Quo Vadis — Chương 2

Chương 3 / 75 · Bài review Quo Vadis

Sau bữa điểm tâm, vẫn được gọi là bữa ăn buổi sáng, mà hai người bạn ngồi vào ở một giờ khi những kẻ phàm tục từ lâu đã dùng xong bữa trưa, Petronius đề nghị chợp mắt một lát. Theo chàng, hãy còn quá sớm để đi thăm viếng. “Quả có,” chàng nói, “những người bắt đầu đi thăm người quen từ lúc mặt trời mọc, tưởng đó là tục cũ của La Mã, nhưng ta xem thế là man rợ. Thích hợp nhất là những giờ xế chiều, tuy vậy cũng không nên sớm hơn cái giờ khi mặt trời nghiêng sang phía đền Jupiter trên điện Capitol và bắt đầu đổ ánh nhìn xiên xuống Forum. Mùa thu vẫn còn nóng, người ta ăn xong rất thích ngủ. Lại nữa, thật dễ chịu khi nghe tiếng nước trong vòi phun nơi atrium, và, sau một ngàn bước đi bắt buộc, được lim dim trong thứ ánh đỏ lọc qua tấm velarium màu tía buông lửng.”

Vinicius nhận ra lời ấy rất có lý; thế là hai người bắt đầu đi đi lại lại, thản nhiên trò chuyện về những điều đang được bàn tán trên Palatine và trong thành, lại triết lý đôi chút về cuộc đời. Đoạn Petronius lui vào cubiculum, nhưng không ngủ lâu. Nửa giờ sau chàng bước ra, truyền đem cỏ roi ngựa đến, rồi hít mùi hương của nó và xoa lên hai bàn tay cùng thái dương.

“Anh sẽ không tin đâu,” chàng nói, “nó làm người ta tỉnh táo, khoan khoái đến thế nào. Giờ thì ta sẵn sàng rồi.”

Kiệu đã chờ từ lâu; vì thế họ lên chỗ, và Petronius truyền khiêng đến Vicus Patricius, tới nhà Aulus. “Insula” của Petronius nằm trên sườn nam Palatine, gần khu gọi là Carinae; bởi vậy đường gần nhất là đi dưới Forum; nhưng vì Petronius muốn ghé dọc đường thăm người thợ kim hoàn Idomeneus, chàng bèn ra lệnh khiêng dọc theo Vicus Apollinis và qua Forum về phía Vicus Sceleratus, ở góc đường ấy có rất nhiều tabernae đủ mọi loại.

Những người Phi châu lực lưỡng khiêng kiệu rảo bước, phía trước có bọn nô lệ gọi là pedisequii dẫn đường. Một lúc sau, Petronius lặng lẽ đưa lên mũi bàn tay còn thơm mùi cỏ roi ngựa, dường như đang ngẫm nghĩ điều gì.

“Ta chợt nghĩ,” một lát sau chàng nói, “nếu nữ thần rừng xanh của anh không phải nô lệ, nàng có thể rời nhà Plautius mà sang nhà anh. Anh sẽ vây bọc nàng bằng tình yêu và phủ kín nàng bằng giàu sang, như ta vẫn làm với Chrysothemis yêu dấu của ta, mà nói riêng với nhau, ta đã chán nàng gần bằng chính nàng chán ta.”

Marcus lắc đầu.

“Không ư?” Petronius hỏi. “Cùng lắm, việc ấy sẽ được đưa lên Caesar, và anh có thể chắc rằng, dẫu chỉ nhờ ảnh hưởng của ta thôi, lão Râu Đồng của chúng ta cũng sẽ đứng về phía anh.”

“Anh chưa biết Lygia,” Vinicius đáp.

“Vậy cho phép ta hỏi, anh có biết nàng ngoài chuyện chỉ nhìn thấy nàng không? Anh đã nói chuyện với nàng chưa? đã thổ lộ tình yêu với nàng chưa?”

“Lần đầu tôi thấy nàng bên vòi nước; từ đó tôi còn gặp nàng hai lần nữa. Anh nhớ cho, trong thời gian ở nhà Aulus, tôi ở tại một villa riêng dành cho khách, hơn nữa vì cánh tay bị trật nên tôi không thể ngồi ăn cùng bàn. Chỉ tới tối trước ngày tôi báo sẽ lên đường, tôi mới gặp Lygia trong bữa ăn, nhưng không sao nói với nàng một lời. Tôi phải ngồi nghe Aulus kể về những chiến thắng ông giành được ở Britannia, rồi lại nghe chuyện sự sụp đổ của các tiểu quốc ở Ý mà Licinius Stolo đã cố ngăn chặn. Nói chung, tôi không biết Aulus còn có thể nói điều gì khác không, và tôi nghĩ chúng ta khó lòng thoát khỏi thiên sử ấy, trừ phi anh thích nghe ông nói về sự ẻo lả của thời buổi này. Họ có chim trĩ nuôi trong khu bảo tồn, nhưng không ăn, vì theo nguyên tắc rằng mỗi con chim trĩ bị ăn sẽ đưa ngày tàn quyền lực La Mã đến gần hơn. Lần thứ hai tôi gặp nàng bên bể nước trong vườn, tay cầm một cọng sậy vừa ngắt, đầu sậy nhúng xuống nước rồi vẩy lên những khóm diên vĩ mọc quanh đó. Anh hãy nhìn đầu gối tôi đây. Nhân khiên của Hercules, tôi nói thật với anh rằng chúng không run khi từng đám Parthia gào thét xông vào manipulus của chúng tôi, thế mà trước bể nước ấy chúng lại run lên. Và tôi, bối rối như một cậu trai còn đeo bulla trước ngực, chỉ biết van xin lòng thương bằng mắt, không sao thốt nổi lời nào rất lâu.”

Petronius nhìn chàng, dường như có chút ghen tị. “Kẻ hạnh phúc,” chàng nói, “dù thế gian và đời sống có tồi tệ đến đâu, vẫn còn một điều trong đó vĩnh viễn tốt đẹp, ấy là tuổi trẻ!”

Một lát sau chàng hỏi: “Và anh vẫn chưa nói chuyện với nàng sao?”

