Quo Vadis — Chương 27

Chương 28 / 75 · Bài review Quo Vadis

Từ khoảnh khắc ấy, Lygia ít ra gian phòng chung hơn và cũng ít lại gần giường chàng hơn. Nhưng sự yên ổn không trở lại với nàng. Nàng thấy Vinicius dõi theo mình bằng ánh mắt khẩn cầu; thấy chàng chờ từng lời nàng nói như chờ một ân huệ; thấy chàng đau khổ mà không dám than van, sợ rằng sẽ đẩy nàng xa khỏi mình; thấy chỉ riêng nàng là sức khỏe và niềm vui của chàng. Và rồi tim nàng dâng lên niềm thương xót. Chẳng bao lâu nàng còn nhận ra rằng nàng càng cố tránh chàng bao nhiêu thì lại càng thương chàng bấy nhiêu; và chính vì thế, những tình cảm nảy nở trong nàng càng dịu dàng hơn. Bình an lìa bỏ nàng. Có lúc nàng tự nhủ rằng ở bên chàng luôn luôn là bổn phận riêng của mình, trước hết vì đạo Chúa dạy lấy ơn đáp oán; sau nữa vì nhờ chuyện trò với chàng, biết đâu nàng có thể dẫn chàng đến với đức tin. Nhưng đồng thời lương tâm lại bảo nàng rằng nàng đang tự cám dỗ chính mình; rằng chẳng có gì khác ngoài tình yêu dành cho chàng và sức quyến rũ chàng tỏa ra đang lôi cuốn nàng. Thế là nàng sống trong một cuộc giằng co không ngơi nghỉ, ngày một gay gắt hơn. Có khi nàng thấy như có một thứ lưới nào đó đang vây lấy mình, và càng cố vùng ra thì nàng lại càng rối mắc sâu hơn. Nàng cũng phải thú nhận rằng đối với mình, được nhìn thấy chàng đang trở nên cần thiết hơn, giọng nói của chàng đang trở nên thân thiết hơn, và nàng phải đem hết sức lực ra chống lại ước muốn ngồi bên giường bệnh của chàng. Mỗi khi nàng đến gần, và chàng bừng sáng lên, lòng nàng lại tràn ngập vui sướng. Có một hôm nàng nhận thấy dấu vết nước mắt trên mi mắt chàng, và lần đầu tiên trong đời, nàng nảy ra ý nghĩ lau khô chúng bằng những nụ hôn. Kinh hãi vì ý nghĩ ấy, và đầy khinh miệt chính mình, nàng khóc suốt đêm hôm đó.

Chàng nhẫn nại như thể đã khấn một lời nguyện kiên nhẫn vậy. Khi đôi lúc mắt chàng lóe lên vẻ bẳn gắt, bướng bỉnh và giận dữ, chàng lập tức ghìm những tia lóe ấy lại và nhìn nàng với vẻ hốt hoảng, như van xin được tha thứ. Điều ấy lại càng tác động đến nàng hơn. Chưa bao giờ nàng cảm thấy mình được yêu sâu đậm đến thế như lúc ấy; và mỗi khi nghĩ đến điều đó, nàng vừa thấy có lỗi vừa thấy hạnh phúc. Vinicius cũng đã đổi khác về căn bản. Trong những cuộc trò chuyện với Glaucus, chàng bớt kiêu hãnh hơn. Chàng thường nghĩ rằng ngay cả viên nô lệ thầy thuốc nghèo ấy và người đàn bà ngoại tộc nọ, bà Miriam già, những người đang tận tình săn sóc chàng, cùng Crispus, người mà chàng vẫn thấy chìm trong lời cầu nguyện không dứt, thì dẫu sao cũng vẫn là con người. Chàng ngạc nhiên trước những ý nghĩ như thế, nhưng chàng vẫn có chúng. Ít lâu sau, chàng đâm có thiện cảm với Ursus, cùng người ấy chàng chuyện trò suốt ngày; bởi với Ursus chàng có thể nói về Lygia. Về phần mình, người khổng lồ ấy kể chuyện không biết chán, và trong khi làm những việc săn sóc giản dị nhất cho người bệnh, anh ta cũng bắt đầu tỏ ra có phần gắn bó với chàng. Với Vinicius, Lygia từ trước đến nay vẫn luôn là một tạo vật thuộc một trật tự khác, cao hơn tất cả những kẻ chung quanh nàng đến trăm lần; tuy vậy, chàng bắt đầu để mắt đến những con người chất phác và nghèo khó, điều mà trước kia chàng chưa từng làm, và chàng khám phá nơi họ nhiều nét tính cách mà chàng chưa từng ngờ là có.

