Pygmalion — Chương 5

Chương 6 / 6 · Bài review Pygmalion

Phòng khách của bà Higgins. Bà đang ngồi ở bàn viết như lần trước. Cô hầu phòng bước vào.

CÔ HẦU PHÒNG: [đứng ở cửa] Thưa bà, cậu Henry đang ở dưới nhà cùng đại tá Pickering ạ.

BÀ HIGGINS: Ừ, mời họ lên đi.

CÔ HẦU PHÒNG: Họ đang dùng điện thoại ạ. Con nghĩ là đang gọi cho cảnh sát ạ.

BÀ HIGGINS: Cái gì cơ!

CÔ HẦU PHÒNG: [bước hẳn vào và hạ giọng] Thưa bà, cậu Henry đang rối lắm ạ. Con nghĩ nên thưa với bà thì hơn.

BÀ HIGGINS: Nếu con bảo cậu Henry không rối thì mới đáng ngạc nhiên đấy. Bảo họ gọi xong cảnh sát thì lên đây. Chắc nó lại đánh mất cái gì rồi.

CÔ HẦU PHÒNG: Vâng ạ [đi ra].

BÀ HIGGINS: Con lên gác báo cho cô Doolittle rằng cậu Henry và đại tá đã đến. Nhờ cô ấy đừng xuống cho tới khi ta cho gọi.

CÔ HẦU PHÒNG: Vâng ạ.

Higgins xộc vào. Đúng như lời cô hầu phòng nói, anh đang rối bời.

HIGGINS: Này mẹ, có chuyện quái quỷ này!

BÀ HIGGINS: Ừ, con. Chào buổi sáng. [Anh nén sự sốt ruột lại và hôn mẹ, trong khi cô hầu phòng đi ra]. Chuyện gì thế?

HIGGINS: Eliza chuồn mất rồi.

BÀ HIGGINS: [vẫn điềm nhiên viết tiếp] Chắc con đã làm nó sợ.

HIGGINS: Làm cho nó sợ! Vô lý! Tối qua nó ở lại như thường lệ để tắt đèn và làm mấy việc đó; nhưng thay vì đi ngủ thì nó thay quần áo rồi bỏ đi luôn: giường không hề có ai nằm. Sáng nay chưa đến bảy giờ nó đã đi xe ngựa về lấy đồ; và cái bà Pearce ngốc nghếch ấy để nó lấy đồ mà chẳng nói với con một lời. Giờ con phải làm sao đây?

BÀ HIGGINS: E rằng con phải xoay xở mà không có nó thôi, Henry. Cô bé hoàn toàn có quyền ra đi nếu nó muốn.

HIGGINS: [đi lang thang thất thần khắp phòng] Nhưng con chẳng tìm được thứ gì cả. Con chẳng biết mình có những cuộc hẹn nào. Con— [Pickering bước vào. Bà Higgins đặt bút xuống và quay khỏi bàn viết].

PICKERING: [bắt tay] Chào buổi sáng, bà Higgins. Henry đã kể với bà chưa? [Ông ngồi xuống chiếc ghế đệm dài].

HIGGINS: Cái lão thanh tra ngớ ngẩn ấy nói sao? Anh đã treo tiền thưởng chưa?

BÀ HIGGINS: [đứng bật dậy, vừa phẫn nộ vừa sững sờ] Không lẽ các người lại đi báo cảnh sát truy tìm Eliza?

HIGGINS: Đương nhiên rồi. Chứ cảnh sát để làm gì? Chúng con còn biết làm gì khác? [Anh ngồi vào chiếc ghế kiểu Elizabeth].

PICKERING: Viên thanh tra gây khó dễ đủ điều. Tôi thật sự nghĩ ông ta nghi chúng tôi có ý đồ gì mờ ám.

BÀ HIGGINS: Ừ thì tất nhiên rồi. Các người lấy quyền gì mà đến báo cảnh sát, khai tên con bé như thể nó là quân trộm cắp, hay một cây dù bỏ quên, hay cái gì đó? Thật là! [Bà lại ngồi xuống, bực bội ra mặt].

HIGGINS: Nhưng chúng con muốn tìm ra nó.

PICKERING: Bà biết đấy, chúng tôi không thể để cô ấy đi như thế được, bà Higgins. Chứ chúng tôi phải làm gì đây?

BÀ HIGGINS: Cả hai người, chẳng ai khôn hơn một đứa con nít. Tại sao—

Cô hầu phòng bước vào, cắt ngang câu chuyện.

CÔ HẦU PHÒNG: Thưa cậu Henry: có một quý ông nằng nặc đòi gặp cậu ạ. Ông ấy được chỉ đến đây từ phố Wimpole ạ.

HIGGINS: Ôi, phiền quá! Giờ tôi không tiếp ai được. Ai vậy?

CÔ HẦU PHÒNG: Một ông tên Doolittle, thưa cậu.

PICKERING: Doolittle! Cô nói cái ông hốt rác ấy à?

CÔ HẦU PHÒNG: Hốt rác! Ồ không đâu, thưa ông: một quý ông ạ.

HIGGINS: [bật dậy đầy phấn khích] Trời đất, Pick, chắc là một người bà con nào đó của nó, chỗ nó chạy đến trú. Một kẻ ta chẳng hề hay biết. [Nói với cô hầu phòng] Mời ông ta lên, mau.

CÔ HẦU PHÒNG: Vâng, thưa ông. [Cô đi ra].

HIGGINS: [hăm hở, tiến lại phía mẹ] Bà con quyền quý! Giờ thì ta sẽ nghe ra chuyện gì đây. [Anh ngồi xuống chiếc ghế kiểu Chippendale].

BÀ HIGGINS: Con có quen ai trong họ hàng nhà nó không?

PICKERING: Chỉ mỗi cha cô ấy: cái gã chúng tôi đã kể với bà.

CÔ HẦU PHÒNG: [xướng tên] Ông Doolittle. [Cô lui ra].

Doolittle bước vào. Ông ăn vận lộng lẫy trong chiếc áo khoác dài kiểu mới hợp mốt, áo gi-lê trắng và quần xám. Một bông hoa cài trên khuy áo, một chiếc mũ lụa bóng loáng và đôi giày da bóng hoàn thiện cho cái vẻ ngoài ấy. Ông mải bận tâm đến việc mình đến đây đến nỗi chẳng buồn để ý tới bà Higgins. Ông đi thẳng đến chỗ Higgins, và chào anh bằng những lời trách móc dữ dội.

DOOLITTLE: [chỉ vào bản thân mình] Đây, nhìn coi! Anh thấy cái này chứ? Anh gây ra cả đấy chứ ai.

HIGGINS: Gây ra cái gì cơ chứ, ông kia?

DOOLITTLE: Cái này này, tôi bảo anh đấy. Nhìn coi. Nhìn cái mũ này. Nhìn cái áo khoác này.

PICKERING: Chẳng lẽ Eliza mua quần áo cho ông à?

DOOLITTLE: Eliza! Nó thì đời nào. Còn khuya. Nó mua quần áo cho tôi làm quái gì?

BÀ HIGGINS: Chào buổi sáng, ông Doolittle. Ông ngồi xuống chứ?

DOOLITTLE: [sững lại khi chợt nhận ra mình đã quên mất bà chủ nhà] Xin bà thứ lỗi, thưa bà. [Ông tiến lại và bắt bàn tay bà chìa ra]. Cảm ơn bà. [Ông ngồi xuống chiếc ghế đệm dài, bên phải Pickering]. Đầu óc tôi cứ đầy ắp cái chuyện xảy đến với tôi, chẳng còn nghĩ được gì khác.

HIGGINS: Cái quái gì đã xảy đến với ông thế?

DOOLITTLE: Nếu chỉ xảy đến với riêng tôi thì tôi chẳng màng: chuyện gì mà chẳng có thể xảy ra với bất kỳ ai, chẳng trách được ai ngoài ông Trời, như người ta hay nói. Nhưng cái này là do anh gây ra cho tôi: đúng, chính anh, Henry Higgins.

HIGGINS: Ông tìm được Eliza chưa? Đấy mới là điều quan trọng.

DOOLITTLE: Ơ, anh làm mất nó rồi à?

HIGGINS: Phải.

DOOLITTLE: Anh đúng là gặp may đủ đường. Tôi chưa tìm ra nó; nhưng sau cái vố anh giáng cho tôi thì chẳng mấy chốc nó sẽ tự mò đến tìm tôi cho mà xem.

BÀ HIGGINS: Nhưng con trai tôi đã làm gì ông, ông Doolittle?

DOOLITTLE: Làm gì tôi ấy à! Anh ta làm tôi tán gia bại sản. Phá tan hạnh phúc của tôi. Trói gô tôi lại rồi trao thẳng vào tay cái thứ đạo đức trưởng giả.

HIGGINS: [đứng dậy sốt ruột, sừng sững trước Doolittle] Ông đang nói nhảm. Ông say rồi. Ông điên rồi. Tôi đã đưa ông năm bảng. Sau đó tôi nói chuyện với ông hai lần, mỗi giờ nửa crown. Từ bấy đến giờ tôi chưa hề gặp lại ông.

DOOLITTLE: Ồ! Say hả? Tôi ấy à? Điên hả? Tôi ấy à? Thế anh nói tôi nghe. Anh có hay không có viết một lá thư gửi cho một lão già dở hơi bên Mỹ, cái lão bỏ ra năm triệu để lập mấy cái Hội Cải Cách Đạo Đức khắp thế giới, và muốn anh sáng chế cho lão một thứ ngôn ngữ chung cho cả nhân loại?

HIGGINS: Cái gì! Ezra D. Wannafeller! Lão chết rồi mà. [Anh lại ngồi xuống, hờ hững].

DOOLITTLE: Đúng: lão chết rồi; còn tôi thì tiêu đời. Nào, anh có hay không có viết cho lão một lá thư bảo rằng cứ theo chỗ anh biết, nhà đạo đức học độc đáo nhất nước Anh hiện nay là Alfred Doolittle, một tay hốt rác quèn.

HIGGINS: À, sau lần ông ghé thăm bận trước, tôi có nhớ đã đùa vài câu ngớ ngẩn đại loại thế.

DOOLITTLE: Chà! Anh cứ gọi nó là câu đùa ngớ ngẩn cũng phải thôi. Nó đóng nắp hòm đời tôi lại luôn ấy chứ. Chỉ tổ dâng cho lão cái dịp lão hằng mong để chứng tỏ dân Mỹ không như bọn mình: rằng họ biết nhìn nhận và trọng vọng tài đức ở mọi tầng lớp, dù thấp hèn đến đâu. Mấy lời ấy nằm chình ình trong cái chúc thư trời đánh của lão, mà trong đó, Henry Higgins ạ, nhờ cái trò đùa ngớ ngẩn của anh, lão để lại cho tôi một phần hùn trong cái Công Ty Phô Mai Tiêu Hóa Sẵn của lão, mỗi năm đáng giá ba nghìn bảng, với điều kiện tôi phải đi thuyết giảng cho cái Liên Đoàn Cải Cách Đạo Đức Toàn Cầu Wannafeller của lão, hễ họ gọi là đi, mỗi năm tới sáu bận.

HIGGINS: Lão làm thế thật à! Chà chà! [Bỗng tươi tỉnh hẳn lên] Vui đáo để!

PICKERING: Chuyện đó thì ông yên tâm đi, Doolittle. Họ chẳng mời ông đến lần thứ hai đâu.

DOOLITTLE: Chuyện thuyết giảng thì tôi chẳng ngại. Tôi mà giảng thì giảng cho tụi nó tím cả mặt, tôi giảng tuốt, chẳng chớp mắt. Cái tôi phản đối là biến tôi thành quý ông. Ai bảo lão biến tôi thành quý ông cơ chứ? Tôi vốn đang sung sướng. Tôi vốn đang tự do. Tôi cần tiền thì moi được của gần như bất kỳ ai, y như tôi moi của anh vậy, Henry Higgins ạ. Giờ thì tôi khổ sở; bị trói chân trói cổ; và ai ai cũng moi tiền của tôi. Ông luật sư của tôi bảo: 'Cái đó tốt cho ông đấy.' Thế à? Tôi bảo. Ý ông là tốt cho ông thì có, tôi bảo. Hồi tôi còn nghèo, có bận thuê luật sư khi họ phát hiện một cái xe nôi trong xe rác, ông ta gỡ tội cho tôi, rồi tống khứ tôi đi và để tôi tống khứ ông ta đi càng nhanh càng tốt. Đám bác sĩ cũng vậy: xưa họ tống tôi ra khỏi bệnh viện khi tôi còn chưa đứng vững trên đôi chân, mà chẳng phải trả xu nào. Giờ họ lại phát hiện ra tôi không phải người khỏe mạnh và không sống nổi trừ phi họ trông nom tôi ngày hai bận. Ở trong nhà, người ta chẳng để tôi tự nhấc tay làm lấy một việc gì cho bản thân: phải có kẻ khác làm hộ rồi moi tiền tôi. Một năm trước tôi chẳng có lấy một người bà con trên đời, trừ dăm ba kẻ chẳng thèm nói chuyện với tôi. Giờ thì tôi có năm chục người, mà cả lũ gộp lại chẳng ai kiếm nổi đồng lương một tuần cho ra hồn. Tôi phải sống vì người khác chứ không phải vì mình: đấy, đạo đức trưởng giả là thế đấy. Anh nói chuyện làm mất Eliza. Anh đừng lo: tôi cá là giờ này nó đã đứng chầu chực trước cửa nhà tôi rồi: cái con bé lẽ ra tự nuôi thân dễ như bỡn bằng nghề bán hoa, ấy là nếu tôi không đường hoàng tử tế. Và kẻ tiếp theo moi tiền tôi sẽ là anh đấy, Henry Higgins. Tôi sẽ phải học anh cách ăn nói kiểu trưởng giả, thay vì nói thứ tiếng Anh đàng hoàng. Chỗ ấy là chỗ anh nhúng tay vào; và tôi dám nói chính vì thế mà anh mới bày ra cái trò này.

