Kẻ vô luân — Chương 10
Chương 11 / 14 · Bài review Kẻ vô luân
Chúng tôi tới La Morinière vào những ngày đầu tháng bảy, chỉ dừng lại ở Paris đúng quãng thời gian thật cần thiết để mua sắm những thứ dùng đến và thực hiện đôi ba cuộc viếng thăm hiếm hoi.
La Morinière, như tôi đã nói với các bạn, nằm giữa Lisieux và Pont-L’Évêque, trong vùng đất rợp bóng và ẩm ướt nhất mà tôi biết. Vô số nếp đồi nhỏ, hẹp và uốn cong mềm mại, đổ về không xa thung lũng Auge rất rộng, nơi bỗng phẳng ra mãi tới biển. Không hề có chân trời; những bụi rừng lùm đầy bí mật; vài cánh đồng, nhưng phần nhiều là đồng cỏ, những bãi chăn trên sườn thoai thoải, nơi cỏ dày mỗi năm hai lần bị cắt, nơi những cây táo chen chúc, lúc mặt trời xuống thấp, nối bóng của chúng lại với nhau, nơi những đàn gia súc tự do gặm cỏ; mỗi chỗ trũng đều có nước, ao, vũng hay sông; và người ta nghe tiếng nước chảy róc rách không ngớt.
Ôi, tôi nhận ra ngôi nhà ấy biết bao! Những mái xanh, những bức tường gạch và đá, hào nước, những phản chiếu trong làn nước nằm im... Đó là một ngôi nhà cũ có thể chứa hơn mười hai người; Marceline, ba người hầu, và chính tôi đôi khi cũng xắn tay vào, chúng tôi đủ vất vả mới làm cho nổi một phần ngôi nhà ấy có sinh khí. Lão gác già của chúng tôi, tên Bocage, đã cố hết sức cho sửa soạn sẵn vài căn phòng: từ giấc ngủ hai mươi năm, những món đồ cũ bừng tỉnh dậy; mọi thứ vẫn y như ký ức tôi nhìn thấy, những tấm ốp gỗ chưa hư hại quá, các buồng phòng vẫn dễ dàng ở được. Để đón chúng tôi cho phải phép hơn, Bocage đã cắm hoa đầy mọi chiếc bình lão tìm thấy. Lão cho nhổ cỏ, cào sạch sân lớn và những lối đi gần nhất trong công viên. Khi chúng tôi đến, ngôi nhà đang hứng tia nắng cuối cùng của mặt trời, và từ thung lũng trước mặt nó, một làn sương bất động đã bốc lên, vừa che vừa để lộ dòng sông. Ngay từ trước khi tới nơi, tôi đã bỗng nhận ra mùi cỏ; và khi lại nghe tiếng kêu sắc của lũ én lượn quanh nhà, toàn bộ quá khứ bỗng dậy lên, như thể nó vẫn chờ tôi và, nhận ra tôi, muốn khép lại quanh bước tôi đến.
Ít ngày sau, ngôi nhà đã trở nên khá tiện nghi; tôi hẳn đã có thể bắt tay vào việc; nhưng tôi còn chần chừ, lắng nghe quá khứ mình tỉ mỉ hồi hiện trong tôi, rồi chẳng bao lâu lại bị chiếm lĩnh bởi một xúc động quá mới: một tuần sau khi tới nơi, Marceline cho tôi biết nàng có thai.
Từ đó tôi cảm thấy mình mắc với nàng những săn sóc mới, rằng nàng có quyền được âu yếm hơn; ít ra trong những ngày đầu sau lời tâm sự ấy, hầu như mọi lúc trong ngày tôi đều ở bên nàng. Chúng tôi đi ngồi gần khu rừng, trên chiếc ghế xưa kia tôi vẫn tới ngồi cùng mẹ; ở đó, mỗi khoảnh khắc hiện ra trước chúng tôi đằm thắm hơn, và giờ giấc trôi đi càng êm không ai nhận thấy. Nếu trong quãng đời ấy không một kỷ niệm riêng rẽ nào nổi lên, không phải vì tôi giữ về nó một niềm tri ân kém sống động, mà bởi mọi thứ ở đó đều hòa lẫn, tan vào một niềm an lạc đồng đều, nơi buổi chiều nhập với buổi mai, nơi ngày này nối sang ngày khác không bất ngờ.
Tôi chầm chậm trở lại với công việc, tâm trí bình thản, linh hoạt, tin ở sức mình, nhìn tương lai với lòng tin cậy và không sốt ruột, ý chí như được làm cho dịu lại, như đang lắng nghe lời khuyên của mảnh đất ôn hòa này.
Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi nghĩ, tấm gương của mảnh đất này, nơi mọi sự đều sửa soạn cho quả trái, cho mùa gặt hữu ích, hẳn phải có đối với tôi ảnh hưởng tốt đẹp nhất. Tôi ngắm những con bò đực rắn chắc ấy, những con bò cái no đầy giữa những đồng cỏ phì nhiêu kia, và thán phục tương lai yên ổn mà chúng hứa hẹn. Những cây táo trồng đều đặn trên các sườn đồi thuận lợi báo trước cho mùa hạ này những vụ thu hoạch tuyệt đẹp; tôi mơ tới gánh quả nặng trĩu sẽ sớm làm oằn cành chúng. Từ sự sung túc có trật tự ấy, từ sự thuần phục vui tươi ấy, từ những mùa màng mỉm cười ấy, một hòa điệu hình thành, không còn do ngẫu hợp mà như đã được định ra, một nhịp điệu, một vẻ đẹp vừa nhân loại vừa tự nhiên, đến nỗi người ta không còn biết mình ngưỡng mộ điều gì nữa, bởi sự bùng nở màu mỡ của thiên nhiên tự do và nỗ lực khôn ngoan của con người nhằm điều hòa nó đã hòa lẫn với nhau trong một sự đồng tâm hoàn hảo. Nỗ lực ấy sẽ là gì, tôi nghĩ, nếu không có sức hoang dã mạnh mẽ mà nó chế ngự? Còn sức vọt man dại của dòng nhựa tràn bờ kia sẽ là gì nếu không có nỗ lực thông minh biết ngăn giữ nó và, như cười vui, dẫn nó tới chỗ dư dật? Và tôi buông mình mơ tới những miền đất nơi mọi sức lực đều được điều hòa tốt đẹp đến thế, mọi tiêu hao đều được bù đắp, mọi trao đổi đều nghiêm ngặt đến thế, đến nỗi một hao hụt nhỏ nhất cũng trở nên cảm thấy được; rồi áp giấc mơ ấy vào đời sống, tôi dựng cho mình một nền luân lý dần thành khoa học về nghệ thuật sử dụng bản thân một cách hoàn hảo nhờ một sự ràng buộc thông minh.
Khi ấy những xao động dữ dội hôm trước của tôi đã lún xuống đâu, đã ẩn vào đâu? Tôi bình tĩnh đến nỗi tưởng như chúng chưa từng có bao giờ. Làn sóng tình yêu của tôi đã phủ lấp tất cả...
Tuy nhiên, lão Bocage già quanh quẩn bên chúng tôi với một sự sốt sắng quá mức; lão chỉ huy, trông nom, khuyên bảo; người ta cảm thấy quá rõ nhu cầu muốn tỏ ra mình là kẻ không thể thiếu của lão. Để khỏi làm lão phật ý, tôi phải xem sổ sách của lão, nghe đến cùng những lời giải thích vô tận. Chừng ấy vẫn chưa đủ với lão; tôi còn phải đi cùng lão ra đất đai. Cái vẻ đạo mạo lên mặt, những lời thao thao liên miên, sự tự mãn quá hiển nhiên, sự phô trương lòng ngay thẳng của lão, chẳng bao lâu đã làm tôi phát bực; lão ngày một bám riết hơn, và mọi cách đều có vẻ tốt với tôi miễn sao giành lại được sự thư thái của mình, thì một biến cố bất ngờ bỗng đến, khiến quan hệ của tôi với lão mang một tính chất khác hẳn: một buổi tối nọ, Bocage báo với tôi rằng ngày mai lão đợi con trai lão, Charles.
Tôi buột miệng: “À!”, gần như thờ ơ, vì cho đến lúc ấy tôi chẳng mấy bận tâm lão Bocage có thể có con cái nào; rồi thấy vẻ thờ ơ ấy làm lão chạnh lòng, và lão chờ ở tôi một dấu hiệu quan tâm, một chút ngạc nhiên:
— Bây giờ cậu ấy ở đâu? tôi hỏi.
— Trong một nông trại kiểu mẫu, gần Alençon, Bocage đáp.
— Hẳn nay cậu ấy cũng phải xấp xỉ... tôi tiếp lời, nhẩm tuổi đứa con trai mà cho đến lúc ấy tôi còn không biết là có tồn tại, và nói khá chậm để lão có thì giờ ngắt lời tôi...
— Hơn mười bảy rồi, Bocage nói tiếp. Nó khi bà thân mẫu của cậu mất đi cũng mới chỉ hơn bốn tuổi một chút. À! bây giờ nó là một chàng trai lớn rồi; chẳng bao lâu nữa nó sẽ biết nhiều hơn cả cha nó... Và Bocage, một khi đã mở đầu, thì không gì còn chặn được lão nữa, cho dầu vẻ mệt mỏi của tôi có rõ đến đâu.
