Quo Vadis — Chương 28
Chương 29 / 75 · Bài review Quo Vadis
PETRONIUS gửi VINICIUS: “Hãy rủ lòng thương, carissime; đừng bắt chước người Lacedaemon hay Julius Caesar trong thư từ của ngươi! Giá ngươi có thể, như Julius, viết Veni, vidi, vici (Ta đến, ta thấy, ta chinh phục), hẳn ta còn hiểu được sự ngắn gọn ấy. Nhưng thư ngươi tuyệt đối chỉ có nghĩa là Veni, vidi, fugi (Ta đến, ta thấy, ta chạy). Vì một kết cục như thế trái hẳn với bản tính của ngươi, vì ngươi lại đang bị thương, và vì sau hết, những việc khác thường đang xảy đến với ngươi, nên thư ngươi cần được giải thích. Ta không tin nổi mắt mình khi đọc rằng gã khổng lồ xứ Lygia đã giết Croton dễ như một con chó Caledonia giết chó sói trong những hẻm núi ở Hibernia. Con người ấy đáng giá bằng đúng từng ấy vàng như trọng lượng của chính hắn, và chỉ tùy ở hắn mà thôi để trở thành một kẻ được Caesar sủng ái. Khi ta trở lại thành, ta phải làm quen kỹ hơn với người Lygia ấy, và cho đúc một pho tượng đồng của hắn cho riêng ta. Ahenobarbus sẽ nổ tung vì hiếu kỳ khi ta bảo với hắn rằng pho tượng ấy được làm theo nguyên mẫu sống. Những thân thể thật sự lực lưỡng nay ở Italia và Hy Lạp ngày càng hiếm; còn phương Đông thì khỏi cần nhắc tới; người German, tuy to lớn, bắp thịt lại bị mỡ phủ kín, vóc dáng thì hơn mà sức lực thì kém. Hãy dò hỏi người Lygia xem hắn có phải là của hiếm, hay ở xứ hắn còn nhiều người như vậy. Nếu có ngày ngươi hay ta phải chính thức tổ chức trò diễn, thì biết nơi tìm những thân thể đẹp nhất hẳn sẽ là điều hữu ích.”
“Nhưng xin ca ngợi các thần của phương Đông lẫn phương Tây vì ngươi đã ra khỏi tay họ mà còn sống. Hẳn ngươi thoát được là vì ngươi là một quý tộc La Mã và là con một chấp chính quan; nhưng mọi điều đã xảy ra khiến ta kinh ngạc đến cùng cực: nghĩa địa nơi ngươi ở giữa các Kitô hữu ấy, chính họ, cách họ đối đãi với ngươi, cuộc đào tẩu tiếp theo của Lygia; và sau hết là nỗi buồn cùng sự bất an đặc biệt phảng phất trong lá thư ngắn của ngươi. Hãy giải thích đi, vì có nhiều điểm ta không sao hiểu nổi; và nếu ngươi muốn nghe sự thật, ta sẽ nói thẳng rằng ta không hiểu các Kitô hữu, cũng chẳng hiểu ngươi hay Lygia. Đừng lấy làm lạ rằng ta, kẻ trên đời chỉ quan tâm đến rất ít thứ ngoài chính bản thân mình, lại hỏi ngươi ráo riết đến thế. Ta đã góp phần vào toàn bộ vụ việc này của ngươi; vì vậy, đến mức nào đó, nó cũng là việc của ta. Viết sớm đi, vì ta không thể biết chắc bao giờ chúng ta mới gặp lại nhau. Trong đầu Bronzebeard, các kế hoạch đổi thay như gió thu. Hiện giờ, trong lúc còn lưu lại Beneventum, y nảy ý muốn đi thẳng sang Hy Lạp, không trở về Rome. Tuy nhiên Tigellinus khuyên y dù chỉ trong chốc lát cũng nên ghé lại thành, vì dân chúng, quá mực khát khao con người y (hiểu là ‘trò diễn và bánh mì’), có thể nổi loạn. Bởi thế ta không biết rồi sẽ ra sao. Nếu Achaea lấn át mọi dự định khác, có lẽ chúng ta lại muốn sang ngắm Ai Cập. Ta hẳn đã dùng mọi lời để ép ngươi cùng đi, vì ta nghĩ trong tâm trạng hiện thời, việc du hành và những cuộc vui của chúng ta có thể là phương thuốc cho ngươi; nhưng biết đâu ngươi lại chẳng tìm thấy chúng ta. Vậy hãy nghĩ xem, trong trường hợp ấy, ngơi nghỉ tại các điền trang Sicilia của ngươi có phải tốt hơn là ở lại Rome chăng. Hãy viết cho ta thật tỉ mỉ về ngươi, và từ biệt. Lần này ta không chúc gì ngoài sức khỏe; vì, nhân Pollux! ta chẳng biết phải chúc ngươi điều gì nữa.”