BÀ HIGGINS: Nhưng ông Doolittle thân mến ơi, ông đâu cần phải chịu đựng tất cả những chuyện đó nếu ông thật lòng dứt khoát. Chẳng ai ép được ông nhận cái di sản này. Ông có thể từ chối nó cơ mà. Có phải vậy không, đại tá Pickering?

PICKERING: Tôi tin là vậy.

DOOLITTLE: [dịu giọng lại để tỏ ý nể trọng phái đẹp] Đấy mới là chỗ bi kịch, thưa bà. Nói vứt quách nó đi thì dễ; nhưng tôi không đủ gan. Trong chúng ta có ai đủ gan cơ chứ? Tất cả chúng ta đều bị khiếp nhược. Khiếp nhược, thưa bà: chúng ta là thế đấy. Nếu tôi vứt nó đi thì còn gì chờ tôi ngoài nhà tế bần lúc tuổi già? Đến giữ chân hốt rác mà tôi đã phải nhuộm tóc rồi đây. Giá tôi là hạng người nghèo đáng thương xứng đáng, dành dụm được chút đỉnh, thì tôi vứt được; nhưng mà việc gì tôi phải thế, bởi cái hạng nghèo đáng thương ấy thì có khác gì triệu phú đâu, xét về cái hạnh phúc mà cả đời họ được hưởng. Họ chẳng biết hạnh phúc là gì. Còn tôi, thuộc hạng nghèo không đáng thương, giữa tôi và bộ áo dân bần cùng chẳng có gì ngăn cách ngoài cái món ba nghìn bảng một năm trời đánh này, cái món xô tôi vào giới trưởng giả. (Xin bà thứ cho cái lối ăn nói, thưa bà: nếu bà bị chọc tức như tôi thì chính bà cũng nói vậy thôi). Xoay xở kiểu gì họ cũng tóm được ta: đó là phải chọn giữa bát cháo loãng của nhà tế bần và cái vực xoáy Char Bydis của giới trưởng giả; mà nhà tế bần thì tôi không đủ gan. Khiếp nhược: tôi là thế đấy. Bị đánh gục. Bị mua đứt. Rồi những kẻ sướng hơn tôi sẽ đến gọi đổ rác cho tôi, và moi tiền boa của tôi; còn tôi thì đứng nhìn bất lực mà thèm thuồng chúng nó. Đó, con trai bà đã đẩy tôi đến nông nỗi ấy. [Ông nghẹn ngào xúc động].

BÀ HIGGINS: Chà, tôi rất mừng vì ông không định làm điều gì dại dột, ông Doolittle ạ. Bởi chuyện này giải quyết được vấn đề tương lai của Eliza. Giờ ông có thể chu cấp cho nó.

DOOLITTLE: [cam chịu rầu rĩ] Vâng, thưa bà; giờ người ta trông mong tôi chu cấp cho tất thảy mọi người, moi từ ba nghìn bảng một năm.

HIGGINS: [bật dậy] Vô lý! Ông ta không được chu cấp cho nó. Ông ta sẽ không chu cấp cho nó. Nó đâu thuộc về ông ta. Tôi đã trả ông ta năm bảng để lấy nó. Doolittle này: ông hoặc là người lương thiện, hoặc là quân bịp bợm.

DOOLITTLE: [khoan dung] Một chút của cả hai, Henry ạ, như tất cả chúng ta thôi: một chút của cả hai.

HIGGINS: Này, ông đã cầm số tiền đó để đổi lấy con bé rồi; ông chẳng có quyền vơ nốt cả nó về.

BÀ HIGGINS: Henry: đừng có vô lý. Nếu con thật sự muốn biết Eliza ở đâu, thì nó đang ở trên gác.

HIGGINS: [sững sờ] Trên gác!!! Thế thì con sẽ lôi cổ nó xuống ngay lập tức cho coi. [Anh quả quyết bước về phía cửa].

BÀ HIGGINS: [đứng dậy đi theo con] Im nào, Henry. Ngồi xuống.

HIGGINS: Con—

BÀ HIGGINS: Ngồi xuống, con; rồi nghe mẹ nói.

HIGGINS: Ôi thôi được, được, được. [Anh buông mình phịch xuống chiếc ghế đệm dài một cách chẳng lịch sự, mặt quay về phía cửa sổ]. Nhưng con thấy đáng ra mẹ có thể nói với con chuyện này từ nửa tiếng trước rồi.

BÀ HIGGINS: Eliza tìm đến mẹ sáng nay. Nó qua một đêm phần thì lang thang trong cơn giận dữ, phần thì toan gieo mình xuống sông mà lại không dám, phần thì ở khách sạn Carlton. Nó kể cho mẹ nghe cái cách hai người đối xử tàn nhẫn với nó.

HIGGINS: [lại chồm dậy] Cái gì!

PICKERING: [cũng đứng dậy] Bà Higgins thân mến, cô ấy bịa chuyện với bà rồi. Chúng tôi đâu có đối xử tàn nhẫn với cô ấy. Chúng tôi hầu như chẳng nói với cô ấy lời nào; và lúc chia tay thì đôi bên vui vẻ đặc biệt là đằng khác. [Quay sang Higgins]. Higgins: cậu có nạt nộ cô ấy sau khi tôi đi ngủ không?

HIGGINS: Ngược lại thì có. Chính cô ta ném dép vào mặt tôi. Cô ta cư xử hết sức càn quấy. Tôi tuyệt nhiên chẳng chọc tức cô ta lấy một chút. Đôi dép bay đánh bốp vào mặt tôi ngay khi tôi vừa bước vào phòng—trước cả khi tôi kịp thốt ra một lời. Rồi còn văng ra những lời lẽ tục tĩu không chịu nổi.

PICKERING: [kinh ngạc] Nhưng tại sao? Chúng ta đã làm gì cô ấy chứ?

BÀ HIGGINS: Tôi nghĩ tôi biết khá rõ hai người đã làm gì. Con bé bản tính vốn khá giàu tình cảm, tôi cho là vậy. Có phải không, ông Doolittle?

DOOLITTLE: Mềm lòng lắm, thưa bà. Giống hệt tôi.

BÀ HIGGINS: Đúng thế. Con bé đã quyến luyến cả hai người. Nó làm việc vất vả biết bao cho con, Henry ạ! Mẹ e con chưa hình dung nổi bất cứ thứ gì thuộc về lao động trí óc có ý nghĩa thế nào với một cô gái như thế. Chà, xem ra khi cái ngày thử thách trọng đại ấy đến, và nó làm được cái điều kỳ diệu ấy cho hai người mà không phạm lấy một lỗi, thì hai người ngồi đó, chẳng nói với nó lấy một lời, mà chỉ quay ra bàn với nhau rằng mừng quá vì mọi chuyện đã xong xuôi và cả cái công cuộc ấy chán ngán đến thế nào. Rồi hai người lại ngạc nhiên khi nó ném dép vào mình! Đến tôi thì tôi đã quăng cả bộ cời lò sưởi vào các người rồi ấy chứ.

HIGGINS: Chúng con có nói gì đâu, ngoài chuyện là chúng con mệt và muốn đi ngủ. Phải không, Pick?

PICKERING: [nhún vai] Chỉ có thế thôi.

BÀ HIGGINS: [mỉa mai] Chắc chắn thế chứ?

PICKERING: Chắc chắn tuyệt đối. Thật đấy, chỉ có thế thôi.

BÀ HIGGINS: Các người chẳng cảm ơn nó, chẳng vỗ về nó, chẳng trầm trồ khen nó, cũng chẳng bảo nó rằng nó đã tuyệt vời đến nhường nào.

HIGGINS: [sốt ruột] Nhưng nó thừa biết mấy chuyện đó rồi. Chúng con có đọc diễn văn ca ngợi nó đâu, nếu ý mẹ là vậy.

PICKERING: [cắn rứt lương tâm] Có lẽ chúng tôi đã hơi vô tâm. Cô ấy giận lắm phải không?

BÀ HIGGINS: [trở về chỗ ngồi bên bàn viết] Chà, mẹ e nó sẽ không quay lại phố Wimpole đâu, nhất là bây giờ ông Doolittle đã có thể duy trì cái địa vị mà các người áp đặt lên nó; nhưng nó nói nó rất sẵn lòng gặp lại hai người trong tình thân thiện và cho qua mọi chuyện đã rồi.

HIGGINS: [nổi đóa] Nó sẵn lòng cơ đấy, trời ạ? Hừ!

BÀ HIGGINS: Nếu con hứa cư xử cho đàng hoàng, Henry, thì mẹ sẽ bảo nó xuống. Bằng không thì về nhà đi; vì con đã ngốn khá đủ thời gian của mẹ rồi đấy.

HIGGINS: Ôi, thôi được. Được thôi. Pick: cả anh cũng phải cư xử cho đàng hoàng đấy. Nào ta hãy khoác lên bộ tác phong lịch sự nhất ngày Chủ nhật để tiếp cái sinh vật mà ta đã nhặt lên từ bùn lầy này. [Anh sưng sỉa quẳng mình vào chiếc ghế kiểu Elizabeth].

DOOLITTLE: [phản đối] Này, này, Henry Higgins! Nể tình cảm của tôi với tư cách một người trưởng giả một chút chứ.

BÀ HIGGINS: Nhớ lời con đã hứa đấy, Henry. [Bà nhấn nút chuông trên bàn viết]. Ông Doolittle: ông làm ơn ra ngoài ban công đứng một lát được chăng. Tôi không muốn Eliza phải giật mình vì tin của ông trước khi nó làm hòa với hai vị đây. Ông có phiền không?

DOOLITTLE: Tùy ý bà, thưa quý bà. Làm gì để giúp Henry gỡ nó khỏi tay tôi thì tôi cũng chịu tuốt. [Ông biến mất qua khung cửa sổ].

Cô hầu phòng đáp tiếng chuông. Pickering ngồi xuống chỗ của Doolittle.

BÀ HIGGINS: Con nhờ mời cô Doolittle xuống nhé.

CÔ HẦU PHÒNG: Vâng ạ. [Cô đi ra].

BÀ HIGGINS: Nào, Henry: ngoan nào.

HIGGINS: Con đang cư xử hoàn hảo đây thôi.

PICKERING: Cậu ấy đang cố hết sức đấy, bà Higgins ạ.

Một khoảng lặng. Higgins ngật đầu ra sau; duỗi thẳng chân; và bắt đầu huýt sáo.

BÀ HIGGINS: Henry yêu quý, cái điệu bộ ấy trông chẳng đẹp mắt chút nào đâu con.

HIGGINS: [chấn chỉnh lại tư thế] Con có cố làm ra vẻ đẹp mắt đâu, mẹ.

BÀ HIGGINS: Không sao đâu con. Mẹ chỉ muốn khiến con lên tiếng thôi.

HIGGINS: Để làm gì?

BÀ HIGGINS: Vì con không thể vừa nói vừa huýt sáo cùng một lúc được.

Higgins rên lên. Lại một khoảng lặng vô cùng khó chịu nữa.

HIGGINS: [bật dậy, hết cả kiên nhẫn] Cái con bé ấy chui đâu mất rồi? Chẳng lẽ chúng ta phải ngồi chờ đây cả ngày sao?

Eliza bước vào, tươi tắn, tự chủ, và phô ra một màn trình diễn phong thái ung dung thuyết phục đến choáng váng. Nàng cầm theo một chiếc giỏ đồ khâu nhỏ, và ra dáng hoàn toàn thoải mái như ở nhà mình. Pickering sững sờ đến mức không đứng dậy nổi.

LIZA: Chào giáo sư Higgins. Ông vẫn khỏe chứ ạ?

HIGGINS: [nghẹn họng] Ta có— [Anh không nói thêm được lời nào].

LIZA: Nhưng dĩ nhiên là ông khỏe rồi: ông có bao giờ ốm đâu. Thật vui được gặp lại ngài, đại tá Pickering. [Ông vội vàng đứng dậy; và họ bắt tay nhau]. Sáng nay trời khá se lạnh, phải không ạ? [Nàng ngồi xuống bên trái ông. Ông ngồi xuống cạnh nàng].

HIGGINS: Cô đừng có hòng giở cái trò này ra với tôi. Chính tôi dạy cô đấy; nó chẳng lừa được tôi đâu. Đứng dậy về nhà đi; và đừng có dại dột.

Eliza lấy một mảnh đồ khâu từ trong giỏ ra, và bắt đầu khâu, chẳng thèm để tâm mảy may đến cơn bùng nổ ấy.

BÀ HIGGINS: Lời lẽ hay ho thật đấy, Henry. Chẳng người đàn bà nào cưỡng nổi một lời mời như thế.