Hôm sau, tôi đã không còn nghĩ đến chuyện ấy nữa, thì về cuối ngày, Charles vừa tới nơi đã đến chào kính Marceline và tôi. Đó là một chàng trai đẹp, dồi dào sức khỏe, mềm dẻo, thân hình cân xứng đến nỗi bộ quần áo phố xá xấu xí cậu mặc để tỏ lòng kính chúng tôi cũng không làm cậu thành quá lố bịch; sự rụt rè của cậu hầu như chỉ càng làm tăng thêm vẻ hồng hào tự nhiên. Cậu tưởng chỉ độ mười lăm tuổi thôi, ánh mắt vẫn còn nguyên màu trẻ nhỏ; cậu nói năng rất rõ ràng, không chút ngượng ngập giả tạo, và trái với cha mình, không nói để mà không nói gì cả. Tôi không còn nhớ đêm đầu ấy chúng tôi đã trao đổi những chuyện gì; mải ngắm cậu, tôi chẳng biết nói gì với cậu, cứ để Marceline nói chuyện. Nhưng ngày hôm sau, lần đầu tiên tôi không đợi lão Bocage già tới đón mình để lên trại, nơi tôi biết công việc đã bắt đầu.
Người ta đang sửa một cái ao. Cái ao ấy, rộng như một cái hồ, bị rò; người ta biết chỗ rò ấy và phải trám xi măng vào. Muốn vậy trước hết phải tát cạn ao, điều mà suốt mười lăm năm nay người ta chưa làm. Cá chép và cá tinca đầy nhóc trong đó, có vài con rất lớn, không rời vùng đáy sâu nữa. Tôi muốn thả quen chúng vào nước hào và cho đám thợ một phần, thành thử lần này thú vui của một cuộc bắt cá xen thêm vào công việc, như sự náo động khác thường của cả nông trại đã báo trước; vài đứa trẻ quanh vùng cũng tới, chen vào đám người đang làm. Chính Marceline cũng sẽ ra với chúng tôi sau đó một chút.
Nước đã rút xuống từ lâu khi tôi đến nơi. Thỉnh thoảng một cơn động mạnh bỗng làm gợn mặt nước, và những chiếc lưng nâu của lũ cá hoảng hốt hiện mờ lên. Trong những vũng ở mép bờ, đám trẻ lội bì bõm bắt những con cá nhỏ sáng lấp lánh, quẳng vào những chiếc xô đầy nước trong. Nước ao, vì sự nhốn nháo của lũ cá mà càng thêm đục, thành ra sền sệt màu đất và mỗi lúc một đặc hơn. Cá nhiều quá cả mong đợi; bốn người làm trại chỉ việc thọc tay mò đại cũng lôi lên được. Tôi lấy làm tiếc vì Marceline còn chưa tới, và đang định chạy đi đón nàng thì vài tiếng kêu báo rằng những con lươn đầu tiên đã lộ ra. Người ta không sao bắt được chúng; chúng trơn tuột khỏi các ngón tay. Charles, từ nãy vẫn đứng bên cha trên bờ, không nén được nữa; cậu vội cởi giày, cởi tất, bỏ áo khoác và áo gi-lê, rồi xắn thật cao ống quần và tay áo sơ-mi, quả quyết bước xuống bùn. Tôi lập tức bắt chước cậu.
— Này Charles, hôm qua cậu trở về có phải lắm không? tôi gọi lớn.
Cậu không đáp gì, chỉ cười mà nhìn tôi, đã mải mê với việc bắt cá của mình. Chẳng bao lâu tôi gọi cậu lại giúp tôi vây một con lươn lớn; chúng tôi chụm tay để tóm lấy nó... Rồi sau con ấy lại đến một con khác; bùn văng lên mặt chúng tôi; có lúc chúng tôi bất thần lún xuống và nước dâng tới tận đùi; chẳng mấy chốc cả hai đều ướt sũng. Trong cơn hăng của trò vui, chúng tôi hầu như chỉ trao đổi vài tiếng kêu, vài câu ngắn; nhưng tới cuối ngày, tôi nhận ra mình đã xưng hô thân mật với Charles, mà cũng không rõ từ lúc nào đã bắt đầu. Việc cùng làm ấy khiến chúng tôi hiểu nhau hơn bất cứ cuộc chuyện trò dài nào. Marceline vẫn chưa tới và rốt cuộc cũng không tới, nhưng tôi đã აღარ hối tiếc sự vắng mặt của nàng; tôi tưởng nàng hẳn đã làm niềm vui của chúng tôi hơi mất tự nhiên.
Ngay hôm sau, tôi ra trại tìm Charles. Chúng tôi cùng nhau đi về phía rừng.
