Quo Vadis — Chương 29
Chương 30 / 75 · Bài review Quo Vadis
VINICIUS không nhận được hồi âm cho bức thư ấy. Petronius không viết lại, hẳn nghĩ rằng Caesar có thể truyền lệnh trở về La Mã vào bất cứ ngày nào. Quả nhiên, tin ấy đã lan khắp thành phố, khơi dậy niềm hân hoan lớn lao trong lòng đám dân ô hợp, vốn háo hức chờ những cuộc vui kèm phát chẩn lúa mì và ôliu, mà ở Ostia người ta đã tích trữ rất nhiều. Helius, viên nô lệ được giải phóng của Nero, rốt cuộc công bố trước Viện nguyên lão rằng hoàng đế sẽ hồi kinh. Nhưng Nero, sau khi cùng triều thần xuống thuyền tại Misenum, lại trở về một cách chậm chạp, ghé lên bờ ở các thị trấn ven biển để nghỉ ngơi hoặc trình diễn trong các hí viện. Ông ta nấn ná từ mười đến hai mươi ngày ở Minturna, thậm chí còn tính quay lại Neapolis để đợi hết mùa xuân, vốn đến sớm hơn thường lệ và ấm áp. Suốt quãng thời gian ấy, Vinicius sống khép kín trong nhà, chỉ nghĩ đến Lygia và tất cả những điều mới mẻ đang chiếm lĩnh linh hồn chàng, đem đến cho chàng những ý tưởng và cảm xúc trước nay hoàn toàn xa lạ. Thi thoảng chàng chỉ gặp thầy thuốc Glaucus, mà mỗi lần ông đến đều làm chàng mừng rỡ, vì chàng có thể chuyện trò với ông về Lygia. Quả thật Glaucus không biết nàng đang ẩn náu nơi đâu, nhưng ông cam đoan rằng các vị trưởng lão đang hết sức cẩn trọng che chở nàng. Có lần nữa, cảm động trước nỗi u uất của Vinicius, ông kể rằng Peter đã quở trách Crispus vì đã trách cứ Lygia về tình yêu của nàng. Nghe vậy, viên quý tộc La Mã trẻ tuổi tái mặt đi vì xúc động. Chàng đã hơn một lần nghĩ rằng Lygia không hờ hững với mình, nhưng vẫn luôn bị dằn vặt bởi ngờ vực và bất an. Giờ đây lần đầu tiên chàng nghe thấy sự xác nhận cho những khát vọng và hy vọng của mình từ môi người khác, lại còn là từ môi một người Kitô hữu. Trong phút đầu biết ơn, chàng muốn chạy ngay đến với Peter. Nhưng khi biết ông không ở trong thành mà đang giảng dạy tại vùng phụ cận, chàng van nài Glaucus đưa mình tới đó, hứa sẽ rộng tay bố thí cho cộng đồng nghèo khó. Chàng còn thấy rằng, nếu Lygia yêu mình, thì mọi chướng ngại bởi thế đều đã bị dẹp sang một bên, vì chàng sẵn sàng tôn kính Christ bất cứ lúc nào. Dẫu Glaucus tha thiết giục chàng chịu phép rửa, ông vẫn không dám quả quyết rằng chàng sẽ lập tức có được Lygia, và nói rằng phải khao khát đạo ấy vì chính nó, vì tình yêu đối với Christ, chứ không phải vì mục đích nào khác. “Còn phải có một linh hồn Kitô hữu nữa,” ông nói. Và Vinicius, tuy mọi chướng ngại đều khiến chàng tức giận, cũng đã bắt đầu hiểu rằng Glaucus, với tư cách một người Kitô hữu, đã nói điều ông buộc phải nói. Chàng chưa nhận ra thật rõ rằng một trong những biến đổi sâu xa nhất trong bản tính mình chính là điều này: trước kia chàng chỉ đo người và việc bằng lòng vị kỷ riêng mình; còn nay chàng đang dần tập quen với ý nghĩ rằng những con mắt khác có thể nhìn khác đi, những trái tim khác có thể cảm khác đi, và công bằng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với lợi lộc cá nhân.
