Kẻ vô luân — Chương 11

Chương 12 / 14 · Bài review Kẻ vô luân

Chúng tôi dọn đến ở phố S***, gần Passy. Căn hộ mà một người anh em của Marceline đã chỉ cho chúng tôi, và chúng tôi đã có thể đến xem trong lần ghé Paris gần nhất, rộng hơn nhiều căn nhà cha tôi để lại cho tôi; Marceline vì thế không khỏi có phần lo ngại, không chỉ vì tiền thuê cao hơn, mà còn vì mọi khoản chi tiêu mà chúng tôi sắp để mình bị lôi vào. Trước tất cả những nỗi lo ấy của nàng, tôi đem đối lại một nỗi ghê sợ giả tạo đối với cái tạm bợ; chính tôi cũng tự ép mình tin vào đó và cố ý đẩy nó lên quá mức. Hẳn nhiên những chi phí lắp đặt đủ thứ trong năm nay sẽ vượt quá lợi tức của chúng tôi, nhưng gia sản vốn đã khá của chúng tôi còn phải khá hơn nữa; để làm được điều ấy, tôi trông cậy vào khóa giảng của mình, vào việc xuất bản cuốn sách, và thậm chí, thật điên rồ làm sao, vào những khoản hoa lợi mới từ các điền trang của tôi. Bởi vậy tôi chẳng dừng lại trước một món chi nào, tự nhủ ở mỗi món rằng như thế tôi lại càng tự ràng buộc mình hơn, và cùng một lúc tưởng có thể dập tắt mọi tính khí phiêu dạt mà tôi cảm thấy, hay e sẽ cảm thấy, trong lòng mình.

Những ngày đầu, từ sáng đến tối, thời giờ của chúng tôi trôi trong việc chạy ngược chạy xuôi; và mặc dầu sau đó người anh của Marceline rất tử tế đã ngỏ ý giúp chúng tôi đỡ bớt nhiều việc, Marceline vẫn chẳng bao lâu đã thấy mệt rã rời. Rồi thay vì được nghỉ ngơi như nàng cần, vừa mới yên chỗ là nàng đã phải tiếp hết cuộc thăm viếng này đến cuộc thăm viếng khác; quãng đời xa cách xã hội mà chúng tôi từng sống cho tới khi ấy nay khiến khách khứa đổ dồn đến, mà Marceline, đã quen lạ với chốn giao tế, vừa không biết làm cho những cuộc viếng thăm ấy ngắn lại, vừa không dám đóng cửa từ chối khách; buổi tối tôi thường thấy nàng kiệt sức; và nếu tôi không đến nỗi phải lo về một sự mệt nhọc mà tôi biết nguyên nhân rất tự nhiên, thì ít ra tôi cũng cố tìm cách làm nhẹ bớt nó, thường tiếp khách thay nàng, điều ấy chẳng làm tôi thích thú gì, và đôi khi còn đi đáp lễ, điều ấy lại càng làm tôi thích thú ít hơn nữa.

Tôi chưa bao giờ là một người đối thoại lỗi lạc; cái phù phiếm của các phòng khách, cái duyên dí dỏm ở đó, là thứ tôi không thể ưa cho được; trước kia tôi cũng từng lui tới khá nhiều vài nơi như thế, nhưng thời ấy giờ đây xa biết bao! Từ đó tới nay đã xảy ra những gì? Ở bên người khác, tôi cảm thấy mình nhạt nhòa, buồn bã, đáng chán, vừa làm họ khó chịu vừa tự thấy ngượng ngập... Do một vận rủi kỳ lạ, các bạn, những người mà tôi đã xem như những người bạn chân thật duy nhất của mình, lại không có mặt ở Paris và còn lâu mới trở về. Liệu với các bạn tôi có thể nói khá hơn chăng? Có lẽ các bạn đã hiểu tôi hơn chính tôi tự hiểu mình chăng? Nhưng về tất cả những gì đang lớn dần trong tôi và hôm nay tôi nói với các bạn, khi ấy tôi biết gì? Tương lai hiện ra trước mắt tôi thật vững chắc, và chưa bao giờ tôi tin mình làm chủ nó hơn thế.

Vả lại, dẫu tôi có tinh tường hơn đi nữa, thì ở Hubert, Didier, Maurice, và bao nhiêu người khác mà các bạn biết và phán đoán cũng như tôi, tôi có thể tìm đâu ra một phương cứu chữa chống lại chính mình. Than ôi, tôi rất sớm nhận ra rằng không thể nào làm cho họ hiểu tôi được. Ngay trong những câu chuyện đầu tiên giữa chúng tôi, tôi đã thấy như bị họ buộc phải đóng một vai giả, phải giống con người mà họ tưởng tôi vẫn còn là, nếu không sẽ có vẻ như tôi đang giả bộ; và cho tiện hơn, tôi bèn giả có những ý nghĩ và những thị hiếu mà người ta gán cho tôi. Người ta không thể đồng thời vừa chân thành vừa có vẻ chân thành.

Tôi gặp lại có phần vui lòng hơn một chút những người cùng nghề mình, các nhà khảo cổ học và ngữ văn học, nhưng khi chuyện trò với họ, tôi cũng chẳng tìm thấy vui thú gì hơn, và cũng không xúc động gì hơn là lúc giở xem những bộ từ điển lịch sử tử tế. Thoạt đầu tôi còn có thể hy vọng tìm thấy nơi vài nhà tiểu thuyết và vài nhà thơ một sự am hiểu trực tiếp hơn về đời sống; nhưng nếu họ có cái am hiểu ấy, thì phải nhận rằng họ chẳng mấy khi bộc lộ nó; tôi thấy hình như phần lớn họ không sống, chỉ bằng lòng làm ra vẻ sống, và chỉ một chút nữa thôi là đã xem đời sống như một sự ngăn trở đáng phiền cho việc viết. Tôi cũng không thể trách họ về điều đó; và tôi không dám quả quyết rằng lầm lỗi không phải từ phía tôi... Vả lại, tôi hiểu sống là gì? Chính điều ấy tôi đã muốn được người ta dạy cho. Người này cũng như người kia đều bàn rất khéo về những biến cố khác nhau của đời sống, chứ chẳng bao giờ nói đến cái thúc đẩy chúng.

Còn về mấy triết gia ít ỏi kia, vốn ra phải có nhiệm vụ chỉ bảo cho tôi, thì từ lâu tôi đã biết phải mong đợi gì ở họ; là các nhà toán học hay những nhà tân phê phán, họ đứng xa khỏi cái thực tại gây xao động hết sức có thể, và bận tâm đến nó cũng chẳng hơn gì nhà đại số học bận tâm đến sự hiện hữu của những đại lượng mà ông ta đo lường.

Trở về bên Marceline, tôi không giấu nàng nỗi chán chường mà những mối giao du ấy gây cho tôi.

– Họ giống nhau cả, tôi bảo nàng. Mỗi người đều chỉ là một sự trùng lặp. Nói với một người trong bọn họ, tôi có cảm tưởng như đang nói với nhiều người.

– Nhưng, bạn tôi ạ, Marceline đáp, anh không thể đòi mỗi người phải khác với tất cả những người khác.

– Họ càng giống nhau bao nhiêu thì lại càng khác tôi bấy nhiêu.

