Quo Vadis — Chương 7

Chương 8 / 75 · Bài review Quo Vadis

Xưa kia, những đầu người cao quý nhất ở Rome từng nghiêng mình trước Acte, người sủng ái một thuở của Nero. Nhưng ngay cả vào thời ấy nàng cũng không hề muốn can dự vào việc công, và nếu có khi nào nàng dùng ảnh hưởng của mình đối với vị quân chủ trẻ tuổi, thì chỉ là để van xin lòng thương xót cho một ai đó. Lặng lẽ và khiêm nhường, nàng giành được lòng biết ơn của nhiều người mà không biến ai thành kẻ thù. Đến cả Octavia cũng không thể ghét nàng. Trong mắt những kẻ ghen tị với nàng, nàng dường như vô hại lạ thường. Ai cũng biết nàng vẫn yêu Nero bằng một tình yêu buồn thảm, đau đớn, thứ tình yêu không còn sống bằng hy vọng mà chỉ sống bằng ký ức về quãng thời gian khi Nero ấy không chỉ trẻ hơn, biết yêu hơn, mà còn tốt đẹp hơn. Người ta biết nàng không thể giằng tư tưởng và linh hồn mình ra khỏi những ký ức đó, nhưng cũng chẳng còn mong đợi gì; vì không hề có nỗi lo thực sự nào rằng Nero sẽ quay lại với nàng, nên người ta xem nàng như một con người hoàn toàn vô hại, và bởi vậy để nàng được yên. Poppaea chỉ coi nàng là một nữ tỳ trầm lặng, vô hại đến mức bà ta thậm chí không buồn đuổi nàng ra khỏi cung điện.

Nhưng vì Caesar đã từng yêu nàng và ruồng bỏ nàng mà không gây xúc phạm, theo một cách lặng lẽ và phần nào vẫn thân tình, nên người ta vẫn giữ cho nàng một sự kính nể nào đó. Khi giải phóng nàng, Nero để nàng sống trong cung và ban cho nàng phòng riêng cùng vài người hầu. Và cũng như vào thời của họ, Pallas và Narcissus, tuy là nô lệ được Claudius trả tự do, không những ngồi cùng bàn tiệc với Claudius mà còn giữ những địa vị danh dự như những quyền thần đầy thế lực, thì nàng cũng vậy, đôi khi được mời đến bàn của Caesar. Việc ấy có lẽ là vì thân hình tuyệt mỹ của nàng thực sự là một thứ trang sức cho yến tiệc. Mà nói cho cùng, từ lâu Caesar đã thôi không còn bận tâm đến bất cứ vẻ bề ngoài nào trong việc lựa chọn người cùng bàn. Trên bàn tiệc của ông ta, đủ mọi hạng người thuộc mọi địa vị và nghề nghiệp chen nhau tìm chỗ. Có các nghị sĩ, nhưng phần nhiều là hạng bằng lòng kiêm luôn vai trò kẻ mua vui. Có những quý tộc La Mã, già có trẻ có, say mê xa hoa, truỵ lạc và lạc thú. Có những người đàn bà mang những danh giá lẫy lừng, vậy mà chẳng ngần ngại đội tóc giả màu vàng vào buổi tối rồi ra những con phố tối tăm kiếm chuyện phiêu lưu để tiêu khiển. Cũng có các quan chức cao cấp, và cả những thầy tư tế sẵn sàng, bên những cốc rượu đầy, nhạo báng chính các vị thần của mình. Bên cạnh đám ấy là một lũ ô hợp đủ mọi loại: ca sĩ, kịch câm, nhạc công, vũ công nam nữ; những thi sĩ đang ngâm thơ mà trong đầu chỉ nghĩ đến những đồng sesterce có thể rơi xuống nhờ ca tụng những vần thơ của Caesar; những triết gia đói meo dõi mắt thèm thuồng theo từng món ăn; sau hết là những tay đánh xe lừng danh, những kẻ bịp bợm, những tay làm phép lạ, kể chuyện, hề hước, và đủ hạng phiêu lưu được thời thượng hay sự điên rồ đưa lên đôi ngày nổi tiếng. Trong số ấy, cũng không thiếu cả những kẻ che kín đôi tai bị xỏ lỗ, dấu hiệu của kiếp nô lệ, bằng mái tóc dài.

Những kẻ nổi bật nhất ngồi thẳng vào bàn; còn hạng thấp hơn thì có nhiệm vụ mua vui trong lúc ăn uống, rồi chờ đến lúc bọn gia nhân cho phép lao vào những thức ăn thức uống thừa mứa. Loại thực khách ấy do Tigellinus, Vatinius và Vitelius cung ứng; và vì những thực khách ấy, người ta đã hơn một lần phải kiếm cho họ y phục xứng với các gian phòng của Caesar, kẻ dù sao vẫn thích bầu bạn với hạng ấy vì cảm thấy tự do nhất giữa họ. Sự xa hoa của triều đình mạ vàng lên mọi thứ và phủ mọi sự dưới một lớp hào nhoáng. Cao sang và thấp hèn, con cháu của những đại tộc và đám khốn khó lê la trên vỉa hè thành phố, những nghệ sĩ lớn và những cặn bã đê tiện của tài năng, tất cả ùn ùn kéo tới cung điện để cho đôi mắt lóa của mình được no nê trước một vẻ huy hoàng gần như vượt khỏi sức ước lượng của con người, và để đến gần kẻ ban phát mọi ân sủng, của cải và điền sản, kẻ chỉ với một cái liếc mắt có thể hạ nhục, đúng thế, nhưng cũng có thể nâng ai đó lên tột bậc.

Ngày hôm ấy Lygia cũng phải dự một bữa tiệc như thế. Sợ hãi, hoang mang, và một cảm giác ngơ ngác không có gì lạ sau biến cố quá đột ngột, đang giằng co trong nàng với ý muốn chống lại. Nàng sợ Nero; nàng sợ dân chúng và cung điện, nơi tiếng ồn náo động làm nàng mất hẳn bình tĩnh; nàng sợ những yến tiệc mà sự trơ trẽn của chúng nàng từng nghe Aulus, Pomponia Graecina và bạn hữu của họ kể lại. Tuy còn trẻ, nàng không phải là không biết gì, bởi trong thời ấy, hiểu biết về điều ác đến với cả tai trẻ thơ từ rất sớm. Bởi thế nàng biết rằng trong cung điện, sự huỷ hoại đang đe doạ nàng. Hơn nữa, ngay lúc chia tay, Pomponia đã cảnh báo nàng về điều đó. Nhưng với một tinh thần trẻ trung, chưa hề quen với sự băng hoại, và tuyên xưng một đức tin cao cả do mẹ nuôi gieo vào lòng, nàng đã hứa sẽ tự bảo vệ mình trước sự huỷ hoại ấy; nàng đã hứa với mẹ mình, với chính mình, và cả với Đấng Thầy thiêng liêng mà nàng không chỉ tin, mà còn bắt đầu yêu bằng nửa trái tim trẻ thơ của mình, vì sự dịu ngọt trong giáo huấn của Người, vì nỗi cay đắng trong cái chết của Người, và vì vinh quang của sự phục sinh của Người.

Nàng cũng tin chắc rằng từ nay, cả Aulus lẫn Pomponia sẽ không còn phải chịu trách nhiệm về hành động của nàng nữa; vì thế nàng tự hỏi không biết có nên chống lại và không đi dự tiệc hay không. Một bên, nỗi sợ và sự hoảng hốt cất tiếng rõ ràng trong linh hồn nàng; bên kia, trong nàng dấy lên ước muốn tỏ ra can đảm giữa đau khổ, giữa sự tra tấn và cái chết. Đấng Thầy thiêng liêng đã truyền phải hành động như vậy. Chính Người đã nêu gương. Pomponia từng bảo nàng rằng những tín hữu sốt sắng nhất đều hết lòng mong mỏi một thử thách như thế và cầu xin cho được nó. Và Lygia, khi còn ở nhà Aulus, đôi lúc cũng bị một khát vọng tương tự chiếm lĩnh. Nàng đã thấy chính mình như một vị tử đạo, với những vết thương trên chân tay, trắng như tuyết, đẹp bằng một vẻ đẹp không thuộc về mặt đất này, và được những thiên thần cũng trắng ngần nâng vào bầu trời xanh thẳm; trí tưởng tượng của nàng mê say trước cảnh tượng ấy. Trong đó có rất nhiều mộng tưởng trẻ con, nhưng cũng có một điều gì đó là niềm thích thú nơi chính mình, thứ mà Pomponia đã quở trách. Nhưng giờ đây, khi sự chống lại ý muốn của Caesar có thể kéo theo một hình phạt khủng khiếp nào đó, và cảnh tử đạo trong tưởng tượng có thể biến thành sự thật, thì vào những hình dung đẹp đẽ cùng niềm thích thú kia lại chen thêm một thứ tò mò pha lẫn kinh hãi: người ta sẽ trừng phạt nàng ra sao, và sẽ bày ra những cực hình nào cho nàng. Và linh hồn còn nửa trẻ thơ của nàng do đó lưỡng lự giữa hai bề. Nhưng Acte, khi nghe những do dự ấy, đã nhìn nàng với vẻ kinh ngạc như thể cô gái đang mê sảng. Chống lại ý muốn của Caesar, ngay từ đầu tự phơi mình ra trước cơn thịnh nộ của ông ta ư? Muốn làm thế, hẳn phải là một đứa trẻ không biết mình đang nói gì. Ngay theo lời Lygia thì thật ra nàng, nói cho đúng, cũng chẳng phải con tin gì, mà chỉ là một thiếu nữ bị chính dân tộc mình quên lãng. Không một luật lệ giữa các dân nào bảo vệ nàng; mà cho dù có đi nữa, Caesar cũng đủ quyền lực để trong một cơn giận giẫm nát nó. Caesar đã thích lấy nàng, và ông ta sẽ định đoạt số phận nàng. Từ đây nàng thuộc về ý muốn của ông ta, mà trên mặt đất này không có ý muốn nào cao hơn nữa.

