Quo Vadis — Chương 20
Chương 21 / 75 · Bài review Quo Vadis
Họ đi qua Vicus Patricius, men theo dãy Viminal đến cổng Viminal cũ, gần cánh đồng nơi về sau Diocletian cho dựng những phòng tắm huy hoàng. Họ vượt qua những dấu tích còn lại của bức tường Servius Tullius, rồi xuyên qua những nơi mỗi lúc một vắng vẻ hơn để tới Via Nomentana; ở đó, rẽ sang trái, về phía Via Salaria, họ thấy mình ở giữa những gò đồi đầy hố cát, và đây đó là những nghĩa địa.
Trong khi ấy trời đã tối hẳn, và vì trăng còn chưa lên, hẳn họ đã rất khó tìm đường nếu chính các Kitô hữu không chỉ lối cho họ, đúng như Chilo đã đoán trước.
Quả vậy, bên phải, bên trái, và trước mặt, nổi hiện những bóng người đen sẫm, cẩn trọng lần bước về phía những chỗ trũng đầy cát. Có người mang đèn lồng, nhưng cố hết sức che kín dưới áo choàng; người khác, thuộc đường hơn, cứ thế đi trong bóng tối. Con mắt quân nhân từng luyện rèn của Vinicius nhận ra qua dáng đi những người trẻ khác với những cụ già chống gậy, và khác cả phụ nữ quấn mình kỹ trong những tấm áo choàng dài. Đội tuần lộ trên đường cái, cùng những dân làng rời thành, hẳn đều tưởng những kẻ lang thang đêm ấy là phu làm ở hố cát; hoặc bọn đào huyệt, thỉnh thoảng vẫn cử hành những nghi lễ riêng vào ban đêm. Nhưng càng tiến lên, chàng quý tộc trẻ cùng toán tùy tùng càng thấy thêm nhiều đèn lồng chớp sáng, số người cũng đông dần. Một vài người khe khẽ hát những khúc ca mà Vinicius nghe thấy chan chứa buồn thương. Có lúc, một từ riêng lẻ hay một câu trong bài hát lọt vào tai chàng, chẳng hạn như: “Hỡi kẻ ngủ mê, hãy tỉnh dậy,” hoặc “Hãy từ cõi chết mà đứng lên”; khi khác, danh Christ lại được đàn ông và đàn bà cùng nhắc đi nhắc lại.
Nhưng Vinicius chỉ để ý rất ít đến những lời ấy, vì trong đầu chàng chợt nảy ra ý nghĩ rằng một trong những bóng đen kia có thể là Lygia. Có người đi ngang gần đó cất tiếng: “Bình an ở cùng ngươi!” hoặc “Vinh quang dâng Christ!” nhưng lòng chàng càng thêm xao động, tim bắt đầu đập gấp hơn, vì chàng ngỡ mình nghe thấy giọng Lygia. Trong bóng tối, những dáng hình hay cử động hao hao nàng cứ luôn luôn đánh lừa chàng; mãi đến khi đã nhiều lần nhận ra lầm lẫn, chàng mới bắt đầu ngờ cả chính mắt mình.
Con đường đối với chàng dường như dài dằng dặc. Chàng biết khu vực này rất rõ, thế mà trong bóng tối không sao định được các chỗ quen. Hết lúc này đến lúc khác, họ lại gặp một lối đi hẹp, một quãng tường, hay những quán lều mà chàng không nhớ là ở gần thành. Cuối cùng, vành trăng nhô ra sau một khối mây, soi sáng nơi ấy rõ hơn những ngọn đèn lồng leo lét. Từ xa, một vật gì bắt đầu lập lòe như lửa, hay như ngọn đuốc đang cháy. Vinicius quay sang Chilo.
“Đó có phải Ostrianum không?” chàng hỏi.
Chilo, kẻ mà đêm tối, khoảng cách xa thành phố, cùng những bóng người như ma ấy gây cho một ấn tượng sâu đậm, đáp bằng giọng hơi thiếu vững vàng: “Tôi không biết, thưa ngài; tôi chưa từng đến Ostrianum. Nhưng có lẽ họ cũng có thể ca ngợi Thượng Đế ở một nơi nào gần thành hơn chứ.”
Một lát sau, cảm thấy cần phải trò chuyện và cần tự củng cố can đảm cho mình, hắn nói thêm: “Họ tụ tập như phường sát nhân; vậy mà họ lại không được phép giết ai, trừ phi gã Lygia kia đã lừa tôi một cách trơ trẽn.”