Tôi, vốn biết rất ít về đất đai của mình và cũng chẳng lấy gì làm bận tâm vì không biết chúng, hết sức ngạc nhiên khi thấy Charles biết chúng rất rõ, cũng như cách phân bố các khoản tiền thuê; cậu cho tôi biết, điều mà tôi chỉ lờ mờ đoán, rằng tôi có tới sáu tá điền, rằng lẽ ra tôi có thể thu được mười sáu đến mười tám nghìn franc tiền thuê, và nếu tôi phải rất chật vật mới thu được một nửa số ấy, thì là vì hầu như mọi thứ đều bị ngốn vào đủ loại sửa sang và vào tiền trả cho bọn trung gian. Một vài nụ cười của cậu khi xem xét việc canh tác chẳng bao lâu khiến tôi nghi ngờ rằng sự khai thác đất đai của tôi không tốt đẹp như lúc đầu tôi tưởng và như Bocage muốn cho tôi hiểu; tôi gợi Charles nói về chuyện ấy, và cái trí thông minh hoàn toàn thực tiễn từng làm tôi phát bực nơi Bocage, ở đứa trẻ này lại biết khiến tôi thích thú. Ngày này qua ngày khác chúng tôi tiếp tục những cuộc đi dạo; điền sản rộng lớn, và khi đã dò xét kỹ mọi ngóc ngách, chúng tôi lại bắt đầu lần nữa, có phương pháp hơn. Charles không giấu tôi sự bực dọc mà cảnh vài cánh đồng canh tác kém, những khoảng đất bị kim tước, cây kế và cỏ chua lấn đầy gây nên nơi cậu; cậu biết làm tôi chia sẻ mối ghét bỏ ấy đối với đất bỏ hoang và cùng cậu mơ tới những mùa màng được sắp đặt tốt hơn.
— Nhưng lúc đầu tôi vẫn bảo cậu, sự chăm nom tồi tệ ấy rốt cuộc làm hại ai? Chỉ riêng người tá điền thôi, phải không? Hoa lợi của trại hắn, dầu có thay đổi, cũng không làm đổi giá thuê.
Charles hơi bực: — Ông chẳng biết gì việc ấy cả, cậu dám đáp thế, và tôi liền mỉm cười. Ông chỉ xét đến lợi tức mà không muốn nhận thấy rằng vốn liếng đang hư hao. Đất của ông, bị cày cấy không đến nơi đến chốn, đang dần dần mất giá.
— Nếu canh tác tốt hơn mà có thể cho nhiều lợi hơn, tôi không tin người tá điền lại không lao vào; tôi biết hắn vụ lợi quá, chẳng thể không gặt được chừng nào hay chừng ấy.
— Ông tính thế, Charles tiếp, là chưa kể phần nhân công tăng thêm. Những mảnh đất ấy có khi ở xa nông trại. Có canh tác thì chúng cũng chẳng đem thêm bao nhiêu, hoặc hầu như không, nhưng ít ra cũng không bị hư kiệt.
Và câu chuyện cứ tiếp diễn. Có khi trong suốt một giờ, vừa đi dọc các cánh đồng, chúng tôi dường như chỉ nhai đi nhai lại mãi những điều ấy: nhưng tôi lắng nghe và từng chút một, học hỏi.
— Sau hết, chuyện ấy là phần cha em chứ, một hôm tôi nói, có phần sốt ruột. Charles hơi đỏ mặt:
— Cha tôi đã già rồi, cậu nói; cha tôi đã quá nhiều việc phải coi chừng việc thi hành các giao kèo thuê, việc bảo dưỡng nhà cửa, việc thu tiền thuê cho đủ. Phận sự của cha tôi ở đây không phải là cải cách.
— Còn em, em sẽ đề nghị những cải cách nào? tôi hỏi tiếp. Nhưng đến đó thì cậu lảng tránh, nhận mình không rành; chỉ sau bao phen gặng hỏi, tôi mới buộc cậu nói rõ:
— Tước khỏi tay tá điền tất cả những khoảnh đất họ để hoang, cuối cùng cậu khuyên. Nếu tá điền để một phần ruộng đồng nằm đó, ấy là bằng chứng họ giữ quá nhiều so với số tiền họ trả cho ông; hoặc nếu họ nhất quyết giữ tất cả, thì tăng giá thuê. Ở xứ này ai cũng lười cả.