Chàng thường muốn gặp Paul thành Tarsus, người mà lời giảng khiến chàng vừa hiếu kỳ vừa bứt rứt. Trong trí, chàng sắp đặt những lý lẽ để bác bỏ giáo huấn của ông, chàng chống lại ông trong tư tưởng; thế nhưng chàng vẫn muốn gặp ông, muốn nghe ông nói. Song Paul đã đi Aricium, và từ khi Glaucus đến thăm thưa dần, Vinicius rơi vào cảnh cô độc hoàn toàn. Chàng lại bắt đầu len lỏi qua những con ngõ sau sát vùng Subura và những hẻm nhỏ bên kia sông Tiber, hy vọng dù chỉ từ xa cũng có thể thoáng thấy Lygia. Nhưng khi đến cả niềm hy vọng ấy cũng không thành, mệt mỏi và sốt ruột bắt đầu dâng lên trong lòng chàng. Cuối cùng đã đến lúc bản tính cũ của chàng trở lại dữ dội, như cơn sóng xô vào bờ sau khi đã rút đi. Chàng thấy mình đã ngu xuẩn một cách vô ích, đã nhồi nhét vào đầu những điều chỉ đem lại buồn phiền, trong khi lẽ ra phải nhận lấy ở đời những gì đời trao. Chàng quyết quên Lygia, hoặc ít nhất cũng tìm thú vui và hưởng dùng cuộc sống ngoài nàng ra. Chàng cảm thấy lần thử này sẽ là lần cuối, và chàng lao vào đó bằng tất cả sức xung động mù quáng vốn là đặc tính của mình. Chính cuộc đời dường như cũng đang thúc chàng đi theo con đường ấy.
ĐƯỜNG APPIA. Theo tranh của G. Boulanger.
Thành phố, vốn trì trệ và vắng vẻ vì mùa đông, bắt đầu hồi sinh với niềm mong đợi ngày Caesar sắp đến. Người ta đang chuẩn bị một cuộc đón tiếp trọng thể cho ông. Trong khi ấy, mùa xuân đã về; tuyết trên đồi Alban đã tan dưới hơi thở của những ngọn gió từ Phi châu. Những bãi cỏ trong vườn phủ đầy hoa tím. Các Forum và bãi Campus Martius đông nghịt người dưới mặt trời mỗi lúc một nóng hơn. Dọc đường Appia, nơi dạo xe quen thuộc ngoài thành, những cỗ xe lộng lẫy bắt đầu qua lại rộn rịp. Người ta du ngoạn lên đồi Alban. Những thiếu phụ trẻ, vin cớ đi lễ Juno ở Lanuvium hay Diana ở Aricia, rời nhà để tìm phiêu lưu, giao du, gặp gỡ và vui thú ngoài thành. Chính tại đây một ngày nọ Vinicius trông thấy giữa những cỗ xe quyền quý chiếc chiến xa lộng lẫy của Chrysothemis, đi trước là hai con chó Molossia; quanh xe là một đám đông trai trẻ và cả những lão nghị sĩ mà địa vị giữ chân họ lại trong thành. Chrysothemis tự tay điều khiển bốn con ngựa nhỏ xứ Corsica, vừa rắc những nụ cười bốn phía vừa điểm những roi vàng nhẹ hẫng; nhưng khi trông thấy Vinicius nàng liền ghìm ngựa, đón chàng lên xe, rồi đưa về dự tiệc ở nhà nàng kéo dài suốt đêm. Trong bữa tiệc ấy Vinicius uống đến nỗi không nhớ người ta đã đưa mình về nhà lúc nào; tuy vậy chàng vẫn nhớ rằng khi Chrysothemis nhắc đến Lygia, chàng đã nổi giận và, trong cơn say, hắt cạn một chén Falernian lên đầu nàng. Đến lúc tỉnh táo nghĩ lại, chàng càng bực tức hơn. Nhưng một ngày sau, Chrysothemis, dường như đã quên hẳn sự xúc phạm ấy, lại tới nhà thăm chàng và lần thứ hai đưa chàng ra đường Appia. Rồi nàng dùng bữa tối tại nhà chàng, thú nhận rằng không chỉ Petronius mà cả người gảy đàn của ông cũng từ lâu đã làm nàng chán ngấy, và rằng giờ trái tim nàng đang tự do. Họ cùng xuất hiện bên nhau suốt một tuần, nhưng mối quan hệ ấy không