Quo Vadis — Chương 39
Chương 40 / 75 · Bài review Quo Vadis
Ursus đang múc nước từ một bể chứa; trong khi dùng dây kéo lên một chiếc vò kép, chàng khe khẽ hát một khúc ca Lygia lạ lùng, mắt nhìn Lygia và Vinicius đầy thích thú; hai người đứng giữa những hàng bách trong khu vườn của Linus trắng ngần như hai pho tượng. Y phục của họ không lay động dù chỉ bởi một làn gió nhẹ nhất. Một buổi hoàng hôn sắc vàng pha màu hoa huệ đang buông xuống thế gian, còn họ chuyện trò trong vẻ yên tĩnh của buổi chiều, tay người này nắm lấy tay người kia.
“Marcus, chàng rời Antium mà không cho Caesar hay, liệu có tai họa nào giáng xuống chàng chăng?” Lygia hỏi.
“Không đâu, người yêu dấu của anh,” Vinicius đáp. “Caesar đã báo rằng ngài sẽ tự nhốt mình hai ngày với Terpnos để sáng tác những bài ca mới. Ngài vẫn thường làm như thế, và vào những lúc ấy thì chẳng biết cũng chẳng nhớ gì khác. Vả lại, Caesar còn nghĩa gì đối với anh nữa, khi anh được ở gần em và được nhìn em? Anh đã khao khát quá lâu rồi, và suốt những đêm vừa qua, giấc ngủ đã lìa bỏ anh. Hơn một lần, khi mệt quá mà thiếp đi, anh bỗng choàng tỉnh với cảm giác rằng hiểm nguy đang lơ lửng trên đầu em; có khi anh mơ thấy những trạm ngựa sẽ đưa anh từ Antium về Roma bị người ta đánh cắp, những con ngựa nhờ đó anh đã đi con đường ấy nhanh hơn bất cứ sứ giả nào của Caesar. Hơn nữa, anh không thể sống lâu hơn nữa mà không có em; anh yêu em quá đỗi để có thể chịu nổi điều đó, người yêu quý nhất của anh.”
“Thiếp biết chàng sẽ đến. Hai lần Ursus đã chạy ra Carinae theo lời thiếp, rồi hỏi thăm chàng tại nhà chàng. Linus cười thiếp, mà Ursus cũng cười nữa.”
Quả thật, rõ ràng nàng đã đợi chàng; bởi thay vì bộ áo sẫm màu thường ngày, nàng mặc một chiếc stola trắng mềm, từ những nếp áo đẹp đẽ ấy, cánh tay và khuôn đầu nàng hiện ra như những đóa anh thảo nhô lên khỏi tuyết. Vài bông hải quỳ đỏ hồng điểm trên mái tóc nàng.
Vinicius áp môi lên đôi tay nàng; rồi họ ngồi xuống băng đá giữa những dây nho dại, nghiêng về phía nhau, lặng im nhìn ánh chiều tà mà những tia cuối cùng còn phản chiếu trong mắt họ.
Vẻ quyến rũ của buổi chiều thanh vắng ấy đã chiếm trọn tâm hồn họ.
“Ở đây yên tĩnh biết bao, mà thế gian cũng đẹp biết bao,” Vinicius nói khẽ. “Đêm thật lặng lẽ một cách kỳ diệu. Anh thấy hạnh phúc hơn bất cứ lúc nào trước đây trong đời. Hãy nói cho anh biết, Lygia, đây là gì vậy? Chưa bao giờ anh nghĩ rằng có thể có một tình yêu như thế này. Anh từng nghĩ tình yêu chỉ là lửa trong máu và dục vọng; nhưng giờ đây lần đầu tiên anh thấy rằng người ta có thể yêu bằng từng giọt máu, từng hơi thở của mình, và cùng với điều ấy lại cảm thấy một sự yên bình ngọt ngào, vô bờ đến thế, như thể Giấc Ngủ và Cái Chết đã ru linh hồn vào nghỉ ngơi. Với anh, đây là một điều mới lạ. Anh nhìn sự tĩnh lặng của cây cối, và tưởng như nó ở ngay trong lòng anh. Giờ đây lần đầu tiên anh hiểu rằng có một thứ hạnh phúc mà từ trước đến nay người ta chưa hề biết đến. Giờ đây anh bắt đầu hiểu vì sao em và Pomponia Graecina lại có được sự bình an ấy. Phải! Đấng Christ ban cho điều đó.”
