Kẻ vô luân — Chương 3
Chương 4 / 14 · Bài review Kẻ vô luân
Tôi sẽ nói rất lâu về thân thể mình. Tôi sẽ nói đến nó nhiều đến nỗi thoạt đầu các bạn sẽ tưởng tôi quên mất phần tinh thần. Sự xao lãng của tôi, trong câu chuyện này, là có chủ ý; ở nơi ấy, nó là có thật. Tôi không đủ sức để duy trì một cuộc sống đôi; tinh thần và phần còn lại, tôi nghĩ, tôi sẽ để sau, khi nào khá hơn.
Khi ấy tôi դեռ còn xa mới khá. Chỉ một chút là tôi đã toát mồ hôi, và cũng chỉ một chút là tôi nhiễm lạnh; tôi có, như Rousseau nói, “hơi thở ngắn”; đôi khi hơi sốt; thường thường, ngay từ sáng, một cảm giác mệt lả ghê gớm, và khi ấy tôi cứ ngồi sụp trong một chiếc ghế bành, dửng dưng với mọi sự, ích kỷ, chỉ chăm chăm tìm cách thở cho được. Tôi thở nhọc nhằn, có phương pháp, cẩn trọng; mỗi lần thở ra đều thành hai nhịp giật, mà ý chí căng quá mức của tôi không sao giữ hẳn lại được; mãi về sau nữa, tôi cũng chỉ tránh được chúng bằng một sự chú ý gắng sức.
Nhưng điều khiến tôi phải khổ sở hơn cả là tính nhạy cảm bệnh hoạn của tôi trước mọi thay đổi nhiệt độ. Hôm nay nghĩ lại, tôi cho rằng bên cạnh căn bệnh còn có thêm một rối loạn thần kinh toàn thân; tôi không thể giải thích cách nào khác một chuỗi hiện tượng mà, theo tôi, không thể chỉ quy về tình trạng lao. Tôi lúc nào cũng либо quá nóng либо quá lạnh; hễ thấy thế là cuống cuồng trùm đắp quá đáng đến lố bịch, chỉ ngừng run để rồi lại đổ mồ hôi; hé bớt ra một chút, và lại run ngay khi không còn toát mồ hôi nữa. Có những phần trên cơ thể tôi lạnh ngắt, tuy đẫm mồ hôi mà sờ vào vẫn lạnh như đá cẩm thạch; không gì làm ấm chúng trở lại được. Tôi nhạy với lạnh đến mức chỉ cần một ít nước rơi lên bàn chân lúc làm vệ sinh là đủ khiến tôi cảm; với nóng cũng thế... Tôi đã giữ sự nhạy cảm ấy, đến nay vẫn còn giữ, nhưng bây giờ là để hưởng nó một cách khoái lạc. Tôi tin rằng mọi cảm giác quá sắc bén đều có thể, tùy cơ thể cường tráng hay suy nhược, trở thành nguồn khoái lạc hoặc phiền nhiễu. Tất cả những gì trước kia quấy rầy tôi nay đều trở nên êm dịu.
Tôi không hiểu trước đó mình đã làm sao có thể ngủ với cửa kính đóng kín; theo lời khuyên của T***, vậy là tôi thử mở chúng ra vào ban đêm; lúc đầu chỉ một chút; chẳng bao lâu tôi mở toang cả; rồi thành một thói quen, một nhu cầu đến nỗi hễ cửa sổ khép lại là tôi nghẹt thở. Về sau, tôi sẽ sung sướng biết bao khi cảm thấy gió đêm, ánh trăng tràn đến với mình?
Cuối cùng tôi cũng nóng lòng muốn xong cho rồi những bập bẹ đầu tiên của sức khỏe ấy. Quả thật, nhờ được chăm sóc không ngừng, nhờ không khí trong lành, nhờ thức ăn tốt hơn, tôi chẳng bao lâu đã khá lên. Cho đến khi đó, vì sợ hụt hơi khi lên xuống cầu thang, tôi vẫn chưa dám rời sân thượng; đến những ngày cuối tháng Giêng, rốt cuộc tôi xuống dưới, liều bước vào khu vườn.