Rồi tôi lại nói tiếp, buồn bã hơn:

– Không một ai trong số họ biết thế nào là đau ốm. Họ sống, trông có vẻ sống, mà dường như không biết mình đang sống. Mà chính tôi nữa, từ khi ở giữa họ, tôi cũng không còn sống nữa. Trong bao nhiêu ngày như thế, hôm nay chẳng hạn, tôi đã làm gì? Tôi đã phải rời em từ chín giờ sáng: trước khi đi, tôi chỉ vừa kịp đọc qua đôi chút; đó là khoảnh khắc dễ chịu duy nhất trong ngày. Anh của em đợi tôi אצל phòng công chứng, và sau phòng công chứng thì anh ấy chẳng buông tha tôi; tôi phải đi xem với anh ấy người bọc ghế; anh ấy lại làm vướng chân tôi אצל người thợ mộc chạm, và mãi đến chỗ Gaston tôi mới rời được anh ấy; tôi ăn trưa ở khu đó với Philippe, rồi gặp lại Louis đang chờ tôi ở quán cà phê: cùng anh ta nghe bài giảng ngớ ngẩn của Théodore, lúc tan buổi tôi còn phải khen ông ta; để từ chối lời mời ngày Chủ nhật của ông ấy, tôi lại phải đi cùng ông ấy đến chỗ Arthur; với Arthur, đi xem một cuộc triển lãm màu nước; đi để danh thiếp אצל Albertine và אצל Julie... Kiệt sức, tôi về nhà và thấy em cũng mệt mỏi như chính tôi, sau khi đã tiếp Adeline, Marthe, Jeanne, Sophie... và đến tối, bây giờ đây, khi tôi ôn lại tất cả những việc trong ngày ấy, tôi thấy ngày của mình trống rỗng đến thế, vô nghĩa đến thế, đến nỗi tôi muốn chộp lấy lại nó giữa lúc nó vụt qua, làm lại từng giờ một, và buồn đến phát khóc.

Tuy vậy, tôi đã không biết nói rõ điều mình hiểu là sống, cũng không biết phải chăng sở thích mà tôi đã có đối với một đời sống khoáng đạt và thoáng đãng hơn, bớt gò bó và bớt bận tâm đến kẻ khác hơn, chính là bí mật rất giản dị của nỗi khó chịu ấy; với tôi, bí mật ấy dường như bí ẩn hơn nhiều: một bí mật của kẻ sống lại, tôi nghĩ vậy, vì tôi vẫn là một người xa lạ giữa những người khác, như một kẻ từ cõi chết trở về. Thoạt tiên tôi chỉ cảm thấy một sự hoang mang khá đau đớn; nhưng chẳng bao lâu một cảm thức hoàn toàn mới đã ló dạng. Tôi xin khẳng định: khi những công trình khiến tôi được ca ngợi đến thế ra đời, tôi chẳng hề cảm thấy chút kiêu hãnh nào. Còn bây giờ có phải là kiêu hãnh chăng? Có lẽ; nhưng ít ra trong đó không pha một sắc thái hư danh nào. Đó là, lần đầu tiên, ý thức về giá trị riêng của tôi: điều khiến tôi tách khỏi, phân biệt tôi với người khác, là điều hệ trọng; điều mà không ai khác ngoài tôi nói, hay có thể nói, ấy chính là điều tôi phải nói.

Ít lâu sau đó, khóa giảng của tôi bắt đầu; chính đề tài đã khiến tôi đổ dồn vào bài giảng đầu tiên tất cả niềm say mê mới mẻ của mình. Nhân nói về nền văn minh Latinh ở chặng cực thịnh, tôi vẽ ra nền văn hóa nghệ thuật trồi lên trên bề mặt quần chúng như một thứ tiết xuất: thoạt đầu nó báo hiệu sự sung mãn, sự dư thừa sức khỏe, rồi lập tức đông lại, cứng đi, chống lại mọi tiếp xúc trọn vẹn của tinh thần với tự nhiên, che giấu dưới vẻ ngoài dai dẳng của sự sống cái sự sống đang suy giảm, tạo thành một lớp vỏ trong đó tinh thần bị cản trở thì héo hon, rồi chẳng bao lâu tàn úa, rồi chết. Sau hết, đẩy tư tưởng của mình đến tận cùng, tôi nói: Văn hóa, sinh ra từ sự sống, giết chết sự sống.

Các nhà sử học trách tôi, họ bảo, có một khuynh hướng khái quát hóa quá vội vàng. Những người khác chê phương pháp của tôi; và những kẻ khen tôi lại chính là những kẻ hiểu tôi ít nhất.

Chính lúc ra khỏi buổi giảng, tôi gặp lại Ménalque lần đầu tiên. Tôi chưa bao giờ lui tới anh nhiều, và ít lâu trước khi tôi cưới vợ, anh đã lại lên đường cho một trong những cuộc thám du xa xôi vẫn đôi khi cướp anh khỏi chúng tôi hơn một năm trời. Thuở trước tôi chẳng mấy thích anh; anh có vẻ kiêu ngạo và không quan tâm gì đến đời sống của tôi. Bởi vậy tôi ngạc nhiên thấy anh có mặt ở bài giảng đầu tiên của mình. Chính cái vẻ ngạo mạn từng làm tôi xa anh khi trước nay lại khiến tôi thích thú, và nụ cười anh dành cho tôi càng có duyên hơn vì tôi biết nó hiếm hoi hơn. Gần đây, một vụ kiện giật gân vừa lố bịch vừa nhục nhã đã là cho báo chí một dịp quá tiện để bôi nhọ anh; những kẻ bị sự khinh bạc và sự trội vượt của anh làm tổn thương liền vồ lấy cái cớ ấy để trả thù; và điều khiến họ tức tối nhất là thấy anh dường như chẳng hề bị ảnh hưởng gì.

– Cứ phải để cho người khác có lý, anh đáp lại những lời lăng mạ, vì điều đó an ủi họ khi họ chẳng có gì khác.

Nhưng “xã hội tử tế” thì phẫn nộ, và những người như thiên hạ thường nói là “biết tự trọng” tưởng mình phải quay mặt đi trước anh để lấy đó đáp lại anh bằng chính sự khinh miệt của họ. Điều ấy lại càng cho tôi thêm một lý do nữa: bị một sức hút kín đáo lôi về phía anh, tôi bước lại gần và ôm hôn anh một cách thân tình trước mặt mọi người.

Thấy tôi đang nói chuyện với ai, những kẻ làm phiền cuối cùng cũng rút lui; tôi còn lại một mình với Ménalque.

Sau những lời phê bình chọc tức và những lời tán tụng ngớ ngẩn, mấy lời ít ỏi của anh về khóa giảng của tôi khiến tôi được nhẹ nhõm.

– Ông đang đốt cái mình từng thờ phụng, anh nói. Điều ấy hay lắm. Ông làm muộn; nhưng ngọn lửa vì thế lại càng được nuôi nhiều. Tôi chưa biết rõ là mình có hiểu đúng ông hay không; ông làm tôi tò mò. Tôi vốn không thích chuyện trò, nhưng lại muốn nói chuyện với ông. Tối nay đến ăn tối với tôi đi.