hứa hẹn bền lâu. Tuy nhiên, sau vụ chén Falernian, tên Lygia không bao giờ còn được nhắc đến; nhưng Vinicius vẫn không sao thoát khỏi những ý nghĩ về nàng. Chàng luôn có cảm tưởng đôi mắt nàng đang nhìn vào mặt mình, và cảm tưởng ấy như đổ đầy trong chàng một nỗi sợ. Chàng đau khổ, và không sao xua nổi ý nghĩ rằng mình đang làm Lygia buồn, cũng như nỗi hối tiếc mà ý nghĩ ấy khơi dậy trong lòng chàng. Sau cơn ghen đầu tiên mà Chrysothemis gây ra vì hai thiếu nữ Syria chàng mua về, chàng thô bạo ruồng bỏ nàng. Quả thật chàng chưa đoạn tuyệt ngay với lạc thú và phóng túng, nhưng chàng chạy theo chúng dường như chỉ để trả đũa Lygia. Rốt cuộc chàng thấy rằng ý nghĩ về nàng không rời chàng lấy một khắc; rằng nàng là nguyên nhân duy nhất của những điều xấu cũng như những điều tốt nơi chàng; và thật ra trên đời này ngoài nàng ra chẳng có gì chiếm lĩnh chàng cả. Chán ghét, rồi mệt mỏi, chế ngự chàng. Lạc thú trở nên ghê tởm, chỉ để lại những lời tự trách. Chàng thấy mình bất hạnh, và chính cảm giác cuối cùng ấy lại làm chàng kinh ngạc vô hạn, bởi xưa nay chàng vẫn coi bất cứ điều gì làm mình thích thú là điều tốt. Cuối cùng chàng mất cả tự do lẫn tự tin, rơi vào một trạng thái đờ đẫn hoàn toàn mà đến cả tin Caesar sắp về cũng không khuấy động nổi. Không gì còn chạm tới chàng, và chàng đã chẳng đến thăm Petronius cho tới khi ông cho người mang kiệu và lời mời tới.
Khi gặp lại người cậu, tuy được đón bằng niềm vui mừng, chàng chỉ miễn cưỡng đáp lời những câu hỏi của ông; nhưng rốt cuộc những cảm xúc và tư tưởng bị dồn nén từ lâu bỗng vỡ tung và tuôn khỏi miệng chàng như một dòng lũ chữ nghĩa. Một lần nữa chàng kể tỉ mỉ lịch sử cuộc truy tìm Lygia, cuộc sống của chàng giữa các Kitô hữu, hết thảy những điều chàng đã nghe và đã thấy nơi đó, hết thảy những gì đã đi qua trí óc và trái tim chàng; và cuối cùng chàng than rằng mình đã rơi vào một mớ hỗn mang, trong đó sự điềm tĩnh và khả năng phân biệt, phán đoán đều thất lạc. Chàng nói rằng không gì hấp dẫn mình, không gì còn làm mình vui thích; chàng không biết phải bấu víu vào đâu, cũng không biết phải hành động thế nào. Chàng vừa sẵn sàng tôn kính vừa sẵn sàng bách hại Christ; chàng hiểu sự cao cả trong giáo huấn của Người, nhưng đồng thời cũng cảm thấy một sự phản kháng không sao cưỡng nổi đối với giáo huấn ấy. Chàng hiểu rằng, dù có chiếm được Lygia, chàng cũng sẽ không thể có nàng trọn vẹn, vì chàng còn phải chia sẻ nàng với Christ. Sau cùng, chàng đang sống như thể không sống nữa, không hy vọng, không ngày mai, không tin vào hạnh phúc; quanh chàng là bóng tối, trong đó chàng lần mò tìm một lối ra mà không thể nào thấy được.
Trong lúc nghe câu chuyện ấy, Petronius nhìn gương mặt đã đổi khác của chàng, nhìn đôi bàn tay mà trong khi nói chàng cứ duỗi ra một cách lạ lùng, như thể thật sự đang tìm đường trong bóng tối, rồi đâm ra suy nghĩ. Bỗng nhiên ông đứng dậy, bước lại gần Vinicius và dùng mấy ngón tay vén tóc trên thái dương chàng.
“Cậu có biết,” ông hỏi, “rằng trên thái dương cậu đã có tóc bạc không?”
