Kẻ vô luân — Chương 4

Chương 5 / 14 · Bài review Kẻ vô luân

Tuy nhiên, Marceline, vốn mừng rỡ thấy sức khỏe tôi rốt cuộc đã trở lại, từ mấy hôm nay bắt đầu nói với tôi về những vườn cây kỳ diệu của ốc đảo. Nàng yêu khí trời rộng và thích đi bộ. Sự tự do mà bệnh tôi đem lại cho nàng cho phép nàng những cuộc đi xa, nàng trở về mà mắt còn lóa sáng; cho đến lúc ấy nàng hầu như không nói gì với tôi về những điều đó, không dám xui tôi đi theo và sợ làm tôi buồn khi kể lại những thú vui mà tôi chưa thể cùng hưởng. Nhưng giờ đây, khi tôi đã khá hơn, nàng trông cậy vào sức quyến rũ của chúng để giúp tôi bình phục hẳn. Cái thú vừa trở lại trong tôi đối với việc đi và ngắm nhìn cũng đưa tôi về phía ấy. Và ngay hôm sau, chúng tôi cùng ra ngoài.

Nàng đi trước tôi vào một con đường kỳ lạ, kỳ lạ đến nỗi tôi chưa từng thấy một con đường nào như thế ở bất cứ xứ nào. Giữa hai bức tường đất khá cao, nó đi như lững thững; hình thế những khu vườn bị hai bức tường cao ấy giới hạn thong thả bẻ nó nghiêng đi; nó uốn cong hoặc gãy đường thẳng của mình; ngay từ lối vào, một khúc quanh đã làm ta lạc hướng; không còn biết mình từ đâu tới, cũng không biết mình đi đâu. Dòng nước trung thành của con sông đi theo lối mòn, men sát một trong hai bức tường; những bức tường ấy làm bằng chính đất của con đường, cũng là đất của cả ốc đảo, một thứ đất sét hồng nhạt hay xám dịu, gặp nước thì sẫm thêm đôi chút, dưới nắng gắt thì nứt ra và cứng lại vì nóng, nhưng chỉ mềm nhũn ngay sau trận mưa đầu tiên, thành một nền đất dẻo nơi dấu chân trần còn hằn lại. Vượt lên trên những bức tường là các cây chà là. Khi chúng tôi đến gần, mấy con chim cu bay vụt lên. Marceline nhìn tôi.

Tôi quên cả mệt nhọc lẫn khó chịu. Tôi bước đi trong một thứ xuất thần, một niềm hân hoan lặng lẽ, một cơn hưng phấn của giác quan và da thịt. Đúng lúc ấy, những luồng gió nhẹ nổi lên; tất cả tàu lá đều lay động và chúng tôi thấy những cây chà là cao nhất nghiêng mình xuống, rồi cả bầu không khí lại trở nên yên lặng, và tôi nghe rõ, phía sau bức tường, một tiếng sáo. Có một chỗ tường vỡ; chúng tôi bước vào.

Đó là một nơi đầy bóng râm và ánh sáng; yên tĩnh, và dường như ở ngoài vòng thời gian; đầy im lặng và rung động, tiếng nước chảy khẽ, tưới cho chà là rồi lẩn đi từ cây này sang cây khác, tiếng gọi kín đáo của chim cu, tiếng sáo do một đứa trẻ đang thổi. Nó chăn một đàn dê; nó ngồi, gần như trần truồng, trên thân một cây chà là đổ; thấy chúng tôi đến gần, nó không bối rối, không chạy đi, chỉ ngừng thổi trong chốc lát.

Trong quãng lặng ngắn ấy, tôi nhận ra ở xa có một cây sáo khác đáp lại. Chúng tôi đi thêm một quãng nữa, rồi:

"Không cần đi xa hơn đâu," Marceline nói; "những vườn cây này đều giống nhau cả; mãi tận cuối ốc đảo, chúng mới rộng hơn một chút..." Nàng trải khăn choàng xuống đất:

"Anh nghỉ đi."