Trong sáu nông trại mà tôi ngỡ ngàng khám phá ra là mình có, nơi tôi thích lui tới nhất nằm trên ngọn đồi trông xuống La Morinière; người ta gọi nó là La Valterie; người tá điền ở đó chẳng đến nỗi khó ưa; tôi vẫn vui lòng chuyện trò với hắn. Gần La Morinière hơn, một nông trại gọi là “trại Château” được cho thuê theo một lối nửa lĩnh canh, khiến Bocage, thay mặt người chủ vắng mặt, trở thành kẻ sở hữu một phần đàn gia súc. Nay lòng ngờ vực đã nảy sinh, tôi bắt đầu nghi ngay cả lão Bocage trung thực, nếu không phải là lừa tôi, thì ít ra cũng là để nhiều kẻ lừa tôi. Quả thật người ta dành riêng cho tôi một chuồng ngựa và một chuồng bò, nhưng chẳng bao lâu tôi thấy dường như chúng chỉ được bày ra để cho phép người tá điền nuôi bò và ngựa của hắn bằng yến mạch và cỏ khô của tôi. Cho tới lúc ấy, tôi vẫn nhẹ dạ nghe những tin khó tin nhất mà thỉnh thoảng Bocage mang tới cho tôi: nào chết chóc, dị tật, bệnh tật, tôi đều nhận cả. Chỉ cần một con bò của tá điền lâm bệnh là thành một con bò của tôi, tôi còn chưa từng nghĩ chuyện ấy lại có thể; cũng như chỉ cần một con bò của tôi rất khỏe mạnh là đủ để biến nó thành bò của tá điền; vậy mà vài lời lỡ miệng của Charles, vài nhận xét riêng của tôi bắt đầu làm sáng mắt tôi; trí tôi, một khi đã được cảnh báo, liền đi rất nhanh.
Marceline, do tôi báo cho biết, xem xét tỉ mỉ mọi sổ sách, nhưng không thể tìm ra trong đó một sai sót nào; tính trung thực của Bocage ẩn náu ở đó. Làm gì bây giờ? Cứ để mặc. Nhưng ít nhất, với một nỗi tức tối âm ỉ, từ đó tôi theo dõi đàn vật, tuy không để lộ ra quá nhiều.
Tôi có bốn con ngựa và mười con bò; thế cũng đã đủ để làm tôi lắm phen khổ tâm. Trong bốn con ngựa ấy, có một con người ta vẫn còn gọi là “ngựa tơ”, tuy nó đã quá ba tuổi; bấy giờ người ta đang lo tập cho nó; tôi vừa bắt đầu để ý đến nó thì một hôm đẹp trời, người ta đến tuyên bố với tôi rằng nó hoàn toàn bất trị, chẳng bao giờ làm nên trò trống gì, và tốt nhất là tống khứ nó đi. Như thể còn sợ tôi ngờ vực lời ấy, người ta đã bắt nó làm gãy càng trước một chiếc xe nhỏ và làm máu trào nơi hai khoeo chân.
Hôm ấy, tôi phải gắng lắm mới giữ được bình tĩnh; điều ngăn tôi lại chính là vẻ lúng túng của Bocage. Sau hết, ở ông ta, tôi nghĩ, nhu nhược nhiều hơn ác ý; lỗi tại đám người làm; nhưng họ không cảm thấy có ai chỉ huy cả.
Tôi ra sân xem con ngựa tơ. Vừa nghe tiếng tôi đến gần, một tên đầy tớ đang đánh nó liền vuốt ve nó; tôi làm như không trông thấy gì. Tôi chẳng biết mấy về ngựa, nhưng con ngựa tơ này đối với tôi xem ra thật đẹp; nó là một con ngựa lai lông hung nhạt, vóc dáng thon dài một cách khác thường; mắt rất tinh, bờm cũng như đuôi gần như hoe vàng. Tôi xem cho chắc rằng nó không bị thương nặng, bắt người ta săn sóc những chỗ trầy sướt của nó, rồi quay đi, không nói thêm một lời.
Chiều ấy, vừa gặp lại Charles, tôi tìm cách hỏi cậu nghĩ sao về con ngựa tơ.
– Cháu tin nó rất hiền, cậu đáp; nhưng họ không biết cách làm; họ sẽ làm nó hóa điên mất.
– Thế còn cậu, cậu sẽ làm thế nào?
– Ông có muốn giao nó cho cháu tám ngày không? Cháu xin cam đoan.
– Và cậu sẽ làm gì với nó?
– Rồi ông sẽ thấy...
Sáng hôm sau, Charles dắt con ngựa tơ đến một góc đồng cỏ có một cây óc chó tuyệt đẹp che bóng và con sông uốn quanh; tôi cùng Marceline đến đó. Đó là một trong những ký ức sống động nhất của tôi. Charles đã buộc con ngựa tơ, bằng một sợi dây dài vài thước, vào một cái cọc đóng chặt xuống đất. Con vật, vì quá thần kinh, nghe đâu đã vùng vẫy dữ dội một hồi; giờ đây, đã dịu đi vì mệt, nó quay vòng tròn bình tĩnh hơn; nước kiệu của nó, có một độ đàn hồi lạ lùng, thật dễ nhìn và quyến rũ như một điệu múa. Charles đứng giữa vòng, mỗi lượt lại nhảy tránh sợi dây bằng một động tác đột ngột, khi thì khích, khi thì dỗ bằng lời; trong tay cậu cầm một cây roi dài, nhưng tôi không thấy cậu dùng đến. Tất cả nơi dáng điệu và cử chỉ cậu, nhờ tuổi trẻ và niềm vui của cậu, khiến công việc ấy mang vẻ đẹp sốt sắng của khoái lạc. Bất thần, mà tôi không hiểu bằng cách nào, cậu đã nhảy lên lưng con vật; nó đã chậm dần bước rồi đứng lại; cậu đã vuốt ve nó một chút, rồi bỗng tôi thấy cậu ngồi trên lưng ngựa, đầy tự tín, hầu như chỉ vịn hờ vào bờm, cười, cúi người, kéo dài cái vuốt ve của mình. Con ngựa tơ chỉ hơi hất hẩy trong chốc lát; giờ đây nó lại đi nước kiệu đều đều, đẹp đẽ, mềm mại đến nỗi tôi ghen với Charles và nói ngay với cậu điều ấy.