Ngay lúc ấy Lygia tựa khuôn mặt xinh đẹp lên vai chàng và nói: “Marcus yêu dấu của thiếp...” Nhưng nàng không thể nói tiếp. Niềm vui, lòng biết ơn, và cảm giác rằng cuối cùng nàng đã được tự do để yêu đã làm nàng nghẹn tiếng, còn mắt nàng đầy ắp những giọt lệ xúc động.
Vinicius ôm lấy thân hình mảnh mai của nàng bằng một cánh tay, kéo nàng sát vào mình và nói: “Lygia! Phúc thay khoảnh khắc đầu tiên anh được nghe Danh Người.”
“Thiếp yêu chàng, Marcus,” nàng bấy giờ mới khẽ nói.
Cả hai lại im lặng, không sao tìm được lời từ những lồng ngực đang tràn đầy cảm xúc. Những phản quang cuối cùng màu hoa huệ đã tắt trên hàng bách, và khu vườn bắt đầu ánh lên màu bạc dưới vành trăng lưỡi liềm. Một lát sau Vinicius nói:
“Anh biết. Vừa mới bước vào đây, vừa mới hôn đôi tay yêu dấu của em, là anh đã đọc thấy trong mắt em câu hỏi liệu anh đã đón nhận đạo lý thiêng liêng mà em gắn bó hay chưa, và liệu anh đã chịu phép rửa tội hay chưa. Chưa, anh vẫn chưa chịu phép rửa; nhưng em có biết vì sao không, bông hoa của anh? Paul đã nói với anh: ‘Ta đã làm cho con tin rằng Thượng Đế đã đến thế gian và hiến mình để bị đóng đinh nhằm cứu rỗi thế gian; nhưng hãy để Peter rửa con trong suối nguồn ân sủng, chính người đầu tiên đã dang tay trên con và chúc lành cho con.’ Còn anh, người yêu dấu nhất của anh, anh muốn em chứng kiến lễ rửa tội của anh, và anh muốn Pomponia làm mẹ đỡ đầu cho anh. Vì thế mà anh chưa chịu phép rửa, dù anh tin vào Đấng Cứu Thế và giáo huấn của Người. Paul đã thuyết phục anh, đã cải hóa anh; mà lẽ nào lại có thể khác? Làm sao anh không tin rằng Christ đã đến thế gian, khi người từng là môn đồ của Người nói như vậy, và Paul, người mà Người đã hiện ra, cũng nói như vậy? Làm sao anh không tin rằng Người là Thượng Đế, khi Người đã sống lại từ cõi chết? Những kẻ khác đã thấy Người trong thành, trên hồ, trên núi; những người ấy đã thấy Người, những người mà môi miệng chưa từng biết đến dối trá. Anh đã bắt đầu tin điều ấy ngay từ lần đầu nghe Peter ở Ostrianum, vì ngay khi ấy anh đã tự nhủ: trên khắp thế gian này, bất cứ ai khác cũng có thể nói dối hơn là người này, kẻ đang nói rằng: ‘Ta đã thấy.’ Nhưng anh sợ đạo của em. Anh tưởng rằng đạo của em sẽ cướp em khỏi anh. Anh tưởng trong đó không có trí tuệ, không có vẻ đẹp, không có hạnh phúc. Nhưng hôm nay, khi anh đã hiểu nó, thì anh sẽ là hạng người gì nếu anh không mong chân lý cai trị thế gian thay cho dối trá, tình yêu thay cho căm hận, đức hạnh thay cho tội ác, sự trung tín thay cho phản trắc, lòng thương xót thay cho báo thù? Kẻ nào lại không chọn và không mong điều ấy? Nhưng đạo của các em dạy chính điều đó. Những đạo khác cũng mong công lý; nhưng đạo của em là đạo duy nhất khiến lòng người trở nên công chính, và hơn nữa còn làm cho lòng ấy nên tinh sạch như lòng em và Pomponia, làm cho nó trung thành như lòng em và Pomponia. Nếu anh không thấy điều đó, hẳn anh phải là kẻ mù. Nhưng nếu, hơn thế nữa, Thượng Đế Christ còn hứa ban sự sống đời đời, và hứa ban một hạnh phúc bao la đến mức chỉ toàn năng của Thượng Đế mới có thể ban phát, thì người ta còn có thể mong gì hơn? Nếu anh hỏi Seneca tại sao ông dạy phải có đức hạnh, nếu sự gian ác đem lại hạnh phúc