– Ménalque thân mến, tôi đáp anh, dường như ông quên rằng tôi đã có vợ.

– Phải, đúng thế, anh tiếp lời; thấy cái vẻ chân thành thân mật mà ông dám đến với tôi, tôi đã có thể tưởng ông tự do hơn thế.

Tôi sợ đã làm anh phật ý; còn sợ hơn nữa là tỏ ra yếu đuối, nên nói với anh rằng sau bữa tối tôi sẽ đến gặp anh.

Ở Paris, bao giờ cũng chỉ ghé qua, Ménalque ở khách sạn; trong kỳ lưu lại này, anh cho sửa sang ở đó mấy phòng thành một dạng căn hộ; anh có gia nhân riêng, ăn riêng, sống riêng, và đã phủ lên tường, lên những món đồ mà vẻ xấu xí tầm thường của chúng làm anh chướng mắt, vài tấm vải đắt giá mang từ Népal về, mà theo lời anh, anh đang làm cho bẩn nốt trước khi tặng cho một viện bảo tàng. Tôi nóng lòng đến gặp anh đến nỗi khi bước vào còn bắt gặp anh đang ngồi ăn; và khi tôi xin lỗi vì đã làm phiền bữa ăn của anh:

– Nhưng, anh bảo tôi, tôi đâu có ý ngắt bữa ăn của mình, và rất mong ông sẽ để tôi ăn xong. Nếu ông đến đây để dùng bữa tối, tôi đã mời ông rượu Chiraz, thứ rượu Hafiz từng ca ngợi, nhưng bây giờ thì muộn quá rồi; phải để bụng rỗng mới uống được; ít ra ông có dùng chút rượu mùi chứ?

Tôi nhận lời, nghĩ rằng anh cũng sẽ dùng; rồi thấy người ta chỉ mang đến một chiếc ly, tôi lấy làm lạ:

– Xin lỗi ông, anh nói, nhưng tôi hầu như chẳng bao giờ uống.

– Ông sợ mình say chăng?

– Ồ! anh đáp, trái lại! Nhưng tôi cho sự tỉnh táo là một cơn say mạnh hơn; trong đó tôi vẫn giữ được sự minh mẫn của mình.

– Thế mà ông lại rót cho người khác uống...

Anh mỉm cười.

– Tôi không thể, anh nói, đòi mỗi người phải có những đức tính của tôi. Đã là quý lắm nếu tôi còn gặp lại nơi họ những tật xấu của mình...

– Ít ra ông có hút thuốc chứ?

– Cũng không. Đó là một cơn say vô ngã, tiêu cực, và chinh phục quá dễ dàng; trong cơn say, tôi tìm một sự nâng cao chứ không phải một sự suy giảm của đời sống. Thôi, bỏ chuyện ấy đi. Ông có biết tôi từ đâu về không? Từ Biskra. Biết ông vừa đi qua đó, tôi muốn lần tìm dấu vết của ông. Vậy cái ông học giả mù lòa kia, cái kẻ chỉ biết đọc sách kia, đã đến Biskra làm gì? Tôi chỉ quen kín miệng đối với những điều được người ta gửi gắm cho tôi; còn những gì tự mình dò biết được thì, tôi thú thật, tính tò mò của tôi là vô bờ. Thế nên tôi đã tìm kiếm, đào xới, hỏi han, ở bất cứ đâu có thể. Sự tò mò thiếu kín đáo ấy đã giúp ích cho tôi, vì nó làm nảy sinh trong tôi ý muốn gặp lại ông; vì thay cho nhà bác học theo lối mòn mà trước kia tôi nhìn thấy nơi ông, giờ đây tôi biết rằng mình phải thấy... thấy gì, điều ấy chính ông phải giải thích cho tôi.

Tôi cảm thấy mình đỏ mặt.

– Vậy ông đã biết được những gì về tôi, Ménalque?

– Ông muốn biết ư? Nhưng đừng sợ chứ! Ông biết bạn của ông và của tôi đủ rõ để hiểu rằng tôi không thể nói về ông với bất cứ ai. Ông đã thấy khóa giảng của ông được hiểu đến mức nào rồi đấy?

– Nhưng, tôi nói với một chút sốt ruột, cho đến giờ vẫn chưa có gì cho thấy tôi có thể nói với ông hơn với những người khác. Nào! ông đã biết gì về tôi?

– Trước hết, ông đã từng ốm nặng.

– Nhưng điều đó có gì...

– Ồ! thế đã là rất quan trọng rồi. Rồi người ta còn bảo tôi rằng ông thích đi ra ngoài một mình, không mang theo sách vở gì cả (và chính từ đó tôi bắt đầu thán phục), hoặc, khi không còn đi một mình nữa, thì lại thích có trẻ con đi cùng hơn là có vợ mình... Đừng đỏ mặt như thế, không thì tôi sẽ không kể tiếp đâu.

– Cứ kể đi, nhưng đừng nhìn tôi.

– Một trong bọn trẻ ấy, nếu tôi nhớ không nhầm thì tên nó là Moktir, đẹp hiếm có, mà trộm cắp và bịp bợm cũng chẳng ai bằng, xem chừng có khối điều muốn kể; tôi đã ve vãn, đã mua lấy lòng tin của nó, điều mà, ông biết đấy, đâu có dễ, vì tôi tin rằng ngay cả khi bảo mình không còn nói dối nữa thì nó vẫn còn nói dối... Những điều nó kể cho tôi về ông, xin ông nói xem có thật không.

Trong khi ấy, Ménalque đã đứng dậy và lôi từ ngăn kéo ra một chiếc hộp nhỏ mà anh mở nắp.

– Cái kéo này có phải của ông không? anh nói, vừa chìa cho tôi một vật méo mó, hoen gỉ, cùn đầu, vặn vẹo; tuy vậy tôi vẫn không mấy khó khăn để nhận ra đó là chiếc kéo nhỏ mà Moktir đã cuỗm mất của tôi.

– Phải; đó là cái kéo ấy, vốn là của vợ tôi.

– Nó quả quyết đã lấy được chúng lúc ông quay đầu đi, vào một hôm ông ở một mình với nó trong phòng; nhưng điều đáng chú ý không ở chỗ ấy; nó quả quyết rằng đúng vào lúc giấu chúng vào áo burnous, nó hiểu ra ông đang theo dõi nó trong gương và bắt gặp ánh phản chiếu của cái nhìn ông đang rình nó. Ông đã thấy vụ trộm mà không nói gì hết! Moktir đã tỏ ra rất ngạc nhiên trước sự im lặng ấy... tôi cũng vậy.

– Tôi cũng không kém phần ngạc nhiên trước điều ông vừa nói: sao kia! nó biết là tôi đã bắt gặp nó ư!

– Điều đó không quan trọng; anh đã định khôn hơn; nhưng ở trò ấy, lũ trẻ kia lúc nào cũng sẽ qua mặt chúng ta. Anh tưởng mình nắm được nó, mà chính nó lại nắm được anh... Điều đó không quan trọng. Hãy giải thích cho tôi sự im lặng của anh.

– Tôi muốn có người giải thích điều ấy cho tôi.

Chúng tôi im lặng một lúc. Ménalque đi đi lại lại trong phòng, đãng trí châm một điếu thuốc lá rồi lập tức ném nó đi.

