Quo Vadis — Chương 33

Chương 34 / 75 · Bài review Quo Vadis

VINICIUS đi thẳng đến ngôi nhà nơi Miriam cư ngụ. Trước cổng chàng gặp Nazarius, cậu bé thoáng bối rối khi trông thấy chàng; nhưng sau khi thân mật chào hỏi, chàng xin cậu dẫn vào chỗ ở của mẹ mình.

Ngoài Miriam ra, Vinicius còn gặp Peter, Glaucus, Crispus và Paul thành Tarsus, người vừa mới từ Fregellae trở về. Vừa thấy viên hộ dân quan trẻ tuổi, trên mọi gương mặt đều hiện rõ vẻ kinh ngạc; nhưng chàng nói: “Ta chào các vị nhân danh Đấng Kitô mà các vị tôn thờ.”

“Nguyện danh Người được tôn vinh đến muôn đời!” họ đáp.

“Ta đã thấy đức hạnh của các vị và đã chịu ơn lòng tốt của các vị, nên ta đến đây như một người bạn.”

“Và chúng tôi đón chào ngài như một người bạn,” Peter đáp. “Xin ngồi xuống, thưa ngài, và dùng chút thức ăn thanh đạm của chúng tôi như một vị khách.”

“Ta sẽ ngồi xuống và cùng dùng bữa với các vị; nhưng trước hết hãy nghe ta, hỡi Peter, và ngươi nữa, Paul thành Tarsus, để các vị biết lòng thành của ta. Ta biết Lygia đang ở đâu. Ta vừa từ trước nhà Linus trở về, ngôi nhà ở gần nơi này. Ta có quyền đối với nàng do Caesar ban cho. Trong các nhà của ta ở thành Rome có gần năm trăm nô lệ. Ta có thể vây kín nơi ẩn náu của nàng rồi bắt nàng đi; nhưng ta đã không làm, và cũng sẽ không làm.”

“Vì lẽ ấy, phúc lành của Chúa sẽ ở trên ngài, và lòng ngài sẽ được thanh tẩy,” Peter nói.

“Ta cảm tạ ông. Nhưng hãy nghe ta nói tiếp: ta đã không làm điều ấy, dẫu ta đang sống trong khổ đau và sầu muộn. Trước khi biết các vị, hẳn ta đã bắt nàng, giữ nàng bằng vũ lực; nhưng đức hạnh và tôn giáo của các vị, dù ta chưa theo, đã đổi khác điều gì đó trong linh hồn ta, đến nỗi ta không dám dùng đến bạo lực. Ta không biết chính mình vì sao lại như thế, nhưng quả thật là như thế; bởi vậy ta đến với các vị, vì các vị thay cho cha mẹ của Lygia, và ta nói với các vị: Hãy gả nàng cho ta làm vợ, và ta thề rằng không những ta sẽ không cấm nàng xưng nhận Đấng Kitô, mà chính ta cũng sẽ bắt đầu học giáo lý của Người.”

Chàng nói với đầu ngẩng cao và giọng quả quyết; nhưng lòng chàng vẫn xúc động, và hai chân run lên dưới tấm áo choàng. Khi sau lời chàng là một khoảng im lặng, chàng nói tiếp, như muốn đón trước một câu trả lời bất lợi:

“Ta biết có những ngăn trở nào, nhưng ta yêu nàng như yêu chính đôi mắt mình; và tuy ta chưa phải là người Kitô hửu, ta cũng chẳng phải kẻ thù của các vị hay của Đấng Kitô. Ta muốn thành thật để các vị có thể tin ta. Lúc này với ta là chuyện sống còn, vậy mà ta vẫn nói thật. Kẻ khác hẳn sẽ nói: Hãy rửa tội cho tôi; còn ta nói: Hãy soi sáng cho tôi. Ta tin rằng Đấng Kitô đã sống lại từ cõi chết, vì những người yêu sự thật và đã thấy Người sau khi chết đều nói như thế. Ta tin, vì chính ta đã thấy, rằng tôn giáo của các vị sinh ra đức hạnh, công chính và lòng thương xót, chứ không phải tội ác như người ta gán cho các vị. Cho đến nay ta chưa hiểu tôn giáo của các vị được bao nhiêu. Một ít từ nơi các vị, một ít từ việc làm của các vị, một ít từ Lygia, một ít từ những cuộc chuyện trò với các vị. Nhưng ta nhắc lại rằng nó đã gây nên một sự đổi thay nào đó trong ta. Trước kia ta cai quản nô lệ bằng bàn tay sắt; nay ta không làm thế được nữa. Ta không hề biết thương xót; nay ta biết rồi. Trước kia ta ham lạc thú; nhưng đêm nọ ta đã bỏ chạy khỏi ao Agrippa, vì ghê tởm đến nghẹt thở. Trước kia ta tin vào sức mạnh tối thượng; nay ta đã từ bỏ nó. Các vị hãy biết rằng chính ta cũng không còn nhận ra mình nữa. Ta chán ghét yến tiệc, rượu chè, ca hát, tiếng đàn cithara, vòng hoa, triều đình của Caesar, những thân thể trần truồng, và mọi tội ác. Khi nghĩ rằng Lygia tinh khiết như tuyết trên núi, ta càng yêu nàng hơn; và khi nghĩ rằng nàng được như thế là nhờ tôn giáo của các vị, ta lại yêu mến và khát khao chính tôn giáo ấy. Nhưng bởi ta không hiểu nó, bởi ta không biết liệu mình có thể sống theo nó hay không, cũng không biết bản tính mình có chịu nổi nó hay không, nên ta ở trong hoang mang và đau khổ như thể đang bị giam trong ngục.”

Nói đến đây, hai mày chàng chau lại vì đau đớn, và một vệt hồng hiện lên trên má; rồi chàng nói tiếp, càng lúc càng gấp gáp và xúc động hơn:

“Như các vị thấy đó, ta bị giày vò vì tình yêu và vì nỗi bất định. Người ta bảo ta rằng trong tôn giáo của các vị không có chỗ cho đời sống, cho niềm vui của con người, cho hạnh phúc, cho luật pháp, cho trật tự, cho quyền bính, cho quyền thống trị của La Mã. Điều ấy có thật chăng? Người ta bảo ta rằng các vị là những kẻ điên; nhưng chính các vị hãy nói cho ta biết các vị mang đến điều gì. Yêu là tội ư, cảm thấy vui là tội ư, mong cầu hạnh phúc là tội ư? Các vị có phải là kẻ thù của sự sống không? Một người Kitô hữu có nhất thiết phải khốn khổ không? Ta có phải từ bỏ Lygia không? Theo các vị, chân lý là gì? Việc làm và lời nói của các vị trong suốt như nước, nhưng dưới làn nước ấy là gì? Các vị thấy đó, ta thành thật. Hãy xua tan bóng tối đi. Người ta còn nói với ta thế này: Hy Lạp tạo ra cái đẹp và sự minh triết, La Mã tạo ra quyền lực; còn họ thì mang đến cái gì? Vậy hãy nói đi, các vị mang đến cái gì? Nếu bên kia cánh cửa các vị có ánh sáng, thì hãy mở ra.”

“Chúng tôi mang đến tình yêu,” Peter đáp.

Và Paul thành Tarsus thêm vào: “Dẫu tôi nói được các thứ tiếng của loài người và thiên thần, nhưng không có tình yêu, thì tôi chỉ là thanh la vang rền.”