Tuy nhiên, Nazarius thì chàng không sao chịu nổi, vì chàng thấy dường như cậu thiếu niên ấy đã dám phải lòng Lygia. Đúng là chàng đã kìm nén ác cảm ấy trong một thời gian dài; nhưng một lần, khi cậu đem đến cho nàng hai con chim cút mua ở chợ bằng chính số tiền cậu tự kiếm được, dòng máu Quirites bỗng cất tiếng trong Vinicius, đối với chàng, một kẻ lạc đến từ giống dân xa lạ còn kém giá trị hơn con sâu hèn mọn nhất. Nghe Lygia cảm ơn cậu, chàng tái nhợt đi khủng khiếp; và khi Nazarius đi ra lấy nước cho chim, chàng nói: “Lygia, nàng có thể chịu được chuyện hắn tặng quà cho nàng sao? Nàng không biết người Hy Lạp gọi hạng người dân tộc hắn là những con chó Do Thái ư?”

“Em không biết người Hy Lạp gọi họ là gì; nhưng em biết Nazarius là một người Kitô hữu và là anh em của em.”

Nói xong câu ấy, nàng nhìn Vinicius với vẻ ngạc nhiên và nuối tiếc, vì chàng đã khiến nàng không còn quen với những cơn bộc phát tương tự; còn chàng thì nghiến răng để khỏi nói với nàng rằng chàng hẳn đã ra lệnh đánh người anh em như thế bằng gậy, hoặc tống hắn đi làm compeditus [một người lao động với chân bị xiềng] đào đất trong những vườn nho xứ Sicilia của chàng. Tuy vậy, chàng vẫn tự ghìm mình, bóp nghẹt cơn giận trong lòng, và chỉ một lát sau mới nói: “Xin tha lỗi cho anh, Lygia. Với anh, em là con gái một vị vua và là con nuôi của Plautius.” Chàng còn thắng được bản thân đến mức khi Nazarius trở lại phòng, chàng hứa rằng, lúc về biệt thự của mình, chàng sẽ tặng cậu một đôi công hoặc hồng hạc, thứ mà khu vườn nhà chàng có đầy.