Marceline đi cùng tôi, mang theo một chiếc khăn choàng. Khi ấy là ba giờ chiều. Cơn gió, thường dữ dội ở xứ này, và đã làm tôi khó chịu nhiều suốt ba ngày qua, đã lặng. Không khí dịu mềm thật quyến rũ.
Vườn công cộng ư? Một lối đi rất rộng cắt ngang khu vườn, được che bóng bởi hai hàng cây thuộc loài mimosa cao vút mà người ta gọi là cassia. Những chiếc ghế dài, dưới bóng cây ấy. Một dòng sông đã được nắn dòng, ý tôi là sâu hơn rộng, gần như thẳng, chạy dọc lối đi; rồi những con kênh nhỏ hơn khác, chia nước từ dòng sông ra, đưa nó xuyên qua khu vườn tới các luống cây; làn nước nặng mang màu đất, màu đất sét hồng hoặc xám. Hầu như không có người ngoại quốc, chỉ vài người Ả Rập; họ đi lại, và hễ vừa rời khỏi nắng, áo choàng trắng của họ liền mang màu của bóng râm.
Một cơn rùng mình kỳ lạ chộp lấy tôi khi tôi bước vào thứ bóng râm lạ lùng ấy; tôi quấn khăn choàng quanh người; thế mà chẳng thấy khó chịu gì; trái lại... Chúng tôi ngồi xuống một chiếc ghế dài. Marceline lặng im. Mấy người Ả Rập đi qua; rồi một bọn trẻ kéo đến. Marceline quen vài đứa trong số đó và ra hiệu cho chúng; chúng lại gần. Nàng nói với tôi tên chúng; có những câu hỏi, câu trả lời, những nụ cười, những cái phụng phịu, những trò chơi nho nhỏ. Tất cả điều ấy khiến tôi hơi bực, và cơn khó ở của tôi lại trở về; tôi thấy mệt và đổ mồ hôi. Nhưng điều làm tôi ngại, tôi có nên thú nhận không, không phải bọn trẻ, mà là nàng. Phải, tuy rất ít thôi, tôi vẫn thấy bị sự hiện diện của nàng làm vướng. Nếu tôi đứng lên, nàng sẽ đi theo; nếu tôi bỏ khăn choàng ra, nàng sẽ muốn cầm lấy; nếu sau đó tôi lại khoác vào, nàng sẽ hỏi: “Anh không lạnh sao?” Rồi nữa, nói chuyện với bọn trẻ, trước mặt nàng tôi không dám: tôi thấy nàng có những đứa được nàng che chở; còn tôi, trái với ý mình, nhưng vì một sự thiên vị cố chấp, lại quan tâm đến những đứa khác. “Ta về đi,” tôi bảo nàng; và thầm quyết bụng sẽ một mình trở lại khu vườn.
Hôm sau nàng phải đi ra ngoài vào khoảng mười giờ: tôi lợi dụng dịp ấy. Cậu bé Bachir, vốn hiếm khi vắng mặt vào buổi sáng, cầm chiếc khăn choàng cho tôi; tôi thấy mình nhanh nhẹn, lòng nhẹ bẫng. Trong lối đi hầu như chỉ có mình chúng tôi; tôi đi chậm, ngồi xuống một lát, rồi lại đi tiếp. Bachir theo sau, ríu rít; trung thành và mềm dẻo như một con chó. Tôi đến chỗ con kênh nơi các chị giặt đồ vẫn tới giặt; giữa dòng nước có đặt một phiến đá phẳng; trên đó, một bé gái nằm dài, mặt cúi xuống nước, tay thả trong dòng chảy, đang ném vào rồi lại vớt ra những cành nhỏ. Đôi chân trần của em đã ngâm dưới nước; chúng còn giữ dấu ẩm của lần tắm ấy, và ở đó làn da em hiện ra sẫm hơn. Bachir lại gần em và nói gì đó; em quay lại, mỉm cười với tôi, rồi trả lời Bachir bằng tiếng Ả Rập. “Đó là em gái cháu,” nó bảo tôi; rồi giải thích rằng mẹ nó sắp đến giặt quần áo, và cô em nhỏ của nó đang đợi. Em tên là Rhadra, nghĩa là Xanh, trong tiếng Ả Rập. Nó nói tất cả điều ấy bằng một giọng thật duyên, trong trẻo, trẻ thơ, cũng quyến rũ như niềm xúc động nó gợi lên trong tôi.
