Quo Vadis — Chương 68
Chương 69 / 75 · Bài review Quo Vadis
TIN Lygia được cứu thoát một cách kỳ diệu nhanh chóng lan truyền trong số các Kitô hữu tản mác đã thoát khỏi cuộc hủy diệt. Những người tuyên xưng đức tin tìm đến để tận mắt nhìn nàng, người đã được Christ tỏ rõ ân sủng. Đầu tiên là Nazarius và Miriam, nơi Tông đồ Peter vẫn ẩn náu bấy lâu; sau họ, những người khác cũng tới. Tất cả, cũng như Vinicius, Lygia và những nô lệ Kitô hữu của Petronius, đều chăm chú nghe Ursus kể lại tiếng nói chàng đã nghe trong tâm hồn, truyền cho chàng vật lộn với con bò rừng hung dữ. Ai nấy ra về đều được an ủi, hy vọng rằng Christ sẽ không để các tín hữu của Người bị tận diệt trên mặt đất trước ngày Người quang lâm phán xét. Chính niềm hy vọng ấy nâng đỡ lòng họ, bởi cuộc bách hại vẫn chưa chấm dứt. Bất cứ ai bị dư luận chỉ là Kitô hữu đều lập tức bị đội tuần binh thành bắt giam. Quả thật, số nạn nhân đã ít hơn, vì phần đông những người tuyên xưng đức tin đã bị bắt và tra tấn đến chết. Các Kitô hữu còn lại hoặc đã rời Rome để lánh cơn bão tố tại những tỉnh xa, hoặc ẩn náu hết sức cẩn mật, không dám tụ họp cầu nguyện chung, trừ khi ở những hố cát ngoài thành. Tuy vậy, họ vẫn bị săn đuổi; dù các cuộc trò diễn đã kết thúc, những người mới bị bắt vẫn bị giữ lại cho các cuộc trò diễn sau hoặc chịu hình phạt riêng. Dù ở Rome không còn ai tin rằng các Kitô hữu đã gây ra vụ hỏa hoạn, họ vẫn bị tuyên bố là kẻ thù của nhân loại và Nhà nước, còn sắc lệnh chống lại họ vẫn giữ nguyên hiệu lực như trước.
Tông đồ Peter suốt một thời gian dài không dám xuất hiện trong nhà Petronius, nhưng cuối cùng, vào một buổi tối nọ, Nazarius báo tin người đến. Lygia, lúc này đã có thể tự mình đi lại, cùng Vinicius chạy ra đón và phủ phục ôm lấy chân người. Người chào họ với niềm xúc động càng sâu xa, bởi trong đàn chiên mà Christ đã trao cho người chăn dắt, và vì số phận của chúng mà trái tim lớn lao của người đang khóc than, chẳng còn lại bao nhiêu. Vì thế, khi Vinicius nói: “Thưa ngài, chính nhờ ngài mà Đấng Cứu Chuộc đã trả nàng lại cho con,” người đáp: “Người trả nàng lại vì đức tin của con, và để không phải mọi đôi môi tuyên xưng danh Người đều im tiếng.” Rõ ràng lúc ấy người đang nghĩ đến hàng nghìn đứa con của mình bị thú dữ xé xác, những cây thập giá từng phủ kín đấu trường, và những cột lửa trong vườn của “Con Thú”; bởi giọng người trĩu nặng đau buồn. Vinicius và Lygia cũng nhận thấy tóc người đã bạc trắng hoàn toàn, toàn thân còng xuống, còn trên gương mặt chứa đựng biết bao sầu khổ và đớn đau, như thể chính người đã trải qua mọi cực hình mà các nạn nhân của cơn cuồng nộ và điên loạn của Nero từng phải chịu. Nhưng cả hai đều hiểu rằng, một khi Christ đã hiến mình cho khổ hình và cái chết, không ai được phép trốn tránh. Dẫu vậy, lòng họ vẫn nhói đau khi trông thấy vị Tông đồ oằn xuống vì tuổi tác, nhọc nhằn và thống khổ. Vì thế Vinicius, vốn định sớm đưa Lygia đến Naples, nơi họ sẽ gặp Pomponia rồi cùng đi Sicily, khẩn khoản xin người rời Rome với họ.
