Trên sa mạc và trong rừng thẳm — Chương 39
Chương 39 / 46 · Bài review Trên sa mạc và trong rừng thẳm
Dân cả làng tiễn «Mzimu Tốt Lành» đi một quãng xa, lệ rơi từ biệt nàng, thiết tha van xin nàng hạ cố một ngày nào đó ghé lại M’Rua và nhớ đến dân của ông. Stas đã do dự hồi lâu không biết có nên chỉ cho người da đen khe núi nơi cậu giấu hàng hóa và đồ tiếp tế Linde để lại, những thứ vì thiếu người khuân vác cậu không thể đem theo; nhưng nghĩ rằng việc sở hữu những của cải ấy có thể khơi dậy lòng ghen ghét và bất hòa giữa họ, đánh thức lòng tham và làm xáo trộn cuộc sống yên bình của họ, cậu từ bỏ ý định ấy; thay vào đó, cậu bắn hạ một con trâu rừng lớn, để lại thịt làm tiệc chia tay. Cảnh tượng một lượng «mama» lớn đến thế quả thật khiến họ vô cùng vui sướng.
Ba ngày kế tiếp, đoàn lữ hành lại đi qua một miền đất hoang vắng. Ban ngày nóng như thiêu, nhưng vì vùng này ở cao, ban đêm lạnh đến nỗi Stas bảo Mea đắp cho Nell hai tấm chăn lông xù. Họ thường vượt qua những khe núi, khi thì trơ trụi đầy đá, khi thì phủ kín cây cối rậm rạp đến mức phải hết sức khó nhọc mới mở đường xuyên qua được. Trên bờ các khe ấy họ thấy những con vượn lớn, đôi khi cả sư tử lẫn báo. Theo lời Kali nài xin, Stas bắn hạ một con; sau đó cậu bé da đen khoác bộ da của nó lên người để người da đen lập tức biết rằng họ đang đối diện với một người thuộc dòng máu hoàng gia.
Qua khỏi các khe núi, những làng người da đen lại bắt đầu hiện ra trên các cao nguyên. Có làng nằm sát nhau, có làng cách một hoặc hai ngày đường. Tất cả đều được vây bằng hàng rào cọc cao để chống sư tử; dây leo quấn chằng chịt quanh đó đến nỗi, đứng gần, người ta cũng tưởng là những bụi rừng nguyên sinh. Chỉ làn khói bốc lên giữa làng mới cho biết nơi ấy có người ở. Đoàn lữ hành ở đâu cũng được đón tiếp gần như tại làng M’Rua: thoạt đầu là kinh hoảng và ngờ vực, rồi sau là thán phục, sửng sốt và kính trọng. Chỉ một lần, vừa thấy con voi, Saba, những con ngựa và người da trắng, cả làng liền chạy vào khu rừng bên cạnh, khiến chẳng còn ai để trò chuyện. Dẫu vậy, không một ngọn lao nào nhắm vào khách lữ hành, bởi người da đen, chừng nào Hồi giáo chưa gieo đầy tâm hồn họ sự tàn bạo và lòng căm ghét kẻ ngoại đạo, vốn khá nhút nhát và hiền hòa. Vì thế thường xảy ra chuyện Kali ăn một «miếng» của vị vua địa phương, còn vị vua địa phương ăn một «miếng» của Kali; sau đó quan hệ trở nên hết sức thân tình. Với «Mzimu Tốt Lành», người da đen bày tỏ lòng tôn kính và sùng mộ bằng gà, trứng và mật ong lấy từ những khúc gỗ treo trên cành cây lớn bằng dây thừng bện từ lá cọ. «Đại chủ nhân», người điều khiển voi, sấm sét và rắn lửa, trước hết khơi dậy nỗi sợ hãi, song chẳng bao lâu nỗi sợ ấy chuyển thành biết ơn khi họ nhận ra lòng hào hiệp của cậu ngang với quyền lực của cậu. Ở những nơi làng mạc gần nhau hơn, tiếng trống truyền tin từ làng này sang làng khác về sự đến của những khách lữ hành phi thường, vì người da đen dùng tiếng trống để báo mọi việc. Cũng có khi toàn thể dân làng ra đón họ, đã sẵn lòng thiện cảm từ trước.