hơn, ông sẽ chẳng thể đáp điều gì cho ra lẽ. Nhưng giờ đây anh biết rằng anh phải sống có đức hạnh, vì đức hạnh và tình yêu tuôn ra từ Christ, và vì khi cái chết khép mắt anh lại, anh sẽ gặp sự sống và hạnh phúc, anh sẽ gặp lại chính mình và gặp em. Tại sao lại không yêu và đón nhận một đạo vừa nói sự thật vừa hủy diệt cái chết? Ai lại không chuộng điều lành hơn điều dữ? Anh từng tưởng đạo của em đối nghịch với hạnh phúc; thế mà Paul đã làm cho anh hiểu rằng không những nó không lấy đi, mà còn ban cho. Tất cả điều này hầu như không chứa nổi trong đầu anh; nhưng anh cảm thấy nó là sự thật, vì chưa bao giờ anh hạnh phúc đến thế, mà anh cũng chẳng thể hạnh phúc thế này, nếu anh đã dùng sức mạnh đoạt lấy em và giữ em trong nhà anh. Em hãy xem, mới một lát trước thôi, em đã nói: ‘Thiếp yêu chàng,’ mà với tất cả quyền lực của Roma anh cũng không thể cưỡng được những lời ấy từ môi em. Ôi Lygia! Lý trí tuyên bố đạo này là thiêng liêng, là tốt đẹp nhất; trái tim cũng cảm thấy điều ấy, và ai có thể cưỡng lại hai sức mạnh như thế?”
Lygia lắng nghe, đôi mắt xanh của nàng đăm đắm nhìn chàng, dưới ánh trăng chúng như những đóa hoa huyền nhiệm, đẫm sương như hoa.
“Phải, Marcus, đúng là như thế!” nàng nói, đầu càng nép sát vai chàng hơn.
Và ngay lúc ấy họ cảm thấy hạnh phúc vô cùng, bởi họ hiểu rằng ngoài tình yêu, họ còn được gắn kết bởi một sức mạnh khác, vừa ngọt ngào vừa không thể cưỡng nổi, nhờ đó mà chính tình yêu trở nên vô tận, không còn lệ thuộc vào thay đổi, dối trá, phản bội, hay cả cái chết nữa. Trái tim họ tràn đầy một niềm xác tín tuyệt đối rằng, dù chuyện gì có xảy ra, họ cũng sẽ không thôi yêu nhau và thuộc về nhau. Vì lẽ đó, một sự an nghỉ không sao diễn tả được tràn vào tâm hồn họ. Hơn nữa, Vinicius cảm thấy rằng tình yêu ấy không chỉ sâu sắc và trong sạch, mà còn hoàn toàn mới lạ, một thứ tình yêu mà thế gian chưa từng biết đến và cũng không thể ban cho. Trong đầu chàng, tất cả đều hợp làm một trong tình yêu ấy: Lygia, giáo huấn của Christ, ánh trăng đang bình yên đọng trên hàng bách, và đêm tĩnh mịch, khiến toàn thể vũ trụ đối với chàng dường như ngập đầy tình yêu đó.
Một lát sau chàng cất tiếng, giọng khẽ run: “Em sẽ là linh hồn của linh hồn anh, là người yêu dấu nhất thế gian đối với anh. Tim chúng ta sẽ cùng chung một nhịp đập, chúng ta sẽ có chung một lời cầu nguyện và một lòng tri ân dâng lên Christ. Ôi người yêu dấu! Được cùng nhau sống, cùng nhau tôn kính vị Thượng Đế dịu hiền, và biết rằng khi cái chết đến, mắt chúng ta sẽ lại mở ra, như sau một giấc ngủ êm đềm, trước một ánh sáng mới, còn gì đẹp hơn có thể tưởng tượng được? Anh chỉ kinh ngạc rằng ban đầu mình đã không hiểu điều ấy. Và em có biết lúc này anh nghĩ gì không? Rằng không ai có thể cưỡng lại đạo này. Trong hai trăm hay ba trăm năm nữa, cả thế gian sẽ đón nhận nó. Người ta sẽ quên Jupiter, và sẽ không còn Thượng Đế nào ngoài Christ, không còn đền thờ nào khác ngoài những đền thờ Kitô giáo. Ai lại không mong hạnh phúc cho chính mình? A! nhưng anh đã nghe cuộc chuyện trò của Paul với Petronius, và em có biết cuối cùng Petronius đã nói gì không? ‘Điều đó không dành cho tôi’; nhưng ông ta không thể đưa ra câu trả lời nào khác.”