Nhận được bức thư ấy, thoạt đầu Vinicius không hề muốn trả lời. Chàng có một cảm giác mơ hồ rằng đáp lại cũng chẳng đáng, rằng câu trả lời sẽ chẳng ích gì cho ai, cũng chẳng giải thích được gì. Sự bất mãn và cảm thức về tính phù phiếm của đời sống chiếm lấy chàng. Hơn nữa, chàng nghĩ Petronius dù sao cũng sẽ không hiểu mình, và rằng đã có điều gì đó xảy ra sẽ khiến hai người xa rời nhau. Ngay với chính mình, chàng cũng không sao tự hòa giải được. Khi từ vùng bên kia sông Tiber trở về tòa insula lộng lẫy của mình, chàng kiệt sức, và trong những ngày đầu đã tìm thấy một thứ khoan khoái nhất định trong nghỉ ngơi cũng như trong sự tiện nghi và sung túc bao quanh. Nhưng sự khoan khoái ấy kéo dài chẳng bao lâu. Chẳng mấy chốc chàng cảm thấy mình đang sống giữa cái phù hoa; rằng tất cả những gì từ trước đến nay từng làm nên mối hứng thú của đời chàng hoặc đã thôi không còn tồn tại đối với chàng, hoặc đã co lại thành những tỷ lệ hầu như không đáng kể. Chàng có cảm giác như những mối dây xưa nay nối mình với cuộc sống đã bị cắt đứt trong tâm hồn, mà những mối dây mới thì chưa hề thành hình. Nghĩ đến việc có thể đi Beneventum rồi từ đó sang Achaea, bơi trong một đời sống xa hoa và phóng túng cuồng loạn, chàng chỉ thấy trống rỗng. “Để làm gì? Ta sẽ thu được gì từ đó?” Đó là những câu hỏi đầu tiên lướt qua óc chàng. Và cũng lần đầu tiên trong đời, chàng nghĩ rằng nếu mình đi thật, thì những câu chuyện của Petronius, trí dí dỏm của ông, sự lanh lợi, nghệ thuật phác tả tinh tế của tư tưởng, và cách ông chọn những lời xác đáng cho mỗi ý niệm, rất có thể sẽ khiến chàng khó chịu.