“Khi đã hoàn hồn đôi chút, tôi bảo nàng rằng tôi từ Asia trở về, rằng gần thành tôi bị trật tay và đã đau đớn dữ dội, nhưng đến lúc rời ngôi nhà hiếu khách ấy, tôi hiểu rằng chịu đau ở đó vẫn đáng ước hơn là hưởng vui ở nơi khác, rằng đau ốm ở đó còn hơn khỏe mạnh ở bất cứ đâu. Chính nàng cũng bối rối, cúi đầu nghe tôi nói, trong khi dùng cọng sậy vẽ gì đó trên nền cát vàng nghệ. Rồi nàng ngước mắt lên, lại nhìn xuống những nét đã vẽ; một lần nữa nàng nhìn tôi, như muốn hỏi điều gì, rồi bất thần bỏ chạy như một hamadryad trước một gã faun đần độn.”

“Hẳn nàng có đôi mắt đẹp lắm.”

“Xanh như biển cả, và tôi đã chết chìm trong đó như chìm dưới biển. Tin tôi đi, cả quần đảo cũng không xanh đến thế. Một lúc sau, cậu con trai nhỏ của Plautius chạy tới hỏi gì đó. Nhưng tôi chẳng hiểu nó muốn gì.”

“Ôi Athene!” Petronius kêu lên, “xin cởi khỏi mắt chàng trai này dải băng mà Eros đã buộc vào; bằng không, cậu ta sẽ đập đầu vào những cột đền Venus mất.”

“Ôi chồi xuân trên cây đời,” chàng nói, quay sang Vinicius, “ngọn non đầu tiên của cây nho! Thay vì đưa anh tới nhà Plautius, lẽ ra ta phải truyền khiêng anh đến nhà Gelocius, nơi có trường dạy cho đám thanh niên chưa biết gì về đời.”

“Rốt cuộc anh muốn nói gì?”

“Nhưng nàng đã viết gì trên cát? Chẳng lẽ không phải tên Amor, hoặc một trái tim bị mũi tên của thần đâm xuyên, hay thứ gì tương tự, để người ta biết rằng bọn satyr đã thì thầm vào tai tiên nữ ấy nhiều bí mật của cuộc đời? Làm sao anh có thể không nhìn những dấu ấy?”

“Từ ngày tôi khoác toga đến nay đã lâu hơn anh tưởng,” Vinicius nói, “và trước khi cậu bé Aulus chạy đến, tôi đã nhìn kỹ những dấu ấy, vì tôi biết rằng các thiếu nữ ở Hy Lạp và ở La Mã thường vẽ trên cát một lời thú nhận mà môi họ không dám nói ra. Nhưng anh thử đoán nàng đã vẽ gì xem!”

“Nếu không phải điều ta vừa nghĩ, thì ta chịu, không đoán nổi.”

“Một con cá.”

“Anh nói gì cơ?”

“Tôi nói, một con cá. Điều đó có nghĩa gì nhỉ, rằng trong huyết quản nàng đang chảy thứ máu lạnh chăng? Cho đến giờ tôi vẫn chưa biết; nhưng anh, người vừa gọi tôi là chồi xuân trên cây đời, hẳn sẽ hiểu được dấu hiệu ấy.”

“Carissime! Hãy hỏi điều ấy ở Pliny. Ông ta biết cá. Nếu lão Apicius còn sống, hẳn ông ta cũng có thể nói cho anh vài điều, bởi suốt đời mình ông đã ăn nhiều cá hơn số cá có thể chứa cùng một lúc trong vịnh Naples.”

Câu chuyện bị ngắt quãng, vì họ đã được khiêng vào những con phố đông đúc, nơi tiếng ồn của đám người khiến họ không thể nói chuyện.

Từ Vicus Apollinis họ rẽ về phía Boarium, rồi tiến vào Forum Romanum, nơi vào những ngày quang đãng, trước lúc mặt trời lặn, từng đám người nhàn tản tụ họp để dạo giữa các hàng cột, kể và nghe tin tức, nhìn những người nổi tiếng được kiệu qua, và sau hết ghé xem các cửa hàng đồ kim hoàn, các hiệu sách, các mái vòm đổi tiền, các quầy bán lụa, đồ đồng và mọi thứ hàng hóa khác chất đầy trong những dãy nhà phủ kín phần chợ đối diện điện Capitol.

Phân nửa Forum, ngay dưới mỏm đá của điện Capitol, đã chìm trong bóng râm; nhưng các hàng cột đền đài ở vị trí cao hơn thì như hóa vàng trong nắng và trong sắc xanh trời. Những cột nằm thấp hơn đổ bóng dài trên các phiến cẩm thạch. Khắp nơi chen kín cột đến nỗi mắt lạc giữa chúng như lạc vào một khu rừng.

Những công trình và hàng cột ấy dường như chen chúc vào nhau. Cái này vươn cao trên cái kia, cái nọ trải sang phải sang trái, leo lên tận cao, rồi bám vào tường điện Capitol, hoặc có cái lại bám lấy cái khác, như những thân cây lớn nhỏ, dày mỏng, trắng hoặc ánh vàng, lúc nở hoa acanthus dưới các architrave, lúc được bao quanh bởi các góc Ionic, lúc kết thúc bằng một khối vuông Doric giản dị. Phía trên khu rừng ấy, những triglyph sắc màu lấp loáng; từ các tympan nhô ra hình tượng chạm khắc của các thần; trên chóp cao, những quadrigae vàng có cánh tưởng như sắp lao vút qua không gian vào mái vòm xanh thanh thản treo bên trên nơi đền đài chen chật ấy. Xuyên giữa khu chợ và dọc theo các rìa của nó là một dòng sông người chảy xiết; đám đông đi qua dưới các vòm của basilica Julius Caesar; đám đông ngồi trên bậc thềm đền Castor và Pollux, hoặc đi quanh đền Vesta, giống trên nền cẩm thạch mênh mông ấy những đàn bướm và bọ cánh cứng nhiều màu. Từ những bậc thang mênh mang phía đền trên Capitol dâng kính Jupiter Optimus Maximus, những làn sóng người mới lại đổ xuống; ở rostra, người ta nghe những diễn giả tình cờ cất tiếng; chỗ này chỗ nọ vang lên lời rao của những kẻ bán trái cây, rượu, hoặc nước pha nước vả; của bọn trò bịp; của những người bán thuốc thần kỳ; của thầy bói; của kẻ tìm kho báu chôn giấu; của người giải mộng. Đây đó, giữa cơn náo động của tiếng nói chuyện và tiếng kêu gọi, còn xen lẫn âm thanh của sistrum Ai Cập, của đàn sambuca, hay sáo Hy Lạp. Đây đó, những người bệnh tật, những kẻ mộ đạo hoặc đau khổ đang mang lễ vật đến các đền. Giữa đám người, trên nền đá lát, tụ thành từng bầy bồ câu thèm khát những hạt thóc được rắc cho, như những đốm sẫm và lòe loẹt chuyển động, lúc vụt tung lên trong tiếng đập cánh rào rạt, lúc lại sà xuống những chỗ người vừa bỏ trống. Thỉnh thoảng đám đông tách ra trước những cỗ kiệu trong đó hiện ra gương mặt kiểu cách của đàn bà, hoặc những cái đầu của nghị sĩ và kỵ sĩ, với những nét mặt dường như đã cứng đờ và mệt lả vì sống quá lâu. Dân chúng đủ mọi thứ tiếng đồng thanh nhắc tên họ, thêm vào những lời tán tụng hay chế giễu. Giữa các nhóm người hỗn tạp, từng toán lính hoặc lính canh thỉnh thoảng chen qua với nhịp bước đều, giữ gìn trật tự trên đường phố. Chung quanh, tiếng Hy Lạp vang lên cũng thường như tiếng Latin.