Nhưng trái tim vị Tông đồ già đã rung động trước linh hồn đang đau khổ kia, như một con chim trong lồng đang vật lộn vươn ra không khí và ánh mặt trời; nên ông đưa tay về phía Vinicius và nói: “Ai gõ cửa, cửa sẽ mở cho người ấy. Ân sủng và ơn lành của Thiên Chúa đang ở trên ngài; bởi vậy ta chúc phúc cho ngài, cho linh hồn ngài và cho tình yêu của ngài, nhân danh Đấng Cứu Chuộc loài người.”

Vinicius, vốn đã nói trong nhiệt thành, vừa nghe lời chúc phúc ấy liền lao về phía Peter, và một điều hiếm thấy đã xảy ra. Người con cháu của các Quirites ấy, kẻ cho đến không lâu trước đây còn không nhìn nhận tính người nơi một người ngoại quốc, đã nắm lấy tay ông già xứ Galilee và ghì lên môi mình với lòng biết ơn.

Peter vui mừng; vì ông hiểu rằng hạt giống mình gieo đã rơi xuống thêm một cánh đồng nữa, rằng tấm lưới đánh cá của ông đã thu về thêm một linh hồn mới.

Những người có mặt, cũng vui mừng không kém trước biểu hiện kính trọng rõ rệt ấy dành cho vị Tông đồ của Thiên Chúa, đồng thanh kêu lên: “Ngợi khen Chúa trên các tầng trời cao!”

Vinicius đứng dậy, mặt rạng rỡ, rồi nói: “Ta thấy hạnh phúc có thể ở giữa các vị, vì lúc này ta đang cảm thấy hạnh phúc, và ta nghĩ rằng các vị cũng có thể thuyết phục ta về những điều khác theo cùng một cách ấy. Nhưng ta xin nói thêm rằng điều đó không thể xảy ra tại Rome. Caesar sắp đi Antium và ta phải đi theo, vì ta đã nhận lệnh. Các vị biết đấy, không tuân lệnh tức là chết. Nhưng nếu ta đã được đẹp lòng các vị, thì xin hãy đi với ta để dạy ta chân lý của các vị. Điều ấy đối với các vị còn an toàn hơn đối với ta. Ngay trong đám đông mênh mông ấy, các vị vẫn có thể loan báo chân lý của mình giữa chính triều đình Caesar. Người ta nói rằng Acte là người Kitô hữu; mà ngay trong hàng cấm vệ quân cũng có người Kitô hữu, vì chính ta đã thấy binh lính quỳ trước ông, hỡi Peter, tại cổng Nomentana. Ở Antium ta có một biệt thự, nơi chúng ta sẽ họp nhau để nghe lời giảng dạy của các vị, ngay bên cạnh Nero. Glaucus đã nói với ta rằng các vị sẵn sàng đi đến tận cùng trái đất chỉ vì một linh hồn; vậy xin hãy làm cho ta điều các vị đã làm cho những người mà vì họ các vị đã từ Judea đến đây, xin hãy làm như thế, và đừng bỏ rơi linh hồn ta.”

Nghe vậy, họ bắt đầu bàn bạc, lòng hân hoan khi nghĩ đến thắng lợi của tôn giáo mình và đến ý nghĩa mà việc một Augustianus, một hậu duệ của một trong những gia đình La Mã cổ xưa nhất, cải đạo sẽ có đối với thế giới ngoại giáo. Quả thật, họ sẵn sàng đi đến tận cùng trái đất chỉ vì một linh hồn con người, và từ sau cái chết của Thầy mình, kỳ thực họ đã chẳng làm gì khác; bởi vậy, một lời từ chối thậm chí còn không nảy đến trong đầu họ. Lúc ấy Peter là mục tử của cả một đoàn người đông đảo, nên ông không thể đi; nhưng Paul thành Tarsus, người cách đó không lâu đã ở Aricium và Fregellae, và đang chuẩn bị cho một cuộc hành trình dài về phương Đông để thăm các hội thánh ở đó và làm mới lại họ bằng một tinh thần sốt sắng hơn, đã thuận đi cùng viên hộ dân quan trẻ đến Antium. Ở đó không khó tìm một con tàu đi về vùng biển Hy Lạp.

