Trên sa mạc và trong rừng thẳm — Chương 29

Chương 29 / 46 · Bài review Trên sa mạc và trong rừng thẳm

Trong mấy ngày kế đó, hễ mưa ngớt là Nell lại sang ở bên Vua. Con vật không ngăn cô bé đi về, vì đã hiểu rằng mỗi ngày cô bé sẽ trở lại vài lần. Kali vốn thường sợ voi, nhìn con voi này với vẻ kinh ngạc; nhưng rốt cuộc cậu kết luận rằng vị “Mzimu Tốt Lành” hùng mạnh đã phù phép con khổng lồ, nên cậu cũng bắt đầu đến thăm nó.

Vua đối xử tử tế với Kali cũng như với Mea, nhưng chỉ riêng Nell mới có thể sai khiến nó tùy ý; đến hết một tuần, cô bé còn dám dắt cả Saba đến gần nó. Đối với Stas, đó là một sự nhẹ nhõm lớn: cậu có thể hoàn toàn yên tâm để Nell dưới sự che chở — hay như cậu nói — “dưới vòi voi”, rồi không chút lo sợ đi săn, đôi khi còn dẫn Kali theo. Giờ đây cậu tin chắc rằng con vật cao quý ấy sẽ không bỏ rơi họ trong bất cứ hoàn cảnh nào, và bắt đầu nghĩ cách giải thoát nó khỏi chỗ giam cầm.

Nói cho đúng, từ lâu cậu đã tìm ra một cách, nhưng cách ấy đòi hỏi hy sinh quá lớn, khiến cậu cứ giằng co mãi không biết có nên làm hay không, rồi ngày này sang ngày khác lại hoãn lại. Không có ai để bàn bạc, cuối cùng cậu quyết định thổ lộ ý định với Nell, tuy cậu vẫn xem cô bé chỉ là một đứa trẻ.

“Có thể phá tảng đá bằng thuốc súng, nhưng phải phí rất nhiều đạn; nghĩa là lấy đầu đạn ra, đổ thuốc súng lại và gom thành một liều nổ lớn. Anh sẽ nhét liều ấy vào khe sâu nhất có thể tìm được ở giữa, rồi bịt kín lại và châm lửa. Khi đó tảng đá sẽ vỡ thành vài, thậm chí cả chục mảnh, và ta sẽ dắt Vua ra ngoài.”

“Nhưng nếu nổ to như thế, nó có sợ không?”

“Cứ để nó sợ,” Stas đáp ngay. “Điều ấy là chuyện anh ít bận tâm nhất. Thật không đáng nói chuyện nghiêm túc với em.”

Tuy vậy cậu vẫn nói tiếp, hay đúng hơn là tự nói thành tiếng:

“Nhưng nếu không dùng đủ số đạn, tảng đá sẽ không vỡ và anh sẽ phí đạn vô ích; còn nếu dùng đủ, thì chẳng còn lại bao nhiêu. Mà nếu trước khi kết thúc cuộc hành trình chúng ta thiếu đạn, cái chết hiển nhiên sẽ đe dọa cả hai. Bởi anh sẽ săn bằng gì, sẽ bảo vệ em khi bị tấn công bằng gì? Em hẳn biết rằng nếu không có khẩu súng trường này và số đạn ấy, từ lâu chúng ta đã chết, hoặc dưới tay Gebhr, hoặc vì đói. Cũng thật may là ta có ngựa, vì không có chúng thì không thể chở hết những thứ này cùng số đạn.”

Nghe vậy, Nell giơ một ngón tay lên và quả quyết nói:

“Khi em bảo Vua, nó sẽ chở tất cả.”

“Nó sẽ chở đạn thế nào, nếu đạn chỉ còn rất ít?”

“Thì nó sẽ bảo vệ chúng ta.”

“Nhưng nó không bắn bằng vòi như anh bắn bằng súng trường được.”

“Vậy thì ta có thể ăn sung và những quả bầu lớn mọc trên cây, còn Kali sẽ bắt cá.”

“Ấy là chừng nào ta còn ở gần sông. Chúng ta vẫn phải qua mùa mưa ở đây, vì những trận mưa trút liên miên này chắc chắn sẽ làm em ngã bệnh sốt. Nhưng hãy nhớ rằng về sau chúng ta còn phải đi xa hơn nữa, và có thể gặp một vùng sa mạc.”

“Như Sahara ư?” Nell hốt hoảng hỏi.

“Không; một nơi không có sông, không có cây ăn quả, chỉ mọc toàn những cây keo và mimosa thấp. Ở đó chỉ có thể sống bằng những gì săn được. Vua sẽ tìm được cỏ, còn anh tìm được linh dương; nhưng nếu anh không có gì để bắn chúng, thì Vua cũng chẳng bắt được chúng.”

