Kẻ vô luân — Chương 1
Chương 2 / 14 · Bài review Kẻ vô luân
Các bạn thân mến của tôi, tôi vẫn biết các bạn là những người trung thành. Nghe tôi gọi, các bạn đã vội vã đến, hệt như tôi hẳn đã làm nếu các bạn gọi. Vậy mà đã ba năm rồi các bạn không gặp tôi. Mong sao tình bạn của các bạn, đã chống chọi được với xa cách, cũng chống chọi được với câu chuyện tôi sắp kể. Bởi nếu tôi đột ngột gọi các bạn, bắt các bạn đi suốt chặng đường tới chốn ở xa xôi của tôi, thì chỉ là để gặp các bạn, chỉ vậy thôi, và để các bạn có thể nghe tôi. Tôi không mong một sự cứu giúp nào khác ngoài điều đó: được nói với các bạn. — Vì tôi đã đến một điểm trong đời mà tôi không sao vượt qua nổi nữa. Song đó không phải là chán mệt. Mà là tôi không còn hiểu nữa. Tôi cần… Tôi cần được nói, tôi nói với các bạn thế. Biết cách tự giải thoát chẳng là gì cả; điều khó, là biết cách sống tự do. — Xin các bạn chịu cho tôi nói về mình; tôi sẽ kể các bạn nghe đời tôi, giản dị thôi, không khiêm nhường mà cũng chẳng kiêu hãnh, giản dị hơn cả khi tôi nói với chính mình. Xin hãy nghe tôi:
Lần cuối chúng ta gặp nhau, tôi còn nhớ, là ở vùng quanh Angers, trong ngôi nhà thờ nhỏ miền quê nơi cử hành lễ cưới của tôi. Khách khứa chẳng đông, và sự tuyệt vời của bạn bè đã khiến buổi lễ tầm thường ấy thành một buổi lễ cảm động. Tôi có cảm giác mọi người đều xúc động, và điều đó làm chính tôi cũng xúc động. Trong nhà người sắp thành vợ tôi, một bữa ăn ngắn, không tiếng cười không tiếng reo, đã quy tụ các bạn cùng chúng tôi khi rời nhà thờ; rồi cỗ xe đã đặt trước đưa chúng tôi đi, theo cái tục lệ vẫn gắn liền trong trí ta ý niệm về hôn nhân với hình ảnh một sân ga khởi hành.
Tôi biết rất ít về vợ tôi, và nghĩ, không lấy làm khổ sở lắm, rằng nàng cũng chẳng biết gì hơn về tôi. Tôi cưới nàng mà không có tình yêu, phần lớn là để làm vừa lòng cha tôi, người lúc hấp hối vẫn lo lắng vì phải để tôi lại một mình. Tôi yêu cha tôi thắm thiết; bận bịu với cơn hấp hối của ông, trong những giờ phút buồn thảm ấy tôi chỉ nghĩ đến việc làm cho phút cuối của ông dịu nhẹ hơn; và thế là tôi đem đời mình ra ràng buộc mà chẳng biết đời sống có thể là gì. Lễ đính hôn của chúng tôi bên giường người sắp mất diễn ra không tiếng cười, nhưng không phải không có một niềm vui trang nghiêm, sự bình yên mà cha tôi có được từ đó lớn đến thế. Nếu tôi không yêu vị hôn thê của mình, như tôi đã nói, thì ít ra tôi cũng chưa từng yêu một người đàn bà nào khác. Bấy nhiêu, dưới mắt tôi, đủ để bảo đảm hạnh phúc của chúng tôi; và, còn chưa hiểu chính mình, tôi tưởng mình đã trao trọn cho nàng. Nàng cũng mồ côi và sống với hai người anh. Marceline vừa tròn hai mươi; tôi hơn nàng bốn tuổi.