Tại một ngôi làng có một nghìn dân, vị thủ lĩnh địa phương, đồng thời là thầy phù phép và vua, đã bằng lòng cho họ xem «vật thiêng lớn», thứ được bao quanh bởi sự tôn sùng và sợ hãi lạ thường đến nỗi dân làng không dám đến gần ngôi miếu bằng gỗ mun phủ da tê giác, để dâng lễ ở khoảng cách dưới năm mươi bước. Nhà vua nói vật thiêng ấy mới chẳng bao lâu rơi từ mặt trăng xuống, màu trắng và có một cái đuôi. Stas tuyên bố chính mình đã vâng lệnh «Mzimu Tốt Lành» gửi nó đến, và nói thế cậu không hề lệch khỏi sự thật, bởi «vật thiêng lớn» rõ ràng là một trong các con diều được thả từ núi Linde. Cả hai đứa trẻ đều thích thú khi nghĩ rằng, gặp gió thuận, những con diều khác còn có thể bay xa hơn nữa. Chúng quyết định sau này, trên hành trình đi xa hơn, sẽ thả những con khác từ các chỗ cao. Ngay đêm ấy Stas làm rồi thả một con, khiến người da đen tin chắc rằng «Mzimu Tốt Lành» và vị chủ nhân da trắng cũng từ mặt trăng xuống trần gian, và họ là những vị thần không thể phụng sự bằng sự khiêm cung nào cho đủ.
Nhưng điều làm Stas vui hơn những dấu hiệu khiêm nhường và tôn kính ấy là tin Bassa-Narok chỉ còn chừng mười ba ngày đường, và dân làng nơi họ dừng chân đôi khi nhận được muối từ hướng ấy để đổi lấy rượu cọ doom. Nhà vua địa phương thậm chí còn từng nghe nói đến Fumba, người cai trị dân tộc mang tên «Doko». Kali xác nhận điều đó khi nói những láng giềng ở xa hơn gọi người Wahima và Samburu bằng cái tên ấy. Kém an ủi hơn là tin ven bờ vùng nước mênh mông đang có chiến tranh, và để đến Bassa-Narok, cần vượt qua những dãy núi mênh mông, hoang dã cùng các khe vực dốc đứng đầy thú dữ. Nhưng giờ đây Stas không còn bận tâm nhiều đến thú dữ; cậu thích núi, dẫu hoang dã đến đâu, hơn miền đồng bằng thấp nơi cơn sốt đang rình sẵn khách lữ hành.
Họ lên đường trong tâm trạng phấn chấn. Qua khỏi ngôi làng đông dân ấy, họ chỉ gặp thêm một khu định cư, hết sức khốn khó và chênh vênh như tổ chim bên miệng vực. Sau đó chân núi bắt đầu, thưa thớt bị cắt ngang bởi những vết nứt sâu. Về phía đông, một dãy đỉnh núi mờ xa hiện lên, từ xa trông hoàn toàn đen sẫm. Đó là miền đất chưa biết mà họ hướng tới, chẳng hay trước khi đến lãnh địa của Fumba, điều gì sẽ xảy đến với họ. Trên các vùng cao họ đi qua không thiếu cây cối, song ngoài những cây huyết rồng và keo đứng lẻ loi, cây phần lớn tụ thành cụm, thành những lùm nhỏ. Khách lữ hành dừng lại giữa các lùm ấy để ăn uống, nghỉ ngơi và hưởng bóng râm dồi dào.
Giữa cây cối, chim chóc chen chúc từng đàn. Đủ giống bồ câu, những con chim to mỏ lớn mà Stas gọi là chim toucan, chim sáo, cu gáy và vô số chim «bingale» đẹp đẽ bay thoắt trong tán lá hoặc từ lùm này sang lùm khác, đơn lẻ hay thành đàn, đổi màu như cầu vồng. Có những cây từ xa trông như phủ kín hoa nhiều màu. Nell đặc biệt mê say cảnh những chim bắt ruồi thiên đường và những con chim khá to, lông đen, mặt trong cánh đỏ thắm, phát ra âm thanh như tiếng sáo mục đồng. Những chim gõ kiến duyên dáng, phía trên hồng nhạt và phía dưới xanh biếc, lao vun vút trong ánh nắng, vừa bay vừa bắt ong và châu chấu. Trên ngọn cây vang tiếng kêu của vẹt xanh; đôi lúc vọng đến những âm thanh như chuông bạc, khi các chim nhỏ xanh xám ẩn dưới lá bao báp gọi nhau.