Vinicius, đang nghĩ đến Lygia, cũng lấy làm lạ trước vẻ dè dặt và bí mật mà những người đồng đạo của nàng dùng để tụ họp nghe vị giáo trưởng tối cao của họ; vì thế chàng nói: “Như mọi tôn giáo khác, tôn giáo này cũng có tín đồ ở ngay giữa chúng ta; nhưng các Kitô hữu là một giáo phái Do Thái. Vì sao họ lại tụ họp ở đây, trong khi bên kia sông Tiber có những đền thờ mà người Do Thái ban ngày vẫn mang lễ vật đến?”
“Người Do Thái, thưa ngài, là kẻ thù cay độc nhất của họ. Tôi đã nghe nói rằng trước thời Caesar hiện nay, giữa người Do Thái và các Kitô hữu đã gần như xảy ra chiến tranh. Chính những vụ náo loạn ấy buộc Claudius Caesar phải trục xuất toàn bộ người Do Thái, nhưng hiện nay sắc lệnh đó đã bị bãi bỏ. Tuy nhiên, các Kitô hữu vẫn lẩn tránh người Do Thái, và cả đám dân chúng, những kẻ, như ngài biết đấy, tố cho họ đủ thứ tội ác và căm ghét họ.”
Họ lặng lẽ đi thêm một quãng, cho đến khi Chilo, nỗi sợ càng tăng theo mỗi bước xa cổng thành, cất tiếng: “Lúc từ tiệm Euricius trở về, tôi đã mượn của một anh thợ cạo một bộ tóc giả, rồi nhét hai hạt đậu vào lỗ mũi. Họ không được nhận ra tôi; nhưng nếu có nhận ra, họ cũng sẽ không giết tôi đâu. Họ không độc ác! Họ còn rất lương thiện nữa. Tôi kính trọng và yêu mến họ.”
“Đừng vội mua lòng họ bằng những lời ca ngợi quá sớm,” Vinicius đáp cộc lốc.
Lúc này họ đi vào một chỗ trũng hẹp, hai bên như bị chặn lại bởi hai con hào, ở một đoạn có chiếc cầu dẫn nước bắc qua. Mặt trăng chui ra khỏi đám mây, và ở cuối chỗ trũng ấy họ trông thấy một bức tường rậm đặc dây thường xuân, dưới ánh trăng ánh lên như bạc. Đó là Ostrianum.
Tim Vinicius giờ đây đập mạnh hơn. Ở cổng, hai người thợ mỏ nhận lấy ám hiệu của họ. Chỉ trong chốc lát, Vinicius và đám tùy tùng đã ở trong một khoảng sân khá rộng, bốn bề vây kín bằng tường. Đây đó có những mộ đài riêng lẻ, còn giữa sân là lối xuống chính hypogeum, tức hầm mộ. Ở phần thấp của hầm, dưới lòng đất, là những ngôi mộ; trước cửa vào, một vòi nước đang phun. Nhưng rõ ràng không thể có nhiều người chứa nổi trong hypogeum; vì thế Vinicius dễ dàng đoán ra rằng nghi lễ sẽ diễn ra bên ngoài, trong khoảng sân nơi chẳng bao lâu sau một đám đông rất lớn đã tụ lại.
Xa đến đâu mắt nhìn được, đèn lồng sáng nối đèn lồng, nhưng nhiều người đến đây hoàn toàn không mang đèn. Trừ vài cái đầu để trần, tất cả đều trùm mũ kín, vì sợ kẻ phản bội hoặc vì lạnh; và chàng quý tộc trẻ bỗng lo rằng, nếu họ cứ như thế, chàng sẽ không thể nào nhận ra Lygia trong đám đông ấy và dưới thứ ánh sáng lờ mờ ấy.
Nhưng đột nhiên, gần cửa hầm mộ, người ta châm lửa vào mấy cây đuốc tẩm nhựa rồi chất thành một đống nhỏ. Ánh sáng tăng lên. Một lúc sau, đám đông bắt đầu hát một thánh ca lạ lùng nào đó, lúc đầu khẽ thôi, rồi dần dần lớn hơn. Vinicius chưa từng nghe một thánh ca như thế. Cũng cái niềm khát vọng đã khiến chàng chú ý trong những khúc hát rì rầm của từng người trên đường đến nghĩa địa, giờ đây lại vang lên trong bài ca này, nhưng rõ rệt và mạnh mẽ hơn nhiều; và cuối cùng nó trở nên xuyên thấu, mênh mang như thể cùng với con người, toàn thể nghĩa địa, những ngọn đồi, những hố cát và cả vùng chung quanh cũng bắt đầu cất lên niềm khát vọng ấy. Người ta còn có thể tưởng như trong đó có một tiếng gọi nào giữa đêm, một lời cầu xin khiêm nhường được cứu vớt giữa cảnh phiêu bạt và tối tăm.