Tôi đã nói rằng tôi không hề yêu nàng — ít nhất tôi chẳng cảm thấy với nàng cái mà người ta gọi là tình yêu, nhưng tôi yêu nàng, nếu hiểu chữ ấy là sự trìu mến, một thứ thương xót, tóm lại là một lòng quý trọng khá lớn. Nàng theo Công giáo còn tôi là tín đồ Tin Lành… nhưng tôi tưởng mình theo đạo ít quá đỗi! Vị linh mục chấp nhận tôi; tôi cũng chấp nhận vị linh mục: mọi sự diễn ra trót lọt, chẳng một điều chướng.
Cha tôi, như người ta nói, là kẻ « vô thần », — ít nhất tôi phỏng đoán thế, bởi vì, do một thứ e dè không sao thắng nổi mà tôi tin ông cũng có, chưa bao giờ tôi có thể trò chuyện với ông về những điều ông tin. Nền giáo huấn Huguenot nghiêm cẩn của mẹ tôi, cùng với hình ảnh đẹp đẽ của bà, đã dần phai nhạt trong lòng tôi; các bạn biết tôi mất mẹ khi còn nhỏ. Tôi chưa hề ngờ rằng nền luân lý đầu đời ấy của đứa trẻ chế ngự ta đến thế nào, cũng chẳng ngờ nó để lại những nếp gấp nào trong tâm trí. Cái thứ khắc khổ mà mẹ tôi, khi truyền cho tôi những nguyên tắc của bà, đã để lại trong tôi lòng ưa thích, tôi đem trọn nó dồn vào việc học. Tôi mười lăm tuổi khi mất mẹ; cha tôi lo cho tôi, quây quần bên tôi và dốc hết say mê vào việc dạy dỗ tôi. Tôi vốn đã thạo tiếng Latin và tiếng Hy Lạp; với ông tôi học nhanh tiếng Hebrew, tiếng Sanskrit, rồi sau rốt là tiếng Ba Tư và tiếng Ả Rập. Khoảng hai mươi tuổi tôi đã được hun đúc đến mức ông dám cho tôi dự phần vào công trình của ông. Ông thích thú bảo tôi ngang hàng với ông và muốn chứng minh điều đó. Cuốn Khảo luận về các tín ngưỡng Phrygia, ra mắt dưới tên ông, là tác phẩm của tôi; ông chỉ mới xem lại qua loa; chưa gì đem lại cho ông nhiều lời khen đến thế. Ông vui mừng khôn xiết. Còn tôi, tôi bối rối khi thấy trò đánh tráo ấy thành công. Nhưng từ đó tôi được đưa lên. Những nhà bác học uyên thâm nhất đối đãi với tôi như một đồng nghiệp. Giờ đây tôi mỉm cười trước mọi vinh dự người ta đã dành cho tôi… Cứ thế tôi đến tuổi hai mươi lăm, hầu như chẳng nhìn ngắm gì ngoài những phế tích hay những cuốn sách, và chẳng biết gì về đời sống; tôi tiêu hao trong công việc một nhiệt tâm kỳ lạ. Tôi yêu vài người bạn (các bạn nằm trong số đó), nhưng đúng hơn là yêu tình bạn hơn là yêu chính họ; lòng tận tụy của tôi với họ rất lớn, song đó là nhu cầu về sự cao quý; tôi nâng niu trong mình từng tình cảm đẹp. Nói cho cùng, tôi chẳng biết bạn mình, cũng như chẳng biết chính mình. — Không một lúc nào tôi thoáng nghĩ rằng mình có thể đã sống một đời khác, hay rằng người ta có thể sống cách khác.
Với cha tôi và tôi, những thứ giản dị là đủ; hai chúng tôi tiêu pha ít đến nỗi tôi sống đến hai mươi lăm tuổi mà không biết mình giàu. Tôi hình dung, cũng chẳng mấy khi nghĩ tới, rằng chúng tôi chỉ vừa đủ sống; và bên cha, tôi đã nhiễm những thói tằn tiện đến mức gần như thấy ngượng khi hiểu ra rằng chúng tôi sở hữu nhiều hơn thế rất nhiều. Tôi lơ đãng với những chuyện ấy đến độ ngay cả sau khi cha mất, mà tôi là người thừa kế duy nhất, tôi vẫn chưa ý thức rõ hơn chút nào về gia sản của mình, mà mãi đến lúc làm hôn thú, và cũng nhân đó mới nhận ra rằng Marceline hầu như chẳng mang gì đến cho tôi.