Nhưng sự cô độc cũng bắt đầu làm chàng ngán ngẩm. Tất cả những người quen của chàng đều theo Caesar ở Beneventum; vì thế chàng phải ở nhà một mình, với đầu óc đầy ắp ý nghĩ, và trái tim chất chứa những cảm xúc mà chàng không sao phân tích nổi. Tuy nhiên, cũng có những lúc chàng tự xét rằng nếu có thể trò chuyện với ai đó về tất cả những gì đang diễn ra trong lòng mình, có lẽ chàng sẽ bằng cách nào đó nắm bắt được toàn bộ, sắp xếp chúng vào trật tự, và lượng định rõ hơn. Dưới tác động của niềm hy vọng ấy, và sau vài ngày do dự, chàng quyết định trả lời Petronius; và dù chưa chắc sẽ gửi đi, chàng vẫn viết như sau:
“Ngươi muốn ta viết tường tận hơn ư, được thôi; còn liệu ta có thể viết rõ ràng hơn không, ta chẳng dám chắc, vì có quá nhiều mối rối mà chính ta cũng chưa biết gỡ thế nào. Ta đã kể cho ngươi về thời gian ta sống giữa các Kitô hữu, và cách họ đối đãi với kẻ thù, mà họ có quyền kể cả ta lẫn Chilo vào số đó; sau hết là lòng tử tế họ đã dùng để chăm sóc ta, và sự biến mất của Lygia. Không, bạn thân mến, ta không được dung tha vì là con một chấp chính quan đâu. Đối với họ, những cân nhắc ấy không tồn tại, vì họ tha thứ ngay cả cho Chilo, dẫu ta đã giục họ chôn hắn trong vườn. Đó là những con người mà thế gian đến nay chưa từng thấy, và giáo huấn của họ cũng là thứ mà thế gian đến nay chưa từng nghe. Ta không thể nói khác hơn, và kẻ nào lấy thước đo của chúng ta mà đo họ là kẻ lầm. Ta nói với ngươi rằng, giả như ta nằm gãy tay trong chính nhà mình, và chính người nhà ta, đến cả gia quyến ta, chăm sóc ta, thì dĩ nhiên ta sẽ có nhiều tiện nghi hơn, nhưng ta đã không thể nhận được đến nửa phần sự săn sóc mà ta tìm thấy ở họ.”
“Ngươi cũng nên biết rằng Lygia cũng giống như những người kia. Giá nàng là chị em hay là vợ ta, nàng cũng không thể săn sóc ta dịu dàng hơn thế. Hơn một lần, lòng ta tràn đầy hoan lạc, vì ta cho rằng chỉ có tình yêu mới có thể gợi nên một sự dịu dàng như vậy. Hơn một lần ta đã thấy tình yêu trong ánh mắt nàng, trên gương mặt nàng; và ngươi có tin ta không? giữa những con người mộc mạc ấy, trong căn buồng nghèo nàn vừa là culina vừa là triclinium ấy, ta cảm thấy hạnh phúc hơn bất cứ lúc nào trước đây. Không; nàng không hề dửng dưng với ta, và đến hôm nay ta vẫn không thể nghĩ rằng nàng đã dửng dưng. Thế mà chính Lygia ấy lại lén rời khỏi nơi ở của Miriam vì ta. Nay ta ngồi suốt ngày, đầu chống trên tay, và nghĩ: vì sao nàng làm vậy? Ta đã viết cho ngươi biết rằng ta tự nguyện đưa nàng trở lại với Aulus chứ? Quả thật nàng bảo hiện giờ điều đó là không thể, vì Aulus và Pomponia đã đi Sicilia, và vì tin nàng trở về, lan từ nhà này sang nhà khác qua đám nô lệ, sẽ tới tận Palatine, và Caesar lại có thể giật nàng khỏi tay Aulus lần nữa. Nhưng nàng biết rằng ta sẽ không đuổi theo nàng nữa; rằng ta đã từ bỏ con đường bạo lực; rằng, không thể thôi yêu nàng hay sống thiếu nàng, ta sẽ đưa nàng vào nhà ta qua cánh cửa kết vòng hoa cưới, và đặt nàng ngồi trên tấm da thiêng bên lò lửa của ta. Thế mà nàng vẫn trốn đi! Tại sao? Chẳng có gì