Quo Vadis — Chương 59
Chương 60 / 75 · Bài review Quo Vadis
Đã một thời gian, Vinicius thường đêm đêm vắng nhà. Petronius nghĩ có lẽ chàng đã vạch ra một kế hoạch mới và đang tìm cách giải thoát Lygia khỏi ngục Esquiline; tuy nhiên, ông không muốn dò hỏi điều gì, sợ rằng mình có thể đem vận rủi đến cho công việc ấy. Con người phong nhã đa nghi này, theo một nghĩa nào đó, đã trở nên mê tín. Ông từng thất bại trong việc đưa Lygia ra khỏi ngục Mamertine, nên không còn tin vào ngôi sao may mắn của mình nữa.
Vả lại, lần này ông không trông mong những nỗ lực của Vinicius sẽ đạt được kết quả thuận lợi. Ngục Esquiline, được dựng lên vội vã từ các hầm nhà của những căn nhà bị phá sập để chặn đám cháy, quả thật không khủng khiếp bằng Tullianum cổ gần Capitol, nhưng lại được canh phòng nghiêm ngặt gấp trăm lần. Petronius hiểu rất rõ rằng Lygia bị đưa đến đó chỉ để thoát chết chứ không phải thoát khỏi hí trường. Ông lập tức hiểu rằng chính vì lý do ấy, người ta giữ nàng kỹ như giữ con ngươi trong mắt.
“Rõ ràng,” ông tự nhủ, “Caesar và Tigellinus đã dành nàng cho một màn trình diễn đặc biệt nào đó, khủng khiếp hơn tất cả những màn khác, và Vinicius rất có thể sẽ bỏ mạng chứ không cứu được nàng.”
Vinicius cũng đã mất hy vọng có thể giải thoát Lygia. Chỉ một mình Đức Kitô mới làm được điều đó. Giờ đây, vị quan bảo dân trẻ tuổi chỉ nghĩ đến việc được gặp nàng trong ngục.
Suốt một thời gian, chàng không sao thôi nghĩ đến chuyện Nazarius đã lọt vào ngục Mamertine dưới thân phận một người khiêng xác; vì thế, chàng quyết định cũng thử phương cách ấy.
Người cai quản “Hố Xác Thối”, sau khi nhận một món tiền hối lộ khổng lồ, cuối cùng đã cho chàng trà trộn vào đám tôi tớ mà mỗi đêm hắn phái đến các nhà ngục để thu nhặt tử thi. Nguy cơ Vinicius bị nhận ra thực ra rất nhỏ. Bóng đêm, bộ quần áo nô lệ và ánh sáng tù mù trong ngục che chở cho chàng. Vả lại, ai có thể ngờ rằng một quý tộc La Mã, cháu nội của một chấp chính quan và con trai của một chấp chính quan khác, lại có mặt giữa đám tôi tớ, phu khiêng xác, phơi mình trước khí độc của nhà ngục và “Hố Xác Thối”? Và chàng bắt tay vào công việc mà người ta chỉ chịu làm khi bị cảnh nô lệ cưỡng bức hoặc vì khốn cùng đến bước đường cùng.
Khi buổi tối mong đợi ấy đến, chàng vui mừng thắt đai ngang lưng, trùm đầu bằng một tấm vải tẩm nhựa thông, rồi cùng một đám đông đi về phía Esquiline, tim đập dồn dập.
Lính cận vệ pháp quan không gây khó dễ, vì mọi người đều mang theo đúng thẻ bài, được viên bách quản kiểm tra dưới ánh đèn lồng. Một lát sau, những cánh cửa sắt lớn mở ra trước mặt họ, và họ bước vào.