“Đúng là như thế,” Acte nói tiếp. “Ta cũng đã đọc các thư của Paul thành Tarsus, và ta biết rằng trên mặt đất này còn có Thiên Chúa và Con Thiên Chúa, Đấng đã từ cõi chết sống lại; nhưng trên mặt đất thì chỉ có Caesar. Hãy nghĩ đến điều đó, Lygia. Ta cũng biết rằng đạo của ngươi không cho phép ngươi trở thành điều mà ta đã từng là, và rằng đối với các ngươi, cũng như đối với phái Khắc kỷ mà Epictetus từng kể với ta, khi phải chọn giữa nỗi nhục và cái chết, người ta chỉ được phép chọn cái chết. Nhưng ngươi có dám nói rằng cái đang chờ ngươi sẽ là cái chết mà không phải cả nỗi nhục nữa không? Ngươi đã từng nghe chuyện con gái Sejanus chưa, một thiếu nữ trẻ, kẻ theo lệnh Tiberius đã phải đi qua sự ô nhục trước khi chết, để tôn trọng một đạo luật cấm xử tử các trinh nữ hay chưa? Lygia, Lygia, đừng chọc giận Caesar. Nếu đến lúc quyết định, khi ngươi buộc phải chọn giữa ô nhục và cái chết, ngươi sẽ hành động theo như đức tin ngươi truyền dạy; nhưng đừng tự đi tìm sự diệt vong, và đừng vì một cớ nhỏ mà chọc giận một vị thần ở trần gian, mà đồng thời cũng là một vị thần tàn nhẫn.”

Acte nói với một lòng trắc ẩn sâu xa, thậm chí với cả nhiệt thành; và vì hơi cận, nàng ghé khuôn mặt dịu dàng của mình sát vào mặt Lygia như muốn nhìn cho thật rõ hiệu quả lời nói của mình.

Nhưng Lygia vòng tay ôm lấy cổ Acte bằng một niềm tin cậy trẻ thơ và nói: “Chị tốt lắm, Acte.”

Acte, vui vì lời khen và sự tin cậy ấy, ép nàng vào lòng; rồi nhẹ gỡ mình khỏi vòng tay cô gái, đáp: “Hạnh phúc của ta đã qua rồi và niềm vui của ta cũng mất rồi, nhưng ta không phải người xấu.” Đoạn nàng bắt đầu bước nhanh khắp phòng và nói một mình như trong tuyệt vọng.

“Không! Mà chàng cũng đâu có xấu. Khi ấy chàng vẫn tưởng mình là người tốt, và chàng cũng muốn làm người tốt. Ta biết điều ấy hơn ai hết. Mọi đổi thay của chàng đều đến về sau, khi chàng thôi yêu. Chính những kẻ khác đã làm chàng thành ra như bây giờ, phải, chính những kẻ khác, và cả Poppaea nữa.”

Nói đến đây, mí mắt nàng đẫm lệ. Lygia nhìn nàng một lúc bằng đôi mắt xanh của mình, rồi sau cùng hỏi: “Chị thương chàng lắm sao, Acte?”

“Ta thương chàng lắm!” người Hy Lạp đáp bằng giọng nhỏ. Rồi nàng আবার bắt đầu đi đi lại lại, hai tay siết chặt như vì đau đớn, gương mặt tuyệt vọng.

“Chị vẫn còn yêu chàng sao, Acte?” Lygia rụt rè hỏi.

“Ta yêu chàng.”

Và một lúc sau nàng nói thêm: “Không ai yêu chàng ngoài ta.”

Im lặng tiếp theo, trong lúc Acte cố lấy lại sự bình tĩnh mà ký ức vừa khuấy động; và khi sau cùng gương mặt nàng trở về vẻ buồn lặng thường ngày, nàng nói:

“Hãy nói về em đi, Lygia. Đừng nghĩ đến chuyện chống lại Caesar, như thế là điên rồ. Và cứ bình tâm. Ta biết rõ ngôi nhà này, và theo chỗ ta xét thì phía Caesar không có gì đe doạ em cả. Nếu Nero đã ra lệnh đem em về cho riêng mình, hẳn chàng đã không đưa em lên Palatine. Ở đây Poppaea mới là kẻ cai quản; còn Nero, từ khi nàng ta sinh cho chàng một đứa con gái, lại càng nằm dưới ảnh hưởng của nàng ta hơn bao giờ hết. Không, quả Nero có ra lệnh rằng em phải có mặt trong yến tiệc, nhưng chàng vẫn chưa nhìn thấy em; chàng cũng chưa hỏi gì về em, vậy tức là chàng chẳng bận tâm đến em. Có lẽ chàng chỉ đem em khỏi Aulus và Pomponia vì tức giận họ mà thôi. Petronius đã viết cho ta dặn phải chăm nom em; mà vì Pomponia cũng viết, như em biết đó, nên có lẽ giữa họ đã có một sự dàn xếp. Có lẽ chàng làm thế theo lời thỉnh cầu của bà ấy. Nếu đúng thế, nếu Petronius theo lời Pomponia mà để tâm đến em, thì em chẳng có gì phải sợ; và ai biết được, biết đâu nhờ sự thuyết phục của ông ấy, Nero lại chẳng gửi em về lại với Aulus? Ta không rõ Nero có yêu quý ông ta đến mức nào, nhưng ta biết rằng hiếm khi chàng có đủ can đảm để giữ một ý kiến trái với ông ta.”

“Ôi, Acte!” Lygia đáp, “Petronius đã ở nhà chúng em trước khi họ bắt em đi, và mẹ em tin chắc rằng chính theo xúi giục của ông ấy mà Nero đòi nộp em.”

“Nếu vậy thì xấu thật,” Acte nói. Nhưng nàng dừng lại một lúc, rồi tiếp: “Có lẽ Petronius chỉ buột miệng nói trước mặt Nero trong một bữa tiệc nào đó rằng ông ấy thấy ở nhà Aulus có một con tin người Lygia, rồi Nero, vốn ghen với quyền lực của chính mình, bèn đòi em chỉ vì con tin thì phải thuộc về Caesar. Nhưng chàng không ưa Aulus và Pomponia. Không, ta không nghĩ rằng nếu Petronius muốn cướp em khỏi tay Aulus, ông ấy lại dùng cách ấy. Ta không biết Petronius có tốt hơn những kẻ khác ở triều đình Caesar hay không, nhưng ông ấy khác họ. Có lẽ em cũng sẽ gặp được một người khác willing can thiệp cho em. Ở nhà Aulus, em chưa từng gặp ai là người gần gũi với Caesar sao?”

“Em có gặp Vespasian và Titus.”

“Caesar không thích họ.”

“Và Seneca.”

“Nếu Seneca khuyên điều gì, chỉ thế thôi cũng đủ để Nero làm ngược lại rồi.”

Gương mặt tươi sáng của Lygia đỏ bừng lên. “Và Vinicius...”

“Ta không biết người ấy.”

“Chàng là họ hàng của Petronius, và mới từ Armenia trở về chưa lâu.”

“Em nghĩ Nero thích chàng ấy sao?”

“Ai cũng thích Vinicius.”

“Và chàng ấy sẽ cầu xin cho em chứ?”

“Chàng sẽ làm.”

Acte mỉm cười dịu dàng và nói: “Thế thì hẳn em sẽ gặp chàng ấy ở yến tiệc. Em phải đến, trước hết là vì em buộc phải đến, chỉ một đứa trẻ như em mới có thể nghĩ khác đi. Thứ hai, nếu em muốn trở về nhà Aulus, em sẽ tìm được cách van nài Petronius và Vinicius dùng ảnh hưởng của họ để giành lại cho em quyền được trở về. Nếu họ ở đây, cả hai cũng sẽ nói với em đúng như ta nói, rằng thử chống lại chỉ là điên rồ và tự huỷ diệt. Có thể Caesar sẽ không để ý đến sự vắng mặt của em, đúng thế; nhưng nếu chàng để ý và nghĩ rằng em dám chống lại ý muốn của chàng, thì ở đây sẽ không còn sự cứu vãn nào cho em nữa. Đi đi, Lygia! Em có nghe tiếng ồn trong cung không? Mặt trời sắp lặn rồi; khách khứa sẽ sớm kéo đến.”

“Chị nói phải,” Lygia đáp, “và em sẽ theo lời chị.”

Trong quyết định ấy có bao nhiêu khát vọng được nhìn thấy Vinicius và Petronius, có bao nhiêu tò mò của đàn bà muốn được một lần trong đời nhìn thấy một yến tiệc như thế, và thấy ở đó Caesar, triều đình, Poppaea lừng danh cùng các mỹ nhân khác, cùng tất cả vẻ huy hoàng chưa từng nghe ấy, thứ mà ở Rome người ta kể với nhau như chuyện kỳ quan, thì chính Lygia cũng không thể tự trả lời cho thật chắc được. Nhưng Acte nói phải, và Lygia cảm thấy điều đó rất rõ. Phải đi; vậy nên khi sự cần thiết và lẽ thường đơn giản lại đứng về phía cơn cám dỗ thầm kín ấy, nàng thôi không lưỡng lự nữa.

Acte đưa nàng vào chính unctorium của mình để xức dầu và thay y phục; và tuy trong nhà Caesar không thiếu nữ nô, hơn nữa Acte cũng có đủ người để hầu hạ riêng mình, nhưng vì cảm mến cô gái mà sắc đẹp và vẻ trong trắng đã chạm tới trái tim nàng, nàng quyết định tự tay sửa soạn cho nàng ấy. Tức khắc hiện ra rõ ràng rằng trong người thiếu phụ Hy Lạp trẻ tuổi này, bất chấp nỗi buồn và việc nàng đọc các thư của Paul thành Tarsus, vẫn còn rất nhiều tinh thần Hy Lạp cổ xưa, thứ tinh thần mà vẻ đẹp thể xác nói với nó hùng hồn hơn bất cứ điều gì khác trên đời. Khi cởi y phục cho Lygia, nàng không sao nén được một tiếng kêu thán phục trước thân hình vừa mảnh mai vừa đầy đặn kia, dường như được tạo nên bằng ngọc trai và hoa hồng; rồi lùi lại mấy bước, nàng say sưa ngắm vóc dáng vô song, tươi như mùa xuân ấy.

“Lygia,” sau cùng nàng kêu lên, “em đẹp hơn Poppaea gấp trăm lần!”