đe dọa nàng cả. Nếu nàng không yêu ta, nàng có thể khước từ ta. Ngày trước khi nàng trốn, ta đã quen một con người kỳ lạ, một người tên Paul xứ Tarsus; ông nói với ta về Christ và giáo huấn của Người, nói với một sức mạnh đến nỗi mỗi lời của ông, ngay cả khi ông không chủ tâm, cũng biến mọi nền móng của xã hội chúng ta thành tro bụi. Chính người ấy đã đến thăm ta sau khi nàng đi, và nói: ‘Nếu Thượng Đế mở mắt ngươi ra đón ánh sáng, và lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi như Người đã lấy khỏi mắt ta, ngươi sẽ thấy nàng hành động đúng; và rồi có lẽ ngươi sẽ tìm được nàng.’ Giờ đây ta vò đầu bứt óc vì những lời ấy, như thể ta đã nghe chúng từ miệng nữ tư tế Delphi. Ta tưởng như mình hiểu ra một điều gì đó. Dù yêu thương con người, các Kitô hữu vẫn là kẻ thù của đời sống chúng ta, của các thần linh chúng ta, và của những tội lỗi chúng ta; vì thế nàng đã trốn khỏi ta như trốn một người thuộc về xã hội ấy, một người mà nếu sống cùng, nàng sẽ phải chia sẻ một đời sống bị các Kitô hữu xem là tội lỗi. Ngươi sẽ nói rằng, nếu nàng có thể từ chối ta, thì nàng đâu cần phải lánh đi. Nhưng nếu nàng yêu ta thì sao? Trong trường hợp ấy, nàng muốn chạy trốn chính tình yêu. Chỉ vừa nghĩ đến điều đó, ta đã muốn sai nô lệ vào mọi ngõ hẻm ở Rome, lệnh cho họ kêu vang khắp các nhà rằng: ‘Hãy trở về, Lygia!’ Nhưng rồi ta lại thôi không hiểu nổi vì sao nàng trốn. Ta hẳn đã không cản nàng tin vào Christ của nàng, và chính ta cũng sẽ dựng cho Người một bàn thờ trong atrium. Thêm một vị thần nữa thì có thể làm hại gì ta? Vì sao ta lại không thể tin ở Người, ta, kẻ vốn cũng chẳng tin mấy vào các thần xưa? Ta biết chắc hoàn toàn rằng các Kitô hữu không nói dối; và họ nói rằng Người đã từ cõi chết sống lại. Con người không thể từ cõi chết sống lại. Paul xứ Tarsus ấy, một công dân La Mã, nhưng đồng thời là người Do Thái, hiểu biết những văn thư cổ của người Hebrew, đã nói với ta rằng các ngôn sứ đã hứa báo sự giáng lâm của Christ từ suốt hàng nghìn năm. Tất cả những điều ấy đều khác thường, nhưng chẳng phải cái khác thường đang bao bọc chúng ta từ mọi phía đó sao? Người ta đến giờ vẫn chưa ngớt bàn tán về Apollonius xứ Tyana. Lời Paul nói rằng chỉ có một Thượng Đế, chứ không phải cả một hội đồng thần thánh, nghe đối với ta là hữu lý. Có lẽ Seneca cũng nghĩ thế, và trước ông còn nhiều người khác nữa. Christ đã sống, đã tự hiến mình để chịu đóng đinh vì phần rỗi của thế gian, và đã sống lại từ cõi chết. Tất cả điều đó hoàn toàn chắc thực. Vậy nên ta không thấy lý do gì để cứ khăng khăng giữ ý kiến ngược lại, hay vì sao ta lại không thể dựng cho Người một bàn thờ, nếu như ta sẵn sàng dựng một bàn thờ cho Serapis chẳng hạn. Ngay cả việc từ bỏ các thần khác đối với ta cũng không khó, vì ngày nay chẳng có đầu óc biết lý lẽ nào còn tin ở họ nữa. Nhưng xem ra đối với các Kitô hữu, như thế vẫn chưa đủ. Tôn kính Christ thôi chưa đủ, người ta còn phải sống theo giáo huấn của Người; và ở đây thì ngươi đang đứng trước bờ một biển cả mà họ truyền cho ngươi phải lội qua.”