Chúng tôi đã ở đó bao lâu, tôi không còn biết nữa; giờ giấc có nghĩa gì? Marceline ở bên tôi; tôi nằm xuống, gối đầu lên đùi nàng. Tiếng sáo vẫn còn tuôn chảy, lúc ngừng, lúc lại cất lên; tiếng nước... Thỉnh thoảng một con dê kêu be be. Tôi nhắm mắt lại; tôi cảm thấy bàn tay mát của Marceline đặt lên trán mình; tôi cảm thấy nắng gắt được những tàu lá dịu dàng rây lọc; tôi không nghĩ gì cả; nghĩ ngợi có nghĩa gì? tôi cảm thấy một cách lạ thường...

Và từng chốc lại có một tiếng động mới; tôi mở mắt ra; ấy là ngọn gió nhẹ trong những tàu lá; nó không hạ xuống tới chỗ chúng tôi, chỉ làm lay động những tàu lá ở cao...

Sáng hôm sau, tôi cùng Marceline trở lại chính khu vườn ấy; chiều hôm đó, tôi tới một mình. Thằng bé chăn dê thổi sáo vẫn ở đó. Tôi lại gần nó, nói chuyện với nó. Nó tên là Lassif, mới mười hai tuổi, và đẹp. Nó nói cho tôi biết tên những con dê của nó, nói rằng các con mương gọi là séghias; không phải ngày nào tất cả cũng có nước chảy, nó dạy tôi như vậy; nước, được phân phối khôn ngoan và dè sẻn, làm dịu cơn khát của cây cối, rồi lập tức bị rút đi. Dưới chân mỗi cây chà là, có một bể nhỏ đào sẵn để giữ nước cho cây uống; một hệ thống cống ngăn thật khéo, mà đứa bé vừa vận hành vừa giải thích cho tôi, chế ngự dòng nước, đưa nó tới nơi cơn khát lớn hơn cả.

Ngày hôm sau nữa, tôi gặp một người anh em của Lassif: nó lớn hơn một chút, kém đẹp hơn; nó tên là Lachmi. Nhờ thứ thang do những vết sẹo của các tàu lá cũ bị chặt tạo nên dọc thân cây, nó trèo tít lên ngọn một cây chà là đã bị cụt đầu; rồi nó leo xuống nhanh nhẹn, để lộ dưới tấm áo choàng phấp phới một thân thể khỏa trần ánh vàng. Từ trên ngọn cây, vốn đã bị phát mất chóp, nó mang xuống một cái bầu đất nhỏ: cái bầu ấy được treo ở trên cao, gần vết thương còn mới, để hứng nhựa cây chà là, thứ người ta dùng làm một loại rượu ngọt mà người Ả Rập rất ưa. Theo lời mời của Lachmi, tôi nếm thử; nhưng cái vị nhạt, chát và sền sệt ấy làm tôi khó chịu.

Những ngày sau đó, tôi đi xa hơn; tôi thấy những khu vườn khác, những mục đồng khác và những đàn dê khác. Đúng như Marceline đã nói, những khu vườn ấy đều giống nhau; thế mà mỗi khu lại khác.

Đôi khi Marceline vẫn còn đi cùng tôi; nhưng thường hơn, vừa tới lối vào các vườn cây là tôi rời nàng, làm nàng tin rằng tôi mệt, rằng tôi muốn ngồi nghỉ, rằng nàng không cần đợi tôi, vì nàng còn cần đi bộ thêm nữa; thế là nàng tiếp tục cuộc dạo chơi mà không có tôi. Tôi ở lại bên đám trẻ. Chẳng bao lâu tôi quen rất nhiều đứa; tôi chuyện trò lâu với chúng; tôi học những trò chơi của chúng, lại chỉ cho chúng những trò khác, thua sạch tiền lẻ trong trò nút chai. Có đứa đi cùng tôi rất xa, mỗi ngày tôi lại kéo dài thêm quãng đi của mình, có đứa chỉ cho tôi một lối mới để trở về, có đứa mang giúp áo choàng và khăn choàng của tôi khi đôi khi tôi đem theo cả hai; trước khi rời chúng, tôi phát cho chúng vài đồng xu nhỏ; có khi chúng theo tôi, vừa đi vừa chơi, đến tận cửa nhà; có khi rốt cuộc chúng bước cả qua ngưỡng cửa ấy.