HIGGINS: Mẹ cứ mặc kệ nó đi, mẹ. Cứ để nó tự nói lấy. Rồi mẹ sẽ thấy ngay là liệu nó có nổi một ý nghĩ nào mà không phải do con nhét vào đầu nó, hay một lời nào mà không phải do con đặt vào miệng nó hay không. Con nói cho mẹ biết, con đã tạo ra cái sinh vật này từ mấy tàu lá bắp cải giập nát ở Covent Garden; vậy mà giờ nó lại làm bộ đóng vai tiểu thư đài các với con.

BÀ HIGGINS: [thản nhiên] Ừ con; nhưng con ngồi xuống đã, được không?

Higgins lại ngồi xuống, hằm hằm.

LIZA: [nói với Pickering, ra vẻ chẳng để ý gì đến Higgins, tay vẫn thoăn thoắt khâu] Giờ cuộc thí nghiệm đã kết thúc, liệu ngài có bỏ rơi tôi hẳn không, đại tá Pickering?

PICKERING: Ồ đừng. Cô đừng nên nghĩ về nó như một cuộc thí nghiệm. Sao đó nghe cứ chối tai làm tôi giật mình.

LIZA: Ồ, tôi chỉ là một tàu lá bắp cải giập nát thôi mà.

PICKERING: [buột miệng] Không phải.

LIZA: [điềm tĩnh nói tiếp]—nhưng tôi mang ơn ngài nhiều đến mức tôi sẽ rất buồn nếu ngài quên tôi.

PICKERING: Cô nói vậy thật là tử tế quá, cô Doolittle.

LIZA: Không phải vì ngài đã trả tiền may áo cho tôi đâu. Tôi biết ngài rộng rãi tiền bạc với tất cả mọi người. Nhưng chính từ ngài mà tôi học được phong thái thật sự lịch thiệp; và đó mới là điều làm nên một quý bà, phải không ạ? Ngài thấy đấy, với tôi chuyện ấy khó khăn vô cùng khi lúc nào cũng có tấm gương giáo sư Higgins sờ sờ trước mắt. Tôi vốn được nuôi dạy để y hệt như ông ấy, không tự kiềm chế nổi, và hễ bị chọc tức một tí là văng lời thô tục. Và hẳn tôi đã chẳng bao giờ biết rằng bậc quý bà quý ông không cư xử như thế, nếu như không có ngài ở đó.

HIGGINS: Chà chà!!

PICKERING: Ồ, ông ấy vốn tính thế thôi, cô biết đấy. Ông ấy không có ý gì đâu.

LIZA: Ồ, hồi còn là cô bán hoa thì tôi cũng đâu có ý gì. Chẳng qua đó là tính tôi thôi. Nhưng ngài thấy đấy, tôi vẫn cứ làm thế; và rốt cuộc chính điều đó mới tạo nên khác biệt.

PICKERING: Đúng là không còn nghi ngờ gì. Dẫu vậy, chính ông ấy đã dạy cô ăn nói; mà việc đó thì tôi có làm nổi đâu, cô biết đấy.

LIZA: [hờ hững] Tất nhiên rồi: đó là nghề của ông ấy mà.

HIGGINS: Đồ quỷ tha ma bắt!

LIZA: [nói tiếp] Nó cũng chẳng khác gì học khiêu vũ theo lối thời thượng: chỉ có thế thôi, không hơn. Nhưng ngài có biết điều gì đã khởi đầu cho sự giáo dục thật sự của tôi không?

PICKERING: Điều gì vậy?

LIZA: [ngừng tay khâu một lát] Ấy là việc ngài gọi tôi là 'cô Doolittle' cái ngày tôi mới đặt chân đến phố Wimpole. Đó là khởi đầu cho lòng tự trọng của tôi. [Nàng khâu tiếp]. Và còn cả trăm điều nhỏ nhặt mà ngài chẳng bao giờ để ý, vì với ngài chúng đến một cách tự nhiên. Những chuyện như đứng dậy, ngả mũ và mở cửa—

PICKERING: Ồ, mấy chuyện ấy có gì đâu.

LIZA: Có đấy: những chuyện cho thấy ngài nghĩ và cảm về tôi như thể tôi là một cái gì đó cao hơn một con hầu rửa bát; dẫu rằng dĩ nhiên tôi biết ngài cũng sẽ xử sự y như thế với một con hầu rửa bát nếu nó được cho vào phòng khách. Ngài chưa bao giờ cởi giày ống trong phòng ăn khi có tôi ở đó.

PICKERING: Cô đừng để bụng chuyện đó. Higgins thì cởi giày ống bạ đâu quẳng đó khắp nơi.

LIZA: Tôi biết. Tôi có trách ông ấy đâu. Ông ấy vốn tính thế mà, phải không? Nhưng việc ngài không làm thế đã tạo nên một khác biệt lớn lao đối với tôi. Ngài thấy đấy, thật lòng mà nói, ngoài những thứ ai cũng có thể học lỏm được (cách ăn mặc, lối ăn nói cho đúng mực, vân vân), thì sự khác biệt giữa một quý bà và một cô bán hoa không nằm ở cách cô ta cư xử, mà ở cách cô ta được đối xử. Với giáo sư Higgins thì tôi sẽ mãi mãi là một cô bán hoa, bởi ông ấy lúc nào cũng đối xử với tôi như một cô bán hoa, và sẽ mãi như vậy; nhưng tôi biết tôi có thể là một quý bà đối với ngài, bởi ngài lúc nào cũng đối xử với tôi như một quý bà, và sẽ mãi như vậy.

BÀ HIGGINS: Đừng nghiến răng thế, Henry.

PICKERING: Chà, cô nói vậy thật là quý hóa quá, cô Doolittle.

LIZA: Từ giờ tôi mong ngài gọi tôi là Eliza, nếu ngài vui lòng.

PICKERING: Cảm ơn cô. Eliza, hẳn rồi.

LIZA: Còn giáo sư Higgins thì tôi mong ông ấy gọi tôi là cô Doolittle.

HIGGINS: Có mà xuống địa ngục thì tôi mới gọi thế.

BÀ HIGGINS: Henry! Henry!

PICKERING: [cười] Sao cô không đốp lại ông ấy đi? Đừng có chịu trận như thế. Làm vậy tốt cho ông ấy lắm đấy.

LIZA: Tôi không thể. Trước kia thì được, nhưng giờ tôi không quay lại kiểu ấy nữa được. Đêm qua, lúc tôi lang thang ngoài phố, có một cô gái bắt chuyện với tôi; tôi thử nói lại theo kiểu cũ với cô ấy xem sao, nhưng vô ích. Ông từng bảo tôi rằng khi một đứa trẻ được đưa tới một xứ lạ, chỉ vài tuần là nó học được thứ tiếng mới và quên mất tiếng mẹ đẻ. Vâng, tôi chính là đứa trẻ ấy ở xứ sở của ông. Tôi đã quên mất tiếng nói của mình, giờ chỉ còn biết nói thứ tiếng của ông. Đó mới là sự đoạn tuyệt thật sự với cái góc phố Tottenham Court Road. Rời khỏi phố Wimpole chỉ là để hoàn tất nó mà thôi.

PICKERING: [hoảng hốt ra mặt] Ôi! Nhưng cô sẽ quay về phố Wimpole chứ, phải không? Cô sẽ tha thứ cho Higgins chứ?

HIGGINS: [đứng dậy] Tha thứ! Trời đất ơi, cô ấy mà tha thứ à! Cứ để cô ấy đi. Để cô ấy xem không có chúng ta thì xoay xở ra sao. Không có tôi kề bên, ba tuần nữa cô ấy lại rơi tõm xuống xó chợ thôi.

Doolittle xuất hiện nơi khung cửa sổ giữa. Với ánh mắt trách móc đầy vẻ đường bệ dành cho Higgins, ông chậm rãi và lặng lẽ tiến về phía con gái mình; nàng đang quay lưng về phía cửa sổ nên không hề hay biết ông đang lại gần.

PICKERING: Ông ấy vô phương cứu chữa rồi, Eliza ạ. Cô sẽ không tái phát đâu, phải không?

LIZA: Không. Bây giờ thì không. Không bao giờ nữa. Tôi đã thuộc bài học của mình rồi. Tôi không nghĩ mình còn thốt ra nổi một âm cũ nào nữa, dù có cố. [Doolittle chạm vào vai trái nàng. Nàng buông rơi việc đang làm, mất hết vẻ điềm tĩnh trước cảnh tượng lộng lẫy của cha mình] A—a—a—a—a—a—ô—u—ui!

HIGGINS: [cất tiếng cười đắc thắng] A ha! Đúng thế đấy. A—a—a—a—a—ô—u—ui! A—a—a—a—a—ô—u—ui! A—a—a—a—a—ô—u—ui! Thắng lợi! Thắng lợi! [Ông ngả người xuống ghế đi-văng, khoanh tay, dạng chân ra một cách kiêu hãnh].

DOOLITTLE: Con trách bố làm gì. Đừng nhìn bố như thế, Eliza. Không phải lỗi tại bố đâu. Bố mới phất lên đấy.

LIZA: Chắc lần này bố vớ phải một nhà triệu phú rồi.

DOOLITTLE: Đúng vậy. Nhưng hôm nay bố ăn mặc đặc biệt lắm. Bố sắp tới nhà thờ St. George, Hanover Square. Mẹ kế con sắp cưới bố đấy.

LIZA: [giận dữ] Bố định hạ mình xuống mà cưới cái mụ đàn bà thấp hèn tầm thường ấy sao!

PICKERING: [điềm đạm] Ông ấy nên làm thế, Eliza ạ. [Quay sang Doolittle] Sao bà ấy lại đổi ý vậy?

DOOLITTLE: [buồn bã] Bị hù dọa đấy, Đại tá ạ. Bị hù dọa. Cái đạo đức trung lưu nó bắt vạ đấy mà. Con không đội mũ vào rồi đi xem bố bị đưa lên đoạn đầu đài à, Liza?

LIZA: Nếu Đại tá bảo con phải đi, thì con—con [gần như nức nở] con sẽ tự hạ mình xuống vậy. Rồi cũng bị chửi vào mặt cho mà xem, chắc thế.

DOOLITTLE: Đừng sợ: giờ bà ấy không còn cãi cọ với ai nữa đâu, tội nghiệp! Cái nết đứng đắn nó vắt kiệt hết khí phách của bà ấy rồi.

PICKERING: [bóp nhẹ khuỷu tay Eliza] Hãy tử tế với họ, Eliza. Chuyện đã vậy thì cố mà vui vẻ đón nhận.

LIZA: [gượng cười với ông qua nỗi bực dọc] Thôi được, cũng để tỏ ra không có ác cảm gì. Tôi sẽ quay lại ngay. [Nàng đi ra].

DOOLITTLE: [ngồi xuống cạnh Pickering] Tôi thấy hồi hộp lạ thường về cái lễ này, Đại tá ạ. Giá mà ông đi cùng, đỡ đần tôi qua cho trót.

PICKERING: Nhưng ông đã trải qua chuyện này rồi còn gì. Ông đã cưới mẹ của Eliza kia mà.

DOOLITTLE: Ai bảo ông thế, Đại tá?

PICKERING: À, chẳng ai bảo tôi cả. Nhưng tôi tự nhiên suy ra thế—

DOOLITTLE: Không đâu, đó không phải cách suy tự nhiên, Đại tá ạ: đó chỉ là cách suy của tầng lớp trung lưu thôi. Cách của tôi lúc nào cũng là cách không xứng đáng. Nhưng đừng nói gì với Eliza nhé. Nó không biết đâu: tôi vẫn luôn tế nhị không kể chuyện ấy cho nó nghe.

PICKERING: Được rồi. Tôi sẽ để yên chuyện đó, nếu ông không phiền.

DOOLITTLE: Và ông sẽ đến nhà thờ, Đại tá, dắt tôi đi cho suôn sẻ chứ?

PICKERING: Sẵn lòng. Trong khả năng của một kẻ độc thân.

BÀ HIGGINS: Tôi đến được không, ông Doolittle? Tôi sẽ rất tiếc nếu bỏ lỡ đám cưới của ông.

DOOLITTLE: Tôi thật sự lấy làm vinh hạnh trước sự hạ cố của bà, thưa bà; và bà lão nhà tôi tội nghiệp sẽ coi đó là một lời khen ghê gớm lắm. Bà ấy vẫn buồn bã suốt, cứ nghĩ về những ngày hạnh phúc đã qua không trở lại.

BÀ HIGGINS: [đứng dậy] Tôi sẽ cho gọi xe ngựa và chuẩn bị. [Các quý ông đứng dậy, trừ Higgins]. Tôi sẽ không quá mười lăm phút đâu. [Khi đi ra cửa thì Eliza bước vào, đội mũ và đang cài khuy găng tay]. Tôi sẽ đến nhà thờ xem cha cô cưới vợ, Eliza. Cô nên đi cùng ta trên xe ngựa kín. Đại tá Pickering có thể đi cùng chú rể.

Bà Higgins đi ra. Eliza bước tới giữa phòng, giữa khung cửa sổ chính giữa và ghế ottoman. Pickering tới bên nàng.

DOOLITTLE: Chú rể! Cái từ nghe mới ghê chứ! Nó khiến người ta chợt nhận ra vị thế của mình, kiểu gì ấy. [Ông cầm mũ lên và đi về phía cửa].

PICKERING: Trước khi tôi đi, Eliza, hãy tha thứ cho anh ấy và quay về với chúng tôi đi.

LIZA: Con không nghĩ bố cho phép con đâu. Có phải không, bố?

