Quo Vadis — Chương 52

Chương 53 / 75 · Bài review Quo Vadis

VÀ mọi sự đều thất bại. Vinicius đã hạ mình đến mức cầu viện cả những người được phóng thích lẫn nô lệ của Caesar và Poppaea; chàng trả giá quá hậu hĩnh cho những lời hứa suông của họ, dùng quà cáp hậu hĩnh để mua lấy thiện cảm. Chàng tìm được Rufus Crispinus, người chồng đầu tiên của Poppaea, và xin được một lá thư của ông ta. Chàng tặng cho Rufius, con trai của nàng trong cuộc hôn nhân đầu, một biệt thự ở Antium; nhưng việc ấy chỉ khiến Caesar nổi giận, vì hắn căm ghét đứa con riêng của vợ. Chàng sai người đưa tin riêng mang thư tới Otho, người chồng thứ hai của Poppaea, lúc ấy đang ở Tây Ban Nha. Chàng hy sinh cả gia sản lẫn bản thân, cho đến cuối cùng mới nhận ra mình chỉ là trò tiêu khiển trong tay người khác; rằng nếu chàng làm ra vẻ việc Lygia bị giam cầm chẳng mấy liên quan đến mình, có lẽ chàng đã cứu nàng ra sớm hơn.

Petronius cũng nhận ra điều đó. Trong khi ấy, ngày nối tiếp ngày trôi qua. Hí trường đã hoàn tất. Những “tesserae” — tức vé vào cửa — được phân phát cho ludus matutinus (các cuộc diễn buổi sớm). Nhưng lần này, vì số nạn nhân nhiều chưa từng thấy, các cuộc diễn buổi sớm sẽ kéo dài nhiều ngày, nhiều tuần, nhiều tháng. Người ta không biết phải nhốt các Kitô hữu ở đâu. Nhà tù chật cứng, bệnh sốt hoành hành bên trong. Các puticuli — những hố chung dùng để nhốt nô lệ — bắt đầu quá tải. Người ta sợ dịch bệnh từ đó lan khắp thành phố, vì thế mọi việc càng phải gấp rút.

Tất cả những tin ấy dội vào tai Vinicius, dập tắt trong chàng niềm hy vọng cuối cùng. Khi vẫn còn thời gian, chàng còn có thể tự dối mình bằng niềm tin rằng chàng làm được điều gì đó, nhưng giờ đây thời gian đã cạn. Các cuộc trình diễn sắp sửa bắt đầu. Bất cứ ngày nào Lygia cũng có thể bị đưa vào một cuniculum của circus, nơi chỉ có một lối ra duy nhất dẫn tới đấu trường. Không biết số phận và sự tàn nhẫn của quyền lực vượt trội sẽ ném nàng vào đâu, Vinicius đi khắp các trường đua, mua chuộc lính canh và những người coi thú, bày cho họ những kế hoạch họ không thể nào thực hiện. Dần dần chàng hiểu rằng tất cả những gì mình làm chỉ nhằm một việc: khiến cái chết bớt khủng khiếp đối với nàng; và chính lúc ấy, chàng cảm thấy trong đầu mình không còn óc não mà chỉ có những hòn than rực đỏ.

