Kẻ vô luân — Chương 12

Chương 13 / 14 · Bài review Kẻ vô luân

Mùa trở nên dịu. Vừa hết khóa giảng, tôi đưa Marceline về La Morinière, vì Bác sĩ khẳng định mọi nguy cấp trước mắt đã qua, và muốn cho nàng hoàn toàn bình phục thì không gì cần hơn một bầu không khí tốt lành hơn. Chính tôi cũng hết sức cần nghỉ ngơi. Những đêm thức mà tôi đã cố tự mình gánh lấy hầu gần trọn, nỗi lo âu kéo dài ấy, và nhất là cái thứ cảm thông thể xác khiến tôi, trong cơn tắc mạch của Marceline, cảm thấy ngay trong mình những cơn giật ghê gớm của trái tim nàng, tất cả đã làm tôi kiệt sức như thể chính tôi mới là người đau ốm.

Tôi vốn muốn đưa Marceline lên núi hơn; nhưng nàng tỏ ý tha thiết nhất muốn trở về Normandy, quả quyết rằng chẳng nơi khí hậu nào hợp với nàng hơn, và nhắc tôi rằng tôi còn phải xem lại hai trại ấy, là việc mà tôi đã nhận lấy phần nào có vẻ liều lĩnh. Nàng thuyết phục tôi rằng tôi đã tự buộc mình vào trách nhiệm ấy, và tôi có bổn phận phải làm cho thành. Chúng tôi vừa tới nơi, nàng đã thúc tôi đi khắp điền địa... Tôi không biết trong sự nài ép thân ái ấy có lẫn bao nhiêu đức hy sinh chăng; nàng sợ rằng nếu không, tôi tưởng mình bị giữ chân bên nàng vì những chăm nom nàng còn cần đến, sẽ không cảm thấy tự do của mình đủ rộng... Dẫu vậy Marceline đã khá hơn; má nàng đã hồng trở lại; và không gì làm tôi yên hơn bằng thấy nụ cười nàng bớt buồn; tôi có thể để nàng ở lại mà không lo.

Vậy là tôi lại ra các trại. Người ta đang làm những mẻ cỏ khô đầu tiên. Không khí đầy phấn hoa, đầy hương cỏ, thoạt tiên làm tôi choáng như một thứ rượu nồng. Tôi tưởng từ năm ngoái đến nay mình chưa từng thở, hay chỉ thở bụi, đến nỗi bầu khí ấy ngấm vào tôi một cách ngọt lịm. Từ bờ dốc nơi tôi ngồi xuống, ngây ngất như người say, tôi nhìn bao quát La Morinière; tôi thấy những mái xanh của nó, mặt nước đứng im trong các con hào; chung quanh là những cánh đồng đã gặt cỏ, những cánh khác còn dày cỏ; xa nữa là đường cong con suối; xa nữa là những cánh rừng mà mùa thu năm ngoái tôi đã cưỡi ngựa dạo qua với Charles. Những tiếng hát tôi nghe đã một lúc bấy giờ tiến lại gần; ấy là đám cào cỏ đang trở về, cái chĩa hay cái cào vác trên vai. Những người làm công ấy, mà tôi nhận ra hầu gần hết, khiến tôi khó chịu nhớ lại rằng tôi không có mặt ở đây như một lữ khách say mê phong cảnh, mà như một ông chủ. Tôi bước lại gần họ, mỉm cười, chuyện trò, hỏi han từng người khá lâu. Sáng ấy Bocage đã có thể cho tôi biết tình trạng hoa màu; lại nữa, bằng một thư từ đều đặn, ông vẫn không ngừng báo cho tôi hay những sự việc nhỏ nhặt nhất ở các trại. Việc canh tác không đến nỗi tệ, còn khá hơn nhiều so với điều Bocage lúc đầu khiến tôi e ngại. Tuy vậy người ta vẫn đợi tôi ở vài quyết định quan trọng, và trong ít ngày, tôi điều khiển mọi việc hết sức mình, không vui thú gì, nhưng vin vào cái vẻ công việc ấy mà níu giữ cuộc đời tơi tả của tôi.

Khi Marceline đã đủ khỏe để tiếp khách, vài người bạn đến ở với chúng tôi. Sự hiện diện thân tình và không ồn ào của họ làm Marceline vừa ý, nhưng cũng khiến tôi càng thích rời nhà hơn. Tôi chuộng chuyện trò với người nhà trại hơn; với họ, dường như tôi có cái gì đáng học hơn nữa, không phải là tôi hỏi họ nhiều đâu, không, và tôi hầu như không biết diễn sao cho đúng cái niềm vui tôi cảm thấy khi ở gần họ: tôi tưởng như mình cảm được xuyên qua họ; và trong khi câu chuyện của đám bạn chúng tôi, trước cả lúc họ mở miệng, đối với tôi đã hoàn toàn quen thuộc, thì chỉ riêng cái nhìn thấy những kẻ lam lũ ấy cũng khiến tôi kinh ngạc mãi không thôi.