Lygia hiểu những chiến thắng như thế trước chính mình hẳn đã khiến chàng phải trả giá biết bao; nhưng chàng càng thường xuyên giành được chúng, trái tim nàng càng nghiêng về phía chàng. Tuy nhiên, công lao của chàng đối với Nazarius không lớn như nàng tưởng. Vinicius có thể nổi giận trong khoảnh khắc, nhưng chàng không thể ghen với cậu ta. Thật ra, trong mắt chàng, con trai của Miriam cũng chẳng hơn một con chó là mấy; hơn nữa, cậu vẫn còn là một đứa trẻ, mà nếu có yêu Lygia thì cũng yêu một cách vô thức và nô lệ. Những cuộc đấu tranh lớn hơn nhiều là điều viên tribune trẻ tuổi phải trải qua để chịu khuất phục, dù chỉ trong im lặng, trước niềm tôn kính mà giữa những con người ấy người ta dành cho danh Christ và tôn giáo của Ngài. Về phương diện này, những điều kỳ lạ đã diễn ra trong Vinicius. Dù sao đi nữa, đó là một tôn giáo mà Lygia tin; vậy nên chỉ riêng lý do ấy thôi cũng đủ để chàng sẵn lòng đón nhận nó. Về sau, sức khỏe chàng càng hồi phục, chàng càng nhớ lại trọn chuỗi sự kiện đã xảy ra kể từ đêm ở Ostrianum, và trọn chuỗi ý nghĩ đã nảy ra trong đầu mình từ khi ấy, thì chàng càng kinh ngạc trước sức mạnh siêu phàm của tôn giáo ấy, thứ đã biến đổi tận nền móng linh hồn con người. Chàng hiểu rằng trong đó có điều gì đó phi thường, điều gì đó trước nay chưa từng có trên mặt đất, và chàng cảm thấy rằng nếu nó có thể bao trùm cả thế giới, nếu nó có thể ghép vào thế giới tình yêu và lòng bác ái của nó, thì sẽ có một thời đại gợi nhớ đến thời không phải Jupiter mà là Saturn từng trị vì. Chàng không dám nghi ngờ nguồn gốc siêu nhiên của Christ, cũng không dám nghi ngờ sự phục sinh của Ngài hay những phép lạ khác. Những nhân chứng tận mắt nói về các điều ấy đều đáng tin cậy quá, và họ khinh bỉ sự giả dối quá, khiến chàng không thể cho rằng họ đang kể những điều chưa từng xảy ra. Sau hết, tính hoài nghi của người La Mã cho phép người ta không tin vào các thần, nhưng lại tin vào phép lạ. Bởi vậy Vinicius đứng trước một thứ bí ẩn kỳ diệu mà chàng không sao giải nổi. Mặt khác, tôn giáo ấy lại hiện ra trước mắt chàng như đối nghịch với trật tự hiện hữu, không thể thực hành, và điên rồ hơn mọi sự điên rồ khác. Theo chàng, người ta ở Rome và trên khắp thế gian có thể xấu xa, nhưng trật tự của sự vật thì lành mạnh. Chẳng hạn, giá như Caesar là một con người lương thiện, giá như Viện nguyên lão không gồm những kẻ trụy lạc tầm thường mà là những người như Thrasea, thì còn có thể mong muốn gì hơn nữa? Phải, hòa bình và quyền bá chủ của La Mã là điều tốt đẹp; sự phân biệt giữa người với người là chính đáng và hợp lẽ. Nhưng tôn giáo ấy, theo cách Vinicius hiểu, sẽ phá hủy mọi trật tự, mọi quyền bá chủ, mọi phân biệt. Thế thì quyền thống trị và địa vị chủ nhân của Rome sẽ ra sao? Người La Mã có thể thôi cai trị chăng, hoặc có thể nhìn cả một bầy dân tộc bị chinh phục như bình đẳng với mình chăng? Đó là một ý nghĩ không thể tìm được chỗ đứng trong đầu một quý tộc La Mã. Còn xét riêng với bản thân chàng, tôn giáo ấy đối nghịch với mọi quan niệm và thói quen của chàng, với toàn thể tính cách và cách hiểu đời sống của chàng. Chàng đơn giản không thể hình dung nổi mình sẽ tồn tại thế nào nếu chấp nhận nó. Chàng vừa sợ vừa khâm phục nó; nhưng còn chuyện đón nhận nó, thì bản tính chàng rùng mình trước điều ấy. Sau cùng chàng hiểu rằng không gì khác ngoài tôn giáo ấy đang ngăn cách chàng với Lygia; và mỗi khi nghĩ đến điều đó, chàng căm ghét nó bằng tất cả sức lực của linh hồn mình.

Dẫu vậy, chàng vẫn tự thừa nhận với mình rằng chính nó đã điểm tô cho Lygia vẻ đẹp đặc biệt, không sao cắt nghĩa nổi ấy, thứ trong tim chàng đã khơi dậy, ngoài tình yêu, còn có lòng kính trọng, ngoài ham muốn, còn có sự tôn thờ, và đã biến chính Lygia ấy thành một con người đối với chàng thân yêu hơn hết thảy mọi người trên đời. Và rồi chàng lại muốn yêu Christ một lần nữa. Chàng hiểu rõ rằng mình hoặc phải yêu Ngài, hoặc phải ghét Ngài; chàng không thể dửng dưng. Trong khi ấy, hai luồng đối nghịch như đang lôi kéo chàng; chàng do dự trong ý nghĩ, trong cảm xúc; chàng không biết phải chọn thế nào, nhưng vẫn cúi đầu trước vị Thượng Đế chàng không sao hiểu nổi ấy, và âm thầm dâng lòng tôn kính chỉ vì một lẽ duy nhất: Ngài là Thượng Đế của Lygia.