Vinicius, đã lâu không ở trong thành, nhìn đám người nhung nhúc ấy và nhìn Forum Romanum ấy với một niềm hiếu kỳ nào đó, cái Forum vừa ngự trị trên biển cả của thế gian vừa bị chính biển cả ấy tràn ngập, đến nỗi Petronius, đoán được ý nghĩ của bạn đồng hành, gọi nó là “tổ của người Quirites, nhưng không có người Quirites.” Quả thật, yếu tố bản địa hầu như tan biến trong đám đông gồm đủ mọi chủng tộc và dân nước. Người ta thấy những người Ethiopia, những kẻ tóc sáng khổng lồ từ miền bắc xa xôi, người Briton, người Gaul, người German, những cư dân mắt xếch của Lericum; những người đến từ Euphrates và từ Indus, với chòm râu nhuộm màu gạch; người Syria từ bờ Orontes, có đôi mắt đen hiền hòa; cư dân sa mạc Arabia, khô quắt như xương; người Do Thái, với bộ ngực lép; người Ai Cập, với nụ cười thản nhiên vĩnh viễn trên mặt; người Numidia và người Phi châu; người Hy Lạp từ Hellas, những kẻ cùng với người La Mã cai trị thành này, nhưng cai trị bằng khoa học, nghệ thuật, trí tuệ và mưu trá; người Hy Lạp từ các đảo, từ Tiểu Á, từ Ai Cập, từ Ý, từ Narbonic Gaul. Trong đám nô lệ tai xỏ khuyên ấy cũng không thiếu những người tự do, một lớp dân nhàn tản mà Caesar mua vui, nuôi dưỡng, thậm chí phát áo mặc, cùng những kẻ phiêu lãng tự do bị sự dễ dãi của đời sống và hy vọng phát tài lôi cuốn đến đại thành này; cũng chẳng thiếu những hạng người đem thân mà bán. Có các tư tế của Serapis, tay cầm nhành cọ; tư tế của Isis, lên bàn thờ của họ người ta mang lễ vật còn nhiều hơn lên đền Jupiter Capitol; tư tế của Cybele, tay nâng những bông lúa vàng; rồi tư tế của các thần du mục; những vũ nữ phương Đông với khăn mũ rực rỡ; những người bán bùa hộ mệnh, những kẻ điều khiển rắn, những nhà tiên tri Chaldea; và sau hết là hạng người chẳng có nghề ngỗng gì, hằng tuần đến các kho lương bên sông Tiber nhận ngũ cốc, tranh nhau vé xổ số vào Circus, đêm ngủ trong những căn nhà xiêu vẹo ở các khu bên kia sông Tiber, còn ban ngày nắng ấm thì lê la dưới các hành lang có mái, trong những quán ăn bẩn thỉu của Subura, trên cầu Milvius, hoặc trước những “insulae” của bậc quyền quý, nơi thỉnh thoảng tàn dư từ mâm ăn của đám nô lệ bị ném ra cho họ.

Petronius rất quen mặt đối với những đám đông ấy. Tai Vinicius liên tiếp nghe tiếng “Hic est!” (Kìa ông ấy!). Họ yêu mến chàng vì lòng hào phóng; và thứ tiếng tăm riêng biệt ấy càng tăng từ khi họ biết chàng đã đứng trước Caesar để phản đối án tử hình tuyên cho toàn bộ “familia”, nghĩa là tất cả đám nô lệ của quan prefect Pedanius Secundus, không phân biệt đàn ông đàn bà, già trẻ, chỉ vì một trong số họ, trong phút tuyệt vọng, đã giết con quái vật ấy. Quả thật, ngoài nơi công cộng Petronius vẫn lặp đi lặp lại rằng việc ấy đối với chàng nào có nghĩa lý gì, rằng chàng chỉ nói riêng với Caesar, với tư cách arbiter elegantiarum, bởi thị hiếu thẩm mỹ của chàng bị xúc phạm trước một cuộc tàn sát man rợ thích hợp với dân Scythia hơn là với người La Mã. Tuy vậy, những kẻ phẫn nộ vì cuộc tàn sát ấy từ lúc đó đem lòng yêu mến Petronius. Nhưng chàng chẳng bận tâm gì đến tình yêu của họ. Chàng nhớ rằng đám người ấy cũng từng yêu Britannicus, người bị Nero đầu độc; yêu Agrippina, người bị giết theo lệnh hắn; yêu Octavia, người bị ngạt trong hơi nóng ở Pandataria sau khi gân mạch đã bị rạch; yêu Rubelius Plautus, người đã bị đày; yêu Thrasea, mà bất kỳ buổi sáng nào cũng có thể nhận án chết. Tình yêu của dân đen đúng hơn phải bị xem là một điềm gở; và Petronius, dù hoài nghi, cũng lại mê tín. Chàng khinh miệt quần chúng gấp đôi, vừa với tư cách một quý tộc, vừa với tư cách một người có thẩm mỹ. Những kẻ mang trong ngực mùi đậu rang, lại thêm suốt ngày khản giọng và đẫm mồ hôi vì chơi mora ở các góc phố và các peristyle, trong mắt chàng, không đáng mang tên “người.” Vì vậy chàng hoàn toàn không đáp lại tiếng hoan hô, hay những nụ hôn được gửi từ khắp nơi đến chàng. Chàng đang kể cho Marcus nghe vụ Pedanius, đồng thời rủa xả cái tính tráo trở của lũ ô hợp đã, ngay sáng hôm sau cuộc đồ sát ghê rợn, vỗ tay tán thưởng Nero trên đường hắn đến đền Jupiter Stator. Nhưng chàng truyền dừng lại trước hiệu sách của Avirnus, bước xuống kiệu, mua một bản chép tay trang hoàng đẹp đẽ rồi trao cho Vinicius.