Nếu lúc đầu người ta hẳn sẽ bảo rằng họ đem vào lời đáp cho tôi tất cả cái vẻ kẻ cả mà tôi tránh không đặt vào khi hỏi họ, thì chẳng bao lâu họ đã chịu đựng sự có mặt của tôi dễ dàng hơn. Tôi ngày một tiếp xúc nhiều hơn với họ. Chưa bằng lòng chỉ theo họ lúc làm việc, tôi còn muốn thấy họ lúc vui chơi; những ý nghĩ thô lậu của họ chẳng mấy làm tôi bận tâm, nhưng tôi dự những bữa ăn của họ, nghe những câu đùa cợt của họ, dõi theo gần như trìu mến những thú vui của họ. Ấy là, trong một thứ cảm thông tương tự như thứ đã khiến tim tôi giật theo những cơn giật của tim Marceline, một tiếng vang tức thì của mỗi cảm giác nơi kẻ khác, không mơ hồ mà chính xác, sắc nhọn. Tôi thấy trong cánh tay mình sự ê ẩm của người thợ gặt; tôi mệt vì nỗi mệt của anh ta; ngụm rượu táo anh ta uống làm cơn khát của tôi dịu xuống; tôi cảm thấy nó trôi trong cổ họng anh ta; một hôm, khi mài lưỡi hái, một người cắt sâu vào ngón cái: tôi cảm thấy nỗi đau ấy đến tận xương.

Thành ra tôi có cảm tưởng thị giác không còn là cái duy nhất chỉ cho tôi biết phong cảnh, mà tôi còn cảm được nó bằng một thứ tiếp xúc nào đó, được thứ cảm thông kỳ dị kia làm cho trở nên vô hạn.

Sự có mặt của Bocage làm tôi vướng víu; mỗi khi ông đến, tôi lại phải đóng vai ông chủ, và tôi không còn thấy chút hứng thú nào trong đó nữa. Tôi vẫn ra lệnh, phải thế, và vẫn điều khiển người làm theo cách của tôi; nhưng tôi აღარ cưỡi ngựa nữa, vì sợ lấn át họ quá. Nhưng, bất chấp những dè dặt tôi giữ để họ không còn khổ sở vì sự có mặt của tôi và không còn phải gò mình trước mặt tôi, tôi vẫn đứng trước họ, như trước kia, đầy một thứ tò mò xấu. Đời sống của mỗi người trong bọn họ đối với tôi vẫn là điều bí mật. Tôi luôn thấy có một phần đời họ ẩn giấu đi. Họ làm gì khi tôi không còn ở đó? Tôi không chịu tin rằng họ chẳng có những cuộc vui nào hơn thế. Và tôi gán cho mỗi người một bí mật mà tôi ngoan cố muốn biết. Tôi lảng vảng, tôi theo dõi, tôi rình rập. Tôi bám vào những bản tính thô mộc nhất, như thể từ chính chỗ tối tăm của họ, tôi chờ đợi một ánh sáng nào đó sẽ soi tỏ mình.

Có một người đặc biệt lôi cuốn tôi: anh ta khá đẹp, cao lớn, không phải là đần độn, nhưng chỉ hoàn toàn bị bản năng dẫn dắt; chẳng bao giờ làm gì mà không đột ngột, và chiều theo mọi xung động thoáng qua. Anh ta không phải người vùng này; người ta thuê được anh ta chỉ tình cờ. Làm việc tuyệt vời hai ngày, đến ngày thứ ba anh ta uống say mèm. Một đêm tôi lén đi nhìn anh ta trong nhà kho; anh ta nằm vật trong đống cỏ khô; ngủ một giấc đặc quánh mùi rượu. Tôi đã ngắm anh ta biết bao lâu!... Rồi một hôm đẹp trời, anh ta bỏ đi cũng đột ngột như khi đến. Tôi đã muốn biết những nẻo đường nào sẽ đưa anh ta đi... Chính tối hôm đó, tôi được biết Bocage đã đuổi anh ta.

Tôi nổi giận với Bocage; cho gọi ông đến.

– Hình như ông đã đuổi Pierre, tôi bắt đầu. Ông có thể cho tôi biết tại sao không?

Hơi sững sờ vì cơn giận của tôi, mà tôi vẫn cố hết sức ghìm lại:

– Chẳng lẽ ông chủ lại muốn giữ trong nhà mình một tên bợm rượu bẩn thỉu, làm hư cả những người làm tốt nhất...

– Tôi biết rõ hơn ông những người tôi muốn giữ lại.

– Một thằng giang hồ! Người ta còn chẳng biết nó từ đâu tới. Ở vùng này, chuyện ấy coi sao được... Nhỡ một đêm nó phóng lửa đốt nhà kho, hẳn ông chủ lại còn vừa ý chăng.

– Nhưng rốt cuộc việc ấy là việc của tôi, và trại là của tôi kia mà; tôi muốn điều khiển nó theo ý mình. Từ nay về sau, ông làm ơn cho tôi biết lý do của ông trước khi đuổi bất cứ ai.

Như tôi đã nói, Bocage biết tôi từ thuở bé; dẫu giọng lời tôi có làm ông tổn thương đến đâu, ông vẫn yêu tôi quá để mà giận nhiều. Hơn nữa, ông cũng chẳng coi tôi là nghiêm thật lắm. Người nông dân Normandy quá thường không tin vào điều gì họ không thấu được động cơ, nghĩa là vào điều gì không do lợi lộc dẫn dắt. Bocage chỉ đơn giản xem cuộc cãi vã ấy như một cơn thất thường.

Tuy vậy tôi không muốn chấm dứt câu chuyện bằng một lời quở trách, và cảm thấy mình đã quá gay gắt, tôi tìm xem còn có thể nói thêm điều gì.

– Con trai ông, Charles, chẳng mấy chốc nữa sẽ về phải không? cuối cùng tôi hỏi, sau một thoáng im lặng.

– Tôi cứ ngỡ ông chủ đã quên nó rồi, thấy ông chủ ít hỏi han đến nó quá, Bocage vẫn còn phật ý nói.