Một điều khác nữa tôi không biết, có lẽ còn quan trọng hơn, là tôi có một sức khỏe rất mong manh. Làm sao tôi biết được, khi chưa hề đem nó ra thử thách? Thi thoảng tôi bị cảm, và chữa chạy qua loa. Cuộc đời quá êm ả tôi đang sống vừa làm tôi yếu đi vừa che chở tôi. Marceline, trái lại, có vẻ vững vàng, — và rằng nàng vững vàng hơn tôi, đó là điều chẳng bao lâu chúng tôi sẽ biết.
Ngay tối cưới chúng tôi ngủ tại căn hộ của tôi ở Paris, nơi người ta đã sửa soạn cho chúng tôi hai phòng. Chúng tôi chỉ ở lại Paris vừa đủ thời gian mua sắm những thứ không thể thiếu, rồi tới Marseille, và từ đó lập tức xuống tàu đi Tunis.
Những lo toan cấp bách, cơn choáng váng của những biến cố cuối cùng dồn dập quá nhanh, nỗi xúc động không tránh khỏi của đám cưới đến ngay sau nỗi xúc động thật hơn của tang tóc, tất cả những cái đó đã vắt kiệt tôi. Mãi trên tàu tôi mới cảm thấy được sự mệt mỏi của mình. Cho tới lúc ấy, mỗi công việc, trong khi làm nó tăng thêm, lại khiến tôi lãng đi. Cảnh nhàn rỗi bắt buộc trên tàu rốt cuộc cho tôi được suy nghĩ. Ấy là, tôi có cảm giác, lần đầu tiên.
Cũng là lần đầu tiên tôi chịu để mình bị tách khỏi công việc lâu đến thế. Cho tới bấy giờ tôi chỉ tự cho phép mình những kỳ nghỉ ngắn. Một chuyến đi Tây Ban Nha cùng cha, ít lâu sau khi mẹ mất, quả có kéo dài hơn một tháng; một chuyến khác, sang Đức, sáu tuần; còn vài chuyến nữa — nhưng đó là những chuyến đi nghiên cứu; cha tôi ở đó không hề rời khỏi những khảo cứu rất chính xác của ông; còn tôi, hễ không theo ông nữa là tôi đọc sách. Vậy mà, vừa rời Marseille, những kỷ niệm khác nhau về Granada và Sevilla trở lại với tôi, về bầu trời trong trẻo hơn, những bóng râm rõ nét hơn, những ngày hội, tiếng cười và tiếng hát. Đấy, cái mà chúng ta sắp tìm lại, tôi nghĩ. Tôi lên boong tàu và nhìn Marseille lùi xa.
Rồi, đột nhiên, tôi nghĩ rằng mình có phần bỏ mặc Marceline.
Nàng ngồi ở mũi tàu; tôi lại gần, và, thật sự lần đầu tiên, nhìn nàng.
Marceline rất xinh. Các bạn biết điều đó; các bạn đã gặp nàng. Tôi tự trách mình đã không nhận ra ngay từ đầu. Tôi biết nàng quá rõ nên không thể nhìn nàng như một điều mới mẻ; hai gia đình chúng tôi xưa nay vẫn thân; tôi đã thấy nàng lớn lên; tôi quen với vẻ duyên dáng của nàng… Lần đầu tiên tôi kinh ngạc, vẻ duyên dáng ấy với tôi sao mà lớn lao.