“Có lẽ có,” Vinicius đáp; “cháu cũng chẳng lấy làm lạ nếu chẳng bao lâu nữa toàn bộ mái tóc này sẽ bạc trắng.”
Im lặng kéo theo. Petronius là một người có đầu óc, và hơn một lần ông từng suy ngẫm về linh hồn con người và về cuộc sống. Nói chung, trong xã hội mà cả hai đang sống, đời sống có thể hạnh phúc hay bất hạnh về mặt bên ngoài, nhưng bên trong thì nó tĩnh tại. Cũng như sét đánh hay động đất có thể làm đổ một ngôi đền, tai ương có thể nghiền nát một đời người. Nhưng tự thân nó vốn được cấu tạo bằng những đường nét đơn giản và hài hòa, không hề rối rắm. Thế mà trong lời Vinicius lại có một cái gì khác, và lần đầu tiên Petronius đứng trước cả một mớ thắt nút tinh thần mà từ trước chưa ai tháo gỡ nổi. Ông đủ lý trí để cảm thấy tầm quan trọng của chúng, nhưng với tất cả sự lanh lợi của mình, ông vẫn không thể trả lời những câu hỏi đặt ra cho ông. Sau một quãng lặng dài, cuối cùng ông nói:
“Ắt hẳn là bùa mê.”
“Cháu cũng từng nghĩ vậy,” Vinicius đáp; “hơn một lần cháu thấy dường như cả hai chúng cháu đều đã bị bỏ bùa.”
“Và nếu cậu,” Petronius nói, “thử đến gặp các tư tế của Serapis chẳng hạn? Trong số họ, cũng như trong hàng giáo sĩ nói chung, dĩ nhiên có lắm kẻ lừa đảo; nhưng cũng có những người đã chạm tới những bí mật kỳ lạ.”
Tuy vậy ông nói điều ấy mà không hề tin chắc, giọng lại ngập ngừng, bởi chính ông cũng cảm thấy lời khuyên kia hẳn phải rỗng tuếch, thậm chí buồn cười biết bao khi phát ra từ miệng mình.
Vinicius xoa trán rồi nói: “Bùa mê! Cháu đã thấy những pháp sư dùng những sức mạnh vô danh, âm phủ ấy để mưu lợi riêng; cháu đã thấy những kẻ dùng chúng để hại thù địch. Nhưng các Kitô hữu này sống trong nghèo khó, tha thứ cho kẻ thù, rao giảng sự nhẫn phục, đức hạnh và lòng thương xót; vậy họ có thể được lợi gì từ bùa mê, và tại sao họ lại phải dùng đến nó?”
Petronius bực bội vì sự sắc sảo của mình không tìm ra nổi một lời đối đáp; nhưng không muốn nhận điều ấy, ông nói, cốt để có câu trả lời nào đó: “Đó là một giáo phái mới.” Một lát sau ông lại thêm: “Nhân danh vị thần ngự trong những khu rừng Paphos thiêng liêng, tất cả những thứ ấy làm tổn hại cuộc đời biết bao! Cậu sẽ khâm phục lòng tốt và đức hạnh của đám người kia; nhưng tôi bảo cậu rằng họ là xấu, vì họ là kẻ thù của sự sống, như bệnh tật và chính cái chết vậy. Mà như hiện nay, chúng ta đã có quá đủ những kẻ thù ấy rồi; chẳng cần thêm các Kitô hữu nữa. Cứ thử đếm xem: bệnh tật, Caesar, Tigellinus, thơ của Caesar, lũ thợ đóng giày cai trị con cháu những Quirites thuở xưa, đám nô lệ được giải phóng ngồi trong Viện nguyên lão. Nhân danh Castor! Thế còn chưa đủ hay sao. Đó là một giáo phái vừa hủy hoại vừa ghê tởm. Cậu đã thử giũ mình khỏi nỗi sầu này để hưởng lấy đôi chút từ cuộc đời chưa?”
“Cháu đã thử,” Vinicius đáp.
“À, đồ phản trắc!” Petronius vừa cười vừa nói; “tin tức lan nhanh qua đám nô lệ thật; cậu đã quyến rũ mất Chrysothemis của tôi!”
Vinicius phẩy tay đầy chán ghét.
