Trên sa mạc và trong rừng thẳm — Chương 36

Chương 36 / 46 · Bài review Trên sa mạc và trong rừng thẳm

Staś cũng chỉ Kali cách bắn súng trường Remington, và việc ấy tiến hành dễ dàng hơn việc dạy giáo lý. Sau mười ngày tập bắn vào bia và vào những con cá sấu ngủ trên các bãi cát ven sông, cậu bé da đen hạ được một con linh dương đực lớn; rồi thêm vài con ariel, cuối cùng là một con lợn bướu. Nhưng cuộc chạm trán với con vật sau suýt nữa gây nên tai nạn giống như Linde từng gặp: con lợn bướu mà Kali bất cẩn đến gần sau phát súng bỗng bật dậy, dựng đuôi lao thẳng vào cậu. Kali quẳng súng chạy lên một thân cây lánh nạn, ngồi đó kêu la mãi cho tới khi Staś nghe tiếng tìm đến; song lúc ấy chàng thấy con lợn rừng đã chết. Staś chưa cho cậu bé săn trâu rừng, sư tử hay tê giác. Còn bản thân chàng không bắn những con voi đến uống nước, bởi chàng đã hứa với Nell rằng sẽ không bao giờ giết voi.

Tuy vậy, mỗi khi vào buổi sáng hoặc buổi chiều, từ trên cao chàng nhìn qua ống nhòm thấy những đàn ngựa vằn, linh dương hartebeest, ariel hay springbok đang gặm cỏ trong rừng rậm, chàng lại dẫn Kali theo. Trong những chuyến đi ấy, chàng thường hỏi cậu bé về các dân tộc Wahima và Samburu mà họ tất phải gặp, nếu muốn đi về phía đông, tới bờ biển.

“Kali này,” một hôm chàng hỏi, “em có biết rằng đi ngựa hai mươi ngày là chúng ta có thể tới xứ sở của em không?”

“Kali không biết người Wahima ở đâu,” cậu bé da đen buồn bã đáp, lắc đầu.

“Nhưng anh biết họ ở về phía mặt trời mọc buổi sớm, gần một vùng nước lớn nào đó.”

“Phải! Phải!” cậu bé reo lên, vừa kinh ngạc vừa vui sướng. “Basso-Narok! Trong tiếng chúng em, nghĩa là nước lớn và đen. Ông chủ lớn biết mọi điều.”

“Không, bởi anh không biết người Wahima sẽ đón chúng ta ra sao nếu ta đến với họ.”

“Kali sẽ bảo họ sấp mặt xuống đất trước ông chủ lớn và trước ‘Mzimu Tốt Lành’.”

“Và họ sẽ vâng lời chứ?”

“Cha Kali mặc da báo — Kali cũng vậy.” Staś hiểu điều ấy có nghĩa là cha Kali là một vị vua, còn Kali là con trai cả và là người cai trị tương lai của dân Wahima.

Thế là chàng hỏi tiếp:

“Em đã kể với anh rằng có những lữ khách da trắng từng tới chỗ các em, và người già vẫn còn nhớ họ.”

“Vâng, Kali nghe nói họ quấn rất nhiều vải pơ-can trên đầu.”

“À!” Staś nghĩ, “vậy đó không phải người châu Âu mà là người Ả Rập; vì nước da sáng hơn và y phục trắng, người da đen đã lầm họ là người da trắng.”

Song vì Kali không nhớ họ và không thể kể thêm điều gì xác thực hơn, Staś lại đặt cho cậu những câu hỏi khác.

“Người Wahima chưa từng giết ai trong những người mặc đồ trắng ấy sao?”

“Không! Cả Wahima lẫn Samburu đều không thể làm thế.”

“Tại sao?”

“Vì họ bảo nếu máu của họ thấm xuống đất thì mưa sẽ không còn rơi nữa.”

“Anh mừng vì họ tin như vậy.”

Staś suy nghĩ một lúc, rồi hỏi:

“Người Wahima có đi với chúng ta ra biển không, nếu anh hứa cho họ thật nhiều vải pơ-can, hạt cườm và súng trường?”