Lygia nhìn thấy những gì đang diễn ra trong chàng; nàng thấy chàng đang bẻ gãy chính mình ra sao, thấy bản tính chàng khước từ tôn giáo ấy thế nào; và tuy điều ấy làm nàng đau đớn đến chết đi được, thì lòng trắc ẩn, niềm thương hại và lòng biết ơn đối với sự tôn kính thầm lặng chàng dành cho Christ vẫn khiến trái tim nàng nghiêng về phía chàng bằng một sức mạnh không gì cưỡng nổi. Nàng nhớ đến Pomponia Graecina và Aulus. Đối với Pomponia, nguồn cơn của nỗi buồn triền miên và những giọt lệ không bao giờ khô chính là ý nghĩ rằng bên kia nấm mồ bà sẽ không gặp lại Aulus. Giờ đây Lygia bắt đầu hiểu rõ hơn nỗi đau, vị đắng ấy. Nàng cũng đã tìm thấy một con người thân yêu với mình, và nàng đang bị đe dọa bởi sự chia lìa vĩnh viễn với người thân yêu ấy.

Đúng là đôi khi nàng còn tự dối mình, nghĩ rằng linh hồn chàng rồi sẽ mở ra trước giáo huấn của Christ; nhưng những ảo tưởng ấy không thể kéo dài. Nàng biết và hiểu chàng quá rõ. Vinicius mà là người Kitô hữu ư! Hai ý niệm ấy không thể cùng tồn tại trong đầu óc còn non nớt của nàng. Nếu ngay cả Aulus, người đàn ông từng trải và thận trọng, cũng không trở thành người Kitô hữu dưới ảnh hưởng của Pomponia khôn ngoan và hoàn thiện, thì làm sao Vinicius có thể trở thành một người như thế? Không có lời đáp cho điều ấy, hay đúng hơn chỉ có một lời đáp thôi: rằng đối với chàng không có hy vọng, cũng không có cứu rỗi.

Nhưng Lygia kinh hãi nhận ra rằng bản án kết tội treo lơ lửng trên đầu chàng ấy, thay vì khiến chàng trở nên đáng ghét, lại càng làm chàng thêm thân yêu đối với nàng, chỉ bởi lòng thương xót. Có những lúc nàng bị thôi thúc muốn nói với chàng về tương lai tăm tối của chàng; nhưng một lần, khi nàng ngồi bên chàng và nói rằng ngoài chân lý Kitô giáo ra thì không có sự sống, chàng, lúc ấy đã khỏe hơn, chống mình trên cánh tay lành và đột ngột đặt đầu lên đầu gối nàng. “Em là sự sống!” chàng nói. Ngay khoảnh khắc ấy, nàng nghẹt thở trong lồng ngực, mất hẳn sự tỉnh táo, và một cơn run rẩy ngất ngây chạy khắp người nàng từ đầu đến chân. Nắm lấy hai bên thái dương chàng bằng tay mình, nàng cố nâng chàng lên, nhưng trong lúc đó lại cúi xuống đến nỗi môi nàng chạm vào tóc chàng; và trong một lát cả hai đều bị chế ngự bởi niềm hoan lạc, bởi chính bản thân mình, và bởi tình yêu đang thúc đẩy họ đến gần nhau.

Cuối cùng Lygia đứng bật dậy và chạy đi, lửa cháy trong huyết quản và cơn choáng váng trong đầu; nhưng đó là giọt nước làm tràn chiếc cốc vốn đã đầy đến miệng. Vinicius không đoán ra mình sẽ phải trả giá đắt đến nhường nào cho khoảnh khắc hạnh phúc ấy, nhưng Lygia hiểu rằng giờ đây chính nàng cũng cần được cứu vớt. Đêm sau buổi tối đó, nàng thức trắng, trong nước mắt và lời cầu nguyện, với cảm giác rằng mình không xứng đáng để cầu nguyện và sẽ không được đoái nghe. Sáng hôm sau nàng rời cubiculum từ sớm, rồi gọi Crispus ra ngôi nhà nghỉ trong vườn phủ dây thường xuân và những dây nho héo úa, mở hết tâm hồn mình với ông, đồng thời van xin ông cho nàng rời khỏi nhà Miriam, vì nàng không thể tin cậy bản thân mình lâu hơn nữa và không thể vượt thắng tình yêu của trái tim mình dành cho Vinicius.