Rồi Marceline cũng đưa về phía nàng một số đứa. Nàng dẫn đến những đứa ở trường mà nàng khuyến khích học hành; tan lớp, những đứa hiền lành và dịu tính lên nhà; còn những đứa tôi dẫn về thì khác; nhưng trò chơi gắn chúng lại với nhau. Chúng tôi luôn liệu sẵn siro và bánh ngọt. Chẳng bao lâu, những đứa khác tự đến, ngay cả khi chúng tôi không mời nữa. Tôi nhớ từng đứa một; tôi còn thấy lại chúng...

Vào khoảng cuối tháng Giêng, thời tiết đột ngột trở xấu; một ngọn gió lạnh bắt đầu thổi và sức khỏe tôi lập tức bị ảnh hưởng. Khoảng đất trống mênh mông ngăn ốc đảo với thành phố lại trở nên không sao vượt nổi đối với tôi, và tôi đành một lần nữa bằng lòng với khu vườn công cộng. Rồi trời đổ mưa; một trận mưa buốt giá, ở tận chân trời phía Bắc phủ tuyết lên núi non.

Tôi trải qua những ngày buồn bã ấy bên lò lửa, ủ rũ, giận dữ vật lộn với bệnh tật, thứ nhờ thời tiết xấu này mà thắng thế. Những ngày ảm đạm: tôi không thể đọc cũng không thể làm việc; chỉ một cố gắng nhỏ cũng làm tôi toát mồ hôi khó chịu; dồn sự chú ý vào một chỗ là tôi kiệt sức; hễ không cẩn thận giữ nhịp thở là tôi nghẹt thở.

Trong những ngày buồn bã ấy, đám trẻ là sự khuây khỏa duy nhất có thể có đối với tôi. Trời mưa, chỉ những đứa thật thân mới vào; quần áo chúng ướt sũng; chúng ngồi vòng tròn trước lò lửa. Có những quãng rất lâu trôi qua mà chẳng ai nói gì. Tôi quá mệt, quá đau yếu nên không làm gì khác ngoài ngắm chúng; nhưng sự hiện diện của sức khỏe nơi chúng làm tôi lành lại. Những đứa Marceline chiều chuộng thì yếu ớt, còm cõi, và quá ngoan; tôi bực bội với nàng và với cả chúng, cuối cùng xua chúng đi. Nói thật, chúng làm tôi sợ.

Một buổi sáng, tôi có một phát hiện kỳ lạ về chính mình: Moktir, đứa duy nhất trong số những đứa được vợ tôi che chở mà không làm tôi bực mình chút nào, có lẽ vì nó đẹp, lúc ấy ở một mình với tôi trong phòng; cho đến bấy giờ tôi chỉ quý nó vừa phải, nhưng ánh mắt sáng và tối của nó khiến tôi tò mò. Một sự tò mò mà tôi không hiểu rõ khiến tôi dõi theo từng cử động của nó. Tôi đứng bên lò sưởi, tì hai khuỷu tay lên bệ lò, trước một quyển sách, nom như đang mải mê đọc, nhưng trong gương tôi vẫn có thể thấy phản chiếu những cử động của đứa trẻ mà tôi quay lưng lại. Moktir không biết mình bị quan sát và tưởng tôi đang vùi đầu trong sách. Tôi thấy nó lặng lẽ tiến lại một chiếc bàn, nơi Marceline đã đặt, cạnh một món đồ may vá, một chiếc kéo nhỏ, chộp lấy thật nhanh rồi trong một động tác nhét phắt nó vào trong chiếc burnous của mình. Tim tôi đập mạnh trong giây lát, nhưng những lý lẽ sáng suốt nhất cũng không thể làm nảy sinh trong tôi dù chỉ một chút cảm giác phản kháng. Hơn nữa! tôi không sao tự chứng minh được rằng cảm giác tràn ngập trong tôi khi ấy là gì khác ngoài niềm vui. Khi tôi đã để cho Moktir đủ thì giờ ăn trộm của tôi cho thật trót lọt, tôi lại quay về phía nó và nói chuyện với nó như thể chẳng có gì xảy ra. Marceline rất yêu quý đứa trẻ ấy; tuy vậy, tôi không nghĩ rằng chính nỗi sợ làm nàng buồn đã khiến tôi, khi gặp lại nàng, thay vì tố giác Moktir, lại bịa ra một câu chuyện nào đó để giải thích sự mất chiếc kéo. Từ ngày ấy, Moktir trở thành đứa tôi ưa nhất.