Vinicius trông thấy một căn hầm rộng có mái vòm, từ đó người ta đi tiếp sang một chuỗi hầm khác. Những ngọn nến leo lét soi bên trong từng căn, căn nào cũng chật kín người. Một số nằm sát tường, chìm trong giấc ngủ, hoặc có lẽ đã chết. Những người khác vây quanh các chum nước lớn đặt ở giữa, uống ngấu nghiến như những kẻ bị cơn sốt hành hạ; lại có người ngồi trên nền đất, khuỷu tay chống lên đầu gối, đầu gục trong hai lòng bàn tay; đây đó, trẻ con nép mình bên mẹ mà ngủ. Khắp nơi vang lên tiếng rên rỉ, tiếng thở hổn hển gấp gáp của người bệnh, tiếng khóc, tiếng cầu nguyện thì thầm, những bài thánh ca khe khẽ và lời nguyền rủa của bọn cai ngục. Trong ngục tối này nồng nặc mùi của đám đông và xác chết. Nơi đáy sâu âm u, những bóng người đen sẫm nhung nhúc; ở gần hơn, sát những ánh lửa chập chờn, hiện ra những gương mặt nhợt nhạt, kinh hãi, đói khát và hốc hác như xác chết, với đôi mắt lờ đờ hoặc rực cháy vì sốt, môi tím tái, trán đầm đìa mồ hôi và tóc bết dính. Trong các góc, người bệnh rên la; người xin nước uống, kẻ xin được đưa đi chết. Vậy mà nhà ngục ấy vẫn ít khủng khiếp hơn Tullianum cổ. Chân Vinicius khuỵu xuống khi nhìn thấy tất cả cảnh tượng đó, hơi thở như tắt nghẹn trong lồng ngực. Nghĩ đến Lygia đang ở giữa chốn khốn khổ và tai ương này, tóc chàng dựng đứng, và chàng phải ghìm lại một tiếng kêu tuyệt vọng. Hí trường, nanh thú dữ, thập giá—bất cứ thứ gì cũng còn hơn những ngục thất ghê rợn nồng mùi tử thi này, nơi từ mọi góc đều vang lên những giọng van xin—
“Hãy đưa chúng tôi đi chết!”
Vinicius bấm móng tay vào lòng bàn tay, vì chàng cảm thấy mình đang yếu đi và sự tỉnh táo đang rời bỏ mình. Tất cả những gì chàng từng cảm thấy cho đến lúc ấy, mọi tình yêu và đau đớn, đều hóa thành một khát vọng duy nhất trong chàng: được chết.
Đúng lúc ấy, bên cạnh chàng vang lên giọng của người cai quản “Hố Xác Thối”:
“Hôm nay các anh có bao nhiêu xác chết?”
“Khoảng một chục,” viên quản ngục đáp, “nhưng trước sáng sẽ còn thêm; có mấy kẻ đang hấp hối bên các bức tường.”
Rồi hắn bắt đầu than phiền về những người đàn bà giấu xác con mình để giữ chúng bên cạnh, không chịu giao cho “Hố Xác Thối”. “Trước hết chúng tôi phải phát hiện tử thi nhờ mùi hôi; vì thế không khí vốn đã khủng khiếp lại càng ô uế hơn. Tôi thà làm nô lệ trong một nhà ngục nào đó ở miền quê còn hơn canh giữ lũ chó đang sống mà mục rữa ở đây—”
Người cai quản các hố xác an ủi hắn, nói rằng công việc của chính mình cũng chẳng dễ dàng hơn. Đến lúc này, Vinicius đã lấy lại cảm giác về thực tại. Chàng bắt đầu lục tìm trong ngục, nhưng tìm Lygia hoài công, đồng thời sợ rằng mình sẽ chẳng bao giờ còn được thấy nàng sống. Một số căn hầm nối với nhau bằng những lối đi mới đào; những phu khiêng xác chỉ vào các căn có tử thi cần mang đi. Vinicius hoảng sợ rằng đặc quyền phải mất biết bao công sức mới có được ấy rốt cuộc sẽ chẳng ích gì. May thay, người bảo trợ cho chàng đã giúp chàng.
“Bệnh dịch lây lan nhiều nhất qua xác chết,” hắn nói. “Các người phải đem thi thể ra ngay, nếu không chính các người cũng sẽ chết cùng tù nhân.”