Nhưng Tông đồ đặt tay lên đầu vị sĩ quan và đáp:
“Trong tâm hồn, ta nghe những lời này của Chúa, lời Người đã phán với ta bên hồ Tiberias: ‘Khi con còn trẻ, con tự thắt lưng và đi nơi mình muốn; nhưng khi con về già, con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và đưa con đến nơi con không muốn.’ Bởi vậy, ta phải đi theo đàn chiên của mình.”
Và khi họ lặng im, không hiểu ý nghĩa lời người, người nói thêm:
“Công việc của ta sắp đến hồi kết thúc; ta chỉ tìm thấy niềm an ủi và sự nghỉ ngơi trong nhà Chúa.”
Rồi người quay sang họ mà nói: “Hãy nhớ đến ta, vì ta đã yêu các con như cha yêu con mình; và bất cứ điều gì các con làm trong đời, hãy làm vì vinh quang Thiên Chúa.”
Nói đoạn, người nâng đôi tay già nua run rẩy và ban phúc cho họ; họ nép sát quanh người, cảm thấy có lẽ đó là phúc lành cuối cùng họ được nhận từ người.
Tuy nhiên, số mệnh đã định cho họ còn được gặp người một lần nữa. Vài ngày sau, Petronius mang về từ Palatine một tin khủng khiếp. Người ta đã phát hiện một kẻ được Caesar phóng thích là Kitô hữu; trên người hắn có những bức thư của các Tông đồ Peter và Paul, cùng thư của James, John và Judas. Tigellinus từ trước đã biết Peter có mặt tại Rome, nhưng hắn ngỡ vị Tông đồ đã chết cùng hàng nghìn người tuyên xưng đức tin khác. Giờ đây mới lộ ra rằng hai thủ lĩnh của đức tin mới vẫn còn sống và đang ở ngay kinh đô. Vì thế, người ta quyết bắt họ bằng bất cứ giá nào, bởi hy vọng rằng cái chết của họ sẽ nhổ bật chiếc rễ cuối cùng của giáo phái đáng căm ghét ấy. Petronius nghe Vestinius cho biết chính Caesar đã ra lệnh phải tống Peter và Paul vào ngục Mamertine trong vòng ba ngày, và nhiều toán cận vệ Praetorian đã được phái đi lục soát mọi căn nhà bên kia sông Tiber.
Nghe tin ấy, Vinicius quyết định cảnh báo vị Tông đồ. Đến tối, chàng cùng Ursus khoác áo choàng xứ Gaul rồi đi tới nhà Miriam, nơi Peter đang ở. Ngôi nhà nằm tận rìa khu vực bên kia sông Tiber của thành phố, dưới chân đồi Janiculum. Dọc đường, họ thấy nhiều ngôi nhà bị binh lính bao vây, dưới sự chỉ dẫn của một số kẻ lạ mặt. Cả khu vực náo động, nhiều nơi tụ tập những đám đông hiếu kỳ. Chỗ này chỗ kia, các viên bách quản tra hỏi tù nhân về Simon Peter và Paul thành Tarsus.
Ursus và Vinicius đi trước binh lính một quãng và đến nhà Miriam an toàn, tại đó họ thấy Peter đang ở giữa một nhóm nhỏ tín hữu. Timothy, người phụ tá của Paul, và Linus ở bên vị Tông đồ.
Khi nghe tin nguy hiểm đang tới gần, Nazarius dẫn mọi người theo một lối đi bí mật ra cổng vườn, rồi đến những mỏ đá bỏ hoang cách cổng Janiculum vài trăm yard. Ursus phải cõng Linus, vì những khúc xương bị tra tấn đánh gãy của ông vẫn chưa liền. Nhưng khi đã vào trong mỏ đá, họ cảm thấy an toàn; dưới ánh đuốc Nazarius thắp lên, họ bắt đầu nhỏ giọng bàn bạc cách cứu mạng vị Tông đồ vô cùng yêu quý.
“Thưa ngài,” Vinicius nói, “xin hãy để Nazarius đưa ngài tới dãy đồi Alban lúc rạng đông. Con sẽ tìm gặp ngài ở đó, rồi chúng ta sẽ đưa ngài tới Antium, nơi đã có một con tàu sẵn sàng chở chúng ta đến Naples và Sicily. Phúc thay ngày giờ ngài bước vào nhà con và ban phúc cho bếp lửa gia đình con.”
