Kẻ vô luân — Chương 6
Chương 7 / 14 · Bài review Kẻ vô luân
Tôi sẽ không kể từng chặng đường của cuộc hành trình. Có những chặng chỉ để lại một kỷ niệm mơ hồ; sức khỏe tôi, khi khá hơn khi lại kém đi, vẫn còn chao đảo trước luồng gió lạnh, bất an vì bóng một đám mây, và trạng thái thần kinh khiến tôi thường xuyên rối loạn; nhưng ít ra phổi tôi cũng đang bình phục. Mỗi cơn tái phát đều ngắn hơn và ít nghiêm trọng hơn; cơn công phá vẫn dữ dội như trước, nhưng thân thể tôi đã được trang bị để chống lại nó tốt hơn.
Từ Tunis, chúng tôi đã sang Malta, rồi Syracuse; tôi trở lại mảnh đất cổ điển, nơi ngôn ngữ và quá khứ vốn đã quen thuộc với tôi. Từ đầu cơn bệnh, tôi đã sống không xét mình, không khuôn phép, chỉ chăm chăm sống, như loài vật hay như trẻ nhỏ. Nay bớt bị bệnh tật chiếm trọn, đời sống tôi lại trở nên rõ rệt và tự giác. Sau cơn hấp hối kéo dài ấy, tôi đã tưởng mình tái sinh mà vẫn là mình như trước, và chẳng bao lâu nữa sẽ nối lại hiện tại với quá khứ; giữa sự mới lạ của một miền đất chưa từng biết, tôi còn có thể tự dối mình như thế; nhưng ở đây thì không. Mọi sự ở đây đều dạy cho tôi điều vẫn còn làm tôi kinh ngạc: tôi đã đổi khác.
Khi ở Syracuse rồi xa hơn nữa, tôi muốn trở lại với việc học của mình, muốn như thuở trước dìm mình vào sự khảo xét tỉ mỉ quá khứ, tôi nhận ra rằng một cái gì đó, đối với tôi, nếu chưa hẳn xóa bỏ, thì ít nhất cũng đã làm đổi vị của nó; ấy là cảm thức về hiện tại. Lịch sử của quá khứ nay dưới mắt tôi mang cái bất động, cái cố định ghê rợn của những bóng đêm trong sân nhỏ ở Biskra, cái bất động của sự chết. Trước kia, chính cái cố định ấy làm tôi thích thú, vì nó cho phép tinh thần tôi được chính xác; mọi sự kiện của lịch sử hiện ra với tôi như những món trong một viện bảo tàng, hay đúng hơn như những cây cỏ trong một tập tiêu bản, mà sự khô xác vĩnh viễn của chúng giúp tôi quên rằng đã có ngày, đầy nhựa sống, chúng từng sống dưới mặt trời. Nay, nếu tôi còn có thể yêu lịch sử, thì chỉ là khi hình dung nó trong hiện tại. Vậy nên những biến cố chính trị lớn hẳn làm tôi xúc động ít hơn nhiều so với nỗi rung động đang sống lại trong tôi bởi các thi sĩ, hoặc bởi một vài người hành động. Ở Syracuse tôi đọc lại Théocrite, và nghĩ rằng những người mục đồng mang tên đẹp đẽ của ông chính là những kẻ tôi đã yêu ở Biskra.
Học vấn uyên bác, cứ mỗi bước lại thức dậy trong tôi, làm tôi vướng víu, ngăn trở niềm vui. Tôi không thể nhìn một hí trường Hy Lạp, một ngôi đền, mà không lập tức dựng lại nó trong trí một cách trừu tượng. Trước mỗi dấu vết cổ xưa, phế tích còn lưu lại tại chỗ khiến tôi đau xót vì nó đã chết; mà tôi thì ghê sợ sự chết.
Rồi tôi đâm ra lánh xa những phế tích; ưa hơn cả những công trình đẹp nhất của quá khứ là những khu vườn thấp người ta gọi là Latomies, nơi chanh có cái ngọt chua của cam, và những bờ Cyané, dòng nước giữa đám papyrus vẫn còn chảy xanh như ngày xưa nó chảy để khóc Proserpine.