Nhưng được nuôi dạy trong ngôi nhà nghiêm cẩn của Pomponia, nơi đức hạnh kín đáo được giữ gìn cả khi chỉ có đàn bà với nhau, cô gái, kỳ diệu như một giấc mộng kỳ diệu, hài hoà như một tác phẩm của Praxiteles hay như một khúc ca, đứng đó bối rối, đỏ bừng vì e lệ, hai đầu gối khép chặt, hai tay che ngực, mắt nhìn xuống. Sau cùng, bất thần giơ tay lên, nàng rút những chiếc trâm đang ghim tóc ra, và chỉ trong một thoáng, với một cái lắc đầu, nàng phủ kín mình bằng suối tóc ấy như phủ bằng một tấm áo choàng.

Acte đến gần, chạm vào mái tóc sẫm của nàng, nói:

“Ôi, tóc em mới đẹp làm sao! Ta sẽ không rắc phấn vàng lên đó đâu; tự nó đã ánh lên sắc vàng ở chỗ này chỗ khác, nơi những lọn tóc gợn sóng. Có lẽ ta chỉ điểm vào đây đó một chút thật khẽ thôi, thật khẽ, như thể một tia nắng vừa làm nó tươi lên. Xứ Lygia của em hẳn phải kỳ diệu lắm, nơi sinh ra những thiếu nữ như em!”

“Em không nhớ nữa,” Lygia đáp; “nhưng Ursus kể với em rằng ở xứ em chỉ có rừng, rừng, và rừng.”

“Nhưng trong những khu rừng ấy cũng có hoa nở,” Acte nói, vừa nhúng tay vào chiếc bình đầy cỏ roi ngựa vừa thấm nước ấy lên mái tóc Lygia. Làm xong việc đó, Acte xức nhẹ lên người nàng những thứ dầu thơm từ xứ Arabia, rồi mặc cho nàng một chiếc tunica mềm màu vàng óng, không tay, bên ngoài sẽ khoác một tấm peplus trắng như tuyết. Nhưng vì trước hết còn phải sửa tóc cho Lygia, nên tạm thời nàng choàng cho cô một thứ áo rộng gọi là synthesis, rồi đặt cô ngồi vào ghế bành, giao cô một lúc cho các nữ tỳ để chính mình đứng lui ra xa mà theo dõi việc chải tóc. Hai nữ tỳ khác mang vào chân Lygia đôi dép trắng thêu sắc tía, dùng dây vàng buộc chéo quanh đôi mắt cá chân trắng ngần như thạch cao. Khi việc sửa tóc cuối cùng đã xong, họ khoác peplus cho nàng thành những nếp mềm, nhẹ và rất đẹp; đoạn Acte cài chuỗi ngọc trai lên cổ nàng, rắc bụi vàng lên tóc nơi các nếp uốn, rồi vừa say mê ngắm Lygia vừa ra lệnh cho bọn nữ tỳ tiếp tục sửa soạn cho nàng.

Nhưng chẳng mấy chốc nàng đã sửa soạn xong; và khi những cỗ kiệu đầu tiên bắt đầu hiện ra trước cổng chính, hai người cùng bước vào dãy hành lang bên, từ đó có thể trông thấy lối vào lớn, các hành lang bên trong và khoảng sân vuông có hàng cột bằng đá cẩm thạch Numidia bao quanh.

Dần dần, ngày càng đông người đi qua dưới vòm cổng cao, bên trên đó cỗ tứ mã lộng lẫy của Lysias dường như đang chở Apollo và Diana lao vào khoảng không. Đôi mắt Lygia sững sờ trước vẻ huy hoàng mà ngôi nhà thanh đạm của Aulus không thể gợi cho nàng đến chút ý niệm nào. Mặt trời đang lặn; những tia cuối cùng rơi trên sắc vàng của cẩm thạch Numidia nơi các cột trụ, khiến chúng óng lên như vàng dưới ánh ấy, rồi lại phơn phớt hồng. Giữa những hàng cột, bên cạnh các pho tượng trắng của những Danaides và những pho khác tượng trưng thần linh hay anh hùng, từng đám người qua lại cuồn cuộn, nam cũng như nữ; họ cũng giống tượng đá, vì đều khoác toga, peplus và những tấm áo đổ mềm xuống đất thành các nếp đẹp thanh nhã, trên đó ánh chiều tà đang tắt lịm. Một pho Hercules khổng lồ, đầu vẫn còn trong vùng sáng còn từ ngực trở xuống chìm trong bóng cột đổ, nhìn từ trên cao xuống đám đông ấy. Acte chỉ cho Lygia thấy các nghị sĩ trong những chiếc toga viền rộng, áo trong rực màu, dép có hình bán nguyệt, rồi các kỵ sĩ, các nghệ sĩ lừng danh; nàng chỉ cho cô thấy những mệnh phụ La Mã trong phục sức La Mã, Hy Lạp, hoặc những y phục Đông phương kỳ ảo, tóc bới thành tháp hay kim tự tháp, hoặc chải theo kiểu tóc các nữ thần nơi tượng, ép thấp xuống đầu và cài hoa. Nhiều đàn ông đàn bà được Acte gọi đích danh, kèm theo tên họ là những câu chuyện ngắn, đôi khi ghê rợn, đâm vào lòng Lygia nỗi sợ hãi, kinh ngạc và sửng sốt. Với nàng, đó là một thế giới xa lạ, cái đẹp làm mắt nàng ngây ngất, nhưng những tương phản của nó thì tâm trí thiếu nữ của nàng không sao lĩnh hội nổi. Trong chạng vạng ấy của bầu trời, trong những hàng cột đứng im tan dần vào xa thẳm, và trong những con người tựa tượng đá ấy, có một vẻ tĩnh lặng cao cả nào đó. Tưởng chừng giữa những khối cẩm thạch có đường nét giản dị kia, các á thần có thể sống vô ưu, bình an và hạnh phúc. Thế nhưng, giọng trầm thấp của Acte hết lần này đến lần khác lại vén mở một bí mật mới, ghê gớm mới của cung điện và của những con người ấy. Kìa, đằng xa là hành lang có mái che mà trên cột và trên nền vẫn còn thấy vết đỏ của máu Caligula đã vấy lên cẩm thạch trắng khi ngã dưới lưỡi dao của Cassius Chærea; ở kia vợ y bị giết; ở kia con y bị ném vào đá; dưới cánh nhà ấy là ngục thất nơi Drusus trẻ gặm chính bàn tay mình vì đói; ở kia Drusus lớn bị đầu độc; ở kia Gemellus run lên vì kinh hãi, còn Claudius co giật trong cơn động kinh; ở kia Germanicus đã đau đớn chịu nạn, ở khắp nơi những bức tường ấy từng nghe tiếng rên xiết và hơi thở hấp hối của người chết; còn những kẻ đang vội vã tới yến tiệc trong toga, trong áo sặc sỡ, trong hoa và châu báu kia, có thể chính là những người bị kết án của ngày mai; có lẽ trên không ít khuôn mặt, nụ cười đang che giấu nỗi kinh hoàng, niềm lo sợ, sự bấp bênh của ngày tới; có lẽ ngay lúc này cơn sốt, lòng tham, sự đố kỵ đang gặm nhấm trái tim những á thần đội vòng hoa kia, những kẻ bề ngoài có vẻ vô ưu. Những ý nghĩ hoảng hốt của Lygia không theo kịp lời Acte; và khi thế giới kỳ diệu kia càng lúc càng hút lấy mắt nàng, tim nàng càng thắt lại vì sợ, còn trong tâm hồn nàng dấy lên một nỗi nhớ mênh mông không sao nói hết đối với Pomponia Graecina yêu dấu và ngôi nhà bình yên của Aulus, nơi tình yêu chứ không phải tội ác mới là quyền lực ngự trị.

Trong khi đó, những làn sóng khách mới vẫn đang đổ vào từ Vicus Apollinis. Từ ngoài cổng vọng vào tiếng ồn ào và những tiếng hô của đám thân chủ hộ tống các bảo trợ nhân của mình. Sân trong và các dãy cột đầy nghịt vô số nô lệ của Caesar, đàn ông đàn bà, những cậu bé nhỏ, cùng lính cấm vệ canh gác cung điện. Đây đó giữa những gương mặt sẫm màu hay ngăm đen nổi lên khuôn mặt đen bóng của người Numidia, đội mũ gắn lông chim và đeo những khoen vàng lớn ở tai. Có kẻ mang đàn lute và cithara, đèn tay bằng vàng, bạc, đồng, và những bó hoa được gây trồng nhân tạo bất chấp tiết cuối thu. Tiếng trò chuyện càng lúc càng lớn, hòa với tiếng nước bắn tung của đài phun, nơi những dòng nước hồng từ trên cao đổ xuống mặt đá cẩm thạch rồi vỡ ra như những tiếng nức nở.

Acte đã ngừng kể; nhưng Lygia vẫn nhìn đám đông như thể đang tìm một ai. Bỗng chốc mặt nàng đỏ bừng, và từ giữa các hàng cột Vinicius cùng Petronius bước ra. Họ đi về phía triclinium lớn, đẹp đẽ, bình thản như những vị thần bằng cẩm thạch trắng trong các tấm toga. Khi thấy hai khuôn mặt quen thuộc và thân thiện ấy giữa những người xa lạ, nhất là khi thấy Vinicius, Lygia có cảm tưởng như một gánh nặng lớn vừa rơi khỏi tim mình. Nàng thấy bớt cô độc. Nỗi nhớ Pomponia và nhà Aulus vô bờ bến vừa mới bùng lên trong nàng cách đó không lâu lập tức không còn làm nàng đau đớn nữa. Niềm mong được gặp Vinicius và được nói chuyện với chàng lấn át mọi tiếng nói khác trong lòng nàng. Nàng nhớ lại bao điều xấu xa mình đã nghe về nhà Caesar, những lời Acte nói, những lời Pomponia dặn dò, nhưng vô ích; bất chấp những lời ấy và những cảnh báo ấy, nàng bỗng cảm thấy rằng mình không những phải có mặt ở yến tiệc này, mà còn muốn được ở đây nữa. Chỉ nghĩ rằng chẳng bao lâu nữa nàng sẽ được nghe giọng nói thân yêu và êm ái kia, giọng đã từng nói với nàng về tình yêu và về một hạnh phúc xứng với các vị thần, và đến giờ vẫn vang trong tai nàng như một khúc hát, là niềm hoan hỷ đã tức khắc chiếm lấy nàng.