“Quà cho anh đấy,” chàng nói.

“Đa tạ!” Vinicius đáp. Rồi nhìn nhan đề, chàng hỏi: “‘Satyricon’? Món này mới sao? Của ai vậy?”

“Của ta. Nhưng ta không muốn đi theo con đường của Rufinus, kẻ mà ta sắp kể chuyện cho anh nghe, cũng không muốn theo Fabricius Veiento; vì vậy chẳng ai biết chuyện này, và anh cũng đừng nhắc đến nó với bất cứ ai.”

“Ngài bảo mình không làm thơ,” Vinicius nói, mắt nhìn vào đoạn giữa bản thảo, “nhưng ở đây tôi thấy văn xuôi đan dày những câu thơ.”

“Khi đọc, ngươi hãy chú ý đến yến tiệc của Trimalchion. Còn thơ thì từ khi Nero viết sử thi, ta đã phát ngấy. Vitelius, lúc muốn nôn cho nhẹ bụng, dùng những ngón tay bằng ngà thọc xuống họng; những kẻ khác dùng lông hồng hạc nhúng dầu ô liu hoặc nước sắc cỏ xạ hương dại. Ta đọc thơ Nero, hiệu quả đến tức thì. Ngay sau đó ta có thể ca tụng nó, nếu lương tâm chưa sạch thì ít ra dạ dày cũng sạch.”

Nói đến đó, chàng lại cho kiệu dừng trước cửa hiệu của người thợ kim hoàn Idomeneus; sau khi thu xếp xong chuyện ngọc quý, chàng ra lệnh khiêng thẳng đến dinh thự của Aulus.

“Dọc đường ta sẽ kể ngươi nghe chuyện Rufinus,” chàng nói, “để chứng minh thói hư danh của một tác giả có thể đến mức nào.”

Nhưng chàng chưa kịp bắt đầu thì họ đã rẽ vào Vicus Patricius, chẳng bao lâu sau đã đứng trước tư dinh của Aulus. Một “janitor” trẻ tuổi, vạm vỡ mở cánh cửa dẫn vào ostium; phía trên cửa, một con chim ác là nhốt trong lồng ồn ào chào họ bằng tiếng: “Salve!”

Trên đường từ tiền sảnh thứ hai, gọi là ostium, vào chính atrium, Vinicius nói: “Ngài có để ý rằng những người gác cửa ở đây không mang xiềng xích không?” “Đây là một ngôi nhà kỳ lạ,” Petronius hạ giọng đáp. “Hẳn ngươi biết Pomponia Græcina bị nghi theo thứ mê tín phương Đông vốn thờ phụng một người tên Chrestos. Dường như Crispinilla đã giúp nàng có được tiếng tăm ấy — mụ không thể tha thứ cho Pomponia chỉ vì một người chồng đã đủ cho nàng suốt đời. Một người đàn bà chỉ có một chồng! Ngày nay ở Rome, kiếm nửa đĩa nấm tươi từ Noricum còn dễ hơn tìm một người như thế. Họ đã xét xử nàng trước một tòa án gia đình —”

“Theo ngài, đây là một ngôi nhà kỳ lạ. Sau này tôi sẽ kể ngài nghe những gì tôi đã nghe và thấy ở đây.”

Trong lúc ấy họ đã vào atrium. Người nô lệ trông coi nơi này, gọi là atriensis, sai một nomenclator đi báo khách; còn Petronius, vốn tưởng nỗi buồn vĩnh viễn ngự trị trong ngôi nhà nghiêm khắc này và chưa bao giờ bước vào đây, kinh ngạc nhìn quanh, dường như còn có chút thất vọng, bởi atrium lại tạo cảm giác khá tươi vui. Một bó ánh sáng rực rỡ đổ từ trên cao qua ô rộng, vỡ thành ngàn tia lấp lánh trên vòi nước trong chiếc bể vuông nhỏ gọi là impluvium, đặt ở giữa để hứng mưa qua ô trống khi trời xấu; quanh bể mọc đầy hải quỳ và hoa huệ. Ngôi nhà rõ ràng dành một tình yêu đặc biệt cho hoa huệ, bởi khắp nơi là từng khóm lớn, cả trắng lẫn đỏ; sau cùng còn có những cụm diên vĩ màu lam ngọc, cánh mảnh dẻ như được tráng bạc bởi bụi nước từ vòi phun. Giữa những đám rêu ẩm che giấu các chậu huệ và giữa các khóm hoa là những tượng đồng nhỏ hình trẻ em và chim nước. Ở một góc, con hươu non bằng đồng như đang muốn uống nước, cúi chiếc đầu xanh lục cũng đã bạc đi vì hơi ẩm. Sàn atrium lát khảm; tường một phần ốp cẩm thạch đỏ, một phần bọc gỗ vẽ cá, chim và sư tử đầu chim, thu hút ánh nhìn bằng sự hòa trộn màu sắc. Những cánh cửa dẫn vào các phòng bên được trang trí bằng mai rùa, thậm chí bằng ngà voi; trên các mảng tường giữa cửa là tượng tổ tiên của Aulus. Khắp nơi đều toát lên vẻ sung túc điềm tĩnh, không xa hoa quá độ nhưng cao quý và tự tin.

Petronius, người sống phô trương và thanh nhã hơn vô kể, cũng không tìm thấy điều gì xúc phạm khiếu thẩm mỹ của mình; chàng vừa quay sang Vinicius định nói thế thì một nô lệ velarius đã vén bức màn ngăn atrium với tablinum, và ở sâu trong nhà hiện ra Aulus Plautius đang vội vã tiến lại.

Ông là một người đã gần buổi hoàng hôn của đời mình, đầu trắng như phủ sương nhưng vẫn khỏe khoắn, gương mặt cương nghị hơi ngắn, song vẫn phảng phất nét chim ưng. Lần này trên mặt ông hiện rõ vẻ kinh ngạc, thậm chí lo âu, trước chuyến viếng thăm bất ngờ của một người bạn, bạn đồng hành và kẻ hiến kế cho Nero.