Trên một chiếc mũ rơm đen giản dị nàng để buông một tấm mạng lớn; nàng tóc vàng, nhưng trông không mảnh dẻ. Váy và áo cùng một kiểu, may bằng thứ vải khăn choàng Scotland mà chúng tôi đã chọn cùng nhau. Tôi đã không muốn nàng phải sẫm màu vì tang của tôi.
Nàng cảm thấy tôi đang nhìn, quay lại phía tôi… cho tới bấy giờ bên nàng tôi chỉ có một sự ân cần theo phép tắc; tôi thay thế, khéo được chừng nào hay chừng ấy, tình yêu bằng một thứ chiều chuộng lạnh lẽo mà, tôi thấy rõ, khiến nàng hơi phiền; phải chăng lúc ấy Marceline cảm thấy rằng tôi đang nhìn nàng lần đầu tiên theo một cách khác? Đến lượt nàng, nàng nhìn tôi chăm chú; rồi, rất dịu dàng, mỉm cười với tôi. Chẳng nói gì, tôi ngồi xuống bên nàng. Cho tới lúc ấy tôi đã sống cho mình, hay ít nhất là theo ý mình; tôi cưới vợ mà không hình dung ở vợ mình điều gì khác ngoài một người bạn đường, không nghĩ thật rõ rằng, từ sự kết hợp của chúng tôi, đời tôi có thể đổi khác. Rốt cuộc tôi vừa hiểu ra rằng đến đây thì độc thoại chấm dứt.
Chỉ có hai chúng tôi trên boong. Nàng ngả trán về phía tôi; tôi nhẹ nhàng siết nàng vào lòng; nàng ngước mắt lên; tôi hôn lên mi mắt nàng, và bỗng cảm thấy, nhờ nụ hôn ấy, một thứ thương xót mới mẻ; nó tràn ngập tôi dữ dội đến nỗi tôi không cầm được nước mắt.
— Anh làm sao thế? Marceline hỏi tôi.
Chúng tôi bắt đầu chuyện trò. Những lời duyên dáng của nàng làm tôi mê thích. Tôi đã tự dựng cho mình, tùy sức, đôi ba ý nghĩ về sự ngu ngơ của đàn bà. Bên nàng, tối hôm ấy, chính tôi mới thấy mình vụng về và ngốc nghếch.
Vậy là người mà tôi buộc đời mình vào lại có một đời sống riêng và có thật! Tầm quan trọng của ý nghĩ ấy làm tôi thức giấc mấy lần trong đêm; mấy lần tôi nhổm dậy trên giường để nhìn, trên chiếc giường bên kia, thấp hơn, Marceline, vợ tôi, đang ngủ.
Hôm sau trời đẹp lộng lẫy; biển gần như lặng. Vài câu chuyện thong thả càng làm bớt đi vẻ ngượng ngập giữa chúng tôi. Cuộc hôn nhân thật sự bắt đầu. Sáng ngày cuối tháng Mười chúng tôi cập bến Tunis.
Ý định của tôi là chỉ lưu lại đó ít ngày. Tôi sẽ thú nhận với các bạn cái ngu ngơ của mình: ở xứ sở mới mẻ ấy chẳng gì lôi cuốn tôi ngoài Carthage và vài phế tích La Mã: Timgat, mà Octave đã nói với tôi, những bức khảm ở Sousse và nhất là đấu trường El Djem, nơi tôi định chạy tới không chậm trễ. Trước hết phải tới Sousse, rồi từ Sousse đi xe thư; tôi muốn rằng từ đây tới đó chẳng gì đáng cho tôi bận tâm.
Thế mà Tunis khiến tôi hết sức ngạc nhiên. Khi những cảm giác mới chạm tới, có những phần nào đó trong tôi lay động, những khả năng đang ngủ mà, vì chưa hề dùng đến, vẫn giữ nguyên tuổi trẻ bí ẩn của chúng. Tôi sửng sốt, ngơ ngác, hơn là thích thú, và cái làm tôi vui nhất là niềm vui của Marceline.