Nhưng ngay khoảnh khắc sau nàng lại sợ chính niềm hoan hỷ ấy. Nàng thấy như mình sắp phản bội sự dạy dỗ trong sạch mà mình đã lớn lên cùng, phản bội Pomponia, và phản bội chính mình. Bị cưỡng bách mà đi là một chuyện, còn vui thích trong sự cưỡng bách ấy lại là chuyện khác. Nàng cảm thấy mình có tội, không xứng đáng và đã hư mất.

Nỗi tuyệt vọng cuốn lấy nàng, khiến nàng muốn khóc òa lên. Nếu ở một mình, hẳn nàng đã quỳ xuống và đấm ngực, mà nói: “Mea culpa! mea culpa!” Đúng lúc ấy, Acte nắm tay nàng dẫn qua các phòng bên trong đến đại triclinium, nơi yến tiệc sẽ diễn ra. Mắt nàng tối sầm, tai ù lên vì xúc động; nhịp tim dồn dập khiến nàng nghẹt thở. Như trong mơ, nàng thấy hàng nghìn ngọn đèn sáng rực trên bàn và trên vách; như trong mơ, nàng nghe tiếng reo mà khách khứa dùng để chào Caesar; như qua một màn sương, nàng thoáng thấy chính Caesar. Tiếng reo làm nàng điếc tai, ánh sáng lóa mắt, hương thơm khiến nàng ngây ngất; và khi phần tàn dư cuối cùng của ý thức cũng rời khỏi mình, nàng chỉ vừa đủ sức nhận ra Acte, người đã đặt nàng ngồi vào bàn rồi ngồi xuống bên cạnh.

Nhưng một lát sau, từ phía bên kia vang lên một giọng nói trầm thấp quen thuộc: “Kính chào người thiếu nữ đẹp nhất trên mặt đất và giữa các vì sao trên trời. Kính chào nàng, Callina thần thánh!”

Lygia, đã phần nào hoàn hồn, ngước lên; bên cạnh nàng là Vinicius. Chàng không khoác toga, vì phép tiện lợi và tập tục buộc người ta phải cởi toga ra trong yến tiệc. Trên người chàng chỉ còn chiếc tunica đỏ thắm không tay, thêu những cành cọ bạc. Đôi tay trần của chàng, theo lối Đông phương, đeo hai đai vàng bản rộng cài trên khuỷu; phía dưới được cạo sạch lông hết sức cẩn thận. Chúng mịn màng, nhưng quá rắn chắc, đúng là cánh tay của một chiến binh, sinh ra cho gươm và khiên. Trên đầu chàng là vòng hoa hồng. Với đôi mày giao nhau trên sống mũi, với đôi mắt rực rỡ và nước da ngăm sẫm, chàng như hiện thân của tuổi trẻ và sức mạnh. Trong mắt Lygia, chàng đẹp đến nỗi dù cơn kinh ngạc đầu tiên đã qua, nàng vẫn chỉ vừa đủ sức đáp lại: “Kính chào Marcus.”

“Phúc thay,” chàng nói, “cho đôi mắt ta được thấy nàng; phúc thay cho đôi tai ta được nghe tiếng nàng, tiếng còn quý với ta hơn cả âm thanh của đàn lute hay cithara. Nếu người ta truyền cho ta phải chọn ai sẽ nằm đây bên cạnh ta trong bữa tiệc này, nàng, Lygia, hay Venus, thì ta sẽ chọn nàng, hỡi người thần thánh!”

Và chàng nhìn người thiếu nữ như muốn lấy cái nhìn mà thỏa thuê, muốn dùng mắt mình thiêu đốt mắt nàng. Ánh nhìn ấy lướt từ gương mặt xuống cổ và đôi tay trần, vuốt ve những đường nét cân xứng của nàng, chiêm ngưỡng nàng, ôm riết nàng, nuốt lấy nàng; nhưng bên cạnh ham muốn, trong chàng còn ánh lên niềm hạnh phúc, sự thán phục và cơn ngây ngất vô bờ.

“Ta biết là ta sẽ gặp nàng trong nhà Caesar,” chàng nói tiếp; “nhưng dầu vậy, đến khi thật sự trông thấy nàng, một niềm vui mãnh liệt vẫn làm rung chuyển cả linh hồn ta, như thể một hạnh phúc hoàn toàn không ngờ tới vừa đến gặp ta vậy.”

Lygia, đã trấn tĩnh lại và cảm thấy giữa đám đông ấy, trong ngôi nhà ấy, chàng là con người duy nhất gần gũi với nàng, liền bắt đầu chuyện trò với chàng và hỏi về mọi điều nàng không hiểu và đang làm nàng sợ hãi. Bởi đâu chàng biết sẽ gặp nàng trong nhà Caesar? Vì sao nàng lại ở đây? Tại sao Caesar lại bắt nàng khỏi tay Pomponia? Nàng đầy sợ hãi ở nơi này và chỉ mong được trở về với Pomponia. Nàng hẳn sẽ chết vì kinh hãi và đau buồn nếu không còn hy vọng rằng Petronius và chàng sẽ cầu xin Caesar giúp nàng.

Vinicius giải thích rằng chính Aulus đã cho chàng biết việc nàng bị đưa đi. Vì sao nàng ở đây, chàng không rõ. Caesar không phải giải thích mệnh lệnh và ý muốn của mình với bất kỳ ai. Nhưng nàng đừng sợ. Chàng, Vinicius, ở gần nàng và sẽ ở gần nàng mãi. Chàng thà mất đôi mắt còn hơn không được thấy nàng; thà mất mạng sống còn hơn bỏ rơi nàng. Nàng là linh hồn của chàng, bởi thế chàng sẽ canh giữ nàng như giữ chính linh hồn mình. Trong nhà chàng, chàng sẽ dựng cho nàng, như cho một nữ thần, một bàn thờ nơi chàng sẽ đốt mộc dược và trầm lô hội, còn đến mùa xuân thì đốt nghệ tây và hoa táo; và vì nàng kinh sợ nhà Caesar, chàng hứa rằng nàng sẽ không phải ở lại đó.

Và dù chàng nói quanh co, có lúc còn bịa đặt, trong giọng chàng vẫn cảm thấy có sự thật, bởi tình cảm của chàng là thật. Nỗi thương xót chân thành cũng chiếm lấy chàng, và lời nàng thấm vào tâm hồn chàng đến nỗi khi nàng bắt đầu cảm ơn chàng, bảo rằng Pomponia sẽ mến chàng vì lòng tốt ấy và chính nàng sẽ biết ơn chàng suốt đời, chàng không còn làm chủ được xúc động của mình, và chàng cảm thấy như từ đây về sau trong đời sẽ chẳng bao giờ có thể cưỡng lại lời cầu xin của nàng. Trái tim chàng bắt đầu mềm đi. Sắc đẹp của nàng làm giác quan chàng ngây ngất, và chàng khao khát nàng; nhưng đồng thời chàng cảm thấy nàng vô cùng thân thiết với mình, và rằng quả thật chàng có thể thờ phụng nàng như thờ một nữ thần; chàng cũng thấy trong mình một nhu cầu không cưỡng nổi là phải nói về sắc đẹp của nàng và về sự tôn thờ của chính mình. Khi tiếng ồn ở yến tiệc tăng lên, chàng ghé sát hơn vào nàng, thì thầm những lời dịu dàng, ngọt ngào tuôn ra từ đáy linh hồn, những lời ngân vang như nhạc và làm người ta say như rượu.

Và chàng đã làm nàng say. Giữa những con người xa lạ ấy, chàng đối với nàng dường như mỗi lúc một gần hơn, một thân thiết hơn, hoàn toàn chân thật và hết lòng tận tụy. Chàng làm nàng yên lòng; chàng hứa sẽ cứu nàng khỏi nhà Caesar; chàng hứa không bỏ rơi nàng, và nói rằng chàng sẽ phụng sự nàng. Hơn nữa, trước đây ở nhà Aulus chàng chỉ nói chung chung về tình yêu và hạnh phúc mà tình yêu có thể đem lại; còn bây giờ chàng nói thẳng rằng chàng yêu nàng, rằng nàng là người thân thiết và quý giá nhất đối với chàng. Lygia lần đầu tiên nghe những lời như thế từ môi một người đàn ông; và khi nghe, nàng có cảm tưởng như có điều gì đó đang thức dậy trong mình từ một giấc ngủ, như có một thứ hạnh phúc nào đó đang ôm lấy nàng, trong đó niềm hoan lạc mênh mông hòa lẫn với nỗi kinh hoàng mênh mông. Má nàng bắt đầu nóng bừng, tim nàng đập mạnh, môi nàng hé mở như vì kinh ngạc. Nàng hoảng sợ vì mình đang lắng nghe những điều như vậy, nhưng đồng thời cũng không muốn vì bất cứ lẽ gì trên đời mà để mất lấy một lời. Có lúc nàng cụp mắt xuống; rồi lại ngước nhìn Vinicius bằng cái nhìn trong trẻo, rụt rè mà dò hỏi, như thể muốn nói với chàng: “Xin cứ nói nữa đi!” Âm nhạc, hương hoa và hương liệu Arabia bắt đầu làm nàng lâng lâng. Ở Rome người ta có tục nằm dự tiệc, nhưng ở nhà Lygia vẫn ngồi giữa Pomponia và cậu bé Aulus. Còn lúc này Vinicius đang nằm gần nàng, trẻ trung, cao lớn, đang yêu, đang cháy bỏng; và nàng, cảm thấy hơi nóng tỏa ra từ chàng, vừa sung sướng vừa xấu hổ. Một nỗi yếu mềm ngọt ngào, một cơn mơ màng và quên lãng nào đó chiếm lấy nàng; như thể cơn buồn ngủ đang hành hạ nàng vậy.

Nhưng sự gần gũi của nàng cũng bắt đầu tác động lên Vinicius. Hai lỗ mũi chàng nở rộng như lỗ mũi một con tuấn mã phương Đông. Dưới chiếc tunica đỏ thắm, nhịp tim chàng đập mạnh khác thường hiện rõ; hơi thở chàng ngắn lại, còn những lời rơi khỏi môi chàng trở nên đứt quãng. Đây cũng là lần đầu tiên chàng được ở gần nàng đến thế. Tư tưởng chàng rối loạn; chàng cảm thấy lửa chảy trong huyết quản, thứ lửa chàng cố dập bằng rượu mà vô ích. Không phải rượu, mà là gương mặt kỳ diệu kia, đôi tay trần kia, bộ ngực thiếu nữ phập phồng dưới chiếc tunica vàng óng, và vóc dáng ẩn trong những nếp trắng của peplus, đang làm chàng say càng lúc càng nhiều. Cuối cùng chàng nắm lấy cánh tay nàng phía trên cổ tay, như đã từng làm một lần ở nhà Aulus, kéo nàng về phía mình rồi thì thầm bằng đôi môi run rẩy: “Ta yêu nàng, Callina, hỡi người thần thánh.”