Petronius quá từng trải và quá tinh nhạy nên không thể không nhận ra điều ấy; vì vậy, sau những lời chào đầu tiên, chàng vận dụng tất cả tài hùng biện và vẻ ung dung sẵn có để giải thích rằng mình đến cảm tạ sự chăm sóc mà con trai của chị chàng đã nhận được trong ngôi nhà này; lòng biết ơn là nguyên do duy nhất của chuyến thăm, và hơn nữa, tình quen biết lâu năm với Aulus đã khiến chàng mạnh dạn đến đây.

Aulus quả quyết rằng chàng là vị khách được hoan nghênh; còn về lòng biết ơn, ông nói chính mình cũng mang tình cảm ấy, dù chắc chắn Petronius không đoán được nguyên do.

Quả thật Petronius không đoán ra. Chàng uổng công ngước đôi mắt màu hạt dẻ, cố nhớ lại một ân huệ dù nhỏ nhất mình từng làm cho Aulus hay bất kỳ ai. Chàng không nhớ được gì, trừ phi đó là ân huệ chàng đang định làm cho Vinicius. Đúng là chuyện tương tự có thể từng vô tình xảy ra, nhưng chỉ có thể là vô tình.

“Ta rất yêu mến và kính trọng Vespasian, người đã được ngài cứu mạng,” Aulus nói, “khi ông ấy chẳng may ngủ gật trong lúc nghe thơ Nero.”

“Ông ấy may mắn vì không phải nghe,” Petronius đáp, “nhưng ta không phủ nhận chuyện đó suýt kết thúc trong bất hạnh. Gã Râu Đồng nhất quyết muốn phái một viên centurion đến trao cho ông ấy lời khuyên thân tình là hãy tự cắt mạch máu.”

“Nhưng ngài, Petronius, đã dùng tiếng cười khiến hắn bỏ ý định.”

“Đúng thế, hay đúng hơn là không đúng. Ta bảo Nero rằng nếu Orpheus dùng tiếng hát ru ngủ được thú dữ, thì chiến công của ngài cũng ngang như vậy, bởi ngài đã ru ngủ được Vespasian. Người ta có thể chê Ahenobarbus, với điều kiện kèm một lời chê nhỏ bằng một lời nịnh lớn. Augusta nhân từ của chúng ta, Poppæa, hiểu nghệ thuật ấy đến mức hoàn hảo.”

“Than ôi! Thời thế là vậy,” Aulus đáp. “Ta mất hai chiếc răng cửa vì một hòn đá từ tay người Briton, nên nói hơi rít; thế mà những ngày hạnh phúc nhất đời ta lại trôi qua ở Britain.”

“Vì đó là những ngày chiến thắng,” Vinicius nói thêm.

Nhưng Petronius, lo vị lão tướng sẽ bắt đầu kể về những cuộc chiến thuở trước, liền đổi đề tài.

“Ngài xem,” chàng nói, “ở vùng lân cận Præneste, dân quê tìm thấy xác một con sói con hai đầu; cũng vào khoảng ấy, giữa một cơn giông, sét đánh vỡ một góc đền Luna — một chuyện chưa từng có, vì lúc này đã cuối thu. Một người tên Cotta kể chuyện đó, còn nói thêm rằng các tư tế trong đền tiên báo thành phố sẽ sụp đổ, hoặc ít ra một đại gia sẽ tiêu vong — tai họa chỉ có thể ngăn bằng những lễ hiến tế khác thường.”

Nghe kể xong, Aulus bày tỏ ý kiến rằng không nên coi nhẹ những điềm như thế; thần linh có thể đã nổi giận trước tội ác quá độ. Điều ấy chẳng có gì lạ; và trong trường hợp đó, những lễ hiến tế tạ tội hoàn toàn thích đáng.

“Nhà ngài, Plautius, không quá lớn,” Petronius đáp, “dù một con người vĩ đại sống trong đó. Nhà ta thì quả là quá lớn đối với một chủ nhân khốn khổ như ta, dù cũng nhỏ chẳng kém. Nhưng nếu điều sắp tiêu vong là một thứ thật đồ sộ, chẳng hạn domus transitoria, liệu chúng ta có đáng phải dâng lễ vật để ngăn tai họa ấy không?”

Plautius không trả lời câu hỏi đó — sự thận trọng khiến ngay cả Petronius cũng hơi động lòng, bởi mặc dù không có khả năng cảm nhận sự khác biệt giữa thiện và ác, chàng chưa bao giờ làm kẻ chỉ điểm; người ta có thể nói chuyện với chàng hoàn toàn an toàn. Vì thế chàng lại đổi đề tài, bắt đầu khen ngợi tư dinh của Plautius và khiếu thẩm mỹ ngự trị trong nhà.

“Đây là một dinh cơ cổ,” Plautius nói, “từ khi ta thừa kế đến nay chưa có gì thay đổi.”

Khi bức màn ngăn atrium với tablinum được vén lên, ngôi nhà mở thông từ đầu đến cuối, đến nỗi qua tablinum, dãy cột bao quanh sân kế tiếp và đại sảnh phía sau gọi là oecus, tầm mắt có thể nhìn thẳng ra khu vườn, từ xa trông như một bức tranh sáng đặt trong khung tối. Tiếng cười hồn nhiên, vui sướng của trẻ nhỏ từ đó vọng vào atrium.

“Ôi, tướng quân!” Petronius nói, “xin cho phép chúng tôi đến gần để nghe tiếng cười vui tươi ấy, thứ âm thanh ngày nay hiếm khi còn được nghe.”

“Rất sẵn lòng,” Plautius đáp và đứng dậy; “đó là Aulus bé nhỏ của ta và Lygia đang chơi bóng. Nhưng nói về tiếng cười, Petronius, ta nghĩ cả đời chúng ta đều trôi qua trong tiếng cười.”

“Cuộc đời đáng bị cười nhạo, vì thế người ta cười nó,” Petronius đáp, “nhưng tiếng cười ở đây mang một âm sắc khác.”

“Petronius có thể nhiều ngày liền không cười,” Vinicius nói; “nhưng sau đó ngài ấy sẽ cười suốt cả đêm.”

Vừa trò chuyện, họ vừa đi xuyên suốt ngôi nhà rồi tới khu vườn, nơi Lygia và Aulus bé nhỏ đang chơi bóng; những nô lệ được chỉ định riêng cho trò ấy, gọi là spheristæ, nhặt bóng và đặt vào tay hai người. Petronius liếc nhanh qua Lygia; Aulus bé nhỏ vừa thấy Vinicius liền chạy đến chào, còn viên tribune trẻ bước tới cúi đầu trước thiếu nữ xinh đẹp đang đứng với quả bóng trong tay, mái tóc hơi bị gió thổi tung. Nàng thở có phần gấp gáp, đôi má ửng hồng.