DOOLITTLE: [buồn nhưng bao dung] Chúng nó chơi con khéo lắm đấy, Eliza, hai gã thể thao ấy. Nếu chỉ có một trong hai đứa thôi thì con đã tóm gọn được nó rồi. Nhưng con thấy đấy, có tận hai đứa; và một đứa lại làm người giám hộ cho đứa kia, nói thế nào nhỉ. [Quay sang Pickering] Ông chơi khéo lắm đấy, Đại tá; nhưng tôi không để bụng đâu: tôi mà ở địa vị ông chắc cũng làm y như vậy. Cả đời tôi cứ làm nạn nhân hết bà này đến bà khác; nên tôi không ganh tị gì việc hai ông thắng được Eliza. Tôi sẽ không xen vào đâu. Đến giờ chúng ta phải đi rồi, Đại tá. Thôi chào nhé, Henry. Gặp lại ở nhà thờ St. George nhé, Eliza. [Ông đi ra].

PICKERING: [dỗ dành] Ở lại với chúng tôi đi, Eliza. [Ông đi theo Doolittle].

Eliza bước ra ban công để tránh phải ở một mình với Higgins. Ông đứng dậy theo nàng ra đó. Nàng lập tức quay vào phòng và đi về phía cửa; nhưng ông đi dọc theo ban công thật nhanh và tựa lưng vào cửa trước khi nàng tới nơi.

HIGGINS: Thôi được, Eliza, cô đã trả được thù rồi đấy, như cô vẫn nói. Đã đủ chưa? Cô có định biết điều không? Hay còn muốn gì nữa?

LIZA: Ông chỉ muốn tôi quay về để nhặt dép cho ông, chịu đựng cái tính khí thất thường của ông, rồi chạy tới chạy lui hầu hạ ông thôi.

HIGGINS: Tôi chưa hề nói là tôi muốn cô quay về.

LIZA: À, thế à. Vậy thì chúng ta đang nói chuyện gì đây?

HIGGINS: Nói về cô, không phải về tôi. Nếu cô quay về, tôi sẽ đối xử với cô đúng như tôi vẫn luôn đối xử. Tôi không thể thay đổi bản tính của mình; và tôi cũng không định thay đổi cung cách của mình. Cung cách của tôi hệt như của Đại tá Pickering vậy.

LIZA: Không đúng. Ông ấy đối xử với một cô bán hoa như thể cô ta là một nữ công tước.

HIGGINS: Còn tôi đối xử với một nữ công tước như thể bà ta là một cô bán hoa.

LIZA: Tôi hiểu rồi. [Nàng quay đi, điềm tĩnh, và ngồi xuống ghế ottoman, mặt hướng ra cửa sổ]. Với ai cũng như nhau cả.

HIGGINS: Đúng vậy đấy.

LIZA: Giống hệt bố tôi.

HIGGINS: [cười toe, hơi cụt hứng] Không hoàn toàn chấp nhận cách so sánh ấy đâu, Eliza, nhưng quả thật cha cô không phải hạng người trưởng giả học làm sang, và ông ấy sẽ tự tại ở bất cứ địa vị nào mà số phận kỳ quặc của ông đưa đẩy tới. [Nghiêm túc] Bí quyết lớn nhất, Eliza ạ, không phải là có cung cách xấu hay cung cách tốt hay bất cứ loại cung cách đặc biệt nào, mà là có cùng một cung cách với mọi linh hồn con người: nói ngắn gọn, hãy cư xử như thể cô đang ở trên Thiên Đường, nơi không có toa hạng ba, và linh hồn nào cũng tốt đẹp như linh hồn nào.

LIZA: A-men. Ông đúng là một nhà thuyết giáo bẩm sinh.

HIGGINS: [bực bội] Vấn đề không phải là tôi có đối xử thô lỗ với cô hay không, mà là cô có bao giờ nghe tôi đối xử với ai khác tốt hơn không.

LIZA: [với sự chân thành đột ngột] Tôi không quan tâm ông đối xử với tôi ra sao. Tôi không phiền nếu ông chửi tôi. Tôi cũng không phiền nếu bị thâm mắt: tôi từng bị rồi. Nhưng [đứng dậy, đối mặt với ông] tôi sẽ không để bị phớt lờ đâu.

HIGGINS: Vậy thì tránh đường cho tôi; vì tôi sẽ không dừng lại vì cô đâu. Cô nói về tôi cứ như thể tôi là một chiếc xe buýt gắn máy vậy.

LIZA: Thì ông đúng là một chiếc xe buýt gắn máy còn gì: chỉ biết xông xáo mà chạy, chẳng đoái hoài gì đến ai. Nhưng tôi có thể sống thiếu ông: đừng nghĩ là tôi không thể.

HIGGINS: Tôi biết cô có thể mà. Tôi đã bảo cô là cô có thể rồi.

LIZA: [bị tổn thương, lánh khỏi ông sang phía bên kia ghế ottoman, mặt hướng về lò sưởi] Tôi biết ông đã bảo thế, đồ vũ phu. Ông chỉ muốn tống khứ tôi đi thôi.

HIGGINS: Đồ nói dối.

LIZA: Cảm ơn ông. [Nàng ngồi xuống, đầy tự trọng].

HIGGINS: Tôi cho là cô chưa bao giờ tự hỏi liệu tôi có thể sống thiếu CÔ được không đấy.

LIZA: [nghiêm túc] Đừng có tìm cách xoay chuyển tôi. Ông SẼ PHẢI sống thiếu tôi thôi.

HIGGINS: [kiêu ngạo] Tôi có thể sống thiếu bất cứ ai. Tôi có linh hồn riêng của mình: có tia lửa thiêng liêng của riêng mình. Nhưng [với sự khiêm nhường đột ngột] tôi sẽ nhớ cô đấy, Eliza. [Ông ngồi xuống cạnh nàng trên ghế ottoman]. Tôi đã học được đôi điều từ những ý nghĩ ngớ ngẩn của cô: tôi thành thật thừa nhận điều đó, với lòng biết ơn. Và tôi đã quen với giọng nói và dáng vẻ của cô. Tôi thích chúng, khá là thích.

LIZA: Vâng, ông có cả hai thứ đó trên máy hát và trong cuốn album ảnh của ông rồi còn gì. Khi nào thấy cô đơn vì thiếu tôi, ông cứ mở máy lên nghe. Nó chẳng có cảm xúc gì để mà bị tổn thương đâu.

HIGGINS: Tôi không thể bật linh hồn cô lên được. Hãy để lại cho tôi những cảm xúc ấy; còn giọng nói và gương mặt thì cô cứ mang đi. Chúng không phải là cô.

LIZA: Ôi, ông đúng là một con quỷ. Ông có thể vặn xoắn trái tim một cô gái dễ dàng như có kẻ vặn xoắn cánh tay nàng để làm nàng đau vậy. Bà Pearce đã cảnh báo tôi rồi. Bao lần bà ấy đã muốn rời khỏi ông; nhưng lần nào ông cũng xoay chuyển được bà ấy vào phút chót. Và ông chẳng đoái hoài gì đến bà ấy cả. Ông cũng chẳng đoái hoài gì đến tôi hết.

HIGGINS: Tôi đoái hoài đến cuộc sống, đến nhân loại; và cô là một phần của nó đã tình cờ đến trên đường tôi đi và được xây dựng vào trong ngôi nhà của tôi. Cô hay bất cứ ai còn có thể đòi hỏi gì hơn thế nữa?

LIZA: Tôi sẽ không đoái hoài đến bất cứ ai không đoái hoài đến tôi.

HIGGINS: Nguyên tắc thương mại đấy, Eliza. Giống như [nhại lại cách phát âm vùng Covent Garden của nàng với độ chính xác nhà nghề] xán biôliết [bán hoa violet], phải không nào?

LIZA: Đừng có chế giễu tôi. Chế giễu tôi là hèn hạ đấy.

HIGGINS: Cả đời tôi chưa từng chế giễu ai. Chế giễu không xứng với gương mặt con người, cũng không xứng với linh hồn con người. Tôi đang bày tỏ sự khinh miệt chính đáng của mình đối với Chủ nghĩa Thương mại. Tôi không và sẽ không mua bán tình cảm. Cô gọi tôi là đồ vũ phu chỉ vì cô không thể mua được một chỗ đứng trong lòng tôi bằng cách lấy dép và tìm kính cho tôi. Cô thật ngốc: tôi thấy cảnh một người đàn bà lấy dép cho đàn ông là ghê tởm: có bao giờ tôi lấy dép cho CÔ chưa? Tôi coi trọng cô hơn nhiều vì cô đã ném đôi dép vào mặt tôi. Cực nhọc hầu hạ tôi rồi lại đòi được người ta đoái hoài chăm sóc thì có ích gì: ai lại đi đoái hoài một kẻ nô lệ chứ? Nếu cô quay về, hãy quay về vì tình bạn tốt đẹp; vì cô sẽ chẳng được gì khác đâu. Cô đã nhận được từ tôi gấp cả ngàn lần những gì tôi nhận được từ cô; và nếu cô dám đem cái trò vặt vãnh lấy dép hầu hạ của mình ra so với công trình sáng tạo Nữ công tước Eliza của tôi, tôi sẽ đóng sầm cửa vào cái mặt ngốc nghếch của cô đấy.

LIZA: Vậy ông làm thế để làm gì nếu ông không đoái hoài gì đến tôi?

HIGGINS: [hồ hởi] À, vì đó là công việc của tôi.

LIZA: Ông chưa bao giờ nghĩ đến những rắc rối nó gây ra cho tôi cả.

HIGGINS: Liệu thế gian này có bao giờ được tạo ra không nếu đấng tạo hóa của nó sợ gây rắc rối? Tạo ra sự sống nghĩa là tạo ra rắc rối. Chỉ có một cách để thoát khỏi rắc rối; đó là giết chết mọi thứ. Cô để ý mà xem, bọn hèn nhát lúc nào cũng gào thét đòi giết chết những kẻ gây phiền phức.

LIZA: Tôi không phải nhà thuyết giáo: tôi không để ý những chuyện như thế. Tôi chỉ để ý là ông chẳng để ý gì đến tôi.

HIGGINS: [bật dậy, đi đi lại lại một cách bực bội] Eliza: cô là một con ngốc. Tôi phí phạm kho báu trong cái đầu óc kiểu Milton của mình khi đem nó trải ra trước mặt cô. Một lần cho xong, hãy hiểu rằng tôi cứ đi con đường của mình và làm công việc của mình mà chẳng thèm bận tâm chuyện gì xảy đến với cả hai chúng ta. Tôi không bị hù dọa, như cha cô và mẹ kế cô. Vậy nên cô có thể quay về hoặc xuống địa ngục: tùy cô chọn.

LIZA: Tôi quay về để làm gì?

HIGGINS: [nhổm dậy quỳ trên ghế ottoman, cúi người về phía nàng] Để cho vui thôi. Đó là lý do tôi nhận nuôi dạy cô ngay từ đầu.

LIZA: [mặt quay đi] Và ông có thể tống tôi ra đường ngay ngày mai nếu tôi không làm mọi thứ ông muốn?

HIGGINS: Đúng vậy; và cô cũng có thể bỏ đi ngay ngày mai nếu tôi không làm mọi thứ CÔ muốn.

LIZA: Và sống với mẹ kế của tôi?

HIGGINS: Đúng, hoặc đi bán hoa.

LIZA: Ôi! giá mà tôi có thể quay lại với cái giỏ hoa của mình! Tôi sẽ độc lập với cả ông lẫn bố tôi và cả thế gian này! Sao ông lại lấy mất sự độc lập của tôi? Sao tôi lại từ bỏ nó? Giờ tôi là một con nô lệ, dù có mặc quần áo đẹp đến đâu.

HIGGINS: Không hề. Tôi sẽ nhận cô làm con nuôi và chu cấp tiền bạc cho cô nếu cô muốn. Hay là cô muốn cưới Pickering hơn?

LIZA: [quay ngoắt lại nhìn ông đầy giận dữ] Tôi sẽ không cưới ÔNG dù ông có cầu hôn tôi đi nữa; mà ông lại gần tuổi tôi hơn ông ấy.

HIGGINS: [nhẹ nhàng] Gần tuổi tôi hơn ông ấy, chứ không phải “gần tuổi tôi hơn cái ông ấy.”

LIZA: [mất bình tĩnh, đứng dậy] Tôi muốn nói sao thì nói. Ông không còn là thầy dạy tôi nữa đâu.

HIGGINS: [trầm ngâm] Dù sao tôi cũng không nghĩ Pickering sẽ làm thế. Ông ấy cũng là một tay độc thân thâm căn cố đế như tôi thôi.

LIZA: Đó không phải điều tôi muốn; đừng có nghĩ vậy. Tôi luôn có thừa những gã theo đuổi tôi kiểu đó. Freddy Hill viết thư cho tôi hai ba lần một ngày, hết trang này đến trang khác.

HIGGINS: [ngạc nhiên khó chịu] Chết tiệt, thằng nhãi láo xược! [Ông giật lùi và thấy mình đang ngồi lên gót chân].

LIZA: Anh ấy có quyền làm thế nếu anh ấy muốn, tội nghiệp chàng trai. Với lại anh ấy thực lòng yêu tôi.

HIGGINS: [rời khỏi ghế ottoman] Cô không có quyền khuyến khích anh ta.

LIZA: Cô gái nào cũng có quyền được yêu thương cả.

HIGGINS: Cái gì! Bị mấy thằng ngốc như thế yêu à?