Crispus, một ông già khắc nghiệt và đắm chìm trong lòng nhiệt thành không dứt, đồng ý với dự định rời khỏi nhà Miriam, nhưng không có lấy một lời tha thứ nào cho thứ tình yêu mà theo ông là tội lỗi ấy. Trái tim ông sôi lên phẫn nộ ngay từ ý nghĩ rằng Lygia, người mà ông đã gìn giữ từ thuở nàng chạy trốn, người mà ông đã yêu thương, đã củng cố trong đức tin, và giờ đây ông vẫn nhìn như một đóa huệ trắng mọc lên trên cánh đồng giáo huấn Kitô giáo mà không vướng chút hơi thở trần tục nào, lại có thể dành một chỗ trong tâm hồn mình cho thứ tình yêu khác ngoài tình yêu thiên thượng. Cho đến lúc ấy ông vẫn tin rằng trên đời này không nơi nào có một trái tim tận hiến trong sạch hơn cho vinh quang của Christ. Ông muốn dâng nàng lên Ngài như một viên ngọc, một báu vật, tác phẩm quý giá do chính tay ông tạo nên; vì thế nỗi thất vọng ông cảm thấy đã lấp đầy ông bằng buồn đau và kinh ngạc.

“Hãy đi cầu xin Thượng Đế tha thứ lỗi lầm của con,” ông ảm đạm nói. “Hãy trốn chạy trước khi tà linh đã quấn lấy con đưa con đến chỗ sa ngã hoàn toàn, và trước khi con chống lại Đấng Cứu Thế. Thượng Đế đã chết trên thập giá để chuộc linh hồn con bằng máu Ngài, còn con lại thích yêu kẻ muốn biến con thành tỳ thiếp của nó hơn. Thượng Đế đã cứu con bằng một phép lạ do chính tay Ngài làm nên, còn con lại mở lòng mình cho dục vọng ô uế và đem lòng yêu đứa con của bóng tối. Hắn là ai? Là bạn hữu và tay sai của Antichrist, đồng lõa với hắn trong tội ác và trụy lạc. Hắn sẽ dẫn con đi đâu, nếu không phải xuống vực thẳm và vào cái Sodom mà chính hắn đang sống trong đó, nhưng Thượng Đế sẽ hủy diệt bằng ngọn lửa giận dữ của Ngài? Nhưng ta nói cho con biết, thà con đã chết đi, thà những bức tường nhà này sụp lên đầu con trước khi con rắn ấy bò vào ngực con và làm nhớp nó bằng nọc độc của sự gian ác.”

Và ông càng lúc càng bị cuốn đi, vì lỗi lầm của Lygia không chỉ làm ông nổi giận mà còn khiến ông ghê tởm và khinh miệt bản tính con người nói chung, đặc biệt là đàn bà, những kẻ mà ngay cả chân lý Kitô giáo cũng không cứu nổi khỏi sự yếu đuối của Eve. Với ông, việc cô gái vẫn giữ mình trong sạch, việc nàng muốn trốn chạy khỏi tình yêu ấy, việc nàng đã thú nhận nó với lòng đau đớn và ăn năn, tất cả đều chẳng nghĩa lý gì. Crispus từng muốn biến nàng thành một thiên thần, nâng nàng lên những đỉnh cao chỉ có tình yêu dành cho Christ mà thôi, thế mà nàng lại đem lòng yêu một Augustian. Chỉ riêng ý nghĩ ấy đã làm tim ông tràn ngập kinh hãi, càng thêm dữ dội bởi cảm giác vỡ mộng và thất vọng. Không, không, ông không thể tha thứ cho nàng. Những lời ghê sợ bỏng rát môi ông như than hồng; ông vẫn còn vật lộn với mình để khỏi thốt chúng ra, nhưng đôi tay gầy guộc của ông vẫn run lên trên đầu cô gái đang kinh hãi. Lygia cảm thấy mình có lỗi, nhưng không đến mức ấy. Nàng từng cho rằng ngay cả việc rời khỏi nhà Miriam cũng sẽ là chiến thắng của nàng trước cám dỗ, và sẽ làm nhẹ bớt lỗi lầm của nàng. Crispus đã vùi dập nàng xuống bụi đất; ông phơi bày trước mắt nàng tất cả sự khốn cùng và nhỏ nhoi của tâm hồn nàng, điều mà trước đây nàng chưa từng ngờ tới. Nàng từng nghĩ rằng ông lão presbyter, người từ khi nàng trốn khỏi Palatine đã như một người cha đối với nàng, sẽ tỏ chút thương xót, an ủi nàng, cho nàng can đảm và nâng đỡ nàng.