“Kali đi, người Wahima cũng đi; nhưng trước hết ông chủ lớn phải khuất phục người Samburu, họ ở phía bên kia vùng nước.”

“Và bên kia người Samburu là ai ở?”

“Qua đất Samburu thì không còn núi nữa, chỉ có rừng rậm, và trong đó có sư tử.”

Cuộc chuyện trò chấm dứt ở đó. Staś ngày một thường nghĩ tới chuyến hành trình lớn về phương đông, nhớ lời Linde nói rằng họ có thể gặp những người Ả Rập vùng duyên hải buôn ngà voi, và biết đâu một đoàn truyền giáo. Chàng hiểu chuyến đi ấy sẽ là chuỗi khổ cực ghê gớm đối với Nell và đầy những hiểm nguy mới; nhưng chàng cũng biết họ không thể sống mãi trên núi Linde, và phải sớm lên đường. Thời điểm sau mùa mưa, khi nước phủ đầy những đầm lầy độc địa và đâu đâu cũng có nước, là thuận tiện nhất. Trên cao nguyên, cái nóng chưa đến nỗi gay gắt; đêm vẫn lạnh đến mức phải đắp kín người. Nhưng dưới khu rừng rậm thì nóng hơn nhiều, và chàng biết chẳng bao lâu nữa sức nóng dữ dội sẽ ập tới. Mưa giờ chỉ hiếm hoi tưới ướt mặt đất, còn mực nước sông mỗi ngày một hạ. Staś đoán rằng vào mùa hè, dòng sông sẽ biến thành một trong những “khor” mà chàng từng thấy nhiều ở sa mạc Libya, chỉ còn một dòng nước nhỏ chảy giữa lòng sông.

Dẫu vậy, chàng cứ lần lữa ngày khởi hành. Trên núi Linde, mọi người và mọi con vật đều sống quá yên ổn! Nell không những khỏi cơn sốt mà cả chứng thiếu máu; đầu Staś không còn đau; da Kali và Mea bắt đầu bóng lên như sa tanh đen; Nasibu trông như một quả dưa đi lại trên đôi chân mảnh khảnh, còn King, cũng như những con ngựa và con lừa, đều béo tốt hẳn lên. Staś hiểu rõ rằng cho đến cuối cuộc hành trình, họ sẽ không tìm được một hòn đảo nào khác như thế giữa biển rừng. Chàng nhìn về tương lai với nỗi lo sợ; hơn nữa, họ có ở King một sức trợ lực lớn và, khi cần, một sự bảo vệ.

Thế rồi lại một tuần trôi qua, trước khi họ bắt đầu chuẩn bị cuộc hành trình. Những lúc rảnh tay khỏi việc thu xếp đồ đạc, họ vẫn không ngừng thả diều mang lời nhắn rằng mình đang đi về phía đông, hướng tới một hồ nào đó và ra đại dương. Họ tiếp tục thả diều vì được một cơn gió tây mạnh, đôi khi dữ dội như bão, cuốn lấy rồi đưa chúng bay tới những ngọn núi và vượt xa khỏi núi. Để che Nell khỏi cái nắng thiêu đốt, Staś dùng các mảnh lều làm một cái kiệu cho cô bé ngồi trên lưng voi. Sau vài lần thử, King đã quen với gánh nặng không lớn ấy, cũng như cách buộc chiếc kiệu lên lưng nó bằng những sợi dây cọ chắc khỏe. Dù sao, tải trọng đó chỉ nhẹ như lông so với những thứ khác người ta định chất lên nó, và Kali cùng Mea đang bận chia phần rồi buộc chặt chúng lại.

Nasibu bé nhỏ được giao phơi chuối rồi nghiền thành bột giữa hai phiến đá phẳng. Khi hái những buồng quả nặng trĩu, cậu được King giúp đỡ; cả hai ăn quá nhiều đến nỗi chẳng bao lâu quanh các túp lều không còn một quả chuối nào, họ phải sang một đồn điền khác ở đầu bên kia cao nguyên. Trong những chuyến đi ấy, Saba, vốn không có việc gì làm, thường đi theo nhất.