“Chúng tôi chỉ có mười người cho tất cả các hầm,” viên quản ngục nói, “mà chúng tôi còn phải ngủ.”
“Ta sẽ để lại bốn người của ta; ban đêm họ sẽ đi khắp các hầm xem có ai đã chết không.”
“Nếu anh làm thế, ngày mai chúng ta sẽ uống với nhau. Phải kiểm tra từng người, vì đã có lệnh phải đâm thủng cổ mỗi xác chết, rồi lập tức đưa xuống ‘Hố Xác Thối’.”
“Được thôi, nhưng chúng ta nhất định phải uống đấy,” người cai quản nói.
Bốn người được chọn, trong đó có Vinicius; hắn dẫn những người còn lại đi đặt các tử thi lên cáng.
Vinicius yên tâm; giờ đây ít nhất chàng chắc chắn sẽ tìm thấy Lygia. Vị quan bảo dân trẻ tuổi bắt đầu xem xét kỹ căn ngục đầu tiên; chàng nhìn vào mọi góc tối mà ánh đuốc khó lòng soi tới; chàng xem xét những hình người ngủ sát tường dưới các tấm vải thô; chàng thấy những người bệnh nặng nhất bị dồn riêng vào một góc. Nhưng không đâu chàng tìm thấy Lygia. Trong căn ngục thứ hai rồi thứ ba, cuộc tìm kiếm của chàng cũng hoàn toàn vô vọng.
Trong khi ấy, đêm đã về khuya; mọi tử thi đều đã được mang ra ngoài. Đám lính canh nằm rải trong các hành lang giữa những căn hầm và đã ngủ; trẻ con mệt lả vì khóc cũng im tiếng; chẳng còn nghe thấy gì ngoài hơi thở của những lồng ngực khổ sở và đây đó tiếng cầu nguyện rì rầm.
Vinicius cầm đuốc đi vào căn ngục thứ tư, nhỏ hơn hẳn. Nâng cao ngọn lửa, chàng bắt đầu nhìn quanh rồi bỗng run lên, vì chàng ngỡ mình trông thấy thân hình khổng lồ của Ursus bên một ô cửa có song sắt trên tường. Chàng liền thổi tắt đuốc, đến gần người ấy và hỏi:
“Ursus, anh có ở đây không?”
“Người là ai?” người khổng lồ hỏi, ngoảnh đầu lại.
“Anh không nhận ra ta sao?”
“Người đã dập tắt đuốc; làm sao tôi nhận ra người được?”
Nhưng ngay lúc ấy, Vinicius trông thấy Lygia đang nằm trên một tấm áo choàng gần bức tường; không nói thêm lời nào, chàng quỳ xuống bên nàng. Ursus nhận ra chàng và nói—
“Ngợi khen Đức Kitô! Nhưng xin ngài đừng đánh thức cô ấy.”
Vinicius quỳ đó, qua làn nước mắt nhìn nàng. Dù trong bóng tối, chàng vẫn nhận ra gương mặt nàng, đối với chàng nhợt nhạt như thạch cao tuyết hoa, cùng đôi cánh tay gầy guộc. Trước cảnh ấy, một tình yêu như nỗi đau xé lòng chiếm lấy chàng, một tình yêu lay động tâm hồn chàng đến tận nơi sâu thẳm nhất, đồng thời tràn đầy xót thương, kính trọng và tôn quý đến nỗi chàng phủ phục xuống, áp môi lên gấu tấm áo choàng nơi đang nâng đỡ mái đầu mà chàng quý hơn mọi thứ trên đời.
Ursus lặng lẽ nhìn Vinicius hồi lâu, nhưng cuối cùng kéo áo tunic của chàng.
“Thưa ngài,” anh hỏi, “ngài vào đây bằng cách nào, và có phải ngài đến để cứu cô ấy không?”
Vinicius đứng dậy và phải vật lộn một lúc mới chế ngự được xúc động. “Hãy chỉ cho ta một cách,” chàng đáp.