Trong khi đó sự mệt mỏi của tôi mỗi ngày một lớn hơn; nhưng tôi hẳn thấy nhục nếu chịu thua nó. Tôi ho và cảm thấy phía trên lồng ngực một sự rối loạn kỳ lạ. Chúng ta đang đi về phương Nam, tôi nghĩ; hơi nóng sẽ làm tôi lại sức.
Xe thư đi Sfax rời Sousse lúc tám giờ tối; nó qua El Djem lúc một giờ sáng. Chúng tôi đã giữ chỗ trong khoang coupé. Tôi tưởng sẽ gặp một cỗ xe cà tàng chật chội; trái lại chúng tôi được ngồi khá thoải mái. Nhưng cái rét!… Vì lòng tin trẻ con nào vào khí trời êm dịu phương Nam mà cả hai chúng tôi ăn mặc phong phanh, chỉ mang theo mỗi một tấm khăn choàng? Vừa ra khỏi Sousse và khỏi chỗ khuất của những ngọn đồi, gió bắt đầu thổi. Nó nhảy những bước lớn trên đồng bằng, gào, rít, lùa vào từng khe cửa xe; chẳng gì che chắn nổi. Chúng tôi tới nơi, lạnh cóng cả người, riêng tôi còn kiệt sức vì xe xóc, và vì một cơn ho khủng khiếp giằng tôi dữ hơn nữa. Đêm gì mà thế! — Đến El Djem, chẳng có quán trọ nào; một cái bordj gớm ghiếc thay chỗ ấy: biết làm sao? Xe thư lại đi. Làng đã ngủ; trong đêm tối như vô tận người ta lờ mờ thấy khối phế tích không hình dạng; chó tru lên. Chúng tôi vào một gian phòng nền đất, kê hai chiếc giường tồi tàn. Marceline run lên vì rét, nhưng ở đó ít ra gió không còn quật tới chúng tôi nữa.
Hôm sau là một ngày ảm đạm. Bước ra ngoài, chúng tôi ngạc nhiên thấy bầu trời xám đều một màu. Gió vẫn thổi, nhưng không dữ dội như hôm trước. Mãi tối xe thư mới trở lại… Đó, tôi đã nói với các bạn, là một ngày thê lương. Đấu trường, đi hết chỉ trong chốc lát, làm tôi thất vọng; dưới bầu trời xỉn ấy tôi còn thấy nó xấu nữa. Có lẽ nỗi mệt của tôi cũng góp phần, làm nỗi chán của tôi lớn thêm. Vào khoảng giữa ngày, vì không biết làm gì, tôi trở lại đó, tìm hoài chẳng thấy mấy dòng khắc trên đá. Marceline, ngồi khuất gió, đọc một cuốn sách tiếng Anh mà may thay nàng có mang theo. Tôi quay lại ngồi bên nàng.
— Ngày gì mà buồn thế! Em không chán lắm chứ? tôi hỏi nàng.
— Không: anh thấy đấy: em đang đọc.
— Chúng ta đến đây làm gì nhỉ? Ít ra thì em không thấy lạnh chứ.
— Không lắm. Còn anh? Đúng rồi! anh xanh nhợt cả người.
— Không…
Đêm xuống, gió lại mạnh lên… Rốt cuộc xe thư cũng tới. Chúng tôi lại lên đường.