– Tôi mà quên nó, Bocage ư! mà làm sao tôi quên được, sau bao việc chúng tôi đã cùng làm năm ngoái? Tôi còn trông cậy vào nó nhiều cho các trại ấy nữa...

– Ông chủ tử tế quá. Chừng tám ngày nữa Charles sẽ về.

– Thế thì tốt, tôi mừng lắm, Bocage; và tôi cho ông lui.

Bocage gần như có lý: hẳn nhiên tôi không quên Charles, nhưng tôi chẳng còn bận tâm đến cậu ta bao nhiêu nữa. Làm sao giải thích rằng sau một tình bạn đồng hành sôi nổi đến thế, tôi lại chỉ còn cảm thấy đối với cậu ta một sự dửng dưng bực bội? Ấy là vì những sở thích của tôi không còn là sở thích của năm trước nữa. Phải thú nhận rằng hai trại của tôi bấy giờ không còn làm tôi quan tâm bằng những người tôi dùng ở đó; mà để lui tới với họ, sự hiện diện của Charles sẽ là một điều vướng víu. Cậu ta quá phải lẽ, lại khiến người khác kính nể quá. Bởi vậy, bất chấp cảm động mãnh liệt mà ký ức về cậu ta còn khơi dậy trong tôi, tôi nhìn lúc cậu ta trở về gần đến với một nỗi sợ hãi.

Cậu ta trở về. – A! tôi đã có lý biết bao khi sợ, và Ménalque quả đã đúng biết bao khi chối bỏ mọi ký ức! – Thay cho Charles, tôi thấy bước vào một ông ngài lố lăng, đội một chiếc mũ quả dưa nực cười. Trời ơi! cậu ta đã đổi khác biết bao! Bối rối, gượng gạo, vậy mà tôi vẫn cố đừng đáp lại quá lạnh nhạt niềm vui cậu ta tỏ ra khi gặp lại tôi; nhưng chính cái niềm vui ấy cũng làm tôi khó chịu; nó vụng về, và tôi không thấy thành thật. Tôi tiếp cậu ta ở phòng khách, và vì trời đã muộn, tôi không nhìn rõ mặt cậu ta lắm; nhưng khi người ta mang đèn vào, tôi ghê tởm thấy cậu ta đã để bộ ria mai mọc dài.

Câu chuyện tối ấy khá ảm đạm; rồi, vì biết cậu ta sẽ luôn có mặt ở các trại, tôi tránh, gần tám ngày liền, không tới đó, quay sang việc học hành và giao du với các vị khách của mình. Nhưng ngay khi tôi lại bắt đầu đi ra ngoài, tôi bị cuốn vào một mối bận tâm rất mới:

Thợ đốn củi đã tràn vào rừng. Mỗi năm người ta bán đi một phần; chia thành mười hai khoảnh bằng nhau, khu rừng hằng năm cho, cùng với vài cây thân cao không còn hy vọng lớn thêm nữa, một lứa cây chồi mười hai năm tuổi để bó thành từng bó củi.

Công việc ấy thường làm vào mùa đông, rồi trước mùa xuân, theo những điều khoản của vụ bán, thợ đốn củi phải dọn xong khoảnh đã chặt. Nhưng sự cẩu thả của lão Heurtevent, người lái gỗ điều khiển công việc, đến nỗi có khi mùa xuân đã bước vào một khoảnh rừng còn ngổn ngang; khi ấy người ta thấy những mầm non mảnh dẻ mới đâm vươn qua giữa đám cành khô, và đến lúc thợ đốn củi rốt cuộc dọn đi, thì không khỏi làm hỏng biết bao chồi non.

Năm ấy, sự lơ là của lão Heurtevent, người mua gỗ, còn vượt cả điều chúng tôi lo ngại. Vì không có ai trả giá cao hơn, tôi đã phải để lão lấy khoảnh rừng ấy với giá rất rẻ; do đó, chắc mẩm đằng nào mình cũng có lời, lão càng chẳng vội xẻ một đám gỗ mình đã mua rẻ đến thế. Và tuần này qua tuần khác, lão cứ hoãn việc, khi thì vin cớ thiếu thợ, khi thì thời tiết xấu, rồi một con ngựa đau, những việc nghĩa vụ, những việc khác... biết đâu đấy? Thành thử giữa mùa hè mà vẫn chưa dọn được gì đi.

Điều mà năm trước hẳn đã làm tôi tức tối đến cực điểm thì năm ấy để tôi khá bình thản; tôi không tự che mắt mình về thiệt hại Heurtevent gây cho tôi; nhưng những cánh rừng bị tàn phá như thế vẫn đẹp, và tôi đi dạo trong đó một cách thích thú, rình thú rừng, bắt gặp những con rắn độc, và đôi khi ngồi rất lâu trên một thân cây đổ dường như vẫn còn sống, qua những vết thương của nó còn bật ra mấy cành xanh.

Rồi, đột nhiên, vào quãng giữa nửa đầu tháng Tám, Heurtevent quyết định cho người đến. Họ kéo đến một lượt sáu người, quả quyết sẽ làm xong tất cả trong mười ngày. Phần rừng đang khai thác hầu như giáp Valterie; để tiện việc cho đám thợ đốn củi, tôi bằng lòng cho người mang bữa ăn từ trại ra. Kẻ được giao việc ấy là một gã láu lỉnh tên Bute, mà trung đoàn vừa trả về cho chúng tôi trong tình trạng thối nát cả rồi, tôi muốn nói về tinh thần, vì thân xác hắn thì rất tráng kiện; hắn là một trong số người nhà tôi mà tôi thích chuyện trò nhất. Nhờ thế tôi có thể gặp lại hắn mà không phải tới trại. Bởi chính vào lúc ấy tôi lại bắt đầu đi ra ngoài. Và trong mấy ngày liền, tôi hầu như không rời khu rừng, chỉ trở về La Morinière vào các bữa ăn, mà thường còn để mọi người phải đợi. Tôi giả vờ giám sát công việc, nhưng thật ra chỉ nhìn những người làm.