Trước lúc mặt trời mọc và sau khi mặt trời lặn, những đàn sẻ bản địa bay qua đông vô kể, đến nỗi nếu không có tiếng ríu rít và tiếng xào xạc của đôi cánh nhỏ, người ta sẽ lầm chúng là mây. Stas đoán chính những chiếc mỏ bé xinh ấy đã ngân vang như thế, còn ban ngày chúng tản ra trên từng lùm cây riêng lẻ.
Nhưng những loài chim khác bay thành đàn nhỏ, tổ chức những buổi hòa nhạc thực sự, lại khiến hai đứa trẻ kinh ngạc và ngây ngất hơn cả. Mỗi đàn nhỏ gồm năm, sáu chim mái và một chim trống, với bộ lông lấp lánh như kim loại. Chúng đậu trên một cây keo theo một cách rất đặc biệt: con trống đậu trên ngọn cây, các con kia ở thấp hơn; sau vài nốt đầu như thể chúng đang lên dây cho giọng hót, chim trống bắt đầu một khúc ca, còn những con khác lặng im lắng nghe. Chỉ khi nó hát xong, cả bầy mới đồng thanh nhắc lại điệp khúc cuối cùng của bài hát. Sau một quãng ngừng ngắn, nó lại cất tiếng và hát hết bài, rồi chúng lại nhắc lại; xong xuôi, cả đàn bay lượn nhẹ nhàng, nhấp nhô đến cây keo gần nhất, và buổi hòa nhạc gồm giọng đơn ca cùng hợp xướng lại vang lên trong sự tĩnh lặng phương nam. Hai đứa trẻ nghe mãi không chán. Nell bắt được giai điệu chính của buổi hòa nhạc, hòa theo dàn đồng ca và cất giọng nhỏ, thanh mảnh líu lo những nốt nghe như tiếng lặp nhanh: «tui, tui, tui, twiling-ting! ting!»
Có lần, mải theo những nhạc sĩ có cánh từ cây này sang cây khác, hai đứa trẻ đi xa trại hơn nửa dặm, để lại đó ba người da đen, Vua và Saba. Stas sắp đi săn, không muốn đem Saba theo vì sợ tiếng sủa của nó làm thú săn chạy mất. Khi đàn chim nhỏ cuối cùng bay đến cây keo chót ở phía bên kia một khe núi rộng, cậu bé giữ Nell lại và nói:
«Bây giờ anh sẽ đưa em về chỗ Vua, rồi xem thử trong rừng rậm cao có linh dương hay ngựa vằn không, vì Kali nói thịt hun khói chỉ đủ dùng thêm hai ngày nữa.»
«Nhưng giờ em lớn rồi mà,» Nell đáp, cô bé bao giờ cũng muốn người ta nghĩ mình không còn là trẻ con, «nên em sẽ tự về một mình. Từ đây ta thấy trại rất rõ, cả khói nữa.»
«Anh sợ em lạc.»
«Em không lạc đâu. Trong rừng rậm cao thì có thể lạc, nhưng ở đây, anh xem, cỏ thấp biết bao!»
«Dù vậy, vẫn có thể xảy ra chuyện với em.»
«Chính anh bảo sư tử và báo không săn ban ngày mà. Vả lại, anh nghe Vua kêu vì nhớ chúng ta đấy. Con sư tử nào dám săn nơi tiếng Vua còn vọng tới?»
Rồi cô bé nài nỉ:
«Stas thân yêu, cho em đi một mình đi, như người lớn ấy.»