Ngoài ra, chàng không hề nghĩ đến chuyện sống lâu hơn nàng và đã quyết sẽ chết cùng một lúc. Nhưng chàng sợ nỗi đau sẽ thiêu rụi đời mình trước khi giờ phút khủng khiếp ấy đến. Bạn bè chàng và Petronius cũng nghĩ rằng bất cứ ngày nào vương quốc của bóng tối cũng có thể mở ra trước mặt chàng. Gương mặt chàng sạm đen, giống những chiếc mặt nạ sáp được cất trong các lararia. Vẻ kinh ngạc đã đông cứng trên từng đường nét, như thể chàng không hiểu nổi điều gì đã xảy ra và điều gì có thể xảy đến. Mỗi khi có người nói với chàng, chàng lại máy móc đưa hai tay lên mặt, ép vào thái dương rồi nhìn người đang nói bằng ánh mắt dò hỏi, sửng sốt. Chàng cùng Ursus thức trọn nhiều đêm trước cửa phòng giam Lygia; nếu nàng bảo chàng về nghỉ, chàng trở lại nhà Petronius và đi đi lại lại trong atrium cho tới sáng. Đám nô lệ thường bắt gặp chàng quỳ gối, hai tay giơ cao, hoặc nằm sấp mặt xuống đất. Chàng cầu nguyện Đức Kitô, bởi Đức Kitô là hy vọng cuối cùng của chàng. Mọi sự đều đã phụ chàng. Chỉ một phép lạ mới có thể cứu Lygia; vì thế chàng đập trán xuống những phiến đá lát và cầu xin phép lạ ấy.

Nhưng chàng vẫn còn đủ tỉnh táo để hiểu rằng lời cầu nguyện của Peter có sức nặng hơn lời cầu nguyện của mình. Peter đã hứa trao Lygia cho chàng, Peter đã làm phép rửa cho chàng, Peter đã thực hiện những phép lạ — vậy xin người hãy trợ giúp và cứu nàng.

Rồi một đêm nọ, chàng đi tìm vị Tông đồ. Các Kitô hữu còn lại chẳng bao nhiêu, nay giấu Peter rất kỹ, ngay cả với những anh em khác, vì sợ một người yếu lòng nào đó có thể vô tình hay hữu ý phản bội người. Giữa cảnh rối ren và tai họa chung, lại mải tìm cách đưa Lygia ra khỏi ngục, Vinicius đã mất dấu Peter; từ lúc được làm phép rửa cho tới khi cuộc bách hại bắt đầu, chàng chỉ thoáng gặp người một lần. Nhưng khi tìm đến người thợ khai thác đá có túp lều nơi chàng từng chịu phép rửa, chàng được biết sẽ có một cuộc hội họp bên ngoài Porta Salaria, trong vườn nho thuộc về Cornelius Pudens. Người thợ ngỏ ý dẫn đường và quả quyết chàng sẽ gặp Peter ở đó. Họ lên đường vào khoảng chạng vạng, vượt ra ngoài tường thành, đi qua những trũng đất lau sậy mọc um tùm, rồi tới vườn nho nằm ở một nơi hoang vắng, cô quạnh. Cuộc hội họp diễn ra trong một nhà ép rượu. Khi Vinicius đến gần, tiếng cầu nguyện rì rầm vọng vào tai chàng. Bước vào trong, dưới ánh đèn leo lét, chàng thấy vài chục bóng người đang quỳ, chìm sâu trong lời cầu nguyện. Họ đọc một thứ kinh cầu; một hợp âm gồm cả giọng nam lẫn giọng nữ cứ chốc chốc lại nhắc: “Lạy Đức Kitô, xin thương xót chúng con.” Trong những giọng nói ấy ngân lên một nỗi buồn đau sâu thẳm, nhức nhối.