Đôi khi, nhập vào nhóm sáu người ấy còn có hai đứa con trai của Heurtevent; một đứa hai mươi, một đứa mười lăm, cao dong dỏng, ngực ưỡn, nét mặt cứng. Chúng có vẻ thuộc một giống người xa lạ, và sau này quả tôi được biết mẹ chúng là người Tây Ban Nha. Thoạt đầu tôi ngạc nhiên tự hỏi làm sao bà ấy lại có thể đến tận đây; nhưng Heurtevent, vốn là tay phiêu bạt chính cống thuở trẻ, nghe đâu đã cưới bà ở Tây Ban Nha. Vì lý do ấy mà lão bị trong vùng nhìn bằng con mắt chẳng mấy thiện cảm. Lần đầu tiên tôi gặp đứa con út, tôi còn nhớ, là dưới mưa; nó ở một mình, ngồi trên xe, trên cao nhất của một đống bó củi; và ở đó, ngả nghiêng giữa những cành cây, nó hát, hay đúng hơn là gào, một thứ điệu lạ lùng mà tôi chưa từng nghe ở xứ này. Những con ngựa kéo xe, vốn biết đường, cứ thế đi tới mà không cần ai điều khiển. Tôi không sao nói được bài hát ấy gây cho tôi hiệu quả thế nào; vì tôi chưa từng nghe gì giống thế ngoài ở châu Phi... Cậu nhỏ, trong cơn phấn khích, trông như say; khi tôi đi qua, nó thậm chí chẳng nhìn tôi. Hôm sau, tôi mới biết đó là một đứa con của Heurtevent. Chính để gặp lại nó, hay ít ra để đợi nó, mà tôi nấn ná lâu như thế trong khoảnh rừng ấy. Chẳng bao lâu người ta dọn xong. Những đứa con trai nhà Heurtevent chỉ đến đó ba lần. Chúng có vẻ kiêu hãnh, và tôi không thể khiến chúng thốt ra một lời.

Trái lại, Bute thích kể chuyện; tôi liệu sao cho chẳng bao lâu hắn hiểu rằng với tôi thì có thể nói những gì; từ đó hắn chẳng còn giữ ý mấy nữa và lột trần cả xứ. Tham lam, tôi cúi mình xuống cái bí ẩn của mình. Cùng một lúc, nó vượt quá điều tôi mong đợi, lại chẳng thỏa mãn tôi. Có phải chính đó là thứ vẫn âm ỉ dưới vẻ bề ngoài không? hay có lẽ đó vẫn chỉ là một sự giả trá mới? Mặc kệ! Và tôi tra hỏi Bute như xưa tôi từng tra hỏi những bộ biên niên sử vô dạng của dân Goth. Từ những câu chuyện của hắn bốc lên một làn hơi đục của vực thẳm đã bắt đầu xông lên đầu tôi, và tôi bồn chồn hít lấy. Qua hắn, điều đầu tiên tôi biết là Heurtevent ngủ với con gái mình. Tôi sợ rằng nếu tỏ ra chút gì chê trách, mọi lời thú thật sẽ ngừng lại; vì thế tôi mỉm cười; tính hiếu kỳ thúc đẩy tôi.

– Thế còn mẹ nó? Bà ấy không nói gì sao?

– Mẹ nó ấy à! tròn mười hai năm nay bà ấy chết rồi... Lão đánh bà ấy.

– Trong nhà có mấy người con?

– Năm đứa. Ông đã thấy đứa con trai cả và đứa út. Còn một đứa nữa mười sáu tuổi, yếu người, muốn đi tu làm linh mục. Rồi con gái đầu lòng thì đã có hai đứa con với chính cha nó...

Và dần dà tôi còn biết lắm điều khác nữa, những điều khiến ngôi nhà Heurtevent thành một nơi nóng rực, nồng mùi, quanh đó, dẫu tôi có muốn hay không, trí tưởng tượng của tôi cứ lượn vần như một con ruồi nhặng: – Một tối, người con cả toan cưỡng hiếp một cô hầu trẻ; và vì cô chống cự, người cha bước vào giúp con mình, dùng đôi bàn tay hộ pháp ghì chặt lấy cô; trong khi người con thứ hai, trên tầng lầu phía trên, vẫn dịu dàng tiếp tục những lời cầu nguyện, còn đứa út, chứng kiến cảnh ấy, thì lấy làm thích thú. Còn về chuyện cưỡng hiếp, tôi hình dung hẳn cũng chẳng khó khăn gì lắm, vì Bute còn kể rằng ít lâu sau, cô hầu ấy, đã nếm mùi khoái lạc, lại tìm cách làm hư cậu thầy tu nhỏ.

– Và chuyện ấy đã không thành sao? tôi hỏi.

– Nó còn giữ được đấy, nhưng không còn chắc lắm, Bute đáp.

– Mày chẳng bảo còn có một con bé khác nữa sao?