“Buông tôi ra, Marcus,” Lygia nói.

Nhưng chàng vẫn tiếp, mắt phủ sương mờ: “Hãy yêu ta đi, nữ thần của ta!”

Nhưng đúng lúc ấy vang lên tiếng Acte, người đang nằm ở phía bên kia Lygia.

“Caesar đang nhìn hai người.”

Vinicius bỗng nổi giận với Caesar và với Acte. Lời nàng đã phá vỡ bùa mê ngây ngất của chàng. Vào một khoảnh khắc như thế, đối với người thanh niên ấy, ngay cả một giọng nói thân thiện cũng hẳn sẽ trở nên đáng ghét; nhưng chàng lại nghĩ rằng Acte cố ý cắt ngang câu chuyện của mình với Lygia. Vì thế, ngẩng đầu lên và nhìn qua vai Lygia về phía nàng cung nữ được giải phóng trẻ tuổi, chàng nói với vẻ ác ý:

“Cái thời nàng nằm bên cạnh Caesar trong yến tiệc đã qua rồi, Acte ạ, và người ta còn bảo rằng nàng đang bị mù dọa tới nữa; vậy thì làm sao nàng trông thấy được ngài?”

Nhưng nàng đáp, như trong nỗi buồn: “Dẫu vậy tôi vẫn trông thấy ngài. Chính ngài cũng cận mắt, và đang nhìn anh qua một viên ngọc lục bảo.”

Mọi điều Nero làm đều khơi dậy sự chú ý, ngay cả nơi những kẻ gần ông nhất; vì thế Vinicius chột dạ. Chàng lấy lại tự chủ và bắt đầu kín đáo nhìn về phía Caesar. Còn Lygia, lúc đầu yến tiệc vì bối rối nên đã thấy Nero như qua màn sương, rồi sau đó mải vì sự hiện diện và câu chuyện của Vinicius mà không nhìn ông lấy một lần, giờ đây liền quay về phía ông một cái nhìn vừa tò mò vừa kinh hãi.

Acte nói thật. Caesar đã cúi mình trên bàn, khép hờ một mắt, còn trước mắt kia thì giơ một viên ngọc lục bảo tròn, đã mài bóng, thứ ông ta vẫn dùng, để nhìn họ. Trong một khoảnh khắc, ánh mắt ấy chạm phải mắt Lygia, và tim thiếu nữ thắt lại vì kinh hoàng. Thuở nàng còn là một đứa trẻ trên điền trang Sicilia của Aulus, một lão nô lệ Ai Cập từng kể cho nàng nghe về những con rồng chiếm hang trong núi, và giờ đây nàng bỗng có cảm tưởng rằng chính con mắt xanh lục của một quái vật như thế đang nhìn chằm chằm vào mình. Nàng chộp lấy tay Vinicius như một đứa trẻ hoảng sợ, và những cảm giác rời rạc, chớp nhoáng dồn dập ép vào óc nàng: Có phải kia là hắn không, kẻ đáng sợ, kẻ toàn năng đó chăng? Cho đến nay nàng chưa từng thấy hắn, và nàng tưởng hắn phải có một dáng vẻ khác. Nàng đã hình dung một khuôn mặt nào đó ghê rợn, với ác ý đông cứng trên từng nét; còn bây giờ nàng thấy một cái đầu lớn đặt trên chiếc cổ dày, đáng sợ thật đấy, nhưng gần như lố bịch, vì nhìn từ xa nó giống đầu một đứa trẻ. Chiếc tunic màu thạch anh tím, thứ y phục người phàm thường không được phép mặc, phủ lên gương mặt rộng và ngắn của hắn một sắc xanh nhạt. Tóc hắn đen, được chải theo lối Otho đã đưa vào thời thượng, thành bốn lọn quăn.

Hắn không để râu, vì mới đây đã hiến bộ râu ấy cho Jove, việc mà cả thành Rome đều cảm tạ hắn, tuy người ta vẫn thì thầm với nhau rằng hắn hiến nó đi vì râu hắn, cũng như râu cả nhà hắn, đều đỏ hoe. Trên vầng trán nhô mạnh khỏi đôi mày, vẫn còn lại một chút gì đấy thuộc về Olympus. Trong cặp mày co lại, ý thức về quyền lực tối thượng hiện rõ; nhưng dưới vầng trán của một á thần ấy lại là khuôn mặt của khỉ, của kẻ say, của tên hề, hư vinh, đầy những ham muốn đổi dời, phị ra vì mỡ dẫu tuổi còn trẻ; hơn nữa, nó còn mang vẻ bệnh hoạn và nhơ nhớp. Với Lygia, hắn hiện ra như một điềm gở, nhưng trên hết là đáng ghê tởm.

Một lát sau, hắn đặt viên ngọc lục bảo xuống và thôi không nhìn nàng nữa. Khi ấy nàng thấy đôi mắt xanh lồi của hắn, chớp liên hồi trước ánh sáng quá chói, đục ngầu, vô tưởng, giống mắt người chết.

"Có phải con tin mà Vinicius đang yêu là cô này không?" hắn hỏi, quay sang Petronius.

"Chính nàng ấy," Petronius đáp.

"Dân của nàng gọi là gì?"

"Người Lygia."

"Vinicius cho nàng đẹp sao?"

"Khoác cho một gốc ô-liu mục nát tấm peplus đàn bà, Vinicius cũng sẽ tuyên bố là đẹp. Nhưng trên dung nhan của bậc thẩm quan vô song, tôi đã đọc thấy bản án của nàng rồi. Người chẳng cần phải tuyên nó ra nữa! Bản án ấy là đúng: nàng quá khô, quá mảnh, chỉ như một đóa hoa trên cọng cuống thanh mảnh; mà người, ôi nhà mỹ học thần diệu, lại quý cái cuống nơi người đàn bà. Ba lần, bốn lần, người đều có lý! Chỉ khuôn mặt thôi thì chưa nói lên gì cả. Tôi đã học được nhiều trong bầu bạn của người, nhưng đến giờ vẫn chưa có con mắt thật hoàn hảo. Tuy nhiên, tôi sẵn sàng đánh cược với Tullius Senecio về tình nhân của ông ta rằng, dẫu trong tiệc, khi mọi người đều nằm nghiêng, khó mà xét được toàn vóc dáng, thì trong lòng người hẳn đã thốt lên rồi: "Hông quá hẹp."

"Hông quá hẹp," Nero đáp, chớp mắt.

Trên môi Petronius hiện ra một nụ cười hầu như không thể nhận thấy; còn Tullius Senecio, từ nãy vẫn mải trò chuyện với Vestinius, hay đúng hơn là mạt sát những giấc mộng trong khi Vestinius lại tin vào chúng, liền quay sang Petronius, và tuy không hiểu lấy một chút gì về điều họ đang nói, vẫn cất tiếng: "Ông lầm rồi! Tôi theo Caesar."

"Tốt lắm," Petronius đáp. "Tôi vừa mới quả quyết rằng ông có một tia hiểu biết, nhưng Caesar nhất định rằng ông là một con lừa thuần túy, không hơn không kém."

"Habet!" Caesar vừa nói vừa cười, đồng thời chúc ngón tay cái xuống như trong Circus, dấu hiệu cho biết người đấu sĩ đã trúng đòn và phải bị kết liễu.

Nhưng Vestinius, tưởng rằng câu chuyện đang nói về giấc mộng, liền kêu lên: "Nhưng tôi tin vào giấc mộng, và Seneca có lần đã bảo tôi rằng ông ấy cũng tin."

"Đêm qua tôi mơ thấy mình trở thành một trinh nữ vestal," Calvia Crispinilla nói, cúi mình qua mặt bàn.

Nghe thế, Nero vỗ tay, những kẻ khác cũng làm theo, và chỉ trong thoáng chốc tiếng vỗ tay đã vang lên khắp nơi, vì Crispinilla đã ly dị không biết bao nhiêu lần, và khắp thành Rome ai cũng biết tiếng truỵ lạc khủng khiếp của ả.

Nhưng ả không hề lúng túng, chỉ nói: "Thì đã sao! Bọn họ toàn già nua xấu xí cả. Chỉ mỗi Rubria là còn có dáng người, vậy là sẽ có hai chúng tôi, tuy mùa hè Rubria hay nổi tàn nhang."

"Nhưng xin nhận rằng, Calvia trong trắng nhất trần gian," Petronius nói, "nàng chỉ có thể thành vestal ở trong mộng mà thôi."

"Nhưng nếu Caesar truyền lệnh thì sao?"

"Thì tôi sẽ tin rằng ngay cả những giấc mộng không thể nào xảy ra nhất cũng có thể thành sự thật."

"Nhưng chúng vẫn thành sự thật đấy chứ," Vestinius nói. "Tôi hiểu những ai không tin các thần, nhưng làm sao có thể không tin vào giấc mộng được?"

"Còn lời tiên báo thì sao?" Nero hỏi. "Có lần người ta tiên báo với ta rằng Rome sẽ không còn nữa, còn ta sẽ cai trị toàn thể phương Đông."

"Lời tiên báo và giấc mộng có liên hệ với nhau," Vestinius nói. "Có lần một vị proconsul nọ, vốn là kẻ đại hoài nghi, sai một nô lệ đến đền Mopsus với một bức thư niêm kín, không cho bất cứ ai mở ra; ông ta làm thế để thử xem vị thần có thể trả lời câu hỏi đựng trong thư hay không. Người nô lệ ngủ lại một đêm trong đền để được một giấc mộng tiên tri; rồi trở về và nói: 'Tôi thấy một chàng trai trong mộng; chàng sáng rực như mặt trời, và chỉ nói đúng một lời: "Đen."' Vị proconsul ấy nghe xong thì tái mặt, rồi quay sang các thực khách, vốn cũng là những kẻ hoài nghi như ông ta, mà bảo: 'Các ông có biết trong thư viết gì không?'" Nói đến đây Vestinius dừng lại, nâng chén rượu lên và bắt đầu uống.

"Trong thư viết gì?" Senecio hỏi.