Những cặp mắt hướng lên cao dường như trông thấy ai đó ở thật xa trên ấy, và những bàn tay vươn ra như van nài người ấy hạ xuống. Khi bài thánh ca dứt, tiếp theo là một khoảnh khắc như treo lơ lửng, ấn tượng đến nỗi Vinicius và bạn đồng hành vô tình ngước nhìn các vì sao, như e rằng điều gì khác thường sẽ xảy ra, và quả thật có ai đó sẽ từ trên kia ngự xuống với họ.
Vinicius đã từng thấy vô số đền thờ với đủ mọi kiểu kiến trúc ở Tiểu Á, ở Ai Cập, và ngay tại thành Rome; chàng cũng đã biết vô số tôn giáo khác nhau về tính chất, và nghe nhiều bài thánh ca; nhưng ở đây, lần đầu tiên chàng thấy con người dùng thánh ca để kêu cầu thần linh, không phải nhằm cử hành một nghi thức định sẵn, mà là kêu cầu từ đáy lòng, với niềm khát khao chân thật như con trẻ hướng về cha hay mẹ. Phải mù lòa mới không thấy rằng những người ấy không chỉ tôn thờ Thượng Đế của họ, mà còn yêu Ngài bằng trọn linh hồn. Từ trước tới nay, Vinicius chưa từng chứng kiến điều tương tự ở bất cứ xứ nào, trong bất cứ nghi lễ nào, tại bất cứ nơi thờ tự nào; bởi ở Rome và ở Hy Lạp, những ai còn tôn kính các thần thì làm vậy để cầu xin trợ lực cho bản thân hoặc vì sợ hãi; còn ý nghĩ yêu các thần linh ấy thì chưa từng hề nảy ra trong đầu ai.
Dù tâm trí bận bịu vì Lygia và sự chú ý dồn cả vào việc tìm nàng trong đám đông, chàng vẫn không sao không nhận thấy những điều lạ lùng và kỳ diệu đang diễn ra chung quanh. Trong khi ấy, người ta lại ném thêm mấy cây đuốc vào lửa, khiến cả nghĩa địa ngập trong ánh đỏ hồng và làm mờ đi ánh sáng của những chiếc đèn lồng. Ngay lúc đó, một ông già khoác áo choàng có mũ trùm nhưng để đầu trần bước ra từ hypogeum. Ông trèo lên một phiến đá nằm gần đống lửa.
Đám đông chuyển động rì rào trước mặt ông. Những tiếng nói gần chỗ Vinicius thì thầm: “Peter! Peter!” Có người quỳ xuống, có người giơ tay về phía ông. Rồi tiếp theo là một sự im lặng sâu đến mức người ta nghe được từng mẩu than cháy rơi khỏi đuốc, tiếng xe lộc cộc rất xa trên Via Nomentana, và tiếng gió lùa qua mấy cây thông mọc sát nghĩa địa.
Chilo cúi sát về phía Vinicius và thì thầm: “Chính là ông ấy! Môn đệ đứng đầu của Christ, một người đánh cá!”
Ông già giơ tay lên và làm dấu thánh giá ban phúc cho những người có mặt, tất cả tức thì quỳ xuống. Vinicius và đám tùy tùng, không muốn để lộ mình, cũng làm theo người khác. Chàng thanh niên không thể nắm bắt ngay những ấn tượng của mình, vì chàng cảm thấy hình dáng đứng trước mắt vừa bình dị vừa khác thường, mà điều lạ hơn nữa là chính sự khác thường ấy lại toát ra từ vẻ bình dị. Ông già không đội mũ miện trên đầu, không có vòng lá sồi trên thái dương, không cầm cành lá cọ trong tay, không đeo tấm bảng vàng trên ngực, không mặc áo trắng thêu sao; nói tóm lại, ông không mang bất cứ phù hiệu nào thuộc loại mà các tư tế phương Đông, Ai Cập, Hy Lạp hay các flamen La Mã thường mang. Và một lần nữa Vinicius lại bị đánh động bởi chính sự khác biệt mà chàng đã cảm thấy khi nghe các thánh ca Kitô giáo; vì người “đánh cá” kia đối với chàng cũng không giống một vị giáo trưởng tinh thông nghi lễ, mà đúng hơn như một chứng nhân, mộc mạc, cao tuổi và vô cùng đáng kính, từ nơi xa xăm nào đó đến để kể lại một chân lý ông đã thấy, đã chạm tới, đã tin cũng như tin vào chính sự hiện hữu, và ông đã yêu chân lý ấy chính vì ông tin nó. Bởi vậy, trên gương mặt ông có một sức mạnh thuyết phục giống như sức mạnh của chính chân lý. Và Vinicius, kẻ vẫn từng hoài nghi, kẻ không muốn khuất phục trước sức cuốn hút của ông già, rốt cuộc vẫn khuất phục trước một nỗi tò mò sốt nóng muốn biết điều gì sẽ tuôn ra từ đôi môi của người bạn đồng hành của Christus bí ẩn kia, và giáo huấn mà Lygia cùng Pomponia Graecina đang theo là giáo huấn gì.