“Ta dâng nỗi đau và sự thất vọng của ta lên Thượng Đế,” ông nói, “nhưng con cũng đã lừa dối cả Đấng Cứu Thế, vì con đã bước như thể vào một vũng lầy đã đầu độc linh hồn con bằng chướng khí của nó. Con đã có thể dâng linh hồn ấy lên Christ như một chiếc bình quý giá và thưa với Ngài: ‘Lạy Chúa, xin đổ đầy ân sủng vào đó!’ nhưng con lại thích dâng nó cho kẻ tôi tớ của ác thần. Cầu xin Thượng Đế tha thứ cho con và xót thương con; vì chừng nào con chưa quẳng con rắn ấy ra khỏi mình, ta, kẻ từng xem con là người được chọn...”

Nhưng ông đột ngột ngừng lời, vì ông thấy họ không chỉ có một mình. Qua những dây nho héo úa và lớp thường xuân xanh tốt cả mùa đông lẫn mùa hạ, ông nhìn thấy hai người đàn ông, một trong số đó là Tông đồ Peter. Người kia ông không nhận ra ngay được, vì một chiếc áo choàng bằng thứ len thô gọi là cilicium che khuất một phần khuôn mặt. Trong một thoáng Crispus tưởng đó là Chilo.

Nghe tiếng Crispus nói lớn, họ bước vào nhà nghỉ và ngồi xuống một băng ghế đá. Người bạn đồng hành của Peter có khuôn mặt gầy guộc; cái đầu đang hói dần của ông hai bên phủ tóc quăn; mi mắt đỏ lên và chiếc mũi khoằm; trên khuôn mặt xấu xí mà đồng thời đầy cảm hứng ấy, Crispus nhận ra những nét của Paul xứ Tarsus.

Lygia quỳ sụp xuống, ôm lấy chân Peter như trong cơn tuyệt vọng, rồi nép cái đầu đau đớn của mình vào nếp áo choàng của ông và cứ thế im lặng.

“Bình an cho linh hồn các con!” Peter nói.

Rồi thấy đứa con gái đang ở dưới chân mình, ông hỏi đã xảy ra chuyện gì. Bấy giờ Crispus bắt đầu kể lại mọi điều Lygia đã thú nhận với ông, mối tình tội lỗi của nàng, ý muốn rời khỏi nhà Miriam, và nỗi đau của ông rằng một linh hồn mà ông từng nghĩ sẽ dâng lên Christ trong trắng như giọt lệ nay đã làm nhơ bẩn chính mình bằng những tình cảm trần thế dành cho một kẻ chia phần trong tất cả những tội ác mà thế giới ngoại giáo đã sa xuống, và những tội ấy đang kêu gọi cơn báo oán của Thượng Đế.

Trong suốt lúc ông nói, Lygia càng lúc càng ghì chặt lấy chân vị Tông đồ hơn, như thể muốn tìm nơi nương náu ở đó và van xin lấy dù chỉ một chút thương xót.

Nhưng vị Tông đồ, sau khi nghe đến hết, cúi xuống đặt bàn tay già nua lên đầu nàng; rồi ngước mắt nhìn vị trưởng lão già và nói: “Crispus, ông chưa từng nghe rằng Thầy chí ái của chúng ta đã ở Cana, trong một tiệc cưới, và đã chúc phúc cho tình yêu giữa người nam và người nữ sao?”