"Trong thư là câu hỏi này: 'Con bò mà ta sắp hiến tế có màu gì: trắng hay đen?'"

Nhưng mối hứng thú do câu chuyện khơi dậy đã bị Vitelius cắt ngang; hắn vốn đã say từ lúc đến dự tiệc, bỗng nhiên không đầu không đũa phá lên cười sằng sặc.

"Cái thùng mỡ ấy cười cái gì vậy?" Nero hỏi.

"Tiếng cười phân biệt con người với loài vật," Petronius nói, "và đó là bằng cớ duy nhất cho thấy hắn không phải một con lợn rừng."

Vitelius khựng lại nửa chừng cơn cười, rồi vừa chép môi, đôi môi bóng nhẫy mỡ và nước xốt, vừa nhìn những người có mặt với vẻ ngạc nhiên chẳng khác nào chưa từng thấy họ bao giờ; đoạn hắn giơ hai bàn tay phúng phính như đệm lên và nói bằng giọng khàn khàn: "Chiếc nhẫn kỵ sĩ của tôi tuột khỏi ngón tay mất rồi, mà đó là vật tôi thừa hưởng từ cha tôi."

"Mà cha ngươi là thợ may," Nero nói thêm.

Nhưng Vitelius lại bất thần cười phá lên, rồi bắt đầu tìm chiếc nhẫn của mình trong tấm peplus của Calvia Crispinilla.

Thấy thế, Vestinius liền bắt chước tiếng kêu của một người đàn bà hoảng sợ. Nigidia, bạn của Calvia, một góa phụ trẻ có khuôn mặt trẻ thơ và đôi mắt dâm đãng, lớn tiếng nói: "Hắn đang tìm cái mà hắn chẳng hề đánh mất."

"Và dẫu có tìm thấy thì cũng vô dụng đối với hắn thôi," nhà thơ Lucan nói nốt.

Bữa tiệc càng lúc càng thêm náo động. Từng đám nô lệ nối nhau mang các món ăn kế tiếp đi quanh; từ những vò lớn đầy tuyết và quấn vòng thường xuân, những bình nhỏ đựng đủ loại rượu được lấy ra không ngớt. Mọi người đều uống thỏa thuê. Trên đầu khách dự tiệc, những cánh hồng từng đợt rơi từ trần xuống.

Petronius khẩn khoản xin Nero làm cho bữa tiệc rạng danh bằng tiếng hát của mình trước khi khách khứa quá say. Một dàn tiếng phụ họa theo lời ông, nhưng thoạt tiên Nero từ chối. Không phải chỉ vì can đảm, hắn nói, dẫu thứ ấy lúc nào hắn cũng thiếu. Các thần biết mỗi thành công đã khiến hắn phải gắng sức đến chừng nào. Tuy thế, hắn không né tránh, bởi cần phải làm một điều gì đó cho nghệ thuật; hơn nữa, nếu Apollo đã ban cho hắn một giọng hát nhất định, thì để phí phạm ân huệ thần linh ấy là điều không phải. Hắn thậm chí hiểu rằng không để phí phạm chúng còn là bổn phận của hắn đối với quốc gia. Nhưng hôm ấy quả thật hắn bị khản tiếng. Ban đêm hắn đã đặt những quả chì lên ngực, mà cũng chẳng giúp ích gì. Hắn còn đang tính có lẽ nên đi Antium để hít thở khí biển.

Lucan van nài hắn nhân danh nghệ thuật và nhân loại. Ai nấy đều biết thi sĩ và ca sĩ thần diệu ấy vừa sáng tác một khúc thánh ca mới dâng Venus, bên cạnh nó thì bài ca của Lucretius cũng chỉ như tiếng tru của một con sói một tuổi. Hãy để bữa tiệc này thực sự là một bữa tiệc. Một bậc quân vương nhân từ như vậy không nên gây những cực hình như thế cho thần dân mình. "Xin đừng tàn nhẫn, ôi Caesar!"

"Xin đừng tàn nhẫn!" tất cả những ai ngồi gần đều nhắc lại.

Nero dang hai tay, ngụ ý rằng hắn đành phải nhượng bộ. Lập tức mọi khuôn mặt đều mang vẻ biết ơn, mọi ánh mắt đều hướng về hắn; nhưng trước tiên hắn ra lệnh báo cho Poppaea rằng hắn sẽ hát; hắn cho những người có mặt biết rằng nàng không đến dự tiệc vì trong người không được khỏe; song bởi không có phương thuốc nào làm nàng khuây khỏa bằng tiếng hát của hắn, nên hắn không muốn tước mất của nàng dịp may này.

Quả nhiên, Poppaea chẳng bao lâu sau đã tới. Từ trước đến nay nàng ngự trị Nero như thể hắn là thần dân của nàng, nhưng nàng biết rằng một khi lòng hư vinh của hắn với tư cách ca sĩ, người đánh xe hay thi sĩ bị đụng chạm, thì khêu lên nó là điều nguy hiểm. Bởi thế nàng bước vào, đẹp như một nữ thần, vận, cũng như Nero, y phục màu thạch anh tím và đeo một chuỗi ngọc trai khổng lồ, từng bị lấy cắp từ Massinissa; tóc nàng vàng óng, vẻ nàng dịu ngọt, và dẫu đã ly dị hai đời chồng, nàng vẫn có gương mặt cùng ánh nhìn của một trinh nữ.

Nàng được đón chào bằng những tiếng reo hô và tôn xưng "Divine Augusta". Lygia chưa từng thấy ai đẹp đến thế, và nàng không tin nổi chính mắt mình, vì nàng biết Poppaea Sabina là một trong những người đàn bà bỉ ổi nhất trên mặt đất. Nàng biết từ Pomponia rằng chính ả đã xui Caesar giết mẹ và giết vợ mình; nàng biết về ả qua những câu chuyện của các vị khách nhà Aulus và đám gia nhân; nàng từng nghe rằng tượng ả ban đêm bị xô đổ trong thành; nàng từng nghe nói đến những hàng chữ mà tác giả của chúng bị trừng phạt nặng nề nhất, thế mà sáng nào chúng cũng lại hiện ra trên tường thành. Ấy vậy mà khi nhìn Poppaea khét tiếng, kẻ mà những người xưng nhận Đấng Christ coi là hiện thân của tội ác và sự dữ, nàng lại có cảm tưởng rằng thiên thần hay thần linh trên trời có lẽ cũng sẽ mang dáng vẻ như nàng ta. Nàng không sao rời mắt khỏi Poppaea được; và từ môi nàng bật ra, ngoài ý muốn, câu hỏi này: "Ôi, Marcus, lẽ nào có thể thế được sao?"

Nhưng chàng, được rượu làm cho hăng lên, và dường như sốt ruột vì quá nhiều điều đã làm phân tán sự chú ý của nàng, cướp nàng khỏi chàng và khỏi lời chàng, liền nói: "Phải, nàng ta đẹp, nhưng nàng đẹp gấp trăm lần. Chính nàng không biết mình, nếu không hẳn nàng đã yêu bản thân như Narcissus từng yêu; nàng ta tắm bằng sữa lừa, còn Venus đã tắm cho nàng bằng chính sữa của nàng. Nàng không biết mình đâu, Ocelle mi! Đừng nhìn nàng ta. Hãy quay mắt về phía ta, Ocelle mi! Hãy chạm môi nàng vào chén rượu này, rồi ta sẽ đặt môi ta đúng vào chỗ ấy."

Và chàng càng lúc càng xích lại gần, còn nàng bắt đầu né về phía Acte. Nhưng đúng lúc ấy người ta truyền phải im lặng, vì Caesar đã đứng dậy. Ca sĩ Diodorus đã trao cho hắn một cây đàn loại gọi là delta; một ca sĩ khác tên Terpnos, người phải đệm đàn cho hắn, tiến lại với một nhạc cụ gọi là nablium. Nero đặt cây delta lên bàn, ngước mắt lên; và trong giây lát, sự im lặng ngự trị khắp triclinium, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng xào xạc của những cánh hồng rơi từ trần xuống.

Rồi hắn bắt đầu ngâm, hay đúng hơn, bắt đầu xướng lên một cách ngân nga và có nhịp, theo tiếng đệm của hai cây đàn, bài thánh ca dâng Venus do chính hắn sáng tác. Cả giọng hát, tuy có phần tổn thương, lẫn những câu thơ đều không tệ, đến nỗi lương tâm cắn rứt lại xâm chiếm Lygia; vì bài ca ấy, tuy tôn vinh Venus ô uế của dân ngoại, đối với nàng dường như đẹp hơn cả đẹp, còn chính Caesar, với vòng nguyệt quế trên đầu và đôi mắt ngước cao, trông cao quý hơn, bớt đáng sợ hơn nhiều và cũng bớt ghê tởm hơn lúc đầu tiệc.

Khách dự tiệc đáp lại bằng một trận hoan hô như sấm. Khắp nơi vang lên những tiếng kêu: "Ôi, giọng hát thần tiên!"; vài người đàn bà giơ tay lên và cứ giữ nguyên như vậy, như dấu hiệu của niềm say mê, ngay cả khi khúc thánh ca đã chấm dứt; những người khác lau đôi mắt đẫm lệ; cả đại sảnh sôi lên như một tổ ong. Poppaea cúi mái đầu vàng óng, nâng tay Nero lên môi và lặng lẽ giữ rất lâu. Pythagoras, một chàng Hy Lạp trẻ đẹp lạ lùng, chính là người mà về sau Nero nửa điên nửa dại đã truyền cho các flamen làm lễ cưới với hắn đủ mọi nghi thức, giờ đây đang quỳ dưới chân hắn.

Nhưng Nero chăm chú nhìn Petronius, người mà lời khen lúc nào hắn cũng mong hơn mọi kẻ khác, và Petronius nói: "Nếu xét về âm nhạc, thì lúc này hẳn Orpheus đang vàng mặt vì ghen tị cũng chẳng kém Lucan, người đang có mặt ở đây; còn về thơ, tôi chỉ tiếc rằng chúng không dở hơn một chút; giá chúng dở hơn, có lẽ tôi đã tìm được lời thích đáng để ca ngợi."