“Dù sao tôi cũng cảm ơn cậu,” Petronius nói. “Tôi sẽ gửi cho nàng một đôi dép thêu ngọc trai. Trong thứ ngôn ngữ của một kẻ si tình như tôi, điều đó có nghĩa là: ‘Xin bước đi cho.’ Tôi mắc ơn cậu gấp đôi, thứ nhất vì cậu đã không nhận Eunice; thứ hai vì cậu đã giải thoát tôi khỏi Chrysothemis. Hãy nghe tôi! Trước mặt cậu là một kẻ đã dậy sớm, đã tắm táp, yến tiệc, chiếm hữu Chrysothemis, viết châm biếm, thậm chí đôi lúc còn xen văn xuôi vào thơ, thế mà vẫn mệt mỏi chẳng kém Caesar, và lắm phen không sao cởi trói mình khỏi những ý nghĩ u ám. Cậu có biết vì sao không? Bởi tôi đi tìm ở xa điều ở ngay gần. Một người đàn bà đẹp lúc nào cũng đáng giá bằng trọng lượng của nàng bằng vàng; nhưng nếu nàng lại còn yêu nữa, thì nàng đơn giản là vô giá. Hạng người ấy, dẫu có cả gia tài của Verres cậu cũng không mua nổi. Giờ đây tôi tự nhủ thế này: tôi sẽ rót đầy đời mình bằng hạnh phúc, như rót đầy một chiếc cốc bằng thứ rượu tuyệt hảo nhất đất đã từng sinh ra, rồi tôi sẽ uống cho tới khi tay mình bất lực và môi mình tái nhợt. Điều gì sẽ đến sau đó, tôi không bận lòng; và đó là triết lý mới nhất của tôi.”
“Cậu vẫn luôn tuyên xưng điều ấy; có gì mới đâu.”
“Có thực chất, điều trước kia còn thiếu.”
Nói xong, ông gọi Eunice, nàng bước vào trong xiêm áo trắng buông rủ, không còn là một nữ nô nữa, mà như chính một nữ thần của tình yêu và hạnh phúc.
Petronius dang tay về phía nàng và nói: “Lại đây.”
Nghe vậy nàng chạy lại, ngồi lên đầu gối ông, vòng tay ôm lấy cổ ông và đặt đầu lên ngực ông. Vinicius thấy sắc tím hồng dần phủ lên hai má nàng, thấy đôi mắt nàng từ từ tan ra trong một màn sương mỏng. Họ tạo thành một nhóm hình kỳ diệu của tình yêu và hạnh phúc. Petronius đưa tay về phía một chiếc bình dẹt đặt trên bàn bên cạnh, bốc cả một nắm hoa tím, phủ lên mái đầu, khuôn ngực và áo xiêm của Eunice; rồi ông kéo vạt áo khỏi cánh tay nàng và nói:
“Phúc cho kẻ nào như ta, đã tìm thấy tình yêu gói kín trong một hình hài thế này! Có lúc ta tưởng như chúng ta là một đôi thần linh. Cậu cứ nhìn mà xem! Praxiteles, hay Miron, hay Skopas, hay cả Lysias nữa, đã từng tạo nên những đường nét kỳ diệu hơn thế chưa? Hoặc ở Paros hay Pentelicus có thứ cẩm thạch nào như thế này chăng, ấm áp, hồng tươi và chan chứa tình yêu? Có những kẻ thích mút hôn nơi vành chén, còn ta, ta thích tìm khoái lạc ở nơi thật sự có thể tìm thấy nó.”
Ông bắt đầu lướt môi dọc theo vai và cổ nàng. Một cơn run rẩy xuyên suốt người nàng; đôi mắt lúc khép lúc mở, mang vẻ khoái lạc không sao nói xiết. Một lúc sau Petronius nâng khuôn đầu tuyệt mỹ ấy lên, rồi quay sang Vinicius mà nói: “Giờ thì cậu thử nghĩ xem, các Kitô hữu u tối của cậu có là gì so với thế này? Và nếu cậu vẫn không hiểu nổi sự khác biệt, thì cứ việc tìm đến họ. Nhưng cảnh tượng này sẽ chữa khỏi cậu.”