Trong khi ấy Peter bắt đầu nói, và ngay từ đầu ông đã nói như một người cha dạy dỗ con cái, chỉ bảo chúng phải sống thế nào. Ông răn họ từ bỏ thói quá độ và xa hoa, yêu sự nghèo khó, đời sống thanh sạch và chân thật, nhẫn nại chịu đựng oan trái và bách hại, vâng phục chính quyền và những người được đặt trên mình, đề phòng phản bội, dối trá và vu cáo; sau hết, phải nêu gương cho nhau trong chính cộng đoàn của mình, và cả cho những người ngoại giáo nữa.
Vinicius, đối với chàng điều thiện chỉ là điều gì có thể đem Lygia trở lại cho chàng, còn điều ác là hết thảy những gì đứng thành chướng ngại giữa hai người, đã vừa cảm động vừa phẫn nộ trước một số lời khuyên ấy. Chàng thấy dường như, khi răn dạy phải giữ thanh sạch và chiến đấu với dục vọng, ông già không chỉ dám lên án tình yêu của chàng, mà còn đang kích Lygia chống lại chàng và làm nàng thêm vững lòng khước từ. Chàng hiểu rằng nếu nàng có mặt trong đám đông ấy để nghe những lời đó, và nếu nàng ghi khắc vào tim, thì nàng hẳn phải xem chàng như kẻ thù của giáo huấn kia, như một kẻ bị xua đuổi khỏi nó.
Ý nghĩ ấy khiến chàng bừng bừng tức giận. “Ta vừa nghe thấy điều gì mới mẻ nào đâu?” chàng nghĩ. “Đó là tôn giáo mới ư? Ai mà chẳng biết, ai mà chẳng từng nghe qua. Phái Khuyển Nho rao giảng sự nghèo khó và tiết giảm nhu cầu; Socrates từng dạy đức hạnh như một điều xưa cũ mà tốt lành; bất cứ tay Khắc Kỷ nào gặp ngoài đường, ngay cả kẻ như Seneca, người có đến năm trăm chiếc bàn gỗ chanh, cũng ca ngợi sự tiết độ, răn dạy chân thật, nhẫn nhục trong nghịch cảnh, chịu đựng trong bất hạnh, mọi điều đó đều giống như thứ ngũ cốc cũ mèm bị chuột gặm; nhưng người ta không muốn ăn chỉ vì nó bốc mùi cũ kỹ.”
Ngoài cơn giận, chàng còn cảm thấy thất vọng, vì chàng từng mong sẽ phát hiện ra những bí mật ma thuật chưa ai biết đến, và ít ra cũng nghĩ rằng mình sẽ được nghe một nhà hùng biện làm kinh ngạc bởi tài ăn nói; thế mà chàng chỉ nghe những lời vô cùng giản dị, không chút tô điểm. Điều duy nhất làm chàng ngạc nhiên là sự chăm chú lặng thinh mà đám đông dành cho những lời ấy.
Nhưng ông già cứ tiếp tục nói với những con người đang chìm đắm trong lắng nghe kia, bảo họ hãy hiền lành, nghèo khó, yêu hòa bình, công chính và thanh sạch; không phải để họ được bình an trong đời này, mà để sau cái chết họ được sống đời đời với Christ, trong niềm vui và vinh quang, trong sự khỏe mạnh và hoan lạc mà chưa từng ai trên mặt đất đạt tới vào bất cứ thời nào. Đến đây, Vinicius, dù đã sẵn ác cảm, cũng không thể không nhận thấy rằng vẫn có một sự khác biệt giữa giáo huấn của ông già với giáo huấn của phái Khuyển Nho, Khắc Kỷ và các triết gia khác; vì những người kia dạy điều thiện và đức hạnh như cái hợp lý và là điều duy nhất thiết thực trong đời sống, còn ông thì hứa hẹn sự bất tử, mà không phải thứ bất tử khốn khổ nào đó dưới lòng đất, trong cơ cực, trống rỗng và thiếu thốn, mà là một đời sống huy hoàng, gần như ngang hàng với các thần. Ông lại nói về điều ấy như về một điều hoàn toàn chắc chắn; bởi vậy, trước một niềm tin như thế, đức hạnh bỗng mang một giá trị không sao đo đếm nổi, còn những bất hạnh của cuộc đời này trở nên nhỏ bé khôn cùng. Chịu đau khổ trong một thời gian để đổi lấy hạnh phúc vô tận là một điều tuyệt đối khác với chịu đau khổ chỉ vì đó là trật tự của tự nhiên. Nhưng ông già còn nói thêm rằng phải yêu đức hạnh và chân lý vì chính chúng, vì điều thiện vĩnh cửu tối thượng và đức hạnh có từ trước muôn đời chính là Thượng Đế; vậy nên ai yêu những điều ấy tức là yêu Thượng Đế, và nhờ thế trở thành đứa con được Ngài yêu dấu.