Rồi tôi bắt đầu khinh chính nơi mình cái học vấn từng là niềm kiêu hãnh đầu tiên của tôi; những sự học từng là cả đời tôi ấy giờ đây dường như chỉ còn một quan hệ hết sức ngẫu nhiên và quy ước với tôi. Tôi khám phá ra mình là kẻ khác, và tôi tồn tại, ô niềm vui, ở bên ngoài chúng. Với tư cách một nhà chuyên môn, tôi hiện ra với mình như một kẻ đần độn. Còn với tư cách một con người, tôi đã biết mình chăng? Tôi chỉ vừa mới sinh ra mà đã không thể biết mình sinh ra thành ai. Chính điều đó mới là điều phải học.
Không gì bi thảm hơn, đối với kẻ đã tưởng mình sẽ chết vì nó, bằng một thời kỳ dưỡng bệnh chậm chạp. Sau khi cánh của tử thần đã chạm qua, những gì tưởng là quan trọng không còn quan trọng nữa; những điều khác mới là quan trọng, những điều trước kia không có vẻ gì là quan trọng, hoặc thậm chí ta còn không biết chúng hiện hữu. Cái đống mọi tri thức đã thâu nhận chất chồng trên tinh thần ta bong ra như một lớp phấn son, và từng chỗ để lộ trần ra chính thớ thịt, chính con người chân thực vốn vẫn ẩn nấp.
Từ đó, chính kẻ ấy là kẻ tôi chủ tâm khám phá: con người chân thực, “người cũ”, kẻ mà Phúc Âm không còn muốn nữa; kẻ mà mọi sự quanh tôi, sách vở, thầy dạy, cha mẹ, và cả chính tôi nữa, trước hết đã cố dẹp bỏ. Và nhờ những lớp chồng phủ, nó hiện ra với tôi càng thô mộc, càng khó dò thấy hơn, nhưng cũng vì thế mà càng đáng để dò thấy, càng có giá trị hơn. Từ đó tôi khinh bỉ cái con người thứ yếu, cái con người học được, mà nền giáo dục đã vẽ chồng lên trên. Phải giũ bỏ những lớp chồng phủ ấy.
Và tôi so mình với những tấm bản xóa viết lại; tôi nếm cái vui của nhà bác học, kẻ dưới những hàng chữ mới hơn khám phá ra, trên cùng một tờ giấy, một bản văn rất cổ, quý giá hơn vô cùng. Bản văn bị che lấp ấy là gì? Muốn đọc nó, há chẳng phải trước hết cần xóa đi những hàng chữ mới đó sao?
Vả lại, tôi đâu còn là cái hữu thể yếu ớt và sách vở mà nền luân lý trước kia của tôi, cứng nhắc và câu thúc, đã hợp với. Ở đây còn hơn cả sự dưỡng bệnh; ở đây là một sự tăng thêm, một sự dâng trào của sức sống, là dòng máu phong phú hơn, ấm hơn, lẽ ra phải chạm đến những ý nghĩ của tôi, chạm đến từng ý nghĩ một, thấm vào mọi nơi, lay động, nhuộm sắc cả những sợi xa xôi nhất, tinh vi nhất và kín nhiệm nhất của hữu thể tôi. Bởi vì, khỏe mạnh hay yếu đuối, rồi người ta cũng quen đi; hữu thể, tùy theo những lực mình có, mà tự cấu thành; nhưng nếu những lực ấy tăng lên, nếu chúng cho phép làm được nhiều hơn, thì... Tất cả những ý nghĩ ấy, hồi đó tôi nào có; và ở đây lời tả của tôi làm sai lạc tôi. Nói cho đúng, tôi không nghĩ ngợi, cũng không tự xét mình; một định mệnh hạnh phúc dẫn dắt tôi. Tôi sợ rằng một cái nhìn quá vội sẽ đến làm rối hỏng điều bí mật của sự biến đổi chậm chạp nơi tôi. Phải để thời gian cho những hàng chữ đã bị xóa mờ hiện lại, chứ không tìm cách tạo thành chúng. Vậy nên, để trí óc mình, không phải là bỏ mặc, nhưng là để cho nằm hoang, tôi khoái lạc phó mình cho chính tôi, cho sự vật, cho cái toàn thể, cái đối với tôi dường như thiêng liêng. Chúng tôi đã rời Syracuse, và tôi chạy trên con đường dốc nối Taormine với La Môle, vừa chạy vừa kêu lên để gọi nó vào trong mình: Một hữu thể mới! Một hữu thể mới!