– Con ấy thì vớ được bao nhiêu là nhận bấy nhiêu; lại còn chẳng đòi hỏi gì. Lúc lên cơn thì chính nó còn sẵn sàng trả tiền ấy chứ. Có điều, đừng có ngủ với lão cha; lão đánh đấy. Lão nói đại khái rằng trong nhà thì người ta có quyền làm điều mình thích, nhưng người ngoài thì không được dính vào. Pierre, cái thằng làm ở trại mà ông đã cho đuổi ấy, chẳng khoe chuyện đó đâu, nhưng có một đêm nó không ra khỏi đấy mà không thủng đầu. Từ dạo ấy, người ta làm việc trong khu rừng của lâu đài.

Bấy giờ, tôi khích lệ hắn bằng mắt:

– Mày đã thử chưa? tôi hỏi.

Hắn cúi mắt lấy lệ rồi cười khì mà nói:

– Đôi khi. Rồi ngẩng phắt mắt lên: – Cả thằng nhỏ nhà lão Bocage nữa.

– Thằng nhỏ nào nhà lão Bocage?

– Alcide, cái thằng ngủ ở trang trại ấy. Ông không biết nó sao?

Tôi sửng sốt hẳn khi biết Bocage còn có một đứa con trai khác.

– Đúng là, Bute nói tiếp, năm ngoái nó còn ở nhà ông chú. Nhưng lạ thật, ông lại chưa gặp nó trong rừng bao giờ; hầu như tối nào nó cũng săn trộm.

Bute hạ thấp giọng khi nói mấy lời cuối ấy. Nó nhìn tôi rất kỹ và tôi hiểu rằng cần phải mỉm cười ngay. Bấy giờ Bute, thỏa mãn, nói tiếp:

– Hẳn ông biết thừa người ta vẫn săn trộm trong ấy. Chà! rừng rộng thế, có hại gì mấy đâu…

Tôi tỏ ra ít bất bình đến nỗi chẳng bao lâu Bute, đã mạnh dạn hơn, và hôm nay tôi nghĩ là vui lòng làm hại Bocage đôi chút, đã chỉ cho tôi ở một hốc nọ những chiếc bẫy Alcide giăng, rồi mách tôi một chỗ trên hàng rào nơi tôi gần như chắc chắn có thể bắt gặp nó. Đó là trên đỉnh một con dốc, một lỗ hẹp xuyên qua hàng rào làm ranh rừng, và Alcide quen đi qua đấy vào khoảng sáu giờ. Ở đó, Bute với tôi, hết sức thích thú, giăng một sợi dây đồng, ngụy rất khéo. Rồi, sau khi bắt tôi thề sẽ không tố cáo nó, Bute bỏ đi, không muốn liên lụy. Tôi nằm rạp xuống phía khuất của bờ dốc; tôi chờ.

Và suốt ba tối tôi chờ vô ích. Tôi bắt đầu tin rằng Bute đã chơi xỏ tôi… Tối thứ tư, rốt cuộc, tôi nghe một bước chân rất khẽ đang đến gần. Tim tôi đập, và tôi bỗng biết cái khoái cảm ghê gớm của kẻ săn trộm… Chiếc thòng lọng đặt khéo đến nỗi Alcide lao thẳng vào đó. Tôi thấy nó bỗng chốc ngã sõng soài, cổ chân mắc bẫy. Nó toan chạy thoát; lại ngã, rồi vùng vẫy như một con thú mắc bẫy. Nhưng tôi đã túm được nó rồi. Đó là một thằng nhãi đểu cáng, mắt xanh, tóc vàng xác, vẻ mặt nham hiểm. Nó đá tôi liên tiếp; rồi, bị giữ chặt, nó tìm cách cắn, và vì không sao cắn được bèn bắt đầu ném vào mặt tôi những câu chửi rủa kỳ quái nhất mà cho đến lúc ấy tôi từng nghe. Cuối cùng, tôi không nhịn nổi nữa; tôi phá lên cười. Bấy giờ nó bỗng dừng lại, nhìn tôi, rồi hạ giọng:

– Đồ vũ phu, ông làm tôi què rồi.

– Đưa xem nào.

Nó kéo tụt chiếc tất xuống trên đôi guốc, cho thấy cổ chân mình, nơi chỉ vừa phân biệt được một vệt hồng nhạt. – Chẳng sao cả. – Nó hơi mỉm cười, rồi láu cá:

– Tôi đi nói với cha tôi rằng chính ông giăng bẫy.

– Chứ sao! Đây là một cái bẫy của nhà mày.

– Thì chắc chắn đâu phải ông giăng cái này.

– Sao lại không?

– Ông chẳng giăng khéo thế được đâu. Để tôi xem ông làm thế nào nào. – Thế thì dạy ta…

Tối ấy, tôi mãi rất khuya mới về ăn tối, và vì không ai biết tôi ở đâu nên Marceline lo lắng. Tuy vậy, tôi không kể với nàng rằng tôi đã giăng sáu chiếc bẫy và thay vì mắng Alcide, tôi lại cho nó mười xu.

Ngày hôm sau, đi cùng nó kiểm tra những chiếc bẫy ấy, tôi thích thú thấy có hai con thỏ mắc vào; dĩ nhiên tôi để cả cho nó. Mùa săn còn chưa mở. Vậy số thú săn ấy thành ra thế nào, khi không thể đem phô bày mà không tự tố cáo mình? Alcide nhất định không chịu thú nhận với tôi điều đó. Cuối cùng tôi lại được Bute cho biết rằng Heurtevent là tay chuyên tiêu thụ đồ gian, và giữa Alcide với lão, đứa con út làm môi giới. Vậy là tôi sẽ thâm nhập sâu hơn nữa vào cái gia đình hung hãn ấy chăng? Tôi đã săn trộm với một niềm say mê biết bao!