Hai tay Crispus buông thõng xuống, và ông nhìn người nói với vẻ kinh ngạc, không còn sức thốt ra lấy một lời. Sau một lát im lặng, Peter lại hỏi: “Crispus, ông có nghĩ rằng Đấng Kitô, Đấng đã cho phép Mary thành Magdala phủ phục dưới chân mình, và đã tha thứ cho người đàn bà tội lỗi, lại sẽ quay mặt khỏi thiếu nữ này, người trong trắng như đóa huệ ngoài đồng chăng?”

Lygia càng nép sát hơn vào chân Peter, nức nở, hiểu rằng nàng đã không tìm nơi nương náu một cách uổng công. Vị Tông đồ nâng gương mặt đẫm lệ của nàng lên và nói với nàng: “Khi mắt của người con yêu còn chưa mở ra trước ánh sáng chân lý, hãy tránh xa chàng, kẻo chàng lôi con vào tội lỗi; nhưng hãy cầu nguyện cho chàng, và hãy biết rằng trong tình yêu của con không có tội. Và bởi ý nguyện của con là tránh cơn cám dỗ, điều ấy sẽ được kể cho con như một công đức. Đừng đau khổ, cũng đừng khóc nữa; vì ta nói với con rằng ân sủng của Đấng Cứu Chuộc chưa lìa bỏ con, và những lời cầu nguyện của con sẽ được nhậm; sau buồn đau sẽ đến những ngày hoan lạc.”

Nói xong, ông đặt cả hai tay lên đầu nàng, rồi ngước mắt lên mà ban phúc lành cho nàng. Trên gương mặt ông rạng chiếu một niềm nhân hậu vượt quá mọi sự thuộc về cõi đất.

Crispus, lòng đầy ăn năn, bắt đầu khiêm nhường thanh minh: “Tôi đã phạm tội chống lại lòng thương xót,” ông nói, “nhưng tôi đã nghĩ rằng khi để một mối tình trần thế bước vào tim mình, nàng đã chối bỏ Đấng Kitô.”

“Ta đã chối Người đến ba lần,” Peter đáp, “vậy mà Người vẫn tha thứ cho ta, và truyền cho ta chăn dắt đàn chiên của Người.”

“Và còn vì,” Crispus kết lại, “Vinicius là một Augustian.”

“Đấng Kitô đã làm mềm những trái tim còn cứng rắn hơn tim người ấy,” Peter đáp.

Bấy giờ Paul thành Tarsus, từ nãy vẫn im lặng, đặt ngón tay lên ngực mình, trỏ vào chính mình, rồi nói: “Ta chính là kẻ đã bách hại và xô đẩy các tôi tớ của Đấng Kitô đến chỗ chết; ta chính là kẻ, trong lúc Stephen bị ném đá, đã giữ áo cho những kẻ ném đá ông; ta chính là kẻ muốn nhổ tận gốc chân lý trên khắp mọi miền có người ở, thế mà Chúa lại tiền định cho ta đi rao giảng chân lý ấy ở mọi xứ sở. Ta đã rao giảng tại Judea, tại Hy Lạp, trên các hải đảo, và trong chính thành phố vô đạo này, nơi thoạt đầu ta cư ngụ như một tù nhân. Và nay, khi Peter, bề trên của ta, đã gọi ta đến, thì ta bước vào ngôi nhà này để uốn cái đầu kiêu hãnh kia xuống dưới chân Đấng Kitô, và gieo một hạt giống vào thửa ruộng sỏi đá ấy, thửa ruộng mà Chúa sẽ làm cho phì nhiêu, để nó sinh ra một mùa gặt dồi dào.”

Nói rồi ông đứng dậy. Trong mắt Crispus, người gù nhỏ bé ấy lúc đó hiện ra đúng như con người thật của ông: một người khổng lồ, kẻ sẽ lay chuyển thế gian đến tận nền móng và quy tụ biết bao xứ sở cùng dân tộc.