Lucan không hề lấy làm phật ý vì lời nhắc đến lòng ghen ấy; trái lại, ông nhìn Petronius với vẻ biết ơn, rồi làm bộ cau có mà lầm bầm: "Khốn thay số phận đã bắt ta phải sống cùng thời với một thi sĩ như thế. Người ta vốn có thể lưu lại một chỗ trong ký ức loài người và trên Parnassus; nhưng giờ đây thì người ta sẽ lụi tắt như ngọn nến giữa ánh mặt trời."

Petronius, vốn có một trí nhớ kỳ diệu, bắt đầu đọc lại những đoạn trích trong bài ca và dẫn ra từng câu thơ riêng lẻ, tán dương rồi phân tích những cách diễn đạt đẹp nhất. Lucan, dường như quên cả lòng ghen trước sức mê hoặc của thi ca, cũng hòa cơn xuất thần của mình vào lời Petronius. Trên mặt Nero phản chiếu niềm khoái trá và lòng hư vinh vô đáy, không chỉ xấp xỉ sự ngu độn mà đã hoàn toàn đạt đến nó. Hắn chỉ cho họ những câu thơ mà hắn cho là đẹp nhất; và rốt cuộc hắn bắt đầu an ủi Lucan, bảo ông đừng nản lòng, vì dẫu người ta sinh ra thế nào thì là thế ấy, nhưng sự tôn kính mà loài người dâng lên Jove không vì thế mà loại trừ lòng kính trọng đối với các thần linh khác.

Rồi hắn đứng dậy để đưa Poppaea, người vì quả thật không được khỏe nên muốn lui ra. Nhưng hắn truyền cho những khách còn ở lại chiếm lại chỗ của mình, và hứa sẽ trở lại. Quả nhiên, một lát sau hắn quay lại, để làm cho mình mê muội trong khói hương, và ngắm tiếp những trò diễn mà chính hắn, Petronius hoặc Tigellinus đã chuẩn bị cho bữa tiệc.

Lại có những bài thơ được đọc lên, những đoạn đối thoại được lắng nghe, trong đó sự phô trương đã chiếm chỗ của trí tuệ. Sau đó Paris, tay diễn câm trứ danh, trình bày những cuộc phiêu lưu của Io, con gái Inachus. Đối với các thực khách, nhất là đối với Lygia, vốn chưa quen những cảnh tượng như thế, thì dường như họ đang nhìn vào phép lạ và bùa mê. Chỉ bằng cử động của tay và thân mình, Paris có thể diễn tả trong điệu vũ những điều tưởng như không thể diễn tả nổi. Đôi tay chàng làm lu mờ không khí, tạo thành một đám mây sáng rực, sống động, run rẩy, đắm đuối, vây quanh hình thể nửa ngất đi của một thiếu nữ đang rung lên trong cơn khoái lạc. Đó là một bức tranh, không phải một điệu múa; một bức tranh đầy biểu cảm, hé lộ những bí mật của tình yêu, mê hoặc và trơ trẽn; và khi đến cuối màn, đám Corybantes xông vào, bắt đầu một điệu múa Bacchus với các thiếu nữ Syria theo tiếng cithara, đàn lutê, trống và chập chõa, một điệu múa đầy tiếng thét cuồng loạn và những phóng túng còn cuồng loạn hơn nữa, thì Lygia thấy như lửa sống đang thiêu đốt mình, và lẽ ra một tiếng sét phải giáng xuống ngôi nhà ấy, hoặc trần nhà phải sụp lên đầu những kẻ đang yến ẩm trong đó.

Nhưng từ tấm lưới vàng mắc trên trần chỉ có hoa hồng rơi xuống, còn Vinicius, lúc này đã ngà ngà say, nói với nàng: “Ta đã thấy nàng trong nhà Aulus, bên vòi nước. Hôm ấy là ban ngày, và nàng tưởng không ai trông thấy; nhưng ta đã thấy nàng. Và đến bây giờ ta vẫn còn thấy nàng như thế, dẫu tấm peplus kia đang che nàng. Hãy gạt tấm peplus ấy đi, như Crispinilla kia. Kìa, thần linh và loài người đều tìm kiếm tình yêu. Trên đời chẳng có gì ngoài tình yêu. Hãy đặt đầu nàng lên ngực ta và nhắm mắt lại.”

Mạch đập trong hai bàn tay và nơi thái dương Lygia dồn dập đến nghẹt thở. Nàng bị một cảm giác xâm chiếm rằng mình đang bay xuống một vực thẳm nào đó, và Vinicius, người trước kia từng có vẻ gần gũi và đáng tin đến thế, thay vì cứu nàng lại đang lôi nàng về phía vực ấy. Và nàng thấy thương chàng. Nàng lại bắt đầu sợ bữa tiệc, sợ chàng, sợ cả chính mình. Một tiếng nói nào đó, như tiếng Pomponia, vẫn đang gọi trong linh hồn nàng: “Lygia ơi, hãy cứu lấy mình!” Nhưng đồng thời cũng có điều gì đó bảo nàng rằng đã quá muộn; rằng kẻ nào đã bị một ngọn lửa như ngọn lửa đang ôm lấy nàng thiêu đốt, kẻ nào đã chứng kiến những gì diễn ra trong bữa tiệc ấy và trái tim đã đập như tim nàng khi nghe lời Vinicius, kẻ nào đã bị cơn rùng mình như cơn rùng mình vừa chạy qua nàng khi chàng tiến lại gần, thì đã mất rồi, không còn cứu vãn nổi. Nàng yếu dần. Có lúc nàng tưởng mình sắp ngất đi, và rồi một điều gì khủng khiếp sẽ xảy ra. Nàng biết rằng, nếu không muốn chuốc lấy cơn thịnh nộ của Caesar, không ai được phép đứng dậy trước khi Caesar đứng dậy; nhưng dù không phải thế đi nữa, giờ đây nàng cũng không còn sức mà đứng lên.

Trong khi đó, bữa tiệc còn lâu mới đến hồi kết. Nô lệ mang thêm các món mới tới, không ngớt rót đầy rượu vào những chiếc cốc; trước bàn tiệc, trên một bục chỉ mở một phía, hai lực sĩ xuất hiện để cống hiến cho quan khách một màn đấu vật.

Họ lập tức nhập cuộc, và những thân thể lực lưỡng, bóng nhẫy dầu ôliu, cuộn lại thành một khối; xương kêu răng rắc trong những cánh tay cứng như sắt của họ, và từ hai hàm nghiến chặt phát ra tiếng ken két rợn người. Có lúc người ta nghe tiếng chân họ nện nhanh và trầm trên mặt bục rắc nghệ tây; rồi lại có lúc họ đứng bất động, im lặng, và với khán giả dường như trước mắt họ là một nhóm tượng đục bằng đá. Những cặp mắt La Mã khoái trá dõi theo sự chuyển động của những tấm lưng, bắp đùi và cánh tay đang gồng lên khủng khiếp. Nhưng cuộc vật không kéo dài quá lâu; vì Croton, bậc thầy và là người sáng lập một trường đào tạo giác đấu sĩ, quả không vô cớ mà nổi tiếng là người khỏe nhất đế quốc. Đối thủ của hắn thở ngày một dồn dập hơn; tiếp đó có tiếng khò khè trong cổ họng; rồi mặt ông ta tím lại; cuối cùng ông ta phun máu ra từ miệng và ngã gục.

Một trận sấm vỗ tay đón chào kết thúc cuộc vật, còn Croton, đặt chân lên ngực đối thủ, khoanh đôi cánh tay khổng lồ trước ngực và đưa mắt của kẻ chiến thắng quét quanh khán sảnh.

Sau đó xuất hiện những kẻ bắt chước thú vật và tiếng kêu của chúng, những người chơi bóng và bọn hề. Tuy nhiên, chỉ còn ít người nhìn họ, vì rượu đã làm tối mắt đám khán giả. Bữa tiệc dần dần biến thành một cuộc chè chén say sưa và một cuộc truỵ lạc phóng đãng. Những thiếu nữ Syria xuất hiện lúc đầu trong điệu múa Bacchus nay hòa lẫn vào đám thực khách. Âm nhạc đổi thành một cơn bùng phát hỗn loạn và man dại của cithara, đàn lutê, chập chõa Armenia, sistre Ai Cập, kèn đồng và tù và. Vì một số khách muốn chuyện trò, họ quát lũ nhạc công phải biến đi. Không khí, đầy mùi hoa và hương dầu thơm mà những thiếu niên xinh đẹp đã rảy lên chân các thực khách trong suốt bữa tiệc, lại ngấm đẫm nghệ tây và hơi người, trở nên ngột ngạt; đèn cháy với ngọn lửa lờ mờ; những vòng hoa trễ nghiêng trên đầu khách; mặt người tái đi và đẫm mồ hôi. Vitelius lăn xuống dưới gầm bàn. Nigidia cởi bỏ y phục đến ngang thắt lưng, gục cái đầu say mềm như trẻ nhỏ lên ngực Lucan, còn ông này, cũng say chẳng kém, liền cúi xuống thổi lớp bột vàng trên tóc nàng và ngước mắt lên với niềm thích thú vô bờ. Vestinius, với sự cố chấp của cơn say, lặp lại đến lần thứ mười câu trả lời của Mopsus đối với bức thư niêm phong của viên tổng trấn. Tullius, kẻ nguyền rủa các thần, nói bằng giọng lè nhè đứt quãng vì nấc: “Nếu cái spheros của Xenophanes là hình tròn, thì thử nghĩ mà xem, người ta có thể dùng chân lăn một vị thần như thế đi trước mặt mình như lăn một cái thùng.”

Nhưng Domitius Afer, một tên tội phạm chai lì và chỉ điểm, lại phẫn nộ vì lời bàn ấy, và trong cơn phẫn nộ đã làm đổ rượu Falernian lên khắp áo tunic của mình. Ông ta xưa nay vẫn luôn tin ở các thần. Người ta bảo rằng Rome sẽ diệt vong, thậm chí có kẻ còn khăng khăng rằng nó đã đang diệt vong rồi. Và quả vậy! Nhưng nếu điều ấy xảy đến, thì ấy là vì lớp trẻ đã mất đức tin, mà không có đức tin thì không thể có đức hạnh. Người ta cũng đã từ bỏ những tập quán nghiêm cẩn của thuở trước, và chẳng ai buồn nghĩ rằng bọn Epicurean sẽ không thể chống nổi quân man di. Còn ông ta, ông ta... Còn ông ta, ông ta tiếc rằng mình đã sống đến thời buổi này, và đành phải tìm nơi khoái lạc một chốn lánh thân khỏi những nỗi sầu muộn mà, nếu không làm vậy, chẳng bao lâu nữa sẽ giết chết ông ta.