LIZA: Freddy không phải kẻ ngốc. Và nếu anh ấy yếu đuối, nghèo khó nhưng lại muốn tôi, biết đâu anh ấy còn khiến tôi hạnh phúc hơn những bậc bề trên của tôi, những kẻ chỉ biết bắt nạt tôi mà chẳng thèm muốn tôi.

HIGGINS: Anh ta có thể LÀM NÊN được gì từ cô không? Đó mới là vấn đề.

LIZA: Có lẽ tôi mới là người làm nên được gì đó từ anh ấy. Nhưng tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện chúng tôi phải làm nên trò trống gì từ nhau cả; còn ông thì chẳng bao giờ nghĩ đến điều gì khác. Tôi chỉ muốn được tự nhiên thôi.

HIGGINS: Nói ngắn gọn, cô muốn tôi phải si mê cô như Freddy vậy? Có phải thế không?

LIZA: Không, tôi không muốn thế. Đó không phải loại tình cảm tôi muốn từ ông. Và ông cũng đừng có quá tự tin về bản thân mình hay về tôi. Tôi đã có thể trở thành một cô gái hư hỏng nếu tôi muốn. Tôi từng chứng kiến nhiều chuyện hơn ông tưởng, dù ông có học rộng đến đâu. Những cô gái như tôi có thể dễ dàng lôi kéo các quý ông tán tỉnh mình. Rồi phút sau lại mong cho nhau chết quách đi.

HIGGINS: Tất nhiên là thế rồi. Vậy thì rốt cuộc chúng ta đang cãi nhau về cái quái gì vậy?

LIZA: [bối rối vô cùng] Tôi chỉ muốn một chút tử tế thôi. Tôi biết mình là một cô gái tầm thường, dốt nát, còn ông là một quý ông học rộng; nhưng tôi không phải là rác rưởi dưới chân ông đâu. Cái tôi đã làm [tự sửa lại] cái tôi đã làm không phải vì mấy bộ váy hay mấy chuyến taxi: tôi làm vậy vì chúng ta từng vui vẻ bên nhau và tôi đem—đã đem—lòng quý mến ông; không phải để ông tán tỉnh tôi, và cũng không quên sự khác biệt giữa chúng ta, mà là theo kiểu thân tình hơn.

HIGGINS: À, tất nhiên rồi. Đó chính xác là cảm giác của tôi. Và cả của Pickering nữa. Eliza: cô là một con ngốc.

LIZA: Đó không phải câu trả lời đúng đắn để nói với tôi [nàng gieo mình xuống ghế cạnh bàn viết, nước mắt tuôn trào].

HIGGINS: Đó là tất cả những gì cô sẽ nhận được cho đến khi cô thôi làm một con ngốc tầm thường. Nếu cô định làm một quý bà, cô sẽ phải từ bỏ cái cảm giác bị bỏ bê nếu những người đàn ông cô quen không dành nửa thời gian sụt sùi vì cô và nửa còn lại để đánh thâm mắt cô. Nếu cô không chịu nổi sự lạnh lùng trong lối sống của tôi, và cái sự căng thẳng của nó, thì hãy quay về xó chợ đi. Làm việc quần quật cho tới khi cô trở nên thô lậu hơn cả một con người; rồi âu yếm và cãi vã và uống rượu cho tới khi lăn ra ngủ. Ôi, đó là một cuộc sống tuyệt vời, cuộc sống nơi xó chợ ấy. Nó thực: nó ấm áp: nó dữ dội: cô có thể cảm nhận nó qua làn da dày nhất: cô có thể nếm nó và ngửi thấy nó mà chẳng cần luyện tập hay lao động gì cả. Không như Khoa học và Văn chương và Âm nhạc Cổ điển và Triết học và Nghệ thuật. Cô thấy tôi lạnh lùng, vô cảm, ích kỷ, phải không? Được thôi: cứ việc đi theo hạng người cô thích. Cưới lấy một gã heo ủy mị đa cảm nào đó có lắm tiền, với đôi môi dày để hôn cô và đôi ủng dày để đá cô. Nếu cô không biết trân trọng những gì mình đang có, thì tốt hơn hết cô nên đi tìm thứ mình biết trân trọng.

LIZA: [tuyệt vọng] Ôi, ông đúng là một bạo chúa tàn nhẫn. Tôi không thể nói chuyện với ông được: ông xoay chuyển mọi thứ để chống lại tôi: lúc nào tôi cũng sai cả. Nhưng ông thừa biết suốt bao lâu nay rằng ông chẳng qua chỉ là một kẻ bắt nạt. Ông biết tôi không thể quay về xó chợ, như ông vẫn gọi, và rằng tôi chẳng có người bạn thật sự nào trên đời ngoài ông và Đại tá. Ông thừa biết tôi không thể chịu nổi việc sống với một gã đàn ông thấp hèn tầm thường sau khi đã ở bên hai người; và thật độc ác, thật nhẫn tâm khi ông xúc phạm tôi bằng cách giả vờ như tôi có thể làm thế. Ông nghĩ tôi phải quay về phố Wimpole vì tôi chẳng còn nơi nào khác để đi ngoài nhà bố tôi. Nhưng đừng có quá chắc chắn rằng ông đang có tôi dưới chân để giẫm đạp và lấn át. Tôi sẽ cưới Freddy, tôi sẽ làm thế, ngay khi anh ấy đủ khả năng nuôi tôi.

HIGGINS: [ngồi xuống cạnh nàng] Vớ vẩn! Cô sẽ cưới một vị đại sứ. Cô sẽ cưới Toàn quyền Ấn Độ hay Phó vương Ireland, hay ai đó cần một vị nữ hoàng phó. Tôi sẽ không để kiệt tác của mình bị vứt bỏ cho Freddy đâu.

LIZA: Ông tưởng tôi thích nghe ông nói vậy chắc. Nhưng tôi chưa quên những gì ông vừa nói lúc nãy đâu; và tôi sẽ không để bị dỗ dành như thể tôi là một đứa trẻ hay một con chó con. Nếu tôi không thể có được sự tử tế, tôi sẽ có được sự độc lập.

HIGGINS: Độc lập ư? Đó là sự báng bổ kiểu trung lưu. Tất cả chúng ta đều phụ thuộc lẫn nhau, mọi linh hồn trên trái đất này đều thế.

LIZA: [đứng dậy, cương quyết] Tôi sẽ cho ông thấy liệu tôi có phụ thuộc vào ông hay không. Nếu ông có thể thuyết giáo, tôi cũng có thể dạy học. Tôi sẽ đi làm cô giáo.

HIGGINS: Cô sẽ dạy cái gì, trời đất ơi?

LIZA: Cái mà ông đã dạy tôi. Tôi sẽ dạy ngữ âm học.

HIGGINS: Ha! Ha! Ha!

LIZA: Tôi sẽ xin làm trợ lý cho Giáo sư Nepean.

HIGGINS: [đứng bật dậy, giận dữ] Cái gì! Cái tên bịp bợm ấy! Cái đồ ba hoa dối trá ấy! Cái thằng dốt nát nịnh bợ ấy! Đem phương pháp của tôi ra dạy hắn! Những phát kiến của tôi! Cô mà bước một bước về phía hắn là tôi sẽ vặn cổ cô đấy. [Ông túm lấy nàng]. Cô nghe rõ chưa?

LIZA: [ngang nhiên không chống cự] Vặn đi. Tôi cần gì chứ? Tôi biết thế nào ông cũng đánh tôi một ngày nào đó mà. [Ông buông nàng ra, giậm chân giận dữ vì đã để mất bình tĩnh, rồi giật lùi vội vã đến nỗi loạng choạng ngã ngồi xuống ghế ottoman]. A ha! Giờ tôi biết cách đối phó với ông rồi. Tôi mới ngốc làm sao khi không nghĩ ra điều này sớm hơn! Ông không thể lấy lại được kiến thức ông đã cho tôi đâu. Ông từng nói tôi có đôi tai tinh tế hơn ông. Và tôi có thể lịch sự và tử tế với người khác, điều mà ông không làm được. A ha! Thế là ông xong đời rồi đấy, Henry Higgins ạ, đúng thế đấy. Giờ tôi chẳng thèm để tâm [búng ngón tay] đến những lời bắt nạt và những lời huênh hoang của ông nữa. Tôi sẽ đăng quảng cáo trên báo rằng nữ công tước của ông chẳng qua chỉ là một cô bán hoa mà ông đã dạy dỗ, và cô ta có thể dạy bất cứ ai trở thành nữ công tước y hệt như vậy trong sáu tháng với giá một ngàn ghi-nê. Ôi, khi nghĩ đến cảnh mình bò lê dưới chân ông, bị giẫm đạp và bị chửi rủa, trong khi suốt thời gian đó tôi chỉ cần giơ ngón tay lên là đã ngang hàng với ông rồi, tôi chỉ muốn tự đá mình một cái.

HIGGINS: [kinh ngạc nhìn nàng] Cô đúng là một con ranh láo xược đáng nguyền rủa! Nhưng vậy còn hơn là sụt sùi; còn hơn là đi lấy dép và tìm kính, phải không? [Đứng dậy] Trời đất ơi, Eliza, tôi đã nói tôi sẽ biến cô thành một người phụ nữ; và tôi đã làm được. Tôi thích cô như thế này đấy.

LIZA: Vâng: giờ ông lại quay ra ve vãn tôi khi mà tôi không còn sợ ông nữa, và có thể sống thiếu ông.

HIGGINS: Tất nhiên tôi phải thế, cô ngốc nhỏ ạ. Năm phút trước cô còn như một tảng đá đeo nặng quanh cổ tôi. Giờ cô là một tòa tháp sức mạnh: một chiến hạm hộ tống. Cô, tôi và Pickering sẽ trở thành ba tay độc thân già cùng nhau, thay vì chỉ có hai người đàn ông và một cô gái khờ khạo.

Bà Higgins trở lại, ăn mặc chỉnh tề cho đám cưới. Eliza lập tức trở nên điềm tĩnh và thanh lịch.

BÀ HIGGINS: Xe ngựa đang đợi rồi, Eliza. Con sẵn sàng chưa?

LIZA: Sẵn sàng rồi ạ. Giáo sư có đi cùng không ạ?

BÀ HIGGINS: Chắc chắn là không rồi. Nó không biết cư xử trong nhà thờ đâu. Nó cứ bình phẩm to tiếng suốt về cách phát âm của cha xứ.

LIZA: Vậy thì tôi sẽ không gặp lại ngài nữa, thưa Giáo sư. Tạm biệt. [Nàng đi về phía cửa].

BÀ HIGGINS: [tới bên Higgins] Tạm biệt con trai yêu quý.

HIGGINS: Tạm biệt, mẹ. [Ông định hôn bà thì chợt nhớ ra điều gì đó]. À, nhân tiện, Eliza, đặt cho tôi một cái giăm bông và một miếng phô mai Stilton nhé? Và mua cho tôi một đôi găng tay da tuần lộc, cỡ tám, với một cái cà vạt hợp với bộ com-lê mới của tôi, ở tiệm Eale & Binman ấy. Cô cứ chọn màu tùy ý. [Giọng nói vui vẻ, vô tư, hoạt bát của ông cho thấy ông đúng là vô phương cứu chữa].

LIZA: [khinh khỉnh] Tự đi mà mua lấy. [Nàng lướt ra ngoài].

BÀ HIGGINS: Mẹ e là con đã làm hư cô bé đó rồi, Henry ạ. Nhưng không sao đâu con: mẹ sẽ mua cà vạt và găng tay cho con.

HIGGINS: [vui vẻ, thoải mái] Ôi, mẹ đừng bận tâm. Cô ấy sẽ mua thôi mà, chắc chắn đấy. Tạm biệt mẹ.

Họ hôn nhau. Bà Higgins chạy vội ra ngoài. Higgins, một mình còn lại, rung rung tiền xu trong túi; cười khúc khích; và tự đắc ra mặt một cách vô cùng thỏa mãn.

***********************

Phần còn lại của câu chuyện không cần phải diễn ra trên sân khấu, và thật ra, cũng khó mà cần kể ra nếu trí tưởng tượng của chúng ta không bị làm cho yếu ớt đi bởi thói quen ỷ lại lười biếng vào những món hàng may sẵn, những bộ đồ cũ sờn của tiệm ve chai nơi mà Chuyện Tình Lãng Mạn vẫn cất giữ vốn liếng “kết thúc có hậu” của mình để gán ép một cách khiên cưỡng vào mọi câu chuyện. Vậy mà, câu chuyện của Eliza Doolittle, dù được gọi là chuyện tình lãng mạn bởi cuộc lột xác mà nó ghi lại tưởng chừng khó tin đến thế, thật ra lại phổ biến vô cùng. Những cuộc lột xác như vậy đã được hàng trăm cô gái trẻ đầy tham vọng kiên quyết thực hiện, kể từ khi Nell Gwynne làm gương cho họ bằng cách đóng vai nữ hoàng và mê hoặc các vị vua trên sân khấu, nơi mà bà từng khởi nghiệp bằng việc bán cam. Ấy thế mà, người ta khắp nơi cứ mặc nhiên cho rằng, chỉ vì nàng đã trở thành nữ chính của một chuyện tình lãng mạn, hẳn nàng phải cưới chàng anh hùng của câu chuyện ấy. Điều này thật khó chấp nhận, không chỉ bởi vở kịch nhỏ của nàng, nếu bị diễn theo cái giả định vô tâm ấy, ắt sẽ bị hỏng bét, mà còn bởi phần tiếp theo thật sự lại hiển nhiên đối với bất cứ ai có chút hiểu biết về bản tính con người nói chung, và về bản năng phụ nữ nói riêng.