Tối nào tôi cũng gặp lại Alcide; chúng tôi bắt được rất nhiều thỏ, và có một lần cả một con nai: nó hãy còn thoi thóp… tôi không thể nhớ lại mà không ghê sợ niềm vui của Alcide khi giết nó. Chúng tôi cất con nai vào một chỗ an toàn, để người con trai nhà Heurtevent có thể đến lấy trong đêm.

Từ đó tôi không còn thiết đi ra ngoài ban ngày nữa, khi rừng thưa vắng đem lại cho tôi ít quyến rũ hơn. Tôi thậm chí còn cố làm việc; một công việc buồn bã, vô mục đích, vì ngay từ cuối khóa tôi đã từ chối kéo dài việc dạy thay của mình, một công việc nhọc nhằn, và chỉ một tiếng hót, một tiếng động nhỏ nhất ngoài đồng cũng đủ làm tôi xao lãng; mọi tiếng kêu đối với tôi đều hóa thành tiếng gọi. Biết bao lần tôi đã từ trang sách nhảy bổ ra cửa sổ như vậy, để rồi chẳng thấy gì đi qua cả! Biết bao lần, bỗng nhiên bước ra ngoài… Sự chú tâm duy nhất mà tôi còn có thể có, ấy là sự chú tâm của toàn bộ các giác quan.

Nhưng khi đêm xuống, mà đêm bấy giờ đã xuống rất mau, thì đó là giờ của chúng tôi, cái giờ mà cho đến lúc ấy tôi chưa từng ngờ vẻ đẹp của nó; và tôi đi ra như bọn trộm đi vào. Tôi đã tự tạo cho mình đôi mắt của chim đêm. Tôi ngắm cỏ, lay động hơn và cao hơn, những thân cây dày sẫm lại. Đêm khoét sâu mọi vật, đẩy chúng ra xa, khiến mặt đất trở nên cách biệt và mọi bề mặt đều thành thăm thẳm. Con đường mòn phẳng nhất cũng có vẻ nguy hiểm. Người ta cảm thấy khắp nơi thức dậy tất cả những gì sống một đời tăm tối.

– Bây giờ cha mày tưởng mày ở đâu?

– Chăn súc vật, trong chuồng.

Alcide ngủ ở đó, tôi biết, ngay cạnh bồ câu và gà; vì mỗi tối người ta nhốt nó vào đấy, nên nó chui ra bằng một lỗ trên mái; quần áo nó giữ một mùi ấm nóng của gia cầm…

Rồi đột ngột, vừa gom xong thú săn, nó lao vào đêm như lao xuống một cửa sập, không một cử chỉ từ biệt, thậm chí chẳng nói với tôi đến ngày mai. Tôi biết rằng trước khi trở về trang trại, nơi lũ chó đối với nó đều im lặng, nó gặp lại thằng nhỏ nhà Heurtevent và trao cho nó phần tiếp tế. Nhưng ở đâu? Điều ấy lòng ham muốn của tôi không sao dò được: đe dọa, mưu mẹo đều thất bại; nhà Heurtevent không để ai lại gần. Và tôi không biết cơn mê cuồng của tôi thắng thế ở đâu hơn: theo đuổi một điều bí mật tầm thường cứ luôn lùi xa trước mặt tôi chăng? hay có lẽ chính là bịa ra điều bí mật ấy vì quá tò mò? – Nhưng Alcide làm gì sau khi rời tôi? Nó có thật ngủ ở trại không? hay chỉ làm cho người quản trại tin như thế? Than ôi, tôi có tự hạ mình đến đâu cũng vô ích, tôi chẳng đạt được gì ngoài việc làm giảm thêm sự kính nể của nó mà không tăng được lòng tin của nó; điều ấy vừa làm tôi điên tiết vừa làm tôi tuyệt vọng…

Nó vừa biến đi, lập tức, tôi rơi vào một nỗi cô độc khủng khiếp; và tôi trở về băng qua đồng nội, trong cỏ nặng sương, say đêm, say đời sống hoang dã và vô chính, ướt đẫm, lấm bùn, phủ đầy lá. Từ xa, giữa La Morinière đang ngủ, ngọn đèn phòng học của tôi, nơi Marceline tưởng tôi tự nhốt mình, hoặc ngọn đèn trong phòng Marceline, người mà tôi đã thuyết phục rằng nếu không đi ra như thế vào ban đêm thì tôi không thể nào ngủ được, dường như dẫn đường cho tôi như một ngọn hải đăng bình yên. Điều ấy là thật: tôi bắt đầu ghê tởm chiếc giường của mình, và tôi đã thích chuồng cỏ hơn.

Năm ấy thú săn rất nhiều. Thỏ, thỏ rừng, gà lôi, lần lượt mắc bẫy. Thấy mọi việc trôi chảy như ý, ba hôm sau Bute đâm ra thích nhập bọn với chúng tôi.

Tối săn trộm thứ sáu, trong mười hai chiếc bẫy chúng tôi chỉ còn tìm lại được hai; ban ngày đã có một đợt càn quét. Bute xin tôi một trăm xu để mua lại dây đồng, vì dây sắt chẳng dùng được vào việc gì.