Nhưng Nasibu suýt phải trả giá cho sự siêng năng của mình bằng mạng sống, hoặc ít nhất bằng một thứ giam cầm kỳ lạ. Một lần, khi đang hái chuối trên mép một mỏm đá dựng đứng nhô ra, cậu bỗng trông thấy trong một kẽ đá gương mặt ghê tởm phủ đầy lông đen, chớp mắt nhìn cậu và nhe những chiếc nanh trắng như đang cười. Thoạt đầu cậu bé sững người vì kinh hãi, rồi co giò chạy hết sức. Cậu chạy được chừng mười đến hai mươi bước thì một cánh tay đầy lông quấn lấy người; cậu bị nhấc bổng khỏi mặt đất, và con quái vật đen như đêm bắt đầu lao cùng cậu về phía vực thẳm.

May thay, con vượn khổng lồ đã chộp được cậu bé nên chỉ có thể chạy bằng hai chân; vì thế Saba, ở gần đó, dễ dàng đuổi kịp và cắm nanh vào lưng nó. Một cuộc vật lộn khủng khiếp bắt đầu; dầu có vóc dáng lực lưỡng và sức mạnh phi thường, con chó hẳn đã phải khuất phục, bởi một con gorilla còn thắng được cả sư tử. Nhưng loài khỉ, nói chung, không chịu buông con mồi, dẫu tính mạng và tự do của chúng bị đe dọa. Bị tấn công từ sau lưng, gorilla không dễ gì với tới Saba; tuy nhiên, nó đã túm cổ con chó bằng bàn tay trái và nhấc bổng lên, thì mặt đất chợt rung lên tiếng bịch bịch nặng nề, và King xuất hiện.

Chỉ một cú quật nhẹ bằng vòi cũng đủ đánh ngã “con quỷ rừng” khủng khiếp — như người da đen gọi gorilla — với sọ và cổ vỡ nát. Nhưng King, hoặc để chắc ăn hơn, hoặc do cơn cuồng nộ bẩm sinh, còn dùng ngà ghim con gorilla xuống đất; sau đó nó không ngừng trút giận lên xác ấy cho tới khi Staś, nghe tiếng gầm rống và tru hú mà lo lắng chạy đến cùng khẩu súng trường, ra lệnh cho nó dừng lại.

Con gorilla khổng lồ, tròng trắng mắt trợn ngược, nanh nhe ra, dù đã chết vẫn đáng sợ, nằm trong một vũng máu mà Saba đang liếm và nhuộm đỏ ngà King. Con voi đắc thắng rống lên, còn Nasibu tái xám vì sợ, kể lại cho Staś điều đã xảy ra. Chàng ngẫm nghĩ một hồi xem có nên dẫn Nell tới cho cô bé nhìn con vượn quái dị này không, nhưng rồi thôi, vì một nỗi sợ hãi bỗng xâm chiếm chàng. Dĩ nhiên, Nell vẫn thường một mình đi dạo khắp hòn đảo. Vậy thì cô bé cũng có thể gặp một tai họa tương tự.

Bởi vậy, núi Linde hóa ra không phải chốn ẩn náu an toàn như thoạt đầu người ta tưởng.

Staś trở về túp lều, kể chuyện ấy cho Nell nghe. Cô bé vừa hiếu kỳ vừa sợ hãi, mắt mở to, và cứ một lát lại nhắc:

“Anh thấy chưa, nếu không có King thì chuyện gì đã xảy ra rồi.”

“Đúng thế! Có một bà vú như vậy thì chẳng cần lo cho đứa trẻ. Vậy từ giờ đến lúc đi, em đừng bước một bước nào mà không có nó.”

“Bao giờ chúng ta đi?”

“Lương thực đã sẵn sàng, các kiện đồ đã chia xong; chỉ cần chất lên lưng súc vật là ngay mai cũng có thể lên đường.”

“Về với các papa của chúng ta!”

“Nếu Chúa cho phép,” Staś nghiêm nghị đáp.