Vinicius phập phồng cánh mũi, trong đó tràn vào hương hoa tím lan khắp căn phòng, và chàng tái đi; bởi chàng nghĩ rằng, nếu chàng được lướt môi mình dọc theo đôi vai của Lygia theo cách ấy, thì đó hẳn sẽ là một thứ khoái lạc phạm thánh lớn đến mức sau đó mặc cho thế gian tiêu tan cũng cam! Nhưng nay đã quen nhìn thật nhanh vào điều đang diễn ra trong chính mình, chàng nhận thấy rằng ngay trong khoảnh khắc ấy chàng chỉ đang nghĩ đến Lygia, và chỉ riêng nàng mà thôi.
“Eunice,” Petronius nói, “hãy truyền chuẩn bị những vòng hoa cho chúng ta đội đầu và một bữa ăn, hỡi người đẹp thần thánh.”
Khi nàng đi ra rồi, ông quay sang Vinicius.
“Tôi đã ngỏ ý giải phóng nàng, nhưng cậu có biết nàng đáp thế nào không? ‘Thà em làm nô lệ của chàng còn hơn làm vợ Caesar!’ Và nàng nhất quyết không chịu. Thế là tôi giải phóng nàng mà không cho nàng biết. Viên pháp quan đã ưu ái tôi khi không đòi nàng phải có mặt. Nhưng nàng không biết mình đã được tự do, cũng như không biết rằng ngôi nhà này và tất cả nữ trang của tôi, trừ đá quý, sẽ thuộc về nàng nếu tôi chết.” Ông đứng dậy đi lại trong phòng rồi nói: “Tình yêu làm thay đổi người này nhiều, người kia ít, nhưng nó đã làm thay đổi cả tôi nữa. Xưa kia tôi yêu mùi cỏ roi ngựa; nhưng vì Eunice thích hoa tím, giờ tôi cũng thích chúng hơn mọi loài hoa khác, và từ khi xuân về chúng tôi chỉ hít thở hương hoa tím.”
Đến đây ông dừng lại trước mặt Vinicius và hỏi: “Nhưng còn cháu, cháu vẫn chỉ dùng toàn dầu cam tùng thôi sao?”
“Xin cậu để cho cháu yên!” chàng thanh niên đáp.
“Ta muốn cháu nhìn thấy Eunice, và ta nhắc đến nàng với cháu, vì biết đâu cháu cũng đang tìm nơi xa một điều ở rất gần. Có lẽ cho cháu nữa, đâu đó trong buồng đám nô lệ của cháu, cũng đang đập một trái tim chân thật và đơn sơ. Hãy lấy thứ hương cao ấy mà xoa dịu những vết thương của cháu. Cháu bảo Lygia yêu cháu ư? Có lẽ nàng yêu thật. Nhưng đó là thứ tình yêu gì mà lại tự khước từ? Há chẳng phải như thế có nghĩa là còn một sức mạnh khác mạnh hơn cả tình yêu nàng dành cho cháu sao? Không đâu, cháu yêu của ta, Lygia không phải Eunice.”
“Tất cả chỉ là cực hình mà thôi,” Vinicius đáp. “Cháu thấy cậu hôn lên đôi vai Eunice, và lúc ấy cháu nghĩ rằng nếu Lygia chịu để lộ đôi vai nàng cho cháu, thì ngay khoảnh khắc sau đất có nứt ra dưới chân, cháu cũng chẳng màng. Nhưng chỉ mới nghĩ đến một hành vi như thế, cháu đã bị một nỗi kinh sợ chụp lấy, như thể cháu đang xâm phạm một nữ tư tế Vesta, hay muốn làm ô uế một vị thần. Lygia không phải Eunice, nhưng sự khác biệt ấy cháu hiểu không giống cách cậu hiểu. Tình yêu đã đổi cả khứu giác của cậu, khiến cậu thích hoa tím hơn cỏ roi ngựa; còn nó đã đổi cả linh hồn cháu: bởi vậy, mặc cho nỗi khổ và lòng ham muốn của mình, cháu vẫn muốn Lygia cứ là chính nàng hơn là trở thành như những người khác.”
“Nếu vậy thì không có điều gì bất công với cháu cả. Nhưng ta không hiểu thế đứng của cháu.”
“Đúng, đúng thế!” Vinicius đáp, giọng sốt sắng. “Chúng ta không còn hiểu nhau nữa.”
Lại tiếp theo một lúc im lặng.