– Ở đây có một “cảm quan”, anh lại nói, một “cảm quan”, như người ta vẫn nói, dường như anh còn thiếu mất, anh Michel thân mến.

– “Cảm quan luân lý”, có lẽ thế chăng, tôi nói, cố mỉm cười.

– Ồ! chỉ đơn giản là cảm quan về quyền sở hữu.

– Tôi không thấy chính anh có mấy cái đó.

– Tôi có nó ít đến nỗi ở đây, anh xem, không gì là của tôi; ngay cả, hay đúng hơn nhất là không, cái giường tôi nằm cũng vậy. Tôi ghê sợ sự nghỉ ngơi; sự sở hữu khuyến khích nó, và trong an toàn người ta ngủ quên; tôi yêu đời sống đủ để muốn sống trong tỉnh thức, nên ngay giữa lòng những giàu có của mình, tôi vẫn duy trì cái cảm thức về một thân phận bấp bênh, nhờ đó tôi kích thích, hay ít ra nâng cao, đời sống của mình. Tôi không thể nói là tôi yêu hiểm nguy, nhưng tôi yêu một đời sống đầy ngẫu biến, và muốn nó mỗi lúc đều đòi ở tôi tất cả can đảm, tất cả hạnh phúc và tất cả sức khỏe của tôi...

– Vậy anh trách tôi điều gì? tôi ngắt lời.

– Ôi! anh hiểu tôi sai quá, anh Michel thân mến; hiếm khi lắm tôi mới dại dột thử tuyên xưng tín điều của mình!... Nếu tôi ít bận tâm, Michel ạ, đến sự tán thành hay bất bình của người đời, thì đâu phải để rồi đến lượt mình đi tán thành hay bất bình; những chữ ấy, với tôi, chẳng có mấy nghĩa. Khi nãy tôi đã nói quá nhiều về bản thân; tưởng mình được hiểu khiến tôi bị cuốn đi... Tôi chỉ muốn nói với anh rằng, đối với một người không có cảm quan về quyền sở hữu, anh dường như lại sở hữu quá nhiều; đó là điều nghiêm trọng.

– Tôi sở hữu nhiều cái gì?

– Không gì cả, nếu anh nói với cái giọng ấy... Nhưng chẳng phải anh đang khai giảng khóa học của mình sao? Chẳng phải anh là chủ điền ở Normandy sao? Chẳng phải anh vừa dọn đến ở Passy, lại còn rất sang trọng, sao? Anh đã có vợ. Chẳng phải anh đang chờ một đứa con sao?

– Thế thì! tôi bực bội nói, điều ấy chỉ chứng tỏ là tôi đã biết tạo cho mình một đời sống “nguy hiểm” hơn, như anh nói, đời sống của anh.

– Phải, chỉ đơn giản thế thôi, Ménalque nhại lại một cách mỉa mai; rồi đột ngột quay người và chìa tay cho tôi:

– Nào, tạm biệt; thế là đủ cho tối nay, và chúng ta cũng chẳng nói gì hay hơn được đâu. Nhưng hẹn sớm gặp lại.

Một thời gian tôi không gặp lại anh.

Những công việc săn sóc mới, những mối bận tâm mới chiếm lấy tôi; một học giả người Ý báo cho tôi biết những tư liệu mới mà ông vừa phát hiện, và tôi nghiên cứu chúng rất lâu để dùng cho khóa giảng của mình. Cảm thấy bài giảng đầu tiên của mình bị hiểu lầm đã thúc nhọn trong tôi ý muốn soi sáng những bài sau theo một cách khác và mạnh mẽ hơn; vì thế tôi bị đưa tới chỗ biến thành học thuyết điều lúc đầu tôi chỉ dám nêu ra như một giả thuyết khéo léo. Biết bao kẻ ưa khẳng quyết nhờ cái may không được hiểu ngay từ nửa lời mà có sức mạnh! Còn tôi, thú thật, tôi không phân biệt nổi phần ngoan cố có lẽ đã xen vào nhu cầu khẳng định tự nhiên ấy. Điều mới mẻ tôi phải nói ra càng làm tôi thấy khẩn thiết hơn vì tôi càng khó nói ra, nhất là khó làm cho người khác nghe hiểu.

Nhưng than ôi, những câu chữ nhợt nhạt biết bao trước hành động! Há chẳng phải đời sống, cử chỉ nhỏ nhất của Ménalque cũng hùng hồn gấp nghìn lần khóa giảng của tôi sao? A! từ bấy giờ tôi hiểu rõ biết bao vì sao giáo huấn gần như hoàn toàn mang tính luân lý của các triết gia cổ đại lớn lao lại là bằng gương sống ngang với, và còn hơn cả, bằng lời nói!

Gần ba tuần sau cuộc gặp đầu tiên, tôi gặp lại Ménalque tại nhà tôi. Đó là gần cuối một buổi tụ họp quá đông. Để khỏi bị quấy rầy hằng ngày, Marceline và tôi thích để rộng cửa vào tối thứ năm; nhờ thế những ngày khác chúng tôi đóng cửa cũng dễ hơn. Mỗi tối thứ năm, những người tự xưng là bạn chúng tôi lại đến; những phòng khách rộng đẹp cho phép chúng tôi tiếp đông người, và cuộc hội họp thường kéo dài rất khuya. Tôi nghĩ điều lôi cuốn họ trước hết là vẻ duyên dáng tinh tế của Marceline và thú chuyện trò với nhau, vì phần tôi, ngay từ buổi tối thứ hai như thế, tôi đã chẳng còn thấy gì đáng nghe, chẳng còn gì đáng nói, và che giấu nỗi chán ngán của mình rất vụng. Tôi lang thang từ phòng hút thuốc sang phòng khách, từ tiền sảnh đến thư viện, đôi khi bị giữ lại bởi một câu nói, quan sát ít mà nhìn như ngẫu nhiên.

Antoine, Étienne và Godefroy đang bàn cãi về cuộc biểu quyết mới nhất ở Viện, nằm ườn trên những ghế bành thanh nhã của vợ tôi. Hubert và Louis cầm nắm bất cẩn, làm nhàu những bản khắc tuyệt đẹp trong bộ sưu tập của cha tôi. Trong phòng hút thuốc, để nghe Léonard rõ hơn, Mathias đã đặt điếu xì gà đang cháy lên chiếc bàn gỗ hồng sắc. Một ly curaçao đổ loang trên thảm. Đôi chân lấm bùn của Albert, trơ trẽn duỗi dài trên một chiếc đi-văng, làm bẩn tấm vải bọc. Và bụi mà người ta hít phải là thứ bụi do sự hao mòn khủng khiếp của đồ vật tạo nên... Tôi bỗng muốn dữ dội dùng vai xô hết thảy khách khứa ra ngoài. Đồ đạc, vải vóc, tranh in, chỉ một vết bẩn đầu tiên là mất hết giá trị đối với tôi; những vật đã lấm bẩn, những vật như mắc bệnh và dường như đã bị cái chết đánh dấu. Tôi muốn bảo vệ mọi thứ, khóa kín mọi thứ cho riêng mình. Ménalque thật sung sướng biết bao, tôi nghĩ, vì anh chẳng có gì! Còn tôi, chính vì muốn giữ lại mà tôi đau khổ. Rốt cuộc tất cả những thứ ấy có nghĩa gì với tôi?... – Trong một phòng khách nhỏ ít sáng hơn, ngăn bởi một tấm kính không tráng thủy, Marceline chỉ tiếp vài người thân; nàng nửa nằm trên đống gối; nàng xanh xao đến kinh hãi, và trông mệt đến nỗi tôi bỗng phát sợ, tự hứa đây sẽ là buổi tiếp khách cuối cùng. Đã khuya lắm. Tôi toan xem giờ trên đồng hồ thì chợt cảm thấy trong túi áo gilê chiếc kéo nhỏ của Moktir.