“Hãy nhắc lại cho thiếp những lời của Paul đi,” Lygia nói.
“Đó là một buổi tối tại nhà anh. Petronius bắt đầu nói đùa và giễu cợt, như ông ta vẫn thường làm, rồi Paul bảo ông ấy: ‘Hỡi Petronius khôn ngoan, làm sao ông có thể phủ nhận rằng Christ đã tồn tại và đã sống lại từ cõi chết, khi vào thời ấy ông còn chưa có mặt trên đời, còn Peter và John đã thấy Người, và tôi đã thấy Người trên đường đi Damascus? Trước hết, hãy để sự khôn ngoan của ông chứng minh rằng chúng tôi là những kẻ nói dối, rồi hẵng phủ nhận lời chứng của chúng tôi.’ Petronius đáp rằng ông không hề nghĩ tới chuyện phủ nhận, bởi ông biết có nhiều điều không sao hiểu nổi vẫn xảy ra, những điều mà người đáng tin đã xác nhận. ‘Nhưng việc phát hiện ra một vị thần ngoại quốc mới là một chuyện,’ ông ấy nói, ‘còn tiếp nhận giáo huấn của vị thần ấy lại là chuyện khác. Tôi không muốn biết bất cứ điều gì có thể làm méo mó cuộc đời và phá hỏng vẻ đẹp của nó. Bất kể các vị thần của chúng ta có thật hay không, họ vẫn đẹp, quyền cai trị của họ cũng dễ chịu đối với chúng ta, và chúng ta sống không phải bận tâm.’ Paul đáp: ‘Ông muốn từ chối đạo của tình yêu, công lý và lòng thương xót chỉ vì sợ những nỗi nhọc nhằn của đời sống; nhưng hãy nghĩ xem, Petronius, liệu đời ông có thật không vướng ưu lo chăng? Kìa, không chỉ ông, mà bất cứ ai trong số những kẻ giàu có và quyền thế nhất cũng không biết khi đêm xuống mình chìm vào giấc ngủ thì có thể tỉnh dậy trước một án chết hay không. Nhưng hãy nói cho tôi biết, nếu Caesar theo đạo này, đạo truyền dạy tình yêu và công lý, thì hạnh phúc của ông chẳng phải sẽ vững bền hơn sao? Ông lo sợ cho khoái lạc của mình, nhưng đời sống khi ấy chẳng phải sẽ vui tươi hơn sao? Còn về vẻ đẹp và những đồ trang sức của cuộc đời, nếu các ông đã dựng nên bao nhiêu đền đài và tượng đẹp để tôn vinh những thần linh xấu xa, báo oán, ngoại tình và phản bội, thì các ông còn chẳng làm được biết bao nhiêu hơn nữa để tôn kính vị Thượng Đế duy nhất của chân lý và lòng thương xót? Ông sẵn lòng ca ngợi số phận mình vì ông giàu có và sống trong xa hoa; nhưng ngay cả trong trường hợp của ông, vẫn có thể xảy ra chuyện ông nghèo túng và bị bỏ rơi, dù xuất thân từ một dòng dõi lớn, và khi ấy, quả thật sẽ tốt hơn cho ông biết bao nếu người ta xưng nhận Christ. Ở Roma, ngay cả những cha mẹ giàu có, không muốn nhọc công nuôi dạy con cái, cũng thường quẳng chúng ra khỏi nhà; những đứa trẻ ấy được gọi là alumni. Và tình cờ có thể đã khiến ông trở thành một alumnus như một trong số chúng. Nhưng nếu cha mẹ sống theo đạo của chúng tôi, điều ấy không thể xảy ra. Và nếu khi đến tuổi trưởng thành, ông kết hôn với một người phụ nữ ông yêu, hẳn ông sẽ mong thấy nàng chung thủy với mình cho đến chết. Thế mà hãy nhìn quanh đi, giữa các ông đang diễn ra những gì, biết bao hèn hạ, biết bao ô nhục, biết bao đổi chác trong lòng tin của người vợ! Không, chính các ông còn phải kinh ngạc khi xuất hiện một người đàn bà mà các ông gọi là univira (chỉ có một chồng). Nhưng tôi nói cho ông hay, những người đàn bà mang Christ trong tim sẽ không thất