Trong triclinium ngoài vườn, dưới bóng dây thường xuân, nho và kim ngân, Pomponia Græcina đang ngồi; vì thế họ đến chào nàng. Petronius biết Pomponia dù không đến thăm Plautius, bởi chàng từng gặp nàng tại nhà Antistia, con gái Rubelius Plautus, ngoài ra còn tại nhà Seneca và Polion. Chàng không cưỡng nổi sự ngưỡng mộ mà gương mặt trầm tư nhưng dịu dàng, dáng điệu, cử chỉ và lời nói đầy phẩm giá của nàng khơi lên trong lòng. Pomponia làm đảo lộn cách chàng hiểu về phụ nữ đến mức con người đã hư hỏng tận xương tủy và tự tin hơn bất cứ ai ở Rome ấy không chỉ cảm thấy một niềm kính trọng nào đó dành cho nàng, mà còn mất cả sự tự tin thường có. Và giờ đây, khi cảm tạ nàng đã chăm sóc Vinicius, chàng dường như vô tình chen vào tiếng “domina”, điều chưa từng xảy ra khi chàng nói chuyện, chẳng hạn, với Calvia Crispinilla, Scribonia, Veleria, Solina hay những phụ nữ thượng lưu khác. Sau lời chào và cảm tạ, chàng bắt đầu than phiền rằng mình hiếm khi được gặp nàng, rằng không thể gặp nàng ở cả Circus lẫn Amphitheatre; nàng bình thản đáp, đặt tay lên tay chồng:

“Chúng tôi đang già đi, và cả hai ngày càng yêu sự yên tĩnh trong nhà.”

Petronius định phản bác, nhưng Aulus Plautius nói thêm bằng giọng rít: “Và chúng tôi ngày càng cảm thấy xa lạ giữa những người đặt tên Hy Lạp cho các thần linh La Mã của mình.”

“Từ lâu các thần đã chỉ còn là những hình tượng tu từ đối với một số người,” Petronius thờ ơ đáp. “Nhưng vì các nhà hùng biện Hy Lạp đã dạy chúng ta, nên ngay cả ta cũng thấy nói Hera dễ hơn Juno.”

Bấy giờ chàng đưa mắt nhìn Pomponia, như muốn ngụ ý rằng trước mặt nàng, không một nữ thần nào khác có thể hiện lên trong tâm trí mình; rồi chàng bắt đầu phản bác điều nàng vừa nói về tuổi già.

“Quả thật người ta già đi rất nhanh; nhưng có những người sống một cuộc đời hoàn toàn khác, và hơn nữa còn có những gương mặt dường như bị Saturn bỏ quên.”

Petronius nói lời ấy với cả đôi phần chân thành, bởi Pomponia Græcina, tuy đã qua buổi chính ngọ của đời người, vẫn giữ được vẻ mặt tươi trẻ khác thường; mà vì đầu nàng nhỏ, đường nét thanh tú nên đôi khi, bất chấp y phục sẫm màu, vẻ trang nghiêm và nỗi buồn, nàng vẫn tạo cảm giác như một phụ nữ còn rất trẻ.

Trong lúc ấy Aulus bé nhỏ, vốn đã trở nên thân thiết khác thường với Vinicius trong lần chàng ở nhà này trước đây, tiến lại gần và nài chàng chơi bóng. Chính Lygia cũng theo cậu bé vào triclinium. Dưới giàn thường xuân, với ánh sáng rung rinh trên gương mặt, nàng hiện ra trước Petronius đẹp hơn lúc thoạt nhìn, quả thật tựa một tiên nữ. Vì đến giờ vẫn chưa nói với nàng lời nào, chàng đứng dậy, cúi đầu, rồi thay những câu chào hỏi thông thường bằng lời Ulysses từng chào Nausikaa:

“Ta khẩn cầu nàng, ôi nữ vương, dù nàng là một nữ thần hay người trần! Nếu nàng là một trong những con gái của loài người sống trên mặt đất, phúc lành ba lần thuộc về cha nàng, phúc lành ba lần thuộc về người mẹ tôn quý của nàng, và phúc lành ba lần thuộc về các anh em nàng.”

Sự lịch thiệp tuyệt mỹ của con người từng trải ấy làm ngay cả Pomponia cũng hài lòng. Còn Lygia thì bối rối lắng nghe, mặt đỏ bừng, không đủ mạnh dạn ngước mắt lên. Nhưng một nụ cười tinh nghịch bắt đầu rung nơi khóe môi; trên gương mặt nàng hiện rõ cuộc giằng co giữa sự e thẹn của thiếu nữ và ý muốn đáp lời. Rõ ràng ý muốn đã thắng, bởi nàng thoáng nhìn Petronius rồi lập tức đáp bằng lời của chính Nausikaa ấy, đọc liền một hơi, hơi giống như đang trả một bài đã học thuộc:

“Hỡi người khách lạ, ngài xem ra chẳng phải kẻ xấu xa hay ngu muội.”

Rồi nàng quay người chạy đi như một con chim hoảng sợ.

Lần này đến lượt Petronius kinh ngạc, bởi chàng không ngờ lại nghe những câu thơ Homer từ môi một thiếu nữ mà trước đó Vinicius đã kể là có nguồn gốc man tộc. Vì thế chàng đưa mắt dò hỏi Pomponia; nhưng nàng không thể trả lời, bởi lúc ấy đang mỉm cười nhìn niềm kiêu hãnh phản chiếu trên gương mặt chồng.

Ông không thể che giấu niềm kiêu hãnh ấy. Thứ nhất, ông đã gắn bó với Lygia như con gái ruột; thứ hai, bất chấp thành kiến La Mã cổ xưa khiến ông phải lớn tiếng phản đối người Hy Lạp và sự lan rộng của ngôn ngữ ấy, ông vẫn coi tiếng Hy Lạp là đỉnh cao của sự tao nhã trong giao tiếp. Chính ông chưa bao giờ học giỏi được thứ tiếng đó, và âm thầm khổ tâm vì điều ấy. Bởi vậy ông vui mừng khi con người tuyệt mỹ cả về thời thượng lẫn văn chương, người sẵn sàng coi nhà Plautius là man rợ kia, được đáp lời bằng ngôn ngữ và thi ca của Homer.