Khi Eliza nói với Higgins rằng nàng sẽ không cưới ông dù ông có cầu hôn, đó không phải là nàng làm bộ làm tịch: đó là nàng tuyên bố một quyết định đã được cân nhắc kỹ lưỡng. Khi một gã độc thân khiến một cô gái quá lứa quan tâm, chi phối, dạy dỗ, và trở nên quan trọng với nàng, như Higgins với Eliza, nàng luôn luôn, nếu nàng đủ cá tính để làm được điều đó, cân nhắc hết sức nghiêm túc xem liệu mình có nên tính chuyện trở thành vợ của gã độc thân ấy hay không, nhất là khi anh ta ít quan tâm đến hôn nhân đến mức một người phụ nữ kiên quyết và tận tụy có thể chinh phục được anh ta nếu nàng quyết tâm làm vậy. Quyết định của nàng sẽ phụ thuộc phần lớn vào việc nàng có thực sự được tự do lựa chọn hay không; và điều đó, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào tuổi tác và thu nhập của nàng. Nếu nàng đã ở cuối tuổi xuân và không có gì bảo đảm cho cuộc sống của mình, nàng sẽ cưới anh ta vì nàng buộc phải cưới bất cứ ai chịu chu cấp cho nàng. Nhưng ở tuổi của Eliza, một cô gái xinh đẹp không cảm thấy áp lực ấy; nàng cảm thấy tự do để kén chọn. Vì vậy nàng được dẫn dắt bởi bản năng của mình trong chuyện này. Bản năng của Eliza mách bảo nàng đừng cưới Higgins. Nhưng nó không mách bảo nàng từ bỏ ông. Nó không hề mảy may nghi ngờ rằng ông sẽ vẫn mãi là một trong những mối quan tâm cá nhân mạnh mẽ nhất trong đời nàng. Nó hẳn sẽ bị thử thách nặng nề nếu có một người phụ nữ khác có khả năng thay thế nàng trong lòng ông. Nhưng vì nàng cảm thấy chắc chắn về ông ở điểm cuối cùng đó, nàng chẳng còn chút nghi ngờ nào về con đường mình sẽ đi, và sẽ chẳng có nghi ngờ nào, ngay cả khi khoảng cách hai mươi tuổi giữa họ, vốn có vẻ quá lớn đối với tuổi trẻ, không hề tồn tại.

Vì bản năng của chính chúng ta không đồng tình với kết luận của nàng, hãy thử xem chúng ta có thể tìm ra lý do nào trong đó không. Khi Higgins biện minh cho sự thờ ơ của mình với các cô gái trẻ bằng lý do rằng họ có một đối thủ không thể cưỡng lại nơi mẹ ông, ông đã hé lộ manh mối cho cái tính độc thân thâm căn cố đế của mình. Trường hợp này chỉ khác thường ở mức độ mà những người mẹ phi thường vốn dĩ đã hiếm gặp. Nếu một cậu bé giàu trí tưởng tượng có một người mẹ đủ giàu có, thông minh, duyên dáng, đường bệ mà không khắc nghiệt, và có gu thẩm mỹ tinh tế đủ để biến ngôi nhà của mình thành đẹp đẽ, bà sẽ đặt ra một chuẩn mực cho cậu mà rất ít phụ nữ có thể sánh kịp, đồng thời còn giúp cậu tách rời tình cảm, khiếu thẩm mỹ, và lý tưởng của mình ra khỏi những xung động giới tính cụ thể. Điều này khiến cậu trở thành một câu đố thường trực đối với vô số người thiếu học thức, những kẻ được nuôi dạy trong những ngôi nhà vô vị bởi những bậc cha mẹ tầm thường hoặc khó chịu, và đối với họ, do đó, văn chương, hội họa, điêu khắc, âm nhạc, và những mối quan hệ tình cảm cá nhân, nếu có xuất hiện, thì cũng chỉ xuất hiện dưới dạng thức của tình dục. Từ “đam mê” đối với họ chẳng có nghĩa gì khác; và việc Higgins có thể đam mê ngữ âm học và lý tưởng hóa mẹ mình thay vì Eliza, đối với họ hẳn sẽ có vẻ phi lý và trái tự nhiên. Tuy vậy, khi ta nhìn quanh và thấy rằng hầu như chẳng ai xấu xí hay khó ưa đến mức không tìm được vợ hay chồng nếu họ muốn, trong khi nhiều bà cô và ông ế lại có phẩm chất và học vấn trên mức trung bình, ta không thể không ngờ rằng sự tách rời giới tính ra khỏi những liên tưởng mà nó thường bị lẫn lộn vào, một sự tách rời mà những bậc thiên tài đạt được bằng chính sự phân tích trí tuệ thuần túy, đôi khi lại được tạo ra hoặc trợ giúp bởi sự mê hoặc của cha mẹ.

Vậy nên, dù Eliza không đủ khả năng để tự lý giải cho mình cái sức đề kháng ghê gớm của Higgins trước sự quyến rũ đã khiến Freddy gục ngã ngay từ cái nhìn đầu tiên, nàng vẫn bản năng nhận ra rằng nàng sẽ không bao giờ có thể nắm trọn được ông, hay chen vào giữa ông và mẹ ông (điều kiện tiên quyết đầu tiên của một người vợ). Nói ngắn gọn, nàng biết rằng vì một lý do bí ẩn nào đó, ông không có những tố chất của một người chồng, theo quan niệm của nàng về một người chồng là kẻ mà nàng sẽ là mối quan tâm gần gũi nhất, thân thiết nhất và nồng nhiệt nhất. Ngay cả khi không có người mẹ làm đối thủ, nàng vẫn sẽ từ chối chấp nhận một mối quan tâm dành cho mình mà chỉ đứng hàng thứ yếu sau những mối quan tâm triết học. Dù bà Higgins có qua đời, vẫn sẽ còn đó Milton và bộ Chữ Cái Phổ Quát. Câu nói của Landor rằng đối với những người có khả năng yêu thương lớn nhất, tình yêu chỉ là chuyện thứ yếu, hẳn sẽ chẳng khiến Eliza có cảm tình gì với Landor cả. Đem điều đó đặt cạnh nỗi bực bội của nàng trước sự trịch thượng lấn lướt của Higgins, và sự ngờ vực của nàng trước cái tài dỗ dành khôn khéo của ông trong việc xoay chuyển nàng và né tránh cơn giận của nàng mỗi khi ông đi quá xa với sự bắt nạt bốc đồng của mình, và bạn sẽ thấy rằng bản năng của Eliza có đủ cơ sở để cảnh báo nàng đừng cưới chàng Pygmalion của mình.

Và giờ, Eliza đã cưới ai? Vì nếu Higgins là một kẻ độc thân được định sẵn, thì chắc chắn nàng không phải là một bà cô được định sẵn. Thôi thì, điều đó có thể kể ra thật ngắn gọn cho những ai chưa đoán ra từ những gợi ý mà chính nàng đã đưa ra.

Gần như ngay sau khi Eliza bị chọc tức đến mức tuyên bố quyết định đã cân nhắc kỹ của mình là không cưới Higgins, nàng nhắc đến việc chàng Frederick Eynsford Hill trẻ tuổi vẫn hằng ngày trút bầu tâm sự yêu đương với nàng qua thư từ. Nay, Freddy còn trẻ, kém Higgins gần hai mươi tuổi: anh là một quý ông (hay theo cách gọi của Eliza, một tay công tử), và ăn nói cũng như vậy; anh ăn mặc chỉnh tề, được Đại tá coi như người ngang hàng, yêu nàng một cách chân thành không màu mè, và không phải là chủ nhân của nàng, cũng chẳng có khả năng chi phối nàng dù có lợi thế về địa vị xã hội. Eliza chẳng màng đến cái truyền thống lãng mạn ngớ ngẩn rằng mọi phụ nữ đều thích bị chi phối, nếu không muốn nói là bị bắt nạt và đánh đập thật sự. “Khi đến với đàn bà,” Nietzsche nói, “hãy mang theo cây roi của ngươi.” Những bạo chúa khôn ngoan chưa bao giờ chỉ áp dụng biện pháp phòng ngừa ấy với phụ nữ: họ cũng mang theo roi khi đối phó với đàn ông, và được những người đàn ông mà họ vung roi lên còn tôn sùng đến mức nô lệ hơn cả phụ nữ. Không nghi ngờ gì, có những phụ nữ có bản tính nô lệ cũng như đàn ông; và phụ nữ, cũng như đàn ông, ngưỡng mộ những kẻ mạnh hơn mình. Nhưng ngưỡng mộ một người mạnh mẽ và sống dưới sự khống chế của người mạnh mẽ ấy là hai chuyện khác nhau. Kẻ yếu có thể không được ngưỡng mộ hay tôn thờ như anh hùng; nhưng họ hoàn toàn không bị ghét bỏ hay xa lánh; và họ dường như chẳng bao giờ gặp khó khăn gì trong việc kết hôn với những người tốt hơn họ nhiều. Họ có thể thất bại trong những tình huống khẩn cấp; nhưng cuộc sống không phải là một chuỗi tình huống khẩn cấp triền miên: phần lớn nó là một chuỗi những hoàn cảnh không cần đến sức mạnh phi thường, mà ngay cả những người khá yếu đuối cũng có thể xoay xở được nếu họ có một người bạn đời mạnh mẽ hơn để giúp đỡ. Do đó, một sự thật hiển hiện khắp nơi là những người mạnh mẽ, dù nam hay nữ, không những không cưới những người mạnh mẽ hơn, mà còn chẳng hề tỏ ra ưa thích họ khi chọn bạn bè. Khi một con sư tử gặp một con khác gầm to hơn, “con sư tử thứ nhất sẽ thấy con kia thật nhàm chán.” Người đàn ông hay đàn bà cảm thấy đủ mạnh cho cả hai người sẽ tìm kiếm mọi phẩm chất khác nơi bạn đời, ngoại trừ sức mạnh.

Điều ngược lại cũng đúng. Người yếu muốn cưới người mạnh không khiến họ quá sợ hãi; và điều này thường khiến họ mắc phải cái sai lầm mà ta gọi một cách ẩn dụ là “ôm đồm quá sức mình.” Họ muốn quá nhiều mà bỏ ra quá ít; và khi cuộc mặc cả trở nên bất công đến mức không thể chịu đựng nổi, sự kết hợp trở nên bất khả thi: nó kết thúc bằng việc bên yếu hơn hoặc bị ruồng bỏ, hoặc phải cam chịu như mang một cây thánh giá, mà điều sau còn tệ hơn. Những người không chỉ yếu đuối, mà còn ngốc nghếch hay đần độn, thường rơi vào những khó khăn này.

Với tình thế của con người là vậy, Eliza chắc chắn sẽ làm gì khi bị đặt giữa Freddy và Higgins? Liệu nàng có mong đợi một đời lấy dép cho Higgins, hay một đời để Freddy lấy dép cho nàng? Câu trả lời chẳng còn gì phải nghi ngờ. Trừ khi Freddy khiến nàng ghê tởm về mặt bản năng sinh học, và Higgins hấp dẫn nàng về mặt bản năng sinh học đến mức lấn át mọi bản năng khác của nàng, nếu nàng cưới một trong hai người, nàng sẽ cưới Freddy.

Và đó chính xác là điều Eliza đã làm.

Rồi những rắc rối nảy sinh; nhưng chúng thuộc về kinh tế, không phải tình cảm. Freddy chẳng có tiền cũng chẳng có nghề nghiệp. Khoản trợ cấp góa phụ của mẹ anh, tàn tích cuối cùng của sự sung túc nơi Largelady Park, đã giúp bà xoay xở sống ở Earlscourt với dáng vẻ quý phái, nhưng không đủ để lo cho con cái một nền giáo dục cấp hai nghiêm túc nào, càng không thể cho cậu con trai một nghề nghiệp. Một chân thư ký với lương ba mươi si-linh một tuần là điều dưới phẩm giá của Freddy, và hơn nữa còn khiến anh vô cùng khó chịu. Triển vọng của anh chỉ gói gọn trong hy vọng rằng nếu anh cứ giữ được vẻ ngoài đàng hoàng thì sẽ có ai đó ra tay giúp đỡ anh. Cái “gì đó” ấy hiện lên mơ hồ trong trí tưởng tượng của anh như một chức thư ký riêng hay một chức vụ nhàn hạ nào đó. Còn với mẹ anh, có lẽ nó hiện lên như một cuộc hôn nhân với một quý bà có của cải nào đó không cưỡng lại nổi sự dễ mến của con trai bà. Hãy tưởng tượng cảm xúc của bà khi anh cưới một cô bán hoa đã bị mất địa vị trong những hoàn cảnh phi thường mà giờ đây ai cũng biết!