“Nếu ta hứa sẽ làm như vậy, thì chính họ cũng sẽ thấy lời hứa ấy chỉ là âm thanh rỗng của ngôn từ. Paul đã nói thẳng với ta như vậy. Ngươi biết ta yêu Lygia đến thế nào, và biết rằng chẳng có gì ta lại không làm vì nàng. Dẫu vậy, ngay cả vì lời nàng muốn, ta cũng không thể nhấc núi Soracte hay Vesuvius lên vai, hoặc đặt hồ Thrasymene trên lòng bàn tay mình, hay biến đôi mắt ta từ đen thành xanh như mắt người Lygia. Nếu nàng muốn thế, ta có thể có lòng muốn, nhưng sự đổi thay ấy không nằm trong quyền lực của ta. Ta không phải triết gia, nhưng ta cũng không đến nỗi đần độn như có lẽ hơn một lần ngươi đã tưởng. Giờ đây ta sẽ nói điều này: ta không biết các Kitô hữu sắp đặt đời mình ra sao, nhưng ta biết rằng ở đâu tôn giáo của họ bắt đầu, ở đó quyền lực La Mã chấm dứt, chính Rome chấm dứt, lối sống của chúng ta chấm dứt, sự phân biệt giữa kẻ bị chinh phục và kẻ chinh phục, giữa giàu và nghèo, chủ và nô lệ chấm dứt, chính quyền chấm dứt, Caesar chấm dứt, luật pháp và toàn bộ trật tự của thế giới chấm dứt; và thay vào đó xuất hiện Christ, cùng một lòng thương xót xưa nay chưa có, và một sự nhân hậu đối nghịch với bản năng loài người và bản năng La Mã của chúng ta. Đúng là đối với ta, Lygia còn hơn cả Rome và quyền bá chủ của nó; và ta sẽ mặc cho xã hội tiêu vong nếu được có nàng trong nhà mình. Nhưng đó là chuyện khác. Sự đồng thuận bằng lời nói không làm các Kitô hữu thỏa mãn; con người phải cảm thấy giáo huấn của họ là chân lý, và trong tâm hồn không được chứa bất cứ gì khác. Nhưng điều ấy, các thần linh làm chứng cho ta, vượt quá sức ta. Ngươi có hiểu điều đó nghĩa là gì không? Có một cái gì trong bản tính ta run rẩy ghê sợ trước tôn giáo này; và nếu môi ta ngợi ca nó, nếu ta tuân theo giới luật của nó, thì linh hồn và lý trí ta sẽ nói rằng ta làm như vậy chỉ vì tình yêu đối với Lygia, và ngoài nàng ra thì trên mặt đất này chẳng có gì làm ta ghê tởm hơn thế. Và điều lạ lùng là Paul xứ Tarsus hiểu điều ấy, lão pháp sư Peter kia cũng hiểu, lão, bất chấp tất cả vẻ chất phác và xuất thân thấp kém của mình, lại là người cao trọng nhất giữa họ và từng là môn đệ của Christ. Ngươi có biết họ đang làm gì không? Họ cầu nguyện cho ta, và khẩn xin một điều mà họ gọi là ân sủng; nhưng chẳng có gì giáng xuống trên ta ngoài sự bất an, và nỗi khát khao Lygia còn dữ dội hơn.”
“Ta đã viết cho ngươi rằng nàng ra đi trong bí mật; nhưng khi đi nàng để lại cho ta một cây thập giá do chính tay nàng ghép bằng những cành hoàng dương. Khi thức dậy, ta thấy nó nằm cạnh giường mình. Giờ ta đặt nó trong lararium, và ta vẫn đến gần nó, không hiểu vì sao, như thể có điều gì thần linh ở trong đó, nghĩa là với lòng e sợ và kính cẩn. Ta yêu nó vì tay nàng đã buộc nó, và ta ghét nó vì nó chia lìa chúng ta. Có lúc ta thấy dường như trong toàn bộ chuyện này có một thứ phù chú nào đó, và rằng lão pháp sư Peter, dù tự xưng chỉ là một người chăn cừu đơn sơ, còn lớn lao hơn Apollonius và tất cả những ai đi trước lão, và lão đã cuốn tất cả chúng ta, Lygia, Pomponia và ta, vào cùng những điều ấy.”