– Chỉ cần dăm ngày tập nữa là yên cương sẽ không còn làm nó ngứa ngáy nữa; hai tuần nữa, đến cả bà nhà cũng dám cưỡi nó: nó sẽ hiền như một con cừu non.
Cậu nói đúng; ít ngày sau, con ngựa đã chịu để người ta vuốt ve, thắng yên, dắt đi, không chút ngờ vực; và chính Marceline nữa hẳn cũng đã cưỡi nó, nếu tình trạng sức khỏe của nàng cho phép sự vận động ấy.
– Ông nên thử nó đi, Charles bảo tôi.
Một mình thì tôi chẳng bao giờ dám làm thế; nhưng Charles đề nghị yên cho mình một con ngựa khác của trại; niềm vui được đi cùng cậu đã lôi cuốn tôi.
Tôi biết ơn mẹ tôi biết bao vì đã đưa tôi đến trường cưỡi ngựa từ thuở đầu đời! Ký ức xa xôi về những bài học đầu tiên ấy đã giúp ích cho tôi. Tôi không thấy mình ngạc nhiên lắm khi ngồi lên lưng ngựa; chỉ ít phút sau, tôi đã không còn sợ hãi gì và hoàn toàn thoải mái. Con ngựa Charles cưỡi nặng hơn, không có giống tốt, nhưng trông cũng chẳng khó coi; nhất là Charles cưỡi rất khéo. Chúng tôi thành lệ ngày nào cũng ra ngoài một chút; thường là sáng thật sớm, giữa cỏ nhạt đẫm sương; chúng tôi đi đến rìa rừng; những bụi phỉ ròng ròng nước, bị lay động khi chúng tôi đi qua, làm ướt đẫm người; rồi chân trời bỗng mở rộng; đó là thung lũng Auge bao la; xa xa người ta đoán có biển. Chúng tôi dừng lại một lát, không xuống ngựa; mặt trời mới mọc nhuộm màu, xé dần, làm tan dần những màn sương; rồi chúng tôi lại phi nước kiệu lớn; la cà ở trại; công việc mới chỉ vừa bắt đầu; chúng tôi nếm cái vui kiêu hãnh là đi trước và trội hơn những người làm; rồi bỗng chốc bỏ họ lại; tôi trở về La Morinière đúng lúc Marceline thức dậy.
Tôi trở về, say không khí trời, choáng váng vì tốc độ, tay chân hơi tê đi trong một sự mỏi mệt khoái lạc, tinh thần đầy sức khỏe, thèm ăn, tươi mát. Marceline tán thành, khuyến khích cái thú ngẫu hứng của tôi. Mỗi lần trở về, còn nguyên đồ ghệt cưỡi ngựa, tôi đem đến bên giường, nơi nàng nấn ná đợi tôi, một mùi lá ướt mà nàng bảo là nàng thích. Và nàng nghe tôi kể cuộc rong ruổi của chúng tôi, sự thức dậy của đồng ruộng, công việc lại bắt đầu... Dường như Marceline vui vì cảm thấy tôi sống cũng nhiều như vui được sống. Chẳng bao lâu, tôi cũng lạm dụng cả niềm vui ấy; những cuộc đi chơi của chúng tôi kéo dài thêm, và có khi mãi đến gần trưa tôi mới về.
Tuy vậy, tôi vẫn cố dành phần cuối ngày và buổi tối cho việc chuẩn bị bài giảng. Công việc của tôi tiến triển; tôi hài lòng về nó và không cho là bất khả rằng sau này những bài giảng ấy đáng được gom lại thành sách. Do một thứ phản ứng tự nhiên nào đó, trong khi đời sống tôi được sắp đặt, điều hòa, và tôi thích chung quanh mình cái gì cũng được sắp đặt, điều hòa, thì tôi lại càng lúc càng say mê nền luân lý thô phác của người Goth; và trong khi, suốt dọc bài giảng của mình, tôi bận tâm, với một sự táo bạo về sau người ta trách cứ tôi không ít, ca ngợi sự vô học vấn và dựng lời biện hộ cho nó, thì tôi lại nhọc công tìm cách chế ngự, nếu không phải là xóa bỏ, mọi điều có thể gợi nhắc tới nó ở quanh tôi cũng như trong chính tôi. Cái khôn ngoan ấy, hay đúng hơn cái điên rồ ấy, tôi đã đẩy nó đi đến đâu!