Vinicius không hiểu rõ điều ấy lắm, nhưng trước kia chàng đã biết, qua những lời Pomponia Graecina nói với Petronius, rằng theo niềm tin của các Kitô hữu thì Thượng Đế là duy nhất và toàn năng; bởi thế, giờ nghe nói lại rằng Ngài còn là tất cả điều thiện và tất cả công lý, chàng bất giác nghĩ rằng trước một đấng tạo hóa như vậy, Jupiter, Saturn, Apollo, Juno, Vesta và Venus hẳn chỉ giống như một lũ người ồn ào hão huyền, trong đó ai nấy chen ngang một lượt, mạnh ai nấy làm.
Nhưng điều khiến chàng kinh ngạc hơn cả là khi ông già tuyên bố rằng Thượng Đế cũng chính là tình yêu phổ quát; bởi thế, ai yêu con người là làm trọn mệnh lệnh cao cả nhất của Ngài. Nhưng yêu những người cùng dân tộc mình thôi thì chưa đủ, vì Người-Thượng-Đế đã đổ máu vì tất cả mọi người, và ngay giữa dân ngoại Ngài cũng tìm thấy những kẻ được tuyển chọn như Cornelius viên bách quản; yêu những kẻ làm điều lành cho ta cũng chưa đủ, vì Christ đã tha thứ cho những người Do Thái nộp Ngài cho cái chết, và cho những lính La Mã đóng đinh Ngài trên thập tự; chúng ta không những phải tha thứ mà còn phải yêu cả những kẻ làm hại mình, lấy điều lành đáp lại điều dữ; yêu người lành thôi cũng chưa đủ, chúng ta còn phải yêu cả kẻ dữ, vì chỉ bằng tình yêu mới có thể trục xuất điều ác ra khỏi họ.
Nghe những lời ấy, Chilo nghĩ bụng rằng công việc của hắn đã thành công dã tràng, rằng Ursus đời nào dám giết Glaucus, đêm đó hay bất cứ đêm nào khác. Nhưng lập tức hắn lại tự an ủi bằng một kết luận khác rút ra từ giáo huấn của ông già; ấy là Glaucus cũng sẽ không giết hắn, cho dù có phát hiện và nhận ra hắn đi nữa.
Vinicius không còn nghĩ rằng trong lời lão già ấy chẳng có gì mới lạ nữa; trái lại, chàng kinh ngạc tự hỏi: “Đây là thứ Thượng Đế nào, thứ tôn giáo nào, và đây là những con người nào?” Tất cả những điều chàng vừa nghe không sao chứa nổi trong đầu óc chàng một cách giản dị. Đối với chàng, hết thảy chỉ là một mớ ý tưởng hỗn độn chưa từng nghe thấy. Chàng cảm ra rằng nếu mình muốn, chẳng hạn, đi theo giáo huấn ấy, thì phải chất tất cả tư tưởng, thói quen, tính cách, toàn bộ bản tính của mình từ trước đến giờ lên một giàn lửa, thiêu chúng thành tro bụi, rồi sau đó tự lấp đầy mình bằng một đời sống hoàn toàn khác, một linh hồn hoàn toàn mới. Đối với chàng, học thuyết hay tôn giáo nào truyền cho một người La Mã phải yêu người Parthia, Syria, Hy Lạp, Ai Cập, Gaule và Briton, phải tha thứ cho kẻ thù, lấy điều lành đáp lại điều ác, và còn phải yêu thương họ nữa, quả thật là điên rồ. Nhưng đồng thời chàng vẫn cảm thấy rằng ngay trong cơn điên rồ ấy có một điều gì mạnh mẽ hơn mọi triết thuyết từ trước đến nay. Chàng nghĩ rằng vì điên rồ nên nó không thể thực hành được; nhưng cũng chính vì không thể thực hành được nên nó mang tính thiêng liêng. Trong tâm hồn, chàng khước từ nó; nhưng chàng vẫn thấy mình như đang rời khỏi một cánh đồng đầy hương cam tùng, một thứ hương thơm ngây ngất; một khi con người đã hít phải nó, thì như ở xứ sở của những kẻ ăn hoa sen, về sau sẽ quên hết mọi điều khác và chỉ còn khắc khoải nhớ mong riêng nó.