Đúng là hoàn cảnh của Eliza không có vẻ hoàn toàn bất lợi. Cha nàng, dù trước kia là phu đổ rác, và giờ bị mất địa vị một cách kỳ quặc, đã trở nên vô cùng được ưa chuộng trong giới thượng lưu sang trọng nhất nhờ một tài năng giao tiếp xã hội đã chiến thắng mọi định kiến và mọi bất lợi. Bị tầng lớp trung lưu mà ông ghê tởm khước từ, ông đã vụt bay thẳng lên những vòng tròn cao cấp nhất nhờ sự dí dỏm, cái nghề đổ rác của mình (mà ông mang như một lá cờ), và sự siêu việt kiểu Nietzsche vượt lên trên thiện và ác của ông. Trong những bữa tiệc thân mật của giới công tước, ông ngồi bên tay phải của bà Công tước; và trong những dinh thự ở nông thôn, ông hút thuốc ở phòng đựng thức ăn và được người quản gia nể trọng khi ông không dùng bữa trong phòng ăn chính và được các vị bộ trưởng nội các tham vấn ý kiến. Nhưng ông thấy làm được tất cả những điều đó với bốn ngàn bảng một năm cũng khó khăn gần như bà Eynsford Hill phải sống ở Earlscourt với khoản thu nhập nhỏ đến thảm hại mà tôi không nỡ tiết lộ con số chính xác. Ông tuyệt đối từ chối chất thêm gánh nặng cuối cùng lên vai mình bằng cách góp tiền nuôi Eliza.

Vậy nên Freddy và Eliza, giờ là ông bà Eynsford Hill, hẳn đã trải qua một tuần trăng mật túng thiếu nếu không nhờ món quà cưới năm trăm bảng từ Đại tá tặng Eliza. Số tiền ấy kéo dài được lâu vì Freddy không biết cách tiêu tiền, do chưa bao giờ có tiền để mà tiêu, còn Eliza, được huấn luyện về mặt xã giao bởi hai gã độc thân già, thì mặc quần áo cho tới khi chúng rách hẳn và vẫn còn coi được, chẳng hề bận tâm đến việc chúng đã lỗi mốt từ nhiều tháng trước. Dù vậy, năm trăm bảng không thể nuôi hai người trẻ mãi mãi được; và cả hai đều biết, và Eliza cũng cảm nhận được, rằng cuối cùng họ phải tự lo liệu lấy thân. Nàng có thể ở nhờ phố Wimpole vì nơi đó đã trở thành nhà của nàng; nhưng nàng thừa hiểu rằng nàng không nên kéo Freddy vào ở nhờ đó, và làm vậy sẽ không tốt cho tính cách của anh.

Không phải là hai gã độc thân ở phố Wimpole phản đối gì. Khi nàng tham khảo ý kiến họ, Higgins từ chối bận tâm về vấn đề nhà ở của nàng khi mà giải pháp lại đơn giản đến thế. Mong muốn của Eliza muốn có Freddy trong nhà cùng nàng dường như chẳng quan trọng gì hơn việc nàng muốn có thêm một món đồ nội thất trong phòng ngủ. Những lời biện hộ về tính cách của Freddy, và nghĩa vụ đạo đức của anh phải tự kiếm sống, đều chẳng lọt vào tai Higgins. Ông phủ nhận việc Freddy có bất cứ tính cách nào, và tuyên bố rằng nếu anh ta cố làm việc gì có ích, sẽ có ai đó có năng lực phải nhọc công sửa lại: một quy trình gây tổn thất ròng cho cộng đồng, và nỗi bất hạnh lớn cho chính Freddy, người mà rõ ràng Tự Nhiên đã định sẵn cho những công việc nhẹ nhàng như làm cho Eliza vui, mà theo Higgins tuyên bố, đó là một công việc hữu ích và đáng trọng hơn nhiều so với việc làm trong khu tài chính. Khi Eliza lại nhắc đến dự định dạy ngữ âm học của mình, Higgins vẫn không giảm bớt chút nào sự phản đối kịch liệt của mình. Ông nói rằng còn phải mười năm nữa nàng mới đủ trình độ để mó tay vào cái đề tài cưng của ông; và vì rõ ràng Đại tá cũng đồng tình với ông, nàng cảm thấy mình không thể chống lại họ trong vấn đề hệ trọng này, và rằng nàng không có quyền, nếu không có sự đồng ý của Higgins, khai thác kiến thức mà ông đã trao cho nàng; vì kiến thức của ông, đối với nàng, dường như cũng là tài sản riêng của ông chẳng khác gì chiếc đồng hồ của ông: Eliza không phải người theo chủ nghĩa cộng sản. Hơn nữa, nàng sùng kính cả hai người một cách gần như mê tín, trọn vẹn và thẳng thắn hơn sau khi kết hôn so với trước đó.

Chính Đại tá cuối cùng đã giải quyết được vấn đề, việc đã khiến ông phải suy tính vất vả không ít. Một hôm ông hỏi Eliza, khá rụt rè, rằng liệu nàng đã hoàn toàn từ bỏ ý định mở một tiệm hoa chưa. Nàng đáp rằng nàng đã từng nghĩ đến, nhưng đã gạt bỏ ý định ấy đi, vì Đại tá đã nói, hôm đó ở nhà bà Higgins, rằng chuyện ấy sẽ chẳng bao giờ ổn thỏa. Đại tá thú nhận rằng khi ông nói vậy, ông vẫn chưa hoàn toàn hồi phục khỏi ấn tượng chói lòa của ngày hôm trước. Tối hôm đó họ đem chuyện này thổ lộ với Higgins. Lời bình duy nhất mà ông ban cho suýt nữa đã dẫn đến một cuộc cãi vã nghiêm trọng với Eliza. Đại ý là nàng sẽ có được ở Freddy một cậu bé chạy việc lý tưởng.

Bản thân Freddy cũng được thăm dò ý kiến tiếp theo về vấn đề này. Anh nói anh cũng đã nghĩ đến việc mở một cửa tiệm; dù trong tình cảnh túng thiếu, ý tưởng ấy hiện ra với anh là một cửa hàng nhỏ mà Eliza sẽ bán thuốc lá ở một quầy trong khi anh bán báo ở quầy đối diện. Nhưng anh đồng ý rằng sẽ vô cùng thú vị nếu mỗi sáng sớm cùng Eliza đến Covent Garden mua hoa, ngay tại nơi họ gặp nhau lần đầu tiên: một cảm xúc đã khiến anh nhận được vô số nụ hôn từ vợ mình. Anh nói thêm rằng anh vẫn luôn sợ đề xuất chuyện như vậy, vì Clara sẽ làm ầm ĩ ghê gớm về một bước đi chắc chắn sẽ hủy hoại cơ hội hôn nhân của cô ấy, còn mẹ anh thì không thể mong bà thích thú gì sau bao nhiêu năm bám víu vào cái nấc thang xã hội mà ở đó việc buôn bán lẻ là điều không thể.

Khó khăn này được gỡ bỏ nhờ một sự kiện hoàn toàn bất ngờ đối với mẹ Freddy. Clara, trong quá trình lấn sân vào những giới nghệ thuật cao nhất mà cô với tới được, phát hiện ra rằng những phẩm chất trò chuyện của cô được kỳ vọng phải bao gồm một nền tảng về các tiểu thuyết của ông H.G. Wells. Cô mượn sách từ khắp nơi một cách hăng hái đến mức chỉ trong hai tháng đã nuốt trọn hết cả. Kết quả là một sự cải đạo thuộc loại khá phổ biến ngày nay. Một cuốn Công vụ Tông đồ hiện đại sẽ chất đầy năm mươi cuốn Kinh Thánh nếu có ai đủ khả năng viết ra nó.

Clara tội nghiệp, người mà trong mắt Higgins và mẹ ông là một kẻ khó ưa và lố bịch, còn trong mắt chính mẹ cô lại là một kiểu thất bại xã hội khó lý giải, chưa bao giờ tự nhìn nhận mình theo cả hai cách ấy; bởi, dù ít nhiều bị chế giễu và nhại lại ở West Kensington như mọi người khác nơi đó, cô vẫn được chấp nhận như một loại người hợp lý và bình thường — hay nên nói là tất yếu? Tệ nhất thì họ gọi cô là Ả Xông Xáo; nhưng đối với họ cũng như đối với chính cô, chưa bao giờ nảy ra ý nghĩ rằng cô đang xông xáo vào khoảng không, và xông xáo theo hướng sai. Dù vậy, cô không hạnh phúc. Cô ngày càng tuyệt vọng. Tài sản duy nhất của cô, việc mẹ cô là cái mà người bán rau ở Epsom gọi là một quý bà có xe ngựa riêng, dường như chẳng có giá trị trao đổi nào cả. Nó đã ngăn cô được học hành tử tế, vì nền giáo dục duy nhất cô có thể kham nổi là học cùng con gái người bán rau ở Earlscourt. Nó đã khiến cô tìm đến giao du với tầng lớp của mẹ mình; và tầng lớp đó đơn giản là không chấp nhận cô, vì cô còn nghèo hơn cả người bán rau, và, còn xa mới đủ khả năng thuê một cô hầu gái, thậm chí không đủ tiền thuê một người giúp việc nhà, phải chật vật xoay xở ở nhà với một người giúp việc chung bị đối xử keo kiệt. Trong hoàn cảnh như thế, chẳng có gì có thể cho cô cái vẻ của một sản phẩm đích thực của Largelady Park. Vậy mà truyền thống của gia đình lại khiến cô coi việc kết hôn với bất cứ ai trong tầm với của mình là một sự sỉ nhục không thể chịu đựng nổi. Những người làm thương mại và những người hành nghề chuyên môn nhỏ đều khiến cô ghê tởm. Cô chạy theo các họa sĩ và tiểu thuyết gia; nhưng cô không quyến rũ được họ; và những nỗ lực liều lĩnh của cô để học đòi và thực hành lối nói chuyện văn nghệ khiến họ khó chịu. Nói ngắn gọn, cô là một thất bại toàn diện, một ả trưởng giả học làm sang dốt nát, bất tài, khoe khoang, không được chào đón, không tiền bạc, vô dụng; và dù cô không thừa nhận những khiếm khuyết ấy (vì chẳng ai đối diện với những sự thật khó chịu kiểu này cho tới khi khả năng có lối thoát hiện ra trước mắt họ) cô vẫn cảm nhận hậu quả của chúng quá rõ ràng để có thể hài lòng với vị thế của mình.

Clara đã có một phen bừng tỉnh sửng sốt khi, đột nhiên được đánh thức lòng say mê bởi một cô gái cùng tuổi khiến cô choáng ngợp và khơi lên trong cô một khát khao sôi nổi muốn lấy cô ấy làm hình mẫu, và giành lấy tình bạn của cô ấy, cô phát hiện ra rằng cái hiện thân tuyệt mỹ ấy đã tốt nghiệp từ xó chợ chỉ trong vài tháng trời. Điều đó làm cô chấn động dữ dội, đến nỗi khi ông H.G. Wells nhấc bổng cô lên bằng ngòi bút uy lực của mình, và đặt cô vào góc nhìn mà từ đó cuộc sống cô đang sống và xã hội cô đang bám víu hiện ra trong mối tương quan thật của chúng với nhu cầu con người thực sự và một cấu trúc xã hội xứng đáng, ông đã tạo ra một cuộc cải đạo và một niềm tin về tội lỗi có thể sánh với những kỳ tích gây chấn động nhất của Tướng Booth hay Gypsy Smith. Thói trưởng giả học làm sang của Clara sụp đổ tan tành. Cuộc sống đột nhiên bắt đầu chuyển động cùng cô. Không biết bằng cách nào hay tại sao, cô bắt đầu kết bạn và gây thù. Một số người quen mà trước kia cô từng là một gánh nặng tẻ nhạt hoặc thờ ơ hoặc lố bịch, đã rời bỏ cô: những người khác lại trở nên thân thiện. Cô kinh ngạc phát hiện ra rằng một số người “khá tử tế” lại thấm đẫm tư tưởng Wells, và rằng sự cởi mở với ý tưởng ấy chính là bí quyết cho sự tử tế của họ. Những người mà cô từng nghĩ là sùng đạo sâu sắc, và từng cố lấy lòng theo hướng đó với kết quả tai hại, đột nhiên tỏ ra quan tâm đến cô, và bộc lộ một sự thù nghịch với tôn giáo truyền thống mà cô chưa bao giờ nghĩ có thể tồn tại ngoại trừ ở những kẻ liều lĩnh nhất. Họ khiến cô đọc Galsworthy; và Galsworthy phơi bày sự phù phiếm của Largelady Park và kết liễu cô. Điều khiến cô tức tối là khi nghĩ rằng cái ngục tối nơi cô đã héo mòn suốt bao năm bất hạnh vẫn luôn được mở khóa sẵn, và rằng những xung động mà cô đã cẩn thận đấu tranh và kìm nén vì lợi ích giữ mối quan hệ tốt với xã hội, lại chính xác là những thứ duy nhất nhờ đó cô mới có thể đạt được bất cứ hình thức tiếp xúc chân thành nào với con người. Trong ánh hào quang của những khám phá này, và trong cơn lốc phản ứng của chúng, cô đã tự biến mình thành trò cười một cách tự do và lộ liễu chẳng kém gì lần cô hấp tấp học theo câu chửi thề của Eliza trong phòng khách bà Higgins; vì kẻ vừa cải đạo theo Wells phải tìm đường đi gần như lố bịch chẳng khác gì một đứa trẻ sơ sinh; nhưng chẳng ai ghét một đứa trẻ sơ sinh vì sự vụng về của nó, hay đánh giá thấp nó vì cố ăn que diêm; và Clara chẳng mất người bạn nào vì những trò dại dột của mình. Lần này người ta cười thẳng vào mặt cô; và cô phải tự vệ, chiến đấu hết sức có thể.