“Tôi cứ ngỡ ngài sẽ tìm ra cách, thưa ngài. Trong đầu tôi chỉ nghĩ được một cách—”
Nói đến đây, anh quay về phía ô cửa sắt trên tường như thể tự trả lời mình, rồi nói—
“Theo lối đó—nhưng bên ngoài có lính—”
“Một trăm lính cận vệ pháp quan.”
“Vậy chúng ta không thể vượt qua sao?”
“Không!”
Người Lygia xoa trán rồi lại hỏi—
“Ngài vào bằng cách nào?”
“Ta có thẻ bài của người cai quản ‘Hố Xác Thối’.” Rồi Vinicius bỗng ngừng bặt, như thể một ý nghĩ vừa lóe lên trong đầu chàng.
“Nhân cuộc Khổ nạn của Đấng Cứu Chuộc,” chàng nói gấp gáp, “ta sẽ ở lại đây. Hãy để nàng cầm thẻ bài của ta; nàng có thể quấn vải quanh đầu, khoác áo choàng che vai rồi đi ra. Trong số những nô lệ khiêng xác có mấy thiếu niên chưa trưởng thành; vì thế lính cận vệ pháp quan sẽ không để ý đến nàng, và một khi tới được nhà Petronius, nàng sẽ an toàn.”
Nhưng người Lygia gục đầu xuống ngực và nói—“Cô ấy sẽ không chịu đâu, vì cô ấy yêu ngài; hơn nữa, cô ấy đang ốm, không thể tự đứng được. Nếu ngài và Petronius cao quý không thể cứu cô ấy khỏi ngục, thì ai có thể?” Một lát sau, anh nói.
“Chỉ có Đức Kitô.”
Rồi cả hai đều im lặng.
“Đức Kitô có thể cứu tất cả các Kitô hữu,” người Lygia nghĩ bằng tấm lòng đơn sơ của mình; “nhưng vì Người không cứu họ, rõ ràng giờ phút chịu cực hình và cái chết đã đến.”
Anh chấp nhận điều ấy cho chính mình, nhưng tận đáy lòng đau xót cho đứa trẻ đã lớn lên trong vòng tay anh, người mà anh yêu hơn cả mạng sống.
Vinicius lại quỳ xuống bên Lygia. Ánh trăng lọt qua ô cửa sắt trên tường, sáng hơn ngọn nến duy nhất vẫn còn cháy phía trên lối vào. Bấy giờ Lygia mở mắt, đặt bàn tay nóng sốt lên cánh tay Vinicius và nói:
“Em thấy chàng; em biết chàng sẽ đến.”
Chàng nắm lấy hai bàn tay nàng, áp chúng lên trán rồi lên tim mình, đỡ nàng dậy đôi chút và ôm nàng vào ngực.
“Ta đã đến đây, người yêu dấu nhất của ta. Cầu xin Đức Kitô che chở và giải thoát nàng, Lygia yêu dấu!” Chàng không thể nói thêm, vì trái tim trong lồng ngực bắt đầu rên xiết bởi đau đớn và yêu thương, mà chàng không muốn để lộ nỗi đau trước mặt nàng.
“Em đang ốm, Marcus,” Lygia nói, “và em phải chết, hoặc ở đấu trường, hoặc tại đây trong ngục—em đã cầu nguyện được gặp chàng trước khi chết; chàng đã đến—Đức Kitô đã nghe lời em.”—
Vẫn chưa thể thốt nên lời, chàng ép nàng vào ngực, và nàng nói tiếp—
“Em đã nhìn thấy chàng qua cửa sổ ở Tullianum. Em thấy chàng muốn đến với em. Giờ đây Đấng Cứu Chuộc đã ban cho em một phút tỉnh táo để chúng ta từ biệt nhau. Em sắp về với Người, Marcus, nhưng em yêu chàng và sẽ mãi mãi yêu chàng.”