Stas do dự một lúc, nhưng cuối cùng cũng thuận. Quả thật có thể thấy trại và làn khói. Vua nhớ Nell, cứ một lát lại rống lên. Trong đám cỏ thấp không có nguy cơ lạc đường; còn sư tử, báo và linh cẩu thì hiển nhiên không thể nói đến, vì những con vật ấy kiếm mồi vào ban đêm. Dù sao cậu bé cũng biết chẳng gì làm cô bé vui hơn việc cậu tỏ ra không coi em là trẻ con.
«Được thôi,» cậu nói, «em đi một mình, nhưng cứ đi thẳng và đừng nấn ná dọc đường.»
«Thế em được hái đúng những bông hoa kia không?» cô bé hỏi, chỉ vào một bụi cusso phủ đầy những đóa hoa hồng phấn.
«Được.»
Nói vậy, cậu xoay cô bé lại, để chắc chắn hơn, lại chỉ cho em lùm cây nơi khói trại bốc lên và tiếng Vua rống vang; rồi cậu lao vào khu rừng rậm cao mọc ở bờ khe núi.
Nhưng cậu chưa đi được một trăm bước thì nỗi bất an đã ập đến. «Thật là ngu xuẩn,» cậu nghĩ, «cho phép Nell đi một mình ở châu Phi. Ngu xuẩn, ngu xuẩn. Em ấy còn bé quá! Mình không được rời em ấy nửa bước, trừ khi có Vua ở cùng. Ai biết được chuyện gì có thể xảy ra! Ai biết dưới bụi hoa hồng kia có rắn gì đang nằm chờ không! Vượn lớn có thể nhảy từ khe núi lên, cướp em ấy khỏi tay mình hoặc cắn em ấy. Lạy Chúa! Mình đã phạm một điều dại dột khủng khiếp.»
Nỗi bất an ấy biến thành cơn giận dữ với chính mình, đồng thời thành một nỗi sợ hãi ghê gớm. Không suy tính thêm nữa, cậu quay phắt lại như bị một linh cảm dữ dội chợt đâm trúng. Đi thật gấp, cậu cầm sẵn khẩu súng trường để bắn, vận dụng sự khéo léo phi thường có được qua những cuộc săn hằng ngày, lách giữa các bụi mimosa gai mà không hề gây tiếng động, hệt một con báo rình đàn linh dương trong đêm. Một lát sau cậu thò đầu khỏi bụi cây thấp rậm rạp, nhìn quanh rồi sững sờ.
Nell đứng dưới bụi cusso, bàn tay nhỏ đưa ra; những đóa hoa hồng phấn em đánh rơi vì kinh hãi nằm dưới chân, còn từ khoảng cách chừng hai mươi bước, một con thú to màu nâu xám đang bò rạp qua đám cỏ thấp tiến về phía em.
Stas thấy rõ đôi mắt xanh của nó ghim vào khuôn mặt trắng bệch như phấn của cô bé, cái đầu hẹp với đôi tai ép sát, hai bả vai nhô cao do tư thế rình rập bò sát, thân dài và cái đuôi còn dài hơn, chóp đuôi ve vẩy nhẹ theo kiểu mèo. Chỉ thêm một khoảnh khắc, một cú vọt — và Nell sẽ hết đời.
Trước cảnh ấy, cậu bé đã dạn dày và chai lì trước hiểm nguy trong nháy mắt hiểu rằng: nếu cậu không lấy lại bình tĩnh, không gom đủ can đảm, nếu bắn trượt hoặc chỉ làm kẻ tấn công bị thương, dù nặng đến đâu, cô bé cũng phải chết. Nhưng cậu tự chủ được đến mức, dưới sức tác động của những ý nghĩ ấy, bàn tay và chân tay bỗng bình tĩnh như những lò xo thép. Chỉ một cái liếc mắt, cậu nhận ra một đốm sẫm gần tai con thú — chỉ một cử động nhẹ, cậu chĩa nòng súng vào đó và bóp cò.
Tiếng súng nổ, tiếng Nell thét lên và một tiếng be be ngắn, chói tai vang lên cùng lúc. Stas nhảy bổ tới Nell, lấy thân mình che cho em rồi lại chĩa súng vào kẻ tấn công.