“Cầu cho Hades nuốt chửng bọn Kitô hữu của cháu đi!” Petronius kêu lên. “Chúng đã làm cháu đầy bất an và phá hủy cảm quan sống của cháu. Cầu cho Hades nuốt chửng chúng! Cháu lầm khi tưởng tôn giáo của chúng là tốt, bởi tốt là cái đem lại hạnh phúc cho con người, tức là cái đẹp, tình yêu, quyền lực; còn những điều ấy chúng lại gọi là phù vân. Cháu cũng lầm khi cho rằng chúng công chính; vì nếu ta lấy điều lành đáp lại điều dữ, thì ta sẽ lấy gì đáp lại điều lành? Vả lại, nếu cho cả bên này lẫn bên kia cùng một phần như nhau, thì cớ sao người ta còn phải sống tốt?”
“Không, phần thưởng không giống nhau; nhưng theo lời dạy của họ, nó chỉ bắt đầu ở đời sau, một đời không cùng tận.”
“Ta không bàn tới chuyện ấy, vì rồi sau sẽ biết có thể thấy được gì chăng khi không còn mắt nữa. Còn lúc này, họ chỉ đơn giản là những kẻ bất lực. Ursus siết chết Croton vì anh ta có cánh tay bằng đồng; còn những người kia thì ủ rũ bạc nhược, mà tương lai không thể thuộc về những kẻ như thế.”
“Với họ, sự sống bắt đầu từ cái chết.”
“Nói thế chẳng khác nào bảo: ‘Ban ngày bắt đầu bằng ban đêm.’ Cháu có định bắt cóc Lygia không?”
“Không, cháu không thể lấy điều dữ đáp lại điều lành nàng dành cho cháu, và cháu đã thề là sẽ không làm.”
“Cháu định theo đạo của Đấng Kitô sao?”
“Cháu muốn như vậy, nhưng bản tính cháu không thể chịu nổi.”
“Nhưng cháu có thể quên Lygia được không?”
“Không.”
“Vậy thì hãy lên đường.”
Đúng lúc ấy bọn nô lệ vào báo bữa ăn đã sẵn; nhưng Petronius, dường như thấy mình vừa nảy ra một ý hay, liền nói trên đường tới phòng triclinium: “Cháu đã phi ngựa qua một phần thế giới, nhưng chỉ như một người lính vội vã đến nơi phải đến, không hề dừng lại dọc đường. Hãy đi với chúng ta tới Achaea. Caesar chưa từ bỏ chuyến đi đâu. Người sẽ dừng lại khắp nơi trên đường, ca hát, nhận vòng nguyệt quế, cướp bóc đền miếu, rồi trở về Ý như một kẻ khải hoàn. Chuyến ấy sẽ phần nào giống cuộc du hành của Bacchus và Apollo hợp trong một người. Đám Augustian nam nữ, một nghìn cây cithara. Nhân danh Castor! Quả thật đáng để tận mắt chứng kiến, vì từ trước tới nay thế gian chưa hề thấy điều gì như thế!”
Nói rồi ông ngả mình lên trường kỷ trước bàn, bên cạnh Eunice; và khi bọn nô lệ đội lên đầu ông một vòng hải quỳ, ông tiếp: “Cháu đã thấy gì trong thời theo Corbulo? Không gì cả. Cháu đã ngắm kỹ các đền đài Hy Lạp như ta chưa, ta, kẻ đã hơn hai năm liền đi từ tay người dẫn đường này sang tay người dẫn đường khác? Cháu đã tới Rhodes để xem nơi xưa kia đặt pho Colossus chưa? Cháu đã thấy ở Panopeus xứ Phocis thứ đất sét Prometheus dùng để nặn ra con người; hay ở Sparta những quả trứng Leda đẻ ra; hay ở Athens bộ áo giáp Sarmatia trứ danh làm bằng móng ngựa; hay ở Euboea con thuyền của Agamemnon; hay chiếc chén lấy khuôn theo bầu ngực trái của Helen chưa? Cháu đã thấy Alexandria, Memphis, các Kim tự tháp, lọn tóc Isis giật khỏi đầu mình vì đau buồn trước cái chết của Osiris chưa? Cháu đã nghe tiếng hô vang của Memnon chưa? Thế giới rộng lắm; không phải mọi sự đều chấm dứt ở bên kia sông Tiber đâu! Ta sẽ tháp tùng Caesar, và khi người quay về ta sẽ rời người để tới Cyprus; vì nữ thần tóc vàng của ta đây muốn rằng chúng ta sẽ cùng dâng chim bồ câu cho vị thần ở Paphos, và cháu phải biết rằng điều nàng muốn thì nhất định phải thành.”
