm vi sáu dặm. Ở London thì trong vòng hai dặm. Có khi trong vòng hai con phố.

CÔ BÁN HOA: Đáng phải xấu hổ với chính mình, cái đồ đàn ông hèn nhát!

QUÝ ÔNG: Nhưng cái đó có kiếm ra tiền không?

NGƯỜI GHI CHÉP: Ồ có chứ. Béo bở là đằng khác. Đây là thời của bọn mới phất. Có kẻ khởi nghiệp ở Kentish Town với 80 bảng một năm, rồi kết thúc ở Park Lane với cả trăm ngàn. Họ muốn giấu biệt cái gốc Kentish Town; nhưng hễ mở miệng ra là lộ tẩy ngay. Còn tôi thì dạy được cho họ—

CÔ BÁN HOA: Cứ để hắn lo việc của hắn, tha cho một con bé nghèo—

NGƯỜI GHI CHÉP: [bùng lên] Này cô kia: dẹp ngay cái trò khóc lóc đáng ghét đó đi; bằng không thì xéo đi tìm chỗ thờ phụng nào khác mà trú.

CÔ BÁN HOA: [chống chế yếu ớt] Tôi có quyền ở đây nếu tôi thích, hệt như ông vậy.

NGƯỜI GHI CHÉP: Một người đàn bà mà phát ra những âm thanh ủ dột kinh tởm như thế thì chẳng có quyền ở bất cứ đâu—chẳng có quyền sống nữa. Cô hãy nhớ rằng cô là một con người có linh hồn và có món quà thiêng liêng là tiếng nói có ngữ điệu: rằng tiếng mẹ đẻ của cô là ngôn ngữ của Shakespear, của Milton và của Kinh Thánh; đừng có ngồi đó mà gù gù như một con bồ câu đau gan.

CÔ BÁN HOA: [hoàn toàn choáng váng, ngước nhìn ông ta vừa ngỡ ngàng vừa e dè, chẳng dám ngẩng đầu lên] Ối—ối—ối—hu—hu—u!

NGƯỜI GHI CHÉP: [rút phắt cuốn sổ ra] Trời đất! Cái âm thanh gì thế kia! [Ông viết; rồi giơ cuốn sổ ra đọc, nhại lại y hệt các nguyên âm của cô] Ối—ối—ối—hu—hu—hu—u!

CÔ BÁN HOA: [bị màn trình diễn chọc cho buồn cười, bật cười dù không muốn] Ối giời!

NGƯỜI GHI CHÉP: Ông thấy cái sinh vật này với thứ tiếng Anh xó chợ của cô ta chứ: cái thứ tiếng Anh sẽ giam cô ta ở vỉa hè cho đến hết đời. Này thưa ông, chỉ trong ba tháng tôi có thể biến cô gái đó thành một nữ công tước tại tiệc vườn của một vị đại sứ. Tôi thậm chí có thể kiếm cho cô ta một chân hầu phòng cho quý bà, hay bán hàng, những việc đòi hỏi tiếng Anh khá hơn. Đó là loại việc tôi vẫn làm cho đám triệu phú thương gia. Và với món lời từ đó, tôi làm công trình khoa học nghiêm túc về ngữ âm học, và làm thơ đôi chút theo lối Milton.

QUÝ ÔNG: Bản thân tôi cũng là người nghiên cứu các thổ ngữ Ấn Độ; và—

NGƯỜI GHI CHÉP: [hào hứng hẳn] Ông ư? Ông có biết Đại tá Pickering, tác giả cuốn Tiếng Phạn Khẩu Ngữ không?

QUÝ ÔNG: Tôi chính là Đại tá Pickering đây. Còn ông là ai?

NGƯỜI GHI CHÉP: Henry Higgins, tác giả cuốn Bảng Chữ Cái Phổ Quát của Higgins.

PICKERING: [phấn khích] Tôi từ Ấn Độ sang chính là để gặp ông.

HIGGINS: Còn tôi thì đang định sang Ấn Độ để gặp ông.

PICKERING: Ông sống ở đâu?

HIGGINS: Số 27A phố Wimpole. Ngày mai ghé chỗ tôi chơi.

PICKERING: Tôi ở khách sạn Carlton. Đi với tôi bây giờ luôn đi, ta vừa ăn tối vừa chuyện trò một phen.

HIGGINS: Được thôi.

CÔ BÁN HOA: [nói với Pickering khi ông đi ngang qua] Mua bông hoa đi, thưa quý ông tốt bụng. Cháu còn thiếu tiền trọ.

PICKERING: Tôi thật chẳng có đồng lẻ nào. Xin lỗi cô [ông bỏ đi].

HIGGINS: [sốc trước sự dối trá của cô gái] Đồ nói dối. Cô vừa bảo cô thối được cả đồng nửa crown cơ mà.

CÔ BÁN HOA: [đứng bật dậy trong cơn tuyệt vọng] Cái đồ đáng bị nhồi đinh vào người, đúng là đồ đó. [Ném cái giỏ xuống chân ông ta] Lấy cả cái giỏ chết tiệt này đi, sáu xu thôi đấy.

Đồng hồ nhà thờ điểm khắc thứ hai.

HIGGINS: [nghe trong đó tiếng Chúa quở trách ông ta vì cái thói giả đạo đức thiếu lòng thương với cô gái nghèo] Một lời nhắc nhở. [Ông trịnh trọng ngả mũ; rồi ném một nắm tiền vào giỏ và đi theo Pickering].

CÔ BÁN HOA: [nhặt lên một đồng nửa crown] Ối—ao—ôi! [Nhặt lên hai đồng florin] Á—ao—ôi! [Nhặt lên mấy đồng nữa] Áaaa—ao—ôi! [Nhặt lên một đồng nửa sovereign] Áaaaaaaa—ao—ôi!!!

FREDDY: [nhảy ra khỏi một chiếc taxi] Rốt cuộc cũng kiếm được một chiếc. Ơ kìa! [Nói với cô gái] Hai quý bà lúc nãy ở đây đâu rồi?

CÔ BÁN HOA: Mưa tạnh là họ đi bộ ra bắt xe buýt rồi.

FREDDY: Bỏ mặc tôi ôm cái xe này à. Chết tiệt thật!

CÔ BÁN HOA: [đầy vẻ đài các] Chàng trai ơi, anh khỏi bận tâm. Tôi về nhà bằng taxi đây. [Cô nghênh ngang tiến về phía chiếc xe. Người tài xế đưa tay ra sau giữ chặt cửa không cho cô vào. Hiểu ngay sự ngờ vực của bác ta, cô giơ nắm tiền trong tay ra khoe]. Tám xu chả là gì với tôi đâu, Charlie ạ. [Bác ta cười toe rồi mở cửa]. Angel Court, phố Drury Lane, ngay góc cửa hàng dầu nhà Micklejohn. Để xem bác cho nó chạy nhanh cỡ nào nào. [Cô bước vào rồi sập cửa đánh rầm khi chiếc taxi lăn bánh].

FREDDY: Chà, mình đến chịu thua!