Những người khác vui mừng nghe lời ấy và cùng khẩn khoản với vị Tông đồ:
“Xin vị thủ lĩnh thiêng liêng hãy ẩn mình, đừng ở lại Rome. Xin gìn giữ chân lý sống động để chân lý ấy không diệt vong cùng chúng con và ngài. Xin nghe chúng con, những người đang khẩn cầu ngài như khẩn cầu một người cha.”
“Xin hãy làm vậy nhân danh Christ!” những người khác vừa kêu lên vừa níu lấy áo người.
“Các con của ta,” Peter đáp, “ai biết được lúc nào Chúa sẽ ấn định hồi kết cuộc đời mình?”
Nhưng người không nói rằng mình sẽ không rời Rome, và còn do dự chưa biết phải làm gì; bởi nỗi hoang mang, thậm chí cả sợ hãi, đã len vào tâm hồn người từ một thời gian nay. Đàn chiên của người đã tan tác; công trình đã đổ nát; Giáo hội từng nở rộ như một cây đại thụ huy hoàng trước khi thành phố bị thiêu cháy, nay đã bị quyền lực của “Con Thú” nghiền thành tro bụi. Chẳng còn gì ngoài nước mắt, chẳng còn gì ngoài ký ức về cực hình và cái chết. Hạt gieo từng trổ sinh hoa trái dồi dào, nhưng Satan đã giẫm nát tất cả xuống đất. Các đạo binh thiên thần không hề đến cứu những người đang diệt vong, còn Nero hiển hách trải quyền lực khủng khiếp của hắn khắp mặt đất, hùng mạnh hơn bao giờ hết, làm chúa tể mọi biển cả và đất đai. Hơn một lần, người ngư phủ của Chúa đã cô độc giơ tay lên trời mà hỏi: “Lạy Chúa, con phải làm gì? Con phải hành động ra sao? Và con, một ông già yếu đuối, làm thế nào chống lại quyền lực bất khả chiến bại của Cái Ác, quyền lực mà Người đã cho phép ngự trị và giành chiến thắng?”
Và trong tận cùng nỗi đau mênh mông, người kêu lên như thế, trong tâm tưởng không ngừng lặp lại: “Những con chiên Người truyền cho con chăn dắt không còn nữa, Giáo hội của Người cũng không còn nữa; trong kinh đô của Người chỉ có cô quạnh và tang tóc; giờ đây Người truyền con phải làm gì? Con nên ở lại đây, hay dẫn phần còn lại của đàn chiên đi tôn vinh danh Người trong bí mật ở một nơi nào đó bên kia biển?”
Và người do dự. Người tin chân lý sống động sẽ không diệt vong, rằng chân lý ấy tất phải chiến thắng; nhưng có những lúc người nghĩ giờ ấy vẫn chưa đến, rằng nó chỉ đến khi Chúa giáng thế vào ngày phán xét, trong vinh quang và quyền năng lớn gấp trăm lần uy lực của Nero.
Người thường tưởng rằng nếu mình rời Rome, các tín hữu sẽ đi theo; rồi người sẽ dẫn họ thật xa, đến những lùm cây rợp bóng ở Galilee, đến mặt hồ Tiberias phẳng lặng, đến với những người chăn chiên hiền hòa như bồ câu, hay như những đàn cừu gặm cỏ giữa hương xạ hương và cỏ tiêu. Một khát vọng bình yên và nghỉ ngơi ngày càng mãnh liệt, một nỗi mong nhớ hồ nước và miền Galilee ngày càng da diết, chiếm lấy trái tim người ngư phủ; nước mắt càng thường xuyên dâng lên trong mắt ông lão.
Nhưng đúng lúc người đưa ra lựa chọn, một nỗi kinh hoàng và sợ hãi bất chợt ập đến. Làm sao người có thể rời bỏ thành phố này, nơi biết bao máu tử đạo đã thấm xuống đất, nơi biết bao đôi môi của những người hấp hối đã cất lời làm chứng chân thật? Chẳng lẽ chỉ riêng người chịu khuất phục? Và người sẽ đáp thế nào với Chúa khi nghe những lời: “Những người này đã chết vì đức tin, còn con lại chạy trốn”?