Hai người tá điền của tôi, có khế ước mãn hạn vào dịp Giáng sinh, muốn tái tục, bèn đến gặp tôi; cần phải ký, theo lệ thường, tờ gọi là “lời hứa cho thuê”. Được củng cố bởi những lời quả quyết của Charles, bị kích thích bởi những câu chuyện hằng ngày với cậu, tôi kiên quyết chờ hai người tá điền ấy. Còn họ, cậy vào chỗ tá điền không dễ gì thay, trước hết đòi giảm tiền thuê. Sự sững sờ của họ lại càng lớn hơn khi tôi đọc cho họ nghe những “lời hứa” do chính tôi thảo, trong đó tôi chẳng những không chịu hạ giá tô mà còn rút lại của họ vài mảnh đất mà tôi thấy họ không hề sử dụng đến. Ban đầu họ giả vờ cười mà cho là tôi nói đùa. Tôi lấy những mảnh đất ấy để làm gì chứ? Chúng chẳng đáng giá gì; và nếu họ không làm gì ở đó, thì cũng vì ở đó chẳng làm nổi gì... Rồi thấy tôi nghiêm túc, họ trở nên bướng bỉnh; về phần mình, tôi cũng bướng bỉnh. Họ tưởng dọa được tôi khi dọa bỏ đi. Mà tôi lại chỉ chờ có thế:
– Ồ! Nếu muốn thì cứ đi đi! Tôi có giữ các bác đâu, tôi bảo họ thế. Tôi cầm các tờ lời hứa cho thuê và xé ngay trước mặt họ.
Thế là tôi phải ôm lấy hơn một trăm mẫu tây. Từ trước đó ít lâu, tôi đã dự định giao quyền điều hành chung cho Bocage, dĩ nhiên nghĩ rằng gián tiếp tức là giao cho Charles; tôi cũng định tự mình để tâm rất nhiều đến việc ấy; vả chăng tôi cũng chẳng suy nghĩ mấy: chính cái mạo hiểm của công việc đã cám dỗ tôi. Hai người tá điền chỉ dọn đi vào dịp Giáng sinh; từ nay đến đó, hẳn chúng tôi còn xoay xở được. Tôi báo cho Charles biết; niềm vui của cậu lập tức làm tôi khó chịu; cậu không giấu nổi; và điều ấy khiến tôi cảm thấy rõ hơn nữa cái tuổi trẻ quá đỗi của cậu. Thời gian đã gấp rồi; lúc ấy là vào mùa đầu gặt vừa giải phóng đồng ruộng cho những luống cày đầu tiên. Theo một thỏa ước đã thành lệ, công việc của người tá điền mãn hạn và của người mới chen sát nhau, người trước nhường dần đất đai từng mảnh một, ngay khi mùa gặt đã thu xong. Tôi lo ngại, như một thứ báo thù, sự ác cảm của hai người tá điền bị đuổi kia; trái lại, họ lại thích giả vờ tỏ ra với tôi một sự chiều ý hoàn toàn (mãi sau tôi mới biết cái lợi họ tìm thấy ở đó). Tôi lợi dụng điều ấy để sáng chiều rong ruổi trên những thửa đất của họ, tức những thửa chẳng bao lâu nữa sẽ về tay tôi. Mùa thu bắt đầu; phải thuê thêm người để thúc cho nhanh việc cày bừa, gieo giống; chúng tôi đã mua bừa, lu, cày; tôi cưỡi ngựa đi đi lại lại, trông nom, điều khiển công việc, lấy thú ở chỗ ra lệnh.
Tuy nhiên, ở những đồng cỏ lân cận, đám tá điền đang thu hoạch táo; táo rơi xuống, lăn trong cỏ dày, nhiều chưa từng thấy vào năm nào khác; người làm không sao xuể nổi; có cả người từ các làng bên kéo đến; họ được thuê trong tám ngày; Charles và tôi, đôi khi cũng vui đùa mà phụ họ một tay. Người thì dùng sào đánh cành cho rơi nốt những trái muộn; người ta lại riêng thu những trái đã tự rụng, quá chín, thường đã dập, nát trong đám cỏ cao; đi đâu cũng không thể khỏi giẫm lên. Mùi bốc từ đồng cỏ lên vừa hăng vừa ngọt gắt, trộn lẫn với mùi đất cày.