Ngay từ những cú xóc đầu tiên tôi thấy mình rã rời. Marceline, rất mệt, thiếp đi nhanh trên vai tôi. Nhưng cơn ho của mình sẽ đánh thức nàng mất, tôi nghĩ, và thật nhẹ, thật nhẹ, tôi gỡ mình ra, ngả nàng về phía vách xe. Song tôi không ho nữa, không: tôi khạc; đó là điều mới; tôi đưa nó ra chẳng phải gắng sức; nó đến từng đợt nhỏ, cách quãng đều đặn; cảm giác kỳ quặc đến mức thoạt đầu tôi gần như thấy thích thú, nhưng rất nhanh tôi phát tởm vì cái vị lạ nó để lại trong miệng. Chiếc khăn tay của tôi chóng thành vô dụng. Các ngón tay tôi đã bê bết. Ta có nên đánh thức Marceline?… May thay tôi nhớ ra tấm khăn lụa lớn nàng vẫn giắt ở thắt lưng. Tôi khẽ lấy nó. Những bụm đờm mà tôi thôi ghìm lại nữa tuôn ra dồi dào hơn. Tôi thấy nhẹ nhõm lạ thường. Cảm sắp khỏi rồi, tôi nghĩ. Bỗng tôi thấy mình rất yếu; mọi thứ bắt đầu quay và tôi tưởng mình sắp ngất. Ta có đánh thức nàng?… ôi, thôi đi!… (Tôi nghĩ mình còn giữ, từ thời thơ ấu thanh giáo, lòng ghét mọi sự buông xuôi vì yếu đuối; tôi gọi ngay nó là hèn nhát.) Tôi trấn tĩnh, bám chặt, rốt cuộc làm chủ được cơn choáng… Tôi lại tưởng mình đang ở trên biển, và tiếng bánh xe hóa thành tiếng sóng… Nhưng tôi đã thôi khạc.
Rồi tôi trôi vào một thứ giấc ngủ.
Khi tôi ra khỏi giấc ấy, bầu trời đã đầy ánh rạng đông; Marceline vẫn còn ngủ. Chúng tôi sắp tới nơi. Tấm khăn lụa tôi cầm trong tay màu sẫm, nên thoạt đầu chẳng thấy gì trên đó; nhưng khi tôi rút chiếc khăn tay ra, tôi sững sờ thấy nó đầy máu.
Ý nghĩ đầu tiên của tôi là giấu chỗ máu ấy với Marceline. Nhưng bằng cách nào? — Tôi vấy máu khắp người; giờ tôi thấy máu ở mọi chỗ; nhất là các ngón tay… — Chắc mình chảy máu cam… Đúng rồi; nếu nàng hỏi, mình sẽ nói là chảy máu cam.
Marceline vẫn ngủ. Xe tới nơi. Nàng phải xuống trước và chẳng thấy gì. Người ta đã giữ cho chúng tôi hai phòng. Tôi kịp lao vào phòng mình, rửa ráy, làm biến mất vết máu. Marceline chẳng thấy gì cả.
Vậy mà tôi thấy mình rất yếu, và cho mang trà lên cho cả hai. Trong lúc nàng pha trà, rất điềm tĩnh, chính nàng cũng hơi xanh, vẫn mỉm cười, một nỗi bực dọc nào đó dâng lên trong tôi vì nàng đã chẳng nhìn thấy gì. Quả tôi biết mình bất công, tôi tự nhủ: nếu nàng không thấy gì thì ấy là tôi giấu giỏi; mặc kệ; chẳng ăn thua gì; nó lớn dần trong tôi như một bản năng, xâm chiếm tôi… cuối cùng nó quá mạnh; tôi không chịu nổi nữa: như thể đãng trí, tôi bảo nàng:
— Đêm qua anh khạc ra máu.
Nàng không kêu lên một tiếng; chỉ đơn giản là nàng tái đi hẳn, lảo đảo, muốn vịn lấy chỗ nào đó, rồi đổ nặng xuống sàn.
Tôi lao về phía nàng với một thứ cuồng nộ: Marceline! Marceline! — Thôi hỏng rồi! Ta đã làm gì thế này! Chẳng phải chỉ mình ta ốm là đã đủ rồi sao? — Nhưng như tôi đã nói, tôi rất yếu; thiếu chút nữa thì đến lượt tôi cũng ngã quỵ. Tôi mở cửa; tôi gọi; người ta chạy đến.
Tôi sực nhớ trong va li mình có một lá thư giới thiệu gửi một sĩ quan trong thành phố; tôi mượn danh nghĩa lá thư ấy để cho người đi mời viên quân y.
