Trên sa mạc và trong rừng thẳm — Chương 43

Chương 43 / 46 · Bài review Trên sa mạc và trong rừng thẳm

Đoàn lữ hành khởi hành lúc rạng đông ngày hôm sau. Chàng da đen trẻ tuổi hớn hở, nữ bạo chúa bé nhỏ nay dịu dàng và ngoan ngoãn, còn Staś tràn đầy nghị lực cùng hy vọng. Họ có một trăm người Samburu và một trăm người Wahima đi theo—bốn mươi người trong số sau được trang bị súng Remington, bắn khá thạo. Người chỉ huy da trắng đã huấn luyện họ trong ba tuần quả biết rằng khi hữu sự, họ sẽ gây tiếng động nhiều hơn gây hại; nhưng cậu nghĩ khi đối đầu với dân man dã, tiếng động cũng quan trọng chẳng kém đạn, nên rất hài lòng về đội hộ vệ của mình. Họ mang theo rất nhiều manioc, những chiếc bánh làm từ kiến trắng to, béo, nghiền thành bột, cùng một lượng lớn thịt hun khói. Có từ mười đến hai mươi phụ nữ theo đoàn. Họ mang đủ thứ thức ngon cho Nell và những túi nước bằng da linh dương. Từ trên lưng King, Staś giữ gìn trật tự, ban bố mệnh lệnh—có lẽ không hẳn vì cần thiết, mà vì cậu say mê vai trò người chỉ huy—và kiêu hãnh ngắm đội quân bé nhỏ của mình.

“Nếu muốn,” cậu tự nhủ, “mình có thể ở lại làm vua toàn thể dân Doko, như Beniowsky ở Madagascar.”

Và một ý nghĩ vụt qua đầu cậu: biết đâu một ngày nào đó trở lại đây, chinh phục một vùng đất rộng lớn, khai hóa người da đen, lập nên tại miền này một nước Ba Lan mới, hoặc thậm chí dẫn đầu một đạo quân da đen đã được huấn luyện tiến về quê hương xưa. Nhưng cậu cảm thấy ý tưởng ấy có phần khôi hài, lại ngờ rằng cha mình sẽ chẳng cho phép cậu đóng vai Alexander xứ Macedon ở châu Phi, nên không thổ lộ những dự định ấy với Nell; bởi chắc chắn trên đời này, cô bé sẽ là người duy nhất sẵn lòng tán thưởng chúng.

Hơn nữa, trước khi khuất phục miền châu Phi ấy, điều cần nhất là phải thoát ra khỏi đó; vì vậy cậu lo những việc gần kề hơn. Đoàn lữ hành kéo dài thành một hàng dằng dặc. Staś ngồi trên cổ King, quyết định đi cuối đoàn để mọi việc, mọi người đều trong tầm mắt.

Bấy giờ, khi từng người một đi ngang qua, cậu ngạc nhiên nhận thấy hai tên thầy phù thủy M'Kunje và M'Pua—chính là hai tên từng bị Kali đánh cho một trận—cũng thuộc đoàn và đang đội hành lý trên đầu, cùng những người khác lên đường.

Thế là cậu chặn chúng lại, hỏi:

“Ai ra lệnh cho các ngươi đi?”

“Nhà vua,” chúng đáp, khúm núm cúi đầu.

Nhưng dưới lớp mặt nạ khiêm nhường, mắt chúng long lên dữ tợn và gương mặt lộ vẻ ác độc đến nỗi Staś lập tức muốn đuổi chúng đi; cậu không làm thế chỉ vì không muốn làm suy giảm uy quyền của Kali.

Tuy vậy, cậu gọi Kali đến ngay.

“Có phải em ra lệnh cho hai tên thầy phù thủy theo chúng ta không?” cậu hỏi.

“Kali ra lệnh, vì Kali khôn ngoan.”

“Vậy anh sẽ hỏi vì sao sự khôn ngoan của em lại không để chúng ở nhà?”

“Vì nếu M'Kunje và M'Pua ở lại, chúng sẽ xúi người Wahima giết Kali khi Kali trở về; còn nếu đem chúng theo, Kali sẽ có thể canh chừng chúng.”

Staś suy nghĩ một lát rồi nói:

“Có lẽ em nói đúng; nhưng dù sao cũng đừng rời mắt khỏi chúng, cả ngày lẫn đêm, vì chúng có vẻ hiểm độc.”

“Kali sẽ có gậy tre,” chàng da đen trẻ tuổi đáp.

Đoàn lữ hành tiếp tục đi. Phút chót, Staś ra lệnh cho đội hộ vệ mang súng Remington đi chốt cuối đoàn, vì đó là những người do cậu tuyển chọn, đáng tin cậy nhất. Trong thời gian huấn luyện khá lâu, họ đã phần nào gắn bó với người chỉ huy trẻ tuổi này; đồng thời, vì được ở gần nhân thân cao quý của cậu nhất, họ tự coi mình hơn hẳn những người khác. Giờ đây họ phải canh giữ toàn đoàn và bắt những kẻ nảy ý bỏ trốn. Có thể đoán trước rằng khi gian khổ và hiểm nguy bắt đầu, sẽ chẳng thiếu kẻ đào ngũ.