Ngày hôm sau, tôi có cái thú được thấy mười chiếc bẫy của mình ở nhà Bocage, và đành phải khen lòng sốt sắng của lão. Điều nực cười nhất là năm ngoái tôi đã khinh suất hứa thưởng mười xu cho mỗi chiếc bẫy bị tịch thu; thế là tôi phải đưa cho Bocage một trăm xu. Trong khi đó, với một trăm xu ấy, Bute lại đi mua dây đồng. Bốn ngày sau, lại y như thế; mười chiếc bẫy mới lại bị tịch thu. Lại một trăm xu cho Bute; lại một trăm xu cho Bocage. Và khi tôi khen lão:

– Không phải tôi đâu, lão nói, mà ông phải khen. Phải khen Alcide.

– Chà! – Quá ngạc nhiên có thể làm hỏng việc: tôi tự kìm lại.

– Vâng, Bocage nói tiếp; ông xem, tôi già rồi, mà ở trại lại có lắm việc cần đến tôi. Thằng nhỏ chạy rừng thay tôi; nó biết rừng; nó ranh lắm, và còn biết tìm, biết thấy những chiếc bẫy ấy hơn cả tôi.

– Tôi tin điều ấy không chút khó khăn nào, Bocage ạ.

– Vậy nên trong mười xu ông cho, tôi để nó năm xu mỗi chiếc bẫy.

– Hẳn nhiên nó đáng được như thế. Chà! Hai mươi chiếc bẫy trong năm ngày! Nó làm việc khá thật. Bọn săn trộm chỉ còn cách liệu hồn. Cá rằng chúng sẽ nghỉ ngơi thôi.

– Ôi! thưa ông, càng bắt được nhiều bao nhiêu thì lại càng tìm thấy nhiều bấy nhiêu. Năm nay thú săn bán được giá, mà chúng chỉ tốn có vài xu…

Tôi bị họ qua mặt khéo đến nỗi suýt nữa tôi tin Bocage cũng đồng lõa. Và điều làm tôi bực tức trong chuyện này không phải là món làm ăn ba mặt của Alcide, mà là thấy nó lừa tôi như thế. Rồi Bute với nó dùng tiền vào việc gì? Tôi không biết; tôi sẽ chẳng bao giờ biết được gì về những hạng người như thế. Chúng sẽ luôn luôn nói dối, lừa tôi chỉ cốt để lừa tôi. Tối nay, không phải một trăm xu mà là mười franc tôi đưa cho Bute: tôi báo cho nó biết đây là lần cuối, và rằng nếu bẫy còn bị lấy nữa thì mặc kệ.

Ngày hôm sau, tôi thấy Bocage đến; lão có vẻ hết sức lúng túng; tức thì tôi còn lúng túng hơn lão. Vậy là đã xảy ra chuyện gì? Và Bocage cho tôi biết rằng mãi gần sáng Bute mới về trại; Bute say như một gã Ba Lan; vừa nghe Bocage nói mấy lời đầu, Bute đã chửi lão rất bẩn miệng, rồi xông vào, đánh lão…

– Cuối cùng, Bocage bảo tôi, tôi đến để biết ông có cho phép tôi (lão ngừng một lát ở chữ ấy), có cho phép tôi đuổi nó đi hay không.

– Tôi sẽ nghĩ lại việc ấy, Bocage ạ. Tôi rất lấy làm tiếc vì nó đã hỗn với ông. Tôi hiểu… Hãy để tôi một mình nghĩ lại; rồi hai giờ nữa ông trở lại đây. – Bocage đi ra.

Giữ Bute lại tức là cay đắng phụ Bocage; đuổi Bute đi tức là đẩy nó vào chỗ trả thù… Mặc kệ; chuyện gì đến sẽ đến; đằng nào thì chỉ mình tôi có lỗi… Và vừa khi Bocage trở lại:

– Ông có thể bảo Bute rằng ở đây người ta không muốn thấy nó nữa.

Rồi tôi chờ. Bocage làm gì? Bute nói gì? – Mãi đến tối tôi mới nghe được vài tiếng dội lại của vụ tai tiếng. Bute đã nói. Trước hết tôi hiểu điều đó qua những tiếng la tôi nghe thấy ở nhà Bocage; người ta đang đánh thằng bé Alcide. — Bocage sắp đến; lão đến; tôi nghe bước chân già nua của lão lại gần và tim tôi còn đập mạnh hơn cả khi nó từng đập vì thú săn. Khoảnh khắc không sao chịu nổi! Mọi tình cảm lớn lao sẽ phải đem ra dùng; tôi sẽ bị buộc phải nghiêm túc với lão. Tôi sẽ bịa ra những lời giải thích nào? Tôi sẽ đóng dở đến thế nào! Ôi, tôi muốn trả lại vai của mình biết bao… Bocage bước vào. Tôi hoàn toàn không hiểu lão nói gì. Thật phi lý: tôi phải bắt lão nhắc lại. Cuối cùng tôi phân biệt được điều này: lão tin rằng chỉ riêng Bute có tội; sự thật khó tin kia vượt khỏi lão; chuyện tôi đã cho Bute mười franc, và để làm gì? Lão là dân Normandy quá mức để chấp nhận điều ấy. Mười franc ấy, hẳn là Bute đã ăn cắp; khi quả quyết rằng tôi đã cho nó, nó chỉ thêm lời dối trá vào vụ trộm cắp; cốt để che vụ ăn cắp ấy; chứ với Bocage thì chẳng ai làm cho lão tin nổi một chuyện như thế… Không còn ai nhắc đến việc săn trộm nữa. Nếu Bocage đánh Alcide, ấy là vì thằng nhỏ đã ngủ đêm ở ngoài.