– Thế tại sao nó đã ăn cắp chúng, nếu lập tức chỉ để làm hỏng, làm nát chúng đi? — Đúng lúc ấy, có người vỗ lên vai tôi; tôi quay ngoắt lại: là Ménalque.

Anh là một trong gần như số ít còn mặc lễ phục. Anh vừa tới. Anh xin tôi giới thiệu với vợ tôi; hẳn nhiên tự mình tôi đã chẳng làm thế. Ménalque thanh lịch, gần như đẹp trai; bộ ria rất lớn, rủ xuống, đã điểm bạc, cắt ngang khuôn mặt hải tặc của anh; ngọn lửa lạnh trong ánh mắt cho thấy ở anh nhiều can đảm và quyết đoán hơn là lòng tốt. Vừa đứng trước Marceline, tôi đã hiểu ngay là anh không làm nàng có cảm tình. Sau khi anh cùng nàng trao đổi mấy câu xã giao tầm thường, tôi kéo anh vào phòng hút thuốc.

Ngay sáng hôm ấy tôi vừa nghe tin về sứ mạng mới mà Bộ Thuộc địa giao cho anh; nhiều tờ báo, nhân dịp ấy nhắc lại cuộc đời phiêu lưu của anh, dường như quên mất những lời nhục mạ hèn hạ hôm qua và không tìm đủ chữ để ca tụng anh. Họ đua nhau phóng đại những công lao mà, đối với đất nước, đối với toàn thể nhân loại, những phát hiện lạ lùng trong các cuộc thám hiểm gần đây của anh đã đem lại, cứ như thể anh chẳng bao giờ làm gì ngoài một mục đích nhân đạo: và người ta ca ngợi ở anh những đức hy sinh, tận tụy, táo bạo, cứ như thể anh có thể tìm kiếm phần thưởng nơi những lời khen ấy.

Tôi vừa bắt đầu chúc mừng anh thì ngay những lời đầu tiên đã bị anh ngắt đi:

– Sao kia! cả anh nữa ư, anh Michel thân mến; ít ra ban đầu anh đã không sỉ nhục tôi, anh nói. Cứ để cho báo chí những điều ngớ ngẩn ấy. Hôm nay họ có vẻ ngạc nhiên rằng một người có nếp sống tai tiếng mà vẫn còn có thể có vài đức hạnh. Tôi không biết tự phân chia trong mình theo những phân biệt và dè dặt mà họ toan dựng lên, và chỉ tồn tại như một toàn thể. Tôi không mưu cầu gì ngoài cái tự nhiên; và với mỗi hành động, niềm vui tôi cảm thấy nơi đó là dấu hiệu cho tôi biết rằng tôi phải làm nó.

– Điều ấy có thể đưa anh đi rất xa, tôi bảo.

– Tôi trông cậy đúng vào thế, Ménalque đáp. A! giá những kẻ quanh ta đều có thể tự thuyết phục mình điều ấy. Nhưng phần lớn bọn họ nghĩ rằng chỉ nhờ cưỡng ép mới rút ở chính mình ra được chút gì tốt đẹp; họ chỉ vừa lòng với mình khi đã bị làm méo đi. Ai nấy lại muốn giống chính mình ít nhất. Mỗi người tự đặt ra cho mình một khuôn mẫu, rồi bắt chước nó; mà ngay cả khuôn mẫu ấy họ cũng không tự chọn; họ nhận lấy một khuôn mẫu đã được chọn sẵn. Thế mà, tôi tin, trong con người còn có những điều khác để đọc. Người ta không dám. Người ta không dám lật trang. – Những quy luật bắt chước; tôi gọi chúng là: những quy luật của nỗi sợ. Người ta sợ thấy mình đơn độc: và vì thế người ta chẳng tìm thấy mình chút nào cả. Cái chứng sợ cô độc về luân lý ấy làm tôi ghê tởm; đó là sự hèn nhát tệ hại nhất. Thế mà bao giờ người ta cũng chỉ sáng tạo trong cô độc. Nhưng ở đây ai tìm cách sáng tạo? Điều người ta cảm thấy nơi mình là khác biệt, chính là điều hiếm có mình sở hữu, điều làm nên giá trị của mỗi người – mà đó lại chính là cái người ta cố sức tiêu diệt. Người ta bắt chước. Thế mà lại tự nhận là yêu đời sống.

Tôi để Ménalque nói; điều anh nói chính là điều một tháng trước đây chính tôi đã nói với Marceline; vậy lẽ ra tôi phải tán đồng anh. Thế mà tại sao, bởi sự hèn nhát nào, tôi lại ngắt lời anh và nói, mô phỏng Marceline, nhắc lại từng chữ câu nàng đã dùng để ngắt lời tôi khi ấy: – Dẫu sao, anh Ménalque thân mến, anh cũng không thể đòi mỗi người phải khác với tất cả những người khác... Ménalque bỗng im lặng, nhìn tôi một cách kỳ lạ, rồi đúng lúc Eusèbe bước lại chào từ biệt tôi, anh thẳng thừng quay lưng bỏ đi chuyện trò với Hector.

Vừa nói xong câu ấy, chính tôi đã thấy nó ngu xuẩn; và nhất là tôi đau khổ vì nó có thể khiến Ménalque tưởng rằng lời anh làm tôi cảm thấy bị công kích. – Đã khuya; khách tôi ra về. Khi phòng khách gần như trống hẳn, Ménalque trở lại bên tôi:

– Tôi không thể rời anh thế này, anh bảo tôi. Hẳn là tôi đã hiểu lầm lời anh. Ít ra hãy để tôi còn được hy vọng thế...

– Không, tôi đáp. Anh không hiểu lầm chúng đâu... nhưng bản thân chúng chẳng có nghĩa gì cả; và vừa nói ra xong tôi đã khổ sở vì sự ngu xuẩn của chúng, – nhất là vì cảm thấy chúng sẽ xếp tôi, trong mắt anh, đúng vào hạng người mà lúc nãy anh vừa xét xử, và xin quả quyết với anh, tôi ghê tởm họ cũng như anh. Tôi ghét mọi hạng người nguyên tắc.

– Họ là thứ đáng ghét nhất trên đời, Ménalque vừa cười vừa đáp. Ở họ không thể chờ đợi bất cứ dạng chân thành nào; bởi họ chẳng bao giờ làm gì ngoài điều những nguyên tắc của họ đã sắc định là họ phải làm, bằng không họ lại xem điều mình làm là làm quấy. Chỉ mới thoáng ngờ anh có thể là một trong số họ, tôi đã thấy lời nói lạnh cứng trên môi mình. Nỗi buồn lập tức chụp lấy tôi đã cho tôi biết tình cảm của tôi đối với anh mãnh liệt đến đâu; tôi chỉ ước rằng mình đã lầm – không phải trong tình cảm ấy mà trong sự phán đoán tôi đã đưa ra.