Chàng thấy dường như trong tôn giáo ấy không có gì là thực tại, nhưng thực tại, khi đứng trước nó, lại nhỏ nhen đến nỗi không đáng để người ta phí thời giờ nghĩ đến. Những khoảng không nào đó, mà từ trước tới nay chàng chưa từng ngờ tới, đang bao bọc lấy chàng, những sự vô biên nào đó, những tầng mây nào đó. Nghĩa địa ấy bắt đầu gây trong chàng ấn tượng vừa là nơi tụ họp của những kẻ điên, vừa là một chốn huyền nhiệm và rùng rợn, nơi, như trên một chiếc giường thần bí, đang diễn ra sự sinh thành của một điều chưa từng có trên đời cho tới lúc ấy. Chàng đem ra trước tâm trí mình tất cả những gì lão già kia, ngay từ giây phút mở lời, đã nói về sự sống, chân lý, tình yêu, Thượng Đế; và tư tưởng chàng choáng váng vì ánh sáng ấy, như mắt người bị lòa đi vì những tia chớp cứ nối nhau không dứt.
Như vẫn thường xảy ra với những người mà đời sống đã co lại thành một niềm đam mê duy nhất, Vinicius nghĩ đến tất cả những điều ấy qua trung gian tình yêu của chàng đối với Lygia; và dưới ánh chớp kia, chàng trông thấy rõ một điều: rằng nếu Lygia đang ở trong nghĩa địa này, nếu nàng tuyên xưng tôn giáo ấy, vâng theo nó và cảm nhận nó, thì nàng không bao giờ, và cũng sẽ không bao giờ, là tình nhân của chàng.
Vậy là lần đầu tiên, kể từ khi quen nàng tại nhà Aulus, Vinicius cảm thấy rằng dẫu giờ đây chàng đã tìm thấy nàng, chàng cũng sẽ không chiếm được nàng. Trước đó chưa từng có điều gì tương tự nảy ra trong đầu chàng, và lúc ấy chàng cũng không sao tự giải thích nổi, bởi đó không hẳn là một sự hiểu biết minh bạch cho bằng một cảm giác mơ hồ về mất mát và bất hạnh không thể cứu vãn. Trong chàng dấy lên một nỗi hoảng hốt, chẳng bao lâu biến thành cơn giận dữ dữ dội đối với các Kitô hữu nói chung và lão già kia nói riêng. Người đánh cá ấy, kẻ mà chỉ mới thoạt nhìn chàng còn tưởng là một lão nông, giờ đây gần như làm chàng sợ hãi, và hiện ra như một quyền lực bí ẩn đang nghiệt ngã quyết định số phận chàng, vì thế mà nhuốm màu bi kịch.
Những người đục đá lại lặng lẽ chất thêm đuốc vào lửa; gió không còn rì rầm trên những ngọn thông nữa; ngọn lửa bốc lên đều đặn, đầu nhọn thanh mảnh hướng về những vì sao đang lấp lánh trên bầu trời trong. Sau khi nhắc đến cái chết của Đấng Kitô, lão già giờ đây chỉ nói riêng về Người. Mọi người đều nín thở, và một sự im lặng buông xuống, còn sâu hơn cả trước đó, đến nỗi gần như có thể nghe thấy tiếng tim đập. Con người ấy đã trông thấy! và ông kể lại như một người mà mọi khoảnh khắc đều đã in hằn trong ký ức đến mức chỉ cần nhắm mắt lại là vẫn còn nhìn thấy. Bởi thế ông kể rằng, sau khi từ chân Thập giá trở về, ông và John đã ngồi suốt hai ngày hai đêm trong phòng ăn, không ngủ, không ăn, trong đau đớn, sầu khổ, nghi nan, kinh hãi, ôm đầu trong hai tay mà nghĩ rằng Người đã chết. Ôi, đau đớn biết bao, đau đớn biết bao! Ngày thứ ba đã rạng, ánh sáng làm trắng các bức tường, mà ông với John vẫn còn ngồi trong phòng, không hy vọng, không an ủi. Nỗi thèm ngủ giày vò họ biết bao (vì đêm trước Cuộc Khổ Nạn họ đã thức trắng)! Rồi họ gượng dậy, lại bắt đầu than khóc. Nhưng mặt trời vừa mới nhú lên thì Mary Magdalene đã thở hổn hển, tóc tai rối bời, lao vào với tiếng kêu: “Người ta đã đem Chúa đi mất rồi!” Nghe vậy, ông và John bật dậy, chạy thẳng tới ngôi mộ. Nhưng John, vì trẻ hơn, đến trước; ông thấy chỗ ấy trống không, song không dám bước vào. Chỉ khi có ba người đứng nơi cửa mộ thì ông, chính người đang nói với họ lúc này, mới bước vào, và thấy trên phiến đá một tấm áo cùng tấm khăn liệm; còn thi hài thì ông không thấy.