Peter có mặt ở đó. Người quỳ phía trước mọi người, trước một cây thập giá gỗ đóng lên vách nhà ép rượu, và đang cầu nguyện. Từ xa, Vinicius nhận ra mái tóc bạc cùng đôi tay giơ cao của người. Ý nghĩ đầu tiên của người quý tộc La Mã trẻ tuổi là chen qua đám đông, phủ phục dưới chân vị Tông đồ và kêu lên: “Xin cứu nàng!” Nhưng không biết vì sự trang nghiêm của buổi cầu nguyện hay vì sức lực rời bỏ khiến đầu gối chàng khuỵu xuống, chàng vừa rên rỉ, vừa siết chặt hai tay mà lặp lại: “Lạy Đức Kitô, xin thương xót!” Nếu còn đủ tỉnh táo, chàng hẳn đã hiểu rằng lời cầu nguyện của mình không phải lời duy nhất chứa tiếng rên; rằng không chỉ riêng chàng đem theo nỗi đau, sự kinh hãi và niềm thương tiếc. Trong cuộc hội họp ấy, không một linh hồn nào chưa mất đi người thân yêu; và khi những người tuyên tín nhiệt thành, can đảm nhất đều đã ở trong ngục, khi từng khắc lại có tin mới truyền tới về những lời sỉ nhục và cực hình giáng xuống họ trong chốn lao tù, khi tai họa lớn lao vượt quá mọi sức tưởng tượng, khi chỉ còn sót lại một nhóm nhỏ này, không một trái tim nào ở đó không thấy đức tin của mình khiếp hãi, không hoài nghi tự hỏi: Đức Kitô ở đâu, và vì sao Người để cái ác mạnh hơn Thiên Chúa? Thế nhưng họ vẫn tuyệt vọng cầu xin Người thương xót, bởi trong mỗi linh hồn còn âm ỉ một tia hy vọng rằng Người sẽ đến, ném Nero xuống vực thẳm và cai trị thế gian. Họ vẫn ngước nhìn trời; vẫn lắng nghe; vẫn run rẩy cầu nguyện. Còn Vinicius, khi mọi người liên tiếp nhắc lại: “Lạy Đức Kitô, xin thương xót chúng con!” cũng dần bị cuốn vào trạng thái xuất thần như lần trước trong túp lều của người thợ khai thác đá. Giờ đây, từ nơi sâu thẳm họ đang kêu cầu Người giữa tận cùng đau khổ, giờ đây Peter đang kêu cầu Người; vậy thì bất cứ lúc nào trời cũng có thể xé toạc, đất có thể rung chuyển tận nền móng, và Người có thể hiện ra trong vinh quang vô hạn, chân đạp trên các vì sao, đầy lòng thương xót nhưng cũng đáng kinh sợ. Người sẽ nâng những kẻ trung tín dậy và truyền cho vực thẳm nuốt chửng phường bách hại.

Vinicius lấy hai tay che mặt và cúi rạp xuống đất. Lập tức, xung quanh chàng lặng phắc, như thể nỗi sợ đã chặn hơi thở trên môi tất cả những người có mặt. Chàng thấy chắc chắn phải có điều gì đó xảy ra, rằng giây phút của phép lạ sắp đến. Chàng tin chắc rằng khi đứng lên và mở mắt, chàng sẽ thấy một luồng sáng làm mắt người phàm lòa đi, và nghe một tiếng nói khiến trái tim lịm ngất.

Nhưng sự im lặng vẫn không hề bị phá vỡ. Cuối cùng, tiếng nức nở của những người đàn bà cắt ngang nó. Vinicius đứng lên, đôi mắt thất thần nhìn về phía trước. Trong nhà ép rượu, thay vì ánh vinh quang siêu trần, chỉ có những ngọn đèn tỏa ra ánh sáng yếu ớt, còn các tia trăng lọt qua một lỗ hổng trên mái phủ khắp nơi thứ ánh sáng bạc. Những người đang quỳ quanh Vinicius lặng lẽ ngước đôi mắt đẫm lệ lên cây thập giá; chỗ này chỗ kia vang tiếng nức nở, còn bên ngoài vọng vào những tiếng huýt sáo cảnh giới của người canh gác. Trong khi ấy, Peter đứng lên, quay về phía mọi người và nói:

“Các con, hãy nâng lòng mình lên cùng Đấng Cứu Chuộc và dâng Người nước mắt của các con.”

Nói xong, người im lặng.

Bỗng giọng một người đàn bà cất lên, đầy ai oán và đớn đau:

“Con là một góa phụ; con chỉ có một đứa con trai nuôi nấng con. Lạy Chúa, xin trả nó lại cho con!” Sự im lặng lại tiếp nối. Peter đứng trước những người đang quỳ, già nua, đầy ưu tư. Trong khoảnh khắc ấy, đối với họ, người dường như là hiện thân của tuổi già suy kiệt và sự yếu đuối. Rồi một giọng thứ hai cất lời than:

“Bọn đao phủ đã làm nhục con gái con, và Đức Kitô lại để mặc chúng!”