“Trong nhà chúng ta có một pedagogue người Hy Lạp,” ông nói, quay sang Petronius, “ông ta dạy con trai chúng ta, còn cô bé nghe lỏm các bài học. Nó vẫn chỉ là một con chim chìa vôi nhỏ thôi, nhưng đáng yêu, và cả hai chúng ta đều đã gắn bó với nó.”

Petronius nhìn qua những nhánh kim ngân ra khu vườn và ba người đang chơi ngoài đó. Vinicius đã cởi áo toga, chỉ mặc tunic, đang đánh quả bóng mà Lygia đứng đối diện, hai tay giơ cao, cố đón lấy. Thoạt nhìn, thiếu nữ không gây ấn tượng mạnh với Petronius; chàng thấy nàng quá mảnh mai. Nhưng từ lúc nhìn nàng gần hơn trong triclinium, chàng thầm nghĩ Aurora có lẽ cũng mang dáng vẻ ấy; và bằng con mắt của một người sành sỏi, chàng hiểu nơi nàng có điều gì khác thường. Chàng xem xét mọi thứ, cân nhắc mọi thứ: gương mặt hồng hào trong trẻo, đôi môi tươi như sẵn chờ một nụ hôn, đôi mắt xanh như sắc biếc của biển, vầng trán trắng màu thạch cao tuyết hoa, mái tóc sẫm dày, trong những lọn tóc ánh lên sắc hổ phách hoặc đồng Corinth, chiếc cổ thanh mảnh, đường xuôi thần thánh của đôi vai, toàn bộ dáng hình mềm mại, mảnh dẻ, trẻ trung bằng tuổi trẻ tháng Năm và những đóa hoa vừa hé nở. Người nghệ sĩ và kẻ tôn thờ cái đẹp trong chàng bừng tỉnh; chàng cảm thấy dưới pho tượng thiếu nữ ấy, người ta có thể khắc một chữ: “Mùa Xuân”. Bỗng chàng nhớ tới Chrysothemis và bật cười thành tiếng. Với lớp phấn vàng trên tóc và đôi mày tô sẫm, Chrysothemis hiện ra trước chàng già úa đến khó tin — chẳng khác nào một bụi hồng vàng vọt đang rụng lá. Thế mà Rome vẫn ghen tị với chàng vì có Chrysothemis. Rồi chàng nhớ đến Poppæa; ngay cả Poppæa lừng danh bậc nhất ấy cũng có vẻ vô hồn như một chiếc mặt nạ sáp. Trong thiếu nữ mang những đường nét Tanagra này không chỉ có mùa xuân, mà còn có một linh hồn rạng rỡ, xuyên sáng qua thân thể hồng hào như ngọn lửa qua chiếc đèn.

“Vinicius nói đúng,” chàng nghĩ, “và Chrysothemis của ta đã già, già lắm rồi — già như thành Troy!”

Rồi chàng quay sang Pomponia Græcina, trỏ về phía khu vườn và nói: “Giờ ta đã hiểu, domina, vì sao nàng và phu quân thích ngôi nhà này hơn Circus và những yến tiệc trên đồi Palatine.”

“Phải,” nàng đáp, đưa mắt về phía Aulus bé nhỏ và Lygia.

Nhưng vị lão tướng bắt đầu kể chuyện thiếu nữ, cùng những điều nhiều năm trước ông đã nghe Atelius Hister nói về dân tộc Lygia sống trong bóng tối phương Bắc.

Ba người ngoài kia đã chơi bóng xong và đi dạo một lúc trên lối cát trong vườn, nổi lên trên nền tối của sim và bách như ba pho tượng trắng. Lygia dắt tay Aulus bé nhỏ. Đi được một lát, họ ngồi xuống chiếc ghế gần hồ cá giữa vườn. Một lúc sau Aulus nhảy dậy, định dọa lũ cá trong làn nước trong veo, còn Vinicius tiếp tục câu chuyện đã bắt đầu khi đi dạo.

“Phải,” chàng nói bằng giọng thấp và run, gần như không nghe thấy, “tôi vừa cởi bỏ áo pretexta thì đã được phái đến các quân đoàn ở châu Á. Tôi chưa kịp biết thành Rome, chưa biết cuộc đời, cũng chưa biết tình yêu. Tôi thuộc lòng đôi đoạn Anacreon và Horace; nhưng tôi không thể như Petronius trích thơ khi lý trí đã câm lặng vì ngưỡng mộ và không tìm nổi lời của chính mình. Thuở thiếu niên tôi theo học Musonius; ông dạy rằng hạnh phúc nằm ở việc mong muốn điều các thần mong muốn, vì thế nó phụ thuộc vào ý chí của ta. Nhưng tôi nghĩ hạnh phúc là một điều khác — lớn lao và quý giá hơn, không phụ thuộc vào ý chí, bởi chỉ tình yêu mới có thể ban nó. Chính các thần cũng tìm kiếm hạnh phúc ấy; vì vậy tôi, ôi Lygia, kẻ đến nay chưa từng biết yêu, cũng bước theo dấu chân họ. Tôi cũng tìm người có thể ban cho mình hạnh phúc —”

Chàng im lặng; một lúc lâu chỉ nghe tiếng nước khẽ bắn lên khi Aulus bé nhỏ ném sỏi xuống để dọa cá. Nhưng rồi Vinicius lại cất tiếng, còn dịu và thấp hơn trước: “Nhưng nàng biết Titus, con trai Vespasian chứ? Người ta nói khi vừa qua tuổi thiếu niên, chàng đã yêu Berenice đến mức nỗi đau gần như rút hết sinh lực khỏi người. Tôi cũng có thể yêu như thế, ôi Lygia! Của cải, vinh quang, quyền lực chỉ là khói, là hư ảo! Người giàu sẽ gặp kẻ giàu hơn mình; vinh quang lớn hơn của người khác sẽ che khuất kẻ lừng danh; người mạnh sẽ bị một kẻ mạnh hơn đánh bại. Nhưng ngay cả Caesar, ngay cả một vị thần, liệu có thể cảm thấy niềm hoan lạc lớn hơn hay hạnh phúc hơn một người trần bình thường vào khoảnh khắc một lồng ngực thân yêu khác đang thở bên ngực mình, hoặc khi người ấy hôn đôi môi mình yêu dấu? Bởi thế, tình yêu khiến chúng ta ngang hàng với các thần, ôi Lygia.”