Vinicius, tuy buồn vì Peter, người mà chàng mang ơn quá nhiều, không thể đến Antium, vẫn hết lòng cảm tạ ông; rồi chàng quay sang vị Tông đồ già và thưa lời thỉnh cầu cuối cùng: “Biết nơi ở của Lygia,” chàng nói, “ta có thể đã đến gặp nàng và hỏi, như lẽ phải, rằng liệu nàng có nhận ta làm chồng nếu linh hồn ta trở thành Kitô hữu chăng; nhưng ta muốn hỏi ông hơn, thưa Tông đồ! Xin cho phép ta được gặp nàng, hoặc chính ông đưa ta đến với nàng. Ta không biết mình sẽ ở Antium bao lâu; và xin nhớ rằng ở gần Caesar thì không ai dám chắc ngày mai. Chính Petronius cũng bảo ta rằng đến đó ta cũng chưa hẳn được an toàn. Hãy để ta gặp nàng trước khi đi; hãy để mắt ta được vui vì thấy nàng; và hãy để ta hỏi nàng xem nàng có quên điều dữ ta đã làm mà đáp lại bằng điều lành hay không.”

Peter mỉm cười hiền hậu và nói: “Nhưng ai có thể từ chối ngươi một niềm vui chính đáng như thế, hỡi con?”

Vinicius lại cúi xuống đôi tay của Peter, vì chàng không sao ghìm nổi trái tim đang trào dâng. Vị Tông đồ đặt tay lên hai bên thái dương chàng và nói: “Đừng sợ Caesar, vì ta bảo cho ngươi biết rằng một sợi tóc trên đầu ngươi cũng sẽ không rơi.”

Ông sai Miriam đi đón Lygia, dặn nàng đừng nói ai đang ở cùng họ, để khiến thiếu nữ vui mừng hơn nữa.

Đường không xa; nên chẳng bao lâu sau, những người trong phòng đã thấy giữa những bụi sim ngoài vườn, Miriam đang dắt tay Lygia đến.

Vinicius muốn chạy ra đón nàng; nhưng vừa thấy hình dáng yêu dấu ấy, niềm hạnh phúc đã rút hết sức lực của chàng, và chàng đứng sững, tim đập dồn dập, hơi thở nghẹn lại, chỉ vừa đủ sức đứng vững, kích động gấp trăm lần so với lần đầu tiên trong đời chàng nghe những mũi tên Parthia rít quanh đầu mình.

Nàng chạy vào, không hề nghi ngờ gì; nhưng vừa trông thấy chàng, nàng khựng lại như thể chân bị đóng chặt xuống đất. Mặt nàng đỏ bừng lên, rồi bỗng tái nhợt đi; nàng đưa đôi mắt kinh ngạc và hốt hoảng nhìn những người có mặt.

Nhưng nhìn quanh, nàng chỉ thấy những ánh mắt sáng trong, chan chứa hiền từ. Tông đồ Peter bước đến gần nàng và hỏi: “Lygia, con vẫn yêu người ấy như xưa chứ?”

Một khoảnh khắc im lặng theo sau. Môi nàng bắt đầu run lên như môi một đứa trẻ sắp khóc, biết rằng mình có lỗi, nhưng cũng thấy rằng mình phải thú nhận lỗi ấy.

“Hãy trả lời đi,” vị Tông đồ nói.

Rồi với vẻ khiêm nhường, vâng phục và e sợ trong giọng nói, nàng quỳ xuống bên gối Peter và thì thầm: “Thưa, có.”

Ngay tức khắc Vinicius quỳ xuống bên nàng. Peter đặt tay lên đầu cả hai và nói: “Hãy yêu nhau trong Chúa và vì vinh quang của Người, vì trong tình yêu của các con không có tội lỗi.”