“Ngươi đã viết rằng trong lá thư trước của ta có thể thấy sự bất an và buồn bã. Hẳn phải có buồn bã, vì ta lại mất nàng lần nữa; còn bất an là vì trong ta đã có cái gì đổi khác. Ta nói thật với ngươi rằng chẳng có gì trái nghịch với bản tính ta hơn tôn giáo ấy, vậy mà từ khi gặp Lygia ta không còn nhận ra chính mình nữa. Đó là phù phép hay là tình yêu? Circe chỉ cần chạm vào là biến đổi thân xác con người, còn linh hồn ta thì đã bị biến đổi. Không ai ngoài Lygia có thể làm điều đó, hay đúng hơn là Lygia nhờ tôn giáo kỳ diệu mà nàng theo đuổi. Khi từ chỗ các Kitô hữu về đến nhà mình, chẳng có ai chờ đợi ta cả. Đám nô lệ tưởng ta đang ở Beneventum và chưa sớm trở về; vì thế trong nhà rối ren cả. Ta bắt gặp bọn nô lệ say khướt, và một bữa tiệc chúng tự mở cho mình ngay trong triclinium của ta. Chúng nghĩ đến cái chết còn nhiều hơn nghĩ đến ta, và hẳn sẽ bớt kinh hoàng hơn nếu tử thần hiện đến. Ngươi biết ta giữ gia thất của mình bằng bàn tay cứng rắn thế nào; tất cả, đến người cuối cùng, đều quỵ xuống gối, và vài đứa ngất đi vì kinh hãi. Nhưng ngươi có biết ta đã xử sự thế nào không? Trong khoảnh khắc đầu tiên, ta muốn truyền lấy roi và sắt nung; nhưng ngay lập tức một thứ xấu hổ xâm chiếm ta, và, ngươi có tin nổi chăng, một thứ thương hại dành cho những con người khốn khổ ấy. Trong số đó có những nô lệ già mà tổ phụ ta, Marcus Vinicius, đã mang từ vùng sông Rhine về vào thời Augustus. Ta nhốt mình một mình trong thư viện, và những ý nghĩ còn lạ lùng hơn nữa lại đến với ta; ấy là sau những gì ta đã nghe và thấy giữa các Kitô hữu, ta không nên đối xử với nô lệ như trước đây nữa, rằng họ cũng là con người. Trong mấy ngày liền, bọn chúng đi lại trong nỗi khiếp sợ chết người, tin rằng ta trì hoãn chỉ để nghĩ ra một hình phạt càng tàn nhẫn hơn; nhưng ta đã không trừng phạt, và không trừng phạt vì ta không thể. Đến ngày thứ ba, gọi chúng đến, ta nói: ‘Ta tha cho các ngươi; vậy hãy dùng sự phục vụ tận tâm mà sửa lỗi của mình!’ Chúng quỵ xuống gối, nước mắt phủ đầy mặt, tay vươn ra giữa những tiếng rên xiết, gọi ta là chủ và là cha; còn ta, hổ thẹn thay khi viết điều này, ta cũng xúc động chẳng kém. Ta có cảm tưởng trong khoảnh khắc ấy mình đang nhìn gương mặt dịu hiền của Lygia, cùng đôi mắt đẫm lệ của nàng, đang cảm tạ ta vì hành vi ấy. Và, proh pudor! ta cảm thấy môi mình cũng ướt. Ngươi có biết ta sẽ thú nhận với ngươi điều gì không? Điều này thôi, rằng ta không thể sống thiếu nàng, rằng một mình ta thì tệ lắm, rằng đơn giản là ta bất hạnh, và nỗi buồn của ta lớn hơn mức ngươi sẽ chịu tin. Nhưng đối với đám nô lệ của ta, có một điều làm ta chú ý. Sự tha thứ chúng nhận được không những không khiến chúng lấc láo, không những không làm suy yếu kỷ luật, mà trái lại, chưa bao giờ nỗi sợ hãi khơi dậy nơi chúng sự phục vụ mau mắn đến thế như lòng biết ơn. Chúng không chỉ phục vụ, mà dường như còn ganh nhau đoán trước những điều ta mong muốn. Ta nhắc điều này với ngươi, vì khi, ngày trước lúc rời các Kitô hữu, ta bảo Paul rằng xã hội sẽ tan rã vì tôn giáo của ông như một cái thùng mất đai, ông đã đáp: ‘Tình yêu là chiếc đai chắc hơn nỗi sợ.’ Và giờ đây ta thấy rằng trong một số trường hợp, ý kiến ấy có thể là đúng. Ta còn kiểm nghiệm điều đó cả với những người khách hộ, những kẻ, hay tin ta trở về, đã vội đến chào. Ngươi biết ta chưa từng keo kiệt với họ; nhưng cha ta nguyên tắc là phải đối xử với khách hộ bằng thái độ kiêu ngạo, và dạy ta cũng đối xử với họ như thế. Nhưng khi nhìn những tấm áo choàng sờn rách và những gương mặt đói khát của họ, ta lại thấy một cảm giác gần như xót thương. Ta ra lệnh mang thức ăn đến cho họ, lại còn trò chuyện với họ, gọi tên một số người, hỏi vợ con một số người khác; và một lần nữa trước mắt ta lại hiện ra những giọt nước mắt; một lần nữa ta tưởng như Lygia đang nhìn việc ta làm, đang tán thưởng và vui mừng. Có phải đầu óc ta đã bắt đầu rối loạn, hay tình yêu đang làm nhiễu loạn cảm xúc ta? Ta không biết. Nhưng điều này thì ta biết: ta luôn có cảm giác nàng đang từ xa nhìn ta, và ta sợ làm bất cứ điều gì có thể khiến nàng buồn hay phật ý.”