“Nó xin ông cho nó hai xu,” nó nói thêm.
Tôi cho em mười xu và đang toan đi tiếp thì người mẹ, chị giặt đồ, đến nơi. Đó là một người đàn bà tuyệt đẹp, nặng nề, với vầng trán lớn xăm xanh, đội một giỏ đồ giặt trên đầu, tựa những người đội giỏ lễ thời cổ, và cũng như họ chỉ trùm hờ bằng một tấm vải rộng màu xanh sẫm, được vén lên ở thắt lưng rồi buông thẳng xuống đến chân. Vừa trông thấy Bachir, bà đã gắt gỏng quát nó. Nó đáp lại gay gắt; cô bé cũng xen vào; giữa cả ba nổ ra một cuộc cãi vã hết sức dữ dội. Cuối cùng Bachir, như bị khuất phục, làm cho tôi hiểu rằng sáng nay mẹ nó cần đến nó; nó buồn bã đưa trả tôi chiếc khăn choàng và tôi đành phải đi tiếp một mình.
Tôi chưa đi được hai mươi bước thì chiếc khăn choàng đã thấy nặng không chịu nổi; mồ hôi vã ra khắp người, tôi ngồi xuống chiếc ghế dài đầu tiên bắt gặp. Tôi hy vọng sẽ có một đứa trẻ đi tới để cất giúp tôi gánh nặng ấy. Đứa đến chẳng bao lâu sau là một cậu lớn chừng mười bốn tuổi, đen như một người Sudan, không hề nhút nhát, tự mình ngỏ ý giúp. Tên nó là Ashour. Nó hẳn đã đẹp nếu không bị chột một mắt. Nó thích chuyện trò, nói cho tôi biết con sông bắt nguồn từ đâu, và rằng sau khu vườn công cộng nó tuôn vào ốc đảo rồi chảy suốt khắp nơi ấy. Tôi lắng nghe nó, quên cả mệt. Bachir dẫu duyên dáng đến đâu, giờ tôi đã biết nó quá rõ, và tôi vui vì được thay đổi. Thậm chí tôi còn tự hứa, một hôm khác, sẽ một mình xuống vườn và ngồi chờ trên ghế dài sự ngẫu nhiên của một cuộc gặp may mắn...
Sau khi còn dừng lại thêm chốc lát nữa, Ashour và tôi đến trước cửa nhà tôi. Tôi muốn mời nó lên trên, nhưng không dám, vì không biết Marceline sẽ nói sao.
Tôi thấy nàng trong phòng ăn, đang bận bịu bên một đứa trẻ còn rất nhỏ, gầy gò và trông còm cõi đến nỗi thoạt đầu tôi thấy ghê sợ hơn là thương xót. Hơi e dè, Marceline nói với tôi:
“Đứa bé tội nghiệp bị ốm.”
“Ít ra không phải bệnh lây chứ em? Nó bị gì vậy?”
“Em vẫn chưa biết rõ. Nó kêu đau chỗ nào cũng một ít. Nó nói tiếng Pháp không mấy sõi; mai khi Bachir đến, nó sẽ làm thông ngôn cho em... Em đang cho nó uống một ít trà...”
Rồi, như để xin lỗi, và bởi tôi cứ đứng đó, không nói gì:
“Em quen nó đã lâu,” nàng nói thêm, “mà chưa dám cho nó đến; em sợ làm anh mệt, hay có lẽ làm anh không vui.”
“Sao lại không,” tôi kêu lên, “cứ đưa сюда tất cả trẻ con em muốn, nếu điều ấy làm em vui!” Và tôi nghĩ, hơi bực mình vì đã không làm như thế, rằng tôi hoàn toàn có thể cho Ashour lên nhà.