tín với chồng mình, cũng như những người chồng Kitô hữu sẽ giữ lòng trung tín với vợ họ. Còn các ông thì chẳng thể tin cậy kẻ cầm quyền, cha mẹ, vợ con hay nô lệ của mình. Cả thế gian run sợ trước các ông, còn các ông lại run sợ trước chính nô lệ của mình, vì các ông biết rằng bất cứ giờ nào cũng có thể dấy lên một cuộc chiến kinh hoàng chống lại sự áp bức của các ông, một cuộc chiến như đã từng dấy lên hơn một lần. Dù giàu có, ông cũng không chắc ngày mai sẽ không có lệnh buộc ông phải từ bỏ tài sản của mình; ông còn trẻ, nhưng ngày mai có thể ông sẽ phải chết. Ông yêu, nhưng phản bội đang rình sẵn ông; ông say mê biệt thự và tượng đài, nhưng ngày mai quyền lực có thể xô ông ra những nơi hoang vắng của Pandataria; ông có hàng nghìn tôi tớ, nhưng ngày mai chính những tôi tớ ấy có thể để máu ông chảy ra. Và nếu quả là như thế, làm sao ông có thể bình thản và hạnh phúc, làm sao ông có thể sống trong khoái lạc? Còn tôi, tôi rao giảng tình yêu, và tôi rao giảng một đạo buộc người cầm quyền phải yêu thần dân, chủ phải yêu nô lệ, nô lệ phải phục vụ bằng tình yêu, phải làm điều công chính và phải có lòng thương xót; sau cùng đạo ấy còn hứa ban một hạnh phúc mênh mông như biển cả vô cùng. Vậy thì, hỡi Petronius, sao ông có thể nói rằng đạo ấy làm hỏng cuộc đời, khi nó sửa lại cuộc đời, và khi chính ông hẳn sẽ hạnh phúc hơn, an ổn hơn gấp trăm lần nếu nó ôm lấy thế gian như quyền thống trị của Roma đã ôm lấy thế gian?’
“Paul đã bàn luận như thế; rồi Petronius nói: ‘Điều đó không dành cho tôi.’ Giả vờ buồn ngủ, ông ta đi ra, và trước khi đi còn thêm: ‘Tôi thích Eunice của tôi hơn, hỡi chú Do Thái con, nhưng tôi cũng không muốn tranh biện với ông trên diễn đàn đâu.’ Anh đã nghe những lời của Paul bằng cả tâm hồn, và khi ông nói tới những người đàn bà của chúng ta, anh đã hết lòng tôn cao đạo phát sinh ra em, như một đóa huệ mọc lên từ cánh đồng phì nhiêu giữa mùa xuân. Và lúc ấy anh nghĩ: kia là Poppaea, người đã bỏ hai đời chồng vì Nero; kia là Calvia Crispinilla, kia là Nigidia, kia là gần như tất cả những người anh biết, trừ mỗi Pomponia; họ đã đổi chác cả lòng tin lẫn lời thề, nhưng nàng đây, người duy nhất của anh, sẽ không bỏ đi, sẽ không lừa dối, sẽ không dập tắt ngọn lửa, dẫu cho tất cả những kẻ anh đặt lòng tin vào đều bỏ anh mà đi và lừa dối anh. Vì vậy anh đã nói với em trong tâm hồn mình: làm sao anh có thể tỏ lòng biết ơn với em, nếu không phải bằng tình yêu và lòng tôn kính? Em có cảm thấy rằng ở Antium anh đã nói và chuyện trò với em suốt, như thể em vẫn ở bên cạnh anh không? Anh yêu em hơn gấp trăm lần vì em đã trốn thoát khỏi tay anh ở nhà Caesar. Mà giờ đây anh cũng chẳng còn thiết gì nhà Caesar nữa; anh không muốn sự xa hoa và âm nhạc của nó, anh chỉ muốn em thôi. Chỉ cần em nói một lời, chúng ta sẽ rời Roma để đến định cư ở một nơi xa.”
Không rời đầu khỏi vai chàng, Lygia ngước mắt lên những ngọn bách bạc màu như đang trầm ngâm, rồi đáp: “Được thôi, Marcus. Chàng đã từng viết cho thiếp về Sicilia, nơi Aulus muốn đến an cư khi tuổi già.” Và Vinicius vui mừng cắt lời nàng.