– Quả vậy, sự phán đoán của anh là sai.

– A! chẳng phải thế sao, anh nói và bất thần nắm lấy tay tôi. Nghe đây; chẳng bao lâu nữa tôi phải lên đường, nhưng tôi còn muốn gặp anh một lần nữa. Chuyến đi này của tôi sẽ dài hơn và phiêu hiểm hơn mọi chuyến trước; tôi không biết bao giờ mới trở về. Mười lăm ngày nữa tôi phải đi; ở đây, không ai biết ngày lên đường của tôi gần đến thế; tôi báo riêng cho anh. Tôi đi lúc rạng đông. Đêm trước mỗi cuộc lên đường, đối với tôi, lần nào cũng là một đêm lo âu ghê gớm. Hãy chứng tỏ cho tôi thấy anh không phải hạng người nguyên tắc; tôi có thể tin rằng anh sẽ vui lòng ở bên tôi đêm cuối ấy chăng?

– Nhưng trước đó chúng ta còn gặp lại nhau mà, tôi nói, hơi ngạc nhiên.

– Không. Trong mười lăm ngày ấy, tôi sẽ không còn là người của ai nữa; thậm chí cũng sẽ không ở Paris. Ngày mai tôi đi Budapest; sáu ngày nữa tôi phải có mặt ở Rome. Ở đây, ở đó, có những người bạn tôi muốn ôm từ biệt trước khi rời châu Âu. Một người khác đang đợi tôi ở Madrid...

– Được, tôi sẽ cùng anh qua đêm canh thức ấy.

– Và chúng ta sẽ uống rượu Chiraz, Ménalque nói.

Ít ngày sau buổi tối ấy, Marceline bắt đầu thấy yếu hơn. Tôi đã nói nàng thường mệt; nhưng nàng tránh than phiền, và vì tôi quy sự mệt mỏi ấy cho tình trạng của nàng, nên tôi cho là rất tự nhiên và tránh tự làm mình lo ngại. Một ông bác sĩ già khá ngu xuẩn, hay ít ra được tin tức chưa đầy đủ, thoạt đầu đã trấn an chúng tôi quá mức. Tuy nhiên, những rối loạn mới, kèm theo sốt, khiến tôi quyết định mời bác sĩ Tr., lúc bấy giờ được xem là vị chuyên gia sáng suốt nhất. Ông ngạc nhiên vì tôi đã không mời ông sớm hơn, và chỉ định một chế độ nghiêm ngặt mà lẽ ra từ khá lâu rồi nàng đã phải theo. Vì một thứ can đảm hết sức thiếu thận trọng, Marceline cho đến ngày ấy đã làm việc quá sức; cho đến kỳ sinh nở, người ta chờ vào khoảng cuối tháng Giêng, nàng phải nằm ghế dài. Hẳn có đôi phần lo sợ và đau đớn hơn nàng muốn thú nhận, Marceline rất dịu dàng tuân theo cả những chỉ dẫn phiền toái nhất. Tuy vậy, một cơn phản kháng ngắn ngủi đã khuấy động nàng khi Tr. kê cho nàng dùng ký ninh với những liều lượng mà nàng biết đứa con có thể phải chịu hại. Trong ba ngày, nàng nhất quyết không chịu uống; rồi vì cơn sốt tăng lên, ngay cả điều đó nàng cũng buộc phải khuất phục; nhưng lần này là với một nỗi buồn sâu sắc và như một sự từ bỏ đau đớn đối với tương lai; một thứ cam phận có tính tôn giáo đã bẻ gãy ý chí vốn nâng đỡ nàng cho đến lúc ấy, đến nỗi tình trạng của nàng đột ngột xấu đi trong mấy ngày tiếp sau.

Tôi lại càng chăm nom nàng hơn và hết sức trấn an nàng, dùng chính những lời của Tr., người không thấy trong tình trạng ấy có gì thật nghiêm trọng; nhưng sự dữ dội trong nỗi sợ hãi của nàng rốt cuộc lại khiến chính tôi hoảng hốt. A! hạnh phúc của chúng tôi khi ấy đã nguy hiểm biết bao khi dựa cả vào hy vọng! Mà lại là một tương lai bất định đến thế! Còn tôi, kẻ thoạt tiên chỉ tìm thấy thú vị nơi quá khứ, hương vị bất chợt của hiện tại đã từng có ngày làm tôi ngây ngất, tôi nghĩ, nhưng tương lai còn làm tiêu tan vẻ nhiệm màu của giờ phút hiện tại hơn cả hiện tại từng làm tiêu tan vẻ nhiệm màu của quá khứ; và từ đêm ở Sorrente của chúng tôi, tất cả tình yêu của tôi, tất cả đời sống của tôi đã phóng cả về phía tương lai.

Tuy nhiên, cái tối tôi đã hứa với Ménalque cũng tới; và mặc lòng nặng nề vì phải bỏ Marceline suốt một đêm đông, tôi cố hết sức khiến nàng chấp nhận tính trang trọng của cuộc hẹn, sự hệ trọng của lời hứa tôi. Tối ấy Marceline có khá hơn đôi chút, vậy mà tôi vẫn bất an; một người hộ lý thay tôi ở bên nàng. Nhưng vừa ra đến phố, nỗi bất an của tôi bỗng mạnh lên; tôi gạt nó đi, vật lộn với nó, nổi giận với chính mình vì không tự giải thoát được tốt hơn. Dần dần tôi đi tới một trạng thái căng tràn quá mức, một nỗi hưng phấn kỳ lạ, vừa rất khác vừa rất gần nỗi lo âu đau đớn đã sinh ra nó, nhưng còn gần với hạnh phúc hơn nữa. Đã khuya; tôi bước những bước dài; tuyết bắt đầu rơi dày; tôi sung sướng được hít thở sau cùng một bầu không khí sắc lạnh hơn, được chống chọi với giá rét, sung sướng trước gió, trước đêm, trước tuyết; tôi nếm tận sinh lực của mình.

Ménalque, nghe tiếng tôi đến, hiện ra trên chiếu nghỉ cầu thang. Anh ta đợi tôi với vẻ sốt ruột. Mặt anh tái nhợt và trông hơi căng cứng. Anh cởi áo choàng cho tôi, rồi bắt tôi thay đôi ủng ướt bằng đôi dép Ba Tư mềm. Trên một chiếc bàn nhỏ kê gần lò sưởi có đặt bánh ngọt. Hai ngọn đèn soi căn phòng, nhưng không sáng bằng ánh lửa trong lò. Vừa mới gặp, Ménalque đã hỏi thăm sức khỏe Marceline. Để giản tiện, tôi đáp rằng nàng rất khỏe.

– Con anh, chẳng bao lâu nữa sẽ ra đời chứ? anh lại hỏi.

– Hai tháng nữa.