Khi Freddy đến thăm Earlscourt (điều mà anh chưa bao giờ làm nếu có thể tránh được) để thông báo tin buồn thảm rằng anh và Eliza của anh đang tính chuyện làm nhơ nhuốc gia huy Largelady bằng cách mở một cửa tiệm, anh thấy cái gia đình nhỏ đã náo loạn sẵn bởi một thông báo trước đó từ Clara rằng cô cũng sắp đi làm ở một cửa hàng đồ cổ trên phố Dover, do một người bạn cùng theo tư tưởng Wells lập nên. Suy cho cùng, Clara có được vị trí này nhờ cái tài xã giao cũ của cô là biết Xông Xáo. Cô đã quyết tâm rằng, dù có phải trả giá gì, cô cũng sẽ gặp ông Wells bằng xương bằng thịt; và cô đã đạt được mục đích tại một bữa tiệc vườn. Cô gặp may hơn cả những gì một mưu đồ liều lĩnh như thế đáng được hưởng. Ông Wells vượt xa mọi kỳ vọng của cô. Tuổi tác chẳng hề làm ông héo mòn, mà thói quen cũng không thể làm nhạt phai cái vẻ muôn màu vô tận của ông dù chỉ trong nửa giờ đồng hồ. Sự gọn gàng và chỉn chu dễ chịu của ông, đôi bàn tay và bàn chân nhỏ nhắn, bộ óc mẫn tiệp không ngừng tuôn trào, sự dễ gần không màu mè, và một sự nhạy cảm tinh tế nào đó đóng dấu ông là kẻ dễ rung động từ chân tơ trên đỉnh đầu cho tới đầu ngón chân, tất cả tỏ ra không thể cưỡng lại. Clara chẳng nói chuyện gì khác trong hàng tuần liền sau đó. Và vì tình cờ cô có nói chuyện với bà chủ cửa hàng đồ cổ, mà bà này cũng khao khát hơn hết thảy mọi thứ được quen biết ông Wells và bán đồ đẹp cho ông, bà đã đề nghị Clara một công việc, với hy vọng có thể đạt được mục đích ấy thông qua cô.

Và thế là vận may của Eliza vẫn tiếp diễn, và sự phản đối dự kiến đối với tiệm hoa đã tan biến. Cửa tiệm nằm trong dãy hành lang của một ga xe lửa không xa Bảo tàng Victoria và Albert là mấy; và nếu bạn sống ở khu vực đó, bất cứ ngày nào bạn cũng có thể ghé qua đó mua một bông hoa cài áo từ Eliza.

Giờ đây là cơ hội cuối cùng cho chất lãng mạn. Chẳng phải bạn muốn được đảm bảo rằng cửa tiệm đã thành công rực rỡ, nhờ vào sức quyến rũ của Eliza và kinh nghiệm buôn bán thời trẻ của nàng ở Covent Garden hay sao? Than ôi! sự thật vẫn là sự thật: cửa tiệm đã không sinh lời trong một thời gian dài, đơn giản vì Eliza và Freddy của nàng không biết cách quản lý nó. Đúng là Eliza không phải bắt đầu từ con số không: nàng biết tên gọi và giá cả của những loại hoa rẻ tiền hơn; và niềm hân hoan của nàng chẳng có giới hạn khi nàng phát hiện ra rằng Freddy, giống như mọi thanh niên được giáo dục ở những ngôi trường rẻ tiền, phô trương và hoàn toàn kém hiệu quả, biết chút ít tiếng La-tinh. Chỉ chút ít thôi, nhưng đủ để khiến anh hiện lên trong mắt nàng như một Porson hay Bentley, và giúp anh tự tin với danh pháp thực vật học. Đáng tiếc là anh chẳng biết gì khác; còn Eliza, dù có thể đếm tiền lên tới mười tám si-linh hay đại loại thế, và đã có được một sự thông thạo nhất định với ngôn ngữ của Milton nhờ những nỗ lực để đủ tư cách thắng cược của Higgins, lại không thể viết một hóa đơn mà không làm nhục hoàn toàn cửa hiệu. Khả năng của Freddy trình bày bằng tiếng La-tinh rằng Balbus đã xây một bức tường và xứ Gaul bị chia làm ba phần chẳng đem lại cho anh chút hiểu biết nào về sổ sách hay kinh doanh cả: Đại tá Pickering phải giải thích cho anh sổ séc và tài khoản ngân hàng là gì. Và cả hai người đều chẳng dễ dạy bảo chút nào. Freddy hùa theo Eliza trong việc ngoan cố từ chối tin rằng họ có thể tiết kiệm tiền bằng cách thuê một người ghi sổ có chút hiểu biết về nghề. Họ lý luận rằng, làm sao có thể tiết kiệm tiền bằng cách chi thêm tiền khi mà đằng nào cũng chẳng đủ ăn? Nhưng Đại tá, sau khi phải giúp họ cân đối thu chi hết lần này đến lần khác, cuối cùng đã nhẹ nhàng kiên quyết; và Eliza, bị hạ nhục đến tận cùng vì phải cầu xin ông quá nhiều lần, và bị chọc tức bởi tiếng cười giễu cợt ầm ĩ của Higgins, người mà ý tưởng Freddy thành công ở bất cứ việc gì luôn là một trò đùa chẳng bao giờ nhàm, cuối cùng đã thấm thía rằng kinh doanh, cũng như ngữ âm học, đều phải học mới biết được.

Về cảnh tượng đáng thương của đôi vợ chồng trẻ dành các buổi tối học tốc ký ở các trường và lớp bách khoa, học sổ sách và đánh máy cùng những nhân viên văn phòng tập sự, cả nam lẫn nữ, từ các trường tiểu học, tôi xin không nán lại. Thậm chí còn có cả những lớp học ở Trường Kinh tế London, và một lời cầu xin cá nhân khiêm nhường gửi tới giám đốc học viện đó để xin lời khuyên về một khóa học liên quan đến nghề bán hoa. Ông này, vốn là người hài hước, đã giải thích cho họ về phương pháp của bài tiểu luận nổi tiếng kiểu Dickens về Siêu hình học Trung Hoa, của vị quý ông đã đọc một bài về Trung Hoa và một bài về Siêu hình học rồi kết hợp thông tin lại. Ông gợi ý rằng họ nên kết hợp Trường Kinh tế London với Vườn Bách thảo Kew. Eliza, đối với nàng phương pháp của vị quý ông kiểu Dickens dường như hoàn toàn đúng đắn (mà thực tế đúng là vậy) và chẳng có gì buồn cười cả (điều đó chỉ vì sự thiếu hiểu biết của nàng thôi), đã làm theo lời khuyên đó với thái độ hoàn toàn nghiêm túc. Nhưng nỗ lực khiến nàng phải chịu sự sỉ nhục sâu sắc nhất là một lời thỉnh cầu gửi tới Higgins, người mà thú vui nghệ thuật cưng chiều nhất, chỉ sau thơ Milton, là thư pháp, và bản thân ông viết một nét chữ kiểu Ý vô cùng đẹp, rằng ông sẽ dạy nàng viết chữ. Ông tuyên bố rằng nàng bẩm sinh không có khả năng viết nổi một chữ cái xứng đáng với bất cứ từ nào bé nhỏ nhất của Milton; nhưng nàng vẫn kiên trì; và ông lại một lần nữa đột nhiên lao vào nhiệm vụ dạy nàng với sự kết hợp giữa cường độ dữ dội, sự kiên nhẫn tập trung cao độ, và thi thoảng những đợt thuyết giảng hứng thú về vẻ đẹp và sự cao quý, sứ mệnh và định mệnh trang trọng, của chữ viết tay con người. Cuối cùng Eliza đã có được một lối viết chữ vô cùng phi thương mại, một sự nối dài đích thực của vẻ đẹp cá nhân nàng, và tiêu tốn gấp ba lần bất cứ ai khác vào văn phòng phẩm bởi vì những phẩm chất và hình dáng giấy nhất định đã trở nên không thể thiếu đối với nàng. Nàng thậm chí không thể ghi địa chỉ lên một phong bì theo cách thông thường vì nó sẽ làm sai lề trang.

Những ngày học ở trường thương mại của họ là một quãng thời gian nhục nhã và tuyệt vọng đối với đôi vợ chồng trẻ. Họ dường như chẳng học được gì về chuyện mở tiệm hoa cả. Cuối cùng họ từ bỏ vì thấy vô vọng, và giũ sạch bụi của các trường tốc ký, các lớp bách khoa, và Trường Kinh tế London khỏi chân mình mãi mãi. Hơn nữa, việc kinh doanh, bằng một cách bí ẩn nào đó, đã bắt đầu tự vận hành trôi chảy. Chẳng hiểu sao họ đã quên bẵng những phản đối trước đây của mình về việc thuê người khác. Họ đi đến kết luận rằng cách của riêng họ mới là tốt nhất, và rằng họ thực sự có một tài năng đáng nể trong kinh doanh. Đại tá, người đã buộc phải giữ một khoản tiền đủ trong tài khoản vãng lai ở ngân hàng suốt nhiều năm để bù đắp cho khoản thâm hụt của họ, phát hiện ra rằng khoản dự phòng ấy giờ không còn cần thiết nữa: đôi vợ chồng trẻ đang làm ăn phát đạt. Đúng là giữa họ và các đối thủ cạnh tranh trong nghề không có sự công bằng cho lắm. Những kỳ nghỉ cuối tuần ở vùng quê chẳng tốn của họ đồng nào, lại còn giúp họ tiết kiệm được tiền bữa tối Chủ nhật; vì chiếc xe hơi là của Đại tá; còn ông và Higgins thì trả tiền khách sạn. Ông F. Hill, chủ tiệm hoa kiêm hàng rau quả (họ sớm phát hiện ra rằng măng tây kiếm ra tiền; và măng tây dẫn tới các loại rau khác), có một phong thái khiến việc kinh doanh mang dáng dấp sang trọng; còn trong đời sống riêng tư, anh vẫn là ngài Frederick Eynsford Hill. Không phải anh có vẻ khoe khoang gì; chẳng ai ngoài Eliza biết rằng anh từng được rửa tội với tên Frederick Challoner. Còn Eliza thì lại khoe khoang hết mức có thể.

Đó là tất cả. Mọi chuyện đã diễn ra như thế. Thật đáng kinh ngạc khi Eliza vẫn quản lý xen vào việc nội trợ ở phố Wimpole nhiều đến vậy, bất chấp cửa tiệm và gia đình riêng của nàng. Và đáng chú ý là dù nàng chẳng bao giờ cằn nhằn chồng mình, và thật lòng yêu quý Đại tá như thể nàng là cô con gái cưng của ông, nàng vẫn chưa bao giờ bỏ được thói quen cằn nhằn Higgins đã hình thành từ cái đêm định mệnh khi nàng giúp ông thắng cược. Nàng gắt gỏng với ông chỉ vì một cái cớ nhỏ nhặt nhất, hoặc chẳng vì cớ gì cả. Ông không còn dám chọc tức nàng bằng cách tỏ vẻ đầu óc của Freddy thua kém mình một trời một vực nữa. Ông vẫn nổi cơn thịnh nộ, bắt nạt và giễu cợt; nhưng nàng chống trả ông không nương tay đến mức Đại tá thỉnh thoảng phải nhờ nàng tử tế hơn với Higgins; và đó là lời thỉnh cầu duy nhất của ông khiến gương mặt nàng lộ ra vẻ ương ngạnh. Chẳng có gì, ngoại trừ một tình huống khẩn cấp hay một tai họa đủ lớn để phá vỡ mọi sự yêu ghét, và đẩy cả hai người trở về với tính người chung của họ — và cầu mong họ chẳng bao giờ phải trải qua thử thách như thế! — mới có thể thay đổi được điều này. Nàng biết rằng Higgins không cần đến nàng, cũng như cha nàng đã không cần đến nàng. Chính cái sự cẩn trọng mà ông đã dùng khi nói với nàng hôm đó rằng ông đã quen có nàng bên cạnh, và phụ thuộc vào nàng cho đủ thứ việc vặt, và rằng ông sẽ nhớ nàng nếu nàng rời đi (điều mà Freddy hay Đại tá sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến việc nói ra) càng khiến nàng thêm chắc chắn trong lòng rằng nàng “chẳng hơn gì đôi dép kia” đối với ông, thế nhưng nàng cũng cảm nhận được rằng sự thờ ơ của ông còn sâu sắc hơn cả sự si mê của những tâm hồn tầm thường hơn. Nàng quan tâm đến ông vô cùng. Thậm chí nàng còn có những khoảnh khắc tinh nghịch thầm kín khi nàng ước mình có thể đưa ông đi một mình, tới một hòn đảo hoang, xa lánh mọi ràng buộc và chẳng còn ai khác trên đời để phải bận tâm, rồi cứ thế kéo ông xuống khỏi bệ tượng và xem ông tán tỉnh như một gã đàn ông tầm thường bất kỳ. Ai trong chúng ta cũng có những tưởng tượng riêng tư kiểu ấy. Nhưng khi nói đến chuyện làm ăn, đến cuộc sống thực sự nàng đang sống khác với cuộc sống của những giấc mơ và ảo tưởng, nàng thích Freddy và nàng thích Đại tá; còn nàng không thích Higgins và ông Doolittle. Nàng Galatea chẳng bao giờ thực lòng thích chàng Pygmalion của mình: mối quan hệ của chàng với nàng quá mang tính thần thánh để có thể hoàn toàn dễ chịu được.