“Thiếp là nô lệ của ngài,” Eunice nói.
Ông tựa chiếc đầu quấn vòng hoa lên ngực nàng và mỉm cười nói: “Vậy thì ta là nô lệ của một người nô lệ. Ta ngưỡng mộ nàng, hỡi nữ thần, từ chân lên tới đầu!”
Rồi ông nói với Vinicius: “Hãy đi với chúng ta tới Cyprus. Nhưng trước hết, nhớ rằng cháu phải tới yết kiến Caesar. Thật không hay chút nào khi đến giờ cháu vẫn chưa tới với người; Tigellinus sẵn sàng lợi dụng việc ấy để hại cháu. Đúng là hắn không có thù riêng gì với cháu; nhưng hắn cũng chẳng thể ưa cháu được, chỉ riêng vì cháu là con trai chị gái ta. Chúng ta sẽ nói rằng cháu đau ốm. Ta phải nghĩ cho kỹ cháu sẽ đáp thế nào nếu người hỏi cháu về Lygia. Tốt nhất là cháu cứ phẩy tay mà nói rằng nàng đã ở với cháu cho đến lúc cháu chán nàng. Người sẽ hiểu như vậy. Cũng hãy nói rằng bệnh tật đã giữ chân cháu ở nhà; rằng cơn sốt của cháu còn tăng lên vì thất vọng không được tới Naples nghe người ca hát; rằng chỉ niềm hy vọng một ngày kia được nghe tiếng hát ấy mới giúp cháu hồi phục. Đừng sợ cường điệu. Tigellinus đã hứa sẽ bày ra cho Caesar không chỉ một điều lớn lao, mà là một điều khổng lồ. Ta e hắn sẽ đào đất dưới chân ta; mà ta cũng e cả tính nết của cháu nữa.”
“Cậu có biết không,” Vinicius nói, “có những người chẳng hề sợ Caesar, sống bình thản như thể người không hề tồn tại?”
“Ta biết cháu muốn nói tới ai rồi, các Kitô hữu chứ gì.”
“Vâng; chỉ có họ thôi. Còn đời sống của chúng ta, nếu không phải là một nỗi kinh hoàng triền miên, thì là gì?”
“Đừng nhắc tới bọn Kitô hữu của cháu nữa. Họ không sợ Caesar, vì có lẽ người còn chưa hề nghe đến họ; mà dẫu sao đi nữa, người cũng chẳng biết gì về họ, và họ đối với người cũng chỉ đáng kể như lá úa. Nhưng ta bảo cháu, họ là những kẻ bất lực. Chính cháu cũng cảm thấy điều ấy; nếu bản tính cháu ghê sợ giáo lý của họ, thì chính là vì cháu cảm thấy cái sự bất lực ấy. Cháu là con người được nặn từ thứ đất khác; vậy đừng làm phiền cháu hay ta bằng họ nữa. Chúng ta thì còn có thể sống và chết, còn họ rồi sẽ làm được gì hơn thế nữa, điều ấy chưa ai biết.”
Những lời ấy đánh mạnh vào Vinicius; và khi trở về nhà, chàng bắt đầu nghĩ rằng quả thật, biết đâu lòng tốt và đức bác ái của các Kitô hữu lại chính là bằng chứng cho sự bất lực trong tâm hồn họ. Chàng thấy dường như những con người có sức mạnh và khí phách không thể tha thứ đến thế. Chợt một ý nghĩ đến với chàng rằng hẳn đây mới là nguyên nhân thật sự của sự phản kháng mà tâm hồn La Mã trong chàng vẫn cảm thấy trước giáo huấn của họ. “Chúng ta còn có thể sống và chết!” Petronius đã nói thế. Còn họ, họ chỉ biết tha thứ, và chẳng hiểu thế nào là tình yêu đích thực, cũng chẳng hiểu thế nào là lòng căm hận đích thực.