Nhưng phát súng thứ hai hoàn toàn không cần thiết, vì con mèo ghê rợn nằm bẹt như một mảnh giẻ, mũi sát đất, móng vuốt cắm trong cỏ — hầu như không còn run giật. Viên đạn nổ đã xé toạc phía sau đầu và gáy nó. Trên đôi mắt nó, những nếp não trắng nhầy nhụa, rách nát đẫm máu đang trào ra.
Cậu thợ săn nhỏ và Nell đứng hồi lâu, hết nhìn con thú bị giết lại nhìn nhau, không sao thốt nên lời. Nhưng rồi một chuyện kỳ lạ xảy ra. Chính Stas này, người chỉ một lát trước còn có thể khiến người thợ săn lão luyện nhất thế gian kinh ngạc vì sự bình tĩnh và điềm tĩnh của mình, bỗng tái mét; chân tay cậu bắt đầu run rẩy, nước mắt tuôn ra, rồi cậu ôm đầu bằng hai bàn tay và lặp đi lặp lại:
«Ôi, Nell! Nell! Nếu anh đã không quay lại!»
Cậu bị nỗi kinh hoàng, nỗi tuyệt vọng đến muộn giày vò đến mức từng thớ thịt run lên như đang sốt. Sau một sự gắng gượng chưa từng có của ý chí cùng toàn bộ sức lực tâm hồn và thể xác, khoảnh khắc yếu mềm, rã rời đã đến. Trước mắt cậu hiện lên hình ảnh con thú ghê rợn nằm trong một hang tối, mõm vấy máu, xé xác Nell thành từng mảnh. Và dĩ nhiên điều ấy có thể đã xảy ra, hẳn đã xảy ra, nếu cậu không quay lại. Chỉ thêm một phút, một giây thôi là đã quá muộn. Ý nghĩ ấy cậu không sao xua đi được.
Cuối cùng lại thành ra Nell, sau khi hoàn hồn khỏi nỗi sợ và cơn hốt hoảng, phải an ủi cậu. Tâm hồn nhỏ bé ngay thẳng ấy vòng cả hai tay quanh cổ cậu, cũng khóc, rồi gọi to như muốn đánh thức cậu dậy khỏi giấc ngủ.
«Stas! Stas! Em không sao cả. Anh xem, em không sao cả. Stas! Stas!»
Nhưng phải rất lâu sau cậu mới hoàn hồn và bình tĩnh lại. Ngay sau đó, Kali nghe tiếng súng không xa trại, biết rằng «Bwana kubwa» không bao giờ bắn vô ích, liền dắt một con ngựa đến để chở con mồi đi. Người da đen trẻ tuổi nhìn con thú đã chết, bỗng lùi lại, mặt lập tức tái xám.
«Wobo!» cậu hét lên.
Bọn trẻ tiến lại gần xác con thú, đã bắt đầu cứng đờ. Cho đến lúc ấy, Staś vẫn chưa biết chính xác con thú dữ nào đã ngã xuống vì phát súng của mình. Thoạt nhìn, cậu tưởng đó là một con mèo rừng serval lớn khác thường; nhưng xem kỹ hơn, cậu nhận ra không phải, vì con thú bị giết còn to vượt cả báo hoa mai. Bộ da vàng nâu của nó rải đầy những đốm màu hạt dẻ, nhưng đầu lại hẹp hơn đầu báo, khiến nó hơi giống chó sói; chân cao hơn, bàn chân rộng hơn, và đôi mắt thì khổng lồ. Một mắt bị viên đạn đẩy lồi ra ngoài, con mắt kia vẫn nhìn chằm chằm vào bọn trẻ, sâu thẳm, bất động và ghê rợn. Staś kết luận rằng đây là một giống báo đen chưa từng được động vật học biết đến, cũng như hồ Bassa-Narok chưa từng được địa lý học biết đến.
Kali cứ nhìn chòng chọc con thú nằm duỗi trên đất với nỗi kinh hoàng tột độ, khẽ lặp đi lặp lại, như sợ đánh thức nó:
“Wobo! Đại chủ nhân đã giết một con wobo!”