Tuy vậy, tôi vẫn ngắm nhìn vợ tôi; nàng đầy vẻ từ mẫu và trìu mến. Sự âu yếm của nàng cảm động đến nỗi chẳng bao lâu đứa bé đã ra về, ấm hẳn lên. Tôi kể về cuộc đi dạo của mình và làm cho Marceline hiểu, không thô bạo, vì sao tôi thích ra ngoài một mình.
Những đêm của tôi thường vẫn bị cắt ngang bởi những cơn giật mình làm tôi tỉnh giấc, hoặc lạnh cóng hoặc đẫm mồ hôi. Đêm ấy rất yên và hầu như không bị đánh thức. Sáng hôm sau, từ chín giờ tôi đã sẵn sàng đi ra. Trời đẹp; tôi thấy mình nghỉ ngơi đầy đủ, không yếu, vui vẻ, hay đúng hơn, thấy thích thú. Không khí lặng và ấm, nhưng tôi vẫn cầm theo chiếc khăn choàng, như một cái cớ để làm quen với người sẽ mang nó cho tôi. Tôi đã nói khu vườn kề sát sân thượng của chúng tôi; vậy nên tôi đến đó ngay tức khắc. Tôi đi vào bóng râm của nó với một niềm sung sướng mê say. Không khí chan ánh sáng. Những cây cassia, hoa nở rất sớm trước cả lá, tỏa hương; hay chính từ khắp nơi bay đến thứ mùi hương nhẹ lạ lùng ấy, dường như đi vào tôi bằng nhiều giác quan và làm tôi ngây ngất. Vả lại tôi thở dễ hơn; bước đi vì thế cũng nhẹ hơn: tuy vậy đến chiếc ghế dài đầu tiên tôi lại ngồi xuống, nhưng là vì say hơn, choáng hơn là mệt. Tôi nhìn. Bóng râm chuyển động, mỏng nhẹ; nó không đổ xuống mặt đất, dường như chỉ khẽ đặt lên đó. Ô, ánh sáng! Tôi lắng nghe. Tôi nghe thấy gì? Không gì cả; mọi thứ; tôi thích thú với từng tiếng động. Tôi nhớ một bụi cây, mà lớp vỏ, nhìn từ xa, dường như có một chất thể lạ lùng đến nỗi tôi phải đứng dậy đến sờ thử. Tôi chạm vào nó như vuốt ve; tôi tìm thấy ở đó một niềm mê say. Tôi nhớ... phải chăng chính buổi sáng ấy rốt cuộc tôi sắp được sinh ra?
Tôi quên mất rằng mình chỉ có một mình, không chờ đợi gì, quên cả giờ giấc. Tôi có cảm tưởng rằng cho đến hôm ấy tôi đã cảm quá ít để nghĩ quá nhiều, đến nỗi cuối cùng tôi phải ngạc nhiên trước điều này: cảm giác của tôi trở nên mạnh ngang một ý nghĩ.
Tôi nói: tôi có cảm tưởng, vì từ đáy quá khứ của buổi ấu thơ đầu tiên, rốt cuộc bừng dậy muôn nghìn ánh lóe của muôn nghìn cảm giác thất lạc. Ý thức mà tôi вновь có lại về các giác quan của mình cho phép tôi nhận ra chúng bằng một sự dò dẫm bất an. Phải, các giác quan tôi, từ đây thức dậy, tìm lại cho mình cả một câu chuyện, tự cấu thành lại một quá khứ. Chúng đang sống! chúng đang sống! chưa bao giờ thôi sống, và tự phát hiện, ngay cả xuyên qua những năm tháng học hành của tôi, một đời sống tiềm ẩn và tinh quái.
Hôm ấy tôi không gặp ai, và tôi mừng vì thế; tôi lấy từ túi ra một cuốn Homère nhỏ mà từ ngày rời Marseille tôi chưa hề mở lại, đọc lại ba câu trong Odyssée, học thuộc chúng, rồi thấy nhịp điệu của chúng đã là một nguồn nuôi dưỡng đủ đầy và nhấm nháp nó thong thả, tôi khép sách lại và ngồi yên, run rẩy, sống động hơn tôi từng ngờ con người có thể sống động đến thế, và tinh thần tê đi vì hạnh phúc...