Bấy giờ nỗi sợ ập xuống trên họ, vì họ nghĩ rằng các thầy cả đã mang Đấng Kitô đi mất, và cả hai lại trở về nhà trong nỗi đau khổ còn lớn hơn nữa. Sau đó các môn đệ khác kéo đến, lúc thì cùng nhau cất tiếng ai oán để Chúa các đạo binh dễ nghe thấy hơn, lúc thì riêng rẽ, thay nhau than khóc. Hồn vía trong họ như tắt lịm, vì họ từng hy vọng Thầy sẽ cứu chuộc Israel, mà nay đã là ngày thứ ba kể từ khi Người chết; bởi thế họ không hiểu vì sao Cha lại bỏ Con, và họ thà không nhìn ánh sáng ban ngày nữa, thà chết đi còn hơn, gánh nặng ấy nặng nề đến thế.
Ký ức về những giờ phút khủng khiếp ấy đến lúc này vẫn ép từ mắt lão già ra hai giọt lệ, hiện rõ trong ánh lửa, chảy dọc xuống bộ râu bạc. Cái đầu hói, già nua của ông run lên, và tiếng nói nghẹn lại trong ngực.
“Người ấy đang nói sự thật và đang khóc vì điều đó,” Vinicius tự nhủ trong lòng. Nỗi buồn cũng bóp nghẹt cổ họng những người nghe chất phác. Họ đã nghe kể hơn một lần về cuộc Thương Khó của Đấng Kitô, và họ biết rằng sau nỗi buồn là niềm vui; nhưng nay chính một Tông đồ, người đã tận mắt chứng kiến, kể lại điều ấy, nên dưới ấn tượng ấy họ vặn hai tay, nức nở hoặc đấm ngực.
Nhưng dần dần họ trấn tĩnh lại, vì khát vọng được nghe tiếp đã chiếm phần hơn. Lão già nhắm mắt, như để trong tâm hồn mình nhìn rõ hơn những điều xa xăm, rồi nói tiếp: “Khi các môn đệ than khóc như thế, Mary Magdalene lại chạy vào lần thứ hai, kêu lên rằng nàng đã thấy Chúa. Vì không nhận ra Người, nàng tưởng Người là người làm vườn; nhưng Người phán: ‘Mary!’ Nàng kêu lên: ‘Rabboni!’ rồi ngã xuống dưới chân Người. Người truyền cho nàng đi báo tin cho các môn đệ, rồi biến mất. Nhưng họ, tức các môn đệ, đã không tin nàng; và khi nàng khóc vì vui sướng, thì kẻ trách nàng, người cho rằng sầu khổ đã làm tâm trí nàng rối loạn, vì nàng còn nói rằng mình đã thấy các thiên sứ nơi mộ; nhưng họ, khi chạy đến đó lần thứ hai, vẫn thấy ngôi mộ trống không. Mãi đến chiều, Cleopas mới đến; ông cùng một người khác từ Emmaus trở về thật nhanh và nói: ‘Quả thật Chúa đã sống lại!’ Và họ bàn tán với cửa đóng kín, vì sợ người Do Thái. Trong khi ấy, Người đứng giữa họ, tuy cửa không hề phát ra tiếng động nào, và khi họ kinh hãi, Người phán: ‘Bình an cho các ngươi!’”
“Và tôi đã thấy Người, như mọi người đều thấy, và Người tựa như ánh sáng, tựa như niềm hạnh phúc trong tim chúng tôi, vì chúng tôi tin rằng Người đã từ cõi chết sống lại, và rằng biển cả sẽ cạn khô, núi non sẽ hóa bụi, nhưng vinh quang của Người sẽ không qua đi.”