Marceline trong lúc ấy đã hồi lại; giờ nàng ngồi bên đầu giường tôi, nơi tôi đang run lên vì sốt. Viên quân y đến, khám cả hai chúng tôi: Marceline không sao, ông quả quyết vậy, và cú ngã cũng chẳng để lại gì; còn tôi thì mắc bệnh nặng; thậm chí ông không muốn nói dứt khoát và hứa sẽ trở lại trước chiều tối.
Ông trở lại, mỉm cười với tôi, chuyện trò với tôi và cho tôi mấy thứ thuốc. Tôi hiểu rằng ông đã kết án tôi. — Tôi có nên thú nhận với các bạn chăng? Tôi chẳng hề giật mình. Tôi mệt mỏi. Tôi buông xuôi, đơn giản thế thôi. — “Nói cho cùng, đời đã cho tôi được những gì? Tôi đã làm việc đến cùng, đã dứt khoát và say mê làm tròn bổn phận mình. Còn lại… chao ôi! có nghĩa lý gì với tôi?” tôi nghĩ vậy, và thấy thái độ khắc kỷ của mình cũng đủ đẹp. Nhưng điều làm tôi khổ sở lại là sự xấu xí của nơi này. “Căn buồng khách sạn này thật gớm ghiếc” — và tôi đưa mắt nhìn nó. Đột nhiên, tôi nghĩ rằng ở ngay bên cạnh, trong một căn buồng y hệt, là vợ tôi, Marceline; và tôi nghe tiếng nàng đang nói. Ông bác sĩ chưa đi; ông đang trò chuyện với nàng; ông cố nói khẽ. Một lát trôi qua: hẳn tôi đã thiếp đi…
Khi tôi tỉnh dậy, Marceline ở đó. Tôi hiểu rằng nàng đã khóc. Tôi không yêu đời đủ để thương xót chính mình; nhưng sự xấu xí của nơi này làm tôi khó chịu; mắt tôi dừng lại trên nàng, gần như với một khoái cảm.
Giờ đây, ngồi cạnh tôi, nàng viết. Tôi thấy nàng xinh. Tôi thấy nàng dán lại mấy lá thư. Rồi nàng đứng dậy, lại gần giường tôi, dịu dàng cầm lấy tay tôi:
— Giờ anh thấy trong người thế nào? nàng hỏi tôi. Tôi mỉm cười, buồn bã nói với nàng:
— Anh sẽ khỏi chứ? Nhưng ngay tức khắc, nàng đáp: — Anh sẽ khỏi! — với một niềm tin quyết say mê đến mức chính tôi cũng gần như bị thuyết phục, tôi mơ hồ cảm thấy tất cả những gì cuộc đời có thể là, cảm thấy tình yêu của nàng, thoáng thấy những vẻ đẹp thống thiết đến nỗi nước mắt tôi trào ra và tôi khóc rất lâu, không thể mà cũng không muốn ngăn mình lại.
Bằng sức mạnh nào của tình yêu mà nàng khiến tôi rời được Sousse; được vây bọc trong những chăm sóc dịu dàng nào, được che chở, đỡ đần, thức trông nom… từ Sousse đến Tunis, rồi từ Tunis đến Constantine, Marceline thật đáng khâm phục. Chính ở Biskra tôi sẽ phải bình phục. Lòng tin của nàng thật trọn vẹn; sự sốt sắng của nàng không lơi đi một khắc. Nàng lo liệu mọi thứ, sắp đặt các chuyến đi và tìm sẵn chỗ trọ. Than ôi, nàng không thể làm cho chuyến đi ấy bớt khủng khiếp. Nhiều lần tôi tưởng phải dừng lại và kết thúc tại đó. Tôi vã mồ hôi như kẻ hấp hối, tôi ngạt thở, có lúc mất cả tri giác. Cuối ngày thứ ba, tôi đến Biskra như một người đã chết.