Ménalque cúi mình về phía lửa, như muốn giấu mặt. Anh im lặng. Anh im lâu đến nỗi cuối cùng tôi đâm lúng túng, cũng không biết nói gì với anh nữa. Tôi đứng dậy, đi mấy bước, rồi đến gần anh, đặt tay lên vai anh. Bấy giờ, như thể tiếp tục dòng suy nghĩ của mình:

– Phải chọn lấy, anh lẩm bẩm. Điều quan trọng là phải biết mình muốn gì...

– Ủa! anh không muốn đi nữa sao? tôi hỏi, không rõ phải hiểu lời anh theo nghĩa nào.

– Có vẻ thế.

– Vậy anh còn ngần ngại sao?

– Ngần ngại để làm gì? Anh, đã có vợ có con, thì cứ ở lại... Trong nghìn hình thức của đời sống, mỗi người chỉ có thể biết một mà thôi. Thèm muốn hạnh phúc của kẻ khác là điên rồ; ta sẽ chẳng biết dùng nó vào đâu. Hạnh phúc không phải thứ làm sẵn, mà phải cắt may cho vừa tầm người. Tôi lên đường ngày mai; tôi biết: tôi đã cố cắt may thứ hạnh phúc ấy theo đúng tầm mình... Anh cứ giữ lấy hạnh phúc yên ổn của mái nhà...

– Chính tôi cũng đã cắt may hạnh phúc của mình theo đúng tầm mình, tôi kêu lên. Nhưng tôi đã lớn lên. Bây giờ hạnh phúc ấy bó chặt lấy tôi. Có lúc, tôi gần như nghẹt thở vì nó!...

– Chà! rồi anh sẽ quen thôi! Ménalque nói; rồi anh đứng sững trước mặt tôi, dõi mắt sâu vào mắt tôi, và vì tôi không tìm được gì để đáp, anh mỉm cười hơi buồn: – Người ta tưởng mình sở hữu, mà chính mình lại bị sở hữu, anh nói tiếp. Rót cho mình một chén Chiraz đi, Michel thân mến; anh sẽ chẳng mấy khi được nếm thứ ấy đâu; và ăn những miếng bánh hồng này, người Ba Tư vẫn dùng với rượu như thế. Tối nay tôi muốn uống với anh, quên rằng ngày mai tôi đi, và chuyện trò như thể đêm này còn dài... Anh có biết điều gì đã khiến thơ ca ngày nay, và nhất là triết học, thành ra những văn tự chết không? Chính là vì chúng đã tách khỏi đời sống. Người Hy Lạp thì lý tưởng hóa ngay trong lòng đời sống; thành thử đời sống của nghệ sĩ tự nó đã là một sự thực hiện thi ca; đời sống của triết gia là sự đem triết học của mình vào hành động; thành thử nữa, vì hòa lẫn với đời sống, thay vì ngoảnh mặt với nhau, triết học nuôi dưỡng thi ca, thi ca biểu hiện triết học, nên sức thuyết phục của chúng thật kỳ diệu. Ngày nay, cái đẹp không còn hành động nữa; hành động không còn bận tâm đến việc phải đẹp; còn minh triết thì vận hành riêng một ngả.

– Tại sao, tôi nói, anh, người sống trọn minh triết của mình, lại không viết hồi ký? Hay chỉ giản dị thôi, tôi nói tiếp khi thấy anh mỉm cười, những kỷ niệm về các chuyến đi của anh?

– Bởi vì tôi không muốn hồi tưởng, anh đáp. Làm thế, tôi sẽ ngỡ như mình ngăn tương lai đến và để quá khứ lấn sang. Chính từ sự quên sạch ngày hôm qua mà tôi tạo ra cái mới mẻ của mỗi giờ. Chưa bao giờ việc đã từng hạnh phúc lại đủ cho tôi. Tôi không tin vào những gì đã chết, và lẫn lộn giữa không còn nữa với chưa từng có bao giờ.

Cuối cùng tôi bực bội vì những lời ấy, chúng vượt trước tư tưởng tôi quá xa; tôi muốn kéo nó lùi lại, chặn nó đứng lại; nhưng tôi vô ích tìm cách phản bác, mà hơn nữa còn giận chính mình hơn là giận Ménalque. Vì thế tôi cứ im lặng. Còn anh, lúc thì đi đi lại lại như một con thú bị nhốt, lúc thì cúi về phía lửa, lúc lại lặng im rất lâu, rồi bất thần nói:

– Giá như bộ óc tầm thường của chúng ta còn biết ướp giữ ký ức cho khéo! Nhưng những thứ ấy giữ không được lâu. Những cái tinh tế nhất thì phôi phai, những cái khoái lạc nhất thì thối rữa; những cái ngon ngọt nhất rồi về sau lại nguy hiểm nhất. Điều mà người ta ăn năn về sau, thoạt đầu bao giờ cũng thật ngọt ngào.

Lại một quãng im lặng dài; rồi anh nói tiếp:

– Luyến tiếc, cắn rứt, ăn năn, ấy là những niềm vui thuở trước nhìn từ phía sau. Tôi không thích ngoái nhìn lại, và bỏ quá khứ mình ở xa phía sau, như con chim, để cất cánh, rời bỏ cái bóng của nó. A! Michel, mọi niềm vui bao giờ cũng đợi ta, nhưng nó muốn thấy chiếc giường trống, muốn là kẻ duy nhất, và muốn người ta đến với nó như một kẻ góa vợ. A! Michel! mọi niềm vui đều giống thứ manna nơi sa mạc kia, từ ngày này sang ngày khác là hư đi; nó giống nước ở nguồn Amélès mà, Plato kể lại, người ta không thể giữ trong bất cứ chiếc bình nào... Hãy để mỗi khoảnh khắc mang đi hết thảy những gì nó đã mang đến.

Ménalque còn nói rất lâu; tôi không thể chép lại ở đây tất cả những lời anh nói; tuy vậy, nhiều câu đã khắc sâu vào tôi, càng sâu hơn nữa bởi tôi càng muốn quên chúng cho chóng; không phải vì chúng dạy tôi điều gì thật mới lạ, mà vì chúng bỗng nhiên lột trần tư tưởng của tôi; một tư tưởng mà tôi đã phủ lên biết bao lớp màn, đến nỗi gần như đã có thể mong nó bị nghẹt đi. Canh khuya trôi qua như thế.

Sáng hôm sau, sau khi tiễn Ménalque lên chuyến tàu mang anh đi, tôi một mình trở về bên Marceline, lòng đầy một nỗi buồn ghê gớm, đầy căm ghét đối với niềm vui trơ tráo của Ménalque; tôi muốn niềm vui ấy là giả tạo; tôi cố phủ nhận nó. Tôi bực tức vì đã không biết đáp lại anh điều gì: tôi bực tức vì đã buột miệng nói vài lời có thể khiến anh ngờ vực hạnh phúc của tôi, tình yêu của tôi. Và tôi bấu víu lấy cái hạnh phúc đáng ngờ của mình, cái “hạnh phúc yên ổn”, như Ménalque nói; than ôi! tôi không sao xua được nỗi bất an ra khỏi đó, nhưng vẫn khăng khăng cho rằng chính nỗi bất an ấy nuôi dưỡng tình yêu. Tôi hướng lòng về tương lai, nơi tôi đã thấy đứa con bé nhỏ mỉm cười với tôi; vì nó mà luân lý của tôi lại thành hình và thêm vững. Quả quyết, tôi bước đi vững vàng.