Nhưng ngày đầu tiên, mọi việc diễn ra hết sức thuận lợi. Những người da đen, mang gánh trên đầu, mỗi người vũ trang một chiếc cung và vài ngọn lao nhỏ, hay thứ gọi là assagai, trải thành một hàng uốn lượn dài giữa rừng rậm. Một thời gian họ men theo bờ nam hồ, trên vùng đất bằng phẳng; nhưng vì hồ bị những đỉnh núi cao vây quanh tứ phía, khi rẽ sang phía đông họ phải trèo núi. Những người Samburu già, vốn biết vùng này, nói rằng đoàn sẽ phải vượt những đèo cao giữa hai dãy núi mà họ gọi là Kullal và Inro, rồi sau đó tiến vào xứ Ebene, nằm về phía nam Borani. Staś hiểu rằng họ không thể đi thẳng về phía đông, vì cậu nhớ Mombasa nằm cách xích đạo vài độ về phía bên kia, tức là ở khá xa về phía nam chiếc hồ vô danh ấy. Có vài chiếc la bàn do Linde để lại, cậu không sợ lạc khỏi đường đúng.

Đêm đầu tiên, họ nghỉ lại trên một ngọn đồi có rừng. Bóng tối vừa xuống, vài chục đống lửa trại đã bùng cháy; bên đó người da đen nướng thịt khô và ăn thứ bột nhão làm từ rễ manioc, bốc bằng ngón tay từ những chiếc bát. Sau khi đã no và hết khát, họ chuyện trò với nhau về việc “Bwana kubwa” sẽ dẫn họ đi đâu và họ sẽ được ông ban cho những gì. Có người vừa ngồi xổm vừa khơi lửa vừa hát; tất cả nói lâu và to đến mức cuối cùng Staś phải ra lệnh im lặng để Nell ngủ.

Đêm rất lạnh, nhưng hôm sau, khi những tia nắng đầu tiên soi sáng miền đất ấy, trời lập tức ấm lên. Vào khoảng lúc mặt trời mọc, hai khách lữ hành nhỏ tuổi thấy một cảnh lạ lùng. Họ vừa tới gần một cái hồ nhỏ rộng hơn một dặm, hay đúng hơn là một vùng trũng nước lớn do mưa tạo thành trong thung lũng núi, thì bỗng Staś, ngồi cùng Nell trên lưng King, đưa ống nhòm quan sát khắp nơi rồi kêu lên:

“Nhìn kìa, Nell! Voi đang xuống uống nước.”

Quả thật, cách chừng năm trăm thước, có thể thấy một đàn nhỏ gồm năm con đang chậm rãi nối đuôi nhau tiến về cái hồ.

“Đây là một giống voi lạ,” Staś nói, chăm chú nhìn chúng; “chúng nhỏ hơn King, tai cũng nhỏ hơn nhiều, mà anh không thấy ngà đâu cả.”

Trong khi ấy, đàn voi xuống nước nhưng không dừng ở bờ như King thường làm, cũng không dùng vòi té nước, mà cứ tiếp tục lội tới, lún sâu dần, sâu dần, cho đến cuối cùng chỉ còn lưng chúng nhô trên mặt nước như những tảng đá.

“Chuyện gì thế? Chúng lặn ư!” Staś kêu lên.

Đoàn lữ hành tiến thêm một quãng đáng kể về phía bờ rồi cuối cùng tới sát mép nước. Staś cho đoàn dừng lại, hết sức kinh ngạc nhìn Nell rồi lại nhìn hồ.

Không còn thấy đàn voi nữa; trên mặt nước phẳng lặng, ngay cả bằng mắt thường cũng phân biệt được năm chấm trông như những bông hoa đỏ tròn, nhô lên khỏi mặt nước và khẽ đung đưa.

“Chúng đang đứng dưới đáy, còn kia là chót vòi của chúng,” Staś nói, không tin nổi mắt mình. Rồi cậu gọi Kali:

“Kali, em thấy chúng chứ?”

“Có, thưa chủ, Kali thấy. Đó là voi nước,”* [* Châu Phi còn chứa nhiều bí mật chưa được khám phá. Những tin đồn về voi nước đã đến tai khách lữ hành, nhưng không ai tin. Gần đây, ông Le Petit, được Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở Paris phái sang châu Phi, đã thấy voi nước trên bờ hồ Leopold ở Congo. Có thể đọc tường thuật việc này trong tạp chí Đức “Kosmos”, số 6.] chàng da đen trẻ tuổi bình thản đáp.

“Voi nước ư?”

“Kali đã thấy chúng nhiều lần.”

“Và chúng sống dưới nước à?”

“Ban đêm chúng vào rừng kiếm ăn, còn ban ngày chúng sống trong hồ như kiboko (hà mã). Chỉ sau khi mặt trời lặn chúng mới lên bờ.”

Rất lâu Staś vẫn chưa hết kinh ngạc; nếu không cần phải tiếp tục lên đường gấp, cậu hẳn đã cho đoàn dừng lại đến đêm để nhìn kỹ hơn những con vật kỳ dị ấy. Nhưng cậu nghĩ đàn voi có thể trồi lên ở phía đối diện, và dù chúng lên ở gần hơn, trong chạng vạng cũng khó quan sát tường tận.

Cậu ra hiệu lên đường, nhưng dọc đường nói với Nell:

“Nào! Chúng ta vừa thấy một điều mà chưa mắt người châu Âu nào từng thấy. Em biết anh nghĩ gì không?—Rằng nếu chúng ta đến được đại dương bình an, sẽ chẳng ai tin anh khi anh kể rằng ở châu Phi có voi nước.”

“Nhưng nếu anh bắt một con rồi đem nó cùng chúng ta ra đại dương thì sao?” Nell nói, tin chắc rằng như thường lệ, Staś sẽ làm được mọi việc.