Vinicius chế ngự được mình; chàng ghìm nỗi đau và bắt đầu nói bằng một giọng mà chàng cố giữ cho bình tĩnh—
“Không, Lygia yêu dấu, nàng sẽ không chết. Vị Tông đồ đã truyền ta phải tin và hứa sẽ cầu nguyện cho nàng; ngài từng biết Đức Kitô—Đức Kitô yêu quý ngài và sẽ không khước từ ngài. Nếu nàng phải chết, Peter đã không truyền ta phải vững lòng; nhưng ngài đã nói: ‘Hãy vững lòng!’—Không, Lygia! Đức Kitô sẽ thương xót. Người không muốn nàng chết. Người sẽ không cho phép điều đó. Nhân danh Đấng Cứu Chuộc, ta thề với nàng rằng Peter đang cầu nguyện cho nàng.”
Sau đó là im lặng. Ngọn nến duy nhất treo trên lối vào tắt ngấm, nhưng ánh trăng tràn qua toàn bộ ô cửa. Ở góc đối diện của căn hầm, một đứa trẻ thút thít rồi im bặt. Từ bên ngoài vọng vào tiếng những lính cận vệ pháp quan đã mãn phiên gác, đang chơi scriptoe duodecim dưới chân tường.
“Ôi Marcus,” Lygia nói, “chính Đức Kitô đã kêu cầu Đức Chúa Cha: ‘Xin cất chén đắng này khỏi Con’; vậy mà Người vẫn uống. Chính Đức Kitô đã chết trên thập giá, và hàng nghìn người đang bỏ mạng vì Người. Vậy tại sao Người lại chỉ tha cho riêng em? Em là ai, Marcus? Em đã nghe Peter nói rằng ngài cũng sẽ chết trong cực hình. So với Peter, em là ai? Khi lính cận vệ pháp quan đến bắt chúng em, em sợ cái chết và cực hình, nhưng giờ em không còn sợ nữa. Hãy nhìn xem nhà ngục này khủng khiếp đến thế nào, nhưng em sắp lên thiên đường. Chàng hãy nghĩ mà xem: Caesar ở đây, nhưng trên ấy có Đấng Cứu Chuộc nhân từ và đầy lòng thương xót. Và trên ấy không có cái chết. Chàng yêu em; vậy hãy nghĩ xem em sẽ hạnh phúc đến nhường nào. Ôi Marcus yêu dấu, hãy nghĩ rằng rồi chàng sẽ đến với em ở đó.”
Đến đây nàng dừng lại lấy hơi trong lồng ngực bệnh tật, rồi nâng bàn tay chàng lên môi—
“Marcus?”
“Sao vậy, em yêu?”
“Đừng khóc thương em, và hãy nhớ điều này—chàng sẽ đến với em. Em sống chẳng được bao lâu, nhưng Thiên Chúa đã trao linh hồn chàng cho em; vì thế em sẽ thưa với Đức Kitô rằng dù em đã chết và chàng phải nhìn em chết, dù chàng bị bỏ lại trong đau khổ, chàng vẫn không báng bổ ý Người, và chàng luôn yêu kính Người. Chàng sẽ yêu kính Người và kiên nhẫn chịu đựng cái chết của em chứ? Vì khi ấy Người sẽ cho chúng ta đoàn tụ. Em yêu chàng và em muốn được ở bên chàng.”
Hơi thở nàng bỗng đứt quãng, và bằng một giọng chỉ vừa đủ nghe, nàng nói hết câu:
“Hãy hứa với em điều này, Marcus!”
Vinicius ôm lấy nàng bằng đôi tay run rẩy và nói:
“Anh xin thề trên mái đầu thiêng liêng của em! Anh hứa.”
Gương mặt nhợt nhạt của nàng bừng sáng dưới ánh trăng buồn, rồi nàng lại nâng tay chàng lên môi và thì thầm,—
“Em là vợ anh!”
Bên kia bức tường, đám cấm vệ quân đang chơi scriptoe duodecim bỗng cãi cọ ầm ĩ hơn; nhưng Vinicius và Lygia quên mất nhà ngục, lính canh, thế gian, và cảm thấy trong mình mang linh hồn thiên thần, họ bắt đầu cầu nguyện.