Nhưng Staś quay sang cô bé, đặt tay lên đầu em, như muốn tự mình chắc chắn rằng con wobo chưa cướp mất em, rồi nói:
“Em thấy chưa, Nell. Em thấy rằng dù em đã lớn, em cũng không thể một mình đi qua rừng rậm.”
“Đúng thế, Staś,” Nell đáp với vẻ hối lỗi, “nhưng em có thể đi cùng anh hoặc cùng Vua.”
“Kể anh nghe chuyện xảy ra thế nào? Em có nghe thấy nó đến gần không?”
“Không... Chỉ có một con ruồi vàng bay ra từ những bông hoa kia. Thế là em quay theo nó và thấy nó bò ra khỏi khe núi.”
“Rồi sao?”
“Nó đứng lại và bắt đầu nhìn em.”
“Nó nhìn lâu không?”
“Lâu lắm, Staś. Chỉ đến khi em đánh rơi hoa và giơ tay che chở mình trước nó thì nó mới bò về phía em.”
Staś chợt nghĩ rằng nếu Nell là một cô bé da đen, hẳn con thú đã vồ lấy em ngay; và một phần em thoát nạn là nhờ sự kinh ngạc của nó, bởi lần đầu tiên thấy trước mặt một sinh vật xa lạ, nó nhất thời không biết phải làm gì.
Một cơn lạnh buốt chạy dọc xương sống cậu bé.
“Tạ ơn Chúa! Tạ ơn Chúa vì mình đã trở về!”
Rồi cậu hỏi thêm:
“Lúc ấy em nghĩ gì?”
“Em muốn gọi anh, mà... em không thể... nhưng...”
“Nhưng sao?”
“Nhưng em nghĩ anh sẽ bảo vệ em... chính em cũng không biết nữa...”
Nói rồi, em lại vòng đôi tay nhỏ quanh cổ cậu, còn cậu bắt đầu vuốt ve những lọn tóc rối của em.
“Bây giờ em không sợ nữa chứ?”
“Không.”
“Mzimu bé nhỏ của anh! Mzimu của anh! Em thấy châu Phi là thế nào rồi đấy.”
“Vâng, nhưng anh sẽ giết mọi con thú xấu xí chứ?”
“Anh sẽ giết.”
Cả hai lại bắt đầu xem xét kỹ con thú dữ. Staś muốn giữ bộ da nó làm chiến lợi phẩm nên sai Kali lột da; nhưng Kali, sợ một con wobo khác lại bò ra khỏi khe núi, van cậu đừng để anh ta ở một mình. Khi Staś hỏi liệu anh ta sợ wobo hơn sư tử chăng, Kali nói:
“Sư tử gầm ban đêm và không nhảy qua hàng rào, nhưng wobo giữa ban ngày trắng trợn có thể nhảy qua hàng rào, giết rất nhiều người da đen ngay giữa làng, rồi tóm lấy một người và ăn thịt. Giáo không chống nổi wobo, cung cũng không; chỉ có bùa phép, vì wobo không thể bị giết.”
“Vớ vẩn,” Staś nói, “nhìn con này xem; chẳng phải nó đã bị giết đàng hoàng rồi sao?”
“Chủ nhân da trắng giết được wobo; người da đen không giết được nó,” Kali đáp.
Rốt cuộc, con mèo khổng lồ được buộc bằng dây vào ngựa, và con ngựa kéo nó về trại. Tuy nhiên, Staś không giữ được bộ da, vì Vua — hẳn đã đoán con wobo muốn cướp mất tiểu thư bé nhỏ của mình — lên cơn cuồng nộ đến nỗi ngay cả mệnh lệnh của Staś cũng không ngăn nổi. Dùng vòi chộp lấy xác con thú, nó tung xác lên không hai lần; rồi bắt đầu đập xác vào thân cây, và sau cùng giẫm bằng chân biến nó thành một khối nhão nhoẹt không hình dạng. Staś chỉ kịp cứu lấy bộ hàm; cùng với phần đầu còn sót, cậu đặt chúng lên một đàn kiến trên đường, và chỉ trong một giờ, kiến đã rỉa sạch xương đến mức không còn một mảy thịt hay máu nào.