Than ôi! khi tôi trở về sáng hôm ấy, một sự xáo trộn khác thường đã đập vào mắt tôi ngay từ căn phòng đầu tiên. Người y tá trực bước đến gặp tôi và báo cho tôi, bằng những lời giảm nhẹ, rằng trong đêm những cơn lo âu khủng khiếp đã chộp lấy vợ tôi, rồi đến những cơn đau, tuy nàng vẫn chưa nghĩ mình đã đến kỳ sinh nở; rằng thấy trong người rất xấu, nàng đã sai người đi mời bác sĩ, và vị ấy, dù đã vội vã tới trong đêm, vẫn chưa rời người bệnh; rồi, có lẽ thấy mặt tôi tái nhợt, chị ta muốn trấn an tôi, bảo rằng mọi sự đã khá hơn nhiều rồi, rằng... Tôi lao thẳng về phía phòng Marceline.

Căn phòng rất ít ánh sáng; và thoạt đầu tôi chỉ nhìn thấy bác sĩ, ông đưa tay ra hiệu buộc tôi im lặng; rồi, trong bóng tối, một người mà tôi không quen. Lo âu, không gây tiếng động, tôi tiến lại gần giường. Marceline nhắm mắt; nàng tái nhợt đến ghê gớm, thoạt đầu tôi tưởng nàng đã chết; nhưng không mở mắt, nàng quay đầu về phía tôi. Trong một góc tối của phòng, người lạ kia đang xếp dọn, giấu đi nhiều vật; tôi thấy những dụng cụ sáng loáng, những cuộn bông; tôi thấy, hay tưởng mình thấy, một tấm vải lấm máu... Tôi cảm thấy mình lảo đảo. Tôi gần như đổ gục vào bác sĩ; ông đỡ lấy tôi. Tôi hiểu; tôi sợ phải hiểu.

– Đứa bé? tôi hỏi, lo âu.

Ông buồn bã nhún vai. Không còn biết mình đang làm gì nữa, tôi nhào xuống bên giường, nức nở. Ôi, cái tương lai bất thần ấy! Mặt đất bỗng sụp xuống dưới chân tôi; trước mắt tôi giờ đây chỉ còn một hố trống, và toàn thân tôi vấp ngã vào đó.

Từ đây, mọi sự nhập nhòe trong một ký ức tối tăm. Tuy vậy, thoạt đầu Marceline có vẻ khá lên rất nhanh. Kỳ nghỉ đầu năm cho tôi đôi chút thong thả, nên tôi có thể ở bên nàng gần như suốt mọi giờ trong ngày. Bên nàng, tôi đọc sách, viết, hoặc khe khẽ đọc cho nàng nghe. Tôi không bao giờ ra ngoài mà không mang về cho nàng ít hoa. Tôi nhớ những chăm sóc dịu dàng nàng đã dành cho tôi khi tôi đau ốm, và nay tôi vây quanh nàng bằng một tình yêu dạt dào đến nỗi đôi khi nàng mỉm cười, như được hạnh phúc. Không một lời nào được trao đổi về tai nạn đau buồn đã làm tổn thương những hy vọng của chúng tôi...

Rồi chứng viêm tĩnh mạch bộc phát; và khi nó bắt đầu thuyên giảm, một cơn tắc mạch bỗng đặt Marceline giữa ranh giới sống chết. Đó là ban đêm; tôi còn thấy lại mình cúi trên nàng, cảm thấy cùng với tim nàng, tim tôi ngừng lại hay sống dậy. Biết bao đêm tôi đã thức canh nàng như thế! mắt chăm chăm nhìn nàng, hy vọng nhờ sức yêu mà truyền sang đời nàng một chút sinh lực của tôi. Và nếu tôi không còn nghĩ nhiều đến hạnh phúc nữa, thì niềm vui buồn bã duy nhất của tôi là đôi khi được thấy Marceline mỉm cười.

Việc giảng dạy của tôi đã bắt đầu lại. Tôi lấy đâu ra sức để soạn bài, để giảng?… Ký ức tôi mờ đi, và tôi không biết những tuần lễ ấy đã nối tiếp nhau ra sao. Tuy vậy, có một việc nhỏ tôi muốn kể lại với các bạn:

Ấy là một buổi sáng, không lâu sau cơn tắc mạch; tôi ở cạnh Marceline; nàng có vẻ khá hơn đôi chút, nhưng nàng vẫn còn bị buộc phải nằm bất động tuyệt đối; đến hai cánh tay nàng cũng không được cử động. Tôi cúi xuống cho nàng uống, và khi nàng đã uống xong, trong lúc tôi դեռ còn cúi sát bên nàng, bằng một giọng mà nỗi bối rối làm cho càng yếu đi nữa, nàng xin tôi mở một chiếc hộp nhỏ mà ánh mắt nàng chỉ cho; nó ở đó, trên bàn; tôi mở ra; trong hộp đầy ruy băng, vải vụn, những món nữ trang nhỏ không đáng giá; nàng muốn gì? Tôi mang chiếc hộp lại gần giường; tôi lấy ra từng món một. Có phải cái này không? cái kia không?... không; vẫn chưa phải; và tôi cảm thấy nàng bắt đầu hơi lo lắng. A! Marceline! em muốn tràng hạt nhỏ này phải không! Nàng gượng cười.

– Vậy là em sợ anh không săn sóc em đủ sao?

– Ôi, anh! nàng thì thầm. Và tôi nhớ lại cuộc trò chuyện của chúng tôi ở Biskra, lời trách khẽ đầy sợ sệt của nàng khi nghe tôi gạt đi điều nàng gọi là “sự trợ giúp của Chúa”. Tôi đáp lại, hơi gắt:

– Anh đã tự mình khỏi đấy thôi.

– Em đã cầu nguyện cho anh biết bao, nàng đáp. Nàng nói thế dịu dàng, buồn bã; tôi cảm thấy trong ánh mắt nàng một nỗi lo âu van nài... Tôi cầm lấy tràng hạt và lồng nó vào bàn tay yếu ớt của nàng đang đặt trên tấm khăn trải giường, sát bên mình. Một cái nhìn chan chứa lệ và yêu thương ban thưởng cho tôi, nhưng tôi không thể đáp lại; tôi còn nấn ná thêm một lát, không biết phải làm gì, thấy lúng túng; cuối cùng, không chịu nổi nữa:

– Tạm biệt em, tôi nói, rồi rời căn phòng, lòng thù nghịch, như thể người ta vừa xua đuổi tôi ra khỏi đó.

Tuy nhiên, cơn tắc mạch đã gây ra những rối loạn khá nghiêm trọng; cục máu đông khủng khiếp mà tim đã tống ra làm phổi mệt lả và sung huyết, bít lấp đường thở, khiến hơi thở trở nên khó nhọc và rít lên. Tôi nghĩ rằng sẽ không còn thấy nàng bình phục nữa. Bệnh tật đã đi vào trong Marceline, từ nay ở hẳn trong nàng, ghi dấu nàng, làm hoen ố nàng. Nàng đã là một cái gì bị tàn phá.