Và quả thật Stas có điều phải lo, bởi khi con voi đã được thuần hóa và trở nên thân thiện, không thể bỏ mặc nó để nó chết đói; mà giải thoát nó thì lại có nghĩa là mất phần lớn số đạn, đồng thời tự phơi mình trước sự diệt vong không sao tránh khỏi.

Thế là Stas cứ ngày này qua ngày khác hoãn công việc, tối nào cũng tự nhủ thầm:

“Có lẽ ngày mai mình sẽ nghĩ ra một cách khác.”

Trong khi đó, những tai họa khác lại chồng chất thêm. Trước hết, Kali bị ong rừng đốt ở hạ lưu con sông; chính một loài chim nhỏ màu xám ánh lục, rất quen thuộc ở châu Phi và gọi là chim chỉ mật, đã dẫn cậu đến đó. Vì lười biếng, cậu bé da đen không hun khói xua ong cho kỹ, nên mang mật về nhưng bị đốt đến nỗi sưng vù; một giờ sau đã bất tỉnh hẳn. “Mzimu Tốt Lành”, với sự giúp đỡ của Mea, nhổ ngòi độc cho cậu đến tận đêm, rồi đắp bùn lên khắp người cậu; Stas lại đổ nước lên lớp bùn ấy. Tuy nhiên, gần sáng, người da đen tội nghiệp trông như sắp chết. May thay, sự chăm sóc cùng thể trạng khỏe mạnh đã giúp cậu vượt qua nguy hiểm; nhưng phải mười ngày sau cậu mới hồi phục.

Tai nạn thứ hai giáng xuống đàn ngựa. Trong khi Kali ốm, Stas phải tự xích chân ngựa và dắt chúng đi uống nước; cậu nhận thấy chúng gầy đi một cách đáng sợ. Không thể giải thích điều ấy bằng sự thiếu thức ăn, vì nhờ mưa, cỏ mọc vút cao và quanh chỗ nước cạn có đồng cỏ rất tốt. Vậy mà lũ ngựa cứ mòn dần. Vài ngày sau, lông chúng dựng ngược, mắt lờ đờ, và từ lỗ mũi chảy ra thứ nhớt đặc. Cuối cùng chúng bỏ ăn, chỉ uống nước một cách tham lam, như thể cơn sốt đang thiêu đốt chúng. Khi Kali khỏi bệnh, chúng chỉ còn là hai bộ xương. Nhưng cậu chỉ liếc nhìn chúng một cái là hiểu ngay chuyện gì đã xảy ra.

“Ruồi tsetse!” cậu nói với Stas. “Chúng phải chết.”

Stas cũng hiểu, bởi khi ở Port Said, cậu đã nhiều lần nghe nói về loài ruồi châu Phi gọi là “tsetse”, một tai họa khủng khiếp tại vài vùng đến nỗi ở bất cứ nơi nào nó cư trú thường xuyên, người da đen hoàn toàn không nuôi gia súc; còn ở nơi nào, do những điều kiện thuận lợi tạm thời, nó bất ngờ sinh sôi, gia súc đều chết sạch. Ngựa, bò hay lừa bị ruồi tsetse cắn đều lụi dần rồi chết trong vòng hai tuần, thậm chí chỉ vài ngày. Các loài vật địa phương hiểu mối nguy đe dọa chúng; từng có khi cả đàn bò, vừa nghe tiếng vo ve của nó gần một thác nước, đã hoảng loạn bỏ chạy tán loạn khắp nơi.

Ngựa của Stas đã bị cắn; hằng ngày Kali lấy một thứ cây tìm được trong rừng rậm, có mùi giống mùi hành, xoa lên chúng và lên con lừa. Cậu nói mùi ấy sẽ xua ruồi tsetse, nhưng bất chấp biện pháp phòng ngừa đó, ngựa vẫn ngày một gầy đi. Stas kinh hãi nghĩ đến chuyện sẽ ra sao nếu tất cả thú vật đều chết: khi ấy cậu sẽ chở Nell, tấm trải yên, chiếc lều, số đạn và đồ dùng bằng cách nào? Nhiều thứ đến mức chỉ Vua mới có thể mang hết. Nhưng để giải thoát Vua, cần hy sinh ít nhất hai phần ba số đạn.

Những nỗi lo ngày một dồn dập kéo đến trên đầu Stas như những đám mây không ngừng tưới mưa xuống khu rừng rậm. Cuối cùng, tai họa lớn nhất đã đến, khiến mọi tai họa khác đều trở nên nhỏ bé — cơn sốt!