Bởi thế, nỗ lực duy nhất của tôi, nỗ lực thường trực khi ấy, là có hệ thống căm ghét hoặc dẹp bỏ mọi điều mà tôi tưởng chỉ phải mang ơn ở sự giáo dục trước kia và nền luân lý đầu tiên của mình. Vì một lòng khinh thị dứt khoát đối với học vấn của mình, vì khinh miệt những thú vị của một học giả, tôi từ chối không đi xem Agrigente, và ít ngày sau, trên con đường dẫn tới Naples, tôi cũng không dừng lại gần ngôi đền đẹp ở Pæstum, nơi nước Hy Lạp còn thở, và nơi mà hai năm sau tôi đã đến để cầu nguyện một vị thần nào, nay tôi không còn nhớ nữa.
Sao tôi lại nói là một nỗ lực duy nhất? Tôi có thể quan tâm đến mình, nếu không phải như một hữu thể còn có thể được hoàn thiện chăng? Cái sự hoàn thiện chưa biết ấy, mà tôi hình dung một cách mơ hồ, chưa bao giờ ý chí tôi lại được khích lệ hơn để vươn tới; tôi dốc trọn ý chí ấy vào việc làm cho thân thể mình mạnh lên, làm cho nó sạm nắng. Gần Salerne, rời bờ biển, chúng tôi lên Ravello. Ở đó, không khí hăng hơn, sức quyến rũ của những mỏm đá đầy chỗ khuất và bất ngờ, chiều sâu chưa biết của các thung lũng, giúp thêm cho sức lực và niềm vui của tôi, đã nâng đỡ đà vươn của tôi.
Ravello, trên một độ cao cheo leo, dường như gần trời hơn là xa bờ; từ đó người ta đối diện bãi bờ phẳng xa tắp của Pæstum. Dưới thời Norman, đó từng là một thành phố suýt nữa đã quan trọng; nay chỉ còn là một làng hẹp, nơi, tôi tin, chúng tôi là những người ngoại quốc duy nhất. Một tòa nhà tu cổ, nay đổi thành khách sạn, đã chứa chúng tôi; dựng ở đầu mỏm đá, những sân thượng và khu vườn của nó tưởng như nhô hẳn vào nền xanh. Sau bức tường nặng trĩu dây leo, thoạt đầu chỉ thấy biển; phải lại gần tường hơn mới theo được triền dốc có canh tác, nối Ravello với bờ biển bằng cầu thang nhiều hơn bằng lối mòn. Phía trên Ravello, núi còn tiếp tục. Những cây ô-liu, những cây caroube đồ sộ; dưới bóng chúng là cyclamen; cao hơn nữa, vô số cây dẻ, một luồng khí mát, những loài cây phương Bắc; thấp hơn, gần biển, là những vườn chanh. Chúng được xếp thành những khoảnh nhỏ do sườn đất tạo nên; đó là những khu vườn bậc thang, gần như giống hệt nhau; một lối đi hẹp ở giữa chạy xuyên suốt từ đầu này đến đầu kia; người ta bước vào đó không tiếng động, như một kẻ trộm. Dưới bóng xanh ấy, người ta mơ màng; lá cây dày, nặng; không một tia nắng thẳng nào lọt qua; như những giọt sáp đặc, những quả chanh thơm rủ xuống; trong bóng râm chúng trắng nhạt pha xanh; chúng ở ngay tầm tay, tầm cơn khát; chúng dịu mà gắt; chúng làm mát.
Bóng râm dưới những cây ấy dày đến nỗi, sau khi đi bộ còn làm tôi toát mồ hôi, tôi không dám dừng lại ở đó. Nhưng những bậc thang không còn làm tôi kiệt sức nữa; tôi tập leo chúng với miệng khép lại; càng ngày tôi càng giãn thưa những chỗ nghỉ, tự nhủ: mình sẽ đi đến tận kia mà không đuối; rồi khi tới đích, tìm thấy phần thưởng trong niềm kiêu hãnh được thỏa mãn, tôi hít thở thật lâu, thật mạnh, sao cho tôi có cảm tưởng không khí thấm vào lồng ngực mình hữu hiệu hơn. Tôi đem vào mọi sự chăm nom thân thể ấy cái cần mẫn của những ngày trước kia. Tôi tiến bộ.
Đôi khi tôi kinh ngạc thấy sức khỏe mình trở lại nhanh đến thế. Rồi tôi đâm ra tin rằng thuở đầu mình đã phóng đại mức nghiêm trọng của tình trạng mình; ngờ rằng mình đã không đến nỗi bệnh nặng như thế, cười cả thứ máu mình từng khạc ra, và lấy làm tiếc rằng sự bình phục của mình đã không còn gian nan hơn.