Rồi một giọng thứ ba:

“Các con con chỉ còn mình con, nếu con bị bắt đi thì ai sẽ cho chúng bánh và nước?”

Rồi một giọng thứ tư:

“Linus lúc đầu được tha, nay họ đã bắt người và đưa đi tra tấn, lạy Chúa!”

Rồi một giọng thứ năm:

“Khi chúng con trở về nhà, lính cấm vệ sẽ bắt chúng con. Chúng con không biết trốn ở đâu.”

“Khốn cho chúng con! Ai sẽ che chở chúng con?”

Cứ thế, trong sự im lặng của đêm tối, lời than nối tiếp lời than vang lên. Người ngư phủ già nhắm mắt, mái đầu bạc lắc nhẹ trước nỗi đau và nỗi sợ của con người. Một khoảng lặng mới lại đến; bên ngoài nhà ép rượu, người canh gác chỉ khẽ huýt những tiếng sáo nhỏ.

Vinicius lại bật dậy, định chen qua đám đông đến chỗ vị Tông đồ để đòi sự cứu thoát; nhưng đột nhiên trước mắt chàng như hiện ra một vực thẳm, chỉ nhìn thấy nó thôi cũng đủ rút hết sức lực khỏi đôi chân. Nếu vị Tông đồ thú nhận sự bất lực của chính mình, quả quyết rằng Caesar của La Mã mạnh hơn Đấng Nazareth thì sao? Nghĩ đến đó, tóc trên đầu chàng dựng đứng vì kinh hãi; bởi chàng cảm thấy trong trường hợp ấy, không chỉ tàn dư hy vọng của chàng sẽ rơi xuống vực sâu kia, mà cả bản thân chàng cùng tất cả những gì làm nên sự sống của chàng cũng sẽ rơi theo, và chỉ còn lại đêm tối cùng cái chết, tựa một biển khơi không bờ bến.

Trong khi ấy, Peter bắt đầu nói, lúc đầu giọng người nhỏ đến nỗi hầu như không thể nghe thấy:

“Các con của ta, trên Golgotha, ta đã thấy họ đóng đinh Thiên Chúa lên thập giá. Ta nghe tiếng búa, ta thấy họ dựng thập giá lên cao để đám tiện dân nhìn ngắm cái chết của Con Người. Ta thấy họ đâm mở cạnh sườn Người, và ta thấy Người chết. Khi rời khỏi thập giá, ta đã kêu lên trong đau đớn như các con đang kêu: ‘Khốn thay! Khốn thay! Lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa! Vì sao Ngài để điều này xảy ra? Vì sao Ngài chết, và vì sao Ngài giày vò trái tim chúng con, những kẻ từng tin rằng vương quốc của Ngài sẽ đến?’

“Nhưng Người, Chúa và Thiên Chúa của chúng ta, đã từ cõi chết sống lại vào ngày thứ ba, và ở giữa chúng ta cho đến khi Người bước vào vương quốc của mình trong vinh quang lớn lao.

“Còn chúng ta, khi nhận ra đức tin nhỏ bé của mình, đã trở nên vững lòng, và từ đó đến nay vẫn gieo hạt giống của Người.”

Đến đây, quay về phía phát ra lời than đầu tiên, người bắt đầu nói bằng một giọng giờ đã mạnh mẽ hơn:

“Sao các con than vãn? Thiên Chúa đã tự hiến mình cho cực hình và cái chết, còn các con lại muốn Người che chở mình khỏi chính những điều ấy. Hỡi những kẻ ít đức tin, các con đã tiếp nhận lời dạy của Người chưa? Chẳng lẽ Người chỉ hứa với các con sự sống? Người đến với các con và phán: ‘Hãy theo đường Ta đi.’ Người nâng các con lên với mình, còn các con bám chặt hai tay vào mặt đất này mà kêu: ‘Lạy Chúa, xin cứu chúng con!’ Trước Thiên Chúa, ta chỉ là bụi đất, nhưng trước các con, ta là Tông đồ và người đại diện của Người. Ta nói với các con nhân danh Đức Kitô. Trước mắt các con không phải cái chết mà là sự sống; không phải cực hình mà là niềm hoan lạc vô tận; không phải nước mắt và tiếng rên mà là tiếng ca; không phải cảnh nô lệ mà là quyền ngự trị! Ta, Tông đồ của Thiên Chúa, nói điều này: Hỡi người góa phụ, con trai ngươi sẽ không chết; nó sẽ được sinh vào vinh quang, vào sự sống vĩnh hằng, và ngươi sẽ lại đoàn tụ cùng nó! Còn ngươi, hỡi người cha có đứa con gái vô tội bị bọn đao phủ làm nhục, ta hứa rằng ngươi sẽ gặp lại nàng trắng trong hơn những đóa huệ Hebron! Với các ngươi, những người mẹ đang bị giằng khỏi đàn con côi; với các ngươi, những người mất cha; với các ngươi, những người than khóc; với các ngươi, những người sẽ chứng kiến cái chết của người thân yêu; với các ngươi, những người sầu khổ, bất hạnh, nhút nhát; với các ngươi, những người phải chết — nhân danh Đức Kitô, ta tuyên bố rằng các ngươi sẽ bừng tỉnh như từ giấc ngủ bước vào một buổi thức dậy hân hoan, như từ đêm tối bước ra ánh sáng của Thiên Chúa. Nhân danh Đức Kitô, hãy để cái xà rơi khỏi mắt các ngươi, và hãy để trái tim các ngươi bừng cháy.”

Nói đến đó, người giơ tay lên như ban một mệnh lệnh, và họ cảm thấy dòng máu mới chảy trong huyết quản, đồng thời xương cốt cũng run lên; bởi người đứng trước mặt họ không còn là một ông già suy kiệt, ưu phiền, mà là một bậc quyền uy nắm lấy linh hồn họ, nâng họ lên khỏi bụi đất và nỗi kinh hoàng.

“Amen!” nhiều giọng đồng thanh hô lên.

Từ mắt vị Tông đồ tỏa ra một luồng sáng mỗi lúc một rực rỡ; quyền năng, uy nghi và sự thánh thiện tuôn trào từ người. Mọi mái đầu cúi xuống trước người, và khi tiếng “Amen” dứt, người nói tiếp:

“Các con gieo trong nước mắt để gặt trong niềm vui. Sao các con sợ quyền lực của cái ác? Trên mặt đất, trên Rome, trên những bức tường thành là Chúa, Đấng đã chọn nơi ngự trong chính các con. Đá sẽ ướt đẫm nước mắt, cát sẽ sũng máu, các thung lũng sẽ đầy thi thể các con, nhưng ta nói rằng các con là những người chiến thắng. Chúa đang tiến lên chinh phục thành phố của tội ác, áp bức và kiêu căng này, còn các con là những quân đoàn của Người! Người đã dùng chính máu và cực hình của mình để chuộc tội lỗi thế gian; vì thế Người muốn các con dùng cực hình và máu để chuộc cái ổ bất công này. Đó là điều Người loan báo với các con qua môi miệng ta.”

Rồi người dang hai tay, mắt nhìn chăm chăm lên cao; những trái tim gần như ngừng đập trong lồng ngực, bởi họ cảm thấy ánh mắt người đang trông thấy điều mà thị giác phàm trần của họ không thể thấy.