Đêm ngày trôi qua với người trong lo âu và đau khổ. Những người khác, từng bị sư tử xé xác, bị đóng lên thập giá, bị thiêu trong vườn của Caesar, đã an nghỉ trong Chúa sau những phút giây cực hình; nhưng người không thể ngủ, và phải chịu những giày vò khủng khiếp hơn mọi cực hình đao phủ từng nghĩ ra cho các nạn nhân. Biết bao lần bình minh đã nhuộm trắng những mái nhà mà người vẫn còn kêu lên từ đáy trái tim tang tóc: “Lạy Chúa, vì sao Người truyền con đến đây để dựng kinh đô của Người ngay trong hang ổ của ‘Con Thú’?”
Suốt ba mươi ba năm sau cái chết của Thầy mình, người chưa từng được nghỉ ngơi. Tay cầm trượng, người đã đi khắp thế gian loan báo “Tin Mừng.” Sức lực người đã cạn kiệt vì những chuyến đi và công việc nhọc nhằn, để rồi cuối cùng, khi đã dựng nên công trình của Thầy mình tại thành phố đứng đầu thế giới ấy, một luồng hơi giận dữ đẫm máu đã thiêu rụi nó, và người nhận ra rằng cần phải bắt đầu cuộc tranh đấu lại từ đầu. Mà là một cuộc tranh đấu như thế nào! Một bên là Caesar, Viện Nguyên lão, dân chúng, những quân đoàn siết chặt thế giới trong một vòng đai sắt, vô số thành phố, vô số xứ sở—một quyền lực mắt người chưa từng thấy; bên kia là người, còng xuống vì tuổi tác và nhọc nhằn đến nỗi bàn tay run rẩy hầu như không còn sức mang cây trượng.
Vì thế, đôi lúc người tự nhủ rằng đọ sức với Caesar của Rome không phải là việc dành cho mình—chỉ riêng Christ mới có thể làm điều ấy.
Tất cả những ý nghĩ ấy đang nối nhau đi qua tâm trí chất chứa ưu phiền của người khi người nghe lời khẩn cầu của nhóm tín hữu nhỏ nhoi cuối cùng. Họ vây quanh người thành một vòng tròn mỗi lúc một thu hẹp, cùng cất giọng van xin lặp lại:
“Xin Rabbi hãy ẩn mình và dẫn chúng con thoát khỏi quyền lực của ‘Con Thú.’”
Cuối cùng, Linus cũng cúi cái đầu đã chịu cực hình trước người.
“Ôi, thưa ngài,” ông nói, “Đấng Cứu Chuộc đã truyền ngài chăn dắt đàn chiên của Người, nhưng họ không còn ở đây nữa, hoặc ngày mai sẽ không còn; vậy xin ngài hãy đi tới nơi ngài vẫn còn có thể tìm thấy họ. Lời Thiên Chúa vẫn sống tại Jerusalem, Antioch, Ephesus và những thành phố khác. Ngài ở lại Rome thì sẽ làm được gì? Nếu ngài ngã xuống, ngài chỉ khiến cuộc khải hoàn của ‘Con Thú’ thêm lớn. Chúa chưa định giới hạn cuộc đời của John; Paul là công dân Rome, họ không thể kết án ông mà không xét xử; nhưng nếu quyền lực địa ngục vùng lên chống lại ngài, ôi người thầy của chúng con, những kẻ lòng đang nản chí sẽ hỏi: ‘Ai cao hơn Nero?’ Ngài là tảng đá trên đó Giáo hội của Thiên Chúa được dựng nên. Hãy để chúng con chết, nhưng xin đừng để Kẻ Phản Kitô chiến thắng người đại diện của Thiên Chúa, và xin đừng trở lại đây cho tới khi Chúa nghiền nát kẻ đã làm đổ máu người vô tội.”
“Xin hãy nhìn nước mắt của chúng con!” tất cả những người có mặt cùng nhắc lại.
Nước mắt cũng chảy dài trên gương mặt Peter. Một lát sau, người đứng dậy, giang tay trên những người đang quỳ mà nói:
“Nguyện danh Chúa được hiển vinh, và nguyện ý Người được thực hiện!”