Nói xong, ông ta kéo một nữ vũ công Syria lại gần và hôn lên cổ cùng vai nàng bằng cái miệng đã rụng hết răng. Trông thấy thế, quan chấp chính Memmius Regulus cười phá lên, rồi ngẩng cái đầu hói với vòng hoa lệch sang một bên mà kêu lên: “Ai bảo Rome đang diệt vong? Thật điên rồ! Ta, một quan chấp chính, biết rõ hơn. Videant consules! Ba mươi quân đoàn đang canh giữ pax romana của chúng ta!”

Nói đến đây, ông ta nắm tay đấm vào hai bên thái dương và hét lớn, giọng vang khắp triclinium: “Ba mươi quân đoàn! ba mươi quân đoàn! từ Britannia tới biên giới Parthia!” Nhưng đột nhiên ông ta ngừng lại, đặt một ngón tay lên trán, rồi nói: “Ta thề có mạng sống mình, hình như là ba mươi hai.” Ông ta lăn xuống dưới gầm bàn, và chẳng bao lâu bắt đầu nôn ra những lưỡi hồng hạc, thịt nướng và nấm ướp lạnh, châu chấu ngâm mật, cá, thịt, cùng mọi thứ ông ta đã ăn đã uống.

Nhưng số quân đoàn canh giữ nền hòa bình La Mã ấy cũng không làm Domitius yên lòng.

Không, không! Rome nhất định phải diệt vong; vì lòng tin nơi các thần đã mất, mà những tập quán nghiêm cẩn cũng vậy! Rome nhất định phải diệt vong; thật đáng tiếc, vì ở đó cuộc đời vẫn còn thú vị. Caesar thì nhân từ, rượu thì ngon! Ôi, thật đáng tiếc biết bao!

Rồi vùi đầu vào cánh tay một nữ tín đồ Bacchus người Syria, ông ta òa khóc. “Đời sau là cái gì chứ! Achilles nói phải, thà làm nô lệ trong cõi dưới mặt trời còn hơn làm vua nơi miền Cimmeria. Thế mà câu hỏi liệu có thần linh hay không, bởi vì đó là sự vô tín, đang làm hư hỏng lớp trẻ.”

Trong lúc ấy Lucan đã thổi bay hết lớp bột vàng trên tóc Nigidia, còn nàng vì say quá nên ngủ thiếp đi. Sau đó ông ta lấy những vòng lá thường xuân trong chiếc bình trước mặt, đặt lên người đàn bà đang ngủ ấy, và khi xong việc liền đưa mắt nhìn mọi người bằng một cái nhìn hân hoan mà dò hỏi. Ông ta cũng tự trang điểm cho mình bằng thường xuân, rồi lặp lại bằng một giọng xác tín sâu xa: “Ta không phải người, ta là một thần rừng faun.”

Petronius không say; nhưng Nero, kẻ lúc đầu uống ít vì giữ gìn cho giọng hát “thiên giới” của mình, về cuối bữa lại cạn hết cốc này đến cốc khác, và đã say. Hắn còn muốn hát thêm thơ của mình nữa, lần này bằng tiếng Hy Lạp, nhưng hắn quên mất, và nhầm sang hát một bài ode của Anacreon. Pythagoras, Diodorus và Terpnos đệm cho hắn; nhưng vì không giữ nổi nhịp, họ phải dừng lại. Nero, với tư cách một giám khảo và một nhà thẩm mỹ, bị vẻ đẹp của Pythagoras làm mê mẩn, bèn rơi vào cơn ngây ngất hôn lấy tay chàng. “Những bàn tay đẹp như thế này ta mới chỉ thấy một lần, mà là của ai nhỉ?” Rồi đặt lòng bàn tay lên vầng trán ướt đẫm, hắn cố nhớ lại. Một lúc sau, nỗi kinh hoàng hiện lên trên mặt hắn.

“A! Của mẹ ta, của Agrippina!”

Và lập tức một ảo ảnh u tối chộp lấy hắn.

“Người ta bảo,” hắn nói, “rằng bà lang thang dưới ánh trăng trên mặt biển quanh Baiae và Bauli. Bà chỉ đi thôi, đi như thể đang tìm kiếm một thứ gì. Khi đến gần một con thuyền, bà nhìn nó rồi bỏ đi; nhưng người đánh cá nào bị bà ghim mắt vào thì sẽ chết.”

“Không phải một đề tài tồi,” Petronius nhận xét.

Nhưng Vestinius, vươn cổ như con cò, thì thầm đầy bí hiểm: “Tôi không tin các thần; nhưng tôi tin ma quỷ... Ôi!”

Nero không để ý đến lời họ, cứ tiếp tục: “Ta đã cử hành lễ Lemuria rồi, và không muốn gặp bà ta. Đây là năm thứ năm, ta đã phải kết án bà, vì bà sai thích khách chống lại ta; và nếu ta không mau tay hơn bà, thì đêm nay các ngươi đã chẳng được nghe bài ca của ta.”

“Tạ Caesar, nhân danh thành Rome và nhân danh thế giới!” Domitius Afer kêu lên.

“Rượu! Và bảo chúng gióng tympan lên!”

Tiếng huyên náo lại bắt đầu. Lucan, người từ đầu đến chân phủ thường xuân, muốn át tiếng hắn, đứng phắt dậy mà gào: “Ta không phải người, ta là faun; và ta ở trong rừng. Eho-o-o-oo!” Cuối cùng Caesar cũng uống đến say mèm; đàn ông say, đàn bà say. Vinicius cũng chẳng kém ai; ngoài ra trong chàng, bên cạnh dục vọng, còn bốc lên cả ý muốn gây sự, điều vẫn thường xảy ra mỗi khi chàng uống quá độ. Gương mặt sạm của chàng tái đi, còn lưỡi chàng ríu lại khi cất tiếng, lúc này đã thành lớn tiếng và ra lệnh: “Cho ta môi nàng! Hôm nay hay ngày mai cũng vậy thôi! Thế là đủ rồi!”

“Caesar đã đem nàng ra khỏi nhà Aulus để trao nàng cho ta, nàng hiểu chứ? Ngày mai, vào lúc chạng vạng, ta sẽ cho gọi nàng, nàng hiểu chứ? Caesar đã hứa nàng cho ta trước khi đem nàng đi. Nàng phải là của ta! Cho ta môi nàng! Ta sẽ không đợi đến ngày mai đâu, cho ta môi nàng ngay!”

Rồi chàng xô tới ôm lấy nàng; nhưng Acte bắt đầu che chở cho nàng, còn nàng cũng dùng chút tàn lực tự vệ, vì nàng cảm thấy mình đang tiêu vong. Nhưng vô ích, nàng giằng co bằng cả hai tay để gỡ cánh tay trụi lông của chàng ra; vô ích, bằng giọng nói run lên vì kinh hãi và đau đớn, nàng van xin chàng đừng là con người như chàng đang là nữa, và hãy thương xót nàng. Hơi thở nồng rượu của chàng thổi quanh nàng, lúc một gần hơn, và khuôn mặt chàng đã ở sát mặt nàng. Chàng không còn là Vinicius tốt bụng ngày trước, gần như thân thiết với linh hồn nàng; chàng là một tên satyr say khướt, độc ác, khiến nàng ghê tởm và kinh hãi. Nhưng sức nàng mỗi lúc một cạn kiệt. Vô ích, nàng cúi xuống và ngoảnh mặt đi để tránh những cái hôn của chàng. Chàng đứng bật dậy, chộp lấy nàng bằng cả hai tay, kéo đầu nàng vào ngực mình, rồi vừa thở hổn hển vừa ghì những làn môi tái nhợt của nàng bằng môi chàng.

Nhưng đúng lúc ấy, một sức mạnh khủng khiếp đã gỡ cánh tay chàng khỏi cổ nàng dễ dàng như thể đó chỉ là cánh tay một đứa trẻ, rồi hất chàng sang một bên như hất một cành cây khô hay một chiếc lá héo. Chuyện gì đã xảy ra? Vinicius dụi đôi mắt sững sờ, và thấy trước mặt mình hình vóc khổng lồ của người Lygia tên Ursus, kẻ chàng đã gặp trong nhà Aulus.

Ursus đứng điềm tĩnh, nhưng nhìn Vinicius bằng đôi mắt xanh của mình một cách lạ lùng đến nỗi máu như đông cứng lại trong huyết quản người thanh niên; rồi người khổng lồ bế nữ vương của mình lên tay và bước ra khỏi triclinium bằng những bước đều đặn, lặng lẽ.

Acte trong khoảnh khắc ấy đi theo sau ông.

Vinicius ngồi trơ ra trong chớp mắt như hóa đá; rồi chàng nhảy dựng lên và lao về phía cửa, vừa chạy vừa kêu: “Lygia! Lygia!”

Nhưng dục vọng, sửng sốt, cơn thịnh nộ và rượu đã làm chân chàng khuỵu xuống. Chàng loạng choạng một lần rồi lần nữa, bám lấy cánh tay trần của một nữ tín đồ Bacchus, và bắt đầu hỏi, bằng đôi mắt chớp lia lịa, chuyện gì đã xảy ra. Nàng ta bèn cầm một cốc rượu lên, mỉm cười với đôi mắt mờ sương, rồi đưa cho chàng.

“Uống đi!” nàng nói.

Vinicius uống, rồi ngã vật xuống sàn.

Phần lớn quan khách đang nằm dưới gầm bàn; những kẻ khác thì bước đi xiêu vẹo trong triclinium, còn những kẻ nữa nằm ngủ trên các trường kỷ quanh bàn, ngáy vang, hoặc nôn mửa vì quá chén. Trong khi ấy, từ tấm lưới vàng, hoa hồng vẫn cứ rơi, rơi xuống những quan chấp chính và nghị sĩ say khướt ấy, xuống những kỵ sĩ, triết gia và thi sĩ say khướt ấy, xuống những thiếu nữ vũ công và những mệnh phụ quý tộc La Mã say khướt ấy, xuống cái xã hội vẫn còn đang thống trị nhưng linh hồn đã lìa khỏi nó, xuống cái xã hội đầu đội vòng hoa, áo xiêm xốc xếch mà đang đi tới chỗ diệt vong.

Ngoài trời, rạng đông đã bắt đầu.