Quả thật, gương mặt người đã biến đổi và được phủ đầy vẻ thanh thản; người im lặng nhìn hồi lâu như đã mất tiếng trong cơn xuất thần, nhưng một lúc sau, họ nghe giọng người cất lên:

“Ngài ở đây, lạy Chúa, và Ngài chỉ cho con những con đường của Ngài. Đúng vậy, lạy Đức Kitô! Không phải ở Jerusalem, mà chính trong thành phố của Satan này, Ngài sẽ đặt kinh đô của Ngài. Tại đây, từ nước mắt và máu này, Ngài muốn xây dựng Giáo hội của Ngài. Chính nơi Nero đang cai trị hôm nay, vương quốc vĩnh hằng của Ngài sẽ đứng vững. Của Ngài, lạy Chúa, lạy Chúa! Và Ngài truyền cho những con người nhút nhát này lấy xương mình làm nền móng cho Zion thánh của Ngài; Ngài truyền thần trí con cai quản nó và cai quản các dân tộc trên mặt đất. Ngài đang đổ suối nguồn sức mạnh xuống những kẻ yếu để họ trở nên mạnh mẽ; và giờ đây, Ngài truyền cho con chăn đàn chiên của Ngài từ nơi này cho đến tận cùng các thời đại. Ôi, xin ngợi khen Ngài trong những phán quyết qua đó Ngài truyền chúng con chiến thắng. Hosanna! Hosanna!”

Những người nhút nhát đứng dậy; những dòng đức tin tuôn vào lòng những kẻ hoài nghi. Có tiếng hô: “Hosanna!” những tiếng khác hô: “Pro Christo!” Rồi sự im lặng lại đến. Ánh chớp mùa hè rực rỡ soi sáng bên trong nhà ép rượu cùng những gương mặt tái nhợt, xúc động.

Peter, vẫn đắm trong thị kiến, còn cầu nguyện hồi lâu; cuối cùng, khi tỉnh lại, người quay gương mặt đầy linh hứng và ánh sáng về phía mọi người rồi nói:

“Chúa đã chiến thắng nỗi hoài nghi trong các con như thế đó; vậy các con sẽ nhân danh Người mà đi tới chiến thắng.”

Và dù biết họ sẽ chiến thắng, dù biết điều gì sẽ nảy sinh từ nước mắt và máu của họ, giọng người vẫn run lên vì xúc động khi ban phép lành cho họ bằng dấu thập giá và nói:

“Giờ đây ta ban phép lành cho các con, hỡi các con của ta, khi các con đi vào cực hình, vào cái chết, vào cõi vĩnh hằng.”

Họ tụ tập quanh người và khóc. “Chúng con đã sẵn sàng,” họ nói; “nhưng xin người, hỡi đấng thủ lĩnh thánh thiện, hãy giữ gìn mình, bởi người là vị đại diện đảm nhiệm chức vụ của Đức Kitô.”

Vừa nói như vậy, họ vừa nắm lấy áo choàng của người; người đặt tay lên đầu họ và lần lượt ban phúc cho từng người, như một người cha ban phúc cho những đứa con sắp lên đường đi xa.

Rồi họ lập tức rời khỏi túp lều, vì ai nấy đều vội vã trở về nhà, để từ đó đi tới nhà tù và đấu trường. Tâm trí họ đã lìa khỏi cõi thế, linh hồn họ đã bay về miền vĩnh cửu, và họ bước đi như trong mộng, trong niềm xuất thần, đem sức mạnh trong lòng mình chống lại quyền lực và sự tàn bạo của “Con Thú”.

Nereus, gia nhân của Pudens, đón Tông đồ rồi dẫn người theo một lối kín xuyên qua vườn nho về nhà mình. Nhưng Vinicius đi theo họ trong đêm quang đãng; đến khi họ tới túp nhà của Nereus, chàng bất ngờ quỳ sụp xuống dưới chân Tông đồ.

“Con muốn gì, con ta?” Peter hỏi khi nhận ra chàng.

Sau những điều đã nghe trong vườn nho, Vinicius không dám cầu xin người bất cứ điều gì; nhưng chàng ôm chặt hai chân người, vừa nức nở vừa áp trán vào đó, dùng lời van xin câm lặng ấy mà khẩn cầu lòng thương xót.

“Ta biết. Họ đã bắt cô gái con yêu. Hãy cầu nguyện cho nàng.”

