Thần linh khát máu — Chương 1
Chương 1 / 29 · Bài review Thần linh khát máu
Évariste Gamelin, họa sĩ, học trò của David, thành viên Khu bộ Pont-Neuf, trước kia là Khu bộ Henri IV, từ sáng sớm đã đến ngôi nhà thờ cũ của dòng Barnabites, nơi từ ba năm nay, kể từ ngày 21 tháng Năm năm 1790, được dùng làm trụ sở đại hội khu bộ. Nhà thờ này tọa lạc trên một quảng trường chật hẹp và tối tăm, gần cổng sắt Palais de Justice. Trên mặt tiền gồm hai tầng thức cột cổ điển, trang trí những công-xôn lật ngược và các bình lửa, đã nhuốm vẻ thê lương vì năm tháng, lại bị bàn tay con người xúc phạm, những biểu tượng tôn giáo đều bị đập phá, và phía trên cửa, người ta viết bằng chữ đen khẩu hiệu cộng hòa: “Tự do, Bình đẳng, Bác ái hay là Chết.” Évariste Gamelin bước vào lòng nhà thờ: dưới những mái vòm từng nghe các giáo sĩ thuộc tu hội Saint-Paul mặc áo lễ trắng hát kinh thờ phượng, giờ đây những người yêu nước đội mũ đỏ tụ họp để bầu các viên chức đô thị và bàn định công việc của khu bộ. Các tượng thánh đã bị lôi khỏi hốc tường, thay vào đó là tượng bán thân của Brutus, Jean-Jacques và Le Peltier. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền dựng trên bàn thờ trơ trụi.
Chính trong lòng nhà thờ này, mỗi tuần hai lần, từ năm giờ chiều đến mười một giờ đêm, các cuộc họp công khai được tổ chức. Tòa giảng, trang hoàng bằng lá cờ mang màu sắc của quốc gia, được dùng làm diễn đàn diễn thuyết. Đối diện, về phía Thánh thư, dựng một khán đài bằng những thanh gỗ thô sơ, dành cho phụ nữ và trẻ em, vốn đến dự những cuộc họp ấy khá đông. Sáng hôm đó, trước một chiếc bàn kê dưới chân tòa giảng, bác thợ mộc ở quảng trường Thionville, công dân Dupont anh, một trong mười hai thành viên của Ủy ban Giám sát, đứng đó trong chiếc mũ đỏ và áo carmagnole. Trên bàn có một chai rượu cùng mấy chiếc cốc, một bộ đồ viết và một tập giấy chép bản kiến nghị yêu cầu Quốc ước khai trừ hai mươi hai thành viên bất xứng khỏi hàng ngũ của mình.
Évariste Gamelin cầm bút ký tên.
— Tôi biết thế nào anh cũng đến ghi tên, công dân Gamelin ạ — người viên chức xuất thân thợ thủ công nói. — Anh là một người thuần khiết. Nhưng khu bộ này chẳng sốt sắng gì; nó thiếu đức hạnh. Tôi đã đề nghị Ủy ban Giám sát không cấp giấy chứng nhận tinh thần công dân cho bất cứ ai không ký vào bản kiến nghị.
— Tôi sẵn sàng lấy máu mình ký vào lệnh đặt những tên phản bội liên bang ra ngoài vòng pháp luật — Gamelin nói. — Chúng đã muốn Marat phải chết: vậy thì chúng phải diệt vong.
— Điều làm chúng ta thất bại — Dupont anh đáp — chính là thái độ dửng dưng. Một khu bộ có chín trăm công dân được quyền bỏ phiếu mà chưa đầy năm mươi người đến dự họp. Hôm qua, chúng ta chỉ có hai mươi tám người.
— Thế thì — Gamelin nói — phải buộc các công dân đến dự, ai vắng thì phạt tiền.
— Ấy! Ấy! — bác thợ mộc cau mày. — Nếu tất cả đều đến, những người yêu nước sẽ thành thiểu số mất… Công dân Gamelin, anh có muốn uống một cốc rượu chúc sức khỏe những người sans-culotte chân chính không?…
Trên tường nhà thờ, về phía Phúc âm, có những dòng chữ sau, bên cạnh một bàn tay màu đen với ngón trỏ chỉ lối đi dẫn vào hành lang tu viện: Ủy ban Dân sự, Ủy ban Giám sát, Ủy ban Cứu tế. Đi thêm vài bước là tới cánh cửa phòng áo lễ trước kia, phía trên đề dòng chữ: Ủy ban Quân sự. Gamelin đẩy cửa bước vào và trông thấy viên thư ký của Ủy ban đang viết bên một chiếc bàn lớn ngổn ngang sách vở, giấy má, những thỏi thép, đạn và các mẫu đất nhiễm diêm tiêu.
— Chào công dân Trubert. Anh có khỏe không?
— Tôi ấy à?… Khỏe tuyệt.
Thư ký Ủy ban Quân sự, Fortuné Trubert, trước sau chỉ đáp như vậy với những ai hỏi thăm sức khỏe mình, không hẳn để cho họ biết tình trạng của anh bằng để chấm dứt mọi câu chuyện về đề tài ấy. Mới hai mươi tám tuổi, anh đã có làn da khô khốc, tóc thưa, gò má đỏ và lưng còng. Vốn là thợ kính quang học ở Quai des Orfèvres, anh sở hữu một cửa hiệu rất lâu đời, nhưng năm 1791 đã giao lại cho một viên quản lý già để tận tâm với chức vụ tại chính quyền đô thị. Người mẹ duyên dáng, qua đời ở tuổi hai mươi và còn được vài bậc cao niên trong khu phố trìu mến tưởng nhớ, đã truyền cho anh đôi mắt đẹp, dịu dàng mà nồng nhiệt, nước da xanh và tính rụt rè. Từ người cha, một kỹ sư quang học cung ứng hàng cho nhà vua, cũng bị căn bệnh ấy cướp đi trước tuổi ba mươi, anh thừa hưởng trí óc ngay thẳng và chuyên cần.