Lúc đầu tôi đã chữa trị cho mình một cách hết sức ngớ ngẩn, vì không biết những nhu cầu của thân thể mình. Tôi kiên nhẫn nghiên cứu chúng và, trong sự thận trọng cùng săn sóc, trở nên khéo xoay xở bền bỉ đến nỗi tôi lấy đó làm thú như một trò chơi. Điều khiến tôi còn khổ nhất vẫn là sự nhạy cảm bệnh hoạn trước sự thay đổi nhỏ nhất của nhiệt độ. Nay khi phổi tôi đã lành, tôi quy cái chứng quá mẫn ấy cho sự suy nhược thần kinh, tàn dư của cơn bệnh. Tôi quyết thắng nó. Cảnh những làn da đẹp đã rám nắng và như thấm mặt trời, mà vài người nông dân ăn mặc xốc xếch, áo ngực mở, phô ra khi làm đồng, xui tôi cũng để cho mình sạm nắng như vậy. Một buổi sáng, cởi trần ra, tôi nhìn mình; cánh tay quá gầy của tôi, đôi vai mà những cố gắng lớn nhất cũng không thể kéo lui ra sau cho đủ, nhưng nhất là cái trắng bệch, hay đúng hơn cái mất màu của làn da tôi, làm tôi đầy cả hổ thẹn lẫn nước mắt. Tôi vội mặc áo lại, rồi thay vì đi xuống phía Amalfi như lệ thường, tôi hướng về những mỏm đá phủ cỏ thấp và rêu, xa nhà cửa, xa đường sá, nơi tôi biết không thể bị ai trông thấy. Tới đó, tôi chầm chậm cởi đồ. Không khí gần như lành lạnh, nhưng mặt trời thì gay gắt. Tôi dâng cả thân thể mình cho ngọn lửa ấy. Tôi ngồi xuống, nằm xuống, rồi trở mình. Tôi cảm thấy dưới mình nền đất cứng; sự lay động của đám cỏ hoang lướt qua da tôi. Dù được chắn gió, tôi vẫn rùng mình và thổn thức theo mỗi hơi thổi. Chẳng bao lâu một sức nóng rát êm ái bọc lấy tôi; toàn thể con người tôi dồn cả ra da thịt.
Chúng tôi ở Ravello mười lăm ngày; sáng nào tôi cũng trở lại những mỏm đá ấy, thực hiện cuộc trị liệu của mình. Chẳng bao lâu, số áo quần quá mức mà tôi vẫn còn trùm lên người trở nên vướng víu và thừa thãi; lớp da đã được cường kiện hóa của tôi thôi không còn toát mồ hôi mãi nữa và biết tự bảo vệ bằng chính hơi ấm của nó.
Sáng một trong những ngày cuối cùng ấy, vào khoảng giữa tháng tư, tôi dám hơn nữa. Trong một hốc đá mà tôi vừa nói, có một mạch nước trong chảy ra. Nước đổ ngay tại đó thành một thác nhỏ, quả không nhiều lắm, nhưng đã khoét dưới dòng thác một cái vũng sâu hơn, nơi thứ nước rất tinh khiết kia còn đọng lại. Ba lần tôi đã đến đó, đã cúi xuống, đã nằm dài trên bờ, đầy khát và đầy ham muốn; tôi ngắm rất lâu đáy đá nhẵn bóng, nơi không thấy một vết nhơ nào, không một ngọn cỏ nào, nơi mặt trời rung rinh và óng ánh mà thấm vào. Đến ngày thứ tư ấy, tôi bước tới, đã quyết sẵn từ trước, cho đến làn nước trong hơn bao giờ hết, và, không suy nghĩ thêm nữa, một cái là tôi lao cả người xuống. Lạnh buốt rất nhanh, tôi rời khỏi nước, nằm dài trên cỏ, dưới nắng. Ở đó có bạc hà mọc lên, thơm ngát; tôi hái lấy, vò nát lá, xoa khắp thân thể mình, còn ướt mà nóng bừng. Tôi nhìn mình thật lâu, không còn một chút hổ thẹn nào nữa, với niềm vui. Tôi thấy mình, chưa phải cường tráng, nhưng có thể trở nên như thế, hài hòa, giàu cảm giác, gần như đẹp.