“Đúng thế, em yêu! Đất của chúng ta ở liền nhau. Đó là một bờ biển kỳ diệu, nơi khí hậu ngọt lành hơn và đêm còn sáng hơn cả ở Roma, thơm ngát và trong suốt. Ở đó, đời sống và hạnh phúc hầu như chỉ là một.”
Rồi chàng bắt đầu mơ về tương lai.
“Ở đó chúng ta có thể quên hết mọi ưu phiền. Trong những lùm cây, giữa những vườn ôliu, chúng ta sẽ đi dạo và nghỉ dưới bóng mát. Ôi Lygia! Sẽ là một đời sống biết bao yêu nhau và gìn giữ nhau, cùng nhau ngắm biển, cùng nhau ngắm trời, cùng nhau tôn kính một vị Thượng Đế nhân từ, bình yên làm những điều công chính và chân thật.”
Cả hai im lặng, mắt nhìn vào tương lai; chỉ có chàng kéo nàng sát vào mình hơn, còn chiếc nhẫn kỵ sĩ trên ngón tay chàng lấp lánh dưới tia trăng. Ở khu vực của những người nghèo lao động, mọi người đều đã ngủ; không một tiếng động nào phá vỡ sự im lặng.
“Chàng có cho phép thiếp gặp Pomponia không?” Lygia hỏi.
“Có chứ, người yêu dấu. Chúng ta sẽ mời họ đến nhà, hoặc chính chúng ta sẽ đến thăm họ. Nếu em muốn, chúng ta có thể đưa Peter, vị Tông Đồ, đi cùng. Người đã còng lưng vì tuổi tác và công việc. Paul cũng sẽ đến thăm chúng ta, ông sẽ cải hóa Aulus Plautius; và như các binh sĩ lập nên những thuộc địa ở miền đất xa, thì chúng ta cũng sẽ lập nên một thuộc địa của các Kitô hữu.”
Lygia nâng bàn tay lên, cầm lấy tay chàng, định áp nó lên môi mình; nhưng chàng thì thầm, như sợ làm kinh động hạnh phúc: “Không, Lygia, không! Chính anh mới là người tôn kính em và suy tôn em; hãy đưa tay em cho anh.”
“Thiếp yêu chàng.”
Chàng đã áp môi lên đôi tay nàng, trắng như hoa nhài, và trong một lúc lâu, họ chỉ nghe thấy nhịp tim của chính mình. Không khí không gợn một lay động nào; hàng bách đứng lặng im, như chính chúng nữa cũng đang nín thở trong lồng ngực.
Bất chợt, sự im lặng bị xé tan bởi một tiếng sấm không ngờ tới, trầm đục, như vọng lên từ dưới lòng đất. Một cơn rùng mình chạy dọc khắp người Lygia. Vinicius đứng phắt dậy và nói: “Sư tử đang gầm trong khu nhốt thú.”
Cả hai cùng lắng nghe. Giờ đây tiếng sấm đầu tiên đã được đáp lại bằng tiếng thứ hai, thứ ba, thứ mười, từ mọi phía, từ mọi khu trong thành phố. Ở Rome, có những khi vài nghìn con sư tử được nhốt trong các đấu trường khác nhau, và thường vào ban đêm chúng đến sát song sắt, rồi tì những cái đầu khổng lồ vào đó mà cất lên nỗi khát khao tự do và sa mạc. Đêm ấy chúng cũng bắt đầu như thế, và đáp gọi lẫn nhau giữa tĩnh mịch đêm khuya, chúng làm vang dậy cả thành phố bằng tiếng gầm. Có một điều gì u ám và khủng khiếp đến không sao tả xiết trong những tiếng gầm ấy, đến nỗi Lygia, khi những hình dung sáng láng và yên bình về tương lai của nàng đã tan tác, phải lắng nghe với trái tim thắt lại, trong một nỗi sợ hãi và buồn thương kỳ lạ.
Nhưng Vinicius vòng tay ôm lấy nàng và nói: “Đừng sợ, người yêu dấu. Ngày hội đã gần kề, và các khu nhốt thú đều chật kín.”
Rồi cả hai cùng bước vào nhà Linus, giữa tiếng sấm gầm của sư tử mỗi lúc một dữ dội hơn.