Vẫn không ngừng viết, anh hỏi:
— Còn anh, công dân, anh có khỏe không?
— Khỏe. Có tin gì mới không?
— Không, không có gì. Anh thấy đấy: ở đây mọi sự đều rất yên ổn.
— Còn tình hình?
— Tình hình vẫn như cũ.
Tình hình thật khủng khiếp. Đạo quân tinh nhuệ nhất của nền Cộng hòa bị vây hãm trong Mayence; Valenciennes đang bị bao vây; Fontenay đã rơi vào tay quân Vendée; Lyon nổi loạn; vùng Cévennes khởi nghĩa; biên giới rộng mở trước quân Tây Ban Nha; hai phần ba các tỉnh bị xâm chiếm hoặc nổi dậy; Paris nằm dưới họng đại bác Áo, không tiền, không bánh mì.
Fortuné Trubert vẫn điềm nhiên viết. Vì theo nghị quyết của Công xã Paris, các khu bộ có nhiệm vụ tuyển mười hai nghìn người đưa sang Vendée, anh đang soạn những chỉ thị về việc tuyển mộ và trang bị cho quân số mà Khu bộ “Pont-Neuf”, trước kia là “Henri IV”, phải cung cấp. Toàn bộ súng quân dụng phải được giao cho những người bị trưng tuyển. Vệ binh quốc gia của khu bộ sẽ được trang bị súng săn và giáo dài.
— Tôi mang đến cho anh — Gamelin nói — bản kê những quả chuông phải chuyển tới Luxembourg để đúc thành đại bác.
Évariste Gamelin, tuy không có lấy một xu, vẫn được ghi tên trong số thành viên tích cực của khu bộ: luật pháp chỉ dành đặc quyền ấy cho những công dân đủ giàu để nộp một khoản thuế bằng giá trị ba ngày công; và muốn đủ tư cách ứng cử, một cử tri phải nộp đủ mười ngày công. Nhưng Khu bộ Pont-Neuf, thiết tha với bình đẳng và quyết giữ quyền tự trị, công nhận là cử tri và là người đủ tư cách ứng cử mọi công dân đã tự bỏ tiền sắm quân phục vệ binh quốc gia. Gamelin thuộc trường hợp ấy; anh là công dân tích cực của khu bộ và là thành viên Ủy ban Quân sự.
Fortuné Trubert đặt bút xuống:
— Công dân Évariste, anh hãy đến Quốc ước xin người ta gửi cho chúng ta những chỉ thị về việc đào nền các hầm nhà, lọc đất và đá hộc để thu lấy diêm tiêu. Có đại bác thôi chưa đủ, còn phải có thuốc súng nữa.
Một người nhỏ thó gù lưng, giắt bút sau tai và cầm giấy tờ trong tay, bước vào phòng áo lễ trước kia. Đó là công dân Beauvisage thuộc Ủy ban Giám sát.
— Các công dân — ông ta nói — chúng ta vừa nhận được tin xấu: Custine đã rút khỏi Landau.
— Custine là một tên phản bội! — Gamelin kêu lên.
— Hắn sẽ bị đưa lên máy chém — Beauvisage nói.
Bằng giọng hơi hụt hơi, Trubert vẫn điềm tĩnh như thường lệ mà nói:
— Quốc ước đâu có lập ra Ủy ban Cứu quốc để làm cảnh. Hành động của Custine sẽ được xem xét tại đó. Bất tài hay phản bội, hắn cũng sẽ bị thay thế bằng một vị tướng quyết tâm chiến thắng, rồi mọi việc sẽ tiến triển!
Anh giở mấy tập giấy và đưa đôi mắt mệt mỏi lướt qua:
— Muốn binh sĩ của chúng ta làm tròn phận sự mà không băn khoăn hay nao núng, họ phải biết số phận những người mình để lại nơi quê nhà đã được bảo đảm. Nếu anh cũng nghĩ như vậy, công dân Gamelin, thì trong cuộc họp tới, anh sẽ cùng tôi đề nghị Ủy ban Cứu tế phối hợp với Ủy ban Quân sự để trợ giúp những gia đình túng thiếu có người thân đang tại ngũ.
Anh mỉm cười và khe khẽ hát:
— Rồi sẽ nên! Rồi sẽ nên!…
Mỗi ngày làm việc mười hai, mười bốn giờ bên chiếc bàn gỗ trắng để bảo vệ tổ quốc lâm nguy, người thư ký khiêm nhường của một ủy ban khu bộ ấy không hề thấy có gì chênh lệch giữa tầm vóc khổng lồ của nhiệm vụ và phương tiện nhỏ bé của mình, bởi anh cảm thấy mình gắn liền trong một nỗ lực chung với tất cả những người yêu nước, hòa làm một với quốc gia, và cuộc đời anh nhập vào cuộc đời của một dân tộc vĩ đại. Anh thuộc về những con người nhiệt thành và nhẫn nại, sau mỗi lần thất trận lại chuẩn bị cho một thắng lợi không thể có mà chắc chắn sẽ đến. Vả chăng, họ buộc phải chiến thắng. Những con người vô danh đã phá bỏ vương quyền, lật đổ thế giới cũ ấy — Trubert, người kỹ sư quang học nhỏ bé, Évariste Gamelin, chàng họa sĩ vô danh — không mong kẻ thù dung thứ. Họ không có lựa chọn nào khác ngoài chiến thắng và cái chết. Bởi thế mà họ vừa hăng hái vừa thanh thản.