Nàng lắng nghe với nỗi lo âu, kinh ngạc, đồng thời như đang nghe tiếng sáo Hy Lạp hoặc đàn cithara. Có lúc nàng tưởng Vinicius đang hát một khúc ca kỳ diệu nào đó, len vào tai nàng, lay chuyển dòng máu trong người và xuyên vào tim bằng cảm giác bủn rủn, nỗi sợ cùng một niềm hoan lạc khó hiểu. Nàng cũng cảm thấy chàng đang nói về một điều vốn đã có sẵn trong nàng, nhưng chính nàng không thể tự gọi tên. Nàng cảm thấy chàng đang đánh thức một điều đến nay vẫn ngủ yên, và ngay trong khoảnh khắc ấy, một giấc mơ mơ hồ dần biến thành hình hài ngày càng rõ nét, dễ chịu hơn, đẹp đẽ hơn.

Trong lúc đó mặt trời đã vượt qua sông Tiber từ lâu và hạ thấp trên đồi Janiculum. Ánh đỏ rơi xuống những cây bách bất động, tràn ngập cả không gian. Lygia ngước đôi mắt xanh nhìn Vinicius như vừa tỉnh giấc; còn chàng cúi xuống nàng, ánh mắt rung lên lời khẩn cầu, bỗng trong những phản quang chiều tối trở nên đẹp hơn tất cả đàn ông, hơn mọi vị thần Hy Lạp và La Mã mà nàng từng thấy tượng trên mặt tiền các đền thờ. Chàng khẽ khép các ngón tay quanh cánh tay nàng, ngay phía trên cổ tay, rồi hỏi: “Nàng không đoán được những điều tôi đang nói với nàng sao, Lygia?”

“Không,” nàng thì thầm đáp, giọng nhỏ đến nỗi Vinicius hầu như không nghe thấy.

Nhưng chàng không tin nàng; chàng kéo tay nàng về phía mình mạnh hơn, định áp nó lên trái tim đang đập như búa dưới sức khát khao mà thiếu nữ kỳ diệu khơi dậy, và hẳn đã trực tiếp thốt với nàng những lời cháy bỏng nếu lão Aulus không xuất hiện trên lối đi viền sim, vừa đến gần vừa nói: “Mặt trời đang lặn; hãy coi chừng khí lạnh buổi tối, đừng đùa với Libitina.”

“Không đâu,” Vinicius đáp; “tôi còn chưa khoác lại toga mà vẫn không thấy lạnh.”

“Nhưng hãy nhìn kìa, chỉ còn nửa chiếc khiên mặt trời ló ra sau ngọn đồi. Ở Sicily khí hậu thật dịu dàng; trước hoàng hôn, người ta tụ tập tại quảng trường và hát đồng ca tiễn biệt Phoebus đang khuất bóng.”

Rồi quên rằng chỉ một khắc trước ông còn cảnh báo họ về Libitina, ông bắt đầu kể chuyện Sicily, nơi ông có những điền trang và đồng ruộng rộng lớn được canh tác mà ông yêu quý. Ông còn nói đã hơn một lần nảy ý định chuyển đến Sicily và sống nốt cuộc đời trong yên tĩnh. “Người đã bị bao mùa đông nhuộm trắng mái đầu thì quá chán sương giá rồi. Lá vẫn chưa rụng khỏi cây, bầu trời vẫn mỉm cười âu yếm với thành phố; nhưng khi lá nho úa vàng, khi tuyết rơi trên những ngọn đồi Alban và các thần viếng Campania bằng gió buốt, ai biết được ta có thể sẽ đem cả gia quyến đến dinh thự thôn quê yên tĩnh của mình?”

“Ngài sẽ rời Rome sao?” Vinicius đột ngột hỏi, đầy lo âu.

“Ta đã muốn làm thế từ lâu, vì Sicily yên tĩnh hơn và an toàn hơn.”

Rồi ông lại say sưa ca ngợi những khu vườn, đàn gia súc, ngôi nhà ẩn trong cây xanh và những ngọn đồi phủ đầy cỏ xạ hương cùng rau húng, nơi từng đàn ong vo ve bay lượn. Nhưng Vinicius chẳng để tâm đến khúc điền viên ấy; chỉ nghĩ rằng mình có thể mất Lygia, chàng nhìn sang Petronius như thể chỉ ở chàng mới có sự cứu rỗi.

Trong khi đó Petronius ngồi cạnh Pomponia, ngắm cảnh mặt trời lặn, khu vườn và những người đang đứng gần hồ cá. Y phục trắng của họ trên nền sim tối ánh lên như vàng dưới tia chiều. Trên trời, ánh hoàng hôn bắt đầu mang sắc tía và tím, biến đổi như một viên opal. Một dải trời chuyển sang màu hoa huệ. Những bóng bách sẫm càng nổi rõ hơn cả dưới ánh ngày rực rỡ. Trên con người, cây cối và khắp khu vườn ngự trị sự tĩnh lặng của buổi chiều.

Sự tĩnh lặng ấy gây ấn tượng với Petronius, nhất là sự tĩnh lặng nơi những con người. Trên gương mặt Pomponia, lão Aulus, con trai họ và Lygia có một điều mà chàng không thấy trên những gương mặt vây quanh mình mỗi ngày, hay đúng hơn là mỗi đêm. Có một thứ ánh sáng, một sự thư thái, một vẻ thanh thản tuôn trực tiếp từ cuộc sống mà tất cả họ cùng sống tại đây. Với một nỗi kinh ngạc nào đó, chàng nghĩ rằng có thể tồn tại một vẻ đẹp và sự ngọt ngào mà chính chàng, người không ngừng săn đuổi cái đẹp và sự ngọt ngào, vẫn chưa từng biết đến. Không thể giữ ý nghĩ ấy trong lòng, chàng quay sang Pomponia và nói: “Ta đang tự ngẫm thế giới của nàng khác biết bao với thế giới mà Nero của chúng ta cai trị.”

Nàng ngẩng gương mặt thanh tú về phía ánh chiều và giản dị nói: “Không phải Nero, mà là Thiên Chúa cai trị thế gian.”

Một thoáng im lặng nối tiếp. Trên lối đi gần triclinium đã nghe tiếng bước chân của vị lão tướng, Vinicius, Lygia và Aulus bé nhỏ; nhưng trước khi họ tới, Petronius hỏi thêm một câu: “Vậy nàng tin vào các thần sao, Pomponia?”

“Tôi tin vào một Thiên Chúa duy nhất, công minh và toàn năng,” người vợ của Aulus Plautius đáp.