Thôi được! thế là tôi thoát; ít ra trước mặt Bocage thì mọi sự đều ổn. Thằng Bute này mới ngu làm sao! Quả thật tối nay tôi chẳng có mấy ham muốn đi săn trộm.

Tôi đã tưởng xong hết rồi, nhưng một giờ sau lại thấy Charles. Nó không có vẻ đến để đùa; từ xa nom đã còn lấm lét hơn cha nó. Nghĩ mà xem, năm ngoái…

– Nào! Charles, lâu lắm không thấy mày.

– Nếu ông muốn gặp tôi thì cứ việc đến trang trại. Tôi, quỷ thật, đâu có việc gì với rừng với đêm.

– À! cha mày đã kể cho mày…

– Cha tôi chẳng kể gì cả vì cha tôi có biết gì đâu. Tội gì ở tuổi ấy còn phải biết rằng ông chủ của mình đem mình ra làm trò?

– Liệu chừng đấy, Charles! mày đi quá xa rồi…

– Ồ! chứ sao, ông là chủ! và ông làm điều ông thích.

– Charles, mày biết rõ hơn ai hết rằng ta không giễu cợt ai cả, và nếu ta làm điều ta thích thì việc ấy chỉ hại riêng ta mà thôi.

Anh ta khẽ nhún vai.

– Làm sao ông muốn người ta bảo vệ quyền lợi của ông, khi chính ông lại tự mình công kích chúng? Ông không thể cùng một lúc che chở cả người giữ rừng lẫn kẻ săn trộm.

– Tại sao?

– Vì như thế thì… à, thưa ông, mọi điều ấy rắc rối quá sức tôi, và nói đơn giản, tôi không thích thấy ông chủ của tôi kết bọn với những kẻ người ta bắt được, rồi cùng họ phá đi công khó người ta đã làm vì ông.

Và Charles nói như vậy bằng một giọng mỗi lúc một vững hơn. Anh ta đứng gần như đường hoàng. Tôi nhận thấy anh đã cắt bỏ đôi tóc mai. Vả lại, điều anh nói cũng khá đúng. Và vì tôi im lặng (tôi còn biết đáp anh thế nào?), anh nói tiếp:

— Rằng người ta có những bổn phận đối với cái mình sở hữu, năm ngoái chính ông đã dạy tôi điều đó, nhưng hình như ông đã quên rồi. Phải coi những bổn phận ấy là nghiêm chỉnh và thôi đừng đùa bỡn với chúng nữa… bằng không, tức là người ta vốn không xứng đáng sở hữu.

Một khoảng lặng.

— Thế thôi sao, đó là tất cả những gì mày muốn nói?

— Tối nay thì vâng, thưa ông; nhưng một tối khác, nếu ông ép tôi đến thế, có lẽ tôi sẽ đến thưa với ông rằng cha tôi và tôi rời La Morinière.

Rồi anh cúi chào tôi rất thấp và đi ra. Tôi hầu như không kịp suy nghĩ:

– Charles! Quả thật anh ta có lý… Ồ! Ồ! Nhưng nếu đó là cái người ta gọi là sở hữu!… Charles! Và tôi chạy theo anh; tôi bắt kịp anh trong đêm, rồi rất nhanh, như để tự xác quyết lấy quyết định đột ngột của mình:

– Mày có thể báo với cha mày rằng ta đem La Morinière ra bán.

Charles nghiêm trang cúi chào rồi lặng lẽ bỏ đi.

Tất cả thật phi lý! phi lý!

Tối ấy Marceline không thể xuống ăn tối, cho người nhắn tôi rằng nàng không được khỏe. Tôi vội vã, lòng đầy lo lắng, lên phòng nàng. Nàng trấn an tôi ngay. "Chỉ là cảm thôi," nàng hy vọng vậy. Nàng bị nhiễm lạnh.

– Thế em đã không thể quàng thêm cho kín được sao?

– Nhưng ngay từ cơn ớn lạnh đầu tiên, em đã khoác khăn choàng rồi.

– Không phải sau cơn ớn lạnh mới khoác, mà là trước đó.

Nàng nhìn tôi, cố mỉm cười… A! phải chăng một ngày khởi đầu tệ hại đến thế khiến tôi dễ ngả về nỗi lo âu — giá nàng nói thành tiếng: "Anh quý việc em sống đến thế ư?" thì tôi cũng không nghe rõ hơn được. Quả nhiên mọi sự đều tan rã quanh tôi; hết thảy những gì tay tôi nắm lấy, tay tôi không biết giữ lại điều gì… Tôi lao đến Marceline và phủ kín hai bên thái dương tái nhợt của nàng bằng những nụ hôn. Bấy giờ nàng không nén mình được nữa và nức nở trên vai tôi…

– Ôi! Marceline! Marceline! chúng ta rời khỏi đây đi. Ở nơi khác anh sẽ yêu em như anh đã yêu em ở Sorrente… Em đã tưởng anh đổi khác rồi, phải không? Nhưng ở nơi khác, em sẽ cảm thấy rõ rằng không gì đã làm đổi thay tình yêu của chúng ta.

Và tôi vẫn chưa chữa lành nỗi buồn của nàng, nhưng nàng đã bấu víu vào hy vọng biết bao!…

Mùa còn chưa muộn, nhưng trời ẩm và lạnh, và ngay những nụ cuối cùng trên các bụi hồng cũng đã thối đi, không sao nở được. Khách của chúng tôi đã rời đi từ lâu. Marceline chưa đau đến nỗi không thể lo việc đóng cửa nhà, và năm ngày sau chúng tôi lên đường.