“Tám ngày sau, Thomas Didymus đặt ngón tay mình vào các vết thương của Chúa và chạm vào cạnh sườn Người; bấy giờ Thomas ngã xuống dưới chân Người mà kêu lên: ‘Lạy Chúa tôi và là Thượng Đế của tôi!’ Chúa phán: ‘Vì ngươi đã thấy ta nên ngươi tin; phúc cho những kẻ không thấy mà tin!’ Và chúng tôi đã nghe những lời ấy, và mắt chúng tôi đã nhìn Người, vì Người ở giữa chúng tôi.”
Vinicius lắng nghe, và một điều kỳ diệu xảy ra trong chàng. Trong chốc lát, chàng quên mất mình đang ở đâu; chàng bắt đầu đánh mất cảm thức về thực tại, về chừng mực, về phán đoán. Chàng đang đứng trước hai điều bất khả. Chàng không thể tin những điều lão già kia nói; nhưng chàng lại cảm thấy rằng muốn thừa nhận con người nói “Tôi đã thấy” ấy là dối trá, thì hoặc phải mù lòa, hoặc phải từ bỏ chính lý trí của mình. Có một cái gì đó trong cử chỉ của ông, trong nước mắt của ông, trong toàn bộ dáng hình của ông, và trong cả những chi tiết của các biến cố ông kể, khiến mọi ngờ vực trở nên bất khả. Có những lúc Vinicius tưởng như mình đang mơ. Nhưng quanh chàng, chàng thấy đám đông im lặng; mùi đèn lồng xộc vào mũi; xa xa những ngọn đuốc đang cháy sáng; và trước mặt chàng, trên phiến đá, đứng gần ngôi mộ là một lão nhân đầu hơi run run, vừa làm chứng vừa lặp lại: “Tôi đã thấy!”
Và ông kể cho họ nghe mọi sự cho đến tận cuộc Thăng thiên. Có lúc ông phải dừng lại, vì ông kể hết sức tỉ mỉ; nhưng người ta có thể cảm thấy rằng từng chi tiết nhỏ nhất đều đã ghim chặt vào ký ức ông, như một vật được khắc sâu vào đá. Những người nghe ông đều bị cuốn vào cơn xuất thần. Họ hất mũ trùm ra sau để nghe rõ hơn, để khỏi mất một lời nào trong những lời đối với họ quý hơn mọi thứ báu vật. Họ ngỡ như một quyền lực siêu phàm nào đó đã đưa họ tới Galilee; rằng họ đang cùng các môn đệ đi qua những lùm cây ấy và trên những mặt nước ấy; rằng nghĩa địa đã hóa thành hồ Tiberias; rằng trên bờ, giữa làn sương mai, Đấng Kitô đang đứng, đúng như Người đã đứng khi John, từ trên thuyền nhìn ra, nói: ‘Chính là Chúa,’ còn Peter thì lao mình xuống nước để bơi vào, hầu được ngã xuống mau hơn dưới đôi chân dấu yêu. Trên gương mặt những người hiện diện lộ rõ một niềm nhiệt thành vô bờ, sự quên lãng cuộc đời, hạnh phúc và tình yêu vô lượng. Hiển nhiên là trong suốt câu chuyện dài của Peter, một số người trong họ đã thấy những thị kiến. Khi ông bắt đầu kể rằng vào lúc Thăng thiên, mây tụ lại dưới chân Đấng Cứu Thế, phủ lấy Người và khuất Người khỏi mắt các Tông đồ, thì mọi cái đầu đều vô thức ngẩng lên trời, và tiếp đó là một khoảnh khắc như chờ đợi, như thể những người ấy hy vọng được thấy Người, hoặc hy vọng Người sẽ lại từ những cõi trời cao hạ xuống, để xem lão Tông đồ đang chăn dắt đoàn chiên được trao phó cho mình ra sao, và chúc lành cho cả đoàn chiên lẫn ông.
Đối với những con người ấy, Rome không còn tồn tại, con người tên Caesar kia cũng không; không có những đền thờ các thần ngoại giáo; chỉ có Đấng Kitô, Đấng lấp đầy đất liền, biển cả, trời cao và thế gian.
Tại những ngôi nhà rải rác đây đó dọc theo Via Nomentana, gà trống bắt đầu gáy, báo hiệu nửa đêm. Đúng lúc ấy Chilo kéo góc áo choàng của Vinicius và thì thầm: “Thưa ngài, tôi thấy Urban ở đằng kia, không xa lão già, và đi với hắn có một thiếu nữ.”
Vinicius rùng mình như vừa tỉnh khỏi một giấc mộng, rồi quay nhìn theo hướng người Hy Lạp chỉ, và chàng trông thấy Lygia.