Mùa thu tiến dần. Buổi sáng của những ngày đẹp cuối cùng là những buổi sáng mát nhất, trong nhất. Có khi bầu không khí ướt át làm những nơi xa nhuốm xanh, đẩy chúng lùi xa hơn nữa, biến một cuộc dạo thành một chuyến đi; cảnh trí như rộng thêm; có khi, trái lại, sự trong suốt bất thường của không khí làm những chân trời tưởng như ở ngay gần; tưởng chỉ một cái vỗ cánh là tới được; mà tôi không biết trong hai điều ấy, điều nào làm lòng tôi man mác hơn. Công việc của tôi gần như đã xong; ít ra tôi vẫn tự nhủ thế để càng dám xao lãng nó hơn. Khoảng thời gian tôi không còn ở ngoài trại, tôi đem dành cho Marceline. Chúng tôi cùng ra vườn; đi thật chậm, nàng uể oải, nặng trĩu trên cánh tay tôi; rồi đến ngồi trên một chiếc ghế dài, từ đó nhìn xuống được thung lũng mà chiều tối rót đầy ánh sáng. Nàng có một cách tựa đầu vào vai tôi thật dịu dàng; và chúng tôi cứ thế ngồi đến tối, cảm thấy ngày tan chảy trong mình, không cử động, không lời nói... Tình yêu của chúng tôi khi ấy đã biết tự bọc lấy bằng biết bao im lặng! Ấy là vì tình yêu của Marceline đã mạnh hơn lời lẽ dùng để nói nó, và đôi khi tình yêu ấy gần như làm tôi lo âu. Như một làn gió đôi khi làm gợn một mặt nước rất yên, xúc động nhẹ nhất trên trán nàng cũng để lộ ra được; trong nàng, một cách huyền nhiệm, nàng lắng nghe một sự sống mới đang run lên; tôi cúi xuống trên nàng như cúi xuống một làn nước sâu trong, nơi dù nhìn xa đến đâu, người ta cũng chỉ thấy tình yêu. Ôi! nếu khi ấy còn là hạnh phúc, tôi biết rằng từ lúc ấy tôi đã muốn giữ nó lại, như người ta muốn giữ trong hai bàn tay khép gần, vô ích thôi, một dòng nước đang trốn chạy; nhưng đã có, bên cạnh hạnh phúc, một cái gì khác không phải hạnh phúc, nhuộm sắc tình yêu tôi, nhưng như mùa thu nhuộm sắc.
Mùa thu tiến dần. Cỏ, mỗi sớm một đẫm hơn, ở mặt râm ven bìa rừng không còn khô nữa; lúc rạng đông mỏng nhất, nó trắng xóa. Đàn vịt, trên mặt nước hào, đập cánh; chúng xao động một cách hoang dại; đôi khi người ta thấy chúng vút lên, vừa kêu ầm ĩ vừa bay một vòng lớn quanh La Morinière. Một buổi sáng chúng tôi không còn thấy chúng nữa; Bocage đã nhốt chúng lại. Charles bảo tôi rằng năm nào vào mùa thu, đến thời chim di trú, người ta cũng nhốt chúng như thế. Và ít ngày sau, thời tiết đổi hẳn. Một buổi chiều, thình lình nổi lên một luồng gió lớn, một hơi biển mạnh mẽ, liền một dải, đem theo gió bắc và mưa, cuốn đi những cánh chim phiêu dạt. Tình trạng của Marceline, những bận bịu của một chỗ ở mới, những nỗi lo đầu tiên về khóa giảng của tôi, đằng nào cũng đã gọi chúng tôi trở lại thành phố. Mùa xấu, đến sớm, xua chúng tôi đi.
Quả thật, công việc ở trại sẽ gọi tôi về vào tháng Mười Một. Tôi rất bực khi biết những sắp đặt mùa đông của Bocage; ông tuyên bố muốn gửi Charles trở lại trại kiểu mẫu, nơi, theo lời ông, cậu vẫn còn khá nhiều điều phải học; tôi nói chuyện rất lâu, dùng mọi lý lẽ có thể tìm ra, nhưng không sao làm ông nhượng bộ; cùng lắm, ông chỉ nhận rút ngắn đôi chút thời gian học ấy để Charles có thể trở về sớm hơn một ít. Bocage không giấu tôi rằng việc khai thác hai trại sẽ không khỏi hết sức nhọc nhằn; nhưng ông đang nhắm, ông cho tôi biết, hai bác nông dân rất đáng tin mà ông định nhận dưới quyền; họ sẽ gần như tá điền, gần như lĩnh canh, gần như người ở; việc ấy, đối với vùng này, còn mới quá nên ông không dám đoán điều gì tốt; nhưng đó, ông bảo, chính là điều tôi đã muốn. Cuộc nói chuyện ấy diễn ra vào khoảng cuối tháng Mười. Những ngày đầu tháng Mười Một, chúng tôi dọn vào Paris.