“Đúng thế, Caius! Nhưng họ đã đổi thay linh hồn ta, và có những lúc vì thế mà ta thấy lòng thanh thản. Rồi lại có những lúc ta bị ý nghĩ ấy dày vò, vì ta sợ rằng tính nam nhi và nghị lực đã bị lấy mất khỏi ta; rằng có lẽ ta đã thành kẻ vô dụng, không những trong mưu bàn, trong phán đoán, trong yến tiệc, mà ngay cả trong chiến trận nữa. Quả đúng là những phép mê hoặc! Ta đã đổi khác đến mức này: ta còn nói với ngươi cả điều đã nảy ra trong đầu ta khi ta nằm trọng thương, rằng nếu Lygia giống Nigidia, Poppaea, Crispinilla và những đàn bà ly dị của chúng ta, nếu nàng cũng đê tiện, nhẫn tâm và rẻ rúng như họ, thì ta đã không yêu nàng như lúc này. Nhưng bởi ta yêu nàng chính vì điều ngăn cách hai chúng ta, ngươi hẳn sẽ hiểu trong hồn ta đang dấy lên một cõi hỗn mang đến mức nào, ta đang sống trong bóng tối ra sao, vì sao có những con đường trước mặt mà ta không thể nhìn thấy, và ta còn cách biết mình phải bắt đầu từ đâu xa đến chừng nào. Nếu có thể ví đời người với một mạch suối, thì trong mạch suối của ta, thay vì nước, chỉ có sự xao động chảy tràn. Ta sống nhờ hy vọng rằng có lẽ ta sẽ được gặp nàng, và đôi khi ta lại tưởng như chắc chắn sẽ gặp được nàng. Nhưng một năm nữa hay hai năm nữa đời ta sẽ ra sao, ta không biết, và cũng không sao đoán nổi. Ta sẽ không rời khỏi Rome. Ta không thể chịu nổi bầu bạn với đám Augustian; vả lại, niềm an ủi duy nhất trong nỗi buồn và sự bất an của ta là ý nghĩ rằng ta đang ở gần Lygia, rằng qua Glaucus, người thầy thuốc đã hứa sẽ đến thăm ta, hoặc qua Paul thành Tarsus, thỉnh thoảng ta có thể biết được chút ít tin tức về nàng. Không; ta sẽ không rời Rome, dẫu các ngươi có đem quyền cai trị Ai Cập ra mà trao cho ta. Cũng nên biết rằng ta đã sai nhà điêu khắc làm một bia đá tưởng niệm cho Gulo, kẻ mà ta đã giết trong cơn giận dữ. Mãi quá muộn ta mới chợt nhớ ra rằng chính hắn đã từng bế ta trên tay, và là người đầu tiên dạy ta đặt mũi tên lên dây cung. Ta không hiểu vì sao ký ức về hắn lại sống dậy trong ta, đem theo nỗi buồn và sự trách móc. Nếu những điều ta viết khiến ngươi kinh ngạc, ta xin đáp rằng chúng cũng khiến chính ta kinh ngạc không kém, nhưng ta viết toàn là sự thật thuần túy. Vĩnh biệt.”