“Thưa ngài,” Vinicius rên rỉ, càng ôm chặt chân người hơn, “thưa ngài, con chỉ là một con sâu khốn khổ; nhưng ngài từng biết Đấng Kitô. Xin ngài cầu khẩn Người—xin ngài bênh vực nàng.”

Đau đớn khiến chàng run lên như chiếc lá; chàng dập trán xuống đất, vì biết quyền năng của Tông đồ, chàng tin rằng chỉ mình người mới có thể cứu nàng.

Peter xúc động trước nỗi đau ấy. Người nhớ lại có lần chính Lygia, khi bị Crispus công kích, cũng đã nằm dưới chân người như thế mà van xin thương xót. Người nhớ mình đã đỡ nàng dậy và an ủi nàng; vì vậy, giờ đây người cũng đỡ Vinicius lên.

“Con ta,” người nói, “ta sẽ cầu nguyện cho nàng; nhưng con hãy nhớ rằng ta đã nói với những kẻ hồ nghi kia: chính Thiên Chúa cũng đã trải qua cực hình thập giá; và hãy nhớ rằng sau cuộc đời này, một cuộc đời khác sẽ bắt đầu—cuộc đời vĩnh cửu.”

“Con biết; con đã nghe!” Vinicius đáp, đôi môi nhợt nhạt hớp lấy không khí. “Nhưng ngài thấy đó, thưa ngài, con không thể chịu nổi! Nếu cần máu, xin ngài cầu Đấng Kitô nhận lấy máu con—con là một người lính. Xin Người cứ gấp đôi, gấp ba cực hình dành cho nàng, con sẽ chịu hết; nhưng xin Người tha cho nàng. Nàng vẫn chỉ là một đứa trẻ, mà Người quyền năng hơn Caesar, con tin như vậy, quyền năng hơn. Chính ngài cũng yêu thương nàng; ngài đã ban phúc cho chúng con. Nàng vẫn là một đứa trẻ vô tội.”

Chàng lại cúi xuống, áp mặt vào đầu gối Peter và nhắc đi nhắc lại—

“Ngài từng biết Đấng Kitô, thưa ngài—ngài từng biết Người. Người sẽ lắng nghe ngài; xin hãy bênh vực nàng.”

Peter khép mắt, thành tâm cầu nguyện. Chớp mùa hạ lại soi sáng bầu trời. Trong ánh chớp ấy, Vinicius nhìn đôi môi Tông đồ, chờ đợi từ đó lời phán quyết sống hay chết. Giữa cảnh tĩnh lặng, có thể nghe tiếng chim cút gọi nhau trong vườn nho và tiếng trầm đục, xa xăm của những cối xay đạp chân gần Via Salaria.

“Vinicius,” cuối cùng Tông đồ hỏi, “con có tin không?”

“Nếu không tin, liệu con có đến đây chăng?” Vinicius đáp.

“Vậy hãy tin đến cùng, vì đức tin sẽ chuyển dời núi. Bởi thế, dù con có thấy cô gái ấy dưới lưỡi gươm của đao phủ hay trong hàm sư tử, hãy tin rằng Đấng Kitô có thể cứu nàng. Hãy tin, hãy cầu nguyện với Người, và ta sẽ cầu nguyện cùng con.”

Rồi ngẩng mặt lên trời, người cất tiếng—

“Lạy Đấng Kitô nhân từ, xin nhìn đến trái tim đau đớn này và an ủi nó! Lạy Đấng Kitô nhân từ, xin khiến ngọn gió thuận hòa với bộ lông của chiên con! Lạy Đấng Kitô nhân từ, Ngài đã cầu xin Chúa Cha cất chén đắng khỏi môi Ngài, xin cũng cất chén ấy khỏi môi người tôi tớ này của Ngài! Amen.”

Nhưng Vinicius vươn tay về phía những vì sao, rên rỉ nói—

“Con thuộc về Ngài; xin hãy nhận con thay cho nàng.